Đánh giá các dịch vụ hỗ trợ với nhóm phụ nữ bị BLGĐ GVHD TS Nguyễn Thị Như Trang ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BÙI THỊ TUYẾT NHUNG ĐÁNH GIÁ CÁC DỊCH VỤ HỖ TRỢ VỚI[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
BÙI THỊ TUYẾT NHUNG
ĐÁNH GIÁ CÁC DỊCH VỤ HỖ TRỢ VỚI NHÓM PHỤ NỮ BỊ
BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI TRUNG TÂM CUNG CẤP DỊCH
VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÀ NỘI
LUẬN V N THẠC S CÔNG TÁC XÃ HỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN V N
-
BÙI THỊ TUYẾT NHUNG
ĐÁNH GIÁ CÁC DỊCH VỤ HỖ TRỢ VỚI NHÓM PHỤ NỮ BỊ
BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI TRUNG TÂM CUNG CẤP DỊCH
VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÀ NỘI
LUẬN V N THẠC S CHUYÊN NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số: 60 90 01 01
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Như Trang
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Luận văn này là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực
tiếp của T.S Nguyễn Thị Nhƣ Trang
Việc trích dẫn trong luận văn đã được thực hiện nghiêm túc, cẩn trọng đúng quy định
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm nếu có việc sao chép không hợp lệ, vi phạm
quy chế đào tạo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
của mình Để đạt được kết quả này, trước nhất, tôi xin chân thành cảm ơn TS
Nguyễn Thị Như Trang – người đã tận tâm chỉ bảo, động viên hướng dẫn tôi trong
suốt quá trình làm luận văn
Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các thầy, cô giáo trong
khoa Xã hội học – Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội đã tận tình dạy bảo, dìu dắt, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và
nghiên cứu tại trường
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ban lãnh đạo Trung tâm Cung cấp
dịch vụ công tác xã hội cùng các cán bộ, nhân viên đang làm việc tại Trung tâm đã
nhiệt tình tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập và nghiên cứu tại cơ sở
Xin cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã luôn động viên, hỗ trợ tôi trong
suốt thời gian qua
Tôi xin chân thành cảm ơn./
Hà Nội, ngày 16/12/2016
Người thực hiện
Bùi Thị Tuyết Nhung
Trang 5NVCTXH: Nhân viên công tác xã hội
NVTV: Nhân viên tư vấn
Trang 6Bảng 2.7: Đánh giá của nhóm phụ nữ bị BLGĐ về mức độ thay đổi của bản thân
sau khi được hỗ trợ tại Trung tâm CCDVCTXH
Bảng 2.8: Mức độ chuyên nghiệp trong các dịch vụ hỗ trợ phụ nữ bị BLGĐ tại
Trung tâm CCDVCTXH
Bảng 2.9: Đánh giá của cán bộ, NVXH tại phòng tư vấn và quản lý đối tượng về
hiệu quả dịch vụ hỗ trợ phụ nữ bị BLGĐ tại Trung tâm CCDVCTXH
Bảng 2.10: Thống kê số lượng cán bộ, nhân viên tại Trung tâm theo độ tuổi
Bảng 2.11: Kinh nghiệm và trình độ, chuyên môn của cán bộ, NVXH phòng Tư vấn
và trợ giúp đối tượng
DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.2: Các hình thức BLGĐ với phụ nữ tại TTCCDVCTXH
Biểu đồ 2.3: Thời gian bị BLGĐ của phụ nữ tại TTCCDVCTXH
Biểu đồ 2.4: Thống kê hoạt động của phòng tham vấn
Biểu đồ 2.5: Mối quan hệ giữa CBQLTH với các phòng, ban chức năng
Biểu đồ 2.6: Quy trình quản lý trường hợp
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Tính cấp thiết của đề tài 4
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 5
3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 13
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 13
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
6 Phương pháp nghiên cứu 14
7 Cơ cấu của luận văn 15
NỘI DUNG 16
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH 16
1.1 Những vấn đề lý luận 16
1.1.1 Khái niệm 16
1.1.2 Các hình thức bạo lực gia đình 19
1.1.3 Đặc điểm phụ nữ bị bạo lực gia đình 20
1.1.4 Một số lý thuyết tiếp cận trong công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình 21
1.1.5 Các cơ sở pháp lý của hoạt động hỗ trợ đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình 27
1.2 Cơ sở thực tiễn 35
1.2.1 Các dịch vụ - mô hình hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực gia đình hiện có 35
1.2.2 Các mô hình hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực gia đình đã triển khai 38
1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (Trung tâm cung cấp dịch vụ Công tác xã hội TP.Hà Nội) 48
1.3.1 Sơ đồ tổ chức Trung tâm 48
1.3.2 Chức năng 49
1.3.3 Đối tượng phục vụ 49
1.3.4 Nhiệm vụ, quyền hạn. 50
Trang 8Tiểu kết chương 1 52
Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CÁC DỊCH VỤ HỖ TRỢ VỚI NHÓM PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI TRUNG TÂM CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 53
2.1 Quy trình tiếp nhận phụ nữ bị bạo lực gia đình tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội 53
2.1.1 Quy trình tiếp nhận đối tượng thông thường 53
2.1.2 Quy trình tiếp nhận đối tượng khẩn cấp 56
2.2 Đặc điểm vấn đề bạo lực gia đình với nhóm phụ nữ tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội 61
2.2.1 Các hình thức Bạo lực gia đình 61
2.2.2 Thời gian bị bạo lực gia đình 64
2.2.3 Hậu quả của Bạo lực gia đình với phụ nữ tại Trung tâm Cung cấp dịch vụ Công tác xã hội Hà Nội 66
2.3 Thực trạng các dịch vụ hỗ trợ nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình được tiếp nhận tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thành phố Hà Nội 68
2.3.1 Hoạt động tư vấn 69
2.3.2 Hoạt động hỗ trợ kết nối nguồn lực 81
2.3.3 Hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức 83
2.3.4 Hoạt động hỗ trợ hồi gia 85
2.4 Đánh giá về hiệu quả các dịch vụ hỗ trợ với nhóm phụ nữ bị BLGĐ tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội TP Hà Nội 87
2.4.1 Đánh giá chung về Trung tâm CCDVCTXH trong hiệu quả các dịch vụ trợ giúp nhóm phụ nữ bị BLGĐ 87
2.4.2 Đánh giá về hiệu quả các dịch vụ hỗ trợ với nhóm phụ nữ bị BLGĐ tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội TP Hà Nội 88
Tiểu kết chương 2 94
Trang 9Chương 3 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ CỦA CÁC DỊCH VỤ
HỖ TRỢ PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI TRUNG TÂM CUNG CẤP
CÁC DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI 95
3.1.Yếu tố giới tính, tuổi và trình độ chuyên môn của cán bộ Trung tâm 95
3.1.1 Yếu tố giới tính, tuổi 95
3.1.2 Yếu tố kinh nghiệm và trình độ chuyên môn của nhân viên xã hội 97
3.2 Yếu tố Kinh phí tiếp nhận, nuôi dưỡng đối tượng tạm thời 99
3.4 Yếu tố đặc điểm đối tượng 103
3.5.Yếu tố nhận thức của gia đình, cộng đồng 104
3.6 Trường hợp điển cứu 107
Tiểu kết chương 3 109
KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự biến đổi nhiều mặt về kinh tế, chính trị, xã hội, từ vi mô đến vĩ mô, từ cá
nhân đến cộng đồng, từ kinh tế đến chính trị đã làm biến đổi tất cả và gia đình cũng
không nằm ngoài phạm vi này Bạo lực gia đình được coi là một dạng tệ nạn xã hội
gây hậu quả ở nhiều mức độ lên đời sống gia đình và xã hội, ảnh hưởng trực tiếp
đến nhân cách và quá trình phát triển của mỗi cá nhân, gián tiếp tạo nên mầm mống
các tệ nạn và tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội Đối tượng của hành vi bạo lực
trong gia đình thường là những thành viên yếu đuối, dễ bị tổn thương và trong hầu
hết các trường hợp thường là phụ nữ, người già và trẻ em Luật Bình đẳng
giới là đạo luật mang số 73/2006/QH11 được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam khoá XII thông qua vào ngày 29 tháng 11 năm 2006 và có hiệu lực
thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 Luật này quy định về bình đẳng giới ở Việt
Nam Đó là hành lang pháp lý để đảm bảo công bằng xã hội
Trong các năm từ 2011 – 2015 (ở nước ta) có 157.859 vụ bạo lực gia đình,
trong đó nạn nhân là nữ chiếm 74,24% Trong số 492.520 vụ ly hôn đã giải quyết
thì nguyên nhân từ bạo lực gia đình chiếm 83,78% Mỗi năm có hơn 8.000 vụ ly
hôn mà nguyên nhân từ bạo lực gia đình Đây là thông tin được đại biểu Điểu
Huỳnh Sang (Bình Phước), phát biểu tại Quốc hội sáng 10/11/2016 Kết quả nhiều
cuộc khảo sát và báo cáo địa phương cho thấy, hiện nay bạo lực gia đình đã gây ra
những hậu quả cho phụ nữ và xã hội nói chung Nạn nhân của BLGĐ rất cần sự
giúp đỡ của xã hội và cộng đồng Hiện nay trên toàn quốc đã có nhiều mô hình can
thiệp trợ giúp phụ nữ bị BLGĐ Ví dụ: “mô hình trợ giúp pháp lý”, “mô hình nhóm
nhỏ”, “mô hình nhà tạm lánh” Các mô hình trên đã thực hiện nhiều dịch vụ khác
nhau nhằm hỗ trợ tốt nhất cho phụ nữ bị BLGĐ, được an toàn, được động viên, an
ủi, sớm được trở lại với đời sống bình thường với một nhận thức mới, vị thế mới
Trung tâm Cung cấp dịch vụ Công tác xã hội Hà Nội là đơn vị sự nghiệp công
lập trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Là đơn vị cung cấp các dịch
vụ công tác xã hội cho các đối tượng xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội theo quy
định của pháp luật Tuy mới thành lập được gần 3 năm nhưng đối tượng gặp vấn đề
bị bạo lực gia đình tới Trung tâm ngày càng tăng, đặc biệt là bạo lực phụ nữ Thực
Trang 11tế cho thấy bạo lực gia đình cũng đang là một vấn nạn của toàn xã hội mà bản thân
người phụ nữ trong gia đình thường giấu kín, e ngại khi đề cập, chia sẻ hoặc tìm
kiếm sự hỗ trợ từ các thành viên trong gia đình hay cơ quan chức năng
Đề tài tập trung đi sâu tìm hiểu những dịch vụ hỗ trợ đối với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình của Trung tâm cung cấp dịch vụ Công tác xã hội TP.Hà Nội nhằm
phất triển chất lượng và hiệu quả của các dịch vụ dưới góc độ Công tác xã hội Góp
phần phản ánh về vấn nạn phụ nữ bị bạo lực gia đình, cùng xã hội đẩy lùi bạo lực
gia đình, giúp phụ nữ giảm bớt phần nào những căng thẳng, khủng hoảng từ bạo lực
gia đình mang lại khiến họ tự tin hơn để tái hòa nhập với cuộc sống
Vì vậy, dựa trên thực tiễn xã hội tôi chọn đề tài “Đánh giá các dịch vụ hỗ trợ nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình được tiếp nhận tại Trung tâm cung cấp dịch vụ
Công tác xã hội TP Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm gần đây bạo lực gia đình đã trở thành một vấn đề nóng thu hút
được nhiều sự quan tâm của toàn xã hội Không chỉ riêng giới chuyên môn mà các
nhà truyền thông, báo chí cũng đã tốn không ít giấy mực khi bàn đến vấn đề này
Nhiều công trình nghiên cứu, các cuộc hội thảo chuyên ngành đã được diễn ra ở cả
trong nước và quốc tế Mỗi công trình nghiên cứu lại đưa đến những cách tiếp cận
khác nhau khi bàn về vấn đề BLGĐ, đóng góp vào cái nhìn chung cho lĩnh vực này
Trong số các nghiên cứu của nước ngoài, phải kể đến đóng góp của nhà nữ
quyền Dobash với cuốn sách “Violence Against Wives” (Tạm dịch là Bạo lực
chống lại những người vợ - 1979) là một trong những công trình nghiên cứu nổi
tiếng về BLGĐ Nghiên cứu được tiến hành ở Scotland bao gồm những cuộc phỏng
vấn sâu và phỏng vấn không chính thức 137 phụ nữ đang lánh nạn vì bạo lực của
người chồng Trong số đó, có tới 84% các trường hợp phụ nữ bị tấn công lần đầu
tiên trong 3 năm đầu của hôn nhân Dobash đã chỉ ra nguyên nhân chính của các vụ
bạo lực trong hôn nhân là do uy quyền của người chồng và sự phụ thuộc của người
phụ nữ vào đàn ông Uy quyền của người chồng thường được khơi tỏa bởi sự ghen
tuông, tình dục, con cái, tiền nong, say rượu … Dobash cũng chỉ ra rằng phụ nữ bị
bạo lực thường có xu hướng quay lại với người chồng bạo lực vì bị phụ thuộc về
Trang 12kinh tế và lo lắng về sự thiếu vắng vai trò của người bố đối với con cái của họ
Chính từ những lo lắng đó nên khi xảy ra bạo lực, những người phụ nữ thường
không muốn đi trình báo cảnh sát hoặc cơ quan chức năng Do vậy, họ thường
không nhận được sự hỗ trợ từ gia đình, cộng đồng hay các dịch vụ phúc lợi
Năm 2004, cuốn sách “Healing the trauma of domestic violence” (Hàn gắn
những khủng hoảng sang chấn của BLGĐ) của Esward.S.Kubany xuất bản tại
Canada đã đề cập đến các kĩ thuật giúp những phụ nữ là những nạn nhân bị BLGĐ
có thể vượt qua được những khủng hoảng, sang chấn do bạo lực đem lại
Năm 2005, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) phối hợp với Trường Dược nhiệt đới
của Mỹ đã thực hiện một nghiên cứu đa quốc gia với chủ đề “Women’s Health
and Domestic Violence against Women” (Sức khỏe phụ nữ và BLGĐ chống lại
phụ nữ) Nghiên cứu đã tiếp cận với phụ nữ trên 10 quốc gia bao gồm Bawngladet,
Brazin, Ethiopia, Nhật, Peru, Namibia, Samoa, Serbia và Montenegro, Thái Lan và
nước Cộng hòa Tanzania cho thấy có 15% đến 71% phụ nữ phải chịu đựng một
hình thức bạo lực nào đó về thể xác và tình dục ngay trong gia đình họ và đây là vấn
đề có tính chất toàn cầu hiện đang xảy ra ở cả các nước phát triển lẫn các nước đang
phát triển Chi phí kinh tế cũng rất đáng quan tâm – một báo cáo năm 2003 của
Trung tâm kiểm soát và phòng bệnh Mỹ ước tính rằng chi phí cho những vụ bạo lực
do người quen biết gây ra chỉ tính riêng ở Mỹ cũng đã lên đến 5,8 tỷ đô la mỗi năm;
4,1 tỷ cho các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khoẻ trực tiếp và 1,8 tỷ cho những thiệt
hại về khả năng lao động
Với cách tiếp cận vào thủ phạm gây bạo lực, cuốn sách “Stop
domesticviolence” (Chấm dứt bạo lực) của David.B Waxler xuất bản tại Mỹ năm 2006
đã đề xuất cách thức trị liệu nhóm dành cho nam giới là thủ phạm gây BLGĐ; trong đó,
tập trung vào hình thức trị liệu nhận thức hành vi, xây dựng các kĩ năng, cách thức
kiểm soát cảm xúc bản thân với nguyên tắc lấy thân chủ làm trọng tâm
Báo cáo về “Nghiên cứu sâu về bạo hành với phụ nữ” được Tổng thư ký
LHQ trình bày tại kỳ họp lần thứ 61 của Đại hội đồng LHQ là một tài liệu quan
trọng thể hiện rõ tình hình bạo lực đối với phụ nữ đang diễn ra ở 71 quốc gia trong
phạm vi nghiên cứu Báo cáo đã chỉ ra các yếu tố dẫn đến bạo lực đối với phụ nữ ở
Trang 13các quốc gia trong phạm vi nghiên cứu là việc sử dụng bạo lực để giải quyết những
mâu thuẫn và xung đột, quan điểm “riêng tư”, sự thờ ơ của các cấp ban ngành và
một số yếu tố nguy cơ ở cấp độ cá nhân, gia đình và cộng đồng khác Báo cáo đã
phản ánh một cách khái quát về tình hình bạo lực với phụ nữ trên Thế giới, cùng các
hình thức biểu hiện, các chỉ số và hậu quả của nó Báo cáo cũng chỉ ra những hoạt
động có triển vọng nhằm giải quyết vấn nạn này như: chú trọng vào pháp luật và
cung cấp các dịch vụ phòng ngừa Bên cạnh đó, báo cáo cũng chỉ ra những thách
thức, khó khăn không nhỏ cho nhân loại trong công tác phòng chống, ngăn chặn bạo
lực đối với phụ nữ như: nguồn lực mỗi quốc gia khác nhau, thiếu hụt ngân quỹ,
thiếu sự xử phạt, thiếu sự đánh giá hay các cách tiếp cận toàn diện
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về BLGĐ, tuy nhiên các công trình
nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc nêu lên thực trạng và đưa đến những giải
pháp và cũng chưa có công trình nghiên cứu nào xây dựng mô hình can thiệp cho
nhóm phụ nữ chịu ảnh hưởng của bạo lực gia đình trên góc độ của ngành công tác
xã hội
Ở Việt Nam, cũng có rất nhiều những đóng góp của nhiều tác giả nghiên cứu
trong lĩnh vực này Chuyên gia nghiên cứu về Giới và Gia đình – tác giả Lê Thị
Quý là người đã có nhiều công trình nghiên cứu về BLGĐ Có thể kể đến như bài
viết “Một số vấn đề về Bạo lực gia đình hiện nay” được đăng trên Tạp chí Khoa
học về phụ nữ năm 1991 Trong bài viết tác giả đã nhận định nghiên cứu một cách
toàn diện, sâu sắc và đề ra phương hướng giải quyết thỏa đáng, tích cực về vấn đề
BLGĐ … là một công việc không chỉ mang tính chất nhân đạo mà còn góp phần
nâng cao không ngừng địa vị và vai trò của người phụ nữ trong xã hội Tác giả đã
điểm qua tình hình BLGĐ ở nước ta và chỉ rõ những nguyên nhân của tình trạng
này là do: tư tưởng trọng nam khinh nữ, chênh lệch giàu nghèo, hủ tục lạc hậu, đạo
đức lối sống suy đồi, tệ nạn xã hội, trình độ văn hóa thấp … Tác giả cũng đã đưa ra
một số khuyến nghị để giải quyết tình trạng BLGĐ
Năm 1994, tác giả Lê Thị Quý tiếp tục có bài viết “Bạo lực gia đình ở Việt
Nam” đăng trên tạp chí Khoa học và Phụ nữ Trong bài viết, tác giả đã chỉ ra năm
nguyên nhân chính của nạn BLGĐ là: nguyên nhân kinh tế, nguyên nhân nhận thức,
Trang 14nguyên nhân văn hóa – xã hội, nguyên nhân sức khỏe, nguyên nhân từ phía những người
phụ nữ, và một nguyên nhân sâu xa nhất là sự bất bình đẳng trong quan hệ giới
Công trình nghiên cứu “Bạo lực trên cơ sở giới” (1999) của TS Vũ Mạnh Lợi,
Vũ Tuấn Huy, Nguyễn Hữu Minh – thuộc Viện nghiên cứu Gia đình và Giới tiến
hành ở ba thành phố: Hà Nội, Huế, TP HCM Trong nghiên cứu các tác giả đã đi
sâu tìm hiểu về thái độ của cộng đồng và các thiết chế xã hội về bạo lực trên cơ sở
giới, tìm hiểu phản ứng của các cá nhân, luật pháp và các thiết chế đối với nạn
BLGĐ Trong nghiên cứu các tác giả cũng cho thấy tình trạng bạo lực gia đình đang
có chiều hướng gia tăng tại ba thành phố trong địa bàn nghiên cứu, đặc biệt là trong
những gia đình mà người phụ nữ đang thực hiện và khẳng định vai trò kinh tế hộ
Tuy nhiên nghiên cứu này vẫn chưa đưa ra được hướng giải quyết trực tiếp giúp chị
em phụ nữ bị bạo lực gia đình nâng cao được năng lực của bản thân, từ đó họ có thể
tự giúp bản thân họ vươn lên, thoát khỏi hoàn cảnh
Năm 2000, tác giả Lê Thị Quý tiếp tục có cuốn sách “Domestic Violence in
Viet Nam” ( Bạo lực gia đình ở Việt Nam) do tổ chức Asia Pacific Forum on
Women, Law and Development (Diễn đàn Châu Á Thái Bình Dương về Phụ nữ ,
Luật Pháp và Phát triển – APWLD) xuất bản Trong cuốn sách, tác giả đã trình bày
kết quả một cuộc khảo sát xã hội học về BLGĐ tại ngoại thành Hà Nội Bằng những
dẫn chứng cụ thể tác giả đã làm rõ tình hình BLGĐ ở địa bàn nghiên cứu bằng việc
phân chia rõ hai hình thức bạo lực: bạo lực nhìn thấy được và bạo lực không nhìn
thấy được Tác giả cũng chỉ ra những nguyên nhân của tình trạng trên là đói nghèo,
căng thẳng vì kiếm sống, nguyên nhân văn hóa – xã hội, phong tục tập quán, sự
khủng hoảng của các mối quan hệ trong gia đình và nhóm nguyên nhân thuộc về
người phụ nữ
Năm 2001, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiến hành thực hiện đề tài: “Bạo
lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam” tại ba tỉnh: Thái Bình, Lạng Sơn và Tiền
Giang Đề tài tiến hành tìm hiểu nhận thức, thái độ của người dân và các cán bộ thi
hành pháp luật của các tổ chức đoàn thể xã hội tại địa phương Đề tài cũng đã chỉ ra
được những nguyên nhân và hậu quả của nạn BLGĐ đối với phụ nữ và phản ứng
của nạn nhân trước những hành vi bạo lực
Trang 15Năm 2006, nghiên cứu “BLGĐ – nhận thức và thực trạng” của tác giả Hoàng
Bá Thịnh thực hiện tại 6 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Thanh Hóa, Nam Định, Quảng
Ngãi, Đồng Tháp, Trà Vinh đã cho thấy: Phần lớn nhận thức của người dân tại 6 địa
bàn trên về BLGĐ còn rất hạn chế Có những hành vi bạo lực nhưng người dân lại
không quan niệm đó là BLGĐ như: ép buộc làm chuyện gì đó, ép buộc quan hệ tình
dục, không cho ra khỏi nhà … Không những thế, trong nhận thức của hầu hết người
dân tại địa bàn nghiên cứu cho rằng BLGĐ là chuyện riêng của mỗi nhà Đặc biệt,
không chỉ người dân quan niệm như vậy mà ngay đến chính cán bộ xã, phường
cũng cho rằng BLGĐ là chuyện nội bộ, gia đình tự giải quyết Tác giả cũng chỉ ra
những hậu quả của bạn BLGĐ đối với phụ nữ như: gây thương tích trên thân thể,
tổn thương về tinh thần, ly hôn, thậm chí dẫn đến cái chết trực tiếp hoặc gián tiếp
cho người phụ nữ Trong đó, phần lớn những cái chết gián tiếp là do người phụ nữ
tự tử bằng thuốc sâu, thuốc chuột
Cùng năm 2006, hai tác giả Magali Romedenne và Vũ Mạnh Lợi đã xuất bản
cuốn sách “Bạo lực gia đình: Sự thay đổi ở Việt Nam” – Kết quả và khuyến nghị từ
một dự án của UNFPA và SDC (Cơ quan hợp tác và phát triển của Thụy Sỹ) Trong
cuốn sách, các tác giả đã phản ánh những hậu quả của BLGĐ đối với phụ nữ, trẻ
em, phúc gia đình và cộng đồng Từ đó, các tác giả cũng đưa ra các mô hình để giải
quyết vấn đề này: mô hình truyền thông kết hợp, mô hình giáo dục và tập huấn, mô
hình câu lạc bộ và mô hình can thiệp khẩn cấp Trong cuốn sách, các tác giả cũng
nêu lên những bài học kinh nghiệm nhằm tăng cường hiệu quả của các hoạt động
phòng chống BLGĐ như: thực hiện trao quyền cho phụ nữ, hợp tác với nam giới và
nhiều ban ngành trong việc phòng chống BLGĐ, khuyến khích các sáng kiến của
người dân…
Nhóm tác giả Nguyễn Hữu Minh, Lê Ngọc Lân, Nguyễn Thị Mai Hoa, Trần
Thị Cẩm Nhung cùng nghiên cứu “Bạo lực của chồng đối với vợ ở Việt Nam trong
những năm gần đây” (2006) đã đưa ra nhận định: chủ thể gây ra BLGĐ là người
chồng, người bạn đời hoặc chồng cũ Nghiên cứu cũng chỉ ra những khác nhau
trong hình thức bạo lực gia đình giữa hai khu vực là thành thị và nông thôn Theo
đó, ở nông thôn thường diễn ra hình thức bạo lực về thể chất, còn ở thành thị
Trang 16thường là hình thức bạo lực về tinh thần và tình dục Qua nghiên cứu, các tác giả
cũng đưa ra những khuyến nghị nhằm giải quyết vấn đề BLGĐ như: cần nâng cao
nhận thức của các cấp lãnh đạo về BLGĐ đối với phụ nữ, đồng thời cần tiến hành
nghiên cứu toàn diện về bạo lực trong gia đình nhằm tìm hiểu sâu nguyên nhân, hậu
quả của vấn đề để có những can thiệp kịp thời và hợp lý
Điều tra gia đình Việt Nam – năm 2006, nghiên cứu không chỉ tập trung vào
bạo lực gia đình với phụ nữ mà còn những mục tiêu rộng và dàn trải hơn là tập
trung vào mối quan hệ gia đình, giá trị, chuẩn mực gia đình, kinh tế phúc lợi gia
đình Điều tra gồm cả nam và nữ Những câu hỏi về bạo lực được đặt ra cho cả nam
và nữ trong độ tuổi từ 18 – 60, những người ngoài độ tuổi này trong nhà cũng được
phỏng vấn Phỏng vấn ngay trực tiếp tại nhà của họ không có tính đảm bảo riêng tư
và bảo mật thông tin Bạo lực được xác định bởi 3 câu hỏi với nội dung: một hành
vi bạo lực thể xác (đánh đập), một hành vi bạo lực tình dục (quan hệ tình dục ngoài
ý muốn), một hành vi bạo lực tinh thần (chửi bới) Thêm một câu hỏi về “dỗi hờn”
(giận nhưng không nói ra) đây là câu hỏi không liên quan đến xác định bạo lực
Năm 2007, với tác phẩm “Bạo lực gia đình – một sự sai lệch giá trị” của hai
tác giả tác giả Lê Thị Quý và Đặng Vũ Cảnh Linh đã một lần nữa cho thấy được
tính cấp thiết của những đề tài nghiên cứu về vấn đề bạo lực gia đình Bên cạnh
những lý luận chung về BLGĐ, hai nhà nghiên cứu còn đưa ra những nhận xét, mô
tả, phân tích rất chi tiết một số nghiên cứu can thiệp trong thực tiễn về BLGĐ và
một số dự án phòng chống BLGĐ ở Việt Nam tại các địa bàn: Hà Nội, Phú Thọ,
Thái Bình, Huế Nhiều mô hình phòng chống BLGĐ đã được đưa ra phân tích như
mô hình truyền thông; mô hình can thiệp và cứu giúp nạn nhân; mô hình tư vấn, hỗ
trợ về tâm lý giáo dục; mô hình can thiệp tại cộng đồng Trên cơ sở đánh giá hiệu
quả, hạn chế của một số mô hình đã thực hiện tại địa phương, các tác giả đã rút ra
nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho công tác phòng chống BLGĐ ở nước ta
Tác phẩm “Giới, việc làm và đời sống gia đình” của tác giả Nguyễn Thị Hòa
(NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007) đã tổng hợp nhiều công trình nghiên cứu và
nhiều bài viết của các cán bộ Trung tâm nghiên cứu Gia đình và Giới thuộc Viện
Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ Cuốn sách gồm 4 nội dung chính: giới và phát
Trang 17triển, phụ nữ và việc làm, phụ nữ và gia đình, phụ nữ và các vấn đề xã hội Trong
đó đáng chú ý nhất là bài viết “Sự biến đổi của gia đình Việt Nam thời kỳ đổi mới”
của tác giả Nguyễn Thị Hòa đã phân tích đượ những biến đổi về chức năng cũng
như sự khủng hoảng của gia đình Việt nam hiện nay như: hiện tượng ly hôn, bạo lực
và bất bình đẳng giới trong gia đình
Báo cáo “Nghiên cứu rà soát các chương trình phòng chống bạo lực trên cơ
sở giới ở Việt Nam” được thực hiện bởi UNFPA trong năm 2007 cùng với sự tham
gia của rất nhiều những tổ chức của chính phủ và phi chính phủ đã đưa đến cho
người đọc một cái nhìn bao quát, toàn diện về bạo lực trên cơ sở giới Trong đó có
BLGĐ – một dạng đặc biệt của bạo lực giới ở nước ta Qua nghiên cứu, rà soát, báo
cáo đã cho thấy những hoạt động, hiệu quả và những tồn tại trong công tác phòng
chống BLGĐ ở các cấp, các ngành của nước ta Trên cơ sở những điểm mạnh,
những thách thức đặt ra, báo cáo đã đưa đến những khuyến nghị đối với các cấp
chính quyền, các ban ngành (y tế, pháp luật, giáo dục …), cấp cộng đồng Trong đó,
đáng lưu ý là việc cần thiết phải cung cấp các dịch vụ toàn diện cho nạn nhân của
BLGĐ và những người gây ra bạo lực là nam giới
Năm 2008, ở nhiều địa phương trên cả nước đã diễn ra nhiều cuộc hội thảo
bàn về vấn đề BLGĐ nhằm tìm ra các biện pháp ngăn chặn, xóa bỏ vấn nạn này
Trong hội thảo bàn về biện pháp phòng chống BLGĐ tổ chức tại TP HCM, bác sỹ
Nguyễn Minh Tiến – một chuyên gia trong lĩnh vực tâm lý trị liệu đã có bài tham
luận: “Làm việc với thân chủ có vấn đề bạo hành trong gia đình” Bài tham luận đã
phản ánh thực trạng BLGĐ ở Việt Nam và nêu lên những chuyển biến, những thuận
lợi và hạn chế trong công tác phòng chống BLGĐ trong những năm vừa qua Từ đó,
tác giả đã đưa ra những dấu hiệu nhận biết, các biện pháp hỗ trợ nạn nhân một cách
tức thời cũng như về lâu dài
Trong hội thảo về việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới và Luật Phòng
chống BLGĐ được tổ chức tại thành phố Yên Bái, tác giả Nguyễn Hữu Minh đã có
bài tham luận: “Vai trò của các tổ chức trong phòng chống BLGĐ” Tham luận đã
chỉ rõ vai trò, trách nhiệm của các tổ chức ở các cấp trước những yêu cầu đặt ra của
Luật phòng chống BLGĐ Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra một số vấn đề đặt ra từ
Trang 18thực tiễn trong hoạt động phòng ngừa và can thiệp BLGĐ, cần chú ý tới quy trình
can thiệp trong quá trình thực hiện
Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình với Phụ nữ ở Việt Nam - năm 2010 do
Tổng cục thống kê thực hiện Nghiên cứu bao gồm cấu phần định lượng (khảo sát
mẫu) và cấu phần định tính (phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm tập trung) Trong
nghiên cứu tập trung vào chủ đề bạo lực gia đình với phụ nữ, chỉ sử dụng điều tra
viên là phụ nữ, chọn ngẫu nhiên một phụ nữ trong hộ gia đình và mời đến phỏng
vấn trực tiếp qua Bảng hỏi điều tra sử dụng các câu hỏi của nghiên cứu đa quốc gia
của WHO về sức khỏe phụ nữ và bạo lực gia đình với phụ nữ còn các thành viên
khác trong gia đình không được phỏng vấn và được biết về chủ đề cuộc khảo sát
Câu hỏi được đưa ra bằng cách liệt kê một loạt các hành vi cá nhân mà phụ nữ từng
phải hứng chịu: chỉ số bạo lực do người chồng gây ra được xác định ở những câu
hỏi về 6 câu hỏi hành vi về bạo lực thể xác và 4 hành vi bạo lực tình dục Bạo lực
tinh thần và các hành vi kiểm soát cũng được thu thập sử dụng trong danh sách các
hành vi
Như vậy, có thể thấy theo dòng lịch sử vấn đề về BLGĐ và Phòng chống
BLGĐ đã và đang thu hút được rất nhiều sự quan tâm nghiên cứu của các học giả
Song có lẽ, cho đến nay, BLGĐ vẫn đang là một vấn đề nóng được xã hội quan tâm
bởi những biến đổi ngày càng phức tạp của nó đang diễn ra trong thực tiễn đời sống
hàng ngày Còn rất nhiều những công trình nghiên cứu với quy mô khác nhau về vấn
đề BLGĐ đã được các tác giả thực hiện với mong muốn sẽ góp phần đưa đến một cái
nhìn đa sắc cạnh về vấn đề BLGĐ tại các địa phương trên cả nước Các nghiên cứu
đã phần nào phản ánh được thực trạng, nguyên nhân, hậu quả của BLGĐ cũng như đã
đưa ra được các kết luận, khuyễn nghị có ý nghĩa cho công tác phòng chống BLGĐ ở
nước ta
Những tài liệu đã được công bố nói trên luôn là những tài liệu tham khảo quan
trọng trong việc nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn :”Đánh giá các dịch vụ hỗ
trợ nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình được tiếp nhận tại Trung tâm Công tác xã hội
TP Hà Nội”
Trang 193 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đề tài thể hiện được vai trò của công tác xã hội trong việc trợ giúp nạn nhân
bị bạo lực gia đình đặc biệt là phụ nữ, từ đó mọi người nhận rõ được tầm quan trọng
của nhân viên công tác xã hội hiện nay Đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm
phát triển các dịch vụ trợ giúp phụ nữ bị bạo lực dưới góc độ Công tác xã hội
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài xây dựng nhằm nghiên cứu thực trạng cung cấp dịch vụ công tác xã hội, phát hiện các vấn đề trong thực trạng nhằm đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm phát
triển chất lượng và hiệu quả của các dịch vụ hỗ trợ với phụ nữ bị bạo lực gia đình tại
Trung tâm cung cấp dịch vụ Công tác xã hội TP Hà Nội
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá các dịch vụ hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực gia đình hiện có tại Trung tâm
cung cấp dịch vụ Công tác xã hội TP Hà Nội
Tìm hiểu các yếu tố tác động đến các dịch vụ tại Trung tâm
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đánh giá các dịch vụ hỗ trợ với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình của Trung tâm cung cấp dịch vụ Công tác xã hội TP.Hà Nội về: cách thức tổ chức quản lý,
ngân sách, sự phong phú của các dịch vụ? Có lạc hậu không? Sự đáp ứng nhu cầu
của xã hội? Các dịch vụ có đủ để đáp ứng nhu cầu đối tượng
Tìm hiểu các yếu tố tác động đến hiệu quả các dịch dịch vụ tại Trung tâm:
nhân lực, cơ sở vật chất, ngân sách, cách thức quản lý chỉ đạo, chính sách pháp lý
có hiệu quả không
Trang 205 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu đánh giá các dịch vụ hỗ trợ đối với nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình do Trung tâm cung cấp dịch vụ Công tác xã hội TP Hà Nội tổ chức thực hiện
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi đối tượng: các dịch vụ hỗ trợ nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình hiện
do Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Hà Nội thực hiện
- Phạm vi về khách thể:
+ Phụ nữ bị bạo lực tại Trung tâm + Cán bộ làm việc trực tiếp với phụ nữ bị bạo lực của Trung tâm + Ngoài ra còn có các thành viên của gia đình
- Phạm vi về không gian, thời gian:
Từ tháng 1/2016 đến tháng 6/2016
Tại Trung tâm cung cấp dịch vụ Công tác xã hội TP Hà Nội – Địa chỉ: Sổ
45 Bà Triệu, P.Nguyễn Trãi, Q.Hà Đông, TP.Hà Nội
6 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu
- Tài liệu hướng dẫn tổ chức và hoạt động của các cơ sở bảo trợ xã hội
- Báo cáo thường xuyên và định kỳ của Trung tâm cung cấp các dịch vụ Công tác xã hội TP Hà Nội
- Dữ liệu khảo sát tổ chức và hoạt động của các cơ sở xã hội do UNICEF và cục Bảo trợ xã hội phối hợp thực hiện
- Tài liệu quy hoạch mạng lưới cơ sở bảo trợ xã hội giai đoạn 2010 – 2030;
- Chương trình đào tạo bồi dưỡng nghề về công tác xã hội cho cán bộ cấp cơ sở
* Phương pháp phỏng vấn sâu
Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu 11 người có liên quan bao gồm:
- 01 Lãnh đạo cơ quan quản lý cơ sở
- 01 Chuyên chuyên phụ trách thuộc cơ quan chủ quản
Trang 21- 01 Lãnh đạo trung tâm
- 03 nhân viên trung tâm làm việc trực tiếp với đối tượng bị bạo lực (2
NVTV, 1 NVXH)
- 06 phụ nữ bị bạo lực
Nội dung chủ yếu của các cuộc phỏng vấn sâu tập trung vào hai nội dung căn
bản: tìm hiểu thực trạng BLGĐ đối với phụ nữ và nhu cầu cần trợ giúp của họ; khảo
sát và đánh giá các dịch vụ hỗ trợ với phụ nữ bị BLGĐ tại Trung tâm cung cấp dịch
vụ Công tác xã hội
* Phương pháp quan sát tham dự:
Người nghiên cứu đã xin đến làm việc tình nguyện tại Trung tâm
CCDVCTXH từ tháng 01/2016 đến tháng 6/2016 với nhiệm vụ là cộng tác viên
công tác xã hội Tham gia các hoạt động của trung tâm liên quan đến quá trình tiếp
nhận và trợ giúp phụ nữ bị BLGĐ qua đó quan sát thực tiễn, rút ra được những nhận
định của bản thân về dịch vụ cung cấp tại Trung tâm với nhóm phụ nữ bị BLGĐ
* Phương pháp thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm tập trung được tiến hành với sự tham gia của 7 người bao
gồm: 1 NVXH, 2 NVTV, 1 lãnh đạo cơ quan quản lý cơ sở, 1 chuyên viên phụ trách
thuộc cơ quan chủ quản, 1 lãnh đạo trung tâm
7 Cơ cấu của luận văn
Cơ cấu của luận văn: ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình
Chương 2: Thực trạng triển khai các dịch vụ hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực gia đình được tiếp nhận tại Trung tâm cung cấp dịch vụ Công tác xã hội TP.Hà Nội
Chương 3: Các yếu tố tác động đến hiệu quả các dịch vụ hỗ trợ phụ nữ bị bạo
lực gia đình tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội TP Hà Nội
Trang 22NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI
VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH 1.1 Những vấn đề lý luận
1.1.1Khái niệm:
* Dịch vụ xã hội:
“Dịch vụ xã hội là hoạt động cung cấp, đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân,
nhóm người nhất định nhằm bảo đảm các giá trị và chuẩn mực xã hội”
Một khái niệm thống nhất về dịch vụ xã hội cho người yếu thế là rất cần thiết
và đó cũng là cơ sở để thiết kế hệ thống dịch vụ xã hội cho các nhóm đối tượng này
Dựa vào những lý giải về dịch vụ, chính sách xã hội, dịch vụ xã hội, dịch vụ xã hội
cơ bản nêu trên, khái niệm dịch vụ xã hội cho người yếu thế được hiểu là:
“Dịch vụ xã hội cho nhóm yếu thế là các hoạt động có chủ đích của con người
nhằm phòng ngừa-hạn chế và khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cơ
bản và thúc đẩy khả năng hoà nhập cộng đồng, xã hội cho nhóm đối tượng yếu thế”
(Từ điển Tiếng Việt, 2004, NXB Đà Nẵng)
* Công tác xã hội:
Định nghĩa của Hiệp hội quốc gia nhân viên xã hội Mỹ (NASW - 1970):
“Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng
tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những
điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó”
Định nghĩa của Hiệp hội nhân viên công tác xã hội Quốc tế thông qua tháng
7 năm 2000 tại Montréal, Canada (IFSW): “Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự thay
đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và
giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ
chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, công tác xã
hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền
và Công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề” [11]
Trang 23Theo Foundation of Social Work Practice: “Công tác xã hội là một môn khoa học ứng dụng để giúp đỡ mọi người vượt qua những khó khăn của họ và đạt được
một vị trí ở mức độ phù hợp trong xã hội Công tác xã hội được coi như là một môn
khoa học vì nó dựa trên những luận chứng khoa học và những cuộc nghiên cứu đã
được chứng minh Nó cung cấp một lượng kiến thức có cơ sở thực tiễn và xây dựng
những kỹ năng chuyên môn hoá” [20]
* Gia đình
Giữa các ngành khoa học, các nhà khoa học khác nhau cũng có nhiều quan
điểm khác nhau về gia đình Có quan niệm cho gia đình là “tế bào xã hội”, gia đình
là “thiết chế xã hội”, "là “nhóm xã hội”, là “tổ chức cơ bản của xã hội”…
Trong tác phẩm “Cấu trúc xã hội” (1949) G.P Murdock cho rằng “Gia đình là
một nhóm xã hội có đặc trưng là cùng cư trú, hợp tác và tái sản xuất kinh tế (người
lớn và của cả hai giới), và ít nhất trong đó có quan hệ tình dục với nhau, được xã
hội tán thành, một hoặc nhiều con cái (do họ đẻ ra hoặc do họ nhận con nuôi)” [12,
tr 21]
Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam (năm 2002) định nghĩa “Gia đình là thiết
chế xã hội dựa trên cơ sở kết hợp những thành viên khác giới, thông qua hôn nhân
để thực hiện các chức năng sinh học, kinh tế, văn hóa….Gia đình là một phạm trù
lịch sử thay đổi cùng sụ phát triển của lịch sử” [6, tr 17]
Dưới góc độ Luật pháp, theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam “Gia đình
là tập hợp những gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan
hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau” [18, tr 25]
* Bạo lực gia đình
Bạo lực ngày càng được quan tâm nhiều hơn bởi bản chất của nó gắn liền với
tội phạm, người gây ra bạo lực không phân biệt giới tính, lứa tuổi hay dân tộc và
nạn nhân của bạo lực cũng không có mối liên hệ tới những phạm trù trên Tức là ai
cũng có thể gây ra bạo lực và ai cũng có thể là nạn nhân của bạo lực Bạo lực không
chỉ ảnh hưởng tới riêng nạn nhân mà còn là gây nên những hệ lụy tiêu cực tới cộng
đồng rộng lớn, làm mất an toàn xã hội khi hiện tượng khủng bố hay giết người hàng
loạt ngày càng gia tăng
Trang 24Nhận thức được sự nghiêm trọng của bạo lực, năm 1995 Liên Hợp Quốc đã
đưa ra quan niệm: “Bạo lực là việc cố ý sử dụng vũ lực hay quyền lực để đe dọa,
tước đoạt đối với một người, một nhóm người để gây ra chấn thương về thể xác, tổn
hại về mặt tâm lý, thậm chí còn dẫn đến tử vong” [1, tr 42]
Xét trong mối quan hệ thì “BLGĐ là tình trạng bạo lực xảy ra với các thành
viên trong một gia đình Không đơn thuần coi BLGĐ chỉ xảy ra giữa người chồng
và vợ mà còn là bạo lực giữa cha mẹ và con cái, giữa những đứa con với nhau…”
(tríchWikimedia.com)
Xét dưới môi trường gây ra bạo lực, BLGĐ và bạo lực xã hội khác nhau ở
môi trường gây ra bạo lực Bạo lực xã hội diễn ra trên quy mô lớn và với những
người không quen biết, còn BLGĐ xảy ra với những người thân trong gia đình,
những người gắn kết bởi quan hệ huyết thống và hôn nhân.BLGĐ liên quan tới
trạng thái cảm xúc của mỗi cá nhân, nhưng dù trong trường hợp nào thì nó cũng là
sự lệch chuẩn xã hội
Nhìn nhận về vấn đề BLGĐ, trong Đại hội của Hội đồng Liên Hợp Quốc
tháng 12/1993, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về BLGĐ như sau: “Bất kỳ
hành động bạo lực dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến
những tổn hại về thân thể, tình dục, tâm lý…sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách
tùy tiện sự tự do, dù nó xảy ra ở nơi công cộng hay trong cuộc sống riêng tư.”
Quan điểm của Việt Nam về BLGĐ được thể hiện trong Luật Phòng chống
BLGĐ đã được thông qua ngày 1/7/2008 Khoản 2, điều 1, chương I của Luật này
đã nêu rõ: “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại
hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác
trong gia đình.”.[19, tr 40]
Trên thực tế đời sống và các nghiên cứu có nhiều dạng bạo lực gia đình như
bạo lực giữa vợ - chồng, chồng – vợ, bố mẹ - con cái, mẹ chồng – nàng dâu Trong
nghiên cứu tập trung đi sâu vào người chồng gây bạo lực với vợ và người phụ nữ là
nạn nhân
Trang 251.1.2 Các hình thức bạo lực gia đình
Các hành vi BLGĐ với phụ nữ được biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau,
có những hành vi bạo lực dễ dàng nhận thấy nhưng cũng có những bạo lực mà
không thể nhận thấy Khái quát các hành vi bạo lực, có 4 nhóm hành vi bạo lực chủ
yếu bao gồm bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục và bạo lực kinh tế
Các hành vi BLGĐ với phụ nữ được biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau, có
những hành vi bạo lực dễ dàng nhận thấy nhưng cũng có những bạo lực mà không
thể nhận thấy Khái quát các hành vi bạo lực, có 4 nhóm hành vi bạo lực chủ yếu
bao gồm bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục và bạo lực kinh tế
* Bạo lực thể chất
Là những hành vi ngược đãi, đánh đập hoặc sỉ nhục của một hoặc nhiều thành viên trong gia đình làm tổn thương tới nhân phẩm, sức khỏe, tâm thần, tính
mạng của một hay nhiều thành viên khác Bạo lực gia đình xảy ra giữa những người
có quan hệ đặc biệt (vợ chồng, con dâu, con rể) hoặc ruột thịt (ông bà, cha mẹ, con
cháu, anh chị em, họ hàng) có thể trong cùng một mái nhà hoặc mái nhà khác [8,
tr.43,44]
* Bạo lực tinh thần
Là những lời nói, thái độ, hành vi ngược đãi hoặc sỉ nhục của một hoặc nhiều thành viên trong gia đình làm tổn thương tới nhân phẩm, sức khỏe, tâm thần của một
hay nhiều thành viên khác Bạo lực tinh thần cũng còn là sự áp đặt, chỉ đạo hoặc xâm
phạm tới nguyện vọng, ý thích, thị hiếu riêng của mỗi người.[8, tr.44]
* Bạo lực tình dục
Là những hành vi cưỡng ép hoặc dùng bạo lực để thỏa mãn tình dục của một người hoặc một nhóm người đối với một người hoặc một nhóm người khác Hành
vi này có thể diễn ra một lần hoặc lặp đi lặp lại nhiều lần và diễn ra cả trong quan hệ
vợ chồng hoặc bạn tình Bạo lực tình dục còn bao hàm cả việc cưỡng ép vợ sinh
nhiều con hoặc đẻ con trai.Bạo lực tình dục là một dạng đặc biệt trong quan hệ giới
tại gia đình Nó vừa có thể diễn ra kín đáo, âm thầm vừa có thể diễn ra công khai
nhưng nhìn chung cả đạo đức và pháp luật đều khó có thể can thiệp.[8, tr.44]
Trang 26* Bạo lực kinh tế
Là việc dùng sức mạnh để đe dọa, áp đặt hoặc lừa mị nhằm bóc lột lao động, chiếm giữ và kiểm soát tài chính của một hoặc một nhóm người với một hoặc một
nhóm người khác trong gia đình Dạng bạo lực này đưa đến sự phân công lao động và
hưởng thụ bất hợp lý giữa các thành viên trong gia đình.[8, tr.44]
1.1.3 Đặc điểm phụ nữ bị bạo lực gia đình
BLGĐ thường để lại những dư âm tới nạn nhân BLGĐ và hậu quả của nó
thường dai dẳng hơn nhiều so với ảnh hưởng về thể chất Những tổn thương về thể
chất ở nạn nhân BLGĐ còn có thể khắc phục được bởi can thiệp y tế nhưng tổn
thương về tinh thần của họ không dễ gì can thiệp và can thiệp nhanh chóng được
Nạn nhân bị BLGĐ thường chịu ảnh hưởng tâm lý như cảm giác sợ sệt, lo lắng, đặc biệt với phụ nữ, họ không chỉ sợ cho bản thân mà còn luôn lo sợ cho tính
mạng của con mình.Nạn nhân bị BLGĐ thường hạ thấp giá trị của mình, cảm thấy
như mình có tội lỗi và xấu hổ trước những người khác Có những nạn nhân BLGĐ
bị tổn thương tâm lý trầm trọng tới mức họ có những rối loạn tâm lý như trầm uất,
hoang tưởng Họ sẽ trở nên phụ thuộc nhiều hơn vào người có hành vi BLGĐ và từ
đó khiến họ ngày một thụ động, không dám đưa ra ý kiến, đề xuất hay quyết định
trong gia đình họ, thậm chí là không dám nói điều này ra với ai, kể cả những người
thể từ nhẹ như bầm tím, xây xước, chảy máu Tới nặng hơn như bị thương tật làm
giảm hoặc mất khả năng lao động thậm chí là tử vong
Phụ nữ bị ép buộc tình dục còn bị ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản như mang thai ngoài ý muốn, bị các bệnh hay biến chứng sản khó, bệnh lây nhiễm qua đường
tình dục
Trang 27Do có những đặc điểm về thể chất, tâm lý như vậy nên việc tiếp cận, thu thập thông tin của đối tượng rất khó Điều này cũng gây ảnh hưởng đến kết quả của quá
trình trợ giúp đối tượng Nếu đối tượng có nghị lực, hay mạnh dạn thì việc hỗ trợ sẽ
dễ dàng hơn Nhưng nếu đối tượng ỷ lại, phụ thuộc và thiếu ý chí thì buộc sức làm
việc của NVCTXH phải tăng lên và cũng gây khó khăn cho việc trợ giúp.Tuy nhiên
với nguyên tắc là luôn chấp nhận thân chủ nên dù có gặp trở ngại hay khó khăn
trong việc tiếp cận cũng như trợ giúp thì NVCTXH vẫn luôn phải cố gắng để có thể
hoàn thành nhiệm vụ của mình Đặc điểm của đối tượng là một yếu tố quan trọng
quyết định đến hoạt động CTXH, sự tích cực của đối tượng sẽ khiến quá trình trợ
giúp suôn sẻ hơn Qua đó cũng thấy được tầm quan trọng của việc tuyên truyền
nâng cao nhận thức cho phụ nữ bị BLGĐ
1.1.4 Một số lý thuyết tiếp cận trong công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực
gia đình
Có rất nhiều lý thuyết khác nhau, nhưng theo tác giả thì các lý thuyết sau phù hợp trong tiếp cận với phụ nữ bị bạo hành hơn Cụ thể:
1.1.4.1 Lý thuyết hành vi
Mục đích: Tăng cường chức năng xã hội bằng việc hỗ trợ thân chủ học những
cách thức xác thực và rõ ràng về việc lĩnh hội, tư duy và giải thích những trải
nghiệm cuộc sống của chính mình Việc đấu tranh cho bình đẳng giới và phòng,
chống bạo lực gia đình rất cần tác động đến nhận thức của cộng đồng, khi nhận thức
thay đổi thì hành vi ứng xử của cộng đồng mới đổi khác
Ứng dụng: Cách tiếp cận theo lý thuyết này này yêu cầu thân chủ phải có khả
năng nhận thức cần thiết và sẵn sàng đầu tư thời gian cần thiết để giám sát và phân
tích các cách thức mà mình tư duy, đồng thời thực hành các kỹ thuật phù hợp để
thay đổi những thói quen cố hữu trong suy nghĩ của mình, từ đó hiểu rõ hơn tại sao
người phụ nữ lại có những hành vi cam chịu hay che dấu Thuyết hành vi-nhận thức
đặc biệt hữu hiệu đối với các vấn đề về suy giảm lòng tự trọng và những suy nghĩ
về việc tự chuốc lấy những thất bại Nó cũng có thể được sử dụng với trẻ em (ở độ
tuổi lên 10 hoặc hơn một chút) và trẻ vị thành niên là những đối tượng đang phát
triển và định hình những hình mẫu trong tư duy và tất nhiên là ứng dụng được cho
Trang 28cả những người trưởng thành Ứng dụng trong thực hành của lý thuyết này kết hợp
những khái niệm được lựa chọn từ lý thuyết học hỏi và áp dụng phân tích hành vi
với những thuyết khác rút ra từ việc nghiên cứu quá trình nhận thức, ví dụ, làm thế
nào mọi người tư duy và thông tin về quá trình đó Nó cũng đồng thời trọng tâm vào
sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa những nhận thức (tư duy), cảm xúc và hành vi Những
hành vi có vấn đề và những đau khổ cá nhân thường được bắt nguồn từ những suy
nghĩ cứng nhắc, không hợp lý và không hoàn hảo cũng như từ những niềm tin
không thực tế, không được tìm thấy về cách thức mà chúng nên tồn tại (theo sự
mong đợi của cá nhân) Vận dụng lý thuyết nhận thức – hành vi vào đề tài nghiên
cứu về phụ nữ bị bạo lực giúp cho tác giả có thể hiểu về vấn đề một cách khoa học
hơn Hành vi con người là sự tổng hòa các yếu tố khác nhau, mỗi yếu tố đều có tác
động tới việc làm xuất hiện những hành vi đúng hay lệch chuẩn của mỗi cá nhân
Cũng không nên gán nhãn cho mỗi hành vi đó, không phải khi tiếp xúc với một nạn
nhân bị bạo lực gia đình thường xuyên bị chồng đánh thì ta liền nói họ là kiến thức
nông cạn, thiếu hiểu biết hay khi người vợ có hành vi phản kháng lại để không bị
người chồng bạo hành ta liền cho đó là hành vi lệch chuẩn
Trong suốt quá trình trị liệu nhận thức – hành vi, thân chủ được trợ giúp nhận biết,
giám sát, kiểm tra và thay đổi những hình mẫu suy nghĩ đó và những giả định
khiếm khuyết mang tới sự gia tăng của vấn đề Thân chủ cũng được dạy những kỹ
năng đặc thù và thủ tục để nhận biết nội hàm và tương tác trong suy nghĩ của họ,
đánh giá tính đúng đắn trong nhận thức của mình cùng với những giả định và cách
xem xét các sự kiện cũng như các trạng thái qua quan sát kỹ, tường tận hơn Rất
nhiều kỹ thuật đã được sử dụng như: tái cấu trúc nhận thức, phân tích hợp lý, tạo
mô hình vai trò, trình bày lại hành vi, chuyển dịch ngược, gây tê, chuyển đổi sự phá
hủy, ngập lụt nhận thức, Trong phạm vi khung sườn thực hành ứng dụng lý thuyết
này có những phân chia, như liệu pháp hợp lý hóa cảm xúc và liệu pháp nhận thức
Những nhà thực hành và các nhà lý thuyết có sự bất đồng về không phải nhấn mạnh
về mặt nhận thức cũng không phải về mặt hành vi của cấu trúc nhận thức - hành vi
và đồng ý với việc họ làm để thay đổi tiễn trình nhận thức về cơ bản như: sự sáng
suốt, trí nhớ, xử lý thông tin, cân nhắc và ra quyết định
Trang 291.4.1.2 Lý thuyết về nhu cầu con người
Abraham Maslow (1908-1970), nhà tâm lý học người Mĩ đã xây dựng học thuyết phát triển về nhu cầu con người vào những năm 50 của thế kỷ XX
Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow thường được thể hiện dưới dạng một hình kim tự tháp, các nhu cầu ở bậc thấp (nhu cầu cho sự tồn tại) thì xếp phía dưới,
trong khi những nhu cầu cho sự phát triển, sự hoàn thiện cá nhân được coi là quan
trọng hơn, giá trị hơn, chúng được xếp ở các thang bậc trên cao của kim tự tháp
Mỗi nhu cầu con người đều phụ thuộc vào nhu cầu trước đó nếu một nhu cầu không được đáp ứng (nhu cầu tồn tại – nhu cầu thể chất) thì cá nhân sẽ gặp khó
khăn trong việc tiếp cận các nhu cầu cao hơn (nhu cầu về giao tiếp xã hội, nhu cầu
hoàn thiện cá nhân)
Nhu cầu thể chất – nhu cầu cơ bản cho sự tồn tại của cá nhân Các nhu cầu cơ bản không được đáp ứng sẽ kéo theo những khó khăn về tâm lý Con người cần phải
đáp ứng những nhu cầu cơ bản, sau đó mới đáp ứng những nhu cầu cao hơn, như
nhu cầu tinh thần Tuy nhiên khi nghiên cứu về những phụ nữ bị bạo lực gia đình họ
không được đáp ứng đầy đủ cả những nhu cầu được cho là cơ bản nhất của con
người và kéo theo đó là sự không được đáp ứng những nhu cầu cao hơn như nhu
cầu tinh thần
Thông qua việc đánh giá nhu cầu của đối tượng, nhân viên CTXH sẽ giúp thân chủ giải quyết những khó khăn của họ khi các nhu cầu cơ bản không được đáp ứng một
Trang 30cách đầy đủ nhất.Tuy nhiên, nhân viên CTXH cũng cần xem xét các nhu cầu của thân
chủ để từ đó cùng thành viên trong nhóm lựa chọn các nhu cầu ưu tiên giải quyết
Nhu cầu an toàn – an ninh Khi con người được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu cơ bản như ăn, mặc, ngủ thì các nhu cầu về an toàn, an ninh cũng rất cần thiết Mỗi cá
nhân đều mong muốn mình được an toàn, mong muốn có một cuộc sống bình yên
và hạnh phúc là điều mỗi phụ nữ đều mong muốn có Tóm lại, cá nhân cần có cảm
giác an toàn về thân thể, được hưởng các dịch vụ y tế và xã hội Khi cá nhân cảm
thấy bất ổn họ có thể tìm đến sự an toàn về mặt tinh thần Như vậy, việc giúp đỡ các
cá nhân có được cơ hội sinh hoạt trong nhóm cũng nhằm giải quyết giúp những phụ
nữ bị bạo lực gia đình vượt qua những khó khăn, những áp lực về tâm lý, giúp họ có
được cảm giác an toàn khi sinh hoạt trong nhóm
Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc Cá nhân không thể tồn tại khi thiếu các mối quan hệ từ gia đình, bạn bè, cộng đồng và đồng nghiệp, vì vậy cá
nhân đều muốn thuộc về một nhóm nào đó, muốn gia đình yên ấm Maslow cũng
cho rằng khi các nhu cầu không được thỏa mãn, đáp ứng, nó sẽ gây các bệnh trầm
trọng về tinh thần, thần kinh.Mô hình nhóm tự lực giúp đỡ các nạn nhân của bạo lực
gia đình có một môi trường thuận lợi để giao lưu, học hỏi và có sự tương tác qua lại
Nhân viên CTXH đã vận dụng lý thuyết nhu cầu để từ đó đưa ra được những đề
xuất hợp lý nhất giúp những phụ nữ bị bạo lực có được môi trường thuận lợi để giao
lưu, chia sẻ, nâng cao năng lực của bản thân, vượt qua được những trạng thái tâm lý
tiêu cực khi sống trong bạo lực
Nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu tự hoàn thiện – cơ hội để hoàn thiện bản thân
là những nhu cầu cao nhất của con người mà bất kỳ ai cũng muốn theo đuổi để đạt
tới sự phát triển hoàn thiện của nhân cách Khi cá nhân không nhận được sự tôn
trọng của người khác thì họ sẽ rơi vào trạng thái chán nản, không còn ý chí để
phấn đấu, không thể sẵn sàng đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống
của mình, họ sẽ sống khép kín hơn và gặp khó khăn khi làm bất cứ công việc gì
Sự tự hoàn thiện của bản thân là mong muốn được sáng tạo, được thể hiện khả
năng, được thể hiện bản thân và được công nhận
Trang 31Dựa vào lý thuyết phát triển nhu cầu của Maslow giúp tác giả đánh giá được những nhu cầu của phụ nữ bị bạo lực gia đình, họ có những nhu cầu gì và nhu cầu
nào là cần thiết nhất đối với họ Từ đó giúp họ đáp ứng được những nhu cầu đó
bằng việc xây dựng được những mô hình giúp đỡ chị em, đặc biệt là việc tác giả
xây dựng mô hình nhóm tự lực dành cho nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình đã giúp
cho chị em từng bước đáp ứng được các nhu cầu cơ bản của bản thân
1.4.1.3 Lý thuyết hệ thống – sinh thái
Các quan điểm hệ thống trong Công tác xã hội có nguồn gốc từ lý thuyết tổng quát của L.V Bertalanffy (1901- 1972) – một nhà sinh học nổi tiếng người Áo Sau
này lý thuyết được các nhà khoa học khác nghiên cứu và phát triển tiêu biểu như:
W.R Ashby (1956), Siporin (1980), Mancoske (1981), Hanson (1995) Người có
công đưa lý thuyết hệ thống áp dụng vào thực tiễn Công tác xã hội là Pincus và
Minahan, tiếp đến là Germain và Giterman
Lý thuyết hệ thống – sinh thái thực chất là sự kết hợp giữa những quan điểm
hệ thống (system) trong lý thuyết hệ thống với quan điểm về sinh thái (ecological)
trong lý thuyết sinh thái học
Quan điểm về hệ thống trong Công tác xã hội của Pincus và Minahan
- Mỗi cá nhân phụ thuộc vào hệ thống để thỏa mãn những nhu cầu của bản thân mình Theo đó, 3 hình thức hệ thống hỗ trợ cá nhân gồm:
+ Hệ thống phi chính thức (gia đình, bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp): hệ thống này góp phần trợ giúp cá nhân về tinh thần, lời khuyên bảo, cung cấp thông
tin, các nguồn lực hoặc hoạt động trợ giúp cụ thể khác
+ Hệ thống chính thức (các tổ chức xã hội, hiệp đoàn xã hội mà cá nhân là thành viên): hệ thống này hỗ trợ các nguồn lực trực tiếp cho cá nhân, hoặc trợ giúp
cho cá nhân các hình thức thương lượng với hệ thống xã hội khác
+ Hệ thống xã hội: các hoạt động xã hội, các chương trình tình nguyện, các phong trào xã hội, các bệnh viện , các chương trình đào tạo nghề, các dịch vụ pháp
lý
Trang 32- Lý do thân chủ không sử dụng được các hệ thống hỗ trợ là do: hệ thống nguồn lực không tồn tại, thân chủ không biết sử dụng các hệ thống ra sao, chính
sách của hệ thống, xung đột giữa các hệ thống
Kết hợp quan điểm sinh thái vào lý thuyết hệ thống trong CTXH Việc vận dụng quan điểm sinh thái học vào lý thuyết hệ thống chỉ ra rằng, mỗi cá nhân được coi là một hệ thống được cấu thành bởi những tiểu hệ thống, có liên hệ
với những hệ thống khác lớn hơn và cùng nằm trong một hệ thống lớn nhất – hệ
thống sinh thái (gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội) Hệ thống sinh thái
của mỗi cá nhân là khác nhau Theo đó, có thể phân chia hệ thống sinh thái của mỗi
Trang 33 Ứng dụng: vận dụng lý thuyết hệ thống - sinh thái vào nghiên cứu về phụ nữ
là nạn nhân của BLGĐ giúp NVCTXH khi làm việc với thân chủ có thể khái quát
được hệ thống sinh thái của thân chủ Xem xét chỉ ra được thân chủ đang thiếu hụt
những hệ thống nào? Những nguyên nhân cản trở việc tiếp cận hệ thống của thân
chủ? Mối quan hệ thống của thân chủ ra sao? Đâu là hệ thống nguồn lực trợ giúp
cho thân chủ giải quyết vấn đề? Mặt khác, cách tiếp cận hệ thống trong thực hành
còn giúp NVCTXH có thể thiết lập được hệ thống vấn đề của thân chủ để chỉ ra
được mối quan hệ giữa các vấn đề, tìm ra được vấn đề cốt lõi và ưu tiên cần giải
quyết
1.1.5Các cơ sở pháp lý của hoạt động hỗ trợ đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình
Việt Nam đã thể hiện cam kết mạnh mẽ về thúc đẩy bình đẳng giới và chấm dứt bạo lực đối với phụ nữ thông qua việc phê chuẩn một số điều ước quốc tế quan
trọng như: Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người (năm 1948); Công ước quốc tế
về những quyền dân sự và chính trị (ICCPR); Công ước quốc tế về những quyền
kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR); Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức
phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) và Công ước quốc tế về quyền trẻ em
(CRC) Những điều ước quốc tế này khẳng định rõ tầm quan trọng của việc thừa
nhận, bảo vệ và thực hiện các quyền liên quan đến sức khỏe, tính mạng, quyền được
bảo vệ và đảm bảo an toàn của con người bao gồm trẻ em, phụ nữ và nam giới
Chính phủ Việt Nam cũng đã cam kết đạt được các kết quả trong việc bảo vệ phụ
nữ tại Hội nghị quốc tế về Kế hoạch hành động vì dân số và phát triển tại Cairo
1994, Hội nghị thế giới về cương lĩnh hành động của phụ nữ ở Bắc Kinh năm 1995
và các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc
Những văn bản và cam kết quốc tế trên đã tạo nền tảng vững chắc cho việc hình thành khung pháp luật và chính sách quốc gia giải quyết tình trạng bạo lực trên
cơ sở giới ở Việt Nam Việc nội luật hóa các điều ước quốc tế đã được thể hiện rõ
trong Hiến pháp năm 2013 và trong hệ thống chính sách pháp luật quốc gia Với
việc phê chuẩn các điều ước quốc tế này cũng như nhất trí với các văn kiện quốc tế
khác, Việt Nam có nghĩa vụ quốc tế trong việc đảm bảo bình đẳng giới và hành
động một cách quyết tâm, bền bỉ để ngăn chặn, điều tra làm rõ và xử phạt hành vi
Trang 34BLGĐ đối với phụ nữ Sự quyết tâm đó đã được thể hiện bằng việc Quốc hội đã
thông qua Luật Bình đẳng giới năm 2006 và Luật Phòng, chống Bạo lực gia đình
năm 2007 Hai văn bản pháp luật quan trọng này là cơ sở pháp lý vững chắc để nhà
nước Việt Nam triển khai các chương trình, hoạt động phòng chống BLGĐ và
hướng tới mục tiêu bình đẳng giới
Như vậy, Việt Nam đã có những văn bản pháp luật đề cập đến vấn đề BLGĐ như sau:
- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28
tháng 11 năm 2013 Trong đó, điều 20 của Hiến pháp đã quy định: “Mọi người có
quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộvề sức khoẻ, danh dự
và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức
đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.”
- Bộ Luật Dân sự đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14/6/2005 Trong đó, Điều 32 và Điều 37 của Bộ Luật Dân sự
có đề cập tới quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể; quyền
được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín Những người phụ nữ bị BLGĐ là đối
tượng yếu thế Bởi vậy việc đảm bảo về an toàn tính mạng, sức khỏe cũng như danh
dự, nhân phẩm là điều cần thiết Dựa vào Bộ Luật dân giúp cho phụ nữ bị BLGĐ
được đảm bảo quyền lợi của mình
- Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 được thông qua ngày 9/6/2000 (được sửa đổi bổ sung năm 2014) Tại Điều 4 có đề cập đến việc nghiêm cấm các hành vi
bạo lực giữa các thành viên trong gia đình: “Cấm ngược đãi, hành hạ ông, bà, cha,
mẹ, vợ, chồng,con, cháu, anh, chị và các thành viên khác trong gia đình” Điều 12
cũng quyđịnh “Tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng Vợ, chồng tôn
trọng và giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau Cấm vợ, chồng có hành vi
ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau” Những
phụ nữ bị BLGĐ thường chịu những hành vi đánh đập thể xác, thậm chí đe dọa tính
mạng Luật Hôn nhân và gia đình giúp các thành viên trong gia đình có ứng xử phù
hợp và đúng đắn trước Pháp luật
- Luật Bình đẳng giới là đạo luật mang số 73/2006/QH11 được Quốc hội nước
Trang 35Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá XII thông qua vào ngày 29 tháng 11
năm 2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 Luật này quy định
về bình đẳng giới ở Việt Nam
- Luật phòng, chống BLGĐ của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 2 Số 02/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007 Luật ra đời thể hiện sự cam kết mạnh
mẽ của Việt Nam trong việc phòng, chống BLGĐ Luật phòng, chống BLGĐ gồm 6
chương với 46 điều quy định về phòng và chống bạo hành gia đình ở Việt Nam, các
vấn đề phòng ngừa BLGĐ, bảo vệ hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình, trách nhiệm
của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống BLGĐ và xử lý vi phạm
pháp luật về phòng, chống BLGĐ Trong văn bản này, Nhà nước cũng thể hiện rõ
quan điểm ủng hộ cho việc thành lập các mô hình hỗ trợ nạn nhân BLGĐ, trong đó
có mô hình tạm lánh hỗ trợ nạn nhân trong trường hợp khẩn cấp và lâu dài
Xử phạt hành chính
Giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Cơ sở giáo dục, Trường Giáo dưỡng
Tái phạm trong 12 tháng
Tái phạm trong 6 tháng
Tái phạm trong 2 năm BLGĐ
+ Tái phạm:
- Ngược đãi, hành hạ
- Cưỡng ép, cản trở hôn nhân
+ BLGĐ Ô 1
+ Không chấp hành + BLGĐ Ô 2
BLGD
NĐ số 110/2009/NĐ-CP
Ghi chú: Cán bộ, công chức, viên chức người
thuộc lực lượng vũ trang nhân dân có hành vi BLGĐ nếu bị xử lý vi phạm hành chính thì bị thông báo cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người đó
để giáo dục
Sơ đồ xử lý các hành vi bạo lực gia đình
Trang 36Ghi chú về thủ tục pháp lí
Mũi tên mầu đen: xử lý bằng biện pháp của cộng đồng nhằm ngăn chặn hành
vi BLGĐ tái diễn nhiều lần, xây dựng cơ sở pháp lý đẩy lên xử lí hành chính nếu tái
diễn (thuộc thẩm quyền của trưởng thôn hoặc lãnh đạo xã/phường)
Mũi tên mầu hồng: xử lý hành chính đối với những vi phạp pháp luật ở mức độ
không phạm tội (thuộc thẩm quyền của UBND, công an các cấp)
Mũi tên mầu đỏ: xử lý hình sự đối với những vi phạm pháp luật ở mức độ phạm tội
(thuộc thẩm quyền của công an, viện kiểm sát, tòa án, trại giam)
Mũi tên không liền nét màu xanh từ hình sự chuyển về các ô khác: là khi cơ quan tố tụng xem xét và cho rằng không đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì phải
chuyển về các biện pháp xử lý khác
Mũi tên mầu xanh nõn chuối (cả liền nét và không liền nét): khi đã được tổ hòa giải hòa giải rồi mà còn tái phạm và đủ yếu tố để xử phạt hành chính thì xử phạt
hành chính, đồng thời có thể đưa ra cộng đồng phê bình, góp ý
Khung lựa chọn hình thức xử lý hành vi bạo lực gia đình Hòa giải Phê bình trong
cộng đồng
Xử phạt hành chính
Các hình thức xử phạt chính sau:
Bạo lực thể chất: đánh đập, ngƣợc đãi, hành hạ hoặc những hành vi cố ý khác gây tổn
hại đến sức khoẻ, tính mạng của thành viên trong gia đình
thương tích hoặc nhẹ
vòng 12 tháng
lệ thương tật dưới 11%
trong cộng đồng nhưng bạo lực vẫn tiếp diễn
trở lên
tổn thất về danh dự hoặc đau khổ về tinh thần
Trang 37mặc dù đã được hòa giải
chưa đến mức
để xử lý hành chính
chết
nghiêm trọng thì việc thường xuyên gây bạo lực là cơ sở để quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự
Bạo lực tinh thần: Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý đối với thành viên trong gia
đình, gây hậu quả nghiêm trọng Hòa giải
tinh thần không nghiêm trọng như
vài lần
Phê bình trong cộng đồng
nhưng bạo lực tái diễn trong
hành vi bạo lực tinh thần,
ví dụ chửi bới
Hành chính
gây bạo lực xúc phạm tới nhân phẩm hoặc danh dự của thành viên gia đình nhưng chưa tới mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì
bị xử phạt hành chính Ví
dụ như các hành vi:
các hình ảnh, con vật, đồ vật làm thành viên gia đìnhi
gia đình luôn luôn bị giày vò, bị tổn thất về danh dự, hoặc làm nạn nhân đau đớn về tinh
thần
Trang 38lý do ghen tuông gây tổn hại đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của họ;
hoạt động xã hội hợp pháp, lành mạnh;
người thân, bạn bè hoặc có các mối quan hệ xã hội hợp pháp, lành mạnh nhằm mục đích cô lập, gây áp lực thường xuyên về tâm lý với
họ
đêm hoặc lúc trời mưa, bão, gió rét;
…
Bạo lực tình dục: Có hành vi bạo lực trong sinh hoạt tình dục của vợ chồng mà người
vợ hoặc chồng không muốn
Hòa giải
dụng trong những trường hợp nghiêm
trọng này
Phê bình trong cộng đồng
những trường hợp nghiêm
trọng này
Hành chính
gây bạo lực xúc phạm tới nhân phẩm hoặc danh dự của nạn nhân nhưng chưa tới mức truy cứu trách nhiệm hình sự Ví dụ như các hành vi:
phải xem, nghe, đọc những văn hóa phẩm đồi trụy, kinh
hoặc đe dọa kín đáo như làm những dấu hiệu ám chỉ về hậu quả xảy ra nếu người bị bạo lực không chịu quan hệ tình dục
Trang 39phải chứng kiến cảnh sinh hoạt tình dục;
không thể tự vệ được của người bị bạo lực hoặc dùng thủ đoạn khác để quan hệ với
họ
Bạo lực kinh tế: Cƣỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình
trạng phụ thuộc về tài chính Hòa giải
không nghiêm trọng như bắt vợ lao động quá sức
Phê bình trong cộng đồng
nhưng bạo lực tái diễn trong
tài chính nhằm tạo ra sự phụ thuộc về tài chính
của gia đình để sử dụng vào mục đích cá nhân
mình nhằm gây áp lực về tâm lý đối với thành viên gia đình
hoặc làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm
Hình sự
tránh nghĩa vụ cấp dưỡng thì ngưỡng ở đây là “cố ý” và “gây
nghiêm trọng có thể bao gồm việc nạn nhân hoặc con nạn nhân bị đau ốm hoặc tử vong
định trường hợp người phạm tội đã bị xử lý hành chính về hành vi này mà còn vi phạm
áp dụng Điều 143 về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
Trang 40- Bên cạnh đó, còn có các văn bản dưới Luật về lĩnh vực BLGĐ như:
- Chỉ thị số 16/Ct-TTg ngày 30/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức triển khai thi hành Luật phòng, chống BLGĐ
- Nghị định số 08/2009/NĐ-CP ngày 4/2/2009 của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều luật Phòng, chống BLGĐ
- Nghị định số 110/2009/NĐ-CP ngày 10/12/2009 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực phòng, chống BLGĐ
- Quyết định số 2879/QĐ-BVHTTDL ngày 27/6/2008 của Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch về việc triển khai mô hình can thiệp phòng, chống BLGĐ trên toàn quốc
- Thông tư số 02/2010/TT-BVHTTDL ngày 16/3/2010 của Bộ văn hóa, thể thao
và Du lịch quy định chi tiết về thủ tục đăng ký hoạt động; giải thể cơ sở hỗ trợ nạn
nhân BLGĐ; cơ sở tư vấn về PCBLGĐ; tiêu chuẩn của nhân viên tư vấn; cấp thẻ nhân
viên tư vấn; chứng nhận nghiệp vụ chăm sóc, tư vấn và tập huấn PCBLGĐ
- Ngày 25/3/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định TTg phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020.Mục tiêu
32/2010/QĐ-giai đoạn 2010-2015 của Đề án bao gồm: Xây dựng và ban hành mã ngạch, chức
danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức công tác xã hội, tiêu chuẩn đạo đức
cán bộ, viên chức, nhân viên công tác xã hội; Xây dựng ban hành mới hoặc sửa đổi,
bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan nhằm tạo môi trường pháp lý đồng bộ,
thống nhất để phát triển nghề công tác xã hội Giai đoạn 2016-2020: Xây dựng và
ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ cho cán bộ, viên chức, nhân viên, cộng tác viên công
tác xã hội theo các loại hình cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội và theo nhóm
đối tượng; phát triển đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên, cộng tác viên công tác
xã hội ở các cấp, phấn đấu tăng khoảng 50%; xã hội hóa các hoạt động công tác xã
hội theo hướng khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia
việc đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tập
huấn kỹ năng và cung cấp dịch vụ công tác xã hội Tiếp tục nâng cao nhận thức của
toàn xã hội về nghề công tác xã hội
Các Bộ luật, luật, thông tư, nghị định sẽ là căn cứ và là hành lang pháp lý để NVCTXH sử dụng trong các tiến trình hoạt động CTXH của mình