1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng tâm lý học xã hội biên soạn ths đinh thị tân

333 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài giảng Tâm lý học xã hội
Tác giả ThS. Đinh Thị Tân
Trường học Trường Đại Học Cửu Long
Chuyên ngành Tâm lý học xã hội
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2022
Thành phố Vĩnh Long
Định dạng
Số trang 333
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rebel and Emily Rebel, tâm lý học xã hội được định nghĩa là một phân ngành của tâm lý học, nó tập trung nghiên cứu các khía cạnh của hành vi con người bao gồm các cá nhân, các nhóm, các

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỬU LONG

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÀI GIẢNG TÂM LÝ HỌC XÃ HỘI

Biên soạn: ThS Đinh Thị Tân

Vĩnh Long, 2022

Trang 4

Chương 1 Tâm lý học xã hội là một khoa học

1.1 Bản chất, đối tượng, nhiệm vụ của tâm lý học xã hội

1.1.1 Bản chất của tâm lý học xã hội

- Là hiện tượng tâm lý chung của một nhóm xã hội cụ thể Hiện tượng tâm lý học xã hội điều chỉnh, điều khiển hành động của các thành viên và của nhóm xã hội

- Tâm lý xã hội luôn luôn phản ánh thực tại đời sống của một nhóm người Tồn tại nào thì tâm lý ấy

- Tâm lý học xã hội có bản chất từ hoạt động và giao tiếp (tính duy vật của tâm lý học xã hội)

- Hiện tượng tâm lý học xã hội không phải lúc nào cũng

có thể nhận biết vì cá nhân có thể bị chi phối một cách vô thức hoặc ý thức bởi các hiện tượng tâm lý học xã hội khác VD: Làm việc, học tập  có ý thức, có mục đích rõ ràng; bắt chước, a dua, trào lưu  vô thức

- Ở phạm vi lớn hơn, các hiện tượng tâm lý học xã hội chi phối các mối quan hệ trong nhóm, cộng đồng hay dân tộc và cả xã hội loài người

Trang 5

Theo Từ điển tâm lý học Tiếng Anh của Arther S Rebel and Emily Rebel, tâm lý học xã hội được định nghĩa là một phân ngành của tâm lý học, nó tập trung nghiên cứu các khía cạnh của hành vi con người bao gồm các cá nhân, các nhóm, các tổ chức xã hội và xã hội mang tính tổng thể

Theo từ điển Tâm lý học xã hội do Vũ Dũng chủ biên, tâm lý học xã hội là một phân ngành của tâm lý học, nghiên cứu các quy luật khách quan của sự tác động qua lại giữa các yếu tố tâm lý và xã hội trong hoạt động của cá nhân và các nhóm người Tâm lý học xã hội nghiên cứu đặc điểm tâm lý của các nhóm xã hội, các tầng lớp và các giai cấp khác nhau trong xã hội, nghiên cứu các đặc tính (giai cấp, dân tộc, v.v)

và các quy luật hình thành những loại hình nhân cách mang tính lịch sử, xã hội, nghiên cứu các cơ chế quan hệ qua lại về mặt tâm lý xã hội trong các nhóm xã hội khác nhau, nghiên cứu các hình thức giao tiếp khác nhau trong tập thể

Tóm lại, tâm lý học xã hội là một phân ngành của tâm lý

học, nó tập trung nghiên cứu các hiện tượng tâm lý của một nhóm xã hội cụ thể, nảy sinh từ sự tác động qua lại trong hoạt động và trong giao tiếp giữa các cá nhân ở trong nhóm Nó chi phối thái độ, hành vi, cử chỉ của cá nhân khi

họ ở trong nhóm đó

Trang 6

1.1.2 Đối tượng của tâm lý học xã hội

Các quan điểm khác nhau:

+ Thứ nhất, nghiên cứu tâm lý đám đông: truyền thống, đạo đức, tập quán

+ Thứ hai, nghiên cứu nhân cách: đặc điểm, vị trí, các mối quan hệ liên nhân cách

+ Thứ ba, nghiên cứu qua trình tâm lý đại chúng, vị trí

cá nhân trong nhóm, tâm lý cá nhân trong nhóm …

 Các quan điểm rất rộng xoay xung quanh cá nhân – nhóm xã hội

Vậy, đối tượng nghiên cứu của tâm lý học xã hội là gì? Đối tượng của tâm lý học xã hội nằm ở bản chất các hiện tượng tâm lý xã hội đã được phân tích ở trên Đó là cái tâm lý của những nhóm xã hội cụ thể, bao gồm những nét tâm lý chung nhất, đặc trưng nhất của nhóm được tạo nên từ

sự tác động qua lại giữa các cá nhân trong nhóm Nó không phải là cái tâm lý như là sản phẩm hoạt động của chủ thể mỗi người dưới những tác động của hiện thực khách quan

Nó cũng không phải là cái tổng số đơn giản những đặc điểm tâm lý của tất cả những cá nhân trong nhóm hợp thành

 Đối tượng:

- Tâm lý chung của nhóm xã hội

Trang 7

- Đặc trưng, bản chất tâm lý (phần lớn) nhiều người trong nhóm

- Đặc trưng tâm lý cơ bản của các loại nhóm

- Quy luật hình thành, vận động và phát triển của các hiện tượng tâm lý học xã hội

Tâm lý học xã hội cũng giống như nhiều ngành khoa học khác, việc xác định đối tượng nghiên cứu là một vấn đề phức tạp và khó khăn nhất Hiện nay vẫn có nhiều quan điểm khác nhau giữa các nhà tâm lý học của các trường phái tâm lý học về đối tượng nghiên cứu của tâm lý học xã hội Trong đó, đặc biệt là có sự khác nhau khá rõ nét giữa tâm lý học Xô viết (cũ) và tâm lý học phương Tây

Các nhà tâm lý học Xô viết cho rằng, đối tượng của tâm

lý học xã hội là nghiên cứu các hiện tượng tâm lý xã hội của nhóm Tuy nhiên, trong số những nhà tâm lý học Xô viết cũng có những quan điểm cụ thể không hoàn toàn đồng nhất nhau

Các nhà tâm lý học Xô viết (cũ), tiêu biểu như: E X Kuzơmin, V I Xelivanop, K K Platonop, E V Sôrôkhôva cho rằng đối tượng nghiên cứu của tâm lý học xã hội là nhân cách “phân loại kiểu người về mặt xã hội - lịch sử”, “các đặc điểm tâm lý của nhân cách”, “sự quy định của xã hội đối với

Trang 8

tâm lý của cá nhân” Một số tác giả khác như V N Kolbanopxki, A I Goriaseva, A V Baranova, A G Kovaliop cho rằng đối tượng của tâm lý học xã hội là

“những hiện tượng tâm lý của những khối người đông đảo”,

“là tâm lý của tập thể”, “sự cộng đồng về tâm lý” Còn B D Parưghin, N X Manxurop cho rằng tâm lý học xã hội vừa nghiên cứu tâm lý của nhóm, của khối người đông đảo, vừa nghiên cứu đặc điểm hành vi của nhân cách, của cá nhân khi

ở trong nhóm

A.G Kovaliop thì cho rằng “đối tượng của tâm lý học

xã hội là nghiên cứu những nét đặc trưng tâm lý của các nhóm xã hội, các tập thể, cũng như những quy luật hình thành và quy luật hoạt động của các tập thể, các nhóm trong quá trình tác động và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cá nhân” Khác với quan điểm của các nhà tâm lý học Xô viết trước đây và các nhà tâm lý học Nga hiện nay, các nhà tâm

lý học phương tây lại tiếp cận từ góc độ khác Các nhà tâm

lý học phương tây cho rằng, đối tượng của tâm lý học xã hội

là nghiên cứu hành vi của cá nhân trong những điều kiện, hoàn cảnh và môi trường xã hội Đó là nhận định khái quát, tuy nhiên, nếu xem xét một cách cụ thể cũng có một số vấn

đề sau đây:

Trang 9

+ Quan điểm của Jones và Gerard (1967) cho rằng đối tượng của tâm lý học xã hội là nghiên cứu hành vi cá nhân như là chức năng kích thích xã hội Ở đây, các tác giả đã nhấn mạnh đến ảnh hưởng qua lại giữa các cá nhân trong nhóm

+ Quan điểm của các nhà tâm lý học M Sherif và C W Sherif (1956), Mc David Harari (1968) ,… cho rằng tâm lý học xã hội cần nghiên cứu kinh nghiệm và hành vi của cá nhân trong môi trường xã hội nhất định

+ Quan điểm thứ ba cho rằng đối tượng của tâm lý học

xã hội là nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ giữa cá nhân và môi trường xã hội (các nhà tâm lý học đại diện như: Jack H Curtis Richard Dewey, David G Myer)

Cách tiếp cận thứ nhất (trường phái tâm lý học Xô viết) mang tính khái quát hơn, chúng có phạm vi rộng Cách tiếp cận thứ hai mang tính cụ thể, rõ ràng: nhận thức – thái độ - tình cảm – hành vi

Như vậy, có thể hiểu rằng: Đối tượng của tâm lý học xã hội nằm ở bản chất các hiện tượng tâm lý xã hội đã được phân tích ở trên Đó là cái tâm lý của những nhóm xã hội cụ thể, bao gồm những nét tâm lý chung nhất, đặc trưng nhất của nhóm được tạo nên từ sự tác động qua lại giữa các cá

Trang 10

nhân trong nhóm Nó không phải là cái tâm lý như là sản phẩm hoạt động của chủ thể mỗi người dưới những tác động của hiện thực khách quan Nó cũng không phải là cái tổng số đơn giản những đặc điểm tâm lý của tất cả những cá nhân trong nhóm hợp thành

1.1.3 Nhiệm vụ của tâm lý học xã hội

Tâm lý học xã hội có hai nhiệm vụ chính là nghiên cứu

lý luận và nghiên cứu ứng dụng

Nghiên cứu lý luận

- Xác lập được hệ thống các khái niệm, phạm trù khoa học riêng nằm trong cấu trúc hợp lý, mang đặc thù của khoa học mình Hiện nay một số khái niệm, phạm trù cấu trúc của tâm lý học xã hội còn chưa rõ ràng để có thể phân biệt được ranh giới của nó với những khoa học lân cận

- Phát hiện được các quy luật hình thành và phát triển của các hiện tượng tâm lý xã hội, chỉ ra cách sử dụng chúng vào việc phát huy nhân tố con người trong các điều kiện hoạt động khác nhau Cụ thể là những quy luật của sự tác động qua lại trong nhóm, vai trò của cá nhân, vai trò của nhóm trong quá trình này, những điều kiện chủ quan và khách quan của sự hình thành nên những hiện tượng tâm lý

xã hội và những hình thái biến động trong tâm lý xã hội

Trang 11

- Xây dựng, thiết kế các phương pháp nghiên cứu đặc thù để nghiên cứu các hiện tượng tâm lý xã hội Trong các phương pháp đã có, Tâm lý học xã hội khá mạnh với việc sử dụng các phương pháp thực nghiệm để làm bộc lộ các quy luật và các cơ chế của các hiện tượng tâm lý xã hội tuy vậy trong xu hướng nghiên cứu các hiện tượng tâm lý xã hội ở phạm vi rộng lớn như tâm lý tộc người, tôn giáo, xuất hiện những khó khăn nhất định về phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu ứng dụng

Những quy luật chung của Tâm lý học xã hội được vận dụng vào một số lĩnh vực khoa học khác cũng như trong nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội Từ đó tạo nên những chuyên ngành khác nhau của tâm lý học xã hội

- Tâm lý học dân tộc: Đây là một chuyên ngành quan trọng của tâm lý học xã hội Nó nghiên cứu tâm lý dân tộc

và những biến đổi của tâm lý dân tộc gắn với những chuyển biến lịch sử diễn ra trong đời sống các dân tộc Nhận thức được tính phong phú, đa dạng hay độc đáo của một dân tộc

là yêu cầu cần thiết trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, con người của một quốc gia Việc nghiên cứu tâm lý dân tộc còn góp phần quan trọng trong sự hiểu biết giữa các

Trang 12

dân tộc, là cơ sở của mối quan hệ hợp tác và liên kết giữa các nước với nhau

- Tâm lý học xã hội trong công tác lãnh đạo và quản lý

xã hội Đây là một chuyên ngành mới của tâm lý học xã hội,

nó đi sâu vào nghiên cứu các hiện tượng tâm lý trong hệ thống quản lý, chỉ ra các đặc điểm, cơ chế và quy luật tâm lý đang có ảnh hưởng tới hoạt động này trên cơ sở đó nêu ra những yêu cầu về phẩm chất và năng lực tâm lý cần thiết của những người lãnh đạo và bị lãnh đạo quản lý

- Tâm lý học xã hội trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh

Chuyên ngành này nghiên cứu nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng, nghệ thuật bán hàng, thông tin quảng cáo v.v…Trên cơ sở đó, nêu ra yêu cầu đối với cơ sở sản xuất về

số lượng và chất lượng, hình thức của các loại hàng hoá, dịch vụ

- Tâm lý học xã hội trong tín ngưỡng tôn giáo, trong thông tin đại chúng, trong giáo dục y tế, trong đời sống gia đình, trong dư luận xã hội và tâm trạng quần chúng

Phạm vi ứng dụng của tâm lý học xã hội rất rộng Nó sẽ ngày càng được mở rộng theo sự đòi hỏi của thực tiễn, cũng như khả năng đáp ứng trong quá trình phát triển của nó

Trang 13

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của tâm lý học

Quan điểm của một số nhà triết học Hy Lạp cổ đại

Khi nói về quan điểm của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại có ảnh hưởng tới sự ra đời của Tâm lý học xã hội, chúng

ta chú ý nhiều hơn đến quan điểm về xã hội và con người của Platon và Aristotle

- Platon (427 – 374 TCN) trong luận thuyết về đạo đức

xã hội và trong phác thảo về một xã hội lý tưởng của mình, ông đã rất chú ý đến các quan hệ liên nhân cách Ông cũng chỉ ra sự ảnh hưởng của các cá nhân đến sự ổn định của nhà nước

Trang 14

Trong các tác phẩm của mình, Platon đã quan tâm đến các kiểu loại nhân cách xã hội Theo ông, trong xã hội có ba kiểu nhân cách cơ bản: a/Những người luôn luôn cố gắng làm vừa lòng người khác (người hướng tới xúc cảm), b/Những người say sưa theo đuổi quyền lực và sự nổi danh (người hướng đến quyền lực) và c/Những người luôn có khao khát hiểu biết (người hướng đến tri thức) Ba kiểu nhân cách trên phản ánh ba yếu tố tâm lý của con người: tình cảm,

ý chí và trí tuệ

- Aristotle (354 – 322TCN) là một người mở đường vĩ đại của khoa học xã hội Ông đánh giá cao yếu tố tình cảm Theo ông, có 3 động lực của sự liên kết con người: tình bạn,

sở thích, và đồng nhất Trong đó, tình bạn là động cơ của đa

số các nhóm xã hội

Aristotle đánh giá cao vai trò của các nhóm xã hội đối với con người Ông cho rằng, con người cần phải sống trong các nhóm xã hội như gia đình và nhà nước Nhóm xã hội cơ bản nhất đối với con người là gia đình Quan điểm này của ông vẫn còn rất phù hợp với xã hội hiện đại ngày nay Điều đáng chú ý là Aristotle xem xét con người và khả năng của

nó trong các phản ứng xã hội, quan hệ và hoàn cảnh xã hội

Trang 15

Có thể nói, mặc dù các quan điểm của các nhà triết học

Hy Lạp còn khá xa vời các tri thức Tâm lý học xã hội hiện đại, nhưng các tư tưởng này có ảnh hưởng không nhỏ đến các tư tưởng nói chung và tâm lý học xã hội nói riêng ở châu

Âu sau này

Một số quan điểm về xã hội và cá nhân của các nhà tư tưởng La Mã

Quan điểm về xã hội và cá nhân của một số nhà tư tưởng La Mã như M.T Cicero; St Augustine rất đáng được quan tâm trong nghiên cứu các tiền đề triết học của sự phát triển Tâm lý học xã hội

M.T Cicero là đại biểu xuất sắc của tư tưởng La Mã Khi nghiên cứu về con người và xã hội, ông rất quan tâm đến vấn đề pháp luật, con người phải hành động như thế nào trong khuôn khổ luật pháp của xã hội

St Augustine (354 – 430 sau CN), ông là đại biểu xuất sắc về tư tưởng xã hội trong thời đại của ông Các quan điểm của ông về xã hội và cá nhân được tâm lý học xã hội hiện đại đánh giá cao Đó là các quan điểm về sự liên kết của con người, về vai trò của nhóm xã hội đối với việc hình thành quan điểm, thái độ của cá nhân Song, các quan điểm của ông lại bị ảnh hưởng lớn của tư tưởng tôn giáo Augustine

Trang 16

đánh giá cao vai trò của Chúa Trời và các lực lượng thần thánh đối với cuộc sống thực tại của con người Theo ông,

cá nhân không chỉ có quan hệ tương tác với các cá nhân khác mà còn có quan hệ với Chúa

Những học thuyết về sự thoả thuận xã hội

Những học thuyết về sự thoả thuận xã hội do T Hobber (1588 – 1679), J Locke (1632 – 1704), và J.J Rousseau (1712 – 1778) đưa ra đã được xem như sự mở đường cho Tâm lý học xã hội hiện đại Các tác giả đã quan tâm nghiên cứu rất nhiều về mối quan hệ giữa xã hội và cá nhân

Học thuyết về sự thoả thuận xã hội của Hobber được phát triển dựa trên 3 yếu tố:

- Định đề: bản năng con người bị hạn chế và cô lập từ những người cùng tầng lớp hoặc từ tầng lớp đối lập của xã hội

- Nguyên nhân hoặc thiết lập các nguyên nhân: Tại sao con người tự đặt mình vào các mối liên kết với người khác

- Thiết lập các quy tắc đạo đức từ hai lý do trên

Locke không tin rằng có tồn tại một nhà nước thời kỳ tiền xã hội Ông đưa ra quan điểm cho rằng con người luôn sống trong xã hội, nhà nước trở thành phương tiện để chấn

Trang 17

chỉnh sai trái, bất công và bảo vệ quyền lợi chính đáng của con người về cuộc sống, tự do và sở hữu

So với học thuyết về thoả thuận xã hội của Hobber và Locke thì học thuyết về sự thoả thuận xã hội của Rousseau được đánh giá cao hơn Cũng giống như Hobber, ông bắt đầu bằng việc tìm hiểu những hành vi bản năng của con người, sau đó nghiên cứu mối tương tác giữa người với người, giữa cá nhân và xã hội Ông cho rằng, trật tự xã hội là điều bất khả xâm phạm Nó được xây dựng trên cơ sở lợi ích của đa số mọi người Cái trật tự này không thể bắt nguồn từ bản năng của con người mà cần phải được xây dựng trên sự thoả thuận

1.2.2 Những trường phái đầu tiên trong xã hội học và tâm lý học

Các trường phái xã hội học

Vai trò của xã hội học trong việc hình thành Tâm lý học

xã hội được thể hiện qua sự ảnh hưởng của các quan điểm của một số nhà xã hội học

- Auguste Comte (1790 – 1857)

Comte đã phân chia tâm lý học theo hai khía cạnh: sinh học và xã hội học Sự phân chia này có giá trị nhất định trong Tâm lý học xã hội

Trang 18

Khi nói về nhân cách con người, ông đã thiên về khía cạnh bản năng Theo ông, bản năng con người chia thành 2 loại chính: sự ích kỷ và lòng vị tha Tính vị tha của bản năng

có thể dẫn con người đến sự mềm yếu, nhu nhược Ông cho rằng, xã hội cần khuyến khích lòng vị tha của con người như một mục đích trọng tâm của tổ chức, bên cạnh đó cần hạn chế tính ích kỷ của cá nhân

Mặc dù rất quan tâm đến tâm lý học cá nhân, nhưng Comte vẫn nhấn mạnh rằng đơn vị xã hội thực là gia đình, nhờ nó mà xã hội phát triển Gia đình, theo ông ngoài việc duy trì nòi giống còn nuôi dưỡng lòng vị tha của con người

Từ mái ấm gia đình, cá nhân sẽ trở thành thành viên xã hội hữu ích Tâm lý học cá nhân theo hướng bản năng của Comte đã tác động mạnh đến tâm lý học xã hội tận đầu thế

kỷ XX

- Gabriel Tarde (1843 – 1904)

Tarde là một người sáng lập ra tâm lý học cá nhân trên

cơ sở của xã hội học Ông phản đối những quan điểm thái quá của tâm lý học cá nhân thời đó

Một công trình nghiên cứu của Tarde có ảnh hưởng lớn đến sự ra đời của tâm lý học xã hội là cuốn: “Những quy luật của sự bắt chước” Trong cuốn sách này ông đã lý giải

Trang 19

cơ sở xã hội của sự tương tác giữa các cá nhân Ông cũng là người đầu tiên đưa ra khái niệm mới về sự tương tác Đây là một tiền đề dẫn đến sự hình thành tâm lý học xã hội

- Durkheim (1858 – 1917)

Quan điểm của Durkheim là phản đối sự đề cao quá mức tâm lý học cá nhân khi ông nhấn mạnh đến hệ thống quy định xã hội Ông ca ngợi và thích tranh luận về học thuyết

Trang 20

- Charles Horton Cooley (1863 – 1929)

Cooley là nhà xã hội học Mỹ, người có quan điểm hiện đại về mối quan hệ giữa xã hội và cá nhân Ông nhấn mạnh, không thể tách rời yếu tố xã hội và yếu tố cá nhân trong cuộc sống của con người

Ông đã viết ba cuốn sách nổi tiếng về vấn đề này: Bản chất con người và trật tự xã hội; Tổ chức xã hội; Sự phát triển xã hội Cooley bị ảnh hưởng bởi học thuyết “bắt chước” của Tarde, quan điểm về đồng nhất của Schaffle và tâm lý học của W.James

- E.A Ross (1866 – 1951)

Ross là nhà xã hội học người Mỹ, người đã viết cuốn sách Tâm lý học xã hội (1908) – một trong những cuốn sách giáo khoa đầu tiên về ngành khoa học này Nếu Cooley nhấn mạnh hơn đến khía cạnh tập thể thì Ross lại chú ý đến cả khía cạnh xã hội và khía cạnh cá nhân trong nghiên cứu quan hệ giữa xã hội và cá nhân

Theo ông, vai trò của xã hội thể hiện qua sự ảnh hưởng của nhóm tới cá nhân và vai trò của cá nhân thể hiện qua sự ảnh hưởng của cá nhân tới nhóm Các vai trò này xảy ra trong các hoàn cảnh xã hội Quan điểm này của Ross đã bị

Trang 21

ảnh hưởng bởi quan điểm của Tarde về “sự bắt chước” trong đời sống xã hội

Các trường phái Tâm lý học

- Thuyết hành vi của Watson:

Thuyết hành vi ra đời vào năm 1913 trong bối cảnh Tâm

lý học nội quan bước vào thời kỳ khủng hoảng và một số nhà tâm lý học cho rằng cần phải xác định lại đối tượng nghiên cứu của tâm lý học

Thuyết hành vi là cơ sở để tâm lý học đầu thế kỷ XX từ

bỏ di sản của trường phái nội quan và đưa Tâm lý học xã hội hiện đại đến chỗ tìm hiểu con người thông qua các hoàn cảnh xã hội và trước hết là nghiên cứu hành vi của con người

Sự đóng góp to lớn của thuyết hành vi đối với Tâm lý học xã hội thể hiện ở chỗ nó là cơ sở để các nhà tâm lý học phương Tây (trước hết là các nhà tâm lý học Mỹ) xác định đối tượng nghiên cứu của ngành khoa học này – hành vi xã hội của con người

- Thuyết cấu trúc của W Wundt

Một trong những đóng góp lớn của ông đối với việc ra đời của Tâm lý học xã hội là cuốn sách Tâm lý học dân tộc

Trang 22

Cuốn sách này gồm 10 tập, được ông viết trong 20 năm (1900 – 1920)

Theo ông, tâm lý học xã hội là một phân ngành cần thiết của Tâm lý học Ông cho rằng không thể nghiên cứu con người như một cá nhân đơn lẻ, mà cần phải nghiên cứu con người trong những mối quan hệ của con người

- Tâm lý học Gestalt

Một trong những đại biểu xuất sắc nhất của tâm lý học Gestalt là K.Lewin, ông đã dành nhiều tâm huyết cho việc nghiên cứu khía cạnh quan trọng của Tâm lý học xã hội – nhóm nhỏ và nhóm nói chung Lewin đã sáng lập ra Trung tâm nghiên cứu động thái nhóm Ông cũng là tác giả của một phương pháp nghiên cứu mới trong tâm lý học xã hội – phương pháp nhóm tập luyện (training group)

1.2.3 Tâm lý học xã hội trở thành một khoa học độc lập

Tâm lý học xã hội trở thành một khoa học độc lập được đánh dấu bằng sự kiện cuốn sách giáo khoa đầu tiên về Tâm

lý học xã hội được xuất bản vào năm 1908 Đó là cuốn Tâm

lý học xã hội (Social Psychology) của tác giả Edward A Ross Cuốn sách của ông dựa trên cơ sở kết hợp hai khoa học tâm lý học và xã hội học Nội dung chính được đề cập

Trang 23

trong cuốn sách này là sự bắt chước được hình thành, phát triển và thực hiện như thế nào Ông đã sử dụng hiện tượng bắt chước để giải thích sự thay đổi tư tưởng, thói quen và quan điểm giữa các thành viên trong các nhóm xã hội

Một sự kiện quan trọng nữa góp phần làm cho Tâm lý học xã hội trở thành khoa học độc lập, đó là sự ra đời cuốn sách có tên: Nhập môn Tâm lý học xã hội (Introduction to Social Psychology) của Mc Dougall Trong cuốn sách này tác giả đã lý giải sự giống nhau về hành vi giữa cá nhân trong nhóm xã hội thông qua sự bắt chước

Tính đến năm 1954, đã có 52 cuốn sách giáo khoa về Tâm lý học xã hội xuất bản, đến năm 1968 con số này đã tăng lên gần 100 cuốn và tính đến năm 1980, số sách giáo khoa về Tâm lý học xã hội đã lên tới gần 150 cuốn, gần chục tạp chí về tâm lý học xã hội và một số lượng lớn các tuyển tập bài viết, các sách tham khảo có giá trị về ngành khoa học này được hoàn thành Trong gần một thế kỷ vừa qua, người

ta có thể nhận thấy hai xu hướng phát triển của Tâm lý học

xã hội: Tâm lý học xã hội phương Tây và Tâm lý học xã hội

Xô viết Hai xu hướng này có sự khác biệt nhất định

Tâm lý học xã hội Xô viết chú ý nhiều đến nghiên cứu các đặc điểm tâm lý của nhóm, trong đó đặc biệt là tập thể

Trang 24

(một loại nhóm chính thức) và các nhóm lớn như giai cấp, dân tộc, Tâm lý học xã hội phương Tây lại quan tâm nhiều hơn đến việc nghiên cứu kinh nghiệm và hành vi xã hội Tính thực tiễn, ứng dụng trong các nghiên cứu của Tâm lý học phương Tây được thể hiện rất rõ nét

Ở nước ta, Tâm lý học xã hội là một ngành còn rất non trẻ Song, trong thời gian gần đây, ngành khoa học này đã có những bước phát triển quan trọng Tâm lý học được giảng dạy ở nhiều trường Đại học, học viện và trường cao đẳng Nhiều công trình nghiêu cứu về Tâm lý học xã hội đã được dịch và biên soạn Tính đến nay chúng ta đã có hàng chục cuốn sách giáo khoa, nhiều tài liệu tham khảo đã được các nhà Tâm lý học Việt Nam biên soạn và xuất bản nhằm phục

vụ cho hoạt động giảng dạy và nghiên cứu Tâm lý học xã hội

1.3 Các phương pháp nghiên cứu của tâm lý học xã hội

1.3.1 Những nguyên tắc nghiên cứu

- Phải đảm bảo tính chất khách quan

Nghiên cứu phải đảm bảo tính khách quan, trước hết là phải nghiên cứu từ chính bản thân sự vật, hiện tượng, phải

Trang 25

xem xét sự vật, hiện tượng như chúng vốn có trong thực tế, ghi nhận mọi chi tiết, mọi biểu hiện của chúng

- Phải nghiên cứu sự vật và hiện tượng trong các mối

liên hệ của chúng

Tất cả các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên đều liên hệ, tác động qua lại với nhau Vì vậy, khi nghiên cứu phải đặt chúng trong mối quan hệ, liên hệ giữa chúng nhằm vạch ra được sự ảnh hưởng lẫn nhau, mối quan hệ nhân quả và những quy luật của sự tác động qua lại giữa chúng Khi nghiên cứu các hiện tượng tâm lý xã hội cần thực hiện tốt các yêu cầu này, bởi vì mỗi hiện tượng tâm lý xã hội đều chịu sự ảnh hưởng và liên quan của các hiện tượng khác

- Phải nghiên cứu sự vật và hiện tượng trong sự phát

triển

Mỗi sự vật và hiện tượng trong tự nhiên hay trong xã hội đều có quá trình nảy sinh, vận động và phát triển Tâm lý cá nhân hay của xã hội đều nằm trong quy luật này, có sự phát triển và biến đổi về chất Bởi vậy, khi nghiên cứu các hiện tượng tâm lý xã hội, nhà khoa học cần xem xét chúng trong một quá trình

Trang 26

- Phải nghiên cứu sự vật và hiện tượng trong một

chỉnh thể toàn vẹn

Mỗi sự vật và hiện tượng đều có một cấu trúc nhất định Bởi vậy, yêu cầu đặt ra đối với các nhà khoa học là phải nghiên cứu sự vật và hiện tượng với cả hệ thống các thành phần trong cấu trúc của chúng cũng như mối liên hệ và quan

• Các bước tiến hành quan sát:

- Xác định mục đích, nhiệm vụ quan sát (quan sát để làm gì)

- Lựa chọn khách thể quan sát, tình huống quan sát và đối tượng quan sát (quan sát ai, quan sát cái gì)

- Lựa chọn cách thức quan sát để ít ảnh hưởng đến khách thể quan sát và thu được những thông tin cần thiết (quan sát như thế nào)

Trang 27

• Nhiệm vụ quan sát: là định hướng ban đầu về khách

thể, đề xuất giả thuyết và kiểm tra giả thuyết Các tình huống quan sát có thể là tình huống tự nhiên hoặc tình huống thực nghiệm (do người quan sát chủ động) tạo nên

• Đối tượng quan sát: là những hành động ngôn ngữ

hoặc phi ngôn ngữ của con người trong nhóm hay liên nhóm Cụ thể là:

- Hành động nói (hành động ngôn ngữ) Ở đây cần chú ý quan sát tính định hướng, tần số, cường độ, mức độ diễn cảm, đặc điểm của ngôn từ, ngữ pháp, cách phát âm

- Những hành động diễn cảm thể hiện qua nét mặt, thái

độ, hành động

- Cử chỉ di chuyển, trạng thái đứng im của con người, khoảng cách giữa người này với người khác, tốc độ, phương hướng vận động, sự va chạm…

• Một số ưu điểm và hạn chế:

- Ưu điểm: Nó được sử dụng rộng rãi, chiếm ưu thế trong việc thu thập các biểu hiện của tâm lý xã hội Trong phương pháp này, nhà khoa học có thể sử dụng những máy móc hiện đại như máy ảnh, máy ghi âm, máy quay phim để ghi lại những hiện tượng cần nghiên cứu, khi cần có thể quan sát lại nhiều lần bảo đảm tính khách quan

Trang 28

- Hạn chế: phương pháp này còn có hạn chế là nó đòi hỏi nhiều thời gian; nó chỉ cung cấp những tài liệu về các biểu hiện bề ngoài có tính cảm tính Bởi vậy, khi dùng phương pháp này nhà khoa học phải thu thập tài liệu với số liệu đủ lớn để có thể chọn lọc trong đó những tài liệu cần thiết

Phương pháp nghiên cứu sản phẩm

Sản phẩm hoạt động bao giờ cũng mang đậm nét những đặc điểm tâm lý của nhóm người tạo ra nó, bao gồm sản phẩm vật chất và tinh thần Các sản phẩm vật chất như: nhà cửa, vật dụng thông thường,… các sản phẩm tinh thần như

âm nhạc, phong tục, tập quán,… Qua sản phẩm hoạt động, nhà khoa học có thể tìm hiểu về trình độ nhận thức, mức độ

kỹ xảo, nội dung tình cảm, đặc điểm tính cách của các nhóm người khác nhau

Phương pháp điều tra

Dùng để hiểu rõ thái độ của mọi người đối với các biến

cố xã hội, những nhiệm vụ xã hội có liên quan đến họ cũng như nhu cầu, nguyện vọng, định hướng hoạt động của họ trong tương lai Phương pháp này được sử dụng rộng rãi để nghiên cứu thông qua công cụ là bảng hỏi

Trang 29

• Các nguyên tắc đặt câu hỏi:

- Trong một câu hỏi chỉ cần tìm hiểu một khía cạnh, không nên chứa đựng nhiều nội dung nghiên cứu

- Nên tránh sử dụng các thuật ngữ nước ngoài không được sử dụng rộng rãi trong xã hội, tránh các thuật ngữ chuyên môn quá hẹp, tránh các từ đa nghĩa

- Không nên đưa ra các câu hỏi quá dài, đặc biệt là khi hỏi trực tiếp

- Nếu trong câu hỏi có sử dụng các thuật ngữ không phổ biến thì người điều tra viên có thể giải thích thêm về câu hỏi này để cho khách thể hiểu được

- Các câu hỏi cần được cụ thể hoá, đơn giản hoá đến mức độ cao nhất, tránh đặt câu hỏi một cách chung chung, khó hiểu (rườm rà, tối nghĩa)

- Khi đặt câu hỏi có thể đưa ra các phương án trả lời mà mọi người đều có thể hiểu như nhau

- Cần tránh đặt các câu hỏi khuôn mẫu, sáo rỗng hay kiểu “đánh đố” đối với khách thể nghiên cứu

- Cần tránh đưa ra các câu hỏi tạo nên thái độ tiêu cực đối với người được hỏi

Trang 30

• Câu hỏi đóng và câu hỏi mở

- Câu hỏi đóng là các câu hỏi đưa ra các phương án trả lời, đòi hỏi khách thể nghiên cứu phải chọn một hay một số trong các phương án trả lời

Có hai loại câu hỏi đóng: câu hỏi đóng phân đôi và câu hỏi đóng có nhiều phương án trả lời

- Câu hỏi mở: là dạng câu hỏi không đưa ra các phương

án trả lời Theo yêu cầu của câu hỏi, khách thể tự bộc lộ suy nghĩ của mình

- Ở phần cuối bảng hỏi nên có lời cảm ơn người được hỏi

- Cần chú ý đến hình thức trình bày bảng hỏi: kiểu chữ, cách trình bày,

Trang 31

• Những ưu điểm và hạn chế

- Ưu điểm: Cho phép tiến hành nghiên cứu trên một địa bàn rộng với số lượng lớn khách thể nghiên cứu Có thể thu được thông tin về nhiều sự kiện khác nhau trong thời gian ngắn Không chỉ thu thập được thông tin trong hiện tại mà trong cả quá khứ và tương lai

- Hạn chế: Số liệu điều tra chủ yếu dựa vào đánh giá của khách thể Độ tin cậy của thông tin phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, khả năng tự trình bày các vấn đề của khách thể Ngoài ra, độ tin cậy của thông tin còn phụ thuộc vào khả năng thiết kế bảng hỏi của người nghiên cứu, vào sự hợp tác của khách thể

Để bổ sung phương pháp điều tra, người ta đã dùng phương pháp phỏng vấn kèm theo Phương pháp phỏng vấn hay trò chuyện có mục đích giúp cho người điều tra thâm nhập vào cuộc sống xã hội mà họ muốn nghiên cứu, có được thông tin ban đầu về xã hội ấy Qua trò chuyện sẽ gây được không khí tự nhiên, gần gũi giữa người điều tra và người được điều tra khiến họ có thể thông cảm hơn, tích cực hưởng ứng và trả lời chính xác

Trang 32

Phỏng vấn cũng bị hạn chế là tốn thời gian, nên chỉ có thể tiến hành trong một diện hẹp, có lựa chọn, thông thường

là những người lãnh đạo, những cá nhân tiêu biểu

Phương pháp thực nghiệm

Đây là phương pháp trong đó nhà khoa học chủ động gây ra hiện tượng cần nghiên cứu và đặt người được thực nghiệm vào hoàn cảnh đòi hỏi họ phải có hoạt động tích cực

Ưu điểm: Thực nghiệm tâm lý xã hội có thể tiến hành dưới nhiều hình thức tự nhiên hoặc tiến hành trong phòng thí nghiệm Phương pháp thực nghiệm giúp cho quá trình nhận thức hiện thực nhanh chóng hơn phương pháp khác Nó đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu của việc nghiên cứu khoa học đem lại những kết quả đáng tin cậy

Nhược điểm: Trong tâm lý học xã hội, thực nghiệm là một phương pháp rất phức tạp, rất khó sử dụng Bởi vì nó được thực nghiệm đối với con người Nó không chỉ liên quan đến vấn đề tri thức, tổ chức, giáo dục, tuyên truyền v.v… mà còn liên quan đến các chuẩn mực đạo đức và cả pháp luật

Phương pháp trắc nghiệm xã hội

Trắc nghiệm xã hội có nghĩa là đo lường xã hội Phương pháp này được xây dựng trên cơ sở lý luận tâm lý học về xã

Trang 33

hội và test tâm lý xã hội nhằm đánh giá các mối liên hệ cảm xúc liên nhân cách trong nhóm

Phương pháp trắc nghiệm xã hội do L Moreno (1892 – 1974) sáng lập Moreno đã đưa ra phương pháp này để tìm hiểu các cấu trúc tâm lý xã hội trong các quan hệ liên nhân cách của nhóm Các cấu trúc này không chỉ xác định các đặc điểm của nhóm mà còn xác định trạng thái tinh thần của con người

Nhiệm vụ của trắc nghiệm xã hội

Trắc nghiệm xã hội được sử dụng, để chẩn đoán những quan hệ liên nhân cách và liên nhóm với những mục đích làm cho chúng thay đổi tốt hơn và hoàn thiện chúng

Trắc nghiệm xã hội có thể nghiên cứu các kiểu loại hành

vi xã hội của con người trong điều kiện hoạt động của nhóm, đánh giá sự tương hợp tâm lý xã hội của các thành viên trong các nhóm xã hội cụ thể

Song nhiệm vụ cơ bản của trắc nghiệm xã hội là nghiên cứu cấu trúc không chính thức của các nhóm xã hội và bầu không khí tâm lý của nhóm

Các giai đoạn thực hiện trắc nghiệm xã hội

*Các giai đoạn thực hiện

- Xác định nhiệm vụ, khách thể nghiên cứu

Trang 34

- Xác định các giả thuyết nghiên cứu cơ bản

hệ như vậy sẽ kích thích được lòng nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm của khách thể nghiên cứu

*Các hình thức lựa chọn mẫu trong trắc nghiệm

- Sự lựa chọn không hạn chế

Nếu trong nhóm có 12 thành viên thì mỗi người trong nhóm sẽ lựa chọn 11 người còn lại của nhóm (trừ bản thân mình) để thực hiện trắc nghiệm

Công thức lựa chọn ở đây là: N – 1, trong đó N là số lượng các thành viên của nhóm thực nghiệm Như vậy, sẽ có (N – 1) người được lựa chọn để tham gia thực nghiệm

Ưu điểm: khả năng lựa chọn như nhau đối với các thành viên Nó có thể làm cho các thành viên bộc lộ được cảm xúc của mình Đây có thể là lát cắt qua mối liên hệ liên nhân cách phức tạp trong cấu trúc nhóm

Trang 35

Nhược điểm: kỹ thuật tính toán khá phức tạp, khó khăn khi nhóm trắc nghiệm có nhiều thành viên Một nhược điểm khác là xác suất nhận được từ sự lựa chọn ngẫu nhiên là rất lớn Ví dụ, ta có thể nhận được câu trả lời “Tôi chọn tất cả”

- Sự lựa chọn hạn chế

Ở đây các khách thể được phép chọn số lượng hạn chế các thành viên của nhóm (số lượng này theo quy định của người làm trắc nghiệm) Ví dụ, trong nhóm trắc nghiệm có

25 người thì mỗi thành viên được lựa chọn 4 người

Ưu điểm: có độ tin cậy cao hơn vì nó sẽ làm người thực hiện trắc nghiệm có ý thức trách nhiệm, chú ý hơn khi lựa chọn

Vấn đề ở đây là chọn bao nhiêu thành viên là hợp lý J.Moreno và E Jenking đã đưa ra công thức về xác suất của

sự ngẫu nhiên:

P(A) = d/(N – 1)

P là xác suất của sự kiện ngẫu nhiên (A) của sự lựa chọn theo trắc nghiệm xã hội N là số lượng các thành viên của nhóm

d là sự lựa chọn hạn chế

Trang 36

Thông thường, trị số P(A) dao động trong khoảng từ 0,20 – 0,30 Khi biết P(A) và N thì ta có thể xác định được

số lượng lựa chọn hạn chế d

Nhược điểm của cách lựa chọn này là không có khả năng lựa làm sáng tỏ những quan hệ tương hỗ phức tạp trong nhóm

Để khắc phục nhược điểm của mỗi cách lựa chọn, ta có thể kết hợp cả hai cách lựa chọn này Giai đoạn một là lựa chọn không hạn chế, giai đoạn hai là sự lựa chọn hạn chế Phiếu trắc nghiệm xã hội

Kết quả nghiên cứu phụ thuộc rất nhiều vào phiếu trắc nghiệm xã hội Khi xây dựng phiếu trắc nghiệm cần chú ý một số điểm sau:

- Số lượng các câu hỏi trong phiếu không nên quá nhiều -Trong trường hợp nghiên cứu nhiều người và số lượng câu hỏi trắc nghiệm lớn chúng ta có thể chia ra thành một số phiếu trắc nghiệm nhỏ hơn theo các nội dung nghiên cứu Phiếu trắc nghiệm xã hội được xây dựng theo trình tự sau:

Bước 1: Chuẩn bị danh sách các thành viên của nhóm trắc nghiệm Mỗi thành viên nắm được số thứ tự của mình trong danh sách đó

Trang 37

Bước 2: Xây dựng phiếu điều tra

Ở phần đầu của phiếu hướng dẫn cách thực hiện trắc nghiệm (hướng dẫn cách trả lời các câu hỏi) Khi trả lời các câu hỏi người được trắc nghiệm cần đánh số thứ tự các thành viên trong nhóm theo danh sách ở phần cột lựa chọn Các câu hỏi trắc nghiệm được chia thành hai nhóm: + Nhóm I: Người được trắc nghiệm đưa ra sự lựa chọn của mình về các thành viên của nhóm

+ Nhóm II: Người được trắc nghiệm đánh giá xem ai trong số các thành viên của nhóm sẽ chọn mình vào vị trí đó Tức là đánh giá về khả năng lựa chọn của nhóm đối với bản thân anh ta

Trên đây là một số những phương pháp nghiên cứu cơ bản trong tâm lý học xã hội Các phương pháp này được sử dụng kết hợp với nhau tuỳ theo mục đích của nhà nghiên cứu

Trang 38

Chương 2 Các hiện tượng tâm lý xã hội

Con người luôn sống trong một môi trường xã hội nhất định: gia đình, trường học, công ti, xí nghiệp, … Trong quá trình đó các cá nhân có sự tác động qua lại lẫn nhau Sự tác động này đã điều chỉnh thái độ, hành vi của cá nhân và nhóm dẫn đến quá trình xã hội hoá cá nhân, hình thành nên những hiện tượng tâm lý đặc trưng của nhóm

Tâm lý xã hội bao gồm những hiện tượng tâm lý chung của một nhóm xã hội nảy sinh từ tác động qua lại trong hoạt động và giao tiếp giữa các thành viên trong nhóm, chi phối thái độ hành vi của các cá nhân khi hiện diện trong nhóm Những hiện tượng tâm lý xã hội có mối liên hệ mật thiết với nhau, chi phối lẫn nhau Nó có diễn biến rất phức tạp mặc dù được hình thành và phát triển có quy luật Khi xã hội ngày càng phát triển, các mối quan hệ xã hội ngày càng trở nên phức tạp và đa dạng Chính trong quá trình đó nảy sinh nhiều các hiện tượng tâm lý xã hội khác nhau Việc nghiên cứu các hiện tượng tâm lý xã hội có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong thực tiễn hiện nay

Trang 39

2.1 Tri giác xã hội

Tri giác xã hội là sự cảm nhận, hiểu biết và sự đánh giá của chủ thể tri giác về các đối tượng xã hội: các cá nhân, nhóm người, bản thân mình, hoặc các hiện tượng xảy ra có

sự tham gia của con người

Tri giác xã hội đó là hiện tượng nhận biết xã hội Nó phụ thuộc vào đối tượng mà chúng ta đang tri giác, đặc biệt

là phụ thuộc vào mục đích, kinh nghiệm, nguyện vọng của chúng ta Nó còn phụ thuộc vào hoàn cảnh, bối cảnh của chúng ta Thực chất của tri giác xã hội là tri giác những người và kiểu người trong xã hội

Tri giác xã hội có nghĩa là thông qua các biểu hiện và hành vi bên ngoài kết hợp với một vài đặc điểm nhân cách của người đó (do chúng ta cảm nhận được) để hiểu được mục đích, phương hướng hành động hoặc để hiểu được người khác

Tri giác xã hội khác với tri giác vật thể ở chỗ đối tượng tri giác là một thực thể tích cực, có tình cảm và thái độ riêng của mình

Cấu trúc của bất kỳ một quá trình tri giác xã hội nào cũng bao gồm: chủ thể tri giác, đối tượng tri giác, quá trình tri giác và kết quả tri giác, sự ảnh hưởng của tri giác xã hội

Trang 40

tới sự điều chỉnh hành vi và hoạt động của cá nhân, của các nhóm xã hội

Các cơ chế tri giác xã hội

Các công trình nghiên cứu đã cố gắng chỉ ra những yếu

tố ảnh hưởng của quá trình tri giác xã hội Đó là: ấn tượng ban đầu, quy gán xã hội, định kiến xã hội

Ấn tượng ban đầu

Ấn tượng ban đầu là hình ảnh tổng thể mà chúng ta có được về một người khác hoặc về nhóm xã hội dựa trên một

sự nhìn nhận, đánh giá một cách chung chung thông qua những biểu hiện về diện mạo, lời nói, cử chỉ, tác phong, ánh mắt,… Sau lần tiếp xúc ban đầu ta sẽ có một ấn tượng nhất định về đối tượng của mình

Thông thường sau lần gặp gỡ đầu tiên (tri giác, nhận thức), về mặt vô thức, trong đầu chúng ta hiểu về người đó: liệu có chơi được hay không? người này có thích mình không? Chúng ta quy lại một nhân cách chung, do đó nó chi phối rất nhiều trong quá trình tri giác lần sau

Ấn tượng ban đầu được hình thành trên cơ sở:

Ngày đăng: 30/06/2023, 09:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Fischer. Những khái niệm cơ bản của Tâm lý học xã hội, Nhà xuất bản Thế giới- Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em N – T Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khái niệm cơ bản của Tâm lý học xã hội
Tác giả: Fischer
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
9. Gustave LeBon (1895). Tâm lý học đám đông (tài liệu dịch). Nhà xuất bản tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đám đông (tài liệu dịch)
Tác giả: Gustave LeBon
Nhà XB: Nhà xuất bản tri thức
Năm: 1895
10. Godefroid, (1987). Những con đường tâm lý học (tập 2 và 3). Nhà xuất bản Pierre Mendage Liege – Bruxelles – Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em N – T Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những con đường tâm lý học (tập 2 và 3)
Tác giả: Godefroid
Nhà XB: Nhà xuất bản Pierre Mendage Liege
Năm: 1987
11. A. G. Kovaliop (1976), Phạm Hoàng Gia (dịch). Tâm lý học xã hội. Nhà xuất bản giáo dục.II. Sách, giáo trình tham khảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học xã hội
Tác giả: A. G. Kovaliop, Phạm Hoàng Gia
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 1976
12.Vũ Dũng (chủ biên) (2000). Từ điển tâm lý học. Nhà xuất bản Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tâm lý học
Tác giả: Vũ Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2000
13.Trần Thị Minh Đức (2003). Tập bài giảng tâm lý học xã hội. Đai học khoa học xã hội và nhân văn- Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng tâm lý học xã hội
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Nhà XB: Đai học khoa học xã hội và nhân văn- Hà Nội
Năm: 2003
14.Vũ Mộng Đoá (2006). Sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên Khoa CTXH & PTCĐ trường đại học Đà Lạt. Luận văn thạc sỹ tâm lý học - Trường Đại học KHXH & NV - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên Khoa CTXH & PTCĐ trường đại học Đà Lạt
Tác giả: Vũ Mộng Đoá
Nhà XB: Trường Đại học KHXH & NV - Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
15.Hoàng Mộc Lan (2005). Giáo trình Những vấn đề tâm lý trong hoạt động quản lý – Khoa Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội. 16.Nguyễn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Những vấn đề tâm lý trong hoạt động quản lý
Tác giả: Hoàng Mộc Lan
Nhà XB: Khoa Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội
Năm: 2005
17.Phương Kỳ Sơn (2000). Tâm lý học xã hội. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học xã hội. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Phương Kỳ Sơn
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2000
18.Nguyễn Hải Vân (2006). Bầu không khí tâm lý tập thể học viên trường Đại học Phòng cháy chữa cháy - Luận văn thạc sỹ tâm lý học. Trường Đại học KHXH & NV - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bầu không khí tâm lý tập thể học viên trường Đại học Phòng cháy chữa cháy - Luận văn thạc sỹ tâm lý học
Tác giả: Nguyễn Hải Vân
Nhà XB: Trường Đại học KHXH & NV - Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
19.Arther S.Rebel and Emily Rebel, (2001), The penguin Dictionary of Psychology, Publisher of Ires, England Sách, tạp chí
Tiêu đề: The penguin Dictionary of Psychology
Tác giả: Arther S. Rebel, Emily Rebel
Nhà XB: Publisher of Ires, England
Năm: 2001
20.Mariane Schneider Corey (2005). Group: Process and Practice. Publisher of Thomson Brooks Sách, tạp chí
Tiêu đề: Group: Process and Practice
Tác giả: Mariane Schneider Corey
Nhà XB: Thomson Brooks
Năm: 2005
21. David G. Myer (2005). Social Psychology. Publisher of Stephen Rutter Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social Psychology
Tác giả: David G. Myer
Nhà XB: Publisher of Stephen Rutter
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w