1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hàm ngôn trong tác phẩm nguyễn ngọc tư khóa luận tốt nghiệp

129 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hàm Ngôn Trong Tác Phẩm Nguyễn Ngọc Tư
Tác giả Đỗ Thị Kim Lai
Người hướng dẫn Tiến Sĩ Huỳnh Bá Lân
Trường học Trường Đại học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn - Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2019
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì thế, việc tìm hiểu về hàm ngôn trong các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư là cần thiết để giúp chúng ta hiểu được những tầng nghĩa khác nhau chứa đựng trong đó một cách toàn diện hơn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐỖ THỊ KIM LAI

HÀM NGÔN TRONG TÁC PHẨM NGUYỄN NGỌC TƯ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC

Hệ đào tạo: CNTNKhóa học: 2015 - 2019

TP HỒ CHÍ MINH, 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐỖ THỊ KIM LAI

HÀM NGÔN TRONG TÁC PHẨM NGUYỄN NGỌC TƯ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC

Hệ đào tạo: CNTNKhóa học: 2015 - 2019 NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TIẾN SĨ HUỲNH BÁ LÂN

TP HỒ CHÍ MINH, 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện và hoàn thành đề tài khóa luận này, tôi đã nhận được rất nhiều

sự hỗ trợ, quan tâm và động viên từ nhà trường, thầy cô và bạn bè Khóa luận được hoàn thành dựa trên sự tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các kết quả nghiên cứu liên quan, các sách, báo chuyên ngành của nhiều tác giả ở các trường Đại học, các tổ chức nghiên cứu Đặc biệt là sự hợp tác, tạo cả điều kiện vật chất

và tinh thần từ các cán bộ giáo viên của trường, gia đình và bạn bè

Trước hết em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy, TS Huỳnh Bá Lân là người đã trực tiếp hướng dẫn bài nghiên cứu này Thầy luôn dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài

Tôi xin trân trọng cám ơn các thầy cô giáo bộ môn Ngôn ngữ học cũng như khoa Văn học và Ban giám hiệu nhà trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ, truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong đề tài khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong quý thầy cô, các chuyên gia và những người quan tâm đến đề tài tiếp tục có những ý kiến đóng góp và giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 5

2.1.Về hàm ngôn……… 5

2.2 Về tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư……… 8

3 Đối tượng nghiên cứu 10

4 Phương pháp nghiên cứu 10

5 Đóng góp của khóa luận 11

6 Cấu trúc của khóa luận 11

PHẦN NỘI DUNG………13

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT 13

1.1 Lý thuyết về hàm ngôn 13

1.1.1 Khái niệm hàm ngôn và các thuật ngữ liên quan 13

1.1.2 Phân loại hàm ngôn 15

1.1.2.1 Hàm ngôn quy ước……… 15

1.1.2.2 Hàm ngôn hội thoại……… 15

1.1.3 Các cơ chế tạo hàm ngôn 16

1.1.3.1 Vi phạm quy tắc chiếu vật và chỉ xuất……… 17

1.1.3.2 Sử dụng hành động ngôn ngữ gián tiếp……… 18

1.1.3.3 Vi phạm quy tắc lập luận……… 19

1.1.3.4 Vi phạm quy tắc hội thoại……… 19

1.1.4 Mục đích dùng hàm ngôn ……… 21

1.1.4.1 Tăng sức hấp dẫn, thuyết phục cho lời nói……… 22

1.1.4.2 Khiêm tốn, lịch sự 22

1.1.4.3 Không muốn trực tiếp làm mất thể diện người nghe 23

1.1.4.4 Châm biếm 23

Trang 5

1.1.4.5 Không chịu trách nhiệm trực tiếp về hành động ngôn từ……… 24

1.2.Cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư 24

1.2.1.Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư 24

1.2.2.Sự nghiệp thành công của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư 27

TIỂU KẾT……… 30

CHƯƠNG 2:CÁC CƠ CHẾ TẠO HÀM NGÔN TRONG TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 31

2.1.Cơ sở nhận diện và cơ chế tạo hàm ngôn trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư 31

2.1.1 Cơ sở để nhận diện hàm ngôn trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư 31

2.1.2 Các cơ chế tạo hàm ngôn trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư 32

2.2 Cơ chế tạo hàm ngôn hội thoại trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư 33

2.2.1 Vi phạm phương châm về chất 35

2.2.2 Vi phạm phương châm về lượng 37

2.2.3 Vi phạm phương châm về cách thức 42

2.2.4 Vi phạm phương châm quan hệ 44

2.3 Cơ chế tạo hàm ngôn quy ước trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư……… 48

2.3.1 Vi phạm quy tắc lập luận……… 48

2.3.2 Vi phạm quy tắc chiếu vật và chỉ xuất………51

2.3.3 So sánh……….53

2.3.4 Dùng thành ngữ, tục ngữ, ca dao……….56

2.3.5 Dùng thực từ………59

2.3.6 Dùng hư từ……… 61

2.3.7 Dùng câu chất vấn……… 65

2.3.8 Sử dụng hành động ngôn ngữ gián tiếp……… 68

TIỂU KẾT……….70

CHƯƠNG 3: CHỨC NĂNG VÀ TÁC DỤNG CỦA HÀM NGÔN TRONG TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 71

3.1 Chức năng của các hàm ngôn trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư 71

3.1.1 Né tránh 72

Trang 6

3.1.2.Gợi ý 74

3.1.3 Trách móc……… 76

3.1.4 Ít lời nhiều ý……… 78

3.1.5 Khuyên……… 80

3.1.6 Mỉa mai……… 81

3.1.7 Cấm đoán……… 82

3.1.8 Phản đối - không đồng tình……… 83

3.1.9 Nịnh bợ……… 85

3.1.10 Hối hận……… 87

3.1.11 Khen……… 88

3.1.12 Từ chối……… 90

3.1.13 Chửi……… 90

3.2 Tác dụng của hàm ngôn trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư 92

3.2.1 Thể hiện những tư tưởng, triết lý của nhà văn 93

3.2.2 Thể hiện những vấn đề bức bách của nông thôn Việt Nam hiện nay 96

3.2.3 Thể hiện ý thức trân trọng, giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc 98

TIỂU KẾT 99

PHẦN KẾT LUẬN 100 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

Do vậy, hàm ngôn đã được sử dụng trong các hành vi giao tiếp, thông qua lối nói gián tiếp để tránh nói thẳng vào sự thật nên đòi hỏi người nghe/ người đọc phải có một khả năng suy luận để có thể hiểu đúng hàm ý của người nói/ người viết Và việc biết sử dụng hàm ngôn đúng nơi, đúng lúc sẽ có tác dụng làm tăng tính hấp dẫn, thuyết phục cho lời nói và văn bản Bên cạnh đó, dựa vào việc tập trung tìm cách lý giải được hàm ngôn trong quá trình giao tiếp sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc vấn đề và đạt hiệu quả cao hơn

Không có gì là lạ khi ta thấy sự xuất hiện nhiều của hàm ngôn trong các tác phẩm văn chương nghệ thuật Các nhà văn luôn đề cao việc thể hiện những suy nghĩ, những điều mà mình muốn nói trong các tác phẩm của mình bằng kiểu “lời ít

ý nhiều”, để độc giả của mình tự “vận động”, tự “suy diễn” và chính những cá nhân đó giúp tác phẩm trở nên đa dạng, phong phú và sinh động hơn về mặt ý nghĩa cũng như là bằng chứng chứng tỏ tài năng của tác giả Tài năng đó được thể hiện qua phương pháp ngôn ngữ “kiệm lời” nhưng lại chứa đựng nhiều ý nghĩa, tức là cách thể hiện ý hàm ngôn, ngầm ẩn, nói như không nói Để từ đó, người đọc muốn hiểu hay nắm bắt được những hàm ngôn phức tạp, sâu sắc trong tác phẩm văn học nghệ thuật hiển nhiên phải trau dồi năng lực ngôn ngữ và rèn luyện tư duy nghệ thuật Hơn nữa, nếu muốn hiểu được ngôn ngữ thì ta nhất định phải đặt nó vào trong tác phẩm, vào trong lời ăn tiếng nói hằng ngày Hai vấn đề này cần đi

Trang 8

đôi với nhau, gắn chặt với nhau để có thể tạo nên một thế giới nghệ thuật đích thực, tồn tại bởi nhà văn và độc giả

Nguyễn Ngọc Tư, một nhà văn trẻ mới xuất hiện trên diễn đàn văn học hơn mười năm nay đã trở thành một hiện tượng vô cùng đặc biệt, luôn là đề tài trong các cuộc tranh luận văn chương và được bạn đọc rất chú ý Dù còn trẻ nhưng chị

đã khẳng định được tài năng của mình qua nhiều giải thưởng có uy tín, tiêu biểu như: Giải Nhất cuộc vận động sáng tác "Văn học tuổi 20 lần II" do Nhà xuất bản Trẻ, Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh và báo Tuổi trẻ tổ chức năm 2000 với

tập truyện "Ngọn đèn không tắt"; Giải của Hội Nhà văn Việt Nam các năm 2001,

2004, 2006; Giải Ba cuộc thi sáng tác truyện ngắn 2003-2004 của báo Văn Nghệ

với truyện ngắn "Đau gì như thể…"; Giải thưởng văn học ASEAN năm 2008;

Tặng thưởng dành cho tác giả trẻ của Uỷ ban Toàn quốc liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam

Nguyễn Ngọc Tư khắc dấu ấn tên tuổi của mình bằng chính sự chân chất của một cô gái tỉnh lẻ trong bối cảnh văn chương Việt Nam đang loay hoay làm mới văn xuôi Với lối viết truyền thống, cổ điển, văn chương của chị đứng ngoài khuynh hướng hiện đại, cách tân, thành công trụ vững trên chính cái nền tảng truyền thống mà vẫn tạo được dấu ấn của mình Đọc mỗi tác phẩm của chị, ta như được bắt gặp lại một mảnh ghép của cuộc sống nơi chị sinh ra, từ sự hồn hậu, nhân hậu đến cái nhìn nhân ái về con người, về cuộc đời sau nữa là bản sắc vùng văn hóa của người dân miền Nam

Tài năng của Nguyễn Ngọc Tư còn được thể hiện qua việc chị sử dụng yếu

tố hàm ngôn vào tác phẩm của mình và chính lối viết giàu tầng ý nghĩa này khiến văn chương của chị xúc tích, có sức hàm chứa rất lớn Các tác phẩm của chị lôi cuốn, hấp dẫn người đọc bởi càng đọc kỹ thì ta sẽ càng phát hiện thấy nhiều điều mới mẻ và hàm ý sâu xa, giàu ý nghĩa sâu sắc Phải nói rằng Nguyễn Ngọc Tư rất biết cách sử dụng ngôn từ, bởi thế nên dù bề mặt ngôn ngữ thì có vẻ dễ hiểu, rõ

Trang 9

ràng nhưng lại ẩn chứa bên trong rất nhiều vấn đề Mặc dù không xuất hiện trên bề mặt câu chữ nhưng những ý nghĩa hàm ngôn lại có vai trò rất quan trọng Chính vì thế, việc tìm hiểu về hàm ngôn trong các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư là cần thiết để giúp chúng ta hiểu được những tầng nghĩa khác nhau chứa đựng trong đó một cách toàn diện hơn và khoa học hơn

Những lí do như trên đã thúc đẩy chúng tôi lựa chọn tìm hiểu về hàm ngôn trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư làm đề tài của khóa luận tốt nghiệp Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi hy vọng có thể lý giải được những chức năng hàm ngôn và

cơ chể tạo hàm ngôn phổ biến trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Về hàm ngôn

Hàm ngôn (Implicatures) là một khái niệm được nêu ra đầu tiên trong triết học, sau đó là trong ngôn ngữ học Có thể nói Oswald Ducrot và Paul Grice là những người đầu tiên khám phá ra vấn đề hàm ngôn trong ngôn ngữ

Nghiên cứu theo hướng dụng học, Paul Grice (1967) đã chỉ ra được hai căn

cứ cơ bản của hàm ngôn là dựa vào ý nghĩa của người nói và nguyên tắc cộng tác Công lao lớn nhất của Grice là đã đưa ra được “Nguyên tắc cộng tác hội thoại” và phân loại ý nghĩa hàm ẩn “Nguyên tắc cộng tác hội thoại” có nghĩa là khi tham gia hội thoại chúng ta có những quy định chung mà ai cũng phải tuân thủ Còn ý nghĩa thông báo của người nói được hiểu là ý định hay nội dung giao tiếp mà người nói muốn chuyển tải qua phát ngôn Và đặc biệt, tác giả đã phân chia

nguyên tắc cộng tác thành bốn nguyên tắc bậc dưới gọi là phương châm: lượng, chất, quan hệ, cách thức và đã phân chia ý nghĩa hàm ẩn thành hai loại là: hàm ẩn quy ước (hàm ẩn từ vựng) và hàm ẩn hội thoại Đỗ Hữu Châu đã nhận xét: “Dựa vào nguyên tắc cộng tác hội thoại của mình mà Grice đã vạch ra những nét đầu tiên cho lý thuyết về ý nghĩa hàm ẩn Những nét đầu tiên nhưng vô cùng quan trọng Đến nay, bất kỳ tác giả nào nói đến ý nghĩa hàm ẩn đều không thể không

Trang 10

nói đến Grice” [5b, tr.381]

Còn với Oswald Ducrot (1972), một nhà ngôn ngữ học hiện đại và là người

có nhiều công trình liên quan đến vấn đề hiển ngôn, hàm ngôn đã cho rằng nghĩa phát ngôn có hiển ngôn (explicite) và hàm ngôn (implicite).Theo ông, hàm ngôn

có tiền giả định (presupposition) và ẩn ý (sous – entendu)

Nhìn chung, cả Oswald Ducrot và Paul Grice đều nhấn mạnh quan hệ mật thiết giữa hiển ngôn với hàm ngôn

Trong giới Việt ngữ học thì hàm ngôn đã không phải là vấn đề mới Từ những năm 80 của thế kỷ XX, những khái niệm liên quan đến nó đã được giới thiệu tương đối tỉ mỉ trong một số công trình mang tính chất lí luận lẫn ứng dụng vào ngữ liệu tiếng Việt của các nhà nghiên cứu nổi bật như: Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu, Hồ Lê, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thiện Giáp,… Mặc dù vẫn còn tồn tại sự không nhất quán về mặt thuật ngữ (hàm ý/ hàm ngôn) cũng như còn bất đồng về những tiêu chí phân loại các loại thông tin hàm ẩn nhưng các tác giả vẫn giới hạn được nghiên cứu của mình trong việc: nhận diện các loại hàm ngôn (trong thế đối lập với hiển ngôn) hoặc phân loại các cơ chế/ phương thức và chức năng giao tiếp của các loại hàm ngôn trên một tập hợp ngữ liệu nhất định thu thập được từ các loại diễn ngôn, văn bản

Người đầu tiên đi tiên phong nghiên cứu về vấn đề hàm ngôn theo hướng ngữ nghĩa là Hoàng Phê với hàng loạt bài như “Ngữ nghĩa của lời” (1981),

“Tiền giả định và hàm ý tiềm tàng trong ngữ nghĩa của từ” (1982), và “Ý nghĩa hàm ngôn trong lời nói” (1988) Theo ông, cấu trúc ngữ nghĩa của lời là một cấu

trúc nhiều tầng như: tiền giả định, hiển ngôn, hàm ngôn, trong hàm ngôn có hàm ý

và ngụ ý Ngụ ý nằm ở lớp sâu nhất trong cấu trúc ngữ nghĩa của lời và phụ thuộc ngữ huống, còn hàm ý cùng với hiển ngôn và tiền giả định thì không phụ thuộc vào ngữ huống Hàm ý không phải là hàm ngôn mà hàm ý nằm trong hàm ngôn,

Trang 11

còn hàm ngôn thì bao hàm cả hàm ý và ngụ ý Ngụ ý mới chính là cái có ẩn ý, ngược lại, hàm ngôn và hàm ý thì có hoặc không tùy theo ngữ huống

Trong công trình “Quy luật ngôn ngữ - quyển 2: Tính quy luật của cơ chế ngôn giao” cũng nghiên cứu theo hướng ngữ nghĩa, Hồ Lê đã phân ý nghĩa hàm

ẩn thành bốn loại là ý nghĩa hàm ẩn ngữ huống, ý nghĩa hàm ẩn ngôn từ, ý nghĩa hàm ẩn tự do và ý nghĩa hàm ẩn dự cảm Ngoài ra, ý nghĩa hàm ẩn được ông phân tích ra thành hàm nghĩa và hàm ý Bên cạnh đó, tác giả đã nêu lên những phương thức tổng quát về các phương thức hiển ngôn và phương thức hàm ngôn.[2, tr.58]

Phát triển theo hướng của Paul Grice, Đỗ Hữu Châu nhìn nhận một cách tổng quát và đi sâu cụ thể về hàm ngôn quy ước và hàm ngôn hội thoại trong tiếng

Việt, đặc biệt là trong công trình “Đại cương ngôn ngữ học” (1993) Ông đi sâu

nghiên cứu các vấn đề như: phân loại các ý nghĩa hàm ẩn, các phương thức thực hiện ý nghĩa tường minh và ý nghĩa hàm ẩn; bản chất các cơ chế suy ý đi từ ý nghĩa tường minh đến ý nghĩa hàm ẩn Có thể nói rằng: vấn đề hàm ngôn trong tiếng Việt dưới góc độ dụng học thì phải đến Đỗ Hữu Châu mới thực sự được nghiên cứu một cách cụ thể và có hệ thống Những đóng góp của tác giả trong việc nghiên cứu về hàm ngôn đã giúp người nghiên cứu có thể hình dung được bức tranh toàn cảnh về ý nghĩa hàm ẩn, hàm ngôn, và tiền giả định một cách rõ ràng hơn

Năm 1997, Cao Xuân Hạo cho ra đời công trình “Tiếng Việt – mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa” tạo nên một bước ngoặt quan trọng cho việc nghiên

cứu hàm ngôn tiếng Việt Ông chỉ ra rằng nghĩa hàm ẩn nhiều khi có vai trò quan trọng hơn nghĩa hiển ngôn vì nó thông báo cho người nghe nhiều điều không có trong nguyên văn, đặc biệt trong các văn bản có tính nghệ thuật (truyện, thơ) Với một thông báo, ngoài nghĩa hiển ngôn là cái nội dung mà nó trực tiếp nói rõ bằng

từ ngữ, còn nghĩa hàm ẩn tức những điều thông báo cho người nghe nhưng không

có trong nghĩa nguyên văn của từ ngữ

Trang 12

Trên cơ sở tiếp thu những thành tựu trước đó của các nhà ngôn ngữ trên thế

giới và trong nước, Nguyễn Thiện Giáp trong “Dụng học Việt ngữ” (2000) bàn về

vấn đề hàm ngôn và cho rằng muốn giao tiếp thành công thì phải hiểu đầy đủ cả nghĩa hiển ngôn và hàm ngôn của phát ngôn Nếu chưa hiểu nghĩa hàm ngôn của một câu nói tức là chưa thật sự hiểu câu nói đó Theo nhà nghiên cứu, chiến lược giao tiếp, phương thức tạo tiền đề và phương châm hội thoại là những phương thức tạo hàm ngôn rất hữu hiệu

Huỳnh Công Hiển khi vận dụng theo hệ thống khái niệm của Hồ Lê đã phân các yếu tố tạo ý nghĩa hàm ẩn thành hai nhóm là nhóm thuộc có chế nội tại của phát ngôn và nhóm nằm ngoài cơ chế nội tại của phát ngôn qua luận văn thạc

sĩ “Các yếu tố tạo ý nghĩa hàm ẩn trong phát ngôn”

Vấn đề hàm ngôn trong tác phẩm từ trước đến nay cũng có những công

trình nghiên cứ như: Luận văn Thạc sĩ “Một số phương thức tạo hàm ngôn trong truyện cười tiếng Việt” (2006) của Đoàn Thị Tâm, Luận án Tiến sĩ “Hàm ý hội thoại trong truyện cười dân gian Việt Nam” (2011) của Nguyễn Hoàng Yến, Luận

án Thạc sĩ “Hàm ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” (2012) của Nguyễn

Thị Tú Anh,…

2.2 Về tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư

Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn rất được yêu mến không chỉ ở trong nước

mà còn cả ở nước ngoài, vì vậy không có gì ngạc nhiên khi số lượng bài viết về các tác phẩm của chị thường xuyên được đăng tải trên các phương tiện truyền

thông với nhiều cách đặt vấn đề khác nhau Trần Hữu Dũng có bài viết Nguyễn Ngọc Tư - đặc sản miền Nam nhấn mạnh phong cách riêng của nhà văn trẻ từ vùng sông nước Cà Mau rất đặc trưng của Nam Bộ; Văn Công Hùng có bài viết Bất tận với Nguyễn Ngọc Tư đã chỉ ra sự vận động trong ngòi bút Nguyễn Ngọc Tư từ Ngọn đèn không tắt đến Cánh đồng bất tận; Huỳnh Công Tín có bài: Nguyễn Ngọc Tư- nhà văn trẻ Nam Bộ… Võ Gia Trị ở bài viết Tản mạn văn chương năm qua đã

Trang 13

có ý kiến đánh giá tích cực về Nguyễn Ngọc Tư (năm 2008 - năm chị đoạt giải

thưởng văn học ASEAN) (Theo Luận án Tản văn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn văn hóa của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà tổng hợp)

Các nhà văn cũng có không ít lời nhận xét về Nguyễn Ngọc Tư Nhà văn

Chu Lai không ngần ngại khẳng định: “Nguyễn Ngọc Tư là cây bút tiêu biểu của miền Tây Nam Bộ, một tài năng văn học hiếm có hiện nay của văn học Việt Nam” Huỳnh Công Tín gọi Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn của Nam Bộ và đánh giá: “Nhân vật trong tác phẩm của chị là những con người Nam Bộ với những cái tên hết sức bình dị, chân chất kiểu Nam Bộ Họ mang những tâm tư, nguyện vọng hết sức đời thường Đó là những người sinh sống bằng những ngành cũng gắn liền với quê hương sông nước Nam Bộ Đặc biệt vùng đất và con người Nam Bộ trong sáng tác của chị được dựng lại bằng chính 4 chất liệu của nó là ngôn từ và văn phong nhiều chất Nam Bộ của chị” Bùi Công Thuấn cũng có bài về Nguyễn Ngọc Tư và

hành trình của chị, mang đến một cái nhìn tổng quan về cuộc đời sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư từ những tác phẩm trước Cánh đồng bất tận, đến những tập truyện sau đó như Gió lẻ, Khói trời lộng lẫy… Ông chỉ ra, cầm bút với Nguyễn Ngọc Tư là để nói ra cái tình người sâu thẳm trong những biểu hiện thật phong

phú mà như chị nói “Có bao nhiêu tình tôi yêu hết”

Trong các nhà phê bình, Nguyễn Trọng Bình là một trong những người có

nhiều bài viết nghiên cứu về Nguyễn Ngọc Tư, với những bài viết như: Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương diện nghệ thuật về con người; Giọng điệu chủ yếu trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư; Đặc trưng ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư; Phong cách truyện ngắn Nguyễn ngọc Tư nhìn từ phương diện nội dung tự sự; Những dạng tình huống thường gặp trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư; Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn văn hóa; Nguyễn Ngọc Tư và hành trình “trở về”… Qua những bài viết này, tác giả đã cho thấy: Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư là “bức tranh sống động về cuộc sống của

Trang 14

một bộ phận người dân lao động (nhất là ở thôn quê) vùng đồng bằng sông Cửu Long mà cái nghèo, cái khổ cứ bám riết lấy họ”

Sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều khóa luận tốt nghiệp đại học, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ Có thể kể tên một số công

trình nghiên cứu như: Những yếu tố ngoài cốt truyện trong văn xuôi Nguyễn Ngọc

Tư của Trần Thị Ái Như (Đại học khoa học Huế, 2007); Yếu tố phân tâm học trong truyện ngắn của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ và Nguyễn Ngọc Tư của Nguyễn Thị Quỳnh Hương (luận văn thạc sĩ, 2008); Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của Bùi Thị Ngọc Ánh (luận văn thạc sĩ, 2008); Đặc trưng nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của Võ Thị

Anh Đào (luận văn thạc sĩ, 2009), Tản văn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ góc độ văn hóa của Nguyễn Thị Thu Hà (luận văn thạc sĩ, 2017),…

Nhìn chung, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các góc độ khác nhau của tác phẩm cũng như về nhà văn Nguyễn Ngọc Tư Nhưng hầu như chưa có công trình nào đi sâu vào vấn đề hàm ngôn trong tác phẩm để làm nổi bật phong cách ngôn ngữ của riêng chị Vì vậy, luận án này là cần thiết để ta có thể khai thác sâu hơn về một khía cạnh khác hoàn toàn với những công trình nghiên cứu trước

đó

3 Đối tượng nghiên cứu

Khóa luận sử dụng 5 tập truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư là: Ngọn đèn không tắt, Giao thừa, Gió lẻ và 9 câu chuyện khác, Đảo, Khói trời lỗng lẫy cùng 5 tác phẩm tiêu biểu khác là: Cánh đồng bất tận, Biển người mênh mông, Đau gì như thế, Ông ngoại và Cảm giác trên dây Nhưng trong đó, chúng tôi dùng chủ

yếu 76 ngữ cảnh chứa hàm ngôn đã được thống kê để làm phạm vi nghiên cứu chính

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 15

Kết quả của khóa luận là do được chúng tôi dùng hai phương pháp chính sau:

4.1 Phương pháp thống kê và phân loại

Đầu tiên, chúng tôi thu thập, thống kê các yếu tố có chứa hàm ngôn trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, sau đó tiến hành phân loại các cơ chế, chức

năng hàm ngôn theo các cơ chế tạo hàm ngôn trong tiếng Việt Kết quả thống kê

sẽ là cơ sở thực tiễn để phân tích và trở thành cứ liệu khoa học có tính xác thực, thuyết phục và minh chứng cho các lập luận của đề tài

4.2 Phương pháp phân tích - miêu tả - tổng hợp

- Dùng Phương pháp phân tích, miêu tả nội dung hàm ngôn ở một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Ngọc Tư để tìm ra những cơ chế tạo hàm ngôn

- Phương pháp tổng hợp, giúp luận văn xác lập một số đặc trưng làm nên cái nguồn trong phong cách ngôn ngữ Nguyễn Ngọc Tư

5 Đóng góp của khóa luận

Về mặt lý luận, trên cơ sở kế thừa và phát triển của những thành tựu đã có,

khi nghiên cứu về hàm ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi hi vọng sẽ mang đến cái nhìn toàn diện và khái quát hơn về vấn đề hàm ngôn trong ngôn ngữ cũng như trong các tác phẩm văn chương

Về mặt thực tiễn, quá trình giải quyết những vấn đề cụ thể về hàm ngôn

trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư giúp người viết có cái nhìn đúng đắn hơn về hàm ngôn cũng như việc vận dụng hợp lý hàm ngôn trong quá trình giao tiếp Và đặc biệt, đây được xem như là cơ sở để những ai muốn tìm hiểu về tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư có những cái nhìn mới mẻ và sâu sắc hơn, giúp hình thành năng lực phân tích, cảm thụ tác phẩm văn chương của Nguyễn Ngọc Tư

6 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phụ lục ngữ liệu, khóa luận sẽ được triển khai trong ba chương:

Trang 16

Chương 2 Các cơ chế tạo hàm ngôn trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư

Ở chương này, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát 76 ngữ liệu chứa hàm ngôn trong các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư rồi sau đó miêu tả và phân loại

Chương 3 Chức năng và tác dụng của hàm ngôn trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư

Từ các cơ chế hàm ngôn ở chương 2, chúng tôi đi vào tìm hiểu những chức

năng và tác dụng của việc sử dụng hàm ngôn trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư

Trang 17

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT

1.1 Lý thuyết về hàm ngôn

1.1.1 Khái niệm hàm ngôn và các thuật ngữ hữu quan

Một phát ngôn ngoài cái ý nghĩa được nói ra trực tiếp nhờ các yếu tố ngôn ngữ như âm, từ, kết cấu cú pháp,… thì còn có rất nhiều ý nghĩa khác nữa mà chúng ta cần phải suy ra qua thao tác suy ý (inference), trên cơ sở của ngữ cảnh, ngôn cảnh, vào các quy tắc điều khiển hành vi ngôn ngữ, điều khiển lập luận, điều khiển hội thoại,… mới hiểu hết được Ý nghĩa trực tiếp do các yếu tố ngôn ngữ biểu đạt được gọi là hiển ngôn (hay ý nghĩa tường minh), còn các ý nghĩa nhờ suy

ý mới nắm bắt được gọi là hàm ngôn (hay ý nghĩa hàm ẩn) [5b, tr.359]

Các ý nghĩa hàm ẩn là cái nền trên đó người nói tạo ra ý nghĩa tường minh như đã nói ra và người nghe mới hiểu ý nghĩa tường minh như người nói định truyền đạt Nhưng không phải tất cả những ý nghĩa hàm ẩn mà một phát ngôn nhờ thao tác suy ý có thể gợi ra đều là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học Cần phải hạn chế những suy nghĩ đó lại Ngôn ngữ học và ngữ dụng học quan tâm

trước hết đến những ý nghĩa hàm ẩn nào mà người nói có ý định thông báo cho người đối thoại biết mặc dầu vì những lí do nào đó không nói nó ra một cách tường minh [5b, tr.360]

Thuật ngữ hàm ngôn và hiển ngôn được các tác giả như Hoàng Phê (1981)

và nhóm các tác giả Hoàng Xuân Tâm – Nguyễn Văn Bằng – Bùi Tất Tươm – Cao Xuân Hạo (1998) sử dụng, Hồ Lê (1996) gọi là ý nghĩa hiển hiện và ý nghĩa hàm

ẩn Đỗ Hữu Châu (1993) dùng thuật ngữ ý nghĩa tường minh và ý nghĩa hàm ẩn (tiền giả định + hàm ngôn), Cao Xuân Hạo (1997) gọi là nghĩa hiển ngôn và hàm

ẩn (tiền giả định + hàm ý) Nguyễn Thiện Giáp (2000) dùng thuật ngữ hiển ngôn

Trang 18

đối lập với hàm ẩn/hàm ngôn (tiền giả định, kéo theo, hàm ý quy ước, hàm ý hội thoại) [16, tr.15]

Khóa luận này dùng thuật ngữ hiển ngôn, hàm ngôn như cách gọi của Hoàng Phê và nhóm các tác giả Hoàng Xuân Tâm – Nguyễn Văn Bằng – Bùi Tất Tươm – Cao Xuân Hạo (1998)

Về khái niệm hàm ngôn (implication) và hiển ngôn (explication) thì nhìn chung, hầu hết các nhà nghiên cứu đều có một cái nhìn thống nhất, được viết trong

sách giáo khoa lớp 9, tập 2 (2007) Nxb Giáo dục: “Hàm ý (hàm ngôn) là phần thông báo tuy không được diễn đạt trực tiếp bằng từ ngữ trong câu nhưng có thể suy ra từ những từ ngữ ấy Nghĩa tường minh (nghĩa hiển ngôn) là phần thông báo được diễn đạt trực tiếp bằng từ ngữ trong câu.” [1a, tr.75]

Còn theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), hàm ngôn là “điều người nói không diễn đạt trực tiếp, người nghe phải tự suy ra mà hiểu; phân biệt với hiển ngôn.” [9, tr.418] Hiển ngôn là “điều người nói diễn đạt trực tiếp, rõ ràng; phân biệt với hàm ngôn.” [9, tr.437] Như vậy theo Hoàng Phê hàm ngôn là

điều nói gián tiếp, còn hiển ngôn là điều nói trực tiếp

Từ những ý kiến trên ta có thể hiểu hiển ngôn là nghĩa được thể hiện trực tiếp bằng các từ ngữ trên bề mặt của phát ngôn còn hàm ngôn lại là nghĩa được suy ra một cách gián tiếp từ nghĩa bề mặt ấy

Về mối quan hệ giữa ba yếu tố quan trọng là hiển ngôn, tiền giả định và hàm ngôn thì từ trước đến nay, trong giới Việt ngữ vẫn còn một số quan điểm chứ nhất quán, tồn tại hai quan niệm khác nhau: quan niệm thứ nhất là về sự đối lập giữa hiển ngôn và hàm ngôn còn quan niệm thứ hai thì lại có sự đối lập giữa hiển ngôn và hàm ẩn, hàm ngôn là một bộ phận của hàm ẩn và đối lập với tiền giả định [16, tr.16]

1.1.2 Phân loại hàm ngôn

Trang 19

Nhìn chung thì hầu hết các nhà nghiên cứu đều chia hàm ngôn thành hai loại: hàm ngôn quy ước (hàm ngôn ngữ nghĩa/ hàm ngôn ngôn ngữ) và hàm ngôn hội thoại (hàm ngôn dụng học)

Theo Grice, ông đã phân chia các ý nghĩa hàm ẩn thành hai loại:

1.1.2.1 Hàm ngôn quy ước (còn được gọi là hàm ẩn từ vựng)

Hàm ngôn quy ước là những ý nghĩa hàm ẩn được diễn đạt bởi các tín hiệu quy ước – tức các yếu tố thuộc cấu trúc hình thức của ngôn ngữ Người nghe để nằm bắt được chúng phải suy ý từ ý nghĩa của các phương tiện ngôn ngữ này Các tín hiệu quy ước này, trước hết là các từ, các ngữ [5b, tr 381]

Ý nghĩa hàm ẩn quy ước theo S C Levinson là cái lõi của ý nghĩa các từ định vị trong diễn ngôn và định vị xã hội như: hơn thế nữa, ngoài ra, bên cạnh đó, thế, vậy … ngài, phu nhân, ông, bà, mày, hắn,… [5b,tr 382]

Ta có thể hiểu khái quát về hàm ngôn quy ước là hàm ngôn không biến đổi theo ngữ cảnh, là hàm ngôn áp dụng cho ngôn ngữ nói chung, bất kể nó là hội thoại hay không hội thoại [16, tr 30]

1.1.2.2 Hàm ngôn hội thoại

Theo Grice, hàm ngôn hội thoại không được gợi ra do các yếu tố quy ước

mà do cách vận dụng nguyên tắc cộng tác và các phương châm trong phương

châm hội thoại: “Ý nghĩa hàm ẩn hội thoại xuất hiện để đảm bảo tính cộng tác hội thoại ở độ sâu mặc dầu các chỉ dẫn trên bề mặt có vẻ đi ngược lại với phương châm này” [5b, tr.383]

Theo Nguyễn Văn Hiệp (2006), hàm ngôn hội thoại là cái ý được suy ra từ ngữ cảnh, nảy sinh và biến đổi theo ngữ cảnh, phụ thuộc vào ngữ cảnh, nảy sinh trên cơ sở người nói cố tình vi phạm những phương châm được giả định là nền tảng cho hội thoại có thể tiếp diễn [5b, tr.391]

Trang 20

Các nhà nghiên cứu thường chia hàm ngôn hội thoại thành hai loại là khái quát và đặc thù

- Hàm ngôn hội thoại khái quát

Hàm ngôn hội thoại khái quát là hàm ngôn có thể suy luận mà không đòi hỏi một tri thức nền nào, tức là chúng đều giống nhau khi ở các ngữ cảnh khác nhau

Cách suy đoán hàm ý khái quát là: nếu có một từ ngữ hạn định phạm vi hiệu lực của nội dung câu nói, thì ngoài phạm vi ấy nội dung đó không còn hiệu lực nữa [16, tr 31]

- Hàm ngôn hội thoại đặc thù

Khác với hàm ngôn hội thoại khái quát, hàm ngôn hội thoại đặc thù là những hàm ngôn phải được suy luận ra trên cơ sở hiểu biết trong bối cảnh cụ thể Chỉ có thể suy ra trong một ngữ cảnh nhất định [16, tr 32]

1.1.3 Các cơ chế tạo hàm ngôn

Cơ chế chính là cách thức thực hiện Do đó, cơ chế tạo hàm ngôn là những cách thức tạo ra hàm ngôn Sau đây là một số cách thức tạo hàm ngôn tiêu biểu trong tiếng Việt (theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu):

1.1.3.1 Vi phạm quy tắc chiếu vật, chỉ xuất

Chiếu vật là những phương tiện mà nhờ đó người nói phát ra một biểu thức ngôn ngữ, với biểu thức này người nói nghĩ rằng nó sẽ giúp người nghe suy ra được một cách đúng đắn thực thể nào, đặc tính nào, quan hệ nào, sự kiện nào anh

ta định nói tới Tự bản thân mình, từ ngữ không chiếu vật Bằng hành vi chiếu vật, người nói đưa ra sự vật hiện tượng mình định nói tới vào diễn ngôn bằng các từ ngữ, bằng câu [5b, tr.61]

Trang 21

Chiếu vật là dấu hiệu đầu tiên thể hiện quan hệ giữa ngữ cảnh với diễn ngôn Phương thức chỉ vật là cách thức để thực hiện hành vi chiếu vật, có ba phương thức lớn: dùng tên riêng, dùng miêu tả xác định và dùng chỉ xuất Trong

đó phương thức chiếu vật bằng chỉ xuất là một hình thức tạo hàm ngôn rất hữu hiệu [16, tr 34]

Quan hệ chiếu vật là sự tương ứng của các yếu tố ngôn ngữ trong diễn ngôn với sự vật, hiện tượng được nói tới trong một ngữ cảnh nhất định, nói cách khác là trong một hệ quy chiếu nhất định [5b, tr 62]

Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Chỉ xuất là phương thức chiếu vật bằng ngôn ngữ dựa trên hành động chỉ trỏ.” [5b, tr 72]

Các từ loại như đại từ, tính từ, trạng từ,… trong các ngôn ngữ được gọi là

hệ thống từ chuyên chiếu vật theo phương hướng chỉ xuất Những tổ hợp có từ chỉ xuất là một biểu thức chỉ xuất Các biểu thức chỉ xuất thực hiện chức năng chiếu vật không thông qua chức năng miêu tả mà thông qua chức năng định vị tức là xác định vị trí của vật được nói tới, phân biệt vật được nói tới với các vật khác về không gian, thời gian và về các quan hệ khác [16, tr 34]

Trong các ngôn ngữ thường có ba phạm trù chỉ xuất đó là: phạm trù chỉ xuất người (phạm trù nhân xưng – xưng hô), phạm trù chỉ xuất không gian (nhóm các từ trực chỉ vị trí), phạm trù chỉ xuất thời gian (nhóm các từ trực chỉ thời gian) Một trong những quy tắc chiếu vật là quy tắc định vị vai giao tiếp và hệ thống các

từ xưng hô có những quy ước sử dụng khá chặt chẽ, buộc những người tham gia giao tiếp phải tuân thủ

Việc sử dụng các từ xưng hô không theo quy ước hoặc thay đổi cách xưng

hô là một trong những cơ chế tạo ra hàm ngôn trong giao tiếp Ví dụ, vợ chồng chuyển đổi xưng hô từ anh/em sang anh/tôi hoặc cô/tôi hay tao/mày là hàm ẩn ý nghĩa thay đổi quan hệ Hoặc xưng hô bố/con đối với những người không có quan

hệ huyết thống có thể hiện mong muốn làm con rể hoặc tạo mối quan hệ thân tình

Trang 22

1.1.3.2 Sử dụng hành động ngôn ngữ gián tiếp

Hành động ngôn ngữ gián tiếp theo Đỗ Hữu Châu là “Hiện tượng người giao tiếp sử dụng trên bề mặt hành vi ở lời này nhưng lại nhằm hiệu quả của một hành vi ở lời khác được gọi là hiện tượng sử dụng hành động ngôn ngữ theo lối gián tiếp”.[5b, tr.146]

Một hành vi được cho là sử dụng gián tiếp là một hành vi khi người nói thực hiện một hành vi ở lời này nhưng lại nhằm làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cả hai người, suy ra hiệu lực ở lời của một hành vi khác Cách sử dụng hành động ngôn ngữ theo lối gián tiếp là biện pháp rất có hiệu lực nhằm truyền báo các ý nghĩa hàm ẩn Tuy nhiên, không phải tùy tiện muốn dùng hành vi ở lời trực tiếp nào để tạo ra hành vi ở lời gián tiếp nào cũng được Quy tắc sử dụng gián tiếp các hành vi ở lời hoặc vấn đề một hành vi ở lời (trực tiếp) có thể được dùng để tạo ra những hành vi gián tiếp nào là vấn đề chưa được giải quyết đến nơi đến chốn

Tại sao sử dụng hành động ngôn ngữ gián tiếp lại có thể trở thành một yếu

tố tạo ý nghĩa hàm ngôn? Câu trả lời nằm ở các yếu tố ngôn ngữ có mặt trong mỗi phát ngôn, tiêu biểu là các động từ ngữ vi, mà người ta có thể nhận diện được các hành vi ngôn ngữ chứa đựng trong hành vi tại lời như khuyên, hứa, yêu cầu, đề nghị,… Nhờ cấu trúc ngôn ngữ mà một hành vi tại lời (A), người ta có thể tạo những hành vi ngôn ngữ gián tiếp (B) khác nhau như: đề nghị, xin, cảnh cáo, khuyên nhủ, yêu cầu, [16, tr 35]

Vì vậy, hành động tại lời phát sinh cùng với tính chất của một hành động ngôn ngữ gián tiếp nên mặc dù bề mặt cấu trúc ngôn ngữ thể hiện hành vi này nhưng nội dung lại là một hành vi khác Cũng chính đặc điểm này hình thành cơ chế tạo hàm ngôn “hành động ngôn ngữ gián tiếp”

1.1.3.3 Vi phạm quy tắc lập luận

Trang 23

Chúng ta hiểu “lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới.”[5b, tr.155]

Theo Đỗ Hữu Châu, lập luận có hai thành phần chính: luận cứ và kết luận Thực chất, mối quan hệ lập luận chính là mối quan hệ giữa luận cứ và kết luận Các thành phần này có vị trí riêng trong mỗi lập luận theo theo thói quen của người sử dụng: kết luận có thể đứng đầu, giữa hoặc cuối của luận cứ Sau luận cứ

là vị trí thường gặp trong lập luận của kết luận

Khi giao tiếp, người nói cố tình tạo hàm ngôn bằng cách vi phạm quy tắc lập luận như là sử dụng lập luận không đầy đủ hoặc chỉ có luận cứ hoặc chỉ có kết luận để người nghe suy ra phần còn thiếu trong lập luận Sự vi phạm quy tắc lập luận là một trong những cách tạo nghĩa hàm ngôn tương đối thông dụng

1.2.3.4 Vi phạm quy tắc hội thoại

Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Để điều hành nội dung cuộc hội thoại, có hai nguyên tắc cần nhớ là cộng tác hội thoại và nguyên tắc quan yếu

Nguyên tắc cộng tác hội thoại được Paul Grice đúc kết như sau: “hãy làm cho phần đóng góp của anh, chị đúng như nó đòi hỏi ở giai đoạn mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh chị chấp nhận tham gia vào” (dẫn theo 5b, tr.229)

Người tham gia giao tiếp cần phải tuân thủ những quy định không được nói

ra thành lời để đảm bảo cuộc hội thoại được thành công Nếu không thì dù câu có không sai về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp,… nhưng quá trình giao tiếp sẽ không được tính là thành công Những quy định đó được thể hiện qua bốn phương châm hội thoại sau:

Trang 24

- Phương châm về lượng: khi giao tiếp cần nói đủ thông tin cần thiết, không nói thiếu, nói thừa

- Phương châm về chất: cần nói đúng sự thật; không nói những điều mình cho là sai hay thiếu bằng chứng xác thực

- Phương châm quan hệ: cần nói vào đề tài giao tiếp; tránh nói lạc đề

- Phương châm cách thức: cần nói ngắn gọn, trong sáng, mạch lạc;tránh nói mơ

hồ, dài dòng [16, tr 36]

Trong tình huống nói năng bình thường, tất cả các quy tắc trên đều được tuân thủ nhưng trên thực tế giao tiếp không phải lúc nào người tham gia giao tiếp cũng tuân thủ đầy đủ cả bốn phương châm hội thoại trên mà tùy theo từng trường hợp người ta có thể vi phạm một trong những phương châm hội thoại

Tuy nhiên không phải sự vi phạm phương châm hội thoại nào cũng nảy sinh hàm ngôn Khi đó là sự vi phạm không cố ý, tức là không tuân thủ phương châm một cách không lộ liễu Vì tôn trọng phương châm này, đành phải vi phạm phương châm khác, hoặc phải ưu tiên cho phương châm hội thoại khác

Còn ngược lại, những trường hợp người nói không tuân thủ phương châm một cách lộ liễu, nghĩa là người nói vi phạm nguyên tắc cộng tác hội thoại một cách cố ý mới tạo nên hàm ngôn [16, tr 37]

Ngoài các cơ chế tạo hàm ngôn phổ biến trên, còn có một số cơ chế nữa như cơ chế dùng câu chất vấn, dùng từ ngữ không tương thích ngữ cảnh, dùng từ sai lệch ngữ nghĩa, dùng thành ngữ, tục ngữ, dùng từ đồng âm, dùng cơ chế so sánh, nói giảm, nói tránh… để tạo nên hàm ngôn

Tóm lại, trong ngôn ngữ có rất nhiều cơ chế để tạo nên hàm ngôn Những

cơ chế này đã tạo ra cho ngôn ngữ có những cách thể hiện hàm ngôn rất đa dạng, đồng thời cũng có những cách hiểu hàm ngôn tương ứng Đối với những cơ chế

Trang 25

tạo hàm ngôn quy ước thì hiển nhiên phải dựa vào từ ngữ, ngược lại cơ chế tạo hàm ngôn hội thoại lại dựa vào ngữ cảnh, các lập luận dựa trên lẽ thường nhưng cũng có khi chúng lại đan xen lẫn nhau rất khó để phân biệt Và để hiểu được hàm ngôn của người nói, người nghe phải dựa trên những cơ chế trên mới có thể giải

mã được Bên cạnh đó, người nghe phải có vốn hiểu biết về văn hóa, phong tục, tập quán,… để giải mã hàm ngôn

1.1.4 Mục đích dùng hàm ngôn

Khi nghiên cứu hàm ngôn, tôi có đặt ra một câu hỏi: “Tại sao khi giao tiếp, người ta không thể hiện điều mình muốn nói một cách rõ ràng minh bạch, tức nói thẳng, nói trắng cái điều mình muốn nói ra để người tiếp nhận hiểu ngay mà lại phải dùng lối nói hàm ẩn?”

Chúng ta đều biết rằng, trong đời sống hằng ngày sẽ có nhiều vấn đề phức tạp xảy ra, nó tế nhị, khó nói hay đơn giản là vì một mục đích nào đó của mình mà người nói không thể biểu đạt một cách trực tiếp Trong những trường hợp này, ta phải dùng hàm ngôn mới thích hợp

Còn trong các tác phẩm văn chương nghệ thuật, hàm ngôn được tác giả sử dụng rộng rãi và được xem như là một phương tiện nghệ thuật dùng để truyền tải thông điệp tốt nhất đồng thời tăng tính hấp dẫn cho đứa con tinh thần của mình Đặc biệt là đối với văn xuôi, khi xây dựng tính cách nhân vật hay phản ánh hiện thực xã hội, nhất là những vấn đề phức tạp, không thể trực tiếp bộc lộ tư tưởng của mình thì các tác giả lại đặc biệt sử dụng một công cụ có sức mạnh vượt trội, đó chính là hàm ngôn

Theo Đỗ Hữu Châu, với lối nói bằng hàm ẩn, người nói buộc người nghe phải suy nghĩ để nắm bắt ý nghĩa thực của lời nói của mình Mục đích của việc dùng lối nói hàm ngôn là nhằm tăng sức hấp dẫn, tăng sức thuyết phục cho lời nói; hoặc do khiêm tốn; do không muốn trực tiếp làm mất thể diện người nghe; quan trọng hơn là không muốn chịu trách nhiệm trực tiếp về điều mình nói ra

Trang 26

1.1.4.1 Tăng sức hấp dẫn thuyết phục cho lời nói

Với việc dùng hàm ngôn, người nói muốn người nghe hiểu được ý đồ của mình một cách sâu sắc hơn Để nắm bắt được ý đồ của người nói, người nghe phải suy ngẫm, phân tích và khi đã phát hiện ra rồi thì họ cảm thấy rất thú vị Do đó, hàm ngôn có tác dụng tăng sức thuyết phục, hấp dẫn cho lời nói [16, tr 42]

Ví dụ: “Hạnh phúc của một tang gia” (nhan đề một đoạn trích trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng) Có thể nhận thấy một mâu thuẫn nổi trội ngay

từ chính tiêu đề của đoạn trích khi đặt tang gia – hạnh phúc ngang hàng với nhau, nhằm chỉ về sự suy đồi về mặt đạo đức của tầng lớp “thượng lưu” trong xã hội cũ

1.1.4.2 Khiêm tốn, lịch sự

Trong giao tiếp vì lí do lịch sự, người tham gia giao tiếp thường “xưng khiêm hô tôn” và thể hiện sự khiêm tốn

Ví dụ: Khi bắt đầu làm việc trong một môi trường mới, dù bất kể người đó

có năng lực xuất sắc như thế nào thì khi gặp mặt những đồng nghiệp cùng cơ quan đều sẽ chào hỏi: “Tôi mới bắt đầu làm việc ở đây, nếu có thiếu sót thì mong mọi người chỉ bảo” Trong trường hợp này, người mới làm việc vì lí do khiêm tốn mà nói như vậy, chứ trong thực tế được nhận vào làm việc ở cơ quan cũng đã có năng lực nhất định Nếu nói như thế mà sau này người mới đó có điều gì sai sót trong lúc làm việc thì mọi người có thể chấp nhận được vì đây là môi trường mới, người

nọ có thể chưa thích nghi Còn nếu người mới đó lại đề cao mình kiểu: “Tôi giỏi mới được nhận vào đây, tôi không cần giúp đỡ” thì sẽ gây khó cho chính người đó

về sau này nếu người nọ phạm lỗi sai Vì vậy, trong giao tiếp người ta thường thể hiện hàm ngôn vì lý do khiêm tốn bởi vì khiêm tốn sẽ giúp cho người ta có lợi hơn nhiều trong giao tiếp

1.1.4.3 Không muốn trực tiếp làm mất thể diện người nghe

Trang 27

Một cuộc hội thoại không thể tiến hành một cách thành công nếu thiếu sự tôn trọng thể diện của người tham gia đối thoại, nói cách khác là không tôn trọng nguyên tắc lịch sự

1.1.4.4 Châm biếm

Người nói muốn tỏ thái độ chê bai, khinh bỉ đối tượng nhưng lại không trực tiếp nói thẳng ra mà dùng hàm ngôn, khi hiểu được hàm ngôn đó thì đối tượng bị mỉa mai kia còn bị hạ thấp, trở thành nực cười, xấu xa hơn một lời chê trực tiếp rất nhiều

Ví dụ: Nguyễn Ái Quốc nói về chuyến vi hành của vua Khải Định: “Hay là chán cảnh làm một ông vua to, giờ ngài lại muốn nếm thử cuộc đời của một công tử bé.”

(Nguyễn Ái Quốc - Vi hành)

Chỉ với một câu nói đầy mỉa mai châm biếm, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần

tố cáo bộ mặt thật của ông vua xấu xa Khải Định, đầy bỉ ổi và chỉ biết ăn chơi mà không biết lo cho cuộc sống của dân “Ông vua to” này thực ra lại là một “công tử bé”, một con rối thứ thiệt trong tay thực dân Pháp

1.1.4.5 Không chịu trách nhiệm trực tiếp về hành động ngôn từ

Khi người nói dùng hàm ngôn và người tiếp nhận biết được thì có thể xảy

ra hai trường hợp: người nghe tán thành hay phản đối nội dung hàm ẩn đó Nếu người tiếp nhận tán thành thì hàm ngôn đó được chấp nhận tồn tại Còn nếu người tiếp nhận phản đối thì người nói có thể chối bỏ trách nhiệm bằng câu “Tôi có nói thế đâu, đấy là do anh tự nghĩ ra chứ.”

1.1.4.6 “Ít lời nhiều ý”

Ngoài năm mục đích dùng hàm ngôn trên, chúng ta cũng có thể thấy rằng hàm ngôn còn được dùng với mục đích để thể hiện một lúc được nhiều ý mà kiệm

Trang 28

lời Bởi vì, hàm ngôn thực chất là “ý tại ngôn ngoại”, nên từ một số lượng vỏ âm thanh ít mà chứa đựng một lượng thông tin rất lớn Điều này tạo nên sự cô đúc, sâu sắc trong phát ngôn, giúp cho phát ngôn vừa tiết kiệm được lời, vừa thể hiện được nhiều giá trị nội dung [16, tr.45]

Như vậy bằng lối nói hàm ngôn, có thể giúp người nói có thể nói được nhiều hơn những gì cần nói, đồng thời nó còn giúp chúng có thể giữ được thể diện của người nghe, bên cạnh đó còn không phải chịu trách nhiệm về lời nói của mình

Có thể nói, hàm ngôn có tác dụng rất lớn và là phương tiện có hiệu quả nhất giúp giao tiếp thành công

1.2 Cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

1.2.1 Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Chị là một nữ nhà văn trẻ của Hội Nhà văn Việt Nam với tên tuổi được biết đến rộng rãi sau tập truyện ngắn gây tiếng vang lớn là Cánh đồng bất tận

Sinh ra trong gia đình sống bằng nghề trồng trọt, vì thế để đỡ đần kinh tế cho gia đình thì Nguyễn Ngọc Tư đã quyết định nghỉ học khi mới vừa hết cấp 2, xin đi làm sau đó học bổ túc Với niềm đam mê viết lách, cô đã thử viết truyện ngắn gửi đến các tờ báo và không ngờ lại được đăng Từ đó, cô quyết tâm theo nghiệp văn chương và đạt được nhiều thành công trong sự nghiệp, khẳng định tên tuổi của bản thân trong nền văn chương hiện đại của Việt Nam

Thuở nhỏ, Nguyễn Ngọc Tư là một cô bé hiền hòa, chăm chỉ, chiều chiều tần mẫn hái rau ba trồng, cho má hôm sau ra chợ bán Cuộc sống của cô gắn liền với căn nhà đơn sơ ở xóm Bà Điều, Đầm Dơi, với những thảm rau bèo xanh ngút, tận U Minh nơi miền đất Mũi Cô thích viết vì nghĩ sẽ đỡ đần được một phần nào kinh tế cho gia đình, chủ ý xin vào làm việc tại một cơ quan văn nghệ báo chí ở tỉnh Cà Mau để có môi trường thuận tiện phát triển nghề cầm bút mà mình đam

mê Mỗi khi cha của Nguyễn Ngọc Tư thấy cô ngồi trầm tư suy nghĩ trước trang

Trang 29

giấy hay máy laptop, ông biết được tâm nguyện của con và với tấm lòng thương con, hiểu rõ con gái có khiếu văn chương, người cha có vẻ thực tế, trải nghiệm như một người đã từng cầm bút, thường không bỏ qua bất cứ cơ hội tốt nào để

dành lời khuyên cho con mình: “Nghĩ gì, viết nấy Viết điều gì con đã trải qua”

Từ sự cổ vũ nơi gia đình, cô cố gắng nỗ lực công tác tốt ở cơ quan, vừa tranh thủ

có thời gian cầm bút hay ngồi trước máy tính để sáng tác Những tập truyện ngắn đầu tay của cô là viết về tình bạn ở đồng quê, được cha gửi ở tạp chí Văn nghệ Bán đảo Cà Mau Không ngờ, cả ba truyện đều được đăng báo Hạnh phúc đầu tiên của cô học trò nghèo mê viết và có nguyện vọng theo nghiệp văn chương tại

xứ U Minh đã đến như một bình minh rạng rỡ, ấm áp soi sáng cho những chiếc rễ đước non xanh mạnh mẽ, hăm hở cắm sâu mình vào mảnh đất nghệ thuật xứ Đầm Dơi Nam Bộ Vào làm văn thư và học việc phóng viên tại cơ quan, Nguyễn Ngọc

Tư bắt đầu viết tin, viết bài và cả truyện ngắn Đi thực tế tại cửa biển Khánh Hội, sông Đốc…sau khi cơn bão dữ số 5 ập vào đất Mũi, được chứng kiến cảnh làng

quê đổ nát, điêu tàn, về nhà Nguyễn Ngọc Tư đã có ký sự: Nỗi niềm sau cơn bão

dữ Tự cho là ký sự mình mới viết còn hơi sến, nhưng Nguyễn Ngọc Tư cũng đoạt

giải ba báo chí của tỉnh năm 1997 Quy ra lúa, giải thưởng dù không là bao nhưng

nó tạo niềm tin, làm bệ phóng tinh thần để tác giả khẳng định phương châm làm

việc cho mình : “Viết là viết, bất kỳ lúc nào, không sắp đặt, không bố cục Cứ để đoạn sau cuốn theo đoạn trước”

Nguyễn Ngọc Tư truyền cho văn chương của mình một suy nghĩ rất riêng, viết cũng cần phải gần gũi với cuộc sống đời thường, như ăn nói, đi đứng tự nhiên hằng ngày mà không cần phải thần thánh hóa văn chương hay viết những điều quá

xa vời Cô nói rằng nhà văn như một người viết phải đóng nhập vai trên sân khấu, nghĩa là tác giả viết như đang trong tâm trạng của chính nhân vật trong truyện của mình Đó là một chân lý, không được coi là xa lạ, thờ ơ đối với một người cầm bút chân chính Và Nguyễn Ngọc Tư đã thong dong, bền bỉ đi theo con đường nghệ thuật tự mình đặt ra giữa cuộc sống bề bộn công việc nhà, cơ quan

Trang 30

Và rồi, những truyện ngắn của nhà văn cứ lần lượt ra đời, gây được tiếng vang trong giới cầm bút do nội dung đậm dấu ấn hiện thực và nghệ thuật đặc biệt của nó Người đọc phải lòng người con gái Nam Bộ bởi những gì cô gửi gắm trong những đứa con của mình, từ những thông điệp hay lời nói hộ thay cho người dân đói nghèo, cơ cực nơi vùng đất Mũi, đến những ước mơ thầm kín, những nỗi đau thắt lòng của những con người yêu dở và ngang trái của những mối tình chân không thành vì cảnh nghèo cơ cực.Một yếu tố nữa tạo nên sự đặc biệt trong phong cách của Nguyễn Ngọc Tư, ngoài tính chân thực sâu sắc chính là cốt truyện tản mạn không hề mang dấu ấn rập khuôn theo nguyên mẫu nào và những nhân vật giàu tính nội hàm, như đại diện cho những tầng lớp xứ Đầm Dơi Đọc văn của cô, cảm nhận được tài hoa được vun đắp bởi cuộc sống hằng ngày nơi vùng đất nghệ thuật U Minh cũng như khả năng viết dễ dàng như thể đang đi bắt sâu ở ngoài đồng, luống rau trong vườn hoặc giống như đang đuổi gà đuổi vịt nơi sân nhà Mới

27 tuổi, Nguyễn Ngọc Tư đã được kết nạp vào hội Nhà văn Việt Nam, được làm

vợ, làm mẹ và tiếp tục hăng say viết Sau đó người ta tiếp tục thấy Nguyễn Ngọc

Tư leo lên đỉnh trên con đường nghệ thuật Không viết truyện thì viết báo, và ai cũng biết Nguyễn Ngọc Tư có “hàng bán chạy” từ Nam chí Bắc Sau khi được tuyên dương là một trong “Mười nhân vật trẻ xuất sắc tiêu biểu của năm 2002” vào năm 2003, Nguyễn Ngọc Tư lại đoạt luôn giải thưởng của Hội

Nguyễn Ngọc Tư quả thật là một nhà văn có chân tài trong nền văn chương hiện đại Việt Nam Nhà văn miền đất Mũi là một hiện tượng đặc biệt trong làng văn học nước nhà Riêng phim “Cánh đồng bất tận”, được chuyển thể từ cuốn truyện cùng tên của Nguyễn Ngọc Tư, sau khi phát hành đã đạt doanh thu 17 tỷ và tập truyện ngắn “Đào” in 25 000 bản, rồi tiểu thuyết “Sông”: 11.000 bản, ra mắt

và được ký tặng bạn đọc tại Hội trường 87, Triển lãm Giảng Võ Hà Nội Chỉ sau hơn tuần đến hai tháng, những cuốn sách đã bản hết, được tái bản, đủ để nói lên tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư đã đi vào lòng người đọc và tên tuổi nữ nhà văn Nguyễn Ngọc Tư thực sự có vị trí đặc biệt trên văn đàn cả nước

Trang 31

1.2.2 Sự nghiệp thành công của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư

Trong cuộc đời sáng tác nghệ thuật của mình cho đến nay, Nguyễn Ngọc

Tư đã sáng tác được gần 30 tập truyện, truyện ngắn, tản văn Có thể kể đến một số tác phẩm gây được tiếng vang lớn như:

+ Ngọn đèn không tắt (2000)

+ Ông ngoại (2001)

+ Biển người mênh mông (2003)

+ Giao thừa (tập truyện ngắn, 2003 - tái bản 2012)

+ Nước chảy mây trôi (tập truyện ngắn và ký, 2004)

+ Đau gì như thế (truyện ngắn - giải ba cuộc thi truyện ngắn của báo Văn nghệ

(2004-2005)

+ Sống chậm thời @ (tản văn, 2006) đồng tác giả với Lê Thiếu Nhơn

+ Sầu lên đỉnh Puvan (2007)

+ Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (tập truyện ngắn, 2005)

+ Cánh đồng bất tận (tập truyện ngắn, 2005 - được dịch ra tiếng: Anh, Hàn, Thuỵ

Điển)

+ Tập văn Nguyễn Ngọc Tư (tạp bút, 2005)

+ Ngày mai của những ngày mai (tạp bút, 2007)

+ Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (tập truyện ngắn, 2008)

+ Biển của mỗi người (tạp bút, 2008)

+ Yêu người ngóng núi (tản văn, 2009)

Trang 32

+ Khói trời lộng lẫy (tập truyện ngắn, 2010)

+ Gáy người thì lạnh (tản văn, 2012)

+ Bánh trái mùa xưa (2012)

+ Sông (tiểu thuyết, 2012)

+ Chấm (thơ, 2013)

+ Đảo (tập truyện ngắn, 2014)

+ Trầm tích (tập truyễn ngắn, 2014), ra chung với Huệ Minh, Lê Thúy Bảo Nhi, Thi Nguyễn, Đong tấm lòng (hơn 30 tản văn, Nxb Trẻ, 2015)

+ Không ai qua sông (tập truyện ngắn, 2016)

Về những giải thưởng đạt được, Nguyễn Ngọc Tư từng đoạt giải Mai vàng năm 2000 với truyện ngắn Ngọn đèn không tắt Cô cũng đoạt giải thưởng Văn học ASEAN năm 2008 Các tác phẩm của cô được tái bản nhiều lần và được dịch ra tiếng Hàn, tiếng Anh, tiếng Thụy Điển đã chứng minh được tài năng và vị trí của

cô trong nền văn chương Việt Nam

Ngoài những giải thưởng quan trọng trên, cô còn đạt được hàng loạt các giải thưởng đáng nói khác như:

+2000: Ngọn đèn không tắt - Giải Nhất trong Cuộc vận động sáng tác Văn học

tuổi 20 lần II)

+ 2000: Ngọn đèn không tắt – Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn Học

Nghệ thuật Việt Nam

+ 2001: Ngọn đèn không tắt - Giải B Hội Nhà văn Việt Nam

+ 2003: Một trong “Mười nhân vật trẻ xuất sắc tiêu biểu của năm 2002

Trang 33

+2006: Tác phẩm “Cánh đồng bất tận” - Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm

“Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư đã làm dấy động văn đàn với những lời khen chê rầm rộ từ mọi giới trong cả nước Mới hơn thập niên, ý kiến phẩm bình chung về tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư trong đó tập trung cô đặc vào “Ngọn đèn không tắt” và “Cánh đồng bất tận”, đã làm hao tốn không biết bao nhiêu giấy mực

và mối quan tâm của độc giả, cả quần chúng trong và ngoài giới văn học

Trang 34

CHƯƠNG 2: CÁC CƠ CHẾ TẠO HÀM NGÔN TRONG TÁC

PHẨM CỦA NGUYỄN NGỌC TƯ 2.1 Cơ sở nhận diện và cơ chế tạo hàm ngôn trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư

2.1.1 Cơ sở để nhận diện hàm ngôn trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư

Theo Hoàng Phê, những lời nói có chứa hàm ngôn là những lời có phần nào đó hoặc không đầy đủ, hoặc không bình thường, mà nguyên nhân là do thiếu

đi hoặc còn thiếu một nội dung nào đó Chính cái nội dung này là cái hàm ngôn

mà người nghe phải bằng suy luận mà đoán ra

Còn Đỗ Hữu Châu thì cho rằng, nếu xét lẽ thường là những quy tắc diễn ngôn thì chính kiểu “quan hệ giữa luận cứ và kết luận” và “cái lẽ thường ấy” là dấu hiệu hình thức định hướng cho người người nghe/ người đọc rút ra được hàm ngôn thích hợp Bên cạnh đó, một dấu hiệu nữa rất cần thiết để xác định hàm ngôn

là dựa vào hướng lập luận, các hành vi ở lời (chủ hướng dẫn nhập và hồi đáp) Mặc dù, những yếu tố này không trực tiếp nằm trong phát ngôn tường minh và nằm trong văn cảnh chủ đề.[11b, tr.372]

Theo ông, để nhận diện hàm ngôn ngữ nghĩa thì dựa vào quan hệ lập luận (lẽ thường) mà rút ra; tức là dựa vào luận cứ hoặc kết luận không được nói ra một cách tường minh Còn để nhận diện hàm ngôn hội thoại dựa vào sự vi phạm các quy tắc ngữ dụng và các quy tắc cộng tác hội thoại [5b, tr.393]

Vậy nên, để nhận diện một phát ngôn có chứa hàm ngôn trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư thì như theo Nguyễn Tú Anh trong luận án thạc sĩ ngôn ngữ:

“Hàm ngôn trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp”, chúng ta cần phải dựa vào

các yếu tố sau:

a Dựa vào mối quan hệ phi cấu trúc giữa các từ trong phát ngôn

Trang 35

b Dựa vào những quan hệ ngữ nghĩa bất bình thường trong phát ngôn

c Dựa vào mối quan hệ giữa người nói và người nghe trong ngôn cảnh, ngữ cảnh giao tiếp cụ thể

Tức là, chúng ta cần phải dựa vào những dấu hiệu“không đầy đủ” hoặc

“không bình thường” trong phát ngôn và xem xét hàm ngôn trong mối quan hệ với hiển ngôn, tiền giả định và ngữ cảnh giao tiếp cụ thể Đặc biệt là chúng ta phải đặt

nó trong cái nền của câu chuyện Có nghĩa là chúng ta phải dựa vào mối quan hệ giữa các từ ngữ, các thành tố cú pháp, quan hệ giữa luận cứ và kết luận, dựa vào

sự vi phạm các quy tắc điều khiển hành động ngôn ngữ, vi phạm các quy tắc hội thoại, dựa vào hoàn cảnh giao tiếp, và mối quan hệ giữa những người tham gia giao tiếp Ngoài ra cần phải dựa vào các ước định xã hội và đặc điểm văn hóa, tâm

lý dân tộc [16, tr 52]

2.1.2 Các cơ chế tạo hàm ngôn trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư

Như đã đề cập từ trước ở chương 1: “Những vấn đề lý thuyết” thì “Cơ chế

là cách thức theo đó một quá trình thực hiện” Vậy nên, cơ chế để tạo hàm ngôn là

cách thức sử dụng các yếu tố từ ngữ và cách kết hợp những từ ngữ đó theo quy tắc bất bình thường trong ngữ cảnh để tạo ra hai tính nghĩa hiển ngôn và hàm ngôn

Với việc tiến hành khảo sát 5 tập truyện ngắn cùng 5 tác phẩm (tổng cộng

47 truyện) được chọn lọc của tác giả Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi đã thống kê được tất cả là 76 ngữ cảnh có sử dụng hàm ngôn, tức là trung bình mỗi tác phẩm

sẽ có 1,62 ngữ cảnh sử dụng hàm ngôn Nhưng trong 47 tác phẩm được khảo sát lại có đến 17 tác phẩm không chứa bất kì ngữ cảnh có hàm ngôn nào Nếu vậy thì

ta có thể thống kê lại tỉ lệ trung bình xuất hiện hàm ngôn của 30 tác phẩm còn lại

là 2,5

Và đặc biệt, mức độ phân bố những ngữ cảnh chứa hàm ngôn trong mỗi tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư cũng có sự khác biệt Ngoài những tác phẩm không

Trang 36

chứa bất kì hàm ngôn nào thì có những tác phẩm lại tập trung phần lớn ngữ cảnh

chứa hàm ngôn như: Cánh đồng bất tận, tập truyện ngắn “Ngọn đèn không tắt” và tập truyện “Giao Thừa”

Chúng tôi đã tiến hành phân tích cơ chế tạo hàm ngôn của ngữ liệu được khảo sát và thống kê chúng trong bảng 2.1 sau:

STT Các cơ chế tạo hàm ngôn Số lượng Tỉ lệ (%)

Bảng 2.1 Các cơ chế tạo hàm ngôn trong tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư

Các cơ chế này được phân loại và thể hiện qua những trường hợp cụ thể sau đây:

2.2 Cơ chế tạo hàm ngôn hội thoại trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư

Theo Grice, hàm ngôn hội thoại không được gợi ra do các yếu tố quy ước

mà do cách vận dụng nguyên tắc cộng tác và các phương châm trong phương châm hội thoại Để tạo ra ý nghĩa hàm ẩn thì người nói cố tình “xúc phạm” đến một hoặc một số phương châm (hay những yêu cầu cụ thể trong từng nguyên tắc)

để khai thác chúng Grice đặt tên cho cách dùng này là sự xúc phạm hay là sự khai thác các phương châm cộng tác hội thoại

Trang 37

Các ý nghĩa hàm ẩn này vẫn dựa vào tính vững chắc của các phương châm

hội thoại và hoạt động theo cơ chế như sau: khi một phát ngôn trệch ra khỏi một phương châm nào đó thì người nghe vẫn tiếp tục lí giải nó sao cho phù hợp với sự cộng tác hội thoại càng nhiều càng tốt Như vậy, bằng cách cố tình vi phạm

nguyên tắc cộng tác hội thoại, người nói buộc người nghe phải vận dụng thao tác suy ý một cách căng thẳng để đạt tới một ý nghĩa nào đó [5b, tr 386]

Vì vậy, cơ chế tạo hàm ngôn hội thoại trong các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư mà chúng tôi khảo sát được chính là cơ chế vi phạm phương châm hội thoại Cơ chế này có số lượng lớn nhất khi có đến 48/76 ngữ cảnh sử dụng, chiếm tới 63% tỷ lệ các ngữ cảnh có chứa hàm ngôn được khảo sát Điều này đã cho thấy được vai trò vô cùng quan trọng của cơ chế trong việc tạo hàm ngôn cũng như khi tiến hành một cuộc hội thoại thì cách dễ nhất để tạo hàm ngôn là vi phạm các phương châm hội thoại, cả người nói và người nghe đều có thể đạt được mục đích hội thoại của mình Đặc biệt là đối với văn phong của Nguyễn Ngọc Tư, tạo hàm ngôn bằng cơ chế vi phạm phương châm hội thoại vừa giúp tác giả truyền đạt được những thông điệp cho người đọc vừa giúp cho họ có không gian tự tiến hành sáng tạo văn học dựa trên những gì đọc hiểu được

Và cơ chế vi phạm phương châm hội thoại gồm 4 phương châm được thể

hiện cụ thể ở bảng 2.2: Cơ chế vi phạm phương châm hội thoại như sau:

STT Cơ chế tạo hàm ngôn hội thoại

– Vi phạm phương châm hội thoại Số lượng Tỉ lệ (%)

Bảng 2.2 Cơ chế vi phạm phương châm hội thoại

2.2.1 Vi phạm phương châm về chất

Trang 38

Vi phạm phương châm về chất là nói không đúng sự thật

Trong số 76 ngữ cảnh chứa hàm ngôn được khảo sát của truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, có 11 ngữ cảnh chứa hàm ngôn vi phạm phương châm về chất, chiếm tỉ lệ là 14,5%

Chẳng hạn với những ví dụ sau:

Ví dụ (1)

Một người bảo không sao xa được người đàn bà có cái cười làm lấp lánh

cả khúc sông Má tôi nguýt dài:

Xét theo ngữ cảnh, người đàn ông đang muốn thuyết phục với mà của Điền

về những lời mà ông ta đã nói nhưng ngặt nỗi, má Điền không tin những lời đó

của ông ấy Và để tăng tính thuyết phục trong lời nói thì ông ta đã thề rằng: “Tôi nói láo cô Hai cho xe đụng chết ngắt” Việc cho xe đụng chết một người là một

việc không thể xảy ra trong xã hội pháp tài Vì vậy, sẽ không có phương pháp nào

để kiểm chứng phát ngôn của anh ta trừ khi cô Hai, tức má Điền vào tù Người đàn ông đã vi phạm phương châm về chất khi nói không đúng sự thật, nhất là khi

đó lại là một lời thề và không có cách nào để kiểm chứng Hàm ngôn mà anh ta

ám chỉ với má Điền là anh ta không nói láo, lời anh ta có thể tin tưởng hoàn toàn

Nhưng sau đó, chính Điền đã phải bác bỏ lại lời của anh ta là “thằng chả ở dưới ghe kiếm đâu ra chiếc xe, nói dóc…” Điều này cũng chứng minh là người đàn

ông đang vi phạm phương châm về chất khi không nói đúng sự thật

Hoặc trong ví dụ sau:

Ví dụ (2)

Trang 39

Chị đi chuyên nuớc vô lu, đôi dép Lào cu mỏng dính, trợt một cái trật gân Tội nghiệp quá chừng Ông về nạt nộ một hơi, đã nói mà, cô có chịu nghe tôi đâu Nói vậy thôi, ông di chợ huyện mua thuốc cho chị, sẵn mua đôi dép mới làm chị ngại trong lòng lắm Ông bảo:

- Đôi dép cô mỏng thiếu điều cạo râu đuợc rồi, tiếc làm chi, để té nữa thì khổ

(Cái nhìn khắc khoải)

Trong trường hợp này vì lo lắng chị ngại ngùng không nhận đôi dép mới

mà ông Hai mua ở chợ huyện về và để đề phòng chị không chịu đi, ông đã bảo:

“Đôi dép cô mỏng thiếu điều cạo râu được với tiếc làm chi, té ngửa thì khổ” Với

việc bảo đôi dép của chị mỏng như dao cạo râu, ông Hai đã vi phạm phương châm

về chất, khi nói không đúng sự thật Đúng là đôi dép của chị mỏng dính, đi dễ bị

té nhưng không thể nào đôi dép đó mỏng tới nỗi cạo râu được, khi mà chất liệu làm dép và dao cạo râu hoàn toàn khác nhau Hàm ngôn của ông Hai là nhằm khuyên chi bỏ đôi dép cũ đó đi vì mang rất nguy hiểm và hãy dùng đôi dép mới ông mua, không cần phải ngại gì nhiều

Ví dụ (3)

Hôm nay là giỗ bà già Năm nào vợ anh cũng lẳng lặng chuẩn bị nấu sáu

mâm Sáng qua chị bỗng hỏi năm nay mình có tính làm gọn không Anh nạt, “nấu vậy ai ăn ai nhịn, bà con cười tui thúi đầu ”, rồi đùng đùng đá sập giàn củi, đi

te te ra mé đìa, ạch đụi quăng chài

(Bâng quơ khói nắng – Đảo)

Ví dụ này, khi nói về việc giỗ của mẹ, vợ anh năm nào cũng chuẩn bị sáu mâm nhưng đến năm nay chị bỗng hỏi anh có tính làm gọn không Và để trả lời chị, anh

đã nạt “nấu vậy ai ăn ai nhịn, bà con cười tui thúi đầu ” Thực tế, không có việc

ai ăn ai nhịn vì sự việc chưa diễn ra và cả anh lẫn vợ đều không biết làm gọn hơn thì có đủ hay không (tính ra năm nào cũng thừa đồ ăn vì làm tới 6 mâm) Cách nói

Trang 40

“bà con cười tui thúi đầu” cũng ám chỉ việc không thực tế Câu nói của anh đã vi phạm phương châm về chất, với hàm ngôn nhằm bảo vợ anh vẫn cứ chuẩn bị 6 bàn ăn như mọi năm

2.2.2 Vi phạm phương châm về lượng

Vi phạm phương châm về lượng là hiện tượng nói nhiều hơn hoặc ít hơn thông tin mà cuộc thoại yêu cầu

Đối với 47 truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư mà chúng tôi khảo sát, tỉ lệ ngữ cảnh xuất hiện hàm ngôn vi phạm phương châm về lượng chiểm tỉ lệ cao nhất, với 25% (19/76 ngữ cảnh) Vậy nên, cơ chế vi phạm phương châm về lượng

dã thành một cơ chế chủ chốt trong việc hình thành hàm ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Điều ày được thể hiện ở một ví dụ sau

Ví dụ (4)

Điền hơi lo lắng khi nghe chị vẫn còn rên rỉ, nghĩ là chị đã đói, nó hối tôi nấu

cơm mau Nó thấy tiếc vì trên ghe chỉ còn mấy con khô sặt mặn chát, “tui nuốt còn không vô, nói chi…” Nhưng chiều hôm đó và cả ngày sau, chị không ăn Chị

từ chối cả uống nước, đợi đôi môi khô đã bắt đầu nứt ra, chị mới chịu hớp một vài ngụm ít ỏi, dường như chỉ đủ ướt môi Đói và khát, nhưng chị còn sợ đau hơn

(Cánh đồng bất tận)

Lúc này, vì thấy chị đói nên Điền đã hối chị gái của mình đi nấu cơm, nhưng trên ghe chỉ còn lại mấy con khô mặn chát, không phù hợp để một người

đang đói như chị ăn Vì vậy, Điền đã thốt lên “tui nuốt còn không vô, nói chi…”

Dấu ba chấm lửng phía cuối câu như đại diện cho phần thông tin bọ thiếu của phát ngôn Chính điều này đã làm cho ngữ cảnh vi phạm phương châm về lượng khi đã nói ít hơn thông tin mà cuộc thoại yêu cầu Việc bỏ lơ câu thoại của Điền nhằm hàm ngôn rằng: đồ ăn như thế này sao chị có thể ăn nổi, cũng như thể hiện thái độ quan tâm, lo lắng cho chị của Điền

Ví dụ (5)

Cha đưa chị một ít tiền ngay trong bữa cơm, khi nhà đủ mặt, “Tôi trả cho hồi hôm…” Rồi cha điềm nhiên phủi đít đủng đỉnh đứng lên, sự khinh miệt và

Ngày đăng: 30/06/2023, 08:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007) a. Sgk Ngữ văn 9 (tập 2) (Tái bản lần thứ hai), Nxb. Giáo dục.b. Sgk Ngữ văn 12 (tập 2), Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sgk Ngữ văn 9" (tập 2) (Tái bản lần thứ hai), Nxb. Giáo dục. b. "Sgk Ngữ văn 12
Nhà XB: Nxb. Giáo dục. b. "Sgk Ngữ văn 12" (tập 2)
3. Cao Xuân Hạo (2003), Tiếng Việt - mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt - mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2003
4. Đinh Văn Đức (2001), Ngữ pháp tiếng Việt – Từ loại, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội.5. Đỗ Hữu Châu (2012)a.Đại cương ngôn ngữ học (Tập 1), Nxb. Giáo dục Việt Nam.b. Đại cương ngôn ngữ học (Tập 2), Nxb. Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt – Từ loại", Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội. 5. Đỗ Hữu Châu (2012) a."Đại cương ngôn ngữ học" (Tập 1), Nxb. Giáo dục Việt Nam. b. "Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia
Năm: 2001
6. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1999
7. Đỗ Hữu Châu, Cao Xuân Hạo (1997), Tiếng Việt 12, Ban Khoa học Xã hội, Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 12
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1997
8. Hồ Lê (1996), Quy luật ngôn ngữ - quyển 2: Tính quy luật của cơ chế ngôn giao, Nxb. Khoa học Xã hội, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy luật ngôn ngữ - quyển 2: Tính quy luật của cơ chế ngôn giao
Tác giả: Hồ Lê
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
Năm: 1996
10. Lê Đông (1991), “Ngữ nghĩa ngữ dụng của hư từ tiếng Việt: ý nghĩa đánh giá của các hư từ”, Ngôn ngữ, số 2, tr.15-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Ngữ nghĩa ngữ dụng của hư từ tiếng Việt: ý nghĩa đánh giá của các hư từ”
Tác giả: Lê Đông
Năm: 1991
11. Lương Thị Hải (2012), “Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”
Tác giả: Lương Thị Hải
Năm: 2012
12. Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thị Thời (2007) a. “Câu chất vấn (kì I)”, Ngôn ngữ, số 9, tr 1- 8.b. “Câu chất vấn (kì II)”, Ngôn ngữ, số 10, tr. 15-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Câu chất vấn (kì I)”," Ngôn ngữ, số 9, tr 1- 8. b. "“Câu chất vấn (kì II)”
13. Nguyễn Thành Ngọc Bảo (2008), “Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”, Luận văn Thạc sĩ Văn học, Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Tác giả: Nguyễn Thành Ngọc Bảo
Năm: 2008
14. Nguyễn Thiện Giáp (1998), Cơ sở ngôn ngữ học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1998
15. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Đoàn Thiện Thuật – Nguyễn Minh Thuyết (2008), Dẫn luận ngôn ngữ học (Tái bản lần thứ mười ba), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Đoàn Thiện Thuật – Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
16. Nguyễn Thị Tú Anh (2012), “Hàm ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp”, Luận văn Thạc sĩ ngôn ngữ học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàm ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Tác giả: Nguyễn Thị Tú Anh
Năm: 2012
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1999), Tiếng Việt 11 (Hồng Dân chủ biên), Nxb Giáo dục Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w