1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm từ vựng trong thơ của văn công hùng

124 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm từ vựng trong thơ của văn công hùng
Tác giả Nguyễn Thị Tài
Người hướng dẫn TS.Trần Thị Giang
Trường học Trường đại học Quy Nhơn
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn
Thành phố Quy Nhơn
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những đóng góp của Trần Trọng Dương được khẳng nhận bởi những kiến giải quan trọng và nhấn mạnh vai trò của từ vựng trong việc xây dựng nên những giá trị về nội dung nhân văn, yêu nước v

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực, những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Học viên thực hiện

Nguyễn Thị Tài

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

5 Phương pháp nghiên cứu 13

6 Cấu trúc luận văn 14

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 15

1.1 Ngôn ngữ thơ và từ vựng với sự phát triển ngôn ngữ thơ Việt Nam 15

1.1.1 Thơ và những đặc trưng của thơ 15

1.1.2 Ngôn ngữ thơ và những đặc trưng của ngôn ngữ thơ 17

1.2 Đặc trưng cơ bản của từ vựng trong thơ 22

1.2.1 Xét về cấu tạo và nguồn gốc 22

1.2.2 Xét về nguồn gốc 25

1.2.3 Xét về ngữ nghĩa 27

1.3 Cơ sở hình thành phong cách thơ của Văn Công Hùng và các chặng đường sáng tác 31

1.3.1 Cơ sở hình thành phong cách thơ của Văn Công Hùng 31

1.3.2 Những chặng đường sáng tác thơ của Văn Công Hùng 33

Tiểu kết Chương 1 37

Chương 2 HỆ THỐNG TỪ VỰNG TRONG THƠ CỦA VĂN CÔNG HÙNG - NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CẤU TẠO, NGỮ NGHĨA VÀ NGUỒN GỐC 39

Trang 4

2.1 Từ vựng trong thơ của Văn Công Hùng - xét từ bình diện cấu tạo 39

2.1.1 Số lượng và phân loại từ vựng trong thơ của Văn Công Hùng 39

2.1.2 Từ đơn trong thơ của Văn Công Hùng 41

2.1.3 Từ ghép và từ láy trong thơ của Văn Công Hùng 47

2.1.4 Cụm từ cố định và những kết hợp độc đáo trong thơ của Văn Công Hùng 54

2.2 Từ vựng trong thơ của Văn Công Hùng xét từ bình diện nguồn gốc 57

2.2.1 Từ thuần Việt trong thơ của Văn Công Hùng 57

2.2.2 Từ Hán Việt trong thơ của Văn Công Hùng 63

2.3 Từ vựng trong thơ của Văn Công Hùng xét từ bình diện ngữ nghĩa và phạm vi sử dụng 67

2.3.1 Từ vựng trong thơ của Văn Công Hùng xét từ bình diện ngữ nghĩa 67

2.3.2 Từ vựng trong thơ của Văn Công Hùng xét từ bình diện phạm vi sử dụng 74

Tiểu kết Chương 2 79

Chương 3 GIÁ TRỊ THẨM MĨ CỦA HỆ THỐNG TỪ VỰNG TRONG THƠ CỦA VĂN CÔNG HÙNG 81

3.1 Hệ thống từ vựng với sự thể hiện phong cách ngôn ngữ trong thơ của Văn Công Hùng 81

3.1.1 Ngôn từ chân thành, giản dị, đậm chất đời thường 81

3.1.2 Ngôn từ mang tính khái quát, triết luận 83

3.2 Hệ thống từ vựng với việc sử dụng các biện pháp tu từ trong thơ của Văn Công Hùng 87

3.2.1 Từ vựng với việc thể hiện biện pháp tu từ so sánh 87

3.2.2 Từ vựng với việc thể hiện biện pháp tu từ tương phản – đối lập 91

3.2.3 Từ vựng với việc thể hiện biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ 93

3.3 Hệ thống từ vựng với việc thể hiện phong cách thể loại trong thơ của Văn Công Hùng 96

Trang 5

3.3.1 Từ vựng với sự thể nghiệm thể loại thơ tự do 96

3.3.2 Từ vựng với sự phát triển và biến tấu thể loại thơ lục bát 102

Tiểu kết Chương 3 108

KẾT LUẬN 109

NGUỒN NGỮ LIỆU KHẢO SÁT 112

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Hệ thống từ vựng trong thơ Nôm và Thơ Mới từ bình diện cấu

tạo 23

Bảng 1.2 Từ vựng trong thơ Nôm và Thơ mới từ bình diện nguồn gốc 26

Bảng 2.1 Từ vựng trong thơ của Văn Công Hùng từ bình diện cấu tạo 41

Bảng 2.2 Số lượng từ đơn trong thơ của Văn Công Hùng 42

Bảng 2.3 Số lượng từ ghép trong thơ của Văn Công Hùng 48

Bảng 2.4 Số lượng từ láy trong thơ của Văn Công Hùng 49

Bảng 2.5.Trường nghĩa từ vựng trong thơ của Văn Công Hùng 68

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong tiến trình phát triển của văn chương Việt Nam, thơ ca luôn không ngừng nỗ lực để khẳng định được vai trò và vị trí của mình Từ lâu, thơ ca đã trở thành đối tượng nghiên cứu của các chuyên gia ngôn ngữ trên thế giới và

cả Việt Nam Khi nói đến văn chương thì phải nói đến chữ nghĩa vì không có thứ văn chương nào lửng lơ ngoài chữ nghĩa Chính vì vậy, trong quá trình tiếp nhận văn chương nói chung và thơ ca nói riêng, chúng ta không thể không quan tâm đến ngôn ngữ để khai thác và tiếp cận tác phẩm một cách trọn vẹn nhất

Ngôn ngữ được xem là hệ thống những đơn vị vật chất phục vụ cho việc giao tiếp của con người và được phản ánh trong ý thức của tập thể một cách độc lập với những tư tưởng, tình cảm và nguyện vọng cụ thể của con người Như vậy, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trực tiếp của con người, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng Nghiên cứu biểu hiện của ngôn ngữ qua mỗi giai đoạn, tác giả, tác phẩm… được thực hiện trên nhiều phương diện khác nhau: ngữ pháp, từ vựng, ngữ nghĩa… Trong đó, từ vựng được hiểu là tập hợp tất cả các từ và đơn vị tương đương với từ trong ngôn ngữ Chính vì vậy, từ vựng là một trong các phương diện mà các nhà nghiên cứu luôn ưu tiên hàng đầu khi tiếp cận bất kì một tác giả hay tác phẩm nào

Ở một góc độ nào đó, ngôn ngữ nghệ thuật có sự giao cắt và làm nên phong cách nghệ thuật của nhà văn mà trong đó cần phải kể đến những đóng góp rất đắc lực của hệ thống từ vựng Hệ thống từ ngữ mà nhà thơ đã công phu gọt giũa, sử dụng, sáng tạo đã phối kết hợp với nhau tạo nên những giá trị thẩm mĩ, tín hiệu ngôn ngữ đặc thù của một thế giới thơ do nhà thơ kiến tạo Văn Công Hùng là một trong những nhà thơ tiêu biểu, trưởng thành trong phong trào thơ sau thập kỉ 80 của thế kỉ XX tại Tây Nguyên Vượt qua

Trang 8

những dòng thơ dễ dãi của một thời, ông đã tìm ra được một chất thơ mới lạ với một bút pháp riêng và giọng điệu cá biệt Cùng với sự thay đổi của đời sống, ta có thể thấy thơ của Văn Công Hùng đã và đang định hình một phong cách mới lạ buộc người đọc phải thay đổi chính mình, trước hết là về cách đọc và cảm nhận thơ Trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại, nhà thơ Văn Công Hùng (sinh năm 1958) được xem là một trong những tác giả có những đóng góp không nhỏ trong văn đàn thơ ca Việt Nam Với quan điểm nghệ thuật:

“Viết không bao giờ là trò chơi, mà là cuộc vật lộn khổ sở, là nghiệp đeo đẳng suốt đời Chữ không làm cho người no, nhưng cho ta cảm giác bình an

và như thế là hạnh phúc Nhiều hay ít là do tài năng từng người, nhưng được một câu thơ một bài báo có ích là mong mỏi của tôi, người viết” nhà thơ đã thổi hồn vào trong từng con chữ, trong mỗi trang thơ của mình để tạo nên sự hứng thú nơi người đọc

Bản thân là một người đang công tác tại thành phố Pleiku, tôi luôn khao khát muốn thực hiện một đề tài nghiên cứu về nền văn học địa phương Với mong muốn được bảo tồn, phát huy giá trị tác phẩm văn học, nghệ thuật địa phương, góp phần bổ sung nguồn tài liệu phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu trao đổi, những trang thơ của nhà thơ Văn Công Hùng đã trở thành đối tượng để tôi hướng đến Không chỉ là một nhà thơ, Văn Công Hùng còn được biết đến là một nhà báo, vì vậy ngôn ngữ trong các tác phẩm của ông luôn được chọn lọc kĩ càng trước khi đến với bạn đọc Việc nghiên cứu Đặc trưng từ vựng trong thơ của Văn Công Hùng sẽ là một bước khởi đầu

để có thể nghiên cứu thêm về các phương diện nghệ thuật khác trong thơ ca ông

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu về từ vựng trong thơ hiện đại Việt Nam

Từ sau khi tiến hành công cuộc Đổi mới (1986) trên tất cả mọi lĩnh vực, trong đó có khoa học, đất nước đã có sự phát triển vượt bậc và thoát ra khỏi

Trang 9

cuộc khủng hoảng trầm trọng Nhìn lại hơn 34 năm nghiên cứu từ vựng tiếng Việt (1986 – 2021), có thể thấy đã có không ít những công trình đi sâu vào lĩnh vực nghiên cứu này của ngành ngôn ngữ học Việc nghiên cứu về hệ thống từ vựng trong sáng tác của các nhà thơ cổ điển và hiện đại đã nhận được sự quan tâm của một số nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh và học viên cao học Tuy nhiên, liên quan trực tiếp đến vấn đề mà luận văn nghiên cứu, chúng tôi xin nêu một số tài liệu như sau:

Năm 2002, từ góc nhìn so sánh, trong công trình Hệ thống từ vựng trong Quốc Âm thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi tập, Trần Trọng Dương đã nêu bật những đặc trưng từ vựng trong thơ Nôm của hai tác giả Nguyễn Trãi

và Nguyễn Bỉnh Khiêm Đây là một trong những tài liệu quan trọng đặt vấn

đề tiếp cận từ vựng học lịch sử đối với thế giới thơ Nôm của tiền nhân Hệ thống bảng biểu về các dạng thức khác nhau của từ vựng như đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa, nguồn gốc, đặc trưng văn hoá Những đóng góp của Trần Trọng Dương được khẳng nhận bởi những kiến giải quan trọng và nhấn mạnh vai trò của từ vựng trong việc xây dựng nên những giá trị về nội dung nhân văn, yêu nước và hệ tư tưởng Nho học, Lão học mà các nhà thơ trung đại đã dày công thể hiện, trong đó Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm là những đại diện tiêu biểu [Dẫn lại 61]

Năm 2004, khi thực hiện đề tài Bước đầu khảo sát hệ thống từ vựng trong thơ Phạm Hổ, Nguyễn Anh Tú đã khái quát một số vấn đề liên quan đến tính hiện đại và dân gian của hệ thống từ vựng trong ngôn ngữ thơ thiếu nhi Phạm Hổ Từ cách tiếp cận cấu tạo, ngữ nghĩa và nguồn gốc, những đánh giá của Nguyễn Anh Tú cũng góp phần khẳng định sự đóng góp của Phạm Hổ trong việc tạo dựng một hệ thống ngôn từ trong sáng, đẹp và sâu sắc của thơ Việt Nam hiện đại dành cho thiếu nhi [Dẫn lại 4]

Thơ Tố Hữu là một đối tượng tiếp cận của nhiều khuynh hướng nghiên cứu, trong đó có từ vựng học Trong luận văn Từ vựng trong thơ Tố Hữu

Trang 10

(2013), Nguyễn Thị Hồng đã khảo sát một cách hệ thống các vấn đề liên quan đến từ vựng trong ngôn ngữ thơ Tố Hữu sau Cách mạng tháng Tám Những phát hiện và đánh giá của tác giả luận văn, về cơ bản đã khái quát được một

số đặc trưng từ vựng mang phong cách cá nhân của nhà thơ trữ tình cách mạng tiêu biểu của nền thơ cách mạng Việt Nam [Dẫn lại 4]

Hướng tiếp cận từ vựng học đối với ngôn ngữ thơ được tổng hợp và khái quát hoá thành một hướng nghiên cứu cơ bản trong luận án Đặc trưng từ vựng Thơ mới 1932 – 1945 củaVũ Thị Ân công bố năm 2012, và xuất bản thành sách do Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội ấn hành Trong công trình này, tác giả đã khái quát và xác định:

“Việc xác lập các đặc trưng từ vựng của một trào lưu thơ, một giai đoạn thơ từ phương pháp khảo sát định lượng, kết hợp so sánh, đối chiếu (trên cả hai bình diện đồng đại và lịch đại) sẽ không những giúp người nghiên cứu mô tả những đặc điểm ngôn ngữ của đối tượng khảo sát mà còn góp phần khẳng định vai trò và giá trị của phương pháp kháo sát định lượng trong việc nghiên cứu sự kiện ngôn từ (nhất là ngôn từ trong tác phẩm văn chương)…” [4, tr.04]

Ngoài ra, qua khảo sát chúng tôi còn thu nhận được một số luận văn khảo sát các trường nghĩa từ vựng cụ thể trong ngôn ngữ thơ Tố Hữu, Xuân Diệu, Xuân Quỳnh,… Về cơ bản, đây là những tài liệu mang tính tiền đề lý luận để chúng tôi đi sâu tìm hiểu những vấn đề được đặt ra trong đề tài luận văn cá nhân

2.2 Lịch sử nghiên cứu về thơ của Văn Công Hùng

Từ trước đến nay, số lượng công trình nghiên cứu về thơ của Văn Công Hùng không nhiều Năm 2012, Nguyễn Thị Vân Dung với công trình Thế giới nghệ thuật thơ Văn Công Hùng và năm 2017, Trương Thị Tường Thi với công trình Phong cách nghệ thuật thơ Văn Công Hùng đã tập trung tìm hiểu trên các cấp độ: quan niệm nghệ thuật và hành trình sáng tạo, hình tượng cái tôi

Trang 11

trữ tình và một số phương thức biểu hiện nổi trội trong thế giới thơ của Văn Công Hùng ở giai đoạn 1992 – 2017 Công trình này đã cung cấp một cái nhìn tương đối toàn diện và khoa học về những đặc điểm nổi bật trong thế giới nghệ thuật thơ Văn Công Hùng Từ đó, tác giả khẳng định những đóng góp tích cực của Văn Công Hùng trong quá trình hiện đại hóa thơ ca Việt Nam

Theo thống kê chưa đầy đủ của chúng tôi, đến thời điểm này đã có trên dưới bốn mươi bài viết nghiên cứu về đặc điểm, phong cách và giá trị nghệ thuật thơ của Văn Công Hùng trên các báo và tạp chí Đó là những nghiên cứu có giá trị của Hồ Thể Hà, Phạm Phú Phong, Nguyễn Trọng Tạo, Phan Duy Đồng, Nguyễn Thanh Mừng, Nguyễn Thị Anh Đào, Thuận Nghĩa, Chử Anh Đào, Thu Loan, Tạ Văn Sỹ Nhìn chung các tác giả đều đánh giá cao thơ Văn Công Hùng, khẳng định giọng thơ và vị trí thơ rất riêng của ông Thơ ông có sự tiết giản, bình dị của cuộc sống đời thường mà lại đậm chất suy nghĩ, chất trí tuệ

Trong lời tựa tập Bến đợi, từ góc nhìn thẩm mĩ, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã nhấn mạnh:

“Gặp gỡ thường tạo nên cảm hứng tức thì choáng ngợp Biệt ly lại bàng hoàng trước bao kỷ niệm thân quen Cả hai trạng huống này đều là cái nguyên thủy để khơi lên hồn thơ vốn ẩn chứa ở mỗi người Hai trạng huống nên thơ ấy đều có ở Văn Công Hùng khi anh biệt xa quê hương Thừa Thiên Huế để đến với núi non Tây Nguyên hùng vĩ - quê hương mới của anh Thật may mắn cho một người làm thơ có cả hai quê: có quê mới để thương, có quê cũ để nhớ” [Dẫn lại 13, tr.02]

Cũng đọc Bến đợi những nhà lý luận phê bình Phạm Phú Phong lại có một đánh giá khác:

“Văn Công Hùng đến với thơ như một lữ hành đơn độc, khó nhọc, lầm lũi ngày nào đến với núi rừng Tây Nguyên Càng đi càng thấy xa, thấy mịt mù mưa bụi Ở phía chân trời xa tắp kia còn có những giọt

Trang 12

nắng vàng đọng lại, hắt sáng lên như thôi thúc gọi mời Thơ anh là những giọt mưa rả rích rơi không hàng không lỗi, đọng lại trên trang giấy, đọc lên mới thành thơ, thành hơi thở của đời sống, tiếng nói của tri

âm Nếu không sợ nói là quá lời, ở thế hệ những người làm thơ sau 1975 trên dãi đất Tây Nguyên, Văn Công Hùng là một trong những người gây cho người đọc một ấn tượng khó quên Người làm thơ vốn là người giàu

có trong tâm hồn, cứ rút tia từng mảnh nhỏ dâng hiến cho đời mà không thu lại được gì” [13, tr.49]

Nguyễn Thanh Mừng đọc tập Hát rong đã khám phá ra một đặc điểm tiêu biểu cho sáng tác của Văn Công Hùng qua tập thơ này Nhà phê bình cho rằng:

“Tiếng hát rong trong thơ Văn Công Hùng dù thất ngôn hay ngũ ngôn, lục bát hay tự do đều chung một mạch nguồn, mặc sương mặc gió, mặc nắng mặc mưa Ẩn sau tiếng hát là một trái tim nồng nàn, dù phiêu lãng trên ủng mây cao, hay trần gian tục ly Một trái tim ở tinh thể nào vẫn căng đầy, roi rỏi: “Nước hồ đầy mà khát thì vẫn khát, cơn khát từ tiền kiếp đốt cháy mặt đường anh thập thững bên em Những cơn gió xanh, những cơn gió trắng, cơn gió nào mát ở phía sau lung, chỉ có đơn độc một con đường mà đi đi mãi Trên con đường tìm tòi và khám phá, tôi tin người lữ hành hát rong ấy không bao giờ đơn độc” [58]

Sau Hát rong là Hoa tường vi trong mưa, đây là “tập thơ đầy đặn và bề thế những chặng đường của đi và về, của nghĩ và cảm, của mê đắm và tỉnh thức, của tiễn đưa và sum họp của ký ức và dụ cảm, của khoảnh khắc và muôn trùng, của bất chợt và vĩnh viễn Tôi đọc đi đọc lại bài thơ Hoa tường

vi trong mưa, bài thơ làm tựa cho cả tập 62 bài, nghe rất nhiều âm thanh vừa bồi hồi vừa rộn rã, vừa ào ạt, vừa tinh nhạy ” [11]

Tiếp tục đến với Gõ chiều vào bàn phím, Nguyễn Thị Anh Đào viết:

“Thơ Văn Công Hùng mang đậm nét tính cách của anh, có chút dí dỏm nhưng lại đằm sâu nỗi buồn Gõ chiều vào bàn phím là tập thơ dày

Trang 13

công sáng tạo và chắt lọc của Văn công Hùng mang lại cho người đọc một cảm giác muốn được khám phá ngôn ngữ để đi đến tận cùng vẻ đẹp của văn chương” [15]

Cũng trong bài viết “Đọc tập thơ Gõ chiều vào bàn phím của Văn Công Hùng”, Nguyễn Thị Anh Đào đã phân tích và cho rằng:

“Văn Công Hùng lại chọn cho mình cách đi mà có thể không giống bất cứ ai Đó là cách tục khẳng định mình bằng chính những năng lực nội tại và một tâm hồn giàu lòng nhân ái Một số tác phẩm của ông để lại dấu ấn trong lòng bạn đọc như những tập thơ: Bến đợi, Hoa tường

vi trong mưa, Hát rong, Ngựa trắng bay về, Gõ chiều vào bàn phím, Lời Vĩnh cửu, tập tân văn và ký sự Mắt cao nguyên Có một Văn Công Hùng đầy lãng mạn trong những câu thơ như cứa ra từ máu anh như gọt giũa từ nhiều những lớp cắt thời gian để rồi một ngày từ đầu ngọn bút thơ cứ tuôn tràn với nhiều cung bậc Anh đắm say với tình yêu quê hương với người một cảnh hai quê với hình ảnh mẹ em bạn bè, con gái Tất cả xâu chuỗi lại và hình thành nên một vòng cung số phận Thơ và đời cứ khắc khoải trong thơ anh như có cái gì đó anh muốn mà chưa bao giờ với tới như những nỗi thất vọng mang vòng kim cô quản chặt vào nghiệp văn của anh Đôi khi tình cảm của anh cứ òa vỡ vào những khoảng lặng tâm hồn đầm sâu” [15]

Đánh giá một cách tổng quan nhất về thơ của Văn Công Hùng, đó là bài viết “Văn Công Hùng – Những nẻo đường hát rong” của nhà nghiên cứu

Hồ Thế Hà Tác giả bài viết cho rằng:

“Có thể nói, đó là hành trình sáng tạo cần mẫn, không mệt mỏi của Hùng để kết tinh thành những hạt thi ca lấp lánh lời giải đáp về những điều lớn lao và vi diệu của cuộc sống và của chính cõi lòng thi nhân Thơ Văn Công Hùng là sự hòa giải giữa chủ thể trữ tình và khách thể thẩm mĩ Đọc thơ Văn Công Hùng, nhất là các tập về sau Hoa tường vi

Trang 14

trong mưa, Gõ chiều vào bàn phím, tôi nhận ra sự kết tinh thi sĩ ấy Chất triết lý và nghiệm sinh được tăng cường Thể thơ và tư duy thơ Văn Công Hùng không thuộc loại cách tân chạy theo model đáng tránh như một số các nhà thơ khác Anh ưu tiên các thể thơ sở trường như lục bát, năm chữ hoặc thơ tự do được phân chia theo khổ 4 câu hoặc theo đoạn dài ngắn khác nhau, nhưng luôn tuân thủ theo nhịp cảm xúc và tâm trạng tự nhiên Chính điều đó đã tạo ra sự tinh thục, đa dạng trong thơ Văn Công Hùng” [30]

Nhà thơ Thu Loan trong công trình Đề tài nghiên cứu lịch sử văn học Gia Lai giai đoạn 1945 – 2008 có viết:

“Thơ Văn Công Hùng có giọng mềm mại, giàu nhạc điệu Tác giả

sử dụng nhiều từ ngữ ở cấp độ cao, hình ảnh mới lạ, dồn dập, liên tiếp trong mỗi câu thơ, mỗi bài thơ có sự lung linh, nhiều màu sắc, hình ảnh Nhiều câu thơ trong trẻo, nhiều nỗi niềm khắc khoải ngân lên, thiết tha chảy, thiết tha gửi tới người đọc vô vàn sự cuống quýt, những đắm say thăm thẳm, những mỏng manh, nhẹ nhàng của một trái tim dễ rung rung, dễ bùng nổ, dễ say sưa đến tận cùng” [49, 122 - 123]

Nhận xét về Đêm không màu, nhà phê bình Thuận Nghĩa viết:

“Cảm nhận đầu tiên của Đêm không màu là sự đằm thắm và độ chín của Văn Công Hùng Chúng tôi và anh đã đi qua sự bồng bột, sôi nổi của thời trai trẻ Sức cuốn hút của tập thơ là những đột phá ngôn ngữ và cấu tứ từ

"sắc màu cuộc sống" hiện đại Đọc bài nào của ông cũng ở màu sắc rất hoành tráng” [60]

Với Lục bát Văn Công Hùng, chúng ta có thể cảm nhận ở thi sĩ một thế giới thẩm mĩ khác lạ Hồ Thế Hà đã cho rằng:

“Văn Công Hùng trong thế giới Lục bát của riêng anh thường hay

“lơ ngơ”, cái lơ ngơ lạc ra khỏi những toan tính bon chen Có lẽ, lúc ấy con người ta mới tinh tường mới gặp được những vẻ đẹp thuần khiết trong

Trang 15

những điều dung giản như một vạt hoa mua Anh lựa chọn giữ lại những cái cũ linh diệu chỉ ở mức độ“ôn cố” và chủ động kiềm chế cái chất đương đại vừa vặn ở mức độ “tri tân” Cho nên, khi tôi viết bài trao đổi nhỏ này – dù thấy rõ mồn một màu thơ riêng chỉ có ở nét thơ của thi nhân Văn, dù rất muốn đặt tên cho phong thể “Lục bát Văn Công Hùng” Nhưng rồi không thể gọi tên – chỉ còn biết nêu vào một câu thơ của anh để mà tạm gọi: Lục Bát Văn Công Hùng - "rơi ngang một giọt không tên" Trong cách cảm hiểu hời hợt của cá nhân tôi – lục bát Văn Công Hùng là một nàng Lục bát - không tên như thể có tên lâu rồi” [29, tr.09]

Tập thơ Vòm trời khác của Văn Công Hùng được các nhà phê bình đánh giá là đã mang lại nhiều nét mới với chiều sâu nội dung tạo ra sự ấn tượng, khẳng định những giả trị hiện hữu của thơ, đáng để người yêu thơ tìm đọc Thơ của Văn Công Hùng như để lại trong lòng người đọc nỗi xao xuyến ngay

cả khi đã gấp sách lại Thơ của Văn Công Hùng đa nghĩa, thoạt đọc có những bài không dễ hiểu nhưng càng ngẫm càng thấy thơ anh sâu và đầy ẩn ý Những trang thơ mang nhiều nét trừu tượng không dễ hóa giải ngay từ đầu cũng vì thế càng đọc thơ anh càng thấy tò mò, thú vị Hồn ta bị cuốn hút vào

"ma trận chữ", bắt buộc trí óc không ngừng phải phân tích, nhận định để khám phá hồn thơ anh

Trong suốt hành trình nghệ thuật, thơ ông đã định hình và thể hiện sự tìm tòi rất rõ Đó là kết tinh những cảm xúc và những ấn tượng trong cuộc đời Tất cả, hội tụ và từng bước thăng hoa, tạo cho thơ ông ngày càng có chiều sâu Trải qua thời gian, ông đã tạo cho thơ mình một chỗ đứngvững vàng trong lòng bạn đọc Có được thành tựu nghệ thuật đó, chính bởi ông đã xác lập cho mình một quan niệm đúng đắn và sứ mệnh của thi ca và vai trò của thi sĩ, hành trình cuộc sống và hành trình sáng tạo của Văn Công Hùng luôn tuân thủ những quan niệm nói trên, thông qua việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chủ thể thẩm mĩ và khách thể thẩm mĩ để tạo nên cá tính

Trang 16

sáng tạo và cao hơn là thi pháp cá nhân

Nguyễn Thị Vân Dung trong công trình Thế giới nghệ thuật thơ Văn Công Hùng đã đánh giá:

“Trong suốt hành trình nghệ thuật, thơ ông đã định hình và thể hiện sự tìm tòi rất rõ Đó là kết tinh những cảm xúc và những ấn tượng trong cuộc đời Tất cả, hội tụ và từng bước thăng hoa, tạo cho thơ ông ngày càng có chiều sâu Trải qua thời gian, ông đã tạo cho thơ mình một chỗ đứng vững vàng trong lòng bạn đọc Có được thành tựu nghệ thuật

đó, chính bởi ông đã xác lập cho mình một quan niệm đúng đắn và sứ mệnh của thi ca và vai trò của thi sĩ, hành trình cuộc sống và hành trình sáng tạo của Văn Công Hùng luôn tuân thủ những quan niệm nói trên, thông qua việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chủ thể thẩm mĩ và khách thể thẩm mĩ để tạo nên cá tính sáng tạo và cao hơn là thi pháp cá nhân ” [13, tr.63 |

Khảo sát những bài bình luận, nhận định, đánh giá về những bài thơ của Văn Công Hùng, chúng tôi nhận thấy sự quan tâm khá lớn của các nhà nghiên cứu đối với từng bài thơ đặc sắc của nhà thơ phố Núi này Hồ Thế Hà đọc bài thơ Mùa thu như thể nắng vàng trôi qua của Văn Công Hùng, đã nhận xét:

“Bài thơ theo thể lục bát, nhịp điệu quen thuộc, có vài chỗ phá cách để tránh đơn điệu; có ngắt, xuống dòng chỗ dùng (césur), có đồng hiện, hoài vãng có hiện thực để tạo ra những phức điệu, phức cảm làm đẹp hồn thơ và hấp dẫn quá trình tiếp nhận của người đọc” [29, tr.53] Nhà phê bình Phạm Phú Phong khi đọc Thơ tiễn mùa thu của Văn Công Hùng đã hết lời ngợi ca:

“Có những câu thơ hay, tạo nên những hình tượng thơ đẹp, mang dấu ấn phát hiện của tác giả như “chiếc thuyền neo chênh chếch giữa trăng vàng" Cả bài thơ, chỉ có một chữ đầu của câu là viết hoa, các câu khác viết thường, tạo cho cảm xúc liền mạch từ đầu đến cuối, câu thơ

Trang 17

tám chữ tạo nhịp thơ nhanh, khỏe khoắn, nâng cảm xúc tràn trề Giọng điệu; tâm hồn anh vì thế luôn mới mẻ Nếu được chọn một nhà thơ "top ten" các nhà thơ tiêu biểu cho Tây Nguyên hôm nay, trong đó có Văn Công Hùng” [Dẫn lại13, tr.28]

Đọc bài thơ Có một thời lưu luyến, Chử Anh Đào viết:

“Có lẽ xuất phát từ cảm xúc chân thành nhất từ một kỷ niệm luôn hôi hổi như một món nợ với bạn bè, với tuổi trẻ nên tác giả đã viết rất nhanh, bằng lời lẽ rất giản dị, không cần sự trợ giúp của các kỹ xảo, các

từ ngữ bóng bẩy để viết nên bài thơ này Bài thơ trữ tình như một câu chuyện ngắn gọn, súc tích, có sức dồn nén cao, có thể đem kể cho nhau nghe mỗi khi bạn bè gặp lại” [14, tr 07]

Ngoài ra, còn một số bài viết khác về thi ca của Văn Công Hùng như:

“Có một người xa quê đi hát rong”, Hương Giang, báo Văn nghệ số 7/1993

“Hát rong", báo Nhân dân, ngày 26/11/1999, “Mười tám với khoảnh khắc trái tim thi sĩ”, Vũ Thu Huế, báo Gia Lai 04/11/2000; “Có một thuở tường vi”, Nguyễn Thánh Ngã, báo Lâm Đồng, thứ 7, tháng 9/2003; “Nhà thơ Văn Công Hùng, người rong chơi phố núi”, Nguyễn Yên Thi, báo Người Lao động, 26/7/2003

Trong quá trình khảo sát và điểm qua một số công trình nghiên cứu thơ của Văn Công Hùng, chúng tôi nhận thấy: Việc xem xét đánh giá thơ của Văn Công Hùng, hầu hết là những bài đánh giá mang tính tổng quan về thơ ông, đều có điểm chung là sự kính trọng đối với nhân cách thơ bên cạnh sự khai

mở về thi pháp và tư tưởng của nhà thơ trong đời sống thi ca đương thời Những bài nghiên cứu, đánh giá, bài viết này có quy mô vừa và nhỏ, chỉ giới hạn trong một bài báo và phạm vi bao quát cũng rất hạn chế, chỉ mới đánh giá về một tập thơ hay một phẩm chất nào đó trong hồn thơ của ông, thường thiên về cảm xúc hay ở dạng lời bạt, lời tựa mà chưa đi sâu khái quát những đặc trưng ngôn ngữ của tác giả Đây là một trong những vấn đề cơ bản

Trang 18

mà luận văn của chúng tôi sẽ tập trung tìm hiểu Điều này đã đặt ra cho chúng tôi khá nhiều thách thức và trở ngại, cần phải đào sâu, suy nghĩ và có những

so sánh nhất định giữa đặc điểm thơ của Văn Công Hùng với thơ của một số nhà thơ đương đại khác

3 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài “Đặc trưng từ vựng trong thơ của Văn Công Hùng”, luận văn không nghiêng về lí luận mà chủ yếu là vấn đề thực tiễn, nên chúng tôi

sẽ tiến hành xây dựng hệ thống vốn từ vựng thông qua việc thống kê, khảo sát để

có những thông tin định lượng về chúng Từ đó, người viết có thể làm rõ hơn về các đặc trưng từ vựng trong thơ của Văn Công Hùng trong phạm vi khảo sát Với tình yêu mến những vần thơ của nhà thơ Văn Công Hùng, luận văn của chúng tôi sẽ là những trải nghiệm đầu tiên tìm hiểu và nghiên cứu cụ thể

về đặc trưng từ vựng – một trong những yếu tố làm nên vẻ đẹp ngôn ngữ của nhà thơ khá đặc biệt này của miền cao nguyên đầy nắng gió

Ngoài ra, trong phạm vi tìm hiểu, luận văn còn có thể đánh giá từ vựng tiếng Việt được sử dụng trong nguồn ngữ liệu được khảo sát Qua đó, có thể góp phần nghiên cứu đặc trưng từ vựng tiếng Việt trong giai đoạn tương ứng được xét Mặc khác, góp phần phục vụ nghiên cứu tác phẩm văn chương từ góc độ ngôn ngữ học; bước đầu tìm hiểu nghệ thuật của Văn Công Hùng trong việc sử dụng ngôn từ Đây có thể được xem là yếu tố quan trọng trong quá trình tiếp nhận cũng như nghiên cứu đặc điểm thơ của Văn Công Hùng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng chính của luận văn là đặc điểm về tự vựng trong ngôn ngữ thơ của Văn Công Hùng Thông qua những giá trị nổi bật về hệ thống từ vựng trong ngôn ngữ thơ của Văn công Hùng, chúng tôi sẽ khái quát một số vấn đề liên quan đến nội dung trong sáng tác của nhà thơ phố núi Pleiku: Đó là tính triết luận về cái đẹp và bản sắc riêng về hình thức kết cấu, thể loại và ý tượng

Trang 19

thẩm mĩ

Tính đến thời điểm hiện tại, có thể nói Văn Công Hùng đã đóng góp cho thơ đương đại Việt Nam mới một số lượng đáng kể Tuy nhiên, trong luận văn này, người viết chỉ giới hạn trong việc khảo sát hệ thống vốn từ vựng trong một số tác phẩm thơ đã được xuất bản của Văn Công Hùng từ năm 1992 đến 2019

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

51 Phương pháp thống kê - phân loại:

Trong quá trình triển khai tìm hiểu đặc trưng từ vựng trong thơ của Văn Công Hùng, để có được những cơ sở căn bản, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê – phân loại là phương pháp chủ đạo Thông qua hệ thống số lượng

đã thống kê được, chúng tôi sẽ ra những đánh giá cụ thể về đặc trưng từ vựng trong thế giới ngôn từ thơ của Văn Công Hùng

Trang 20

5.4 Phương pháp so sánh: Ở một vài chỗ cần so sánh với các đặc trưng

từ vựng trong thơ của các tác giả khác, hay trong các giai đoạn văn học khác, chúng tôi buộc phải sử dụng phương pháp so sánh Đây được xem là phương pháp giúp cho quá trình nghiên cứu diễn ra một cách khách quan hơn

Như vậy, với bốn phương pháp nghiên cứu trên đây, chúng tôi sẽ sử dụng phối hợp với nhau để giải quyết những vấn đề đặt ra

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai qua 3 chương, tập trung vào các vấn đề sau: Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

Chương 2 CÁC BÌNH DIỆN CỦA TỪ VỰNG TRONG THƠ CỦA VĂN CÔNG HÙNG

Chương 3 GIÁ TRỊ THẨM MĨ CỦA HỆ THỐNG TỪ VỰNG TRONG THƠ CỦA VĂN CÔNG HÙNG

Trang 21

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Ngôn ngữ thơ và từ vựng với sự phát triển ngôn ngữ thơ Việt Nam 1.1.1 Thơ và những đặc trưng của thơ

Thơ là một hình thức sáng tác văn học đầu tiên của loài người Chính vì vậy mà có một thời gian rất dài thuật ngữ thơ được dùng chỉ chung cho văn học Thơ có lịch sử lâu đời như thế nhưng để tìm một định nghĩa thể hiện hết đặc trưng bản chất của nó cho việc nghiên cứu thơ ngày nay thì thật không dễ Bàn về khái niệm thơ, trong lịch sử lý luận văn học, đã xuất hiện nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về thể loại tiêu biểu này của văn học Về mặt nguyên lý, thơ và văn xuôi là hai kiểu tổ chức ngôn từ nghệ thuật mà sự khác biệt thuần tuý bên ngoài trước hết ở cơ cấu nhịp điệu Nhịp điệu trong thơ được kiến tạo bởi sự phân chia theo những quy tắc mang tính số lượng của các dòng ngôn từ trong tác phẩm thành những ngữ đoạn theo các quy tắc

cú pháp với nhau Từ góc nhìn và tiếp cận này, nhà nghiên cứu Lại Nguyên

Ân trong quyển 150 thuật ngữ văn học cho rằng:

“Thơ là hình thức nảy sinh đầu tiên của nghệ thuật ngôn từ theo nghĩa đen (tức là không có sự phân giới với thơ ca dân gian) Câu thơ là đơn vị kiến tạo cơ sở của những tác phẩm thuộc các thể loại khác nhau (trường ca, sử thi, bi kịch, hài kịch, các thể tài trữ tình) ở văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại, ở văn học Châu Âu trung đại, Phục Hưng và chủ nghĩa cổ điển ở trữ tình hiện đại, câu thơ thực hiện một nhiệm vụ kép: tương ứng với vai trò đã có từ khởi thuỷ, nó đưa một thông báo về một kinh nghiệm sống thực tại của tác giả vào lĩnh vực nghệ thuật, tức là biến một dữ kiện kinh nghiệm thành một sự kiện nghệ thuật; đồng thời câu thơ lại cho phép tái tạo bằng giọng điệu trữ tình một sự thật trực tiếp của thể nghiệm sống cá nhân, một “giọng người” thật sự, riêng biệt – giọng nói của nhà thơ” [2, tr.381 – 382]

Trang 22

Ở Việt Nam, khái niệm "thơ là gì?" cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu

đề cập đến với nhiều quan niệm, nhiều khuynh hướng khác nhau Lý giải về bản chất của thơ, nhóm Xuân thu nhã tập cho rằng: "Thơ là một cái gì huyền

ảo, tinh khiết, thâm thuý, cao siêu" [tr.76] Còn nhà thơ Tố Hữu thì quan niệm:

"Thơ là cái nhụy của cuộc sống" [Dẫn lại 28, tr.51]

Dưới cái nhìn cấu trúc, nhà nghiên cứu Phan Ngọc định nghĩa: “Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và suy nghĩ do chính hình thức ngôn ngữ này” [Dẫn lại 28, tr.23] Định nghĩa này của Phan Ngọc đã kế thừa được những khám phá quan trọng về thơ của nhiều nhà nghiên cứu thuộc các trường phái khác nhau của Tây Âu trong mấy chục năm qua Đặc biệt, đã gợi ra một trường nghiên cứu thơ hết sức rộng rãi: thơ không chỉ là hiện tượng ngôn ngữ học thuần tuý mà chủ yếu là hiện tượng giao tiếp nghệ thuật, một phát ngôn trong ý nghĩa đầy

Như vậy, theo nhiều nhà nghiên cứu, thơ là một tổ chức cấu trúc hình

thức nghệ thuật sử dụng từ vựng trong ngôn ngữ làm chất liệu cơ bản, và sự chọn lọc hệ thống từ ngữ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới hình thức lôgíc nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính

Trang 23

thẩm mĩ cho người đọc, người nghe Từ những cách tiếp cận trên cho thấy, thơ là một khái niệm đa nghĩa và được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất với cách định nghĩa của nhóm tác giả Từ điển thuật ngữ văn học:

“Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm xúc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu thơ là hình thái văn học đầu tiên của loài người Ở nhiều dân tộc, trong một thời gian tương đối dài, các tác phẩm văn học đều được viết bằng thơ Vì thế trong lịch sử văn học của nhiều dân tộc từ thế kỉ XVII trở về trước, nói đến thơ ca tức là nói đến văn học” [31, tr.309 – 310]

Thể loại thơ thường được đi kèm với khái niệm có tính chất định lượng là câu để chỉ một câu thơ, vài hàng bài để chỉ một bài thơ Một câu thơ là một hình thức câu cô đọng, truyền đạt một hoặc nhiều hình ảnh, có ý nghĩa cho người đọc,

và hoàn chỉnh trong cấu trúc ngữ pháp Một câu thơ có thể đứng nguyên một mình Một bài thơ là tổ hợp của các câu thơ Tính cô đọng trong số lượng từ ngữ, tính tượng hình và dư âm thanh nhạc trong thơ biến nó thành một hình thức nghệ thuật độc đáo, tách biệt hẳn khỏi các hình thức nghệ thuật khác

1.1.2 Ngôn ngữ thơ và những đặc trưng của ngôn ngữ thơ

Nếu ngôn ngữ sinh hoạt hay còn gọi là khẩu ngữ, ngôn ngữ hội thoại, ngôn ngữ thân mật gắn liền với lời ăn tiếng nói hàng ngày Trên cơ sở xác định những đặc trưng mang tính loại biệt của thể loại thơ, chúng ta có thể xác định được những thuộc tính mang tính đặc trưng của ngôn ngữ thơ Ngôn ngữ thơ khácvới lời nói thường ở cấu trúc của nó, lời thơ ít nhưng cảm xúc và ý nghĩa rất phong phú, có sức gợi cảm lớn Muốn vậy nó phải tạo ra một cấu trúc đặc biệt, tức là “láy đi láy lại” một phần hay toàn bộ hình tượng ngôn ngữ (hệ hình), nhịp điệu, âm tiết và sự hài hoà, cân xứng những mặt tương phản (thanh điệu, vần, độ dài âm tiết, nhịp ) tuỳ theo đặc trưng của một ngôn ngữ

Trang 24

So với ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ có một số đặc trưng như: Trước hết ngôn ngữ thơ có đặc trưng về nhạc tính: Thơ trữ tình phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ ấy Nếu như trong văn xuôi, các đặc tính thanh học của ngôn ngữ (như cao độ, cường độ, trường độ ) không được tổ chức thì trong thơ, trái lại, những đặc tính ấy lại được tổ chức một cách chặt chẽ, có dụng ý, nhằm tăng hàm nghĩa cho từ ngữ, gợi ra những điều mà từ ngữ không nói hết Bởi thế, đặc trưng tính nhạc được coi là đặc trưng chủ yếu mang tính loại biệt

rõ nét của ngôn ngữ thơ ca

Theo các nhà nghiên cứu, nhạc tính trong thơ được thể hiện ra ở ba mặt

cơ bản Đó là: sự cân đối, sự trầm bổng và sự trùng điệp:

- Sự cân đối là sự tương xứng hài hoà giữa các dòng thơ Sự hài hoà đó

có thể là hình ảnh, là âm thanh, chẳng hạn:

Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi (Nguyễn Bỉnh Khiêm) Cũng có thể là cách sắp xếp tổ chức mà chúng ta dễ dàng nhận thấy ở cặp câu thực, câu luận trong bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú Đối với thơ hiện đại, yêu cầu này không khắt khe Tuy vậy, nhà thơ vẫn hết sức chú ý đến hiệu quả nghệ thuật của phép đối xứng trong thơ của mình

- Sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ thể hiện ở cách hoà âm, ở sự thay đổi

độ cao giữa hai nhóm thanh điệu Tố Hữu đã có lần nói đến giá trị ngữ âm của

từ "xôn xao" trong câu thơ "Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa" (Mẹ Tơm)

Đó đâu chỉ là âm vang của tự nhiên mà là âm vang của tâm hồn Cái làm nên

âm vang đó chính là âm thanh, âm thanh của từ "xôn xao" đã cùng với nghĩa của nó làm nên điều kỳ diệu ấy Sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ thể hiện ở sự dùng vần, điệp từ, ngữ và điệp cú Chúng có tác dụng như một phương tiện

Trang 25

kết dính các dòng thơ lại với nhau thành một đơn vị thống nhất, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho trí nhớ vừa tạo nên vẻ đẹp trùng điệp cho ngôn ngữ thơ: Lầu mưa xuống, thềm lan mưa xuống

Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan

Mưa rơi ngoài nẻo dặm ngàn

Nước non rả rích giọt đàn mưa xuân

(Tiếng đàn mưa - Bích Khê)

Lối điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc ở đây vừa diễn tả được hình ảnh cơn mưa của đất trời vừa tạo nên một ấn tượng vương vấn không dứt trong lòng người Như vậy, nhạc điệu trong thơ là một đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ Ngày nay, nhu cầu của thơ có phần đổi khác một số người có xu hướng

bỏ vần để tạo cho câu thơ sự tự do hoá triệt để Nhưng nếu không có một nhạc điệu nội tại nào đó như sự đối xứng giữa các dòng, các đoạn thơ, tiết tấu, nhịp điệu của câu thơ thì không còn là ngôn ngữ thơ nữa

Đặc trưng thứ hai của ngôn ngữ thơ là tính hàm súc: Đây là đặc điểm chung của ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương, nhưng do đặc trưng của thể loại mà nó biểu hiện một cách tập trung với yêu cầu cao nhất trong ngôn ngữ thơ Nếu ngôn ngữ văn xuôi tự sự là ngôn ngữ của cuộc sống đời thường, nó chấp nhận mọi lớp từ, mọi biến thái, mọi chiều kích, thậm chí cả sự xô bồ, phồn tạp đến cực độ để tái hiện bộ mặt cuộc sống, tâm lý con người trong sự sâu rộng, đa chiều vốn có của nó thì ngôn ngữ thơ lại mang nặng tính "đặc tuyển" Là thể loại có một dung lượng ngôn ngữ hạn chế nhất trong các loại tác phẩm văn học, nhưng thơ lại có tham vọng chiếm lĩnh thế giới Tính hàm súc được hiểu là khả năng của ngôn ngữ có thể miêu tả mọi hiện tượng của cuộc sống một cách cô đọng, ít lời mà nói được nhiều ý, ý tại ngôn ngoại Đây chính là cách dùng từ sao cho đắt nhất, có giá trị biểu hiện cao nhất kiểu như Nguyễn Du đã "giết chết" các nhân vật Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến, mỗi tên chỉ bằng một từ: cái vô học của Mã Giám Sinh: Ghế trên ngồi

Trang 26

tót sỗ sàng; cái gian manh của Sở Khanh: Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào; cái tầm thường ti tiện của Hồ Tôn Hiến: Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình

Do quy mô của tác phẩm, thơ ca thường sử dụng từ ngữ rất "tiết kiệm" Tính hàm súc của ngôn ngữ thơ, vì vậy, chứa đựng các thuộc tính khác Hàm súc cũng có nghĩa là phải chính xác, giàu hình tượng, có tính truyền cảm và thể hiện cá tính của người nghệ sĩ Nó không chỉ diễn tả được chiều sâu của tình cảm mà còn gợi lên cả chiều dài của những tháng năm chờ đợi Nó vừa đảm bảo được tính chính xác, tính hình tượng, vừa có tính truyền cảm

Để đạt được tính hàm súc cao nhất, có thể biểu hiện được cái vô hạn của cuộc sống trong những cái hữu hạn của các đơn vị ngôn ngữ, thơ ca phải tính đến những kiểu tổ chức đặc biệt mà nhà nghiên cứu Phan Ngọc gọi là

"quái đản" Dưới áp lực của cấu trúc ngôn ngữ khác thường này, ngữ nghĩa của từ trong thơ không dừng lại ở nghĩa gốc, nghĩa đen, nghĩa trong từ điển

mà phong phú, sâu sắc, tinh tế hơn Đó là thứ nghĩa được tạo sinh nhờ quan

hệ và trong quan hệ Ví dụ: Khi Hồng Nguyên viết: "Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau" thì chính trong quan hệ với những yếu tố trước và sau nó mà

từ "đột kích" được cấp cho một nghĩa mới, gợi lên những rung động thẩm mĩ

Định lượng số tiếng trong thơ cũng là tiền đề tạo ra sự xuất hiện với một mật độ dày đặc các phương tiện nghệ thuật trong thơ so với văn xuôi Nhiều lúc, trong một bài thơ, có thể thấy xuất hiện cùng một lúc các phương tiện tu từ khác nhau, như ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá, tượng trưng, điệp từ, điệp ngữ Bài ca dao trữ tình sau đây là một ví dụ:

Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt lên vai

Đèn thương nhơ ai

Mà đèn không tắt

Trang 27

Mắt thương nhớ ai Mắt ngủ không yên Đêm qua em những lo phiền

Lo vì một nỗi không yên một bề

Bài ca dao có số lượng từ không nhiều nhưng bằng các biện pháp tu từ

đã thể hiện được tâm trạng khắc khoải nhớ mong của người con gái dường như còn vang mãi, dư âm đến tận bây giờ và cả mai sau, không chỉ của một người mà của nhiều người

Đặc trưng thứ ba của ngôn ngữ thơ là tính truyền cảm: Tính truyền cảm cũng là đặc trưng chung của ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương, bởi tác phẩm văn học là sản phẩm của cảm xúc của người nghệ sĩ trước cảnh đời, cảnh người, trước thiên nhiên Cho nên, ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương phải biểu hiện được cảm xúc của tác giả và phải truyền được cảm xúc của tác giả đến người đọc, khơi dậy trong lòng người đọc những cảm xúc thẩm mĩ Tuy nhiên, do đặc trưng của thơ là tiếng nói trực tiếp của tình cảm, trái tim nên ngôn ngữ thơ ca có tác dụng gợi cảm đặc biệt

Ngôn ngữ thơ không bao giờ là ngôn ngữ chú trọng miêu tả cái khách quan như ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự Nếu nhà văn dùng ngôn ngữ để thuyết minh, miêu tả, nhắn nhủ, giải thích thì nhà thơ dùng ngôn ngữ để truyền cảm Là lời đánh giá trực tiếp, thể hiện tâm trạng cho nên sự lựa chọn

từ ngữ, phương thức tu từ trong thơ bao giờ cũng nhằm làm cho nội dung cảm xúc, thái độ đánh giá, sự đồng cảm hoặc phê phán, ca ngợi trở nên nổi bật:

Ôi những cánh đồng quê chảy máu

Dây thép gai đâm nát trời chiều

(Nguyễn Đình Thi)

Ở đây, tính truyền cảm của ngôn ngữ thơ không chỉ biểu hiện qua cách lựa chọn từ ngữ, các phương thức tu từ mà còn biểu hiện qua nhạc điệu thơ Nhìn chung, thơ là một hình thái nghệ thuật cao quí, tinh vi của sáng tạo

Trang 28

văn học nghệ thuật Vì vậy, ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ mang tính nghệ thuật; ngôn ngữ thơ trước hết mang đầy đủ những thuộc tính của ngôn ngữ văn học,

đó là: tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo hình, tính biểu cảm Tuy nhiên, ở mỗi loại tác phẩm khác nhau, những đặc điểm ấy lại biểu hiện dưới những sắc thái và mức độ khác nhau Đồng thời, mỗi loại tác phẩm lại có những đặc trưng ngôn ngữ riêng

1.2 Đặc trưng cơ bản của từ vựng trong thơ

1.2.1 Xét về cấu tạo và nguồn gốc

Theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, từ vựng hay vốn từ, kho từ vựng của một người là tập hợp các từ trong một ngôn ngữ mà người đó quen thuộc (biết tới) Vốn từ vựng thường xuyên tăng lên theo tuổi tác, và là công cụ cơ bản và hữu dụng trong giao tiếp và thu nhận kiến thức

Từ góc độ phạm vi sử dụng, người ta phân biệt hai loại kho từ vựng là chủ động và bị động Kho từ vựng chủ động bao gồm các từ được sử dụng trong văn nói và văn viết Kho từ vựng bị động bao gồm các từ mà một người

có thể nhận ra lúc đọc hoặc lúc nghe, nhưng không sử dụng chúng trong văn nói hoặc viết Kho từ vựng bị động nhiều hơn kho từ vựng chủ động một vài lần Xét riêng trong lãnh địa thơ ca, từ vựng thơ ca là vốn từ mà các nhà thơ

sử dụng để diễn tả những cung bậc tình cảm, trường thẩm mĩ của cá nhân trong quá trình kiến tạo nên những tác phẩm thơ đặc sắc Trong lịch sử phát triển từ vựng tiếng Việt, trong từng thời đoạn, nó có những bước chuyển mình, số lượng và đặc trưng cụ thể Điều này đã chịu sự tác động của các nguyên nhân văn hoá và ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam Nếu khảo sát và đánh giá hệ thống từ vựng với các tiểu loại cụ thể đã tham gia cấu tạo nên các câu thơ trong từng giai đoạn phát triển của thể loại này của lịch sử văn học Việt Nam chúng ta sẽ thấy rõ điều đó

Trong chuyên luận Đặc trưng từ vựng trong Thơ mới 1932 – 1945, từ góc độ cấu tạo, Vũ Thị Ân đã đưa ra một bảng thống kê so sánh về phương

Trang 29

diện cấu tạo từ vựng trong ngôn ngữ thơ Nôm thời trung đại và Thơ mới 1932 – 1945, kết quả được thể hiện như sau:

Bảng 1.1 Hệ thống từ vựng trong thơ Nôm và Thơ mới từ bình diện cấu tạo

Loại thơ

Tổng lượt

từ ngữ được khảo sát

1.743 (7,21%)

549 (2,27%)

64 (0,27%) Thơ mới

1932 - 1945 73.409

63.721 (86,8%)

7.211 (9,82%)

2.442 (3,33%)

35 (0,05%) [Nguồn 4, tr.15]

Từ bảng so sánh về phương diện cấu tạo của hệ thống tự vựng, chúng ta

có thể nhận thấy việc tham gia kiến tạo câu thơ trong thơ thời trung đại có số lượng và tỷ lệ khá sai biệt so với thời Thơ mới (1932 – 1945) Căn cứ bảng số liệu trên, chúng ta có thể nhận thấy Thơ mới và thơ Nôm trung đại, số lượng

từ đơn chiếm tuyệt đại đa số (trên 90%) Khoảng 10% số còn lại được chia cho các thành phần từ vựng còn lại

Tại sao có sự chênh lệch khá lớn như vậy? Theo suy nghĩ của chúng tôi, từ đơn là lớp từ chiếm số lượng chủ yếu và là yếu tố để tạo lập từ ghép, từ láy Thơ Nôm trung đại tính từ Nguyễn Trãi thì cách nay đã hơn 600 năm, còn nếu tính từ Trần Tế Xương thì cũng đã hơn 100 năm So với thời hiện đại, số lượng từ vựng tiếng Việt thời trung đại còn thấp và có nhiều yếu tố Hán Việt đơn tiết như Nguyệt, Thuỷ, Mai, Lan, Hoa, và nhiều yếu tố thuần Việt như khem (trong kiêng khem), han (trong hỏi han), nhèm (trong kèm nhèm) được dùng độc lập làm thành phần câu Ví dụ như Nguyễn Trãi viết:

Đêm trăng hớp nguyệt nghiêng chén, Thạch đỉnh hương tàn khói thuỷ trầm

Trang 30

Hoặc như Tú Xương đã viết:

Cái miếng phong tình vẫn chưa khem

Chớp mắt trăng hoa giả cách nhèm

Trong cách vận dụng từ ngữ của các nhà thơ trung đại, việc sử dụng các

từ đơn với tư cách là yếu tố tạo từ dường như chưa được đặt ra như trong thơ hiện đại, đặc biệt là Thơ mới Ngoài những lý do mang tính phạm trù trung đại và hiện đại, lý do văn học (thể tài, tính quy phạm và nội dung sáng tác), có thể nói đây là nguyên nhân quan trọng nhất, có ảnh hưởng đến tỉ lệ chênh lệch giữa hai lớp từ đơn và ghép của thơ Nôm trung đại so với Thơ mới

Hệ thống từ ghép trong thơ Nôm (cũng như trong Thơ mới sau này) chủ yếu là từ Hán Việt như nhân nghĩa, triều đình, trung quân, giang sơn, phong lưu Số lượng từ ghép được tăng bổ dần về số lượng ở các giai đoạn sau Cũng ở bảng thống kê trên, so với thơ Nôm, chúng ta có thể nhận thấy ở Thơ mới sự phổ biến ở việc sử dụng từ đơn, từ láy, từ ghép Trong Thơ mới, số từ đơn có tỉ lệ 86,8%, từ láy chiếm 3,33%, từ ghép chiếm 9,82% Mặc dù có điểm tương đồng với hệ thống từ vựng trong ngôn ngữ thơ Nôm nhưng ở Thơ mới đã có sự di chuyển và vận động của hệ thống từ vựng Nó đã bắt đầu hướng đến việc sử dụng hệ thống từ láy, từ ghép Điều này không chỉ làm gia tăng khả năng thể hiện mà còn là sự sáng tạo trong việc thể hiện các giá trị trong tư tưởng thẩm mĩ của các thi nhân trong hành trình sáng tạo thơ ca Xét

từ góc độ cấu tạo, từ tiếng Việt trong Thơ mới có xu hướng phức hợp hơn nhiều so với thơ Nôm Điều này hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển từ vựng trong ngôn ngữ tiếng Việt từ thời trung đại sang hiện đại

Trong vốn từ của các tác giả Thơ mới, các từ chêm xen như mà, chứ, thì, rồi xuất hiện không ít Ví dụ như Xuân Diệu viết:

Mau với chứ, vội vàng lên với chứ

Em em ơi, tình non sắp già rồi Hoặc Thế Lữ thì bộc bạch:

Trang 31

Trút khỏi lòng mà trôi đi, mà tan mất

Nguyên do cơ bản của hiện tượng này xuất phát từ sự không hạn định của số lượng chữ trong các tác phẩm thuộc thể thơ tự do Điều này tạo nên sự linh hoạt và hoạt dụng trong sáng tác Lớp từ láy là lớp từ không chỉ có khả năng gợi tả mà còn tăng nhạc tính cho câu thơ, bài thơ

Các nhà thơ Việt Nam đã vận dụng một cách linh hoạt đặc tính này của

từ láy và do đó, trong vốn từ vựng thơ ca của hai nhóm thơ được khảo sát, chúng ta cũng thấy được sự xuất hiện tỉ lệ tuy có sự chênh lệch nhưng vẫn là đặc trưng cố hữu của ngôn ngữ thơ ca Việt Nam Từ láy trong ngôn ngữ thơ Nôm Hồ Xuân Hương là một trong những “đặc sản”, đặc trưng thẩm mĩ vô cùng hấp dẫn khi tiếp nhận ngôn ngữ thơ Hồ Xuân Hương Có thể nói, trong

số các nhà thơ Nôm, Hồ Xuân Hương là người sử dụng vốn từ láy nhiều nhất

và thành công nhất So với thơ Nôm, trong Thơ mới, lượng từ láy cũng được các nhà thơ chú ý và khai thác triệt để các giá trị ngữ nghĩa lẫn âm thanh Qua những phân tích trên, chúng ta có thể nhận thấy, vốn từ vựng tiếng Việt đã được các văn nhân thi sĩ không chỉ trong thời trung đại mà ngay cả thời hiện đại, đương đại cũng được sử dụng, vận hành và sáng tạo một cách thần tình linh động, góp phần kiến tạo nên những giá trị thẩm mĩ đặc sắc trong các tác phẩm thơ Từ góc nhìn cấu tạo, hệ thống từ đơn, từ láy, từ ghép hay cụm từ đều đóng vai trò quan trọng, là kho quặng mà các nhà thơ đã tập trung chọn lựa, khai thác một cách hiệu quả, góp phần hình thành nên những đặc trưng từ vựng của phong cách thơ cá nhân trong tiến trình thơ ca Việt Nam

1.2.2 Xét về nguồn gốc

Trong tiến trình phát triển từ vựng, hầu như không có từ vựng của ngôn ngữ nào lại chỉ hình thành, xây dựng bằng con đường tự thân phát sinh Trong hầu hết tất cả các ngôn ngữ trên thế giới, người ta vẫn có thể thấy hàng loạt từ ngữ mà chúng vay mượn, hoặc vốn có nguồn gốc từ ngôn ngữ khác Tiếng Việt của chúng ta cũng vậy Như thế, điều mà người ta có thể dễ thấy nhất ở

Trang 32

đây là nổi lên đường phân giới giữa hai lớp từ ngữ: lớp từ thuần Việt và lớp từ

có nguồn gốc ngoại lai Ở từ vựng tiếng Việt, lớp từ ngoại lai được phân thành hai lớp nhỏ hơn: lớp các từ ngữ gốc Hán và lớp các từ ngữ gốc Ấn - Âu (chủ yếu là gốc Pháp) Theo kết quả nghiên cứu và thống kê của Vũ Thị Ân

về hệ thống từ vựng trong thơ Nôm và Thơ mới từ góc độ nguồn gốc, tác giả

đã đưa ra một kết quả đánh giá như sau:

Bảng 1.2 Từ vựng trong thơ Nôm và Thơ mới từ bình diện nguồn gốc Loại thơ

Tổng lượt từ ngữ được khảo sát

Từ thuần Việt

Từ Hán Việt Từ khác

Thơ Nôm trung

19.350 (80,05%)

4.815 (19,92%)

6 (0,02%)

Thơ mới

1932 - 1945 73.409

63.721 (86,8%)

7.211 (9,82%)

35 (0,05%) [Nguồn 4, tr.21]

Từ bảng thống kê trên, xét từ góc độ nguồn gốc, chúng ta vẫn có thể nhận thấy trong hệ thống từ vựng trong thơ Nôm cũng như trong Thơ mới thì

từ có nguồn gốc thuần Việt vẫn chiếm ưu thế Số lượng từ Hán Việt trong ngôn ngữ Thơ mới chiếm tỷ lệ thấp hơn so với thơ Nôm Thêm vào đó, từ ngữ

có nguồn gốc Ấn - Âu trong Thơ mới có số lượng nhiều hơn trong thơ Nôm Điều này có thể lý giải được từ đặc trưng vốn từ trong thơ Nôm và Thơ mới thuộc hai phạm trù khác nhau Trong thơ Nôm, số lượng từ Hán Việt chiếm tỉ lệ nhiều vì ngôn ngữ thơ ở giai đoạn này chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi địa vị độc tôn của chữ Hán, ngôn ngữ Hán Ở giai đoạn này, tỷ lệ từ thuần Việt tuy có chiếm một số lượng cũng đáng kể nhưng vẫn chưa thực sự đảm nhận được vai trò chính trong việc thể hiện những vấn đề phản ánh của nội dung văn học thời

kì này Tuy nhiên, càng về sau, thì vai trò của từ thuần Việt là có sự gia tăng

Trang 33

Hành trình thơ Nôm từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến và Tú Xương là hành trình mà vai trò của từ Hán Việt dần mất

đi vai trò độc tôn và nhường lại cho hệ thống từ thuần Việt

Đối với thời kì Thơ mới phát triển và thịnh hành, lớp từ Hán Việt đã giảm dần, lớp từ thuần Việt gia tăng, đặc biệt là lớp từ vay mượn trong văn hoá Ấn Âu như xi nê, ô tô, ban công, (mũ) bê rê đã xuất hiện và đảm trách vai trò ngôn từ nghệ thuật Điều này chứng tỏ một quá trình Việt hoá cao độ lớp từ ngoại lai trong việc kiến tạo bầu không khí diễn ngôn đặc sắc của thế giới nghệ thuật phong trào Thơ mới 1932 – 1945 Bên cạnh đó, trong thế giới

từ vựng của ngôn ngữ Thơ mới, chúng ta có thể cảm nhận được sự thay đổi phương thức cảm thụ thẩm mĩ của các thi sĩ hiện đại, đưa ý thức thẩm mĩ của Thơ mới đi ra khỏi quỹ đạo của thơ trung đại và đi vào quỹ đạo của thơ hiện đại Mặc dù vẫn còn những nhà thơ sáng tác mang hơi hướng của ý thức cũ như Quách Tấn, Huy Cận, Thái Can nhưng đó chỉ là hồn cốt thi nhân còn vương lại của những phong cách Đường thi chịu sự tác động mạnh mẽ của văn hoá Hán sau một thời gian dài ảnh hưởng sâu đậm đến văn hoá Việt Nhìn chung, nguồn gốc của hệ thống từ vựng trong ngôn ngữ thơ Nôm

và Thơ mới có sự tương đồng với nhau Song, tỷ lệ và vai trò của các tiểu hệ thống của nó có sự chênh lệch khá phức tạp và có những lý do văn hoá của

nó Với chức năng và vai trò của mình, hệ thống từ ngữ này đã góp phần tạo nên những sắc thái, phong cách và những điểm đặc thù của hai hệ thống ngôn ngữ thơ Nôm và Thơ mới Khảo sát về nguồn gốc của từ vựng trong ngôn ngữ nghệ thuật thơ Nôm và Thơ mới cũng là một trong những cơ sở căn bản để chúng tôi đi sâu tìm hiểu những đặc trưng từ vựng trong ngôn ngữ của các nhà thơ hiện đại, đương đại nói chung và phong cách ngôn từ nghệ thuật thơ Văn Công Hùng nói riêng

1.2.3 Xét về ngữ nghĩa

Trên cơ sở tiếp thu các thành tựu về trường nghĩa, sự chuyển nghĩa, các

Trang 34

phương thức chuyển nghĩa, Đỗ Hữu Châu cũng đề xuất nguyên tắc phân tích

từ ngữ trong nghiên cứu tác phẩm thơ mà thực chất là phân tích tác phẩm xuất phát từ việc xem xét các từ vựng theo các trường nghĩa mà nó phụ thuộc vào Ông chú ý đến việc từ được dùng theo nghĩa chính hay nghĩa chuyển Hiện tượng nhiều nghĩa trong nghệ thuật là một hiện tượng thường gặp Nguyên tắc

để phân tích hiện tượng nhiều nghĩa trong tác phẩm là: Bất cứ từ ngữ được dùng trong trường hợp nào khi phân tích cũng phải bám sát nghĩa chính, hiểu chính xác nghĩa của từ Từ đó, dựa vào những quy tắc chuyển nghĩa, dựa vào quan hệ ngữ nghĩa trong từ nhiều nghĩa mà tìm ra giá trị nội dung và nghệ thuật của nó

Nghĩa của từ chỉ được bộc lộ một cách cụ thể và đầy đủ trong các ngữ cảnh, hay nói cách khác, nghĩa của từ được hiện thực hoá trên trục ngữ đoạn

Vì vậy, xem xét bình diện ngữ nghĩa của từ ngữ không thể bỏ qua việc khảo sát các kết hợp từ ngữ đã được các nhà thơ sử dụng

Về vấn đề kết hợp từ, những kiểu kết hợp từ không thông thường đã xuất hiện trong các tác phẩm thơ Nôm Chẳng hạn khi Nguyễn Trãi viết:

Trời nghi ngút, nước mênh mông

Lẻ có chim bay cùng cá nhảy

Nào của cởi buồn trong thuở ấy

Các kiểu kết hợp như trời nghi ngút, lẻ có chim bay, cởi buồn là những cấu trúc kết hợp, tổ hợp từ khá lạ trong ngôn ngữ khẩu ngữ cũng như ngôn ngữ thi ca Điều này tiếp tục được thể hiện trong thơ của Hồ Xuân Hương sau này Tuy nhiên đây chỉ là những trường hợp cá biệt, phải đến Thơ mới thì các kiểu kết hợp không thông thường mới thật sự nở rộ Điều này tạo nên khả năng diễn tả rất lớn của hệ thống từ vựng tham gia kiến tạo nên những rung động tế vi, nhạy cảm của tâm hồn thi sĩ hiện đại

Ta bắt gặp trong rất nhiều bài thơ hay của phong trào Thơ mới những tổ hợp từ rất đỗi lạ kì theo kiểu Tây hoá như: Hơn một loài hoa, luồng run rẩy,

Trang 35

tiếng vàng, niềm tóc bạc, hòn trăng, sợ buồn, mầm trời huyền bí, tắt nắng đi, buộc gió lại nhưng tổ hợp này đã thể hiện được những ảnh hưởng của thi ca

Âu châu và được ghi dấu trong các hình ảnh ẩn dụ theo kiểu chuyển đổi cảm giác Một sáng tạo độc đáo của các thi sĩ thời Thơ mới Điều ấy vẫn chứng thực được một điểm khá rõ ràng là thơ ca vẫn luôn vận động và cách tân để làm mới mình và tự nó đã xây dựng thành những quy tắc mới, góp phần thể hiện một cách cụ thể nhất những diễn ngôn nghệ thuật đặc sắc nhất

Vấn đề thứ hai ở góc độ ngữ nghĩa là việc các nhà thơ sử dụng một cách linh hoạt những nghĩa gốc và nghĩa phái sinh trong ngôn từ thi ca Nếu trong thơ Nôm thời trung đại, các tác giả về cơ bản trung thành với việc sử dụng những ý nghĩa căn bản của từ hơn là sáng tạo ra những nét nghĩa phái sinh Tuyệt đại bộ phận yếu tố Hán Việt trong thơ trung đại đều mang nghĩa gốc Ví

dụ Nguyệt trong các Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi đều được xác định ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt là Trăng Nhưng đối với yếu tố thuần Việt thì khả năng linh động, chuyển nghĩa linh hoạt (hơn hẳn so với yếu tố Hán Việt) Điều này được thể hiện khá rõ trong ngôn ngữ thơ Nôm Hồ Xuân Hương

Từ ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương thường giàu khả năng tạo hình ảnh, cái thanh và cái tục hoà quyện lẫn nhau tạo nên một sự lấp lửng nghệ thuật thú vị Từ ngữ trong thơ Hồ Xuân Hương thường gây ấn tượng đặc biệt, nhất

là hệ thống từ láy: Khéo khéo, khom khom, ngửa ngửa, phơi phới, phì phạch, vắt ve lượng từ láy có khả năng tu từ ấy trong thơ Hồ Xuân Hương đã tạo nên sự liên tưởng trên cơ sở của các biểu tượng hai mặt Mặt khác trong sự phát triển nghĩa của từ cùng với hoạt động hành chức của nó đã được phát huy cao độ trong thơ Hồ Xuân Hương

Trong Thơ mới, lượng từ ngữ được dùng với nghĩa phái sinh tăng rõ rệt

so với các nhà thơ trung đại Xuất phát từ đặc thù của phạm trù hiện đại và tâm hồn nóng bỏng, yêu thương, phơi phới của của các nhà thơ trẻ chịu ảnh hưởng của luồng gió cá nhân Âu Tây, trong ngôn ngữ Thơ mới, những trường

Trang 36

hợp chuyển nghĩa đặc biệt đã được sử dụng khá phổ biến Thi sĩ có thể ngửi được mùi thơm của nhạc (Này lắng nghe em khúc nhạc thơm – Xuân Diệu),

có thể cảm nhận được màu và hương của sự biệt li (màu biệt li, hương biệt li– Đoàn Phú Tứ) hoặc có thể nghe được hơi thở của không gian (Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn – Huy Cận) hoặc có thể cảm nhận được tiếng sáo qua những chiều kích của kĩ thuật tạo hình (Vắt vẻo bên bờ cây xanh – Thế Lữ) Có thể nói, hệ thống từ vựng tiếng Việt đến Thơ mới đã được khai thác một cách triệt để những khả năng biến tấu của ngữ nghĩa Các thi sĩ đã đánh thức mọi tiềm năng, mọi khả năng biểu đạt của nó để tạo nên những diễn ngôn đẹp nhất, thú vị nhất và xúc cảm nhất về những rung động tinh tế trước thế giới bên ngoài và con người

Từ những khả năng vận dụng hệ thống ngữ nghĩa linh hoạt của từ ngữ, các nhà thơ đã tạo nên những trường nghĩa về xã hội, thiên nhiên, cảnh quan đất nước trong thơ Nôm trung đại Riêng đối với Thơ mới, trường ngữ nghĩa với những biểu hiện đa dạng về cái tôi cá nhân buồn đã được các nhà thơ hiện đại giai đoạn 1932 – 1945 thể hiện vô cùng xuất sắc Điều này đã tạo nên tâm thế và đặc trưng căn bản về nội dung và phương thức thể hiện trong phong trào Thơ mới

Tóm lại, trên cơ sở tiếp thu ý kiến của nhà nghiên cứu Vũ Thị Ân và khảo sát cá nhân, những vấn đề nêu bật trong tiểu mục này là những cơ sở quan trọng, là tiêu chí khảo sát mà chúng tôi sẽ vận dụng linh hoạt trong quá trình tìm hiểu đặc trưng từ vựng trong thơ của Văn Công Hùng Mạch từ ngữ luôn có sự tiếp nối từ thơ ca trung đại đến thơ ca hiện đại và đương đại Sự phong phú và đa dạng cùng với những biểu hiện linh hoạt, nhuần nhuyễn, thần tình của hệ thống từ ngữ trong thơ Nôm trung đại và phong trào Thơ mới

đã góp phần tạo dựng nên những căn cứ khoa học cụ thể để xác định và đánh giá một cách chuẩn xác, mang tính định lượng đối với thế giới ngôn từ của một thi s

Trang 37

1.3 Cơ sở hình thành phong cách thơ của Văn Công Hùng và các chặng đường sáng tác

1.3.1 Cơ sở hình thành phong cách thơ của Văn Công Hùng

Trên con đường sáng tạo nghệ thuật, Văn Công Hùng đã tìm cho mình một lối đi riêng Ông cố gắng vứt bỏ những “phụ tùng" không cần thiết và tìm cách thăng hoa trong cảm xúc Vì vậy, thơ ông dễ đivào lòng bạn đọc Ông là một trong số những thi sĩ đích thực, lấy ngọn đèn và trang giấy trắng làm lý

do tồn tại trên đời Nhà thơ đã có một cuộc hành trình sáng tạo không ngừng nghỉ Ông vẫn làm việc, vẫn suy nghĩ, vẫn giữ được sức trẻ cho ngòi bút của mình Những đóng góp của Văn Công Hùng đối với nền thi ca dân tộc là không nhỏ Nhà thơ đã tạo cho mình một chỗ đứng trong làng thơ Việt Nam hiện đại Có được thành tựu đó, bởi chính ông đã xác lập cho mình một quan niệm đúng đắn về sứ mệnh của thi ca và vai trò của thi sĩ Ông đã khẳng định mình với một phong cách thơ độc đáo, mang đậm chất suy tưởng, triết lí

Nền tảng quê hương, gia đình là cội nguồn hình thành cá tính và là mầm mống của sự phát triển tài năng Đó là lớp văn hóa nền xác lập nơi nhà văn những cảm thức đầu tiên và lâu bền về thế giới nghệ thuật, góp phần khơi dậy thiên hướng nghệ thuật cho nhà văn đồng thời cũng giúp nhà văn rèn giũa, tôi luyện, bổ sung xúc cảm và trí tuệ Nhờ vậy phong cách nghệ thuật của họ được định hình và phát triển

Nhà thơ Văn Công Hùng sinh ngày 19 tháng 5 năm 1958, quê quán Điển Hoa, Phong Điền, Thừa Thiên - Huế Ông sinh ra và lớn lên, học phổ thông ở Thanh Hóa Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Huế năm 1981, xung phong lên Gia Lai - Kon Tum công tác Từ Huế ra Thanh Hóa, trở về với Tây Nguyên là quãng đời lưu dấu nhiều kỉ niệm của nhà thơ Văn Công Hùng Xứ Huế ban cho ông vẻ đẹp của sự thâm trầm, huyền bí trong nét văn hóa cung đình Cả thời học sinh trải dài trên những con đường đi về ở vùng đất Thanh Hóa làm nên một Văn Công Hùng cởi mở và tràn trề sức sống Bỏ lại thành

Trang 38

phố Huế, khoác ba lô lên Pleiku giữa ngờm ngợp sắc vàng dã quỳ, hoà trong

mờ mờ sương dáng phố đã làm cho nhà thơ Văn Công Hùng nguyện gắn bó cuộc đời mình với mảnh đất này Phố núi là vườn ươm cho thơ ông và để bây giờ cái tên Văn Công Hùng đã quen thuộc trong giới văn nghệ sĩ và người yêu thơ Tây Nguyên đã ám vào Văn Công Hùng để thổ lộ cái cốt cách nghệ sĩ phát sáng rất tiềm tàng Sinh ra trong một gia đình có truyền thống đam mê văn học nghệ thuật, Văn Công Hùng hiển nhiên hoặc may mắn mang trong mình tâm hồn của một nghệ sĩ Dù chưa phát tiết nhưng vẫn có phong vị của

kẻ lãng du Cha ông là người đam mê nghệ thuật dân gian Được biết ông là người học chữ Nho, đọc nhiều thơ chữ Hán và cũng đam mê làm thơ từ rất sớm Những câu thơ của ông được Văn Công Hùng đánh giá là mang đậm phong vị dân gian Văn Công Hùng may mắn thừa hưởng từ chú và ông lối tư duy khúc chiết, mạch lạc Phải chăng điều này làm nên tính triết luận trong tư duy thơ của ông Nền tảng xuất thân như thế khiến Văn Công Hùng tự nhận thấy mình yêu thơ và thích làm thơ cũng là lẽ tự nhiên, dễ hiểu Tất cả tạo cho Văn Công Hùng những điều kiện thuận lợi để đến với thơ và tạo dựng phong cách thơ cho riêng mình

Điểm lại bước đường làm thơ của Văn Công Hùng, ta thấy được con người - thơ của ông Tiếp cận được với công chúng, thơ Văn Công Hùng nhận được phản hồi và nhà thơ nhanh chóng thấy được " nghề thơ còn lắm gian nan" khi ngòi bút của mình còn thiếu thiếu một cái gì vô cùng quan trọng Ông hiểu rằng, thơ không phải là sản phẩm của sự hời hợt, làm thơ là một nghề đỏi hỏi sự suy tư nghiêm túc, thơ là tấm gương phản chiếu trí tuệ và tâm hồn Và đừng đùa giỡn với thơ Từ đây ông suy nghĩ thật sự nghiêm túc về thơ và dần lựa chọn cho mình một lối đi Con đường thơ bắt đầu in dấu những bước chân còn nhiều lúng túng của kẻ dò dường Đi sao cho thỏa đam mê, đi sao để đam mê đến được cái nơi mà nó ngự trị, đi sao để đam mê đến được vinh quang

Trang 39

Tính cách làm nên số phận Tính cách cũng góp phần hình thành phong cách Con người Văn Công Hùng có những nét tính cách đặc biệt giúp làm nên phong cách thơ của ông Là người thích phiêu lưu và có cá tính, ông đam

mê sáng tạo Là người điềm tĩnh và thông minh, Văn Công Hùng nhận ra mình đang đứng ở đâu trong cuộc đời cũng như trên thi đàn Là người chỉn chu và tinh tế, Văn Công Hùng khéo léo thay đổi cách nghĩ và cách làm thơ

Là người giản dị và nhân hậu, Văn Công Hùng biết tạo ra vẻ đẹp thuần khiết nhưng sâu sắc cho thơ Là người nặng sâu tình cảm, Văn Công Hùng trở thành nhà thơ chân chính Con người Văn Công Hùng đã làm nên khuôn mặt thơ Văn Công Hùng và qua thơ ông, ta nhận ra khuôn mặt tỏa sáng đó

1.3.2 Những chặng đường sáng tác thơ của Văn Công Hùng

Ở phần này, chúng tôi sẽ khảo lược quá trình sáng tác thơ của Văn Công Hùng thông qua các tập thơ Đây là cái nhìn bước đầu để nhận diện sự phát triển phong cách thơ ông

Bến đợi là tập thơ đầu tiên của Văn Công Hùng Tập thơ ra mắt đã chiếm được sự xúc động của người đọc Cảm xúc chung của tập thơ này là tâm sự của một người nặng lòng với quê cũ, trầm ngâm về quê hương với một nỗi niềm đau đáu và với quê hương mới thì đã ám vào Văn Công Hùng để thổ

lộ cái cốt cách nghệ sĩ phát sáng rất tiềm tàng, sung mãn

Hát rong là tập thơ đánh dấu sự góp mặt của một nhà thơ mang tên Văn Công Hùng trên thi đàn Đến với tập thơ, độc giả như đang được sống giữa cuộc đời, trải nghiệm cuộc đời qua từng câu chữ Mọi cung bậc của cảm xúc, thế giới muôn màu của cuộc sống hiển hiện trong thơ ông sinh động Nếu ai

đó cho rằng thơ ca chỉ là thứ làm cho tâm hồn con người thoát ly khỏi hiện thực cuộc sống, đắm chìm trong những mơ mộng viển vông, bay bổng và lãng mạn trên đôi cánh thần tiên và sẽ thấy thất vọng khi đặt thơ đối sánh với cuộc đời, thì Văn Công Hùng lại cho rằng thơ chính là đời, cuộc đời sẽ giúp cho thi

sĩ thăng hoa cảm xúc để làm thơ

Trang 40

Đọc Hát rong, ta cảm được hơi thở và nhịp đập của một trái tim giàu men say cuộc đời, đa tình với thơ ca Đó cũng chính là khúc hát rong mang dầy dấu ấn của một trái tim nồng nàn nhựa sống Ở đó, ta cũng trông thấy một gương mặt rất hiền mà cũng đầy bụi trần - một gương mặt lắm men say dành cho cõi đời mà cũng khắc khoải, hoài nghi và cô đơn giữa thế gian Nói chung càng đi sâu vào thế giới Hát rong, người đọc càng khám phá thêm những miền tâm trạng mới, làm phong phú thêm chất lượng tâm hồn người

Đến với Hoa tường vi trong mưa, thơ của Văn Công Hùng bắt đầu có sự trăn trở, vật vã với mình để tìm tòi, tránh con đường mòn, luôn luôn ý thức mình phải đổi mới mình trong thơ Ở hai tập thơ trước, tứ thơ của ông có phần hơi khô thì sang chặng thơ này nó đã có sự nung nấu, tứ và cảm xúc đã có sự hòa quyện tạo nên những câu thơ sâu lắng làm rung động trái tim bạn đọc Hoa tường vi trong mưa là tập thơ của những ngày bình thường, của những con người bình thường, cũng là của những điều bình thường trong cuộc sống Những người, những việc thường ngày, giản dị đó được Văn Công Hùng soi chiếu dưới lăng kính của sự đối nghịch để người đọc nhận ra rằng: chúng bình thường nhưng cao quý Cảm giác về sự trầm tĩnh, lý trí, chiêm nghiệm xuất hiện nhiều ở các trang thơ Tất cả những cái ngày thường đơn giản là thế nhưng để có được nó nhiều khi con người ta phải đánh đổi thật nhiều, phải nỗ lực thật lớn, phải khát khao thật mãnh liệt Đến tập thơ này, yếu tố triết luận trong thơ của Văn Công Hùng dường như sâu sắc hơn cả Nhiều bài thơ đòi hỏi sự tập trung cao độ của người đọc để nhận ra khuôn mặt thật, giấu kín tận sâu bên trong của cái hằng thường Với Hoa tường vi trong mưa chúng ta cũng nhận diện rõ ràng hơn sự " tiết chế " trong câu chữ của Văn Công Hùng

Cuộc sống con người luôn từng giờ, từng ngày đổi thay và để bắt nhịp với cuộc sống ấy, thơ ca cũng phải luôn tìm tòi, đổi mới Thơ không thể mãi là sự nhàm chán cũ kỹ, sáo mòn đến vô cảm, nhà thơ cũng cần phải có tâm huyết,

Ngày đăng: 30/06/2023, 10:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w