Bảng thống kê tần số xuất hiện của các biểu thức ngôn ngữ ẩn dụ văn hóa có miền nguồn là từ chỉ bộ phận cơ thể người trong ca dao Nam Bộ .... Có thể nói các tài liệu nghiên cứu được liệ
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện tại, trong nước chưa có công trình nào đáng chú ý về Ẩn dụ văn hóa được công bố trên các tạp chí chuyên ngành Chúng tôi chỉ tìm thấy một số bài viết đề cập đến các vấn đề liên quan, nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào trọng tâm của ẩn dụ văn hóa.
(1) Lý Toàn Thắng (2009), Ngôn ngữ học tri nhận từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt, NXB Phương Đông, Hồ Chí Minh
(2) Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh
Nguyễn Đức Tồn (2002) trong tác phẩm "Tìm hiểu đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt" đã thực hiện một cuộc so sánh giữa người Việt và các dân tộc khác, từ đó làm nổi bật những đặc điểm văn hóa và tư duy độc đáo của người Việt Tác phẩm được xuất bản bởi NXB Đại học Quốc gia.
Các tác giả đã phân tích các khía cạnh riêng lẻ như tri nhận, tư duy, ngôn ngữ, văn hóa và dân tộc, nhưng chưa tổng quát và nghiên cứu các yếu tố này dựa trên lý thuyết Ngôn ngữ học văn hóa Do đó, hầu hết lý thuyết mà chúng tôi áp dụng đều dựa trên nghiên cứu của các học giả quốc tế, với nhiều công trình tiêu biểu.
- Esi Abbam Elliot, Joseph Cherian, Hernan Casakin (2011), Cultural metaphors: Enhancing consumer pleasure in ethnic servicescapes, Article in Journal of Business Research
- Farzad Sharifian (2017), Cultural Linguistics, John Benjamins Publishing
- Chun & Yu (2008), Cultural Metaphors in China: A Visual Experience of Hierarchy and Status Symbols
- Carlos D Tajer (2012), Thinking Medicine Metaphorically
- Hong-Li GAO, Xian-Feng FENG(2014), The Role of Palmer Cultural Linguistics in Translation, International Conference on Management Science and Management
Các tài liệu nghiên cứu đã chỉ ra cơ sở lý luận về ẩn dụ văn hóa, nghiệm thân văn hóa, tri nhận trong ngôn ngữ và ngôn ngữ học văn hóa, đồng thời phân tích các ẩn dụ văn hóa cụ thể trong ngôn ngữ của nhiều quốc gia như Trung Quốc, Úc, Mỹ, Nhật, Ba Tư và Myanmar Mỗi quốc gia và vùng miền đều có những đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa riêng, và Nam Bộ cũng không phải là ngoại lệ Nghiên cứu ẩn dụ văn hóa trong ca dao sẽ giúp khám phá mối liên hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa của vùng đất và con người Nam Bộ.
Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi áp dụng hai phương pháp chính là miêu tả và phân tích ngữ nghĩa để khám phá ẩn dụ văn hóa của vùng đất Nam Bộ Sau khi phân chia các bộ phận, chúng tôi tiến hành miêu tả và phân tích các trường hợp cụ thể, nhằm nhận diện cách tư duy và các ẩn dụ văn hóa được thể hiện trong ca dao Nam Bộ.
Kết cấu
Ngoài phần dẫn nhập, phần kết luận và tài liệu tham khảo, khóa luận có kết cấu 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết trình bày những nền tảng lý thuyết cần thiết cho việc nghiên cứu các ẩn dụ văn hóa trong ca dao Nam Bộ, từ đó tạo cơ sở vững chắc để giải quyết các vấn đề được đề cập trong chương tiếp theo.
Chương 2: Ẩn dụ văn hóa của từ chỉ bộ phận cơ thể người trong ca dao Nam Bộ Trong chương này, chúng tôi sẽ thống kê, miêu tả và phân tích các ý niệm hóa, đồng thời đưa ra những lược đồ ẩn dụ văn hóa liên quan đến các từ chỉ bộ phận cơ thể người.
- Chương 3: ẨN DỤ VĂN HÓA CỦA TỪ CHỈ HIỆN TƯỢNG TỰ NHIÊN VÀ
Trong chương này, chúng tôi sẽ thống kê, miêu tả và phân tích các ý niệm hóa liên quan đến ca dao Nam Bộ, đồng thời đưa ra những lược đồ ẩn dụ văn hóa cho các từ chỉ hiện tượng tự nhiên và xã hội.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Ngôn ngữ học văn hóa và ẩn dụ văn hóa
1.1.1 Ngôn ngữ học văn hóa
1.1.1.1 Văn hóa a Văn hóa và cấu trúc văn hóa
“Văn hóa” là một khái niệm phức tạp, bao gồm nhiều nghĩa khác nhau tùy thuộc vào cách tiếp cận của nhà nghiên cứu
F Boas định nghĩa “Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau” [23, tr 149]
Vào năm 1871, E.B Tylor đã định nghĩa văn hóa hay văn minh theo nghĩa rộng, bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, cùng với các năng lực và thói quen khác mà con người tiếp thu như một thành viên của xã hội.
Vào năm 2002, UNESCO đã định nghĩa văn hóa là tập hợp các đặc trưng tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hoặc nhóm người Định nghĩa này nhấn mạnh rằng văn hóa không chỉ bao gồm văn học và nghệ thuật, mà còn bao gồm cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin.
Văn hóa, theo Huỳnh Ngọc Thu, là sản phẩm của con người và là kết quả của sự tiến hóa nhân loại Nhờ văn hóa, con người trở nên độc đáo và khác biệt so với các loài động vật khác trong thế giới sinh vật.
Văn hóa gắn liền với hoạt động của cộng đồng và là biểu trưng cho sự phát triển của loài người qua các thế hệ Một đất nước giàu truyền thống văn hóa thể hiện sự phong phú về tinh thần Tuy nhiên, mỗi cá nhân và tập thể có những quan điểm riêng về khái niệm văn hóa, do đó cần xác định những đặc trưng cơ bản để đưa ra một định nghĩa khái quát về văn hóa.
Theo Trần Ngọc Thêm (2001), văn hóa có tính hệ thống, với mọi hiện tượng trong nền văn hóa có mối quan hệ mật thiết Mỗi cá thể trong hệ thống tạo nên cấu trúc vững chắc, giúp văn hóa tổ chức mọi mặt của đời sống xã hội Văn hóa còn có tính giá trị, được chia thành giá trị vật chất và giá trị tinh thần, bao gồm giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ Thêm vào đó, văn hóa mang tính lịch sử, hình thành và phát triển qua thời gian, là quá trình tích lũy từ thế hệ này sang thế hệ khác Truyền thống văn hóa tồn tại nhờ giao tiếp và giáo dục, nơi con người chia sẻ và truyền đạt kinh nghiệm Trẻ em thụ hưởng giá trị văn hóa từ gia đình và tiếp thu giá trị mới từ xã hội và môi trường xung quanh.
Văn hóa được hiểu là một hệ thống hữu cơ bao gồm các giá trị vật chất và tinh thần, được con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, đồng thời phản ánh sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.
Văn hóa được xem như một cá thể độc lập nhưng cũng có mối liên hệ chặt chẽ với các yếu tố khác Mỗi dân tộc đều mang những nét đặc trưng và bản sắc riêng, làm cho văn hóa trở thành đại diện cho cộng đồng đó Sự khác biệt chính là yếu tố tạo nên văn hóa, và ngược lại, văn hóa cũng chính là sự khác biệt Do đó, khi nói đến văn hóa, chúng ta đang đề cập đến những giá trị cụ thể của từng vùng miền, không phải là một nền văn hóa chung chung.
Theo quan điểm truyền thống, văn hóa được chia thành hai loại chính: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần (Arnoldov, 1985) Mặc dù cách hiểu này khá tổng quát, nhưng nó chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng của hệ thống văn hóa L White (1949) phân chia văn hóa thành ba tiểu hệ: công nghệ, xã hội và tư tưởng M.S Kagan cũng xác định ba yếu tố của văn hóa: văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa nghệ thuật Ngô Đức Thịnh (1987) mở rộng phân loại thành bốn yếu tố: văn hóa sản xuất, văn hóa xã hội, văn hóa tư tưởng và văn hóa nghệ thuật Ngoài ra, còn nhiều cách phân chia khác về cấu trúc văn hóa, nhưng trong khuôn khổ khóa luận này, chúng tôi chỉ nêu ra một số nhận định tiêu biểu để làm cơ sở lý luận cho quá trình nghiên cứu.
Dựa trên các cách phân chia cấu trúc văn hóa đã nêu, chúng tôi nhận thấy rằng các tác giả chưa làm rõ tiêu chí phân loại, dẫn đến các thành tố không có mối quan hệ ngang hàng với nhau.
Trần Ngọc Thêm phân chia cấu trúc văn hóa thành hai tiểu hệ chính Tiểu hệ đầu tiên là văn hóa nhận thức, trong đó con người luôn tìm hiểu và tích lũy kinh nghiệm về vũ trụ và bản thân Tiểu hệ thứ hai liên quan đến giá trị văn hóa nội tại, bao gồm văn hóa tổ chức cộng đồng với hai vi hệ: văn hóa tổ chức đời sống tập thể và văn hóa tổ chức đời sống cá nhân Bên cạnh đó, còn có hai tiểu hệ khác là văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội.
Trần Ngọc Thêm đã áp dụng lý thuyết hệ thống vào cấu trúc văn hóa, coi con người là trung tâm liên kết với các thành phần khác, do đó, chúng tôi chọn quan điểm của ông làm cơ sở lý thuyết cho bài khóa luận Đ.A Silichep nhấn mạnh rằng ngôn ngữ, cùng với chiều kích dân tộc, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển văn hóa và là nền tảng của nó Văn hóa của một dân tộc không thể tách rời khỏi ngôn ngữ, vì ngôn ngữ là tiêu chí phân biệt các nền văn hóa khác nhau Ngôn ngữ không chỉ chi phối cách tư duy mà còn ảnh hưởng đến lối suy nghĩ của con người (Lera Boroditsky, 2018).
Người Kuuk Thaayorre sống ở Pormpuraaw, thuộc bán đảo Cape York, không sử dụng các từ như “trái” hay “phải” trong ngôn ngữ của họ Thay vào đó, mọi thứ được xác định theo các phương hướng chính: bắc, nam, đông và tây Trong giao tiếp hàng ngày, họ có thể nói: “Ô, có con kiến trên cái chân phía tây nam của cô kìa” hoặc “Xê cái ly của anh qua phía đông bắc một chút đi” Cách chào hỏi trong tiếng Kuuk Thaayorre cũng rất đặc biệt, khi họ hỏi “Chú đang đi hướng nào đấy?” và câu trả lời thường là “Rất xa về phía đông nam, còn cháu?”.
Những người dân này có khả năng định hướng vượt trội, thậm chí hơn cả người bình thường Mặc dù chúng ta thường nghĩ rằng con người kém cỏi hơn các loài sinh vật khác do những hạn chế sinh học như không thể bay hay sống dưới nước, nhưng thực tế cho thấy rằng ngôn ngữ và nền văn hóa có thể giúp chúng ta thực hiện những điều tưởng chừng như không thể.
Văn hóa là linh hồn của dân tộc, ẩn sâu trong tiềm thức và tư duy con người, trong đó ngôn ngữ là biểu tượng cho giá trị vô hình ấy Ngôn ngữ không chỉ là phong tục, tập quán, truyền thống mà còn là yếu tố văn hóa quan trọng nhất, thể hiện sắc thái dân tộc rõ ràng Nó là phương tiện truyền tải các loại hình văn hóa như văn học, âm nhạc, mỹ thuật, và ẩm thực từ thế hệ này sang thế hệ khác Khi ngôn ngữ biến mất, nền văn hóa cũng sẽ bị mai một, cho thấy ngôn ngữ và văn hóa có mối liên hệ chặt chẽ Ngôn ngữ phát triển đến một mức độ nhất định sẽ phản ánh văn hóa của cộng đồng, với các ý niệm văn hóa được ghi dấu trong từ vựng và ngữ pháp.
Nam Bộ và ca dao Nam Bộ
1.2.1 Sơ lược về vùng đất, con người và văn hóa Nam Bộ
Gần bốn thế kỷ trước, Nam Bộ còn hoang sơ với rừng rậm và sình lầy, nhưng ngày nay đã phát triển thành một vùng đất với nền văn hóa độc đáo trải dài trên lưu vực sông Đồng Nai và sông Cửu Long Đây là không gian địa lý và hành chính quan trọng của người dân Việt, đã trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, đồng thời là nơi phát tích của nền văn hóa Óc Eo và các vương quốc Phù Nam, Chân Lạp.
Vùng đất Nam Bộ hiện nay bao gồm Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, với diện tích hơn 64.000 km² và dân số trên 33 triệu người (2017) Nơi đây có sự đa dạng về tộc người, bao gồm người Kinh, người Hoa, người Khmer, người Chăm, cùng với các dân tộc thiểu số từ Trường Sơn – Tây Nguyên và miền núi phía Bắc Nam Bộ là một vùng đất giàu văn hóa, đa tôn giáo và có tiềm năng phát triển lớn, thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước Nhiều hội thảo khoa học và công trình nghiên cứu đã được tổ chức và công bố về vùng đất này.
- Trương Thị Kim Chuyên (chủ biên) (2017),, Vùng đất Nam Bộ, NXB Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội
- Huỳnh Lứa (chủ biên) (2017), Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh.
- Phan Huy Lê (chủ biên) (2016), Vùng đất Nam Bộ – Quá trình hình thành và phát triển, NXB Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội
Lý Tùng Hiểu (2012) trong tác phẩm "Ngôn ngữ văn hóa vùng đất Sài Gòn và Nam Bộ" đã khẳng định rằng vùng đất Sài Gòn và Nam Bộ là nơi diễn ra cuộc khai hoang vĩ đại của dân tộc, chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng như trận thủy chiến của nghĩa quân Tây Sơn và sự thất bại của đế quốc Pháp và Mỹ Nơi đây còn lưu giữ và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Cảnh quan Nam Bộ nổi bật với những ruộng đồng xanh mướt, vườn cây trái phong phú, cùng với các cánh rừng tràm, rừng đước và rừng ngập mặn, cung cấp nguồn tài nguyên quý giá và là nơi sinh sống của nhiều loài sinh vật hiếm Tất cả tạo nên một bức tranh sinh động, hòa quyện, phản ánh vẻ đẹp đa dạng của miền sông nước, gợi nhớ đến những câu ca dao vui tươi.
Ví dầu cá bống xích đu Tôm càng hát bội, cá thu cầm chầu
Trong buổi đầu mở đất, cư dân Nam Bộ đã đoàn kết và hỗ trợ nhau để xây dựng thôn ấp, mở rộng dân số và đất đai Họ áp dụng kiến thức canh tác truyền thống cùng với điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển kinh tế và đời sống tinh thần Trước bối cảnh xã hội bị xâm lăng, tinh thần quật cường của người dân Nam Bộ đã sớm nảy nở, thể hiện sự chân thật, bộc trực và cởi mở, đồng thời cũng rất anh dũng, đặc biệt trong cuộc đấu tranh kháng chiến.
Cỏ Tháp Mười sẽ không bao giờ hết, cũng như nước Nam sẽ không bao giờ thiếu những người đánh Tây Điều kiện thiên nhiên và đặc trưng vùng miền, cùng với lịch sử và xã hội đã hình thành, đã ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa Nam Bộ Nơi đây không chỉ gìn giữ những nét đẹp truyền thống của cha ông mà còn tiếp thu những luồng văn hóa mới.
Tiềm thức văn hóa ở Nam Bộ giống như những hạt giống tiềm tàng, được nuôi dưỡng trên mảnh đất màu mỡ, kết hợp với các hình thức văn hóa mới đầy sức sống do nhân dân sáng tạo và tiếp thu từ các dân tộc anh em.
Nền văn hóa Nam Bộ được thể hiện rõ nét trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, từ trang phục như áo bà ba, kiến trúc nhà lá dừa, đến các phương tiện giao thông như ghe xuồng và hàng trăm món ăn dân dã đặc trưng Văn hóa này còn phản ánh trong cách ứng xử hàng ngày, nếp sống giản dị và phóng khoáng Đặc biệt, văn học nghệ thuật Nam Bộ mang đậm bản sắc dân tộc và màu sắc địa phương, với sự đóng góp của các nhà văn, nhà thơ trong việc gìn giữ giá trị văn hóa Sơn Nam, với hơn nửa thế kỷ sáng tác, không chỉ mang đến sự giải trí mà còn là những nghiên cứu sâu sắc về mảnh đất phương Nam Là người Nam Bộ chính gốc, ông hiểu rõ quá trình hình thành vùng đất này, và tác phẩm của ông như "Đồng bằng sông Cửu Long, nét sinh hoạt xưa" (1985) thể hiện rõ hơi thở của thiên nhiên và con người nơi đây qua giọng văn giản dị, mộc mạc.
Giới thiệu Sài Gòn xưa (1995), Hương rừng Cà Mau (1997), Ấn tượng 300 năm (1998)
Hồ Biểu Chánh, nhà văn nổi bật từ Tiền Giang, chuyên viết văn xuôi tự sự, tập trung vào cuộc sống Nam Bộ từ nông thôn đến thành phố trong những năm đầu thế kỷ 20 Ông phản ánh những xáo trộn xã hội do cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ Với cách diễn đạt nôm na, bình dị, Hồ Biểu Chánh đã có những đóng góp quan trọng vào sự hình thành thể loại tiểu thuyết trong giai đoạn đầu.
Nam Bộ tự hào với những tên tuổi như Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Hữu Huân, Phan Văn Trị, Nguyễn Thông, và đặc biệt là nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, một ngôi sao sáng trong văn học Việt Nam Bên cạnh nhiều nhà văn, nhà thơ ưu tú khác, không thể không nhắc đến những sáng tác dân gian với những câu ca dao, vẫn giữ được hương sắc đặc trưng của miền quê Nam Bộ qua hàng trăm năm thử thách.
Văn học dân gian, đặc biệt là ca dao, phản ánh môi trường thiên nhiên và đời sống tâm hồn của nhân dân lao động Từ khi còn nhỏ, mỗi người đều được nghe những câu ca dao ngọt ngào qua lời ru của mẹ, tạo thành những bài học đầu đời thấm sâu vào tiềm thức Những câu hát này như khúc ca tự tình của dân tộc, đã ăn sâu vào tâm hồn con người Ca dao, như hạt giống được gieo trên đất Nam Bộ, đã phát triển mạnh mẽ với hương vị đặc trưng Nhiều nhà nghiên cứu văn học và ngôn ngữ đã tìm tòi và đưa ra các khái niệm về ca dao, mà chúng tôi sẽ trích dẫn để làm căn cứ cho bài khóa luận của mình.
Ca dao, theo Hoàng Tiến Tựu (2005), là một thể loại thơ dân gian truyền thống, được hình thành và phát triển từ các yếu tố nghệ thuật ngôn từ của các loại dân ca trữ tình ngắn và tương đối ngắn.
Nguyễn Khắc Phi (2004) định nghĩa ca dao và dân ca là hai khái niệm tương đương, đại diện cho các thể loại trữ tình dân gian kết hợp giữa lời và nhạc, phản ánh đời sống nội tâm của con người Hiện nay, có sự phân biệt giữa dân ca và ca dao: dân ca là những sáng tác có lời và nhạc, trong khi ca dao chỉ là lời thơ của dân ca Ngoài ra, ca dao còn được hiểu là một thể thơ dân gian riêng biệt.
Ca dao, theo Phan Trọng Luận (2006), là thể loại thơ trữ tình dân gian, thường được biểu diễn kết hợp với âm nhạc Nó được sáng tác để thể hiện thế giới nội tâm của con người.
Ca dao được coi là một thể loại thơ dân gian có khả năng ngâm như các thể thơ khác và có thể được phát triển thành các điệu dân ca, theo nhận định của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan Nguyễn Văn Hầu cũng nhấn mạnh rằng ca dao là những câu, bài hát ngắn, được truyền miệng từ người này sang người khác và từ thế hệ này sang thế hệ khác, với ngôn từ giản dị và hồn nhiên.
Ca dao, theo Bùi Đức Tịnh (2005), là những bài hát và câu hát phổ biến trong dân gian, có kết cấu tự do và không xác định được tác giả.