Quyền lực xã hội và quy phạm xã hội trong chế độ cộng sản nguyên thủy: Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ chưa xuất hiện nhà nước và pháp luật, tuy nhiên đã tồn tại quyền lực và hệ thống
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỬU LONG
KHOA LUẬT
BÀI GIẢNG
PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
Biên soạn: ThS Cao Võ Thu Ngân
Vĩnh Long, 2022
Trang 4CHƯƠNG 1 NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ NHÀ
NƯỚC 1
1.1 Nguồn gốc và bản chất nhà nước 1
1.1.1 Nguồn gốc của nhà nước 1
1.1.2 Bản chất của nhà nước 5
1.2 Đặc điểm nhà nước 6
1.3 Kiểu nhà nước 9
1.4 Hình thức nhà nước 11
1.5 Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 15 CHƯƠNG 2 NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT 20
2.1 Khái niệm, nguồn gốc, bản chất pháp luật 20
2.1.1 Khái niệm 20
2.1.2 Nguồn gốc của pháp luật 20
2.1.3 Bản chất của pháp luật 21
2.2 Đặc tính pháp luật 23
2.3 Quy phạm pháp luật 25
2.4 Quan hệ pháp luật 28
2.4.1 Đặc điểm của quan hệ pháp luật 28
2.5 Thực hiện pháp luật, áp dụng pháp luật 30
2.5.1 Thực hiện pháp luật 30
2.5.2 Áp dụng pháp luật 32
2.6 Vi phạm pháp luật, trách nhiệm pháp lý 34
2.6.1 Vi phạm pháp luật 34
2.6.2 Trách nhiệm pháp lý 41
Trang 5CHƯƠNG 3 HÌNH THỨC PHÁP LUẬT 48
3.1 Khái niệm, đặc điểm 48
3.1.1 Khái niệm 48
3.1.2 Đặc điểm 48
3.2 Các loại hình thức pháp luật chính 48
3.2.1 Hình thức bên trong 48
3.2.2 Hình thức bên ngoài 50
3.3 Văn bản quy phạm pháp luật 53
3.3.1 Khái niệm 53
3.3.2 Đặc điểm 53
3.3.3 Các loại văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay 54
3.4 Hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật 61
3.4.1 Hiệu lực theo thời gian 61
3.4.2 Hiệu lực theo không gian 65
3.4.3 Hiệu lực theo đối tượng của văn bản 67
CHƯƠNG 4 HỆ THỐNG PHÁP LUẬT 68
4.1 Khái niệm, đặc điểm 68
4.1.1 Khái niệm 68
4.1.2 Đặc điểm 69
4.2 Nội dung hệ thống pháp luật 70
4.2.1 Hệ thống các ngành luật (hệ thống cấu trúc bên trong) 70
4.2.2 Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Hệ thống cấu trúc bên ngoài) 74
4.3 Các loại hệ thống pháp luật chính trên thế giới 75 4.3.1 Hệ thống Luật dân sự (Civil Law) 75
Trang 6CHƯƠNG 5 MỘT SỐ NGÀNH LUẬT CHÍNH 84
TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 84
5.1 Luật Hiến pháp 84
5.1.1 Khái niệm 84
5.1.2 Đối tượng điều chỉnh 85
5.1.3 Phương pháp điều chỉnh 85
5.1.4 Một số nội dung cơ bản của Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 86
5.2 Luật hình sự 89
5.2.1 Đối tượng điều chỉnh 90
5.2.2 Phương pháp điều chỉnh 90
5.2.3 Một số nội dung cơ bản của Bộ luật hình sự 91
5.3 Luật dân sự 97
5.3.1 Đối tượng điều chỉnh của luật dân sự 97
5.3.2 Phương pháp điều chỉnh của luật dân sự 98
5.3.3 Các nguyên tắc cơ bản của Luật dân sự 99
5.3.4 Một số nội dung của Bộ luật dân sự 100
5.4 Luật ao động 114
5.4.1 Khái niệm 114
5.4.2 Đối tượng và phương pháp điều chỉnh 114
5.4.3 Các nguyên tắc cơ bản của Luật ao động 114
5.4.4 Một số nội dung của Bộ luật ao động 119
5.5 Luật hôn nhân và gia đình 132
5.5.1 Đối tượng điều chỉnh 132
5.5.2 Phương pháp điều chỉnh 133
5.6 Luật hành chính 133
5.6.1 Đối tượng điều chỉnh 134
Trang 75.7 Một số ngành luật khác 137
Trang 8Chương 1 Những kiến thức cơ bản về Nhà nước
1.1 Nguồn gốc và bản chất nhà nước
1.1.1 Nguồn gốc của nhà nước
Nguồn gốc của nhà nước được xác định dựa trên hai quan điểm, quan điểm của các học thuyết phi Mác-xít và
quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin
Thứ nhất, quan điểm của các học thuyết phi Mác-xít,
bao gồm các học thuyết sau:
- Thuyết thần quyền cho rằng thượng đế chính là người sắp đặt trật tự xã hội, thượng đế đã sáng tạo ra nhà nước nhằm bảo vệ trật tự chung, nhà nước là một sản phẩm của thượng đế
- Thuyết gia trưởng cho rằng nhà nước xuất hiện chính
là kết quả sự phát triển của gia đình và quyền gia trưởng, thực chất nhà nước chính là mô hình của một gia tộc mở rộng và quyền lực nhà nước chính là từ quyền gia trưởng được nâng cao lên - hình thức tổ chức tự nhiên của xã hội loài người
Trang 9- Thuyết bạo lực cho rằng nhà nước xuất hiện trực tiếp
từ các cuộc chiến tranh xâm lược chiếm đất, là việc sử dụng bạo lực của thị tộc đối với thị tộc khác mà kết quả là thị tộc chiến thắng đặt ra một hệ thống cơ quan đặc biệt - nhà nước
- để nô dịch kẻ chiến bại
- Thuyết khế ước xã hội (hợp đồng) cho rằng sự ra đời của nhà nước là sản phẩm của một khế ước xã hội được ký kết trước hết giữa những con người sống trong trạng thái tự nhiên không có nhà nước Chủ quyền nhà nước thuộc về nhân dân, trong trường hợp nhà nước không giữ được vai trò của mình, các quyền tự nhiên bị vi phạm thì khế ước sẽ mất hiệu lực và nhân dân có quyền lật đổ nhà nước và ký kế khế ước mới
Thứ hai, quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin về nguồn
gốc của nhà nước:
Quan điểm về nguồn gốc nhà nước của chủ nghĩa Lênin được thể hiện rõ nét trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” của Ăngghen Đây là tác phẩm được phát triển từ tư tưởng “Quan niệm duy vật về lịch sử” của Mác, tiếp thu và phát triển những thành tựu nghiên cứu “Xã hội cổ đại” của nhà bác học Mỹ - Lewis H.Morgan
Trang 10Mác-Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng nhà nước xuất hiện một cách khách quan, nhưng không phải là hiện tượng xã hội vĩnh cửu và bất biến Nhà nước luôn vận động, phát triển
và tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại
và phát triển của chúng không còn nữa Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội loài người đã phát triển đến một giai đoạn nhất định Nhà nước xuất hiện trực tiếp từ sự tan rã của chế
độ cộng sản nguyên thủy Nhà nước chỉ xuất hiện ở nơi nào
và thời gian nào khi đã xuất hiện sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng
- Chế độ Cộng sản nguyên thuỷ và tổ chức thị tộc - bộ lạc: Đây là hình thái kinh tế xã hội đầu tiên trong lịch
sử nhân loại
Cơ sở kinh tế: chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất
và sản phẩm lao động với nguyên tắc phân phối bình quân Mọi người đều bình đẳng trong lao động và hưởng thụ Xã hội không có kẻ giàu người nghèo, không có giai cấp và đấu tranh giai cấp Tế bào cơ sở của xã hội là thị tộc Thị tộc là một tổ chức lao động và sản xuất, một bộ máy kinh tế xã hội Trong thị tộc có sự phân công lao động tự nhiên giữa đàn ông và đàn bà, giữa người già và trẻ nhỏ để thực hiện các công việc khác nhau, chứ chưa mang tính xã hội
Trang 11Quyền lực xã hội và quy phạm xã hội trong chế độ cộng sản nguyên thủy: Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ chưa xuất hiện nhà nước và pháp luật, tuy nhiên đã tồn tại quyền lực và hệ thống quản lý các thị tộc, nhưng đó là thứ quyền lực xã hội được tổ chức thực hiện dựa trên cơ sở nguyên tắc dân chủ thực sự Quyền lực xuất phát từ xã hội
và phục vụ cho lợi ích của cả cộng đồng
- Sự tan rã của tổ chức thị tộc và sự xuất hiện của nhà nước:
Nguyên nhân: Sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất đã tạo tiền đề làm thay đổi phương thức sản xuất cộng sản nguyên thủy và dẫn tới sự phân công lao động xã hội
Sau 03 lần phân công lao động xã hội, đã phân chia xã hội thành các giai cấp đối lập nhau, luôn mâu thuẩn và đấu tranh gay gắt với nhau, xã hội này đòi hỏi phải có một tổ chức đủ sức dập tắt các xung đột công khai giữa các giai cấp
và giữ cho các xung đột ấy trong vòng “trật tự” Tổ chức ấy gọi là nhà nước
=> Nhà nước đã xuất hiện một cách khách quan, là sản phẩm của một xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định
Trang 12So với tổ chức thị tộc trước đây, nhà nước có hai đặc trưng cơ bản khác biệt với thị tộc:
Một là, nhà nước tổ chức dân cư theo lãnh thổ: Nhà nước xuất hiện đã lấy sự phân chia lãnh thổ làm điểm xuất phát Cách tổ chức công dân theo lãnh thổ là đặc điểm chung của tất cả các nhà nước (thị tộc hình thành và tồn tại trên cơ
sở huyết thống)
Hai là, nhà nước thiết lập quyền lực công cộng đặc biệt: Quyền lực này không còn hòa nhập với dân cư (Quyền lực công cộng trong chế độ công sản nguyên thủy là quyền lực xã hội, do dân cư tự tổ chức ra, không mang tính chính trị, giai cấp) Quyền lực công cộng đặc biệt sau khi có nhà nước thuộc về giai cấp thống trị, phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị
Trang 13thực hịên sự thống trị giai cấp, thiết lập và duy trì trật tự xã hội Giai cấp cầm quyền sử dụng Nhà nước để duy trì sự thống trị của mình đối với toàn xã hội
- Bản chất xã hội: Thể hiện qua vai trò quản lý xã hội của nhà nước, nhà nước phải giải quyết tất cả các vấn đề nảy sinh trong xã hội, bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội, phục vụ những nhu cầu mang tính chất công cho xã hội như: xây dựng trường học, bệnh viện, đường sá, giải quyết các tệ nạn xã hội…
=> Nhà nước là một hiện tượng phức tạp và đa dạng,
nó vừa mang bản chất giai cấp, vừa mang bản chất xã hội
1.2 Khái niệm, đặc điểm nhà nước
Khái niệm: Nhà nước là một bộ máy quyền lực đặc biệt do giai cấp thống trị lập ra nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, thực hiện chức năng quản lý xã hội theo ý chí của giai cấp thống trị
Nhà nước có các đặc điểm cơ bản sau:
- Nhà nước thiết lập một quyền lực công đặc biệt không còn hòa nhập với dân cư nữa quyền lực nhà nước là khả năng của nhà nước buộc các tổ chức và cá nhân trong xã hội phục tùng nhà nước, quyền lực nhà nước bao trùm toàn bộ lãnh thổ của đất nước và có tính tối cao so với
Trang 14quyền lực của các tổ chức khác Quyền lực nhà nước chi phối quyền lực của các tổ chức khác chỉ tác động trong phạm vi nội bộ của tổ chức mình và phải chịu sự chi phối của quyền lực nhà nước
Để thực hiện quyền lực của mình, nhà nước có một lớp người đặc biệt được tổ chức thành các cơ quan nhà nước chuyên làm nhiệm vụ quản lý và thực hiện sự cưỡng chế đối với toàn xã hội Vì vậy, trong bộ máy nhà nước có các cơ quan chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế như quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù … mà trong bộ máy của các tổ chức khác không có
- Nhà nước tập hợp và quản lý dân cư theo lãnh thổ không phụ thuộc vào chính kiến, huyết thống, nghề nghiệp hoặc giới tính… Việc tập hợp này quyết định phạm
vi tác động của quyền lực nhà nước trên quy mô rộng lớn nhất, còn các tổ chức khác thì tập hợp và quản lý con người theo các dấu hiệu như giới tính, độ tuổi, chính kiến, nghề nghiệp …
- Nhà nước nắm giữ và thực hiện chủ quyền quốc gia Chủ quyền quốc gia mang nội dung chính trị pháp lý, nó thể hiện quyền độc lập tự quyết của một quốc gia trong việc đưa
ra và thực hiện những chính sách đối nội và đối ngoại không
Trang 15phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài Nhà nước là tổ chức đại diện chính thức cho toàn xã hội, thay mặt quốc gia nắm giữ
và thực hiện chủ quyền quốc gia
- Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện sự quản lý bắt buộc đối với toàn xã hội Với tư cách là tổ chức đại diện chính thức của toàn bộ xã hội, nhà nước có quyền ban hành pháp luật - một công cụ quản lý xã hội sắc bén và có hiệu quả nhất Pháp luật do nhà nước ban hành có tính bắt buộc chung, mọi tổ chức và cá nhân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật
Các tổ chức xã hội khác để quản lý, điều hành công việc của tổ chức mình thường ban hành điều lệ, nội quy, nghị quyết… Những quy định đó không phải là pháp luật, phải phù hợp, tuân thủ theo pháp luật, không mang tính quyền lực nhà nước
- Nhà nước quy định và thu các loại thuế, ngoài ra còn phát hành tiền dưới các hình thức bắt buộc, với số lượng và thời hạn ấn định trước Nhà nước quy định và thu các loại thuế nhằm nuôi bộ máy của nhà nước Ngoài ra, nhà nước còn phải dung nguồn tài chính của mình để xây dựng các công trình và tiến hành các hoạt động chung vì lợi ích chung của toàn xã hội
Trang 161.3 Kiểu nhà nước
Kiểu nhà nước là tổng thể những dấu hiệu cơ bản, đặc thù của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp và những điều kiện tồn tại và phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế xã hội nhất định Mỗi kiểu nhà nước phù hợp với một chế độ kinh tế nhất định của một xã hội có giai cấp Đặc điểm chung của mỗi hình thái kinh tế xã hội sẽ quyết định những dấu hiệu cơ bản, đặc thù của một kiểu nhà nước tương ứng
Trong lịch sử xã hội có giai cấp đã tồn tại bốn hình thái kinh tế xã hội: Chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Phù hợp với bốn hình thái kinh tế
xã hội đó đã có bốn kiểu nhà nước:
- Kiểu nhà nước chủ nô;
- Kiểu nhà nước phong kiến;
- Kiểu nhà nước tư sản;
- Kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa
Các kiểu nhà nước chủ nô, phong kiến, tư sản mặc dù
có những đặc điểm riêng nhưng đều là những kiểu nhà nước bóc lột được xây dựng trên cơ sở của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất Các nhà nước đó đều là nhà nước theo đúng nghĩa, là công cụ để bảo vệ chế độ tư hữu về tư liệu sản
Trang 17xuất, duy trì sự thống trị của giai cấp bóc lột đối với đông đảo quần chúng nhân dân lao động Nhà nước xã hội chủ nghĩa là kiểu nhà nước mới có bản chất khác với các kiểu nhà nước bóc lột Nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa
là thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện công bằng xã hội
Sự thay thế kiểu nhà nước này bằng một kiểu nhà nước mới tiến bộ hơn là một quy luật tất yếu Quy luật về sự thay thế các kiểu nhà nước phù hợp với quy luật về sự phát triển
và thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội Cách mạng là con đường dẫn đến sự thay thế đó Một kiểu nhà nước mới xuất hiện trong quá trình cách mạng khi giai cấp cầm quyền
cũ bị lật đổ và giai cấp thống trị mới giành được chính quyền Các cuộc cách mạng khác nhau diễn ra trong lịch sử đều tuân theo quy luật đó: Nhà nước phong kiến thay thế nhà nước chủ nô, nhà nước tư sản thay thế nhà nước phong kiến, nhà nước xã hội chủ nghĩa thay thế nhà nước tư sản Nhà nước xã hội chủ nghĩa là một kiểu nhà nước mới tiến bộ nhất nhưng cũng là kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch sử Sau khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ tiêu vong và sau đó sẽ không còn một kiểu nhà nước nào khác nữa
Trang 181.4 Hình thức nhà nước
Hình thức nhà nước là cách tổ chức quyền lực nhà nước và những phương pháp để thực hiện quyền lực đó Hình thức nhà nước là một khái niệm chung được hình thành từ ba yếu tố cụ thể: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà nước và chế độ chính trị
Thứ nhất, hình thức chính thể:
Đây là cách tổ chức và trình tự để lập ra các cơ quan tối cao của nhà nước và xác lập những mối quan hệ cơ bản của các cơ quan đó Hình thức chính thể có hai dạng cơ bản
là chính thể quân chủ và chính thể cộng hòa
- Chính thể quân chủ là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nhà nước tập trung toàn bộ (hay một phần) trong tay người đứng đầu nhà nước theo nguyên tắc thừa kế
- Chính thể cộng hòa là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nhà nước thuộc về một cơ quan được bầu ra trong một thời gian nhất định
Cả hai hình thức đều có những biến dạng của mình Chính thể quân chủ được chia thành chính thể quân chủ tuyệt đối và chính thể quân chủ hạn chế Trong các nước quân chủ tuyệt đối, người đứng đầu nhà nước (vua, hoàng đế
…) có quyền lực vô hạn; còn trong các nhà nước quân chủ
Trang 19hạn chế người đứng đầu nhà nước chỉ nắm một phần quyền lực tối cao và bên cạnh đó còn có một cơ quan quyền lực khác nữa, như nghị viện trong các nhà nước tư sản có chính thể quân chủ
Chính thể cộng hòa cũng có hai hình thức chính là cộng hòa dân chủ và cộng hòa quý tộc Trong các nước cộng hòa dân chủ, quyền tham gia bầu cử để lập ra cơ quan đại diện (quyền lực) của nhà nước được quy định về mặt hình thức pháp lý đối với các tầng lớp nhân dân lao động (mặc dù trên thực tế, các giai cấp thống trị của các nhà nước bóc lột thường đặt ra nhiều quy định nhằm hạn chế hoặc vô hiệu hóa quyền này của nhân dân lao động) Trong các nước cộng hoà quý tộc quyền đó chỉ quy định đối với tầng lớp quý tộc Trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, do nhiều yếu tố khác nhau tác động, các hình thức chính thể cũng có những đặc điểm khác biệt Vì vậy, khi nghiên cứu hình thức chính thể của một nhà nước nhất định cần phải gắn nó với những điều kiện lịch sử cụ thể Tất cả các nước xã hội chủ nghĩa đều là nhà nước cộng hoà dân chủ được đặc trưng bằng sự tham gia rộng rãi của nhân dân lao động vào việc thành lập các cơ quan đại diện của mình
Thứ hai, hình thức cấu trúc nhà nước:
Trang 20Đây là sự cấu tạo nhà nước thành các đơn vị hành chính lãnh thổ và xác lập những mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan nhà nước, giữa trung ương với địa phương Có hai hình thức cấu trúc nhà nước chủ yếu là hình thức nhà nước đơn nhất và hình thức nhà nước liên bang
- Nhà nước đơn nhất là nhà nước có chủ quyền chung,
có hệ thống cơ quan quyền lực và quản lí thống nhất từ trung ương đến địa phương và có các đơn vị hành chính bao gồm tỉnh (thành phố), huyện (quận), xã (phường) Ví dụ: Việt Nam, Lào, Ba Lan, Pháp là các nhà nước đơn nhất
- Nhà nước liên bang là nhà nước có từ hai hay nhiều nước thành viên hợp lại Nhà nước liên bang có hai hệ thống
cơ quan quyền lực và quản lý; một hệ thống chung cho toàn liên bang và một hệ thống trong mỗi nước thành viên; có chủ quyền quốc gia chung của nhà nước liên bang và đồng thời mỗi nước thành viên cũng có chủ quyền riêng: Ví dụ:
Mỹ, Đức, Úc là các nước liên bang
Cần phân biệt nhà nước liên bang với nhà nước liên minh Nhà nước liên minh là sự liên kết tạm thời của các nhà nước với nhau nhằm thực hiện một số mục đích nhất định Sau khi đã đạt được các mục đích đó, nhà nước liên minh có thể tự giải tán hoặc có thể phát triển thành nhà nước liên
Trang 21bang Ví dụ: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ từ 1776 đến 1787 là nhà nước liên minh, sau đó trở thành nhà nước liên bang
Thứ ba, về chế độ chính trị:
Chế độ chính trị là tổng thể các phương pháp mà các
cơ quan nhà nước sử dụng để thực hiện quyền lực nhà nước Trong lịch sử, từ khi nhà nước xuất hiện cho đến nay, các giai cấp thống trị đã sử dụng nhiều phương pháp để thực hiện quyền lực nhà nước Những phương pháp đó trước hết xuất phát từ bản chất của nhà nước đồng thời phụ thuộc vào nhiều yếu tố của mỗi giai đoạn trong mỗi nước cụ thể Vì vậy, có rất nhiều phương pháp khác nhau nhưng tựu chung chúng được phân thành hai loại chính là: Phương pháp dân chủ và phương pháp phản dân chủ
Những phương pháp dân chủ cũng có nhiều loại, thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như những phương pháp dân chủ thật sự và dân chủ giả hiệu, dân chủ rộng rãi
và dân chủ hạn chế; dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp Cần phân biệt chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa được đặc trưng bằng việc sử dụng các hình thức dân chủ thật sự, rộng rãi với chế độ dân chủ tư sản đặc trưng bằng các phương pháp dân chủ hạn chế và hình thức Các phương pháp phản dân chủ thể hiện tính chất độc tài cũng có nhiều loại, đáng
Trang 22chú ý nhất là khi những phương pháp này khi phát triển đến mức độ cao sẽ trở thành những phương pháp tàn bạo, quân phiệt và phát xít
Hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà nước luôn
có liên quan mật thiết với chế độ chính trị Ba yếu tố này có tác động qua lại lẫn nhau tạo thành khái niệm hình thức nhà nước, phản ánh bản chất và nội dung của nhà nước Nhưng trong một số trường hợp, ba yếu tố này có thể không phù hợp với nhau Ví dụ: Chế độ chính trị phát xít, quân phiệt có thể có hình thức chính thể cộng hòa dân chủ Đây cũng là điều thường gặp trong các nhà nước bóc lột Trong các nhà nước xã hội chủ nghĩa, ba yếu tố này phải phù hợp với nhau, phản ảnh đúng bản chất và nội dung của nhà nước xã hội chủ nghĩa
1.5 Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc
về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm
Trang 23soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.1
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có 2 chức năng chính:
Chức năng đối nội, như: ổn định chính trị, phát triển kinh tế, giữ vững an ninh quốc phòng, bảo tồn văn hóa - xã hội,…
Chức năng đổi ngoại như: phòng thủ quốc gia, bang giao quốc tế; riêng các nước hiện đại ngày nay còn tham gia giải quyết các vấn đề chung của toàn cầu như: Bảo vệ môi trường chung của thế giới, chống khủng bố,…
Để thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại, nhà nước
sử dụng các phương pháp hoạt động như: Xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
xã hội chủ nghĩa là những nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo đúng đắn, khách quan và khoa học, phù hợp với bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa, tạo thành cơ sở cho tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và toàn thể bộ máy nhà nước
1
Điều 2, Hiến pháp 2013
Trang 24Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm:
Nguyên tắc bảo đảm quyền lực nhân dân trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
Nguyên tắc tập trung dân chủ
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc
Bộ máy nhà nước bao gồm các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành một thể thống nhất, một hệ thống các cơ quan nhà nước hay còn gọi là bộ máy nhà nước Bộ máy nhà nước đó được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc luật định Căn cứ vào trật tự hình thành cũng như tính chất, vị trí, chức năng của các cơ quan nhà nước, thì bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm 4 hệ thống:
Hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước hay còn gọi là các cơ quan đại diện, bao gồm Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân trực tiếp bầu ra thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước
Trang 25 Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước hay còn gọi
là các cơ quan hành chính nhà nước, bao gồm: Chính phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ,
Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân Chức năng chủ yếu của các cơ quan này là quản lý hành chính nhà nước
Hệ thống các cơ quan xét xử bao gồm: Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện Ngoài ra còn có hệ thống Tòa án quân sự các cấp Các cơ quan này có chức năng xét
xử
Hệ thống các cơ quan kiểm sát bao gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện Ngoài ra còn có hệ thống Viện kiểm sát quân sự các cấp Các cơ quan này có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hiện quyền công tố
Ngoài 4 hệ thống các cơ quan nhà nước nói trên, trong tổ chức bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn có Chủ tịch nước - Nguyên thủ quốc gia (người đứng đầu nhà nước), có chức năng thay mặt nhà nước về đối nội và đối ngoại
Trang 26Câu hỏi ôn tập:
Câu 1 Hãy trình bày nguồn gốc ra đời của nhà nước theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin? Chỉ ra sự khác biệt
cơ bản giữa Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin và các học thuyết phi Mác-xít về nguồn gốc nhà nước?
Câu 2 Hãy trình bày đặc điểm của nhà nước? Hãy cho biết bộ máy nhà nước của nước CHXHCN Việt Nam bao gồm những hệ thống cơ quan nào?
Trang 27Chương 2 Những kiến thức cơ bản về pháp uật
2.1 Khái niệm, nguồn gốc, bản chất pháp luật
2.1.1 Khái niệm
Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình
2.1.2 Nguồn gốc của pháp luật
Những nguyên nhân làm phát sinh nhà nước cũng là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của pháp luật
Xã hội cộng sản nguyên thủy, tập quán và tín điều tôn giáo là các quy phạm xã hội Khi chế độ tư hữu xuất hiện và
xã hội phân chia giai cấp thì tập quán không còn phù hợp (vì tập quán thể hiện ý chí chung của tất cả mọi người trong thị tộc) Trong điều kiện lịch sử mới, khi xung đột giai cấp diễn
ra ngày càng gay gắt và cuộc đấu tranh giai cấp là không thể điều hòa được thì cần thiết phải có một loại quy phạm mới
Trang 28thể hiện ý chí của giai cấp thống trị để thiết lập một trật tự mới, đó chính là quy phạm pháp luật
Pháp luật là hệ thống các quy phạm do nhà nước ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị Pháp luật ra đời cùng với nhà nước, là công cụ sắc bén để thực hiện quyền lực nhà nước, duy trì địa vị và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị Nhà nước và pháp luật đều là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp
2.1.3 Bản chất của pháp luật
Bản chất của pháp luật gồm có 02 thuộc tính sau đây:
Bản chất giai cấp của pháp luật
Bản chất của pháp luật cũng giống như nhà nước là tính giai cấp của nó, không có “pháp luật tự nhiên” hay pháp luật không có tính giai cấp
- Tính giai cấp của pháp luật trước hết ở chỗ, pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị, nội dung của
ý chí đó đựơc quy định bởi điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp thống trị Nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua nhà nước để thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung thống nhất, hợp pháp hoá ý chí của nhà nước, được nhà nước bảo hộ thực hiện bằng sức mạnh của nhà nước
Trang 29- Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh của pháp luật Mục đích của pháp luật trước hết nhằm điều chỉnh quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Vì vậy, pháp luật là nhân tố để điều chỉnh về mặt giai cấp các quan hệ xã hội nhằm hướng các quan hệ xã hội phát triển theo một trật tự phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, bảo vệ củng cố địa vị của giai cấp thống trị Với ý nghĩa
đó, pháp luật chính là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp
Ví dụ về bản chất giai cấp của pháp luật: Pháp luật chủ
nô là pháp luật của giai cấp chủ nô do giai cấp này đặt ra trước hết là vì lợi ích của nó Pháp luật chủ nô quy định công khai quyền lực vô hạn của chủ nô và tình trạng vô quyền của giai cấp nô lệ
Bản chất xã hội của pháp luật
- Bản chất của pháp luật còn thể hiện thông qua tính xã hội của pháp luật Tính xã hội của pháp luật thể hiện thực tiễn pháp luật là kết quả của sự “chọn lọc tự nhiên” trong xã hội Các quy phạm pháp luật mặc dù do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ
xã hội, tuy nhiên chỉ những quy phạm nào phù hợp với thực tiễn mới được thực tiễn giữ lại thông qua nhà nước, đó là
Trang 30những quy phạm “hợp lý”, “khách quan” được số đông trong xã hội chấp nhận, phù hợp với lợi ích của đa số trong
xã hội
- Giá trị xã hội của pháp luật còn thể hiện ở chỗ, quy phạm pháp luật vừa là thước đo của hành vi con người, vừa
là công cụ kiểm nghiệm các quá trình, các hiện tượng xã hội,
là công cụ để nhận thức xã hội và điều chỉnh các quan hệ xã hội, hướng chú ý vận động, phát triển phù hợp với các quy luật khách quan
2.2 Đặc tính pháp luật
Pháp luật có 03 đặc tính (dấu hiệu) cơ bản sau:
- Pháp luật do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện
Pháp luật do Nhà nước ban hành thông qua rất nhiều những trình tự thủ tục chặt chẽ và phức tạp với sự tham gia của rất nhiều các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức và các cá nhân nên pháp luật luôn có tính khoa học, chặt chẽ, chính xác trong điều chỉnh các quan hệ xã hội Pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó các biện pháp cưỡng chế nhà nước rất nghiêm khắc như phạt tiền, phạt tù có thời hạn, tù chung thân… Với sự bảo đảm của nhà nước đã làm cho pháp luật
Trang 31luôn được các tổ chức và cá nhân tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh, có hiệu quả trong đời sống xã hội
- Pháp luật có tính quy phạm phổ biến, gồm những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung
Pháp luật gồm các quy tắc xử sự chung, được thể hiện trong những hình thức xác định, có kết cấu logic rất chặt chẽ
và được đặt ra không phải xuất phát từ một trường hợp cụ thể mà là sự khái quát hóa từ rất nhiều những trường hợp có tính phổ biến trong xã hội Điều này đã làm cho quy định pháp luật có tính khái quát hóa cao, là những khuôn mẫu điển hình để các chủ thể (tổ chức, cá nhân) thực hiện theo khi gặp phải những tình huống mà pháp luật đã dự liệu Pháp luật mang tính băt buộc chung, các quy định pháp luật được dự liệu không phải cho một tổ chức hay cá nhân
cụ thể mà cho tất cả các tổ chức và cá nhân có liên quan Xuất phát từ vị trí, vai trò của nhà nước trong xã hội (tổ chức đại diện chính thức cho toàn xã hội), nên pháp luật là bắt buộc đối với tất cả, việc thực hiện pháp luật
- Pháp luật có tính xác định chặt chẽ về hình thức Pháp luật luôn được thể hiện dưới những hình thức phải nhất định, nói cách khác, những quy định pháp luật phải được chứa đựng trong các nguồn luật như tập quán
Trang 32pháp, tiền lệ pháp, văn bản quy phạm pháp luật … Sự xác định chặt chẽ về hình thức là điều kiện để phân biệt giữa pháp luật với những quy định không phải là pháp luật, đồng thời, cũng tạo nên sự thống nhất, chặt chẽ, rõ ràng, chính xác
về nội dung của pháp luật
Ngoài các đặc tính cơ bản nói trên, pháp luật còn có những điểm khác nữa như tính ổn định, tính hệ thống …
Vai trò của pháp luật
Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng Nó là công cụ không thể thiếu, bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội nói chung và của nền đạo đức nói riêng Pháp luật không chỉ là một công
cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ý thức đạo đức, làm lành mạnh hóa đời sống xã hội và góp phần bồi đắp nên những giá trị mới
- Pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý mọi mặt của đời sống xã hội
- Pháp luật là phương tiện thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi công dân
2.3 Quy phạm pháp luật
Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu
lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối
Trang 33với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện. 2
Đặc điểm của quy phạm pháp luật:
- Thể hiện ý chí của nhà nước
- Mang tính bắt buộc chung
- Được nhà nước ban hành hoặc thừa nhận
- Được nhà nước bảo đảm thực hiện
Cơ cấu của quy phạm pháp luật bao gồm:
Giả định
Giả định thường nói về địa điểm, thời gian, các chủ thể, các hoàn cảnh thực tế mà trong đó mệnh lệnh của quy phạm được thực hiện tức là xác định môi trường cho sự tác động của quy phạm pháp luật
Ví dụ: Điều 200 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây trốn thuế với số tiền
từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng…”
2 Khoản 1, Điều 3, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 sửa đổi bổ sung 2020
Trang 34Trong quy phạm pháp luật trên bộ phận giả định là
“Người nào thực hiện…” – nói đến yếu tố chủ thể
- Bộ phận giả định thường trả lời cho câu hỏi chủ thể nào? khi nào? trong hoàn cảnh, điều kiện nào?
- Để áp dụng các quy phạm pháp luật một cách chính xác, nhất quán phần giả định phải mô tả rõ ràng những điều kiện, hoàn cảnh nêu ra phải sát hợp với thực tế Do đó tính xác định là tiêu chuẩn hàng đầu của một giả định
Quy định
Quy định là bộ phận của quy phạm pháp luật trong đó nêu quy tắc xử sự buộc mọi chủ thể phải xử sự theo khi ở vào hoàn cảnh đã nêu trong phần giả định của quy phạm
- Quy định là yếu tố trung tâm của quy phạm pháp luật bởi vì trong quy định trình bày ý chí và lợi ích của nhà nước,
xã hội và cá nhân con người trong việc điều chỉnh những quan hệ xã hội nhất định
- Bộ phận quy định trả lời cho câu hỏi phải làm gì? được làm gì? làm như thế nào?
Chế tài
Là bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tác động mà nhà nước dự kiến áp dụng đối với chủ thể
Trang 35không thực hiện đúng mệnh lệnh của nhà nước đã nêu trong
bộ phận quy định của quy phạm pháp luật
Chế tài là một trong những phương tiện đảm bảo thực hiện bộ phận quy định của quy phạm pháp luật Chế tài chính là những hậu quả bất lợi đối với chủ thể vi phạm pháp luật
2.4 Quan hệ pháp luật
Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật điều chỉnh Nó làm cho các chủ thể tham gia vào quan hệ đó được hưởng những quyền và phải gánh vác những nghĩa vụ nhất định Những quyền và nghĩa vụ của các chủ thể đó được nhà nước đảm bảo thực hiện
2.4.1 Đặc điểm của quan hệ pháp luật
- Quan hệ pháp luật là loại quan hệ tư tưởng của kiến trúc thượng tầng
- Quan hệ pháp luật là quan hệ mang tính ý chí và được thể hiện:
+ Ý chí của các chủ thể tham gia vào quan hệ đó (cụ thể là các quan hệ hợp đồng VD: quan hệ mua bán của 2 bên)
Trang 36+ Ý chí của nhà nước: Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật điều chỉnh mà quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành và thể hiện ý chí của nhà nước Trong một số quan hệ pháp luật đặc biệt thì nhà nước tham gia với tư cách là một chủ thể và việc tham gia vào quan hệ đó là hoàn toàn thể hiện ý chí của nhà nước (VD: Nhà nước tham gia xử các vụ án vi phạm pháp luật giết người)
- Quan hệ pháp luật xuất hiện trên cơ sở của quy phạm pháp luật Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật điểu chỉnh Như vậy, một quan hệ xã hội chỉ trở thành quan hệ pháp luật khi có một quy phạm pháp luật tác động lên quan hệ đó và như vậy chúng ta có thể hiểu: Quan hệ pháp luật chính là hình thức pháp lý của quan hệ xã hội
- Quan hệ pháp luật được tạo bởi những quyền và nghĩa vụ của chủ thể khi các chủ thể tham gia vào quan hệ
đó tức là khi tham gia vào một quan hệ xã hội được điều chỉnh thì các chủ thể sẽ được hưởng những quyền và phải gánh vác những nghĩa vụ nhất định Những quyền và nghĩa
vụ của các chủ thể đó sẽ được nhà nước đảm bảo thực hiện
Trang 37 Điều kiện để xuất hiện một quan hệ pháp luật: Hội đủ 3 điều kiện sau thì sẽ xuất hiện quan hệ pháp luật
Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích
mà các chủ thể pháp luật bằng hành vi của mình thực hiện các quy định pháp luật trong thực tế đời sống
Các hình thức thực hiện pháp uật
- Tuân thủ pháp luật: là hình thức thực hiện những quy phạm pháp luật mang tính chất ngăn cấm bằng hành vi thụ động, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không làm những việc mà pháp luật cấm
VD: Một công dân không thực hiện những hành vi tội phạm được qui định trong bộ luật hình sự, tức là công dân
đó tuân thủ những quy định của bộ luật này
- Thi hành pháp luật: là hình thức thực hiện những quy định trao nghĩa vụ bắt buộc của pháp luật một cách tích cực
Trang 38trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ của mình bằng những hành động tích cực
VD: Một người thấy người khác đang lâm vào tình trạng có thể nguy hiểm đến tính mạng và người đó cứu giúp, tức là người đó đã bằng hành động tích cự thi hàng qui định
về nghĩa vụ công dân của pháp luật nói chung và của luật hình sự nói riêng
- Sử dụng pháp luật: là hình thức thực hiện những quy định về quyền chủ thể của pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật chủ động, tự mình quyết định việc thực hiện hay không thực hiện điều mà pháp luật cho phép
Như vậy hình thức này khác với 2 hình thức trên ở chỗ chủ thể không bị buộc không được làm hoặc phải làm một việc nào đó mà được tự do lựa chọn theo ý chí của mình VD: Việc thực hiện các quyền bầu cử và ứng cử, quyền khiếu nại và tố cáo…
- Áp dụng pháp luật: là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những qui định pháp luật hoặc chính hành vi của mình căn
cứ vào những qui định của pháp luật để ra các quyết định
Trang 39làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hay chấm dứt một quan hệ pháp luật
VD: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật tuyên phạt
2.5.2 Áp dụng pháp luật
Khi thực hiện pháp luật, có nhiều trường hợp nếu không có sự can thiệp của cơ quan Nhà nước, các quy phạm pháp luật sẽ không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng, do đó áp dụng pháp luật tức là áp dụng quy phạm pháp luật vào trong các trường hợp cụ thể
Các trường hợp áp dụng pháp uật
- Khi quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể pháp luật không mặc nhiên phát sinh nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước
Ví dụ: Nữ đủ 18 tuổi, nam đủ 20 tuổi -> muốn trở thành quan hệ hôn nhân phải được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của một trong hai bên công nhận
- Khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên tham gia quan hệ pháp luật mà các bên không thể tự mình giải quyết được
Trang 40Ví dụ: Tranh chấp hợp đồng kinh doanh về điều khoản chất lượng, nếu có yêu cầu của một trong hai bên thì Tòa Kinh tế sẽ giải quyết
- Khi cần áp dụng những chế tài đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật
Ví dụ: Một người đi xe gắn máy (110 phân khối) không có bằng lái bị cảnh sát giao thông xử phạt hành chính
=> Căn cứ vào Nghị định xử phạt vi phạm hành chính, ra quyết định xử phạt
- Trong một số quan hệ pháp luật quan trọng, Nhà nước cần tham gia để kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia hoặc Nhà nước xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại một sự kiện thực tế cụ thể nào đó
Ví dụ: Tòa án tuyên bố một người đã chết hoặc mất tích
Áp dụng pháp uật tương tự
Áp dụng pháp luật tương tự có hai loại: Áp dụng tương
tự quy phạm pháp luật và áp dụng tương tự pháp luật
- Áp dụng tương tự quy phạm pháp luật là giải quyết một vụ việc thực tế cần phải giải quyết trên cơ sở một quy phạm pháp luật điều chỉnh một trường hợp khác có nội dung