1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận Văn Thế Giới Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Nguyễn Dậu.pdf

109 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thế Giới Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Nguyễn Dậu
Tác giả Lê Thị Khánh Vân
Người hướng dẫn PGS.TS Lê Dục Tú
Trường học Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ THỊ KHÁNH VÂN THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN DẬU LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành Văn học Việt Nam Hà Nội 2016 1 of 107[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Văn học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện

thuận lợi và nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và

nghiên cứu luận văn

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Lê Dục Tú là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng tôi xin trân trọng cảm ơn các bạn học viên cùng lớp, những người thân trong gia đình và bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập,

nghiên cứu để hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2016

Học viên

Lê Thị Khánh Vân

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2.Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của luận văn 5

7 Cấu trúc của luận văn 6

CHƯƠNG 1: TRUYỆN NGẮN NGUYỄN DẬU TRONG DIỆN MẠO TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 7

1.1 Diện mạo truyện ngắn Việt Nam đương đại 7

1.1.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa 7

1.1.2 Những thành tựu của thể loại truyện ngắn 13

1.2 Tác giả Nguyễn Dậu và hành trình sáng tác 21

1.2.1 Tác giả Nguyễn Dậu 21

1.2.2 Hành trình sáng tác 24

2.1 Giới thuyết về nhân vật văn học 30

2.1.1 Đặc điểm nhân vật trong văn học giai đoạn trước 1986 33

2.1.2 Đặc điểm nhân vật trong văn học giai đoạn sau 1986 38

2.2 Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Dậu 42

2.2.1 Nhân vật cô đơn 42

2.2.2 Nhân vật dị biệt 48

2.2.3 Nhân vật tha hóa 52

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN DẬU 58

3.1 Cốt truyện 58

Trang 5

3.1.2 Cốt truyện hiện đại 64

3.2 Tình huống truyện 69

3.3 Không gian nghệ thuật 74

3.3.1 Không gian hiện thực 76

3.3.2 Không gian ảo 81

3.4 Thời gian nghệ thuật 84

3.4.1 Thời gian hiện thực 86

3.4.2 Thời gian tâm lý 89

3.5 Giọng điệu trần thuật 92

3.5.1.Giọng chiêm nghiệm triết lý 92

3.5.2 Giọng điệu cảm thương 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn học Việt Nam từ sau Đổi mới đến nay phát triển rất sôi động với nhiều xu hướng, khuynh hướng, nhiều hiện tượng khác nhau Sự phong phú,

đa dạng, phức tạp của văn học Việt Nam đương đại thể hiện trên nhiều bình

diện: đề tài, chủ đề, khuynh hướng thẩm mĩ, thủ pháp nghệ thuật, phong cách,

thể loại sáng tác Bên cạnh sự xuất hiện của những tên tuổi mới thì một lực

lượng đông đảo các nhà văn khởi bút từ trong chiến tranh đã trở lại với một

diện mạo và tinh thần mới Kinh nghiệm cầm bút cộng với sự trải nghiệm qua

nhiều những thời điểm khác nhau của lịch sử, bên cạnh đó làn những thôi thúc

của công cuộc Đổi mới, đã giúp các nhà văn gặt hái đuợc những thành tựu

mới cho văn chương đương đại

Trong bức tranh văn học đầy sắc màu của văn chương đương đại, nhà văn Nguyễn Dậu xuất hiện lặng lẽ, điềm đạm nhưng để lại một dấu ấn không

thể phai mờ.Thành tựu văn học của ông, đặc biệt là ở thể loại truyện ngắn quả

thực dày dặn và có phong cách riêng không trộn lẫn

Tuy nhiên, do nhiều vấn đề về lịch sử, truyện ngắn Nguyễn Dậu trong nhiều thập kỉ không được nhắc đến trong các tài liệu học tập và nghiên cứu

Từ đó, cũng chưa có một công trình dày dặn nào đi sâu nghiên cứu về tác giả

này Thẩm định về sáng tác của Nguyễn Dậu chủ yếu là các bài phê bình,

nhận xét về từng tác phẩm, đánh giá chất lượng của từng truyện ngắn, từng

tập truyện… mà thiếu một sự hệ thống nhất định trong việc nhận diện truyện

ngắn của nhà văn này Cũng đã có một số những bài nhận xét khái quát về

truyện ngắn Nguyễn Dậu nhưng hầu hết là các bài viết ngắn, chưa làm rõ

được những nét đặc sắc của truyện ngắn Nguyễn Dậu Bởi thế luận văn này

một mặt mong muốn khái quát lại một cách có hệ thống về cuộc đời và sự

nghiệp của nhà văn Nguyễn Dậu, mặt khác đi sâu vào tìm hiểu thế giới nghệ

Trang 7

thuật của truyện ngắn Nguyễn Dậu Đồng thời, luận văn cũng muốn đóng góp

một vài ý kiến chủ quan đối với hiện tượng truyện ngắn Nguyễn Dậu, dù là

rất nhỏ ở một số khía cạnh, phương diện nào đó, hi vọng góp phần có cái nhìn

đúng đắn, toàn diện hơn đối với truyện ngắn Nguyễn Dậu Từ đó, khẳng định

lại vị trí của ông, đánh giá một cách thỏa đáng đóng góp của nhà văn cho thể

loại truyện ngắn nói riêng, văn học Việt Nam đương đại nói chung

2 Lịch sử vấn đề

Truyện ngắn Nguyễn Dậu như đã nói là một hiện tượng văn học không mới nhưng đã có thời gian dài bị lãng quên Cuộc đời và sự nghiệp của nhà

văn Nguyễn Dậu được nhắc đến chủ yếu là các bài giới thiệu ngắn theo dạng

tiểu sử trong các tuyển tập văn học vùng miền Một số bài viết về ông có tác

giả là những đồng nghiệp, yêu mến và trân trọng cuộc đời người nghệ sĩ ghi

lại, như để nhắc nhớ, để tiếc thương cho một tài năng bị vùi dập trong bão tố

lịch sử

Tiểu sử nhà văn Nguyễn Dậu được nhắc đến qua vài dòng ngắn ngủi trong thư mục của thư viện Hải Phòng và qua các bài viết của đồng nghiệp

Trong đó, chủ yếu ghi lại năm sinh năm mất, quê quán và một vài nét về quá

trình làm việc của ông Về sự nghiệp văn chương, cũng chỉ có một số bài viết

giới thiệu sơ lược về quá trình từ cầm bút đến thành danh của nhà văn Nguyễn

Dậu

Bài viết Nhà văn Nguyễn Dậu và sức sống của ngòi bút của tác giả Vũ Quốc Văn đăng trên trang vanthoviet.com (1/9/2011) đã khái quát về chặng

đời nhọc nhằn, truân chuyên mà cũng vô cùng vẻ vang của nhà văn Nguyễn

Dậu Bên cạnh việc biên niên lại cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn, tác giả

Vũ Quốc Văn, với lòng yêu kính và tiếc thương một nhân cách, một tài năng,

đã hé lộ cho người mến mộ ông thấy được một Nguyễn Dậu có phần đời

nhiều cay đắng Bị phê phán từ sự kiện tác phẩm bị “xét lại” của văn học

Trang 8

những năm 1960 mà theo lối phê bình lúc đó gọi các tác phẩm viết theo kiểu

“tự nhiên chủ nghĩa”, tiểu thuyết Mở hầm cùng với các tiểu thuyết như Nhãn

đầu mùa (Xuân Tùng, Trần Thanh), Mùa hoa dẻ (Văn Linh) đã bị giới phê

bình lúc đó khai tử Cuộc đời nhà văn bẵng đi nhiều năm phải xa rời nghiệp

viết, nhưng ông không hề nản chí mà vẫn âm thầm quay trở lại với vẹn

nguyên tình yêu nghề

Với Nguyễn Dậu - Nhọc nhằn sông Luộc, tác giả Kiến Văn (đăng trên

tạp chí Văn nghệ Quân đội ra ngày 22/09/1911) lại tập trung vào quãng đời

sau khi tiểu thuyết Mở hầm bị phê phán Nguyễn Dậu đã quay trở lại nghiệp

viết sau 28 năm dừng bút sau sụ kiện Mở hầm Bài viết đã cho thấy một tác

giả vẫn vẹn nguyên niềm say mê với nghiệp viết, đặc biệt, các sáng tác sau

này của ông lại càng dồi dào một tinh thần lạc quan, truyền tải được niềm vui

sống và khao khát thiện lương đến người đọc

Bài Nhà văn Nguyễn Dậu và nhà văn Vũ Bão, hai người anh, hai bàn

phím, một giấc mơ… của nhà văn Nguyễn Khắc Phục đăng trên

trannhuong.net (16/7/2013) lại từ một kỉ niệm về hai chiếc máy chữ - món

quà của các nhà văn đồng nghiệp gửi tặng nhà văn Nguyễn Dậu và nhà văn

Vũ Bão để kể về cuộc đời Nguyễn Dậu với rất nhiều yêu mến Kỉ niệm tuy

nhỏ nhưng là những kí ức dù ít ỏi nhưng vô cùng đáng quý về nhà văn

Nguyễn Dậu mà bạn văn của ông còn lưu giữ Từ đó, người đọc thấy được

một nhà văn đã trải qua đủ cay đắng ở cả sự nghiệp lẫn đời sống cá nhân

nhưng vẫn say sưa viết Và như nhà văn Nguyễn Khắc Phục chiêm nghiệm:

“hai người anh, hai bàn phím gõ chữ mà cùng một giấc mơ: Mơ văn chương

tử tế giúp ích cho đời, văn chương cho thỏa chí tang bồng hồ thỉ, văn chương

là sống, yêu, hi vọng và hướng tới những điều tốt đẹp nhất…”, những tác

phẩm mà nhà văn để lại, đặc biệt ở giai đoạn sau Đổi mới, đã chứng minh giá

trị nhân văn sâu sắc đằng sau những trang viết vô cùng hấp dẫn của ông

Trang 9

Từ sau 1975, đời sống xã hội và văn hóa Việt Nam bước sang một thời

kì mới, thời kì thống nhất đất nước, tự do, hòa bình và dân chủ Từ đó trở về

sau, văn học thoát khỏi những ràng buộc thời chiến, mở rộng đôi cánh tự do,

thỏa sức vẫy vùng ở mọi đề tài và đa cách thể hiện Các nhà văn càng ngày

càng xuất hiện nhiều hơn, với lượng tác phẩm dồi dào và giàu sức sáng tạo

Trong giới phê bình, nghiên cứu văn học, có một xu hướng ưu tiên và hướng

đến các tên tuổi mới, với nhiều phá cách trong lối viết và cách lựa chọn đề tài

Với các nhà văn viết từ trong chiến tranh bước sang thời kì Đổi mới, phê bình

văn học chủ yếu hướng đến các tên tuổi quen thuộc như Bảo Ninh, Nguyễn

Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp… Cái tên Nguyễn Dậu dường như bị lãng

quên Về vấn đề này, một phần được lí giải bởi những thăng trầm trong nghề

viết khiến cái tên của ông bẵng đi nhiều thập kỉ trên văn đàn

Với tình hình đó, một lần nữa, giá trị văn chương của Nguyễn Dậu cần được khẳng định lại Với gia tài truyện ngắn đầy hơi thở đương đại được nhà

văn viết từ sau năm 1975 đến thập kỉ đầu của thế kỉ XXI, văn học Việt Nam

có thêm một sắc thái mới, không trộn lẫn với bất cứ tác giả nào Luận văn Thế

giới nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Dậu hy vọng sẽ đưa lại cái nhìn

đầy đủ và chi tiết hơn về thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Dậu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài hướng tới việc giải quyết những vấn đề sau:

3.1 Chỉ ra và phân tích được những biểu hiện về thế giới nhân vật trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Dậu thông qua các kiểu nhân vật

3.2 Chỉ ra và phân tích được một số phương diện nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Dậu như cốt truyện, tình huống truyện, không gian, thời

gian nghệ thuật, giọng điệu trần thuật

Từ việc giải quyết những vấn đề trên luận văn giới thiệu đến bạn đọc

Việt Nam một tên tuổi xuất sắc của nền văn học Việt Nam đương đại Từ đó

Trang 10

có cái nhìn đầy đủ những thành tựu cũng như đặc điểm của truyện ngắn

Nguyễn Dậu trong dòng chảy văn học đương đại Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Như tên đề tài đã xác định, đối tượng nghiên cứu của đề tài là Thế giới

nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Dậu, khảo sát trong các tập truyện ngắn

của ông được viết từ sau năm 1986

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Dậu, tập trung ở các tập truyện ngắn được viết từ sau năm 1986, bao

gồm: Con thú bị ruồng bỏ (1990), Đôi hoa tai lóng lánh (1996), Bảng lảng

hoàng hôn (1997), Gió núi mây ngàn (2000)

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sẽ có sự đối sánh với các tác phẩm khác cùng nằm trong dòng chảy văn học đương đại Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi đưa vào sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

6 Đóng góp của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu về đơn vị tác giả từ sự khảo sát mô hình thế giới nghệ thuật, luận văn đưa lại những hiểu biết về một tác giả truyện ngắn có

phong cách riêng độc đáo của văn học đương đại Việt Nam Từ đó, giúp bạn

Trang 11

đọc và giới nghiên cứu có được hình dung rõ nét và chính xác hơn về một tác

giả có nhiều đóng góp cho văn học Việt Nam đương đại nhưng dường như

đang bị lãng quên trong một thời gian dài Đồng thời khẳng định về một thời

đại văn học Việt Nam, đạt nhiều thành tựu trong thời gian gần đây

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Truyện ngắn Nguyễn Dậu trong diện mạo truyện ngắn Việt Nam đương đại

Chương 2: Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Dậu Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn

Dậu

Trang 12

CHƯƠNG 1: TRUYỆN NGẮN NGUYỄN DẬU TRONG DIỆN MẠO

TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 1.1 Diện mạo truyện ngắn Việt Nam đương đại

1.1.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa

Đời sống xã hội luôn vận hành theo quy luật của sự biến đổi Ở mỗi giai đoạn lịch sử, nhà văn với tư cách chủ thể sáng tạo luôn là nhân tố chịu sự va

đập của đời sống Mỗi người viết với bản lĩnh và tài năng, vốn sống, vốn văn

hóa, tri thức và sự trải nghiệm sẽ chịu những ảnh hưởng tác động khác nhau

Từ thực tiễn đời sống vào sáng tác là cả một quá trình thẩm thấu và khúc xạ

qua lăng kính của người nghệ sĩ Mỗi giai đoạn văn học luôn có những đặc

thù do sự quy định của lịch sử, đời sống tinh thần, ý thức nghệ thuật và khả

năng sáng tạo của người cầm bút Văn học Việt Nam đương đại trải qua bốn

thập kỉ ghi dấu nhiều đổi thay, trong đó sự biến động của đời sống lịch sử, xã

hội, văn hóa đóng một vai trò quan trọng lên thành tựu của văn học đương đại

nói chung, truyện ngắn đương đại nói riêng

Trước hết, phải kể đến ngọn nguồn những điều kiện thuận lợi từ truyền thống văn học nước nhà mà truyện ngắn Việt Nam đương đại được thừa

hưởng Từ những năm đầu của thế kỉ XX, chữ Quốc ngữ đã thay thế chữ

Nôm, chữ Hán trong sáng tác văn học Đây được xem như là dấu hiệu đầu

tiên của quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc Sang đến những năm 30

của thế kỷ XX, cùng với quá trình hiện đại hóa văn học, truyện ngắn đã có

những bước chuyển rõ rệt trở thành một bộ phận quan trọng, làm nên diện

mạo của nền văn học dân tộc Nhờ tiếp thu kinh nghiệm của phương Tây,

truyện ngắn được viết theo lối mới, mới từ cách xây dựng nhân vật đến nghệ

thuật kể chuyện, ngôn ngữ… Truyện ngắn trong giai đoạn 1930 – 1945 chưa

bao giờ phong phú và đặc sắc như thế, với nhiều tác giả, tác phẩm có dấu ấn,

phong cách riêng Truyện ngắn trữ tình của Thạch Lam, Thanh Tịnh; truyện

Trang 13

ngắn phong tục của Bùi Hiển, Kim Lân; truyện ngắn hiện thực phê phán của

Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyên Hồng Văn học hiện

thực tập trung phơi bày thực trạng bất công thối nát của xã hội, đi sâu phản

ánh tình cảnh khốn khổ của tầng lớp nhân dân với sự cảm thông sâu sắc Đã

có những trang miêu tả phân tích tâm lý đạt tới trình độ bậc thầy như truyện

ngắn của Nam Cao Chủ đề thế sự được các nhà văn đã đề cập đến với thái độ

phê phán xã hội trên tinh thần dân chủ và nhân đạo Chỉ sau hơn một thập

niên, chúng ta đã thấy xuất hiện nhiều tác phẩm đặc sắc Với một bề dày

truyền thống như thế, truyện ngắn đương đại có được một điều kiện khá thuận

lợi để tạo đà phát triển sau này Sau năm 1975, đặc biệt từ sau thời kì đổi mới,

truyện ngắn với những cách tân về nội dung, hình thức đã mang đến cho nền

văn học Việt Nam thêm nhiều khí sắc mới Văn xuôi nước nhà từ đây đã có

nhiều “thay da đổi thịt” Bên cạnh đội ngũ nhà văn trưởng thành từ hai cuộc

chiến như Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu là sự xuất hiện của hàng loạt

cây bút trẻ đầy triển vọng như Võ Thị Hảo, Hồ Anh Thái, Y Ban, Phan Thị

Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu… Sự

phát triển đó một phần chính là nhờ nền tảng, như một sức bật được tạo đà từ

những thành tựu văn xuôi đầu thế kỷ XX

Một yếu tố quan trọng khác phải kể đến là những biến động xã hội sau cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bối cảnh đó đã làm nảy nở nhu cầu

được đổi mới trên mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có nghệ thuật Đại thắng

mùa xuân năm 1975 kết thúc thắng lợi, mở ra một thời kì mới trong lịch sử

dân tộc Niềm vui chưa trọn vẹn khi ta phải đối mặt với nhiều thách thức, biến

động thời hậu chiến Đời sống khó khăn, niềm tin vào lí tưởng lung lay, sự

khập khiễng cách sống Nam Bắc sau thống nhất, những yếu tố đó đã tác động

đến xã hội nói chung và đến lực lượng văn nghệ sĩ nói riêng Với sự nhạy cảm

riêng có, những nhà văn có sự thay đổi từ trong nhận thức, những va đập

Trang 14

mạnh mẽ từ cuộc sống thôi thúc họ thay đổi cách nhìn, cách thể hiện đời sống

vào văn học Trong bối cảnh đó, tháng 12 năm 1986, đại hội VI của Đảng

cộng sản Việt Nam đề ra chương trình đổi mới toàn diện, kêu gọi toàn Đảng,

toàn dân nhìn thẳng vào sự thật của đất nước và cuộc sống nhân dân, đáp ứng

mọi đòi hỏi của thời đại Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị Ban chấp hành

Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về “đổi mới và nâng cao trình độ lãnh

đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa

văn học nghệ thuật phát triển lên một bước” ra đời đúng lúc Đây chính là vận

hội cho một nền văn học đang khát khao đổi mới Một dấu mốc quan trọng là

cuộc gặp gỡ của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh với

gần 200 nghệ sỹ trí thức đại diện cho các ngành điện ảnh sân khấu vào tháng

10 năm 1987 tại Hà Nội Tại đây, Tổng bí thư đã phát biểu và chỉ rõ đặc điểm

và hiện trạng văn hóa, nghệ thuật nước ta Tổng Bí thư đã chỉ ra: nhìn từ

nhiều năm qua, Đảng chưa thật sự coi trọng vai trò của văn hóa, hoạt động

nghệ thuật phải chịu sư áp đặt, không có tính dân chủ Đây chính là những

nguyên nhân gây nên sự khó khăn trong đời sống nghệ thuật Tổng bí thư

Nguyễn Văn Linh kêu gọi các nghệ sĩ hãy thay đổi cách viết cho phù hợp với

tình hình đất nước Cuộc sống đổi thay sẽ kéo theo sự thay đổi nhu cầu thẩm

mỹ và nhu cầu thưởng thức Bối cảnh xã hội mới là ngọn nguồn cảm hứng

sáng tạo mới cho nghệ sĩ Nó còn có ý nghĩa khi các nhà văn đang ôm ấp

những hoài bão, khát vọng sáng tạo Với tinh thần đó, nhà văn như được cởi

trói, có điều kiện để viết một cách tự do hơn Tự do trong sáng tác là một

động lực quan trọng cho sự xuất hiện một lực lượng nhà văn mới đông đảo

Bên cạnh đó, Việt Nam với sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đang đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá, một mặt giúp kinh tế phát triển, mặt khác, đưa lại

nhiều hệ lụy về xã hội, đời sống Sự đầu tư về cơ sở hạ tầng tỉ lệ thuận với sự

xuất hiện và phát triển của các trung tâm kinh tế, văn hoá Các đô thị ồn ã,

Trang 15

đông đúc với những toà nhà cao tầng san sát mọc lên lấn dần và thay thế

những vùng ngoại ô trong mát, những làng quê yên bình trước đây Nền kinh

tế theo cơ chế thị trường được hình thành về cơ bản là một trong những thành

tựu đáng ghi nhận Đồng thời chính nó lại khiến cho sự chênh lệch giàu nghèo

ngày càng lớn Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần, tình

cảm của con người Quan hệ cộng đồng khép kín trong luỹ tre làng với làng

xã, xóm giềng, dòng họ vốn rất bền chặt cũng theo đó rạn nứt, lỏng lẻo đi

Quan hệ tình nghĩa tương thân tương ái vốn là quan hệ chủ yếu giữa con

người với con người trước đây cũng bị quan hệ buôn bán thị trường xâm lấn

mà mất đi vẻ đẹp truyền thống của nó

Trong xu thế mở cửa, việc giao lưu với các nền văn hoá trên thế giới được Đảng và nhà nước ta khuyến khích Nhờ phương tiện giao thông

thuận lợi cũng như sự bùng nổ của truyền thông đại chúng mà việc hội

nhập đa phương với thế giới bên ngoài trở nên dễ dàng hơn Lối sống Tây

phương theo con đường đó du nhập ồ ạt vào nước ta Không khí cởi mở có

được sau chủ trương đổi mới của Đảng cộng với tinh thần dân chủ du nhập

theo các trào lưu tư tưởng và lối sống Tây Âu là điều kiện dẫn đến dân chủ

hóa trở thành xu thế lớn của xã hội và trong đời sống tinh thần của con

người từ những năm 80 trở đi Đồng thời, trong xu thế mở cửa, toàn cầu

hoá, chúng ta cũng phải đối diện với những biến động dữ dội trong nền

chính trị thế giới, những vấn đề nóng bỏng mà nhân loại đang phải cùng

nhau tìm cách giải quyết

Con người, đặc biệt ở các đô thị lớn được sống trong một thế giới tiện nghi, một đời sống vật chất đầy đủ và giữa rất nhiều luồng thông tin đa chiều

Những biến đổi trong xã hội cũng khiến cho nhịp sống chậm của nền nông

nghiệp lúa nước trước đây đang được dần thay thế bởi nhịp sống hối hả,

nhanh gấp của guồng máy công nghiệp Những điều kiện vật chất và tinh thần

Trang 16

này ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của con người Việt Nam, đặc biệt là

thanh thiếu niên

Những biến động trong hoàn cảnh xã hội tác động sâu sắc đến trạng thái tâm lí, cách nghĩ, cách cảm của con người Việt Nam Một mặt con người

được sống trong không khí dân chủ, không bị ràng buộc, bó hẹp như trước

đây Con người được tự do bộc lộ cái tôi cá nhân của mình, được nói lên quan

điểm, tư tưởng của mình một cách thoải mái hơn Nhưng mặt khác, trước sự

xô bồ của cuộc sống vận động theo cơ chế thị trường, trong thế giới của tiện

nghi, đồ vật và trong sự hỗn dung của vô vàn các nguồn thông tin, con người

bỗng trở nên bé nhỏ, đơn độc Con người ngày càng hoang mang, hoài nghi,

âu lo trước hiện thực đầy bất trắc

Trong thời mở cửa, với không khí dân chủ hoá thì việc giao lưu văn hóa, văn học với nước ngoài ở nước ta càng trở nên dễ dàng Văn học Việt Nam

đang hoà nhập với bầu khí quyển chung hiện đại, hậu hiện đại của thế giới

Văn học nước ta đang tiếp thu những thành tựu văn hoá, văn học của thế giới

để làm phong phú cho đời sống văn học của chính mình; đồng thời cũng có

nhiều cơ hội để phổ biến những thành tựu của mình ra thế giới Nhiều tác

phẩm của các nhà văn nước ngoài, nhiều lý thuyết sáng tác và phương pháp

nghiên cứu, phê bình văn học hiện đại được dịch và giới thiệu khá công phu

trong nước ta Đặc biệt là các sáng tác của các nhà văn có nhiều cách tân, đổi

mới trong tư duy, quan niệm cũng như trong nghệ thuật của nền văn học hậu

hiện đại có ảnh hưởng to lớn đến các nhà văn trong nước Có thể kể tên các

nhà văn có ảnh hưởng lớn đó như: Bơnơt So, Franz Kafka, Bectôn Brêcht,

Ơnixt Hêminguây, Anbe Camuy, Xamuyen Bêcket, Ơgien Iônexcô, Dan

Brow, Mạc Ngôn, Haruki Murakami… Các nhà văn trẻ nước ta còn chịu ảnh

hưởng mạnh mẽ từ các nhà văn 7X, 8X của Trung Quốc (bởi trong những

năm gần đây sáng tác của họ được dịch rất nhiều ở Việt Nam) như: Vệ Tuệ,

Trang 17

Miên Miên, Trương Duyệt Nhiên, Quách Kính Minh, Xuân Thụ… Một loạt

các lý thuyết của thế kỉ XX về văn hoá học và thi pháp học của Bakhtin, về

loại hình học cấu trúc của Propp, về xã hội học văn học của Excapit và của

Gonman, về phân tâm học của Frơt và của Jung, chủ nghĩa cấu trúc của

Lôtman, chủ nghĩa hình thức Nga, mĩ học tiếp nhận của Jauxơ, về lý thuyết

tiếp nhận văn học theo kiểu hiện tượng học của Ingarđin… cũng đã được dịch

và giới thiệu khá tường tận Các nhà văn Việt Nam đang chịu ảnh hưởng của

bầu không khí chung văn hoá thế giới – một không khí đang nóng lên từng

ngày bởi những chuyển động mãnh liệt của các xu hướng, khuynh hướng

khác nhau Những nỗ lực của các nhà nghiên cứu, của đông đảo bạn đọc,

ngoài việc phát hiện cái hay, cái đẹp của tác phẩm cũng có tác dụng định

hướng cho sáng tác và đòi hỏi những sáng tạo, nỗ lực từ phía đội ngũ sáng

tác

Cũng trong không khí tự do, dân chủ, việc in ấn, cho ra đời một quyển sách hiện nay không mấy khó khăn Sự kiểm duyệt không quá gắt gao, cơ

chế bao cấp đã xoá bỏ càng tạo điều kiện thuận lợi cho việc cho ra đời một

cuốn sách Các phương tiện truyền thông, báo chí, nhà xuất bản… sẵn sàng

làm công việc quảng bá tác phẩm mới đã góp phần khuyến khích nhiệt tình

sáng tạo của nhà văn Đặc biệt, trong cơ chế thị trường, các nhà in làm việc

với tôn chỉ hàng đầu là lợi nhuận thì ước muốn của một nhà văn muốn có

một tuyển tập cho riêng mình trở nên khá dễ dàng Việc đổi mới quản lý

trong lĩnh vực nghệ thuật cũng góp phần nhất định cho quá trình đổi mới văn

học Cách thức quản lý ngày càng tỏ ra có chuyên môn hơn, có ý thức tôn

trọng tài năng, khuyến khích sáng tạo cũng đã khiến người viết hăng hái hơn

trong việc làm mới mình Mặt khác, việc xâm nhập của văn học dịch khiến

bạn đọc có thêm điều kiện để mở mang “tầm đọc” của mình Những cách thể

hiện mới mẻ của văn học nước ngoài đã thống trị văn hóa đọc cũng là một áp

Trang 18

lực buộc văn học trong nước phải làm mới mình, phát triển để kịp tầm đón

đợi của người đọc Đặc biệt, lực lượng độc giả chuyên nghiệp cũng ngày càng

được mở rộng, họ vừa là bạn đọc, vừa là nhà phê bình, một phần định hướng

cách thức, khiến văn học không ngừng phải sáng tạo để không bị bạn đọc “bỏ

rơi”

Trên cơ sở đó, từ năm 1986 đến nay, văn học phát triển song song với những chuyển biến của đất nước Các nhà văn mang trong mình quan điểm

sáng tác mới, ngôn ngữ văn học được hiện đại hóa cho phù hợp với sự phát

triển của thời đại Không khí dân chủ trong đời sống xã hội đã tạo điều kiện

cho văn học phát triển mạnh mẽ và toàn diện Các thể loại văn học như thơ,

truyện ngắn, kí, tiểu thuyết phát triển khá đồng đều và có những bước đột phá

quan trọng, đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần làm nên diện mạo

phong phú cho văn học nước nhà

1.1.2 Những thành tựu của thể loại truyện ngắn

Thành tựu văn học nói chung không chỉ thể hiện ở thể loại truyện ngắn

mà nó bao quát toàn bộ đời sống văn học, trên nhiều thể loại, nhiều phương

diện Tuy nhiên, thành tựu nổi bật của văn xuôi Việt Nam đương đại được ghi

dấu đặc biệt bởi thể loại truyện ngắn Truyện ngắn là thể loại tập trung nhiều

yếu tố của một nền văn học đang đổi mới Truyện ngắn phát triển ồ ạt về số

lượng, mạnh mẽ về chất lượng Tất cả những bề bộn, đa chiều của cuộc sống

đều được đưa vào truyện ngắn một cách cụ thể, sinh động Do đặc trưng của

một thể loại có hình thức nhỏ, gọn nên truyện ngắn có thể luồn lách vào mọi

ngõ ngách tâm hồn con người, bám sát hiện thực đa chiều của cuộc sống,

thậm chí, soi rọi vào cả thế giới tâm linh Cũng bởi hình thức nhỏ gọn này và

thêm lợi thế của một thể văn xuôi, nên khác với thơ – trừu tượng và thiên cảm

xúc, khác với tiểu thuyết – cồng kềnh và kén bạn đọc, truyện ngắn chiếm

Trang 19

được nhiều hơn cả sự đón đợi của người đọc, chất xúc tác quan trọng để thể

loại này có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn so với các thể loại khác

Thành tựu ở thể loại truyện ngắn có thể được khái quát trên nhiều phương diện nổi bật Trước hết, có thể thấy được sự nở rộ, đua chen của các thế

hệ nhà văn trong hoạt động sáng tác Từ sau Đổi mới, chúng ta được chứng kiến

cảnh tượng văn học nước nhà khởi sắc với sự xuất hiện của những nhà văn ở các

lứa tuổi khác nhau, sinh ra trong hoàn cảnh lịch sử khác nhau, có thể gặp nhau

hoặc đối nghịch trong quan niệm về cuộc sống và văn chương, nhưng các thế hệ

cầm bút đều đang nỗ lực sáng tạo, ở mỗi thế hệ đều quy tụ những ngòi bút tạo

nên được một phong cách nghệ thuật của riêng mình

Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu, văn học đương đại Việt Nam từ năm 1975 đến nay trải qua ba giai đoạn: 1975 - 1985, 1986 – 1993 và 1994

đến nay, và ở mỗi giai đoạn đều có một thế hệ nhà văn đông đảo về số lượng,

đa dạng về phong cách văn học Trong đó, chặng hai từ 1986 đến những năm

đầu thập niên 1990 là giai đoạn quan trọng nhất Đây là giai đoạn đất nước

chuyển mình từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường với tất cả những biến

động của đời sống hết sức phong phú và phức tạp Truyện ngắn là thể loại phổ

biến, thích hợp với mọi công chúng, bạn đọc Quan niệm hiện thực của các

nhà văn đang mở ra những tầm nhìn mới, con người được nhìn nhận dưới góc

độ thế sự đời tư và được khám phá trong quan hệ với cõi đời, với mọi người

và chính nó Nhà văn quan tâm hơn đến số phận riêng tư, nhân cách, những

đấu tranh, giằng xé, lựa chọn và khát vọng, cả hạnh phúc lẫn khổ đau, được

mất, vui buồn của con người

Bởi vậy, giai đoạn này đánh dấu nhiều tên tuổi, tạo nên diện mạo mới cho văn học nước nhà Trước hết là sự đổi mới của các nhà văn đã có bề dày sáng tác

ở giai đoạn trước như Nguyễn Minh Châu – nhà văn tiên phong ở thể loại truyện

ngắn với những tác phẩm: Bức tranh (1982), Bến quê (1985), Cỏ lau (1987)

Trang 20

Nguyễn Minh Châu luôn ý thức “đi tìm hạt ngọc ẩn giấu bên trong bề sâu tâm

hồn con người” Bên cạnh đó là một Nguyễn Khải vẫn thống nhất và biến hóa

trong ngòi bút triết luận tỉnh táo Với cách kể chuyện tự nhiên, dân dã nhưng sâu

sắc, Nguyễn Khải đã góp phần không nhỏ vào sự đổi mới văn học với các tập

truyện ngắn Một người Hà Nội (1990), Một thời gió bụi (1993), Hà Nội trong

mắt tôi (1995) Xuất hiện vào thời kì đầu Đổi mới đóng góp chung nổi bật của

thế hệ nhà văn này là đoạn tuyệt với lối viết hiện thực tô hồng quen thuộc cũ để

nói lên sự thực bằng hình ảnh, bằng biểu tượng, bằng ẩn dụ, bằng kí hiệu ngôn

ngữ Một mặt, họ vừa phản ánh được bộ mặt thật của xã hội, mặt khác, họ đưa ra

lối viết độc đáo, trình bày hiện thực khác hẳn với những người đương thời Như

lời nhận xét của nhà phê bình Thuỵ Khuê về Nguyễn Huy Thiệp: Ông đã tạo ra

“khuynh hướng cực thực sắc bén, ngôn ngữ phũ phàng, cô đọng và đã ảnh

hưởng sâu xa đến những người đi sau” Đó cũng là tinh thần chung của thế hệ

nhà văn giai đoạn này

Từ cuối những năm 1990 đến nay, trong xu thế đời sống xã hội ổn định, văn học cơ bản cũng trở lại với quy luật mang tính đời thường, nhưng không

tách rời định hướng tư duy nghệ thuật trong những năm đầu đổi mới Thế hệ nhà

văn giai đoạn này còn rất trẻ, sinh ra trong những năm 70, 80 của thế kỷ trước,

họ đang rất nỗ lực sáng tạo những giá trị mới cho văn học Họ đã viết và đang

viết những tác phẩm vượt ra ngoài khuôn sáo cũ Nhiều cây bút có sự bứt phá

trong cách thể hiện từ đề tài, bút pháp tạo cho mình một phong cách rất riêng

Nguyễn Huy Thiệp khai thác nhiều đề tài với ngòi bút sắc lạnh đến tàn nhẫn

Phạm Thị Hoài có tập truyện ngắn Mê Lộ (1989) mang dấu ấn của triết học và kĩ

thuật phương Tây đậm nét Năm 2004, với truyện ngắn Bóng đè, Đỗ Hoàng

Diệu đã tạo nên một cuộc tranh luận sôi nổi trên văn đàn Tác phẩm được xây

dựng dựa trên một câu chuyện nhiều tính dục Với lối viết táo bạo, Đỗ Hoàng

Diệu đã qua những khát khao tình dục của người phụ nữ gửi đến độc giả những

Trang 21

thông điệp giàu ý nghĩa về cuộc sống Năm 2005, Nguyễn Ngọc Tư thật sự gây

ấn tượng trên văn đàn với truyện ngắn Cánh đồng bất tận Rồi Nguyễn Thị Thu

Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo, Y Ban, Hồ Anh Thái… Truyện ngắn của

các tác giả thường xoay quanh cuộc sống thường nhật ẩn chứa nhiều tư tưởng

sâu sắc So với truyện ngắn trước đó, giai đoạn này thật sự có một bước tiến mới

Sáng tác của những ngòi bút trẻ có sự đa dạng trong cách trình bày hiện thực,

chú ý đến nhiều khía cạnh khác nhau của xã hội hiện đại và sự can đảm nói lên

những điều đáng nói, không sợ sức ép của những tư tưởng bảo thủ

Có thể lược dẫn ở đây theo chiều vận động của thời gian và không gian mở

ra từ Đổi mới mà truyện ngắn đã tạo dựng Đoàn Lê, Nguyễn Quang Lập, Y

Ban, Tạ Duy Anh, Nguyễn Quang Thiều, Bảo Ninh là những “kiến trúc sư” lứa

đầu Xuất hiện trên các diễn đàn Sông Hương, Văn nghệ quân đội, Văn nghệ, họ

đã nhanh chóng khẳng định được ngòi bút của mình Y Ban, Tạ Duy Anh,

Nguyễn Quang Thiều đều định hình từ trong cuộc thi truyện ngắn 1989 của Văn

nghệ quân đội Riêng Tạ Duy Anh còn để lại một dấu ấn khó nhòa bằng truyện

ngắn xuất sắc Bước qua lời nguyền trên tuần báo Văn nghệ (1989) Cả ba nhà

văn này đều viết rất khỏe sau đó, gặt hái nhiều thành công, trở thành những cây

bút truyện ngắn vững chãi dù đặt bút ở nhiều thể loại Hòa Vang, Hồ Anh Thái,

Trần Đức Tiến, Phạm Ngọc Tiến, Cao Duy Sơn cũng xuất hiện cùng lúc này

nhưng những tác phẩm để lại nhiều tiếng vang đều từ thập kỷ 90 trở đi Cùng lúc

với sự xuất hiện của một thế hệ nhà văn mới: Võ Thị Hảo, Trần Thùy Mai,

Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Xuân Hà, Phan Thị Vàng Anh, Phan Triều Hải,

Lưu Sơn Minh … Ở đấy, những cây bút nữ đã để lại một ấn tượng sâu đậm về

nữ tính và nữ quyền Mỗi người một vẻ, họ đã làm thành một giai đoạn có thể

nói là rực rỡ nhất của văn học giới nữ Việt Nam Trong khi ở giới bên kia, cũng

định hình những giọng văn hết sức độc đáo và mới lạ, nhất là trong cách mà họ

ứng xử với xã hội và nghệ thuật Sang thế kỷ XXI, các nhà văn như Phong Điệp,

Trang 22

Đỗ Bích Thúy, Phạm Duy Nghĩa, Nguyễn Ngọc Thuần, Đỗ Hoàng Diệu, Trần

Nhã Thụy, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Danh Lam,…đã làm nên một gương mặt

truyện ngắn Có thể khẳng định mà không sợ quá lời rằng thành tựu của truyện

ngắn Việt Nam đương đại là rõ rệt, phong phú, đa dạng và sâu sắc

Các thế hệ nhà văn đang nỗ lực không ngừng trên con đường sáng tạo

Dù con đường họ đang đi có theo những ngã rẽ khác nhau nhưng họ đang

chung sức hợp lực để đưa nền văn học nước nhà phát triển, hoà nhập vào

dòng chảy hiện nay của văn học thế giới.Với ý thức sâu sắc về nghề nghiệp,

các nhà văn Việt Nam đang dồn hết tâm huyết, tài năng của mình để khai thác

những vỉa tầng nội dung mới và tìm tòi những thể nghiệm mới trong hình

thức nghệ thuật, từ đó đưa văn học nước nhà thoát khỏi quán tính của những

quan niệm văn học cũ, thoát khỏi sự trì níu của lối viết truyền thống để tiếp

cận với văn học hiện đại, hậu hiện đại thế giới

Thành tựu của truyện ngắn còn được thể hiện thông qua sự thay đổi của chủ đề, đề tài, cách viết Hiện thực cuộc sống ngày càng bộn bề, xã hội ngày

càng phức tạp Tư tưởng, tâm lí, tình cảm của con người hôm nay đã khác

trước rất nhiều Nhu cầu, thị hiếu thẩm mĩ của công chúng văn học cũng đã

thay đổi Nhiều vấn đề cốt lõi của cuộc sống cũng như của văn học trước đó

vốn được xem là chân lí hiển nhiên thì bây giờ cũng được xem xét lại, trở

thành những vấn đề tranh cãi, bàn thảo trong và ngoài giới văn học Các trào

lưu, khuynh hướng văn học và lí luận nghệ thuật hiện đại của thế giới được

giới thiệu ở Việt Nam, tác động tới sự tìm tòi, sáng tạo của nhà văn và làm

biến đổi cả thị hiếu công chúng Tất cả thay đổi đó “đặt hàng” cho văn học

Trang 23

Minh Châu “đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ” thì đổi mới

văn học như một lớp sóng dậy lên, liên tục cho đến hôm nay Nó cuốn đi

những quan niệm đã cũ về văn chương và những dấu tích của nó Thay vào đó

là những quan niệm mới về chức năng của văn học, chức năng của người

nghệ sỹ, quan niệm mới về hiện thực và con người… Văn học từ những năm

80 của thế kỉ trước đến nay được chứng kiến sự đổi mới mạnh mẽ trên nhiều

phương diện: đề tài, chủ đề và cách viết Bên cạnh sự đổi mới vẫn nằm trong

khuôn khổ của truyền thống, đáng chú ý có những cách tân hết sức táo bạo,

trở thành “mũi nhọn đột phá” vào quan niệm văn chương truyền thống

Không bằng lòng với những đề tài, chủ đề quen thuộc đã được khai thác trong các sáng tác của các nhà văn đi trước, những nhà văn của thời đại mới

đang rất nỗ lực để tìm tòi, khai phá những mảng hiện thực mới, hoặc nhìn

chúng dưới những góc nhìn mới Đó là một trong những con đường để xoá bỏ

“chủ nghĩa đề tài” đã thống trị một thời gian dài trong văn học nước ta và di

chứng của nó vẫn để lại cho đến hôm nay

Tương ứng với những khám phá về mặt nội dung ấy phải là những thể nghiệm mới về cách viết Bên cạnh những thể nghiệm đầy sáng tạo, mang tính

thẩm mĩ, có giá trị nghệ thuật cao còn có những sáng tạo phi thẩm mĩ, mang tính

cực đoan, gây ra nhiều tranh cãi Nhưng những thay đổi về hình thức ấy đã

chứng tỏ rằng văn học hiện nay đang đứng trước nhu cầu đổi mới rất quyết liệt

mong tạo nên những giá trị đích thực của thời đại mới Văn xuôi thời kì đổi mới

đã đem lại nhiều tìm tòi, biến đổi trong nghệ thuật trần thuật Nếu trong mỗi sáng

tác của văn xuôi truyền thống thường chỉ xuất hiện một điểm nhìn thì giờ đây nó

được chuyển dịch vào nhiều nhân vật, nhiều người kể chuyện với nhiều điểm

nhìn khác nhau để mỗi nhân vật có thể tự nói lên quan điểm, thái độ của mình và

để cho các ý thức cùng có quyền phát ngôn, cùng đối thoại

Trang 24

Văn xuôi đương đại không còn quá đề cao vai trò của cốt truyện như trong truyền thống mà có xu hướng nới lỏng cốt truyện Vai trò của cốt truyện

bị hạn chế một cách tối đa, thậm chí không có cốt truyện hoặc có nhưng bị

đảo lộn một cách không có trật tự hoặc là sự sắp xếp những mảng không hề

quen biết bên cạnh nhau Về nghệ thuật xây dựng nhân vật, văn xuôi có nhiều

nét mới, tiểu biểu là: nhân vật được xây dựng như một đề án mở và nhân vật

mang tính chất biểu trưng

Truyện ngắn vốn là một thể loại nổi trội trong văn xuôi hiện đại Việt Nam Từ thời kì đổi mới, truyện ngắn cũng được đa dạng hóa về kiểu loại

Truyện ngắn thế sự nhằm thể hiện một mảnh nhỏ của dòng đời chảy trôi miên

viễn, truyện ngắn triết luận rất gần với ngụ ngôn, truyện ngắn như là tiểu

thuyết rút gọn lại, truyện ngắn gần với bút ký ghi lại những cảm xúc của một

cá nhân… Đó là những loại truyện phổ biến hiện nay Loại truyện ngắn

“mini” được rộ lên ở một thời điểm, như là sự chống lại lối viết truyện ngắn

quá dài trong truyền thống

Sự đổi mới của văn học không chỉ do sự thay đổi của hiện thực cuộc sống, thị hiếu thẫm mĩ của công chúng văn học… mà còn xuất phát từ quy

luật nội tại của văn học Sáng tạo là quy luật bất biến của văn học Văn học

luôn phải đổi mới, tự làm mới mình Các nhà văn không thể bằng lòng với

cách viết cũ, cách nghĩ cũ mà phải luôn tìm tòi và khám phá Văn học đã trải

qua một chặng đường dài với không biết bao nhiêu sáng tạo, tìm tòi của người

nghệ sỹ, tạo nên những huyền thoại, những cây cổ thụ trùm bóng lên một thời

đại, những thành công đóng đinh vào lịch sử Trên một nền hiện thực, trong

một hạn định của ngôn từ dường như người đi trước đã khai thác đến kiệt

cùng Đây là thời văn chương (của sự) cạn kiệt (chữ dùng của John Barth)

Phải chăng càng về sau, người nghệ sỹ càng bị/ được quy luật sáng tạo của

Trang 25

văn chương câu thúc, dồn đẩy? Những rào cản phải vượt qua là động lực lớn

thôi thúc người nghệ sỹ sáng tạo nên những giá trị mới

Một thành tựu nổi bật nữa của các thể loại văn xuôi nói chung và thể loại truyện ngắn nói riêng là sự thay đổi quan niệm về đối tượng phản ánh của văn

học, tức là sự thay đổi quan niệm về hiện thực, con người của các nhà văn

Hiện thực được phản ánh không còn giản đơn, xuôi chiều, không còn bó hẹp

trong một phạm vi nhất định nào như trước đây Mặt tiêu cực, mặt trái của

hiện thực, cái xấu, cái ác được mổ xẻ, phanh phui đến tận cùng Hiện thực

nhiều khi xuất hiện trong tác phẩm là cái chưa biết, không thể biết hết, hiện

thực phức tạp cần khám phá, tìm tòi Con người cũng được nhìn nhận với tất

cả những phức tạp, những góc khuất, những bí ẩn, những tầng sâu không thể

khám phá hết, cùng những khát vọng, nhu cầu mang tính nhân bản Không

còn con người hoàn hảo, hoàn toàn “sạch sẽ”, mà chỉ còn những nhân vật

khuyết thiếu, “không trùng khít với chính mình”, mang trên mình những bụi

bặm của đời Các sáng tác của các nhà văn: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị

Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo, Châu Diên,

Thuận, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư… thể hiện một cách rõ nét những

đổi mới đó

Sự thành công của truyện ngắn thời đổi mới, hình như cho thấy những kinh nghiệm lựa chọn thể loại đã lặp lại một lần nữa, trong cách truyện ngắn

chiếm giữ vị trí thống soái trên văn đàn, như đã từng có ở cuộc tiếp xúc với

thế giới bên ngoài mấy chục năm đầu thế kỷ XX Người ta hay cắt nghĩa hiện

tượng này dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, ở phẩm tính ưa những

cái đẹp nhỏ nhắn, hài hòa, tinh tế và/hoặc dựa vào tâm lý sáng tạo của nhà

văn Việt Nam, cũng ở tài năng tỉa tót, đẽo gọt những cái đẹp nhỏ nhắn, hài

hòa, tinh tế Nhưng có một thực tế vượt lên trên những diễn giải mang nặng

tính chất ý hệ như vậy: kết quả của nỗ lực làm mới ý thức và ngôn ngữ văn

Trang 26

chương Dấn thân xã hội hay thuần túy nghệ thuật hình như không đơn thuần

xuất phát từ các trạng huống của quá trình đổi mới Chính sự tham dự của nhà

văn vào đời sống hiển hiện như một lựa chọn tất yếu ngẫu nhiên đã mở rộng

biên độ nghệ thuật cho nhà văn trong việc đồng nhất hoạt động văn chương và

hoạt động xã hội Đó là một đặc điểm rất độc đáo của văn học từ Đổi mới Và

truyện ngắn đã làm tốt được điều này một phần cũng nhờ chính vào tính chất

ngắn gọn và chụp bắt thời điểm của nó Một cách có ý thức và trách nhiệm

1.2 Tác giả Nguyễn Dậu và hành trình sáng tác

1.2.1 Tác giả Nguyễn Dậu

Nhà văn Nguyễn Dậu tên khai sinh là Nguyễn Ngọc Song, gọi theo họ

mẹ là Trương Mẫn Song Ông quê gốc ở huyện Hoài Đức, Sơn Tây, nay

thuộc Hà Nội Nguyễn Dậu sinh ngày 25 - 10 - 1930 tại xóm Cống Xuất, khu

Xi măng Hải Phòng

Là một nhà văn nhưng ông còn là một người lính, và cuộc đời binh nghiệp của ông bắt đầu khi ông mới 15 tuổi Ông học xong lớp Nhất trường

Giăng Duypuy (Jean Dupuis) cũng là lúc cách mạng tháng 8 nổ ra, Nguyễn

Ngọc Song tham gia công tác tuyên truyền địch vận ở Hải Phòng Tháng 11,

năm 1946, ông gia nhập quân đội, học trường Thiếu sinh quân rồi phục vụ ở

bộ binh, pháo binh, quân y Sau cách mạng Trung Quốc thành công năm

1950, ông được quân đội cử sang Trung Quốc học khóa đào tạo sĩ quan

Hoà bình lập lại, ông chuyển ngành làm việc ở phòng Văn nghệ quân đội thuộc Tổng cục chính trị, rồi lần lượt công tác ở xưởng phim, biên tập viên Nhà

xuất bản phổ thông, tòa soạn báo Văn nghệ và công tác tại Sở văn hoá Hà Nội

Giai đoạn này, ông là một trong số rất ít nhà văn trẻ thời ấy dám từ bỏ cuộc sống

phố phường Hà Nội, “tha lôi” cả vợ con theo mình về tận vùng than Cẩm Phả để

lao động và viết văn Những người thợ mỏ thấy Nguyễn Dậu là người lanh lợi

liền bầu ông làm tổ trưởng tổ cuốc than trong hầm lò Thống Nhất Ngoài thời

Trang 27

gian đi lò, về đến nhà Nguyễn Dậu lại ngồi vào bàn cặm cụi ghi lại những cảm

xúc, góp nhặt những chi tiết đời sống để thai nghén nên tác phẩm

Hai năm lăn lộn ở vùng than, Nguyễn Dậu trở thành một thợ lò thực thụ

Rồi một tai nạn lao động đã khiến ông buộc phải bỏ nghề Nhưng nhờ có thời

gian làm thợ cuốc than này, Nguyễn Dậu đã có tư liệu và cảm hứng để viết

nên bộ tiểu thuyết Mở hầm Dù thiên tiểu thuyết ấy có lúc đã gặp phận chìm

nổi lênh đênh, nhưng đến nay, những người am tường văn học Việt mỗi khi

nhớ lại thời kỳ đầu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc vẫn

không quên nhắc đến những tác phẩm như Mở hầm của Nguyễn Dậu, Phá vây

của Phù Thăng, và coi đó như là một ghi nhận về những cuốn sách của một

thời đã qua

Không còn đủ sức khỏe đi lò cuốc than nữa, Nguyễn Dậu trở về Hà Nội tiếp tục tìm cho mình một cuộc phiêu du mới Ông vẫn quyết đeo đuổi đồng

hành cùng nghiệp văn chương mơ ước của mình Lần này Nguyễn Dậu lên

mỏ thiếc Tĩnh Túc, về Hải Phòng, rồi vào Khu 4, đến công trường, xưởng

máy, trận địa thâm nhập thực tế, tìm hiểu lấy tài liệu sáng tác

Trong giai đoạn giặc Mỹ bắn phá miền Bắc, Nguyễn Dậu có mặt ở hầu khắp các vùng đất máy bay Mỹ bắn phá ác liệt nhất như là một phóng viên

chiến tranh Ông đã đến các trọng điểm vùng Thanh - Nghệ Tĩnh như cầu

Bùng, cầu Giát, phà Ghép… Trong suốt những tháng ngày ngút trời bom đạn,

sục sôi khí thế chiến đấu ấy, Nguyễn Dậu bất chấp hiểm nguy, quên hết mọi

nỗi riêng tư sống chết, dành toàn bộ tâm lực cho khát vọng lớn của mình là đi,

sống và viết

Trước cũng như trong thời gian này, Nguyễn Dậu lại tiếp tục công bố

dồn dập các tập truyện ngắn mới Huệ ngọc, Trở lại đảo (Nhà xuất bản Phổ

thông), Người ngoại ô (Nhà xuất bản Văn học), cùng với hàng trăm bài báo

phản ánh không khí chiến đấu nóng hổi ngoài tuyến lửa nơi mình đang bám

Trang 28

trụ Sau năm 1975, để sinh nhai, Nguyễn Dậu đi vào miền Nam, sang tới đất

Campuchia, đến đầu những năm 80 mới quay về Hà Nội và trở lại văn đàn với

hàng loạt truyện ngắn, trong đó nhiều truyện đã gây được tiếng vang khá lớn,

ghi một dấu ấn mới trong lòng bạn đọc

Quãng thời gian sống ẩn dật ở Hà Nội, Nguyễn Dậu nổi tiếng trong giới

tứ chiếng Hà Thành Có nhiều câu chuyện truyền miệng xung quanh cuộc đời

ông phó cạo – nhà văn Nguyễn Dậu Tuy cuộc sống cực khổ, gặp nhiều hắt

hủi nhưng Nguyễn Dậu vẫn giữ được cách sống phong lưu nghệ sĩ, có trách

nhiệm và say mê với đời Ban ngày, dẫu vất vả kiếm từng đồng bạc để mưu

sinh, thì ban đêm, nhà văn vẫn say mê với từng con chữ Nghiệp cầm bút,

tưởng đã lãng quên ông, nay lại trở lại, dồi dào sinh lực, nảy nở những ý

tưởng mới, cách viết mới Những tác phẩm ông để lại trong giai đoạn này,

cũng như những câu chuyện văn chương bên lề đã cho thấy tinh thần sống

tích cực đó của nhà văn Nguyễn Dậu rất có trách nhiệm bảo vệ những di sản

văn hóa Hà Nội, nhất là vấn đề bảo tồn rùa Hồ Gươm, ông từng viết bút kí

Rùa Hồ Gươm như một cách lên tiếng đầy trách nhiệm bằng văn chương Đây

cũng là thời gian thai nghén nhiều tập truyện ngắn, đánh dấu một thời kì mới

trong văn nghiệp của ông, đưa Nguyễn Dậu vào hàng tên tuổi những nhà văn

đương đại với cái nhìn mới, cách thể hiện mới về cuộc sống

Được hưởng thụ nền giáo dục Tây học từ nhỏ, lớn lên trải qua nhiều trường lớp nhà binh, học tập ở nước ngoài, Nguyễn Dậu có một nền tảng văn

hóa vững vàng, bài bản, có cơ hội tiếp thu những nền văn hóa hiện đại từ

sớm Điều này cũng đã góp phần tạo nên phong cách hiện đại trong văn

chương của ông Nguyễn Dậu cũng sớm có mặt từ những ngày đầu cách mạng

Tháng Tám nổ ra, trưởng thành theo từng giai đoạn lịch sử của đất nước và

cảm nhận được không khí của từng thời kì Từ đấu tranh chống ngoại xâm

đến công cuộc xây dựng kinh tế đất nước, nhà văn mang trong mình ăm ắp

Trang 29

chất liệu để viết nên những trang văn mang đầy hơi thở lịch sử, thời cuộc Sự

nghiệp văn chương của ông trải dài suốt chặng dài cuộc chiến chống Pháp,

chống Mỹ, bước sang cả địa hạt văn học sau Đổi mới, và trở thành một cái tên

không thể không nhắc đến trong đội ngũ những nhà văn đương đại Việt Nam

Sự kiện tiểu thuyết Mở hầm bị phê phán là cú sốc lớn trong cuộc đời

Nguyễn Dậu Nhà văn tưởng đã vĩnh viễn bỏ nghiệp văn chương, nhưng hai

mươi tám năm sau, ông lại viết, viết một cách hăm hở, háo hức, và vẫn vẹn

nguyên say mê Những người bạn văn đương thời của ông vẫn kể về ông với

biết bao trân trọng và yêu mến, xen lẫn cả cảm thương chính bởi tình yêu vừa

mãnh liệt, vừa ngây thơ của ông dành cho văn chương, cái ngây thơ đáng quý

bởi nó giúp ông bảo toàn được tài năng và đam mê của mình

Tìm hiểu về nhà văn Nguyễn Dậu, có thể thấy cuộc đời ông đã trải qua nhiều thăng trầm, vui ít nhưng buồn nhiều Tuy thế, ông luôn giữ cho mình

được một trái tim nồng đượm yêu thương, luôn náo nức trước thời cuộc và

sẵn sàng xả thân cho lí tưởng Tuy đã có lúc gặp phải những tai ương cay

đắng, nhưng ông vẫn hết lòng tin yêu và bền bỉ sáng tác Tinh thần đó đã

được chuyển hóa vào trong thành tựu văn nghiệp của ông với hành trình gần

năm mươi năm cầm bút

1.2.2 Hành trình sáng tác

Nhà văn Nguyễn Dậu gia nhập làng văn từ lúc 25 tuổi (1955), bắt đầu

từ tiểu thuyết Nữ du kích Cam Lộ và đặc biệt đã trở thành một hiện tượng

đương thời làm sửng sốt nhiều người với tiểu thuyết Mở hầm (1961) Và

chỉ trong một thời gian rất ngắn ông đã có hàng loạt tập truyện ngắn và tiểu

Trang 30

ở giai đoạn này ngồn ngộn sức sống của sự tươi nguyên, đó cũng chính là

kết quả từ những tháng ngày lăn lộn với thực tế lao động ở các nhà máy,

hầm mỏ để thu nhận tư liệu từ cuộc sống của những người thợ Các tác

phẩm tiêu biểu giai đoạn này là các tiểu thuyết Đôi bờ (Nxb Thanh niên,

1958), Mở hầm (Nxb Thanh niên, 1961), Vòm trời Tĩnh Túc (Nxb Lao

Động, 1963), các tập truyện ngắn Ánh đèn trong lò (Nxb Văn học, 1961),

Huệ Ngọc (Nxb Văn học, 1962)…

Chặng thứ hai là những sáng tác sau Đổi mới Bẵng đi hai mươi tám

năm sau sự kiện Mở hầm bị phê phán, Nguyễn Dậu lại cầm bút với nguyên

vẹn tình yêu dành cho văn chương và thể hiện một bút lực mới, và như ông

nói, “để viết bù cho mấy chục năm không viết” Mở đầu với truyện ngắn

Ngựa phi trong bão tuyết in trên Tuần báo Người Hà Nội, hơn hai mươi

truyện ngắn của Nguyễn Dậu ào ạt xuất hiện trên các báo: Văn nghệ, Văn

nghệ Quân đội, Người Hà Nội, Lao động, Tác phẩm mới Trong đó, có

nhiều truyện vào loại xuất sắc, như Con thú bị ruồng bỏ, Mật rắn, Rùa hồ

Gươm, Chó sói gửi chân…

Vào tuổi sáu mươi, bút lực Nguyễn Dậu dồi dào lạ thường Từ văn phong, lối mô tả, cách khai thác đề tài đến ý tưởng tác phẩm, người đọc có thể

thấy một Nguyễn Dậu tài hoa và sâu sắc hơn người Trong Ngựa phi trong

bão tuyết nhân vật Nguyễn Tầm Tư có số phận đầy thua thiệt, nhưng vẫn sống

được, vẫn giữ được tâm hồn và khí phách của mình trước cuộc sống Nguyễn

Tầm Tư, sau này, còn xuất hiện nhiều lần trong các tác phẩm khác của

Nguyễn Dậu Một lần, ông thổ lộ rằng, Tầm Tư, tiếng Việt nói lái thành Từ

Tâm (có nghĩa là lòng thành) Và Tầm Tư, trong tiếng Hán, hàm nghĩa tìm

tòi, suy nghĩ, lại hàm nghĩa sự rút ruột nhả tơ của con tằm (ti tư cũng là tơ,

tằm tơ) Như thế, Nguyễn Tầm Tư là nhân vật nhà văn ký thác tâm nguyện và

chí hướng của ông Chỉ hơn hai mươi truyện ngắn xuất hiện trong một thời

Trang 31

gian ngắn, Nguyễn Dậu trở thành nhà văn được nhiều bạn đọc yêu quý, cả

bạn đọc từng biết văn chương của ông ba mươi năm trước, cả bạn đọc sinh

sau những năm sáu mươi Ông viết về những con chó săn của một ông tướng,

mà thật nhiều niềm vui và đau đớn Ông viết về những con rùa ở Hồ Gươm,

mà thật nhiều lo âu, phấp phỏng, buồn thương Ông viết về mật rắn, về ngựa

nòi, về câu cá bằng một hiểu biết sâu sắc về thiên nhiên cũng như những suy

ngẫm thẳm sâu về cõi người Ông trình bày những chuyện về con người với

tất cả sự chiêm nghiệm của ông suốt mấy chục năm trường phiêu bạt Người

đọc được tiếp nhận từ những truyện ngắn Nguyễn Dậu nhiều bài học về cuộc

sống lăn lóc đầy khổ đau Qua văn ông, người đọc thấy yêu thêm đồng loại,

thấy tin ở những ngày sắp tới Ngay sau khi xuất hiện ào ạt trên báo, hơn hai

mươi truyện ngắn của Nguyễn Dậu được xuất bản thành sách Và sách của

ông cũng liên tiếp ra đời: Tiểu thuyết Nàng Kiều Như (Nxb Lao Động 1993),

các tập truyện ngắn Con thú bị ruồng bỏ (Nxb Hội nhà văn, 1994), Rùa Hồ

Gươm (Nxb Hà Nội, 1994), Đôi hoa tai lóng lánh (Nxb Văn học, 1995),

Hương khói lòng ai (Nxb Văn học, 1995), Phật tại tâm (Nxb Văn học, 1997),

Bảng lảng hoàng hôn (Nxb Văn học, 1997)…Văn phong giai đoạn này của

ông giản dị, trầm tĩnh, tìm đến sự sâu lắng trong xúc cảm, không ào ạt, sắc

bén như văn chương thời kỳ trước đây Cho đến những ngày cuối cùng của

cuộc đời, ông vẫn không ngừng cầm bút sáng tác Chấm dứt kiếp hoang chính

là truyện ngắn cuối cùng của ông được in trên mặt báo chỉ ít ngày sau khi ông

qua đời vào ngày 24 tháng 07 năm 2002 tại Hải Phòng

Vốn thông thạo Pháp văn, Trung văn lại có năng khiếu văn nghệ nên trong thời gian phục vụ trong quân đội, Nguyễn Dậu đã sáng tác thơ ca, tấu

hài, kịch, chèo Ngoài ra ông còn có một số ấn phẩm dịch thuật khác, là một

dịch giả với nhiều tác phẩm khá nổi tiếng như: Bí thư xã, Người da đen nước

Mỹ, Ngôi sao đỏ Đổng Tôn Thuỵ đăng in trên một số tạp chí nước ngoài

Trang 32

Nguyễn Dậu là một nhà văn cần cù miệt mài làm việc với một ý thức đầy tinh thần trách nhiệm về người cầm bút Trong bài viết "Đội ngũ nhà văn Việt

Nam viết truyện ngắn đương đại" của nhà nghiên cứu Lê Dục Tú in trên Văn

nghệ Quân đội ra ngày 8/11/2012, nhà văn Nguyễn Dậu được nhắc đến trong

đội ngũ những nhà văn gạo cội đã "lột xác", đổi mới ngòi bút để bắt kịp với

những biến chuyển của thời cuộc, bên cạnh các gương mặt quen thuộc khác

như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Vũ Bão, Nguyễn

Kiên, Mai Ngữ, Đỗ Chu, Dương Duy Ngữ, Phạm Hoa, Xuân Thiều

Đánh giá về ông, đã có một số bài viết, những nhận định sâu sắc Theo tác giả Nguyễn Đình Thi: “Nguyễn Dậu là một cây bút sắc sảo và bạo dạn”

Ngô Vĩnh Bình lại có nhận xét so sánh ví von: “Nếu có thể ví văn đàn với

bóng đá thì nhà văn Nguyễn Dậu là cầu thủ hiệp một đá khá xuất sắc, hiệp hai

bị treo giò, vào đá hai hiệp phụ lại ghi được những bàn thắng đẹp mắt làm

mọi người hân hoan và sửng sốt Trong bài viết Di chúc của người “Mở

hầm”, tác giả Bảo Vũ với một sự ái mộ và nể phục người đàn anh trong văn

chương này đã nhận định: “Nói đến sự nể phục đối với một nhà văn là không

cần thiết Anh ta đi qua cõi đời này với sứ mệnh của một nhà truyền giáo Đó

là công việc khuyến thiện và tôn vinh Con Người Trong giáo phái có thể anh

ta chỉ ở đẳng cấp thấp; nhưng những gì người thầy tu khổ hạnh ấy để lại cho

đời, dù chỉ là một dấu vết mờ nhạt thôi, cũng đủ để người ta cúi mình trước

nấm mồ của anh”

Tác giả Anh Chi trong bài viết Nhà văn Nguyễn Dậu, trình bày một cách

khá toàn diện về cuộc đời cũng như sự nghiệp văn chương của Nguyễn Dậu

và đã đưa ra được một số nhận xét khái quát về từng mảng sáng tác của nhà

văn này Với mảng tác phẩm thứ nhất: “Nguyễn Dậu lăn xả vào thực tế lao

động ở các nhà máy hầm mỏ; và với sức trẻ, ông viết say mê, gấp gáp Văn

ông giai đoạn đó ngồn ngộn sức sống Sự tươi nguyên, nên có thể bị coi là tự

Trang 33

nhiên chủ nghĩa” Với mảng tác phẩm thứ hai: “Văn ông giai đoạn này vững

vàng về bố cục, mạnh bạo trong suy tư, sắc sảo trong mô tả, và đặc biệt sâu

lắng trong xúc cảm”

Có thể thấy, cả trên văn đàn và trong đời sống thường ngày, nhà văn Nguyễn Dậu đã thể hiện mình là một tài năng, một nhân cách lớn, được bạn

bè đồng nghiệp và bạn đọc nhiều thế hệ yêu mến Trong tiến trình truyện ngắn

đương đại Việt Nam, nhà văn Nguyễn Dậu cùng với các tên tuổi lớn khác đã

làm nên một giai đoạn rực rỡ trong văn học nước nhà Tìm hiểu về sự nghiệp

văn chương của ông, mà cụ thể là ở lĩnh vực sáng tác truyện ngắn, sẽ đưa lại

cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về nhà văn Nguyễn Dậu, một nhà văn xứng

đáng nhận được sự ưu ái và mến mộ của bạn đọc qua nhiều thời kì

Trang 34

TIỂU KẾT

Văn học Việt Nam đã và đang trải qua một giai đoạn vô cùng sôi động

và đạt được nhiều thành tựu từ sau khi chiến tranh kết thúc Những đổi thay

của cuộc sống hòa bình mang lại đã tạo nên một bối cảnh thuận lợi cho văn

học nghệ thuật được cởi trói và bung cánh Trên bệ phóng thuận lợi về lịch sử,

xã hội và văn hóa, văn học Việt Nam đương đại đã ghi dấu ấn với nhiều

những tên tuổi nhà văn có sức sáng tạo dồi dào, có ý thức làm mới văn

chương để bắt kịp với đời sống mới, con người mới Trong đó, truyện ngắn

Việt Nam đương đại đã cho thấy ưu thế của mình và thành tựu nổi bật hơn cả

Là một nhà văn khởi bút từ trong chiến tranh, bước sang thời kì Đổi mới,

Nguyễn Dậu trở lại với một bút lực mới mẻ, dồi dào, say sưa với nghiệp viết

Cuộc đời và văn nghiệp nhiều sóng gió, truân chuyên của Nguyễn Dậu không

làm ông thui chột niềm yêu nghề, yêu đời mà trái lại, như một chất xúc tác

ngược, làm ông thêm say sưa, viết là để trả nợ những năm tháng trầm luân

của cuộc đời mình Bên cạnh đó, Nguyễn Dậu còn cũng cho thấy một quan

niệm về nghệ thuật vô cùng sâu sắc Với ông, nghề viết không chỉ để phụng

sự nghệ thuật và đam mê cá nhân mà còn là phương tiện để thanh lọc cuộc

sống, khơi dậy thiện lương ở con người Thế giới nghệ thuật đặc sắc trong văn

chương ông được thể hiện trên nhiều phương diện, sẽ được làm rõ ở những

chương sau

Trang 35

CHƯƠNG 2: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN

NGUYỄN DẬU

2.1 Giới thuyết về nhân vật văn học

Nhà văn Tô Hoài cho rằng: “nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác” [26, tr 127] Theo đó, nhân vật không

chỉ là nơi bộc lộ tư tưởng, chủ đề tác phẩm mà còn là nơi tập trung các giá trị

nghệ thuật của tác phẩm Như vậy nói đến nhân vật văn học là nói đến những

con người cụ thể bằng xương bằng thịt được nhà văn xây dựng trong tác phẩm

thông qua các phương tiện văn học Theo từ điển thuật ngữ văn học: “nhân vật

văn học là những con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân

vật văn học có thể có tên riêng Tấm, Cám, chị Dậu, anh Pha, cũng có thể không

có tên riêng như thằng bán tơ, một mụ nào trong Truyện Kiều… Khái niệm nhân

vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể

nào cả, mà chỉ một hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm Chẳng hạn có thể

nói: nhân dân là nhân vật chính trong Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc,

đồng tiền là nhân vật chính trong Ơ-gê-ni Gơ-răng-đê của Banzac” [48, tr 135]

Những sự vật, những đồ vật này trở thành nhân vật khi được "người hóa",

nghĩa là cũng mang tâm hồn tính cách như con người Cho nên không phải ngẫu

nhiên mà nhà văn Tô Hoài đã cho "chiếc quan tài" trong truyện ngắn cùng tên

của Nguyễn Công Hoan là nhân vật Ông viết: "Trong truyện ngắn Chiếc quan

tài của Nguyễn Công Hoan nhân vật không phải là người mà là một chiếc quan

tài Nhưng chiếc quan tài ấy chẳng phải là vô tri mà là một sự thê thảm, một bản

án tố cáo chế độ thảm khốc thời Pháp thuộc Như vậy "chiếc quan tài" cũng là

một thứ nhân vật" [26, tr 1262] Tuy nhiên, “nhân vật văn học là một đơn vị

nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong

đời sống” [48, tr 38]

Trang 36

Biểu hiện nhân vật trong tác phẩm rất đa dạng Có nhân vật hiện ra khá đầy đặn từ ngoại hình cho đến nội tâm, từ hành động cho đến tiểu sử như

trong tác phẩm tự sự Có nhân vật lại chỉ hiện ra qua ngôn ngữ như trong kịch

bản văn học Có nhân vật lại chỉ được bộc lộ qua cảm xúc, ý nghĩa như nhân

vật trong tác phẩm trữ tình Lại có nhân vật không được miêu tả chân dung,

ngoại hình, hành động nhưng người đọc vẫn nhận ra qua "giọng văn" như

nhân vật người kể chuyện Có nhân vật hiện ra như con người bình thường ở

ngoài đời Lại có nhân vật hiện ra với hình ảnh "ba đầu sáu tay", "mặt xanh

nanh vàng" như quỉ sứ, hay lăn tròn long lóc như "sọ dừa" Có nhân vật chỉ

đơn giản là những con vật, những đồ vật được nhân hóa Có thể nói nhân

vật hiện ra muôn màu, muôn vẻ Nhận diện nhân vật văn học là một việc làm

quan trọng được đặt ra Muốn nhận diện nhân vật cần phải căn cứ vào những

đặc điểm gắn liền với nhân vật Trước hết có thể dựa vào tên gọi của nhân vật

Thông thường mỗi nhân vật đều có tên gọi riêng, có thể đó là một cái tên

riêng cụ thể như Thạch Sanh, Sơn Tinh, Thủy Tinh, Thúy Kiều, Kim Trọng,

Chí Phèo, Huấn Cao, v.v Ngoài ra cũng có khi chúng ta dựa vào tên gọi

theo dấu hiệu nghề nghiệp, đặc điểm giới tính, tiểu sử, hay một đặc điểm đặc

biệt nào đó của nhân vật như bác nông dân, lão địa chủ, chàng mồ côi, thằng

ngốc, chú lùn, chàng thợ săn, bà hoàng hậu, nàng công chúa, chàng hoàng

tử Và cũng có khi tên nhân vật trong tác phẩm là tên gọi những con vật, đồ

vật đã được nhân hóa như mèo con, cáo, thỏ, rùa, cái bàn, bông hoa, cành

cây , hoặc là tên gọi những nhân vật tưởng tượng: mụ phù thủy, con quỉ ba

đầu sáu tay, Ngọc Hoàng, Diêm Vương, Thần, Tiên, Bụt

Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào riêng tên gọi thì có khi chưa nhận diện đúng nhân vật, chẳng hạn với loại nhân vật là những con vật, đồ vật được

nhân hóa Do đó, với loại nhân vật này, cần phải xem đã được "người hóa"

chưa, nghĩa là những nhân vật này đã được tác giả gắn cho những đặc điểm

Trang 37

mang tính chất người như biết nói, biết suy nghĩ, biết buồn vui? Cho nên sau

tên gọi thường là những đặc điểm về tiểu sử, tính cách của nhân vật Nhưng,

ngay từ tên gọi thì nhiều đặc điểm của các nhân vật đã được bộc lộ như anh

trai cày, chàng ngốc, mụ phù thủy Các đặc điểm nghề nghiệp tiểu sử, tính

cách đã cho độc giả nhận biết nhân vật một cách sâu sắc hơn ý nghĩa xã hội

mà nhân vật khái quát

Nhân vật văn học cũng có những đặc điểm khác với nhân vật của các loại hình nghệ thuật khác Trước hết do hình tượng văn học là hình tượng "phi

vật thể" cho nên nhân vật văn học là nhân vật của tưởng tượng, liên tưởng chứ

không phải "hữu hình", "nhìn thấy được" như trong điêu khắc, hội họa hay

điện ảnh, sân khấu Qua ngôn từ, người đọc tưởng tượng và hình dung nhân

vật theo khả năng liên tưởng của mình Qua văn Nam Cao người đọc hình

dung ra Lão Hạc, Lang Rận, Trương Rự, Thứ, Điền, Hộ Qua văn Nguyễn

Tuân người đọc tưởng tượng vẻ đẹp đầy khí phách của Huấn Cao, vẻ đẹp

cường tráng của người lái đò sông Đà Khả năng và đặc điểm liên tưởng của

mỗi người không giống nhau cho nên nhân vật văn học được cảm nhận cũng

không hoàn toàn giống nhau Mỗi người sẽ có "gương mặt" nhân vật riêng

của mình Mặt khác, do hình tượng văn học là hình tượng "thời gian" cho nên

nhân vật văn học là nhân vật quá trình Nhân vật văn học hiện dần ra trong

quá trình Muốn tiếp nhận được người đọc phải "hồi cố", nhớ lại những gì xảy

ra cho nhân vật trước đó Nói gọn lại, nhân vật trong tác phẩm văn học là

những con người hay những sự vật mang cốt cách của con người được xây

bằng các phương tiện của nghệ thuật ngôn từ

Ý nghĩa của nhân vật thể hiện ở khả năng biểu đạt của nó trong tác phẩm

Sáng tạo ra nhân vật, nhà văn nhằm thể hiện những cá nhân xã hội nhất định và

các quan niệm về các nhân vật đó trong các quan hệ xã hội Mỗi nhân vật xuất

hiện sẽ là một "tiếng nói" của nhà văn về con người, về cuộc đời Đọc một nhân

Trang 38

vật do vậy ta không chỉ hiểu một số phận, một cuộc đời mà còn hiểu ý nghĩa

cuộc đời đằng sau mỗi số phận đó Đằng sau số phận nàng Kiều là những khái

quát về "tài - mệnh", "tài - tình" trong xã hội lúc bấy giờ Đằng sau "số đỏ" của

Xuân Tóc Đỏ không chỉ là sự "may mắn" của một anh nhặt ban quần mà còn là

suy xét về sự "lên ngôi" của cái giả, những chuyện tưởng như "biết rồi" mà vẫn

phải "khổ lắm, nói mãi" Cho nên không thể đánh giá, phán xét nhân vật như

những con người thật ngoài đời, mà phải đánh giá ở những khái quát nghệ thuật

mà nó thể hiện qua tác phẩm Có như vậy mới xem xét nhân vật như là một hiện

tượng thẩm mĩ chứ không phải như một hiện tượng xã hội học

Sức sống của một nhân vật ngoài tính sinh động của sự miêu tả còn chính là ý nghĩa điển hình mà nó khái quát Những nhân vật xây dựng thành

công và có sức sống lâu bền đều là những nhân vật có giá trị điển hình sâu

sắc Đó là những nhân vật không chịu nằm yên trên trang sách mà đã bước từ

trang sách ra giữa cuộc đời Đó là những nhân vật đã làm cho tên tuổi các nhà

văn trở thành bất tử

2.1.1 Đặc điểm nhân vật trong văn học giai đoạn trước 1986

Marxim Gorki đã từng nói “văn học là nhân học”, tức là khoa học về con người Bởi vậy, con người và quan niệm về con người là trung tâm của văn

học Con người trong văn học không phải con người tự nhiên trần trụi, cũng

không phải con người xã hội chung chung mà là con người cụ thể đã được mã

hóa qua cái nhìn chủ quan của người nghệ sĩ, là biểu hiện cụ thể, sinh động

quan niệm nghệ thuật và thế giới quan của nhà văn vào con người

Nhân vật là hình thức cơ bản để miêu tả con người, để thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Quan niệm nghệ thuật về con

người là sự cắt nghĩa, lý giải, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành

các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo

nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó

Trang 39

Một nền nghệ thuật mới bao giờ cũng ra đời với con người mới, với cách hiểu mới về con người, hoặc bắt đầu bằng việc suy nghĩ lại các khám phá

nghệ thuật của những người đi trước Văn học Đổi mới cũng bắt đầu từ việc

thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người, đó là điều kiện nảy sinh những

kiểu nhân vật mới mà trước kia chưa có

Văn học giai đoạn trước năm 1986 với quan niệm về con người anh hùng nên gắn liền với nó là kiểu nhân vật duy nhất – nhân vật sử thi Nhìn nhận

một quá trình văn học của nước ta trong khoảng năm mươi năm gần đây, có

thể thấy được sự thay đổi trong việc tạo dựng hình tượng nhân vật Trong giai

đoạn trước thời kì đổi mới, tức là trước năm 1986, nhân vật văn học còn chịu

ảnh hưởng của kiểu xây dựng nhân vật truyền thống Nhân vật trong truyện

ngắn chủ yếu là kiểu nhân vật loại hình, con người được nhìn nhận ở góc độ

con người cộng đồng, con người công dân với những nét tính cách đơn giản,

xuôi chiều Hình tượng trung tâm của văn học giai đoạn này là người chiến sĩ,

nông dân, công nhân… trên các mặt trận chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ

quốc Mặc dù số lượng các tác phẩm văn xuôi thời kì này rất phong phú

nhưng nhìn chung nhân vật ít có khuôn mặt chung Các tác phẩm văn học chủ

yếu mang khuynh hướng sử thi nên nhân vật luôn hiện lên với tư thế “con

người sống với cộng đồng, xả thân vì nghĩa lớn, tìm thấy ý nghĩa cuộc đời

trong sự gắn bó với cộng đồng… Con người quen sống trong quần thể ít có

dip đối diện với bản thân, sống với chính mình” [ 42, tr 36]

Sự đổi mới ở quan niệm nghệ thuật về con người thì vấn đề nhân vật của

văn xuôi “Hậu chiến”, những tác phẩm viết về chiến tranh sau chiến tranh sau

1975 trở thành vấn đề trung tâm của người sáng tác cũng như giới nghiên cứu,

phê bình Cảm hứng chính của văn xuôi “hậu chiến” là suy ngẫm về chiến

tranh trong hoàn cảnh mới, của những con người vừa bước ra khỏi chiến

tranh, người còn khét mùi bom đạn, suy nghĩ, hành động còn đậm “chất

Trang 40

lính” Từ trước cao trào Đổi mới, trong bài tiểu luận Viết về chiến

tranh (1978), Nguyễn Minh Châu đã đặt ra câu hỏi cho hướng đi của tiểu

thuyết nói riêng,văn xuôi nói chung về đề tài chiến tranh sau chiến tranh Sự

lựa chọn duy nhất là “phải viết về con người” với “tất cả những mặt tính cách

đa dạng, phải phơi bày trong đời sống thực” mà đã nhiều thập kỉ qua “tạm

thời giấu mình trên trang sách” Tiểu thuyết chiến tranh không thể để các

nhân vật bị sự kiện lấn át, “chỉ đóng vai trò làm đường dây để xâu các sự kiện

lại với nhau” [8, tr 24] Với độ lùi thời gian năm, mười năm là đủ để nhà văn

nhìn lại quá khứ với những suy nghĩ, chiêm nghiệm sâu sắc về số phận con

người ở khía cạnh mà trước đây luôn bị “gác lại” trước số phận dân tộc: khía

cạnh bi kịch cá nhân Cảm hứng bi kịch là cội nguồn cho sự xuất hiện của một

loại nhân vật mang diện mạo tinh thần hoàn toàn mới trong văn xuôi về chiến

tranh sau 1975 Sự xuất hiện của kiểu nhân vật mới trong văn xuôi chiến tranh

- con người suy tư, con người bi kịch - là dấu hiệu quan trọng khẳng định sự

đổi mới tư duy nghệ thuật và xác lập lộ trình mới của văn học Việt Nam hiện

đại Trong văn học trước 1986 nhân vật trung tâm đáng chú ý nhất là hình

tượng người lính, họ đi ra từ chiến tranh nên có nhiều suy ngẫm về vấn đề số

phận con người trước cuộc sống mới, những suy nghĩ về cái sự được và mất

trong cuộc đời Người lính trong văn xuôi hậu chiến, họ không xuất hiện

trong những sự kiện đạn bom ác liệt mà chủ yếu trong trạng thái suy tư, chiêm

nghiệm, “sống với thời gian hai chiều” Người lính trong tiểu thuyết hậu chiến

vừa là con người của thời hiện tại, của cuộc sống thường ngày vừa là con

người của quá khứ trong nhu cầu nhận thức lại quá khứ ấy Cho nên, họ cô

đơn, lạc lõng trong cuộc sống hiện tại, còn quá khứ tuy đã thành ký ức nhưng

luôn là nỗi ám ảnh khôn nguôi, đeo đẳng suốt cuộc đời họ Hệ quả của nhận

thức mới về lịch sử, về hiện thực và con người đã khiến văn xuôi hậu chiến

dần hướng vào việc khám phá người lính dưới góc độ cá nhân, đời tư Sự đổi

Ngày đăng: 30/06/2023, 08:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1996), Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại, Văn hóa, (số 9), tr.29-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Văn hóa
Năm: 1996
2. Tạ Duy Anh (chủ biên) (2000), Nghệ thuật viết truyện ngắn và ký, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật viết truyện ngắn và ký
Tác giả: Tạ Duy Anh
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2000
3. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
4. Lê Huy Bắc (2015), Văn học hậu hiện đại, lý thuyết và tiếp nhận, Nxb Đại học sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại, lý thuyết và tiếp nhận
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Đại học sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2015
5. Lê Huy Bắc (1998), Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại, Tạp chí văn học, (số 9), tr. 66-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 1998
6. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975-1995, những đổi mới cơ bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975-1995, những đổi mới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
7. Nguyễn Thị Bình (2012), Văn xuôi Việt Nam sau 1975, Nxb Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2012
8. Nguyễn Minh Châu (1995), Trang giấy trước đèn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang giấy trước đèn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1995
9. Nguyễn Dậu (1961), Mở hầm, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mở hầm
Tác giả: Nguyễn Dậu
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1961
10. Nguyễn Dậu (1990), Con thú bị ruồng bỏ, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con thú bị ruồng bỏ
Tác giả: Nguyễn Dậu
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1990
11. Nguyễn Dậu (1991), Rùa Hồ Gươm, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rùa Hồ Gươm
Tác giả: Nguyễn Dậu
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1991
12. Nguyễn Dậu (1995), Nhọc nhằn sông Luộc, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhọc nhằn sông Luộc
Tác giả: Nguyễn Dậu
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1995
13. Nguyễn Dậu (1996), Đôi hoa tai lóng lánh, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi hoa tai lóng lánh
Tác giả: Nguyễn Dậu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1996
14. Nguyễn Dậu (1997), Bảng lảng hoàng hôn, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảng lảng hoàng hôn
Tác giả: Nguyễn Dậu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1997
15. Nguyễn Dậu (2000), Gió núi mây ngàn, Nxb Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gió núi mây ngàn
Tác giả: Nguyễn Dậu
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2000
16. Đoàn Ánh Dương (2014)á Khụng gian văn học đương đại, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khụng gian văn học đương đại
Tác giả: Đoàn Ánh Dương
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2014
17. Đặng Anh Đào (1993), Hình thức mới trong truyện ngắn hôm nay, Tạp chí văn học, (số 3), tr32-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thức mới trong truyện ngắn hôm nay
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 1993
18. Đặng Anh Đào (1991), Một hiện tƣợng mới trong hình thức kể chuyện hôm nay, Tạp chí văn học, (số 6), tr.4-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một hiện tƣợng mới trong hình thức kể chuyện hôm nay
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 1991
19. Hà Minh Đức (2002), Những thành tựu của văn học Việt Nam trong thời kì đổi mới, Tạp chí văn học, (số 7), tr4-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thành tựu của văn học Việt Nam trong thời kì đổi mới
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 2002
20. Hà Minh Đức (chủ biên) (1995), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w