Output file ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ *** PHẠM THỊ CHINH CHIA SẺ RỦI RO VỚI NHÀ ĐẦU TƯ ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TRONG C[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
-*** -
PHẠM THỊ CHINH
CHIA SẺ RỦI RO VỚI NHÀ ĐẦU TƯ ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHUYỂN
GIAO CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DỰ ÁN CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ 60.34.72 Khóa 2005 – 2008
Hà Nội, 2008
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
Người thực hiện: Phạm Thị Chinh
Người hướng dẫn khoa học: TS Mai Hà
Hà Nội, 2008
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
3 Mục tiêu nghiên cứu 9
4 Phạm vi nghiên cứu 9
5 Mẫu khảo sát 10
6 Câu hỏi nghiên cứu 10
7 Giả thuyết nghiên cứu 11
8 Phương pháp chứng minh giả thuyết 11
9 Kết cấu của Luận văn 12
CHƯƠNG 1 13
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, 13
CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ 13
VÀ CHIA SẺ RỦI RO VỚI CÁC NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 13
1.1 Khái niệm hoạt động khoa học và công nghệ 13
1.1.1 Khoa học 13
1.1.2 Công nghệ 13
1.1.3 Hoạt động Khoa học và Công nghệ 15
1.1.4 Nguyên tắc hoạt động khoa học và công nghệ 16
1.1.5 Quản lý khoa học và công nghệ 16
1.2 Chuyển giao công nghệ 17
1.2.1 Khái niệm chuyển giao công nghệ 17
1.2.2 Phạm vi chuyển giao công nghệ 18
1.2.3 Hình thức chuyển giao công nghệ: 19
1.2.4 Nội dung quyền sở hữu công nghệ: 19
1.2.5 Hợp đồng chuyển giao công nghệ: 20
1.2.6 Quản lý chuyển giao công nghệ 24
1.2.7 Hiệu quả chuyển giao công nghệ: 25
1.2.8 Hiệu quả chuyển giao công nghệ trong các dự án FDI tại tỉnh Hải Dương: 27
1.3 Lý luận chung về đầu tư và rủi ro trong đầu tư 28
1.3.1 Khái niệm đầu tư: 28
1.3.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài: 29
1.3.3 Lý luận chung về rủi ro: 31
1.3.4 Rủi ro trong hoạt động đầu tư: 32
1.3.5 Rủi ro trong chuyển giao công nghệ: 32
CHƯƠNG 2 35
HIỆN TRẠNG CÁC RỦI RO THUỘC LĨNH VỰC 35
CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DỰ ÁN 35
CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG 35
2.1 Tổng quan về tỉnh Hải Dương và các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương: 35
2.2 Đánh giá thực trạng các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương 37
2.2.1 Tình hình các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương 37
2.2.2 Kết quả hoạt động sản xuất-kinh doanh của các dự án đầu tư nước ngoài 39
2.2.3 Đầu tư nước ngoài với vấn đề lao động và xã hội tại tỉnh Hải Dương: 40
2.2.4 Đầu tư nước ngoài với việc thu hút kinh nghiệm quản lý và công nghệ: 41
2.2.5 Đầu tư nước ngoài với đóng góp ngân sách Nhà nước: 41
2.3 Thực trạng hệ thống quản lý và thực tiễn quản lý các dự án FDI 44
2.3.1 Khảo sát hệ thống quản lý và thực tiễn quản lý các dự án FDI 44
Trang 42.3.2 Những hạn chế, tồn tại trong các dự án FDI trên địa bàn tỉnh Hải Dương: 47
2.4 Khảo sát hiện trạng các rủi ro trong quá trình chuyển giao công nghệ trong các dự án FDI trên địa bàn tỉnh Hải Dương: 49
2.4.1 Tính tất yếu thực tiễn của các rủi trong quá trình chuyển giao công nghệ trong các dự án FDI 49
2.4.2 Kết quả khảo sát 56
CHƯƠNG 3 72
GIẢI PHÁP NHẰM CHIA SẺ RỦI RO VỚI CÁC NHÀ ĐẦU TƯ 72
ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ 72
TRONG CÁC DỰ ÁN FDI TẠI HẢI DƯƠNG 72
3.1 Tầm quan trọng của chuyển giao công nghệ trong các dự án FDI 72
3.1.1 Năng lực công nghệ của các doanh nghiệp 72
3.1.2 Năng lực kỹ thuật của lao động 73
3.2 Giải pháp từ chính sách vĩ mô 73
3.2.1 Về môi trường pháp lý: 73
3.2.2 Về công tác quản lý nhà nước : 74
3.2.3 Về thủ tục hành chính : 76
3.2.4 Về kết cấu hạ tầng: 76
3.2.5 Về lao động, đào tạo nguồn nhân lực: 76
3.2.6 Về xúc tiến đầu tư: 77
3.2.6 Một số vấn đề khác: 78
3.3 Giải pháp nhằm chia sẻ rủi ro với các nhà đầu tư FDI trên địa bàn tỉnh Hải Dương: 79
3.3.1 Giải pháp cải cách thủ tục hành chính: 79
3.3.2 Giải pháp hỗ trợ triển khai thực hiện dự án đầu tư: 80
3.3.3 Nghiên cứu và áp dụng chính sách ưu đãi: 81
3.3.4 Chính sách hỗ trợ về thuế: 83
3.3.5 Hỗ trợ chuyển giao công nghệ: 84
3.3.6 Hỗ trợ đào tạo 85
3.3.7 Hỗ trợ và khuyến khích phát triển dịch vụ đầu tư 87
3.3.8 Các giải pháp để kiềm chế lạm phát 89
KẾT LUẬN 92
KHUYẾN NGHỊ 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 99
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
KH&CN Khoa học và công nghệ
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tháng 12/1987 Quốc Hội Khoá VIII, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) – văn bản pháp lý đặc biệt quan trọng cho việc
hình thành, phát triển một lĩnh vực kinh tế mới tại Việt Nam Thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) đã trở thành một chủ trương lớn để huy động
nguồn lực cho đầu tư phát triển, góp phần khai thác tốt hơn các nguồn lực
trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp để
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đây chính là biểu hiện cụ thể hoá
đường lối, chính sách đối ngoại của Nhà nước Việt Nam về đổi mới, đa
phương hoá, đa dạng hoá các mối quan hệ quốc tế, trên cơ sở tôn trọng độc
lập chủ quyền, bình đẳng và các bên cùng có lợi
FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng vào tổng đầu tư xã hội và góp phần cải thiện cán cân thanh toán trong giai đoạn vừa qua Các nghiên cứu
gần đây của Bộ Kế hoạch và Đầu tư rút ra nhận định chung rằng khu vực có
vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp quan trọng vào GDP với tỷ trọng ngày
càng tăng Khu vực này góp phần tăng cường năng lực sản xuất và đổi mới
công nghệ của nhiều ngành kinh tế, khai thông thị trường sản phẩm (đặc biệt
là trong gia tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá), đóng góp cho ngân sách
Nhà nước và tạo việc làm cho một bộ phận lao động Bên cạnh đó, FDI có vai
trò trong chuyển giao công nghệ và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài tạo sức ép buộc các doanh nghiệp trong nước phải tự đổi mới công
nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất Các dự án FDI cũng có tác động tích cực
tới việc nâng cao năng lực quản lý và trình độ của người lao động làm việc
Trang 7nguồn lực bên ngoài, tỉnh Hải Dương đã tập trung nhiều nỗ lực, tạo môi
trường đầu tư thuận lợi, thu hút các nguồn vốn FDI Hiện nay kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế, được
khuyến khích phát triển lâu dài, bình đẳng với các thành phần kinh tế khác tại
địa phương
Trải qua hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước chúng ta
đã thu được thành tựu đáng kể trong tất cả mọi lĩnh vực, đặc biệt trong phát
triển kinh tế, đường lối ngoại giao để đạt được những biến đối đặc sắc như
ngày hôm nay Tốc độ GDP tăng từ dưới 4 % trong thập niên 80 lên trung
bình 8% trong thập niên 90, và trung bình 7%/năm trong mấy năm qua
Luỹ kế vốn đầu tư thực hiện của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN đến 31/01/2008 ước đạt 804 triệu USD, tăng 41% tổng lượng vốn đầu tư đăng ký
Thu hút đầu tư cùng với việc hình thành các doanh nghiệp mới, sản phẩm
mới, công nghệ sản xuất, quản lý mới đã tạo cho sự phát triển lan toả tại địa
bàn cùng thế và lực mới cho nền kinh tế Một số doanh nghiệp có quy mô vốn
đầu tư và vốn thực hiện lớn như: Công ty xi măng Phúc Sơn, Công ty TNHH
Ford Việt Nam, Công ty điện tử UMC Việt Nam…
- Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò tích cực trong
việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đặc biệt là bổ sung nguồn vốn
quan trọng cho đầu tư phát triển Hiện nay đã có hàng ngàn công ty nước
ngoài thuộc 62 nước và vùng lãnh thổ có dự án FDI ở Việt nam, trong đó
hàng ngày càng xuất hiện nhiều tập đoàn, công ty xuyên quốc gia lớn, có năng
lực về tài chính và công nghệ cao Việt Nam cũng chú trọng thu hút FDI của
các doanh nghiệp nhỏ và vừa của nước ngoài, vì đó là các doanh nghiệp năng
động, thích ứng nhanh với biến động của thị trường, phù hợp với đối tác Việt
Nam về khả năng góp vốn, năng lực tiếp thu công nghệ, kinh nghiệm về tổ
chức quản lý, tạo thêm nhiều việc làm mới, mang lại hiệu quả xã hội cao
Trong những năm qua, Nhà nước Việt Nam chủ trương tăng cường các mối
quan hệ kinh tế đối ngoại, mở ra những cơ hội mới về hợp tác và phát triển
Trang 8Là một bộ phận của các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, việc thu hút đầu tư
nước ngoài là một hướng ưu tiên Phát huy nội lực là quan trọng, song nội lực
luôn có giới hạn; cần phát huy ngoại lực - nguồn lực từ nhiều quốc gia mà
Việt Nam có quan hệ và các vùng lãnh thổ có nhiều tập đoàn kinh tế mạnh để
phát triển kinh tế của Việt Nam Thực hiện chủ trương tăng cường thu hút và
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư FDI được thể hiện trong các Văn kiện
của Đảng, Nhà nước và tiếp tục được khẳng định qua Văn kiện của Đại hội
Đảng lần thứ X “Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phấn đấu đạt
trên 1/3 tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong 5 năm
(2006-2010) Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức thu hút FDI, hướng vào những
thị trường tiềm năng và các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, tạo sự chuyển
biến mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, hiệu quả nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài”
- Hiệu quả của đầu tư nước ngoài cũng chính là hiệu quả của Việt Nam
Đó là sự tăng trưởng kinh tế kéo theo các lĩnh vực liên quan: việc làm, thu
nhập, dịch vụ đời sống Vì vậy, cần phải đi sâu nghiên cứu để tìm ra nguyên
nhân làm hạn chế hiệu quả của nhà đầu tư, tìm những nguyên nhân dẫn đến
rủi ro để chia sẻ với các nhà đầu tư Chính việc này làm tăng hiệu quả của dự
án hiện tại và tăng sức thu hút của các doanh nghiệp, nhà đầu tư vào sau
- Vai trò khoa học và công nghệ (KH&CN) hết sức to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế Việc ứng dụng KH&CN ngày càng có ý nghĩa lớn
đối với việc nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời góp
phần làm giảm thiểu rủi ro đầu tư
- Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội vừa qua, việc thu hút đầu tư nước ngoài với công nghệ hiện đại góp phần quan trọng vào sự nâng cao hiệu
quả nền kinh tế của tỉnh Hải Dương;
- Hoạt động chuyển giao công nghệ (CGCN) có ý nghĩa trực tiếp trong việc đưa công nghệ mới vào địa bàn và phát huy hiệu quả, hoạt động này đặc
biệt quan trọng đối với các dự án FDI, bởi FDI vào Việt Nam là mang theo
vốn, công nghệ, thiết bị từ nước ngoài vào để tiến hành triển khai hoạt động
Trang 9sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả cho nhà đầu tư và hiệu quả xã hội của
nước sở tại
- Để góp phần tìm ra các giải pháp phát triển kinh tế, Luận văn đề xuất các giải pháp chia sẻ rủi ro cùng với nhà đầu tư để nâng cao hiệu quả CGCN
trong các dự án FDI trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Chính sách lớn của Nhà nước ta trong việc thu hút nguồn vốn FDI nhằm phát triển kinh tế Việt Nam, người lao động được huấn luyện, đào tạo
để trở thành nguồn nhân lực tiếp nhận tri thức công nghệ từ nước ngoài vào
Bên cạnh đó, việc lan toả công nghệ của dòng vốn FDI có tác dụng rất lớn đối
với nhiều lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội của tỉnh Hải Dương (như
công nghệ may mặc, điện tử, cơ khí, lắp ráp ô – tô, dây và cáp điện ô tô, sản
xuất vật liệu xây dựng: xi măng, clinke, nhôm định hình, công nghệ chế biến
nông sản thực phẩm…)
Hiện nay ở các Khu công nghiệp (KCN) các doanh nghiệp được Chính phủ cho phép xây dựng hạ tầng để cho các nhà đầu tư thuê lại, có quy hoạch
rất chi tiết cho từng khu vực (đường đi lại trong KCN, đất cho kho tàng, đất
cho công trình đầu mối, đất trồng cây xanh, đất công cộng, đất xây dựng nhà
nghỉ cho công nhân, đất cho xây dựng các công trình công nghiệp) với tỷ lệ
đất cho phép Tuy nhiên, việc thuê lại làm công trình công nghiệp thường cao
hơn tỷ lệ cho phép vì phần này nhà đầu tư mới thu được tiền nhiều hơn so với
quy định Trong khi đó, tỷ lệ đất giành cho công trình công cộng không được
thu tiền và việc không thực hiện nghiêm túc việc xử lý nước thải trước khi
đưa chất thải ra khu vực công cộng Mặc dù công trình xử lý nước thải đã
được xây dựng và việc các nhà máy trong KCN đã đi vào hoạt động từ lâu,
nhưng công trình xử lý nước thải vẫn không hoạt động vì chất dùng cho xử lý
giá cả rất cao Nhà đầu tư muốn mức chi phí thấp nhất để mang lại lợi ích cao
nhất, mặc dù theo các hợp đồng thuê lại đất trong đó đều có phí 0,2
USD/m2/năm đối với chi phí quản lý và sử dụng dịch vụ công cộng (hệ thống
cấp thoát nước, chất thải, an ninh…) Điều này trái với chủ trương chung của
Nhà nước rằng: thu hút đầu tư vào KCN sẽ kiểm soát được vấn đề bảo vệ môi
Trang 10trường và tập trung vào một đầu mối để quản lý Đây là việc còn lơi lỏng và
chưa nghiêm túc trong khâu quản lý của cơ quan chủ quản, để tình trạng ô
nhiêm môi trường đang hàng ngày hàng giờ ảnh hưởng tiêu cực tới môi
trường sống Sự nhận thức của một bộ phận lãnh đạo, các cơ quan quản lý còn
ở mức độ nhất định, chưa sâu sắc và đầy đủ trách nhiệm về hậu hoạ của ô
nhiễm môi trường đối với tương lai Mặt khác, chủ đầu tư hạ tầng muốn thu
hồi vốn nhanh chỉ cốt làm hạ tầng san lấp mặt bằng, đường nội bộ, …mà
không quan tâm đến các công trình đầu mối xử lý chất thải Việc ô nhiễm môi
trường sống nó sẽ xâm hại và huỷ hoại dần dần sức khỏe con người và có thể
coi đây là tội phạm môi trường (hiện tại Chính phủ đã thành lập bộ phận Cảnh
sát môi trường, hy vọng tương lai về môi trường sẽ được cải thiện hơn, không
hẳn chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế trước mắt mà còn phải quan tâm một
cách nghiêm túc đế vấn đề môi trường) Chính vì vậy, việc xem xét đầu tư
phải xem xét và có chế tài hợp lý để cả đối tác hạ tầng và doanh nghiệp thuê
lại đất phải có trách nhiệm và ý thức giữ gìn môi trường chung, tránh tình
trạng “cha chung không ai khóc” được lợi một ít trước mắt mà bao nhiêu thế
hệ người Việt Nam sau này phải gánh hậu hoạ về vấn đề môi trường ô nhiễm
từ sự phát triển công nghiệp không bền vững
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Năm 2004, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hải Dương đã có đề tài nghiên cứu đánh giá năng lực công nghệ của các dự án trong và ngoài nước,
cuộc khảo sát tiến hành trên quy mô rộng, nhưng cũng không có khả thi, vì
đánh giá năng lực công nghệ là rất khó (phải đánh giá được năng lực đầu tư,
năng lực sản xuất, năng lực cải tiến nhỏ, năng lực marketing, năng lực liên
kết, năng lực đổi mới lớn/thiết kế), chưa có giải pháp để thu hút đầu tư đối với
các dự án có quy mô vốn lớn, công nghệ hiện đại tạo ra sản phẩm có hàm
lượng trí tuệ cao
Hầu hết các dự án lập đều chỉ tính đến phương án thành công, khả thi, không có dự án nào tính đến rủi ro, cũng bởi quan niệm của các cơ quan quản
Trang 11lý Nhà nước Việt Nam chỉ xem xét đến các dự án tính toán thật sự khả thi để
cấp phép và cho thuê đất để triển khai dự án đầu tư tại Việt Nam Chính vì
vậy, khi gặp các biến cố, sẽ khó xoay sở và dẫn đến dự án bị phá sản, gây
thiệt hại cho nhà đầu tư, các đơn vị có liên quan trong quá trình làm ăn và các
cơ quan quản lý Nhà nước phải vào cuộc để giải quyết các hậu quả, mà nhà
đầu tư thua lỗ, có thể bỏ trốn khỏi Việt Nam…
Ở Hải Dương chưa có cơ quan nào nghiên cứu, chưa có công trình khoa
học nào nghiên cứu, phân tích “Chia sẻ rủi ro với các nhà đầu tư để nâng cao
hiệu quả chuyển giao công nghệ trong các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI) trên địa bàn tỉnh Hải Dương”
Các cơ quan quản lý Nhà nước theo lĩnh vực chuyên môn của mình,
hàng năm chỉ lập báo cáo tổng kết để đánh giá sơ bộ về tình hình hoạt động
theo chức năng quản lý, theo dõi các dự án FDI
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu cấp 1: Đề xuất các giải pháp để chia sẻ rủi ro với các nhà
đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ trong các dự án có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên địa bàn tỉnh Hải Dương và đề xuất cơ
chế chính sách để các dự án FDI chuyển giao công nghệ có hiệu quả;
- Mục tiêu cấp 2: Nhận dạng các rủi ro thuộc lĩnh vực chuyển giao
công nghệ trong các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài;
- Mục tiêu cấp 3: Đánh giá hệ thống quản lý và thực tiễn quản lý trong
các dự án có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, xác định những điểm yếu
kém, tìm ra các nguyên nhân dẫn đến các yếu kém đó
Trang 12- Chia sẻ rủi ro với nhà đầu tư nước ngoài bằng cách nào để nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ trong các dự án FDI trên địa bàn tỉnh Hải
công nghệ hiện đại sau mỗi đợt vận động;
- Các chính sách ưu đãi đã đề ra (các chính sách đã thực hiện nay đã hết hiệu lực do thay đổi luật pháp khi Việt Nam gia nhập WTO): Quyết định số
189/2000/QĐ-BTC ngày 24/11/2000 về miễn tiền thuê đất, mặt nước, mặt
biển…; Quyết định số 3149/2002/QĐ-UB ngày 17/7/2002 về việc ban hành
quy định về ưu đãi khuyến khích đầu tư vào Khu công nghiệp trên địa bàn
tỉnh Hải Dương; Quyết định số 920/2003/QĐ-UB ngày 03/4/2003 về việc ban
hành các quy định về ưu đãi khuyến khích đầu tư vào các Cụm công nghiệp
và làng nghề trên địa bàn tỉnh Hải Dương về miễn giảm tiền thuê đất, ưu đãi
về vốn vay, hỗ trợ tiền rà phá bom mìn, hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao
động địa phương, cải cách các thủ tục hành chính ….ngoài ưu đãi chung của
Quốc gia (đã bị dừng vì do ưu đãi vượt quá so với các ưu đãi do Chính phủ
ban hành)
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Rủi ro trong chuyển giao công nghệ (CGCN) có phải là tất yếu hay không? Do nguyên nhân gì? Các rủi ro này đã tác động như thế nào đối với
các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (cả tích cực và tiêu cực)?
- Cần làm gì để nâng cao hiệu quả CGCN trong các dự án FDI?
Trang 137 Giả thuyết nghiên cứu
Luận văn nhằm kiểm chứng các giả thuyết sau đây:
- Rủi ro trong hoạt động CGCN là tất yếu, các rủi ro mày vừa có tác động tích cực vừa có tác động tiêu cực đối với các dự án này, tuy nhiên các
tác động tiêu cực nhiều hơn
- Để nâng cao hiệu quả CGCN cần có biện pháp chia sẻ rủi ro với các nhà đầu tư, thể hiện ở việc cần phải hoàn thiện khung pháp lý, cơ cấu tổ chức
của hệ thống quản lý, tăng cường năng lực của các cơ quan quản lý dự án có
định; Hỗ trợ tiền đền bù giải phóng mặt bằng (đối với Doanh nghiệp ở ngoài
KCN); Hỗ trợ các doanh nghiệp hạ tầng xây dựng KCN, KCX để thu hút nhà
đầu tư tập trung; Hỗ trợ đào tạo cơ bản nhân lực cho các Doanh nghiệp FDI;
Đặc biệt có thể hỗ trợ một khoản tiền nhất định vào giai đoạn đầu
8 Phương pháp chứng minh giả thuyết
- Nghiên cứu hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước
và của tỉnh có liên quan đến thu hút đầu tư, triển khai các hoạt động đầu tư mà
Trang 14tư FDI, khả năng thu hút và dự báo dòng đầu tư FDI trong thời gian tới với
việc vận dụng các cơ chế chính sách đã ban hành, cũng như đề xuất giải pháp
mới)
9 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý khoa học, chuyển giao công nghệ
và chia sẻ rủi ro
- Chương 2: Hiện trạng các rủi ro trong lĩnh vực chuyển giao công
nghệ trong các dự án có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương
- Chương 3: Giải pháp nhằm chia sẻ rủi ro đầu tư nước ngoài
Trang 15PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ,
CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
VÀ CHIA SẺ RỦI RO VỚI CÁC NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
1.1 Khái niệm hoạt động khoa học và công nghệ
1.1.1 Khoa học
Khoa học được hiểu là “hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư
duy” Theo định nghĩa của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000, “Khoa
học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã
hội và tư duy”
Theo quan điểm triết học Mác, khoa học được hiểu là một hình thái ý thức xã hội Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học tồn tại mang
tính độc lập tương đối với các hình thái ý thức xã hội khác Khoa học phân
biệt với các hình thái ý thức xã hội khác ở đối tượng và hình thức phản ánh và
mang một chức năng xã hội riêng biệt
Nhờ có sự phát triển của khoa học và công nghệ, con người ngày càng hiểu biết đầy đủ hơn, chính xác hơn về thế giới xung quanh và nhờ có các
thành tựu khoa học chúng ta sáng tạo ra các phương tiện tìm hiểu, khám phá
và chinh phục thế giới
1.1.2 Công nghệ
Công nghệ là những phương pháp, cách thức dựa trên cơ sở khoa học được sử dụng vào sản xuất để tạo ra sản phẩm vật chất Công nghệ là kết quả
của quá trình vật chất hoá tri thức khoa học, vận dụng các quy luật tự nhiên,
các nguyên lý khoa học vào sản xuất thông qua các phương tiện kỹ thuật,
nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người
Trang 16“Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công
cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”
Theo định nghĩa nêu trên chúng ta thấy công nghệ bao gồm hai yếu tố tinh thần và vật chất Yếu tố tinh thần ở đây là các tri thức khoa học, các
phương pháp, cách thức con người sử dụng nhằm tạo ra những sản phẩm vật
chất Yếu tố vật chất ở đây là các thiết bị kỹ thuật con người sử dụng trong
quá trình sản xuất Con người là nhân tố duy nhất có khả năng tổng hợp các
lực lượng vật chất và tinh thần để áp dụng vào thực tiễn, bởi vì tri thức khoa
học và phương tiện kỹ thuật chỉ có thể phát huy được tác dụng qua quá trình
hoạt động của con người
Chúng ta có thể hiểu công nghệ gồm hai phần, phần cứng và phần mềm
- Phần cứng: là toàn bộ phần ta có thể nhìn thấy được và có thể mua bán được trên thị trường như thiết bị, máy móc, cơ sở vật chất
- Phần mềm, gồm: tri thức, kỹ năng, công thức để sử dụng phần cứng tạo ra sản phẩm vật chất Trong cơ chế thị trường phần mềm cũng có thể mua,
bán hoặc trao đổi trên thị trường
Trong một số trường hợp, người ta phân công nghệ thành bốn nhóm yếu tố cơ bản:
+ Nhóm yếu tố kỹ thuật gồm các thiết bị, máy móc…
+ Nhóm yếu tố con người gồm các chuyên gia nghiên cứu, tư vấn, những người trực tiếp gắn bó với các hoạt động công nghệ
+ Nhóm yếu tố tổ chức gồm các bộ máy, thể chế, quản lý…
+ Nhóm yếu tố thông tin gồm bí quyết sản xuất, công thức, phương thức tiến hành
Để đảm bảo hiệu quả và củng cố thương hiệu của sản phẩm, nhà đầu tư trong quá trình lập dự án đầu tư cần chú ý đến nhu cầu của thị trường với sản
phẩm, nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất, khả năng tài chính, ngoại tệ
đối với máy móc nhập khẩu, nguồn cung cấp thiết bị, trong nước hay nước
ngoài (và nếu nước ngoài thì công nghệ của quốc gia nào, thế hệ nào là phù
Trang 17hợp và mang lại giá trị kinh tế cao, chính sách bảo hộ mậu dịch của Việt
Nam…)
1.1.3 Hoạt động Khoa học và Công nghệ
Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000, hoạt động khoa học và công nghệ bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu khoa học và phát triển
công nghệ, dịch vụ KH&CN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật,
hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công
nghệ
Nghiên cứu khoa học:
Nghiên cứu khoa học là hoạt động khoa học nhằm phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy, sáng tạo ra các
giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn Hoạt động nghiên cứu khoa học bao
gồm: nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng
Phát triển công nghệ
Theo Luật Khoa học và công nghệ, phát triển công nghệ là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới Phát triển công
nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm và sản phẩm thử nghiệm;
Triển khai thực nghiệm:
Là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học đề làm thực nghiệm nhằm tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới;
Sản xuất thử nghiệm:
Là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm để sản xuất thử
ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa
vào sản xuất và đời sống;
Dịch vụ khoa học công nghệ:
Là các hoạt động phục vụ việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, các
dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức
khoa học và công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn
Mục tiêu của hoạt động khoa học và công nghệ:
Trang 18Mục tiêu của hoạt động khoa học và công nghệ là xây dựng nền khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao
trình độ quản lý; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường;
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người mới Việt Nam; góp phần phát triển
nhanh, bền vững kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân
dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh
1.1.4 Nguyên tắc hoạt động khoa học và công nghệ
Hoạt động khoa học và công nghệ phải phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh;
Xây dựng và phát huy năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ kết hợp với việc tiếp thu có chọn lọc các thành tựu khoa học và công nghệ của thế
giới phù hợp với thực tiễn Việt Nam;
Kết hợp chặt chẽ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ với khoa học xã hội nhân văn; gắn liền nghiên cứu khoa học và phát triển
công nghệ với giáo dục và đào tạo, với hoạt động sản xuất, kinh doanh và
phát triển thị trường công nghệ;
Trung thực, khách quan, đề cao đạo đức nghề nghiệp, tự do sáng tạo, dân chủ, tự chủ, tự chịu trách nhiệm
1.1.5 Quản lý khoa học và công nghệ
Quản lý khoa học và công nghệ là công tác tổ chức và quản lý việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ theo những quy trình,
quy định thống nhất nhằm đạt chất lượng và hiệu quả cao nhất;
Quản lý khoa học và công nghệ đóng vai trò rất quan trọng vì nếu như thiếu sự quản lý thống nhất, thiếu sự tổ chức hoạt động nghiên cứu và ứng
dụng một cách khoa học sẽ dẫn tới sự hạn chế kết quả ứng dụng thực tế, gây
lãng phí và có thể gây cản trở đối với sản xuất và dịch vụ
Trang 191.2 Chuyển giao công nghệ
1.2.1 Khái niệm chuyển giao công nghệ
Theo Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006: Chuyển giao công nghệ
là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công
nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ
- Chuyển giao công nghệ là chuyền giao quyền sở hữu, quyền sử dụng công nghệ
+ Cách hiểu thứ nhất: Chuyển giao là phương thức mà một cá nhân/tổ chức/quốc gia có được công nghệ hoặc khả năng công nghệ từ một cá nhân/tổ
chức/quốc gia khác Như vậy nó bao gồm bất kỳ hình thái, dạng thức nào
truyền công nghệ từ nơi này sang nơi khác, trong đó bên giao sẽ mất đi cái
được chuyển cho bên nhận
+ Theo cách hiểu thứ hai: CGCN cho rằng mọi hình thức truyển công nghệ không thể coi “chuyển giao” và chỉ có thể “chuyển giao” là những gì
mất tiền Chuyển giao này tồn tại trong khung cảnh người mua và người bán
công nghệ
- CGCN: chỉ là việc mua bán công nghệ - chuyển giao mất tiền; không chỉ là mua bán công nghệ - bao gồm cà chuyển giao mất tiền và chuyển giao
không mất tiền
Theo Điều 8 về Quyền chuyển giao công nghệ
- Chủ sở hữu công nghệ có quyền chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng công nghệ
- Tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu công nghệ cho phép chuyển giao quyền sử dụng công nghệ có quyền chuyển giao quyền sử dụng công nghệ đó
- Tổ chức, cá nhân có công nghệ là đối tượng sở hữu công nghiệp nhưng đã hết thời hạn bảo hộ hoặc không được bảo hộ tại Việt Nam có quyền
chuyển giao quyền sử dụng công nghệ đó
Biểu hiện của CGCN:
Trang 20+ Bí quyết kỹ thuật: Là thông tin tích luỹ, khám phá trong quá trình nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh của chủ sở hữu công nghệ có ý nghĩa quyết
định chất lượng, khả năng cạnh tranh của công nghệ, sản phẩm công nghệ;
+ Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật, có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản
phẩm)
+ Dịch vụ chuyển giao công nghệ: Là quá trình hỗ trợ quá trình tìm kiếm, giao kết và thực hiện hợp đồng CGCN
+ Định giá công nghệ: Là hoạt động xác định giá của công nghệ
1.2.2 Phạm vi chuyển giao công nghệ
Đối tượng công nghệ được chuyển giao: là một phần hoặc toàn bộ công
nghệ sau đây:
- Bí quyết kỹ thuật;
- Kiến thức kỹ thuật về công nghệ được chuyển giao dưới dạng phương
án công nghệ, quy trình công nghệ, giải pháp kỹ thuật, công thức, thông số kỹ
thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật, chương trình máy tính, thông tin dữ liệu;
- Giải pháp hợp lý hoá sản xuất, đổi mới công nghệ;
Đối tượng công nghệ được chuyển giao có thể gắn hoặc không gắn với đối tượng sở hữu công nghiệp
Đối tượng công nghệ không được chuyển giao:
- Công nghệ không đáp ứng các quy định của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động, bảo đảm sức khỏe con ngươì, bảo vệ tài nguyên và
môi trường;
- Công nghệ tạo ra sản phẩm gây hậu quả xấu đến phát triển kinh tế - xã hội và ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
- Công nghệ không được chuyển giao theo quy định của điều ước quốc
tế mà CHXHCN Việt Nam là thành viên;
- Công nghệ thuộc Danh mục bí mật nhà nước, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
Chủ thể chuyển giao công nghệ:
Trang 21Chủ sở hữu công nghệ có quyền chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng công nghệ;
Chủ thể tiếp nhận công nghệ:
Tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu công nghệ cho phép chuyển giao quyền sử dụng công nghệ có quyền chuyển giao quyền sử dụng công nghệ đó;
Tổ chức, cá nhân có công nghệ là đối tượng sở hữu công nghệ nhưng đã hết
thời hạn bảo hộ hoặc không được bảo hộ tại Việt Nam có quyền chuyển giao
+ Hợp đồng chuyển nhượng thương mại;
+ Hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp;
+ Hợp đồng mua bán máy móc, thiết bị kèm theo CGCN
- Hình thức CGCN khác theo quy định của pháp luật
1.2.4 Nội dung quyền sở hữu công nghệ:
Chuyển giao quyền sở hữu công nghệ:
- Chuyển giao quyền sở hữu công nghệ là việc chủ sở hữu công nghệ chuyển giao toàn bộ quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt công
nghệ cho tổ chức, cá nhân khác, bao gồm:
+ Chuyển giao tài liệu về công nghệ;
+ Đào tạo cho bên nhận công nghệ nắm vững và làm chủ công nghệ theo thời hạn quy định trong hợp đồng CGCN;
+ Cử chuyên gia tư vấn kỹ thuật cho bên nhận công nghệ đưa công nghệ vào sản xuất với chất lượng công nghệ và chất lượng sản phẩm đạt các
chỉ tiêu và tiến độ quy định trong hợp đồng CGCN;
+ Phương thức chuyển giao khác do hai bên thoả thuận
Trường hợp công nghệ là đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghệ thì việc chuyển giao quyền sở hữu công nghệ phải được thực hiện cùng
Trang 22với việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật
về sở hữu trí tuệ
Chuyển giao quyền sử dụng công nghệ (license):
+ Chuyển giao quyền sử dụng công nghệ là việc tổ chức, cá nhân là chủ
sở hữu công nghệ hoặc được chủ sở hữu công nghệ cho phép chuyển giao
quyền sử dụng công nghệ có quyền chuyển giao công nghệ đó
+ Phạm vi chuyền giao quyền sử dụng công nghệ do các bên thoả thuận bao gồm:
- Độc quyền hoặc không độc quyền sử dụng công nghệ;
- Được chuyển giao lại hoặc không được chuyển giao lại quyền sử dụng công nghệ cho bên thứ 3;
1.2.5 Hợp đồng chuyển giao công nghệ:
Nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng CGCN:
- Việc giao kết HĐ CGCN được thực hiện thông qua hợp đồng bằng văn bản hoặc hình thức khá có giá trị tương đương văn bản (điện báo, telex,
fax, thông điệp dữ liệu )
- Ngôn ngữ trong HĐ CGCN do các bên thoả thuận; trường hợp cần giao dịch tại Việt Nam thì phải có HĐ bằng tiếng Việt, HĐ bằng tiếng Việt và
tiếng nước ngoài có giá trị như nhau
- Hợp đồng CGCN được giao kết và thực hiện theo quy định của Luật CGCN, Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại
Tên hợp đồng CGCN, ghi rõ tên công nghệ được chuyển giao; đối tượng công nghệ được chuyển giao; sản phẩm công nghệ được tao ra; Chuyển
Trang 23giao quyền sở hữu, quyền sử dụng công nghệ; phương thức CGCN; quyền và
nghĩa vụ của các bên; Giá, phương thức thanh toán; Thời điểm, thời hạn hiệu
lực của hợp đồng; khái niệm thuật ngữ sử dụng trong HĐ; Kế hoach, tiên độ
CGCN, địa điểm thực hiện CGCN; Trách nhiệm bảo hành công nghệ được
chuyển giao; Phạt vi pham HĐ; Trách nhiệm di vi phạm HĐ; Pháp luật áp
dụng khi giải quyết tranh chấp; Cơ quan giải quyết tranh chấp;
Việc chuyển giao toàn bộ quyền sở hữu công nghệ không mấy phức tạp
về mặt pháp lý, nhưng việc chuyển giao quyền sử dụng công nghệ thì phức
tạp hơn, bởi vậy Luận văn sẽ đi sâu phân tích các dạng hợp đồng license công
nghệ sau đây:
a License độc quyền (Exclusive License)
Là loại license được thể hiện bởi hợp đồng độc quyền, đó là hợp đồng
mà theo đó trong phạm vi và thời hạn chuyển giao, bên được chuyển quyền
được độc quyền sử dụng công nghệ, bên chuyển quyền không được ký kết
hợp đồng sử dụng công nghệ với bất kỳ bên thứ ba nào và chỉ được sử dụng
công nghệ đó nếu được phép của bên được chuyển quyền
b License không độc quyền (Non Exclusive License)
Là loại license được thể hiện bởi hợp đồng không độc quyền, đó là hợp đồng mà theo đó trong phạm vi và thời hạn chuyển giao quyền sử dụng, bên
chuyển quyền vẫn có quyền sử dụng công nghệ, quyền ký kết hợp đồng sử
dụng công nghệ không độc quyền với người khác
Cần phải xác định rõ những trường hợp sau đây:
- Trường hợp 1: trong phạm vi lãnh thổ mà hợp đồng có hiệu lực, cần phải làm rõ thuật ngữ sử dụng trong định nghĩa trên, mặc dù bên chuyển giao
không sử dụng công nghệ trong lãnh thổ mà hợp đồng có hiệu lực, nhưng bên
chuyển giao có được quyền bán sản phẩm được áp dụng công nghệ trên lãnh
thổ mà hợp đồng có hiệu lực không? Nếu không trả lời được câu hỏi này thì
quyền lợi của bên nhận chuyển giao có thể bị ảnh hưởng
- Trường hợp 2: quyền ký kết hợp đồng sử dụng công nghệ không độc quyền với người khác vẫn thuộc về bên chuyển giao, nhưng cần làm rõ phạm
Trang 24vi hoạt động của người khác đó là trên lãnh thổ nào? Nếu người khác đó
không sử dụng công nghệ được chuyển giao trên lãnh thổ mà hợp đồng có
hiệu lực thì có quyền bán sản phẩm được áp dụng công nghệ được chuyển
giao trên lãnh thổ mà hợp đồng có hiệu lực không?
c License sơ cấp (Primary License)
Là loại license được thể hiện bởi hợp đồng giữa bên chuyển quyền sử dụng là chủ sở hữu đối tượng được chuyển giao và bên nhận chuyển giao
quyền sử dụng công nghệ
Trong hợp đồng này, nếu có quy định bên nhận chuyển giao được quyền tiếp tục ký kết hợp đồng sử dụng công nghệ với chủ thể/các chủ thể
khác thì hợp đồng tiếp theo này được gọi là hợp đồng License thứ cấp
d License thứ cấp (Secondary License)
Là loại license được thể hiện bởi hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng công nghệ giữa bên chuyển giao (không là chủ sở hữu công nghệ mà chỉ là
bên nhận chuyển giao) với bên nhận chuyển giao khác quyền sử dụng công
nghệ
Cần lưu ý rằng phạm vi quyền sử dụng công nghệ trong hợp đồng License thứ cấp không được phép vượt phạm vi quyền sử dụng công nghệ
trong hợp đồng License sơ cấp tương ứng
e License bắt buộc (Compulsory licenses): loại license này chỉ áp dụng
đối với công nghệ được bảo hộ là sáng chế
Còn gọi là license không tự nguyện, license cưỡng chế, license được cấp theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền… Việc cấp license
bắt buộc được quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ và tại điều 31 của Hiệp định
Trang 25- Người nắm độc quyền sử dụng sáng chế không thực hiện nghĩa vụ sử dụng sáng chế ;
- Người có nhu cầu sử dụng sáng chế không đạt được thoả thuận với người nắm độc quyền sử dụng sáng chế về việc ký kết hợp đồng sử dụng sáng
chế mặc dù trong một thời gian hợp lý đã cố gắng thương lượng với mức giá
và các điều kiện thương mại thoả đáng;
- Người nắm độc quyền sử dụng sáng chế bị coi là thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy định của pháp luật về cạnh tranh;
- Quyền sử dụng được chuyển giao thuộc dạng không độc quyền, người được chuyển giao quyền sử dụng không được chuyển nhượng quyền đó cho
người khác, trừ trường hợp chuyển nhượng cùng với cơ sở kinh doanh của
mình và không được chuyển giao quyền sử dụng thứ cấp cho người khác;
- Quyền sử dụng được chuyển giao chỉ được giới hạn trong phạm vi và thời hạn đủ để đáp ứng mục tiêu chuyển giao và chủ yếu để cung cấp cho thị
- Thanh toán trọn gói (Lump-sumpayment): đặc điểm của hình thức
thanh toán này là giá cả của công nghệ được chuyển giao được tính trước, bên
nhận chuyển giao thanh toán cho bên chuyển giao một hoặc nhiều lần Hình
thức thanh toán này gây ra rủi ro cho cả bên chuyển giao và bên nhận chuyển
giao, vì cả 2 bên không thể lường trước được các yếu tố vòng đời của công
nghệ dài hay ngắn, hơn nữa vòng đời của công nghệ lại còn phụ thuộc vào
việc các công nghệ cạnh tranh ra đời sớm hay muộn, cả 2 bên cũng khó có thể
dự báo chính xác được nhu cầu của thị trường…
- Thanh toán theo kỳ vụ (royalty), tức là bên nhận chuyển giao sẽ thanh toán
định kỳ cho bên chuyển giao 1 khoản phí định kỳ, thường là hàng năm tương
ứng với 1 tỷ lệ nhất định của giá bán tịnh (net sale value) của sản phẩm áp
Trang 26dụng công nghệ được chuyển giao, royalty này cũng có thể được tính trên lợi
nhuận gộp/lãi ròng Hình thức thanh toán này ít mang lại rủi ro cho cả 2 bên,
nó ràng buộc trách nhiệm của cả 2 bên với công nghệ được chuyển giao
Trong thực tế, bên nhận chuyển giao bao giờ cũng muốn ràng buộc trách
nhiệm của bên chuyển giao về hiệu năng của công nghệ, tính cạnh tranh hoặc
được cung cấp các cải tiến, đổi mới của công nghệ Nếu công nghệ tốt và có
tính cạnh tranh thì royalty sẽ càng cao, hoặc ngược lại royalty sẽ chấm dứt tại
thời điểm công nghệ chết yểu, như vậy bên nhận chuyển giao không lo ngại
về độ dài của vòng đời công nghệ được chuyển giao.1
Trong thực tế việc CGCN trong các dự án FDI trên địa bàn tỉnh Hải Dương chỉ tồn tại ở dạng license đơn giản (simple), chỉ quy định đơn giản A
CGCN cho B trong thời hạn với giá cả nhất định nào đó mà không hề quy
định cụ thể về thị trường, cạnh tranh chính điều này dẫn tới những rủi ro,
mà khi xảy ra thì chưa có cơ sở pháp lý để phân định
1.2.6 Quản lý chuyển giao công nghệ
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước các hoạt động CGCN trong phạm vi cả nước Chính phủ giao nhiệm vụ cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước
Nội dung quản lý Nhà nước về CGCN:
- Ban hành các văn bản pháp luật về CGCN, xây dựng chính sách, chiến lược về CGCN, tổ chức hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các văn
Trang 27- Tuyên truyền và phổ biến kiến thức về CGCN; cung cấp thông tin về công nghệ
- Kiểm tra, thanh tra đối với các hoạt động CGCN, thẩm định và giám định công nghệ, hoạt động cung ứng và sử dụng dịch vụ tư vấn về CGCN
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm pháp luật về CGCN, đánh giá, thẩm định và giám định công nghệ, hoạt động cung ứng và sử dụng
dịch vụ tư vấn về CGCN
- Đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ về CGCN
- Tổ chức hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nêu trên
1.2.7 Hiệu quả chuyển giao công nghệ:
Theo Từ điển tiếng Việt Nam 2002 của Nhà xuất bản Đà Nẵng, thuật ngữ hiệu quả (effect) được định nghĩa như sau: “Hiệu quả là kết quả đích
thực” của một hoạt động, công việc nào đó
Giá trị đầu tư vào công nghệ được thể hiện ở số kinh phí bỏ ra để mua sắm máy móc, thiết bị và thuê các chuyên gia hướng dẫn vận hành dây
chuyền công nghệ, chi phí đào tạo nhân lực tiếp nhận công nghệ, sử dụng
công nghệ một cách tốt nhất để ứng dụng trong sản xuất và đời sống xã hội
Giá trị của Dự án đầu tư có yếu tố công nghệ được thể hiện ở số kinh phí bỏ
ra để đầu tư so với lợi ích thu được sau khi các Dự án đi vào hoạt động
Khái niệm về hiệu quả kinh tế:
Là hiệu số hoặc tỷ số so sánh giữa tổng giá trị kinh tế thu được ở đầu ra (giá trị kinh tế của các sản phẩm KH&CN) do các kết quả nghiên cứu tạo ra ở
thời điểm đánh giá xác định hiệu quả với tổng chi phí đầu vào (nhân lực, tài
chính, nguyên vật liệu, khấu hao thiết bị, năng lượng, cơ sở vật chất, ; công
nghệ thông tin) Hiệu quả kinh tế (HQKT) cũng có thể tiết kiệm được, giảm
giá thành chi phí do ứng dụng kết quả nghiên cứu hoặc tiến bộ kỹ thuật
Công thức là: HQKT = Tổng giá trị, lợi ích thu được (output) - Tổng chi phí nghiên cứu (hoặc đầu tư mua sắm thiết bị, máy móc, nhân lực )
(Input) Hoặc nói theo cách khác, tính theo tỷ lệ:
Kết quả thu được
Trang 28HQKT = - x 100%
Giá trị đầu tư Trong thực tế, việc xác định hiệu quả kinh tế của việc CGCN là khả năng khai thác cao nhất giá trị của công nghệ, hàm lượng của công nghệ chứa
đựng trong sản phẩm, mà sản phẩm đó mang lại cho nhà đầu tư với giá trị
kinh tế cao nhất
Khái niệm về hiệu quả xã hội:
Thể hiện ở mức độ đóng góp của công nghệ đó để giải quyết các vấn đề
xã hội trong từng thời kỳ phát triển xã hội cụ thể, thúc đẩy sự phát triển xã hội
(về con người, cộng đồng, nâng cao chất lượng, trình độ và mức sống của các
tầng lớp dân cư, môi trường ) Hiệu quả xã hội có thể đánh giá qua so sánh
tổng chi phí đầu tư của Dự án với mức độ đóng góp và phạm vi tác động vào
quá trình giải quyết các vấn đề xã hội khác nhau, kết quả thu được qua các lợi
ích Công nghệ của dự án FDI khi vào Việt Nam nói chung và tỉnh Hải
Dương nói riêng, đã giải quyết được bao nhiêu việc làm cho xã hội, số lượng
lao động có trình độ sử dụng được công nghệ đó là bao nhiêu, sản phẩm mà
công nghệ đó có giá trị như thế nào đối với địa phương, quốc gia, khu vực và
thế giới , công nghệ trong các dự án làm thúc đẩy việc đào tạo nguồn nhân
lực cho thời gian kế tiếp khi các công nghệ cùng loại cần đòi hỏi lực lượng
lao động tương ứng
Khái niệm hiệu quả chuyển giao công nghệ:
Hầu hết các hợp đồng CGCN có đến 95% là do các công ty mẹ ở nước ngoài chuyển cho các công ty con đầu tư ở Việt Nam Vì không thấy được các
yếu tố phần mềm của công nghệ (thông tin, con người và thiết chế), cho nên
chúng ta rất coi nhẹ CGCN, số tiền phí chuyển CGCN từ các công ty Việt
Nam trả cho công ty nước ngoài là rất ít Các doanh nghiệp cũng rất ít thuê
chuyên gia kỹ thuật ở nước ngoài, cho đến nay cũng chưa có thống kê để biết
tiền trả cho CGCN, thuê chuyên gia một năm là bao nhiêu, trong khi thống kê
về thiết bị, phụ tùng, nguyên liệu thì rất rành rọt (vì việc nhập khẩu phải khai
Trang 29báo và làm thủ tục tại cơ quan hải quan) Đây chính là một cản trở rất lớn cho
sự phát triển
Hiệu quả chuyển giao công nghệ là khả năng khai thác công nghệ cho
ra những sản phẩm có giá trị xác định, được thị trường chấp nhận và phục vụ
mục đích của con người
1.2.8 Hiệu quả chuyển giao công nghệ trong các dự án FDI tại tỉnh Hải
Dương:
Việc đóng góp của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh chủ yếu là việc đầu tư công nghệ của nhà đầu tư nước ngoài, việc đưa máy
móc, thiết bị, vật tư, công nghệ, bí quyết vào đầu tư trong dự án thành lập
tại Việt Nam (thuê đất, xây dựng nhà xưởng, lắp đặt thiết bị, đào tạo lao động,
vận hành dây chuyền ) để sản xuất tại Việt Nam, tạo ra các sản phẩm trước
hết tiêu thụ tại Việt Nam hoặc họ sản xuất theo đơn đặt hàng của nước ngoài
Thông thường nhà đầu tư thường có nhà máy sản xuất tại nước ngoài, nay muốn mở rộng thị trường sản xuất, kinh doanh, tận dụng nguồn lực tự
nhiên tại Việt Nam (như mặt bằng, nguồn nhân lực, chính sách khuyến khích
của Nhà nước Việt Nam trong việc thu hút đầu tư FDI ) Vì vậy, nhà đầu tư
sang Việt Nam họ mang theo vốn, công nghệ, kinh nghiệm và thực hiện việc
chuyển giao công nghệ vào Việt Nam Điều này làm cho nền kinh tế của Việt
Nam phát triển, thúc đẩy việc đào tạo nguồn nhân lực (trong các trường và
các Trung tâm đào tạo nhân lực khoa học công nghệ) sao cho đáp ứng nhu
cầu của nhà đầu tư nước ngoài trong việc tiếp nhận thông tin, để vận hành
công nghệ Trong quá trình hoạt động nhà đầu tư có thể dần chuyển giao công
nghệ của mình cho bên Việt Nam sử dụng, và vì vậy nguồn nhân lực đòi hỏi
phải có đủ tri thức để tiếp nhận và làm chủ công nghệ
Nhà đầu tư đạt hiệu quả cao trong đầu tư, sản xuất – kinh doanh là góp phần cho nền kinh tế của Việt Nam phát triển; sự tăng trưởng kinh tế của từng
nhà đầu tư kéo theo sự tăng trưởng của toàn bộ hệ thống kinh tế và các lĩnh
vực khác có liên quan như: lao động, thu nhập, dịch vụ Chính vì vậy, khi nhà
đầu tư bị rủi ro trong đầu tư thì không ai khác nhà nước trung ương và địa
Trang 30phương, doanh nghiệp, cộng đồng cùng chung tay giúp đỡ sẻ chia để nhà đầu
tư vượt qua bước thăng trầm để đạt được thành công Chỉ có như vậy mới
nuôi dưỡng được niềm hy vọng, ý tưởng của chính nhà đầu tư hiện tại và góp
phần thu hút các nhà đầu tư trong tương lai mạnh về năng lực tài chính,
nghiên cứu để có công nghệ cao, công nghệ mới vào Việt Nam nói chung và
Hải Dương nói riêng
1.3 Lý luận chung về đầu tư và rủi ro trong đầu tư
1.3.1 Khái niệm đầu tư:
“Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu được các kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định
trong tương lai; Các nguồn lực sử dụng có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên,
là sức lao động và trí tuệ Những kết quả đạt được có thể là sự gia tăng tài sản,
vật chất, tài sản tài chính hoặc tài sản trí tuệ và nguồn lực có đủ điều kiện để
làm việc với năng suất cao hơn cho nền kinh tế và cho toàn bộ xã hội” (Giáo
trình Lập dự án đầu tư – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân)
Khái niệm dự án đầu tư:
Dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ:
- Về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết, có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm
đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong
tương lai;
- Xét trên góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong
một thời gian dài;
- Trên góc độ kế hoạch hoá: Dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh
tế - xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ Xét theo góc độ
này, dự án đầu tư là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác
kế hoạch hoá nền kinh tế nói chung (một đơn vị sản xuất trong cùng một thời
kỳ có thể thực hiện nhiều dự án);
Trang 31- Xét về mặt nội dung: Dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa
điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất
định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai
* Mục tiêu của dự án: Mục tiêu phát triển thể hiện sự đóng góp của dự
án vào việc thực hiện các mục tiêu chung của một quốc gia, những lợi ích
mang lại cho nền kinh tế - xã hội; Mục tiêu trực tiếp của chủ đầu tư: mục tiêu
cụ thể cần đạt được của việc thực hiện dự án, mục tiêu này được thực hiện
thông qua những lợi ích tài chính mà chủ đầu tư thu được từ dự án
1.3.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài:
Khái niệm về đầu tư:
Theo quy định của Luật Đầu tư năm 2005 “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thanh tài sản tiến
hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác
của pháp luật có liên quan”
Đầu tư trực tiếp:
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư
(Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ cố giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông
qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp
tham gia quản lý hoạt động đầu tư)
Nhà đầu tư:
“Nhà đầu tư là người (hay tổ chức) đại diện hợp pháp của tổng kinh phí đăng ký đầu tư”
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (ở Việt Nam):
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm: doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam;
doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập,
mua lại
Trang 32Hoạt động đầu tư:
Hoạt động đầu tư là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và quản lý dự án đầu tư
Dự án đầu tư:
Dự án đầu tư là tập hợp các đề suất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác
định (gồm dự án đầu tư mới và dự án mở rộng quy mô)
Dự án có vốn đầu tư nước ngoài:
Dự án có vốn đầu tư nước ngoài (các loại hình đầu tư: BCC, BT, BTO, BOT…): Là dự án đầu tư tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết cho việc
thực hiện dự án được đảm bảo bằng một phần hoặc toàn bộ nguồn vốn của
nước ngoài (Nguồn vốn nước ngoài do các tổ chức nước ngoài, cá nhân có
quốc tịch nước ngoài, hoặc người Việt Nam định cư lâu dài ở nước ngoài đưa
vào Việt Nam để thực hiện thông qua dự án đầu tư):
Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC: bussiness co-oporation contract);
là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh
phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân
Hợp đồng xây dựng – kinh doanh - chuyển giao (BOT):
Là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời
hạn nhất định, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà
nước Việt Nam
Hợp đồng xây dựng-chuyển giao-kinh doanh (BTO): là hình thức đầu
tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng
công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao
công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền
kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư
và lợi nhuận
Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT):
Trang 33Là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong,
nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ
Việt Nam tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn
đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng BT
Dự án đầu tư trực tiếp:
Là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn và tham gia quản lý hoạt động đầu tư (VD: góp vốn vào Công ty TNHH, nhà đầu tư tham gia Hội đồng
thành viên và trở thành người quản lý công ty/hay góp cổ phẩn, nhà đầu tư trở
thành cổ đông và được trực tiếp tham gia Đại hội cổ đông – cơ quan quản lý
cao nhất của công ty cổ phần)
Dự án thì được đầu tư tại một địa điểm nhất định; khác với đăng ký kinh doanh của một doanh nghiệp thì được hoạt động trong phạm vi toàn
quốc Việc quyết định về địa điểm là một quyết định có tầm quan trọng chiến
lược Địa điểm tác động lâu dài đến hoạt động và lợi ích của doanh nghiệp,
đồng thời ảnh hưởng lâu dài đến dân cư quanh vùng
1.3.3 Lý luận chung về rủi ro:
Khái niệm rủi ro:
Rủi ro là việc làm hạn chế khả năng tối đa vốn có của sự vật hiện tượng trong một khoảng thời gian nhất định; rủi ro được cho là nó nằm ngoài dự
kiến của con người trong quá trình tính toán;
Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm có thể phát sinh từ một vài tiến trình hay một vài sự kiện; Rủi ro là sự kiện không may xảy ra luôn gắn liền với
hoạt động và môi trường sống của con người
Các loại rủi ro:
Rủi ro động và rủi ro tĩnh; rủi ro cơ bản và rủi ro riêng biệt; rủi ro thuần tuý và rủi ro đầu cơ
+ Rủi ro động:
Từ những rủi ro liên quan đến sự luôn thay đổi, đặc biệt là trong nền kinh tế Đó là những rủi ro mà hậu quả của nó có thể có lợi, nhưng cũng có
Trang 34thể sẽ mang đến sự tổn thất (sự thay đổi về thị hiếu khách hàng có thể phù
hợp với sản phẩm mà doanh nghiệp đang kinh doanh hay không, sự thay đổi
về công nghệ kỹ thuật có phù hợp với khả năng tài chính của doanh nghiệp
hay không, sự thay đổi có quá nhanh hay không?)
+ Rủi ro tĩnh: là những rủi ro, mà hậu quả của nó chỉ liên quan đến sự
xuất hiện tổn thất hay không, chứ không có khả năng sinh lời, và không chịu
sự ảnh hưởng của những thay đổi trong nền kinh tế Những rủi ro tĩnh thường
liên quan đến các đối tượng: tài sản, con người, trách nhiệm dân sự
1.3.4 Rủi ro trong hoạt động đầu tư:
Là khả năng làm giảm hiệu quả đầu tư so với tính toán ban đầu, làm cho năng suất thấp hơn dự kiến, sản phẩm kém chất lượng hơn dự định, thị
trường tiêu thụ kém hơn hoặc không có khả năng bán sản phẩm, thị trường
1.3.5 Rủi ro trong chuyển giao công nghệ:
Là những thiệt hại gây ra cho chủ sở hữu công nghệ hoặc cho người sử dụng công nghệ, trong quá trình thực hiện các Hợp đồng CGCN
Những rủi ro do biến động của thị trường trong quá trình CGCN, khi Hợp đồng vẫn còn hiệu lực, xuất hiện đối thủ cạnh tranh mới
Rủi ro không mong đợi, ví dụ: ký hợp đồng bán hàng trả chậm với một công ty nước ngoài, không tính toán được một cuộc lạm phát phi mã ở đất
nước này, đồng tiền mất giá, doanh vụ bị thua thiệt, thậm chí dẫn đến công ty
bị phá sản
Rủi ro được chủ động chấp nhận có tính toán từ trước, chẳng hạn chấp nhận rủi ro đổi mới công nghệ, hoặc phải chấp nhận một cuộc chiến tranh
không cân sức với một kẻ xâm lược hùng mạnh…
Trang 35Kết luận Chương 1:
Trong Chương 1, trình bầy các khái quát cơ bản của Luận văn;
1 Luận văn đã nêu những khái niệm về đầu tư, các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, công nghệ, hiệu quả dự án, hiệu quả đầu tư, hiệu quả
kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả của công nghệ trong các dự án FDI; các
khái niệm về chuyển giao công nghệ (CGCN), các hình thức CGCN; khái
niệm về rủi ro, sự chia sẻ rủi ro bằng cách nào để thu hút nhà đầu tư có năng
lực về vốn và công nghệ vào Hải Dương
2 FDI hình thành mối quan hệ giữa các lợi ích cơ bản: lợi ích đất nước
với lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài; lợi ích Bên Việt Nam với lợi ích Bên
nước ngoài; lợi ích người sử dụng lao động với lợi ích người lao động
Việc thu hút ĐTNN nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của các chiến lược phát triển của địa phương; còn nhà đầu tư nước ngoài đến Việt
Nam chủ yếu nhằm mục đích lợi nhuận Do vậy, trong bối cảnh đang diễn ra
cuộc cạnh tranh thu hút FDI khá gay gắt đòi hỏi Nhà nước trung ương và địa
phương phải xây dựng thể chế, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn để hài hòa được
lợi ích đất nước với lợi ích nhà đầu tư thì mới có thể thu hút được nhiều FDI
3 Chính sách, luật pháp của Nhà nước phải được thực hiện thống nhất trong cả nước Ngành và địa phương có thể vận dụng chính sách, luật pháp
phù hợp với đặc điểm của mình, nhưng không thể vượt ra ngoài khung khổ
mà Nhà nước đã quy định
Cần lưu ý rằng, Việt Nam có quyền ban hành chính sách và luật pháp thì các nhà đầu tư có quyền lựa chọn quốc gia mà họ thực hiện dự án Trong
trường hợp lợi ích của họ hài hòa với lợi ích nước ta thì họ sẽ triển khai dự án;
ngược lại, nếu chính sách, luật pháp không tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn
thì họ không đầu tư, thậm chí chuyển nhà máy đang được vận hành sang nước
khác (tuy nhiên họ cũng phải chịu rủi ro từ các nguyên nhân này) Có nghĩa là
chúng ta có rất nhiều quyền, nhưng nhà ĐTNN có quyền đó là "quyền không
đầu tư" mà đã "không đầu tư" thì không có điều gì bàn cãi ở Việt Nam nữa?
Trang 36Tuy nhiên, cũng cần nhận biết giới hạn đáp ứng lợi ích nhà đầu tư trong khi
hình thành chính sách và luật pháp, để không làm tổn hại lợi ích dân tộc, đất
nước
4 Các hiệu quả trong CGCN đã được đánh giá qua các số liệu so sánh
Trang 37CHƯƠNG 2
HIỆN TRẠNG CÁC RỦI RO THUỘC LĨNH VỰC CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DỰ ÁN
CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG
2.1 Tổng quan về tỉnh Hải Dương và các dự án có vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương:
Điều kiện tự nhiên: Hải Dương là tỉnh đồng bằng sông Hồng, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, với diện tích 1.848,3 km2, dân số
khoảng 1,7 triệu người {29,6} Tỉnh gồm 12 huyện, thành phố Địa hình thấp
dần từ Bắc xuống Nam, có các đồng bằng và miền núi; độ cao trung bình 2,5
m {29,3}
Tỉnh nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình 230
C/năm Lượng mưa trung bình: 1500-1700
mm {29,4} Độ ẩm không khí giữa ngày và đêm, giữa mùa nóng và mùa lạnh
khá cao Tuy nhiên rất thuận lợi cho việc trồng trọt, chăn nuôi và phát triển
công nghiệp
Điều kiện về dân số, nguồn nhân lực:
Dân số toàn tỉnh Hải Dương khoảng 1,7 triệu người, mật độ dân số trung bình là 1.030 người/km2 Tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp và nguồn nhân
lực khao học và công nghệ cũng không cao Mức lương bình quân cho một
lao động khoảng 12 triệu đồng/năm, tháp hơn mức trung bình cả nước
Điều này khó khăn cho việc cung cấp nhân lực khoa học và công nghệ cho các dự án đầu tư nói chung và đặc biệt là các dự án có vốn đầu tư nước
ngoài nói riêng
Điều kiện kinh tế:
Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hải Dương giai đoanh
2006-2020 nêu rõ: “Trong giai đoanh 2001-2005, tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt
10,57%, trong đó công nghiệp-xây dựng tăng 14,79%/năm, nông nghiệp-thuỷ
lợi tăng 4,25% và dịch vụ tăng 10,79%/năm Tăng trưởng kinh tế của Hải
Trang 38Dương thường đạt mức cao hơn mức trung bình cả nước Tuy nhiên, cũng
như nhiều địa phương khác, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của kinh
tế chưa cao, chưa tạo được tiền đề vững chắ cho các bước phát triển tiếp theo
Với điều kiện kinh tế như vậy, Hải Dương có nhiều tiềm năng để thu hút nhà
đầu tư trong và ngoài nước, đặc biệt trú trọng nguồn vốn đầu tư trực tiếp của
nước ngoài (một nguồn lực vô tận và đầy tiềm năng)
* Các dự án đầu tư ở Hải Dương:
Trong giai đoạn 2001-2005, tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 10,57%/năm (vượt bình quân cả nước 3,07%), trong đó công nghiệp-xây
dựng tăng 14,79%, nông nghiệp-thuỷ lợi sản lượng tăng 4,25% và dịch vụ
tăng 10,79%/năm {29,23}
Tăng trưởng kinh tế đạt cao như vậy là do việc thực hiện đầu tư thông qua các Dự án đầu tư đạt kết quản tốt (hiệu quả của nhà đầu tư thông qua dự
án đầu tư chính là hiệu quả tăng trưởng kinh tế của tỉnh Hải Dương, góp vào
hoàn thành chương trình mục tiêu tăng trưởng kinh tế của toàn quốc
Hàng nghìn dự án đầu tư thuộc các thành phần kinh tế: Nhà nước, dân doanh, đầu tư trực tiếp nước ngoài; thuộc các lĩnh vực kinh tế và xã hội đi vào
hoạt động và phát huy hiệu quả
Tổng vốn đầu tư của các dự án đầu tư trong giai đoạn 2001-2005 đạt khoảng 22.615 tỷ đồng, tăng bình quân 13,8 %/năm, trong đó vốn ngân sách
chiếm 19,3%, vốn tín dụng 40,8%, khu vực dân doanh 17,8%, khu vực đầu tư
nước ngoài 18%
Các dự án đầu tư tập trung nhiều các lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội Đối với hạ tầng kinh tế có các dự án đầu tư trong lĩnh
vực giao thông, thuỷ lợi, điện nước, hạ tầng khu du lịch trọng điểm, hạ tầng
thành phố Hải Dương, hạ tầng nông thôn Đối với hạ tầng xã hội có các dự án
đầu tư trong lĩnh vực y tế, giáo dục trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Đặc biệt trong định hướng phát triển kinh tế của tỉnh Hải Dương, phấn đấu
đến 2020 tỉnh Hải Dương là tỉnh công nghiệp, chính vì vậy tỉnh đã chủ
trương thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI: foreign direct investment)
Trang 39trên các lĩnh vực: công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghệ điện tử,
lắp ráp ô tô, giày da, may mặc, sản xuất bánh kẹo, thức ăn chăn nuôi gia súc
gia cầm…
2.2 Đánh giá thực trạng các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
trên địa bàn tỉnh Hải Dương
2.2.1 Tình hình các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh
Hải Dương
Đến hết năm 2007, trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện có 189 dự án ĐTNN đến từ 21 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng số vốn đầu tư đăng ký là
1.925,8 triệu USD (trong đó ở ngoài Khu công nghiệp có 91 dự án với tổng
vốn đầu tư 808,3 triệu USD, trong các Khu công nghiệp có 78 dự án với tỏng
vốn đầu tư là 1.117,5 triệu USD) Tổng lượng vốn đầu tư thực hiện tại địa bàn
ước đạt trên 800 triệu USD, thu hút 43.000 lao động làm việc trực tiếp tại các
doanh nghiệp và hàng ngàn lao động gián tiếp khác - Sửa theo số liệu năm
2008 (Riêng 6 tháng đầu năm 2008, toàn tỉnh (cả trong và ngoài KCN) đã thu
hút được 27 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, với vốn đầu tư đăng ký đatk
262,3 triệu USD, vốn đầu tư thực hiện đạt 111 triệu USD, doanh thu đạt 55
triệu USD, nộp ngân sách đạt 40 triệu USD, lao động thu hút thêm 6.000
người - nâng tổng số lao động thu hút trong các dự án FDI lên 51.000 người)
Lĩnh vực công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất (95,7%) với 147 dự án
và 1.842,2 triệu USD; lĩnh vực nông nghiệp và chế biến nông, lâm, thực phẩm
chiếm 2,9% với 15 dự án và 56,7 triệu USD; lĩnh vực dịch vụ chiếm 1,4% với
7 dự án và 26,9 triệu USD
Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm 140 dự án và 1.456,4 triệu USD, chiếm 75% tổng vốn đăng ký đã thể hiện ưu thế so với
hình thức doanh nghiệp liên doanh (28 dự án và 469,1 triệu USD, chiếm
24,4% tổng vốn đăng ký), hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh chỉ có 01
dự án
Tổng số 21 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Hải Dương:
Trang 40STT Nước đầu tư vào Hải
Quốc: 4,7%; Trung Quốc: 4%; Hồng Kông: 4% Đầu tư nước ngoài vào tỉnh
thông qua nước thứ ba (Samoa và Cộng hoà Mauritius) khá lớn, chủ yếu của
các nhà đầu tư từ Đài Loan
Thu hút ĐTNN đã góp phần tạo ra năng lực sản xuất mới, hình thành các ngành nghề mới và các sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao trên thị
trường, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, đồng thời tại điều kiện khai thác các nguồnlực của địa phương
mà trước đây còn ở dạng tiềm năng như đất đai, nhà xưởng, nguồn nhân
lực…; hiệu quả đem lại là giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao
động; tăng nguồn thu cho nhân sách, công tác quản lý nhà nước cũng được
quan tâm toàn diện hơn đối với tất cả các thành phần kinh tế trên địa bàn
ĐTNN có ý nghĩa rất lớn trong việc huy động vốn và đóng góp tăng trưởng
kinh tế của tỉnh Hải Dương: Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
trung bình mỗi năm có trên 200 tỷ đồng (thời kỳ 1991-2000); 890 tỷ đồng
(thời kỳ 2001-2005), chiếm 18,3% tổng vốn đầu tư xã hội; riêng năm 2007
trên 3050 tỷ đồng được đưa vào đầu tư, chiếm 30,2% tổng vốn đầu tư xã hội
tại địa bàn, góp phần tăng trưởng kinh tế địa phương Đầu tư nước ngoài đóng