1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ẩn dụ ý niệm tình yêu trong cao dao, dân ca nam bộ khóa luận tốt nghiệp

140 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ẩn dụ ý niệm tình yêu trong cao dao, dân ca Nam Bộ
Tác giả Bùi Thị Thu Hằng
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Công Đức
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2019
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua ẩn dụ ý niệm, chúng ta có thể hiểu những sự vật, hiện tượng trừu tượng bằng sự cụ thể hóa thông qua cấu trúc nghĩa biểu trưng của sự vật cụ thể.. Từ khái niệm về ý niệm ở phần trước

Trang 1

-

BÙI THỊ THU HẰNG

ẨN DỤ Ý NIỆM “TÌNH YÊU”

TRONG CA DAO, DÂN CA NAM BỘ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC

Hệ đào tạo: Cử nhân tài năng Khóa học: 2015 - 2019

TP HỒ CHÍ MINH, 2019

Trang 2

-

BÙI THỊ THU HẰNG

ẨN DỤ Ý NIỆM “TÌNH YÊU”

TRONG CA DAO, DÂN CA NAM BỘ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC

Hệ đào tạo: Cử nhân tài năng Khóa học: 2015 - 2019

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS TS NGUYỄN CÔNG ĐỨC

TP HỒ CHÍ MINH, 2019

Trang 3

dẫn của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Công Đức Các số liệu và kết quả nghiên cứu

trong khóa luận là trung thực Những kết luận khoa học của khóa luận chưa được

công bố trong bất kì công trình nào khác

TP Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 06 năm 2019

TÁC GIẢ KHÓA LUẬN

Bùi Thị Thu Hằng

Trang 4

Bảng 2.2 Bảng thống kê các thuộc tính trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ MẬT HOA 34Bảng 2.3 Mô hình chiếu xạ ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ SỰ SANG SÔNG 47Bảng 2.4 Bảng thống kê các thuộc tính trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ SỰ SANG SÔNG 48Bảng 2.5 Mô hình chiếu xạ ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ CƠN GIÓ 59Bảng 2.6 Bảng thống kê các thuộc tính trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ CƠN GIÓ 60Bảng 3.1 Mô hình chiếu xạ ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ BỘ PHẬN TRONG CƠ THỂ 72Bảng 3.2 Bảng thống kê các thuộc tính trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ BỘ PHẬN TRONG CƠ THỂ 73Bảng 3.3 Mô hình chiếu xạ ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ THỰC THỂ GẮN KẾT HAI VẬT THỂ 93Bảng 3.4 Bảng thống kê các thuộc tính trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ THỰC THỂ GẮN KẾT HAI VẬT THỂ 94

Trang 5

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

3.1 Mục đích 4

3.2 Nhiệm vụ 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa của đề tài 5

6.1 Ý nghĩa lý luận 5

6.2 Ý nghĩa thực tiễn 5

7 Cấu trúc của khóa luận 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7

1.1 Phạm trù và phạm trù hóa 7

1.2 Ý niệm và các thuật ngữ liên quan 8

1.2.1 Ý niệm 8

1.2.2 Sự ý niệm hóa 10

1.2.3 Cấu trúc ý niệm 11

1.2.4 Sơ đồ hình ảnh 12

1.2.5 Mô hình tri nhận 13

1.2.6 Tính nghiệm thân 13

Trang 6

1.3.2 Ẩn dụ theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận 16

1.4 Ẩn dụ ý niệm 17

1.4.1 Khái niệm 17

1.4.2 Cấu trúc ẩn dụ ý niệm 19

1.4.3 Ánh xạ ẩn dụ 20

1.4.4 Phân loại ẩn dụ ý niệm 22

1.5 Ẩn dụ ý niệm “tình yêu” 27

1.6 Khái quát về ca dao 28

1.6.1 Khái niệm ca dao, dân ca 28

1.6.2 Tình yêu trong ca dao dân ca Nam Bộ 29

1.7 Tiểu kết 30

CHƯƠNG 2: ẨN DỤ CẤU TRÚC “TÌNH YÊU” TRONG CA DAO, DÂN CA NAM BỘ 32

2.1 TÌNH YÊU LÀ MẬT HOA 32

2.1.1 Mô hình chiếu xạ giữa miền nguồn và miền đích của ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ MẬT HOA 32

2.1.2 Phân tích ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ MẬT HOA 37

2.2 TÌNH YÊU LÀ SỰ SANG SÔNG 46

2.2.1 Mô hình chiếu xạ giữa miền nguồn và miền đích của ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ SỰ SANG SÔNG 46

2.2.2 Phân tích ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ SỰ SANG SÔNG 51

2.3 TÌNH YÊU LÀ CƠN GIÓ 57

Trang 7

2.3.2 Phân tích ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ CƠN GIÓ 622.4 Tiểu kết 68

CHƯƠNG 3: ẨN DỤ BẢN THỂ “TÌNH YÊU” TRONG CA DAO, DÂN CA NAM BỘ 70

3.1 TÌNH YÊU LÀ BỘ PHẬN TRONG CƠ THỂ 703.1.1 Mô hình chiếu xạ giữa miền nguồn và miền đích của ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ BỘ PHẬN TRONG CƠ THỂ 703.1.2 Phân tích ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ BỘ PHẬN TRONG CƠ THỂ 773.2 TÌNH YÊU LÀ THỰC THỂ GẮN KẾT HAI VẬT THỂ 903.2.1 Mô hình chiếu xạ giữa miền nguồn và miền đích của ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ THỰC THỂ GẮN KẾT HAI VẬT THỂ 903.2.2 Phân tích ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ THỰC THỂ GẮN KẾT HAI VẬT THỂ 963.3 Tiểu kết 106

KẾT LUẬN 107

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, việc nghiên cứu ngôn ngữ không chỉ dừng lại ở các bình diện ngữ

âm, từ vựng – ngữ nghĩa, ngữ pháp và tu từ học theo quan điểm truyền thống của ngôn ngữ học mà còn nghiên cứu cả những vấn đề không thể quan sát trực tiếp, những vấn đề thuộc về tư duy của con người như tri thức, niềm tin, tín ngưỡng, Đây chính

là khuynh hướng nghiên cứu của ngôn ngữ học tri nhận Khuynh hướng này đang thu hút sự chú ý đặc biệt của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ

Ngôn ngữ học tri nhận bắt nguồn từ nước ngoài, ra đời trong khoảng ba thập

kỉ trở lại đây Đây là một “luồng gió mới” trong việc nghiên cứu ngôn ngữ, thu hút

sự chú ý đặc biệt bởi các nhà ngữ học Việt Nam Nhắc đến ngôn ngữ học tri nhận, ta không thể không nhắc đến các tác giả Nguyễn Đức Tồn, Lý Toàn Thắng và Trần Văn

Cơ Quan điểm của các tác giả đã xuất hiện rất nhiều trong các luận án, luận văn trong nước Điều đó chứng minh được rằng ngôn ngữ học tri nhận ngày càng phát triển, có chỗ đứng vững chắc trong nghiên cứu ngôn ngữ

Ẩn dụ ý niệm là một trong những địa hạt của ngôn ngữ học tri nhận Dựa trên quan điểm mới này, ẩn dụ được nhìn qua một lăng kính mới, vượt ra ngoài phạm vi

là một phép tu từ Ẩn dụ ý niệm là cách con người tư duy sự vật, hiện tượng bằng phương tiện ngôn ngữ Qua ẩn dụ ý niệm, chúng ta có thể hiểu những sự vật, hiện tượng trừu tượng bằng sự cụ thể hóa thông qua cấu trúc nghĩa biểu trưng của sự vật

cụ thể Từ đó, ta có được tri thức mới về thế giới vật chất và tinh thần hiện hữu hàng ngày trong cuộc sống xung quanh Nghiên cứu ẩn dụ ý niệm giúp ta hiểu hơn về tư duy của con người

Tình yêu trong ca dao, dân ca Nam Bộ được tạo nên từ những suy nghĩ, quan niệm của người dân trong chính cuộc sống lao động, sản xuất hàng ngày Nó gắn liền với những hình ảnh thân thuộc, giản dị như các vật dụng trong nhà, các hoạt động trong đời sống hàng ngày, trái cây, chim muông, Tình yêu của họ tuy giản đơn nhưng chất chứa những nỗi niềm sâu kín, khát vọng, niềm tin lớn lao Thêm vào đó, ngôn ngữ “tình yêu” trong ca dao, dân ca Nam Bộ mộc mạc, đơn giản, không trau chuốt

Sở dĩ có điều này là vì xuất phát từ tính cách chất phát, thật thà, vô tư của người dân

Trang 9

Nam Bộ Ngôn ngữ tuy đơn giản nhưng ẩn chứa những ý niệm mà chỉ có tư duy mới

có thể hiểu hết ý nghĩa về tình yêu Việc nhìn “tình yêu” qua ẩn dụ ý niệm là vấn đề không mới nhưng nghiên cứu với đối tượng là ca dao, dân ca Nam Bộ thì chưa nhận được sự quan tâm đặc biệt

Chính vì những lý do trên mà chúng tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài “Ẩn

dụ ý niệm tình yêu trong ca dao, dân ca Nam Bộ” với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc làm sáng rõ ẩn dụ ý niệm “tình yêu” trong ca dao, dân ca miền sông nước

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Ngôn ngữ học tri nhận là ngành còn khá non trẻ, xuất phát từ Mỹ và được thế giới đón nhận, bàn luận sôi nổi trong vài thập kỉ trở lại đây Có thể kể đến những công trình mang tính chất tiên phong trên thế giới như sau [23, 17]:

• Năm 1975, G.Lakoff và G.Thompson lần đầu tiên đưa ra thuật ngữ “ngữ

pháp tri nhận” trong bài báo Giới thiệu ngữ pháp tri nhận

• Năm 1980, G Lakoff và M Johnson cho xuất bản quyển Metaphor we live

by (Ẩn dụ mà chúng ta đang sống)

• Năm 1985, G Fauconnier cho ra đời ấn phẩm bằng tiếng Anh đầu tiên

Mental spaces (Không gian tinh thần)

• Năm 1987, R Langacker công bố quyển I trong bộ sách Foundations of Cognitive Grammar (Những cơ sở của ngữ pháp tri nhận), đến năm 1991,

tác giả công bố quyển II

• Cũng trong năm 1987, G Lakoff đã cho ra đời tác phẩm riêng của mình

Women, fire and dangerous (Đàn bà, lửa và những vật nguy hiểm) hay quyển sách của M Johnson The Body in the Mind (Thân thể trong tư duy)

và nhiều công trình khác

Trong đó nổi bật nhất là tác phẩm Metaphor we live by của hai tác giả G

Lakoff và M Johnson (1980) Tác phẩm này được xem là “Thánh kinh” [2, 462] trong ngôn ngữ học tri nhận, được vận dụng nhiều trong các công trình nghiên cứu, luận

án, luận văn cả trong và ngoài nước

Trang 10

Trào lưu ngôn ngữ học tri nhận này cũng được giới Việt ngữ học đón nhận và phát triển Có thể xem người đầu tiên trực tiếp bàn về ngôn ngữ học tri nhận là Lý

Toàn Thắng (2005) trong cuốn Ngôn ngữ học tri nhận – Từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt [7] Một công trình tiêu biểu khác trong lĩnh vực này là cuốn sách Ngôn ngữ học tri nhận (Ghi chép và Suy nghĩ) của Trần Văn Cơ (2007) Đây là hai

cuốn sách làm cơ sở vững chắc trong việc nghiên cứu và phát triển ngôn ngữ học tri nhận nói chung và ẩn dụ ý niệm nói riêng tại Việt Nam

Ẩn dụ ý niệm là vấn đề được rất nhiều nhà ngữ học quan tâm và nghiên cứu

Ta có thể bắt gặp nó trong các công trình nghiên cứu: Bản chất của ẩn dụ của tác giả Nguyễn Đức Tồn (2007) trong Tạp chí Ngôn ngữ [9]; Về các khái niệm ẩn dụ tri nhận, ẩn dụ từ vựng và ẩn dụ tu từ của Nguyễn Đức Tồn và Vũ Thị Sao Chi (2013) trong Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam [10]; Tìm hiểu ẩn dụ trong khuynh hướng tri nhận luận qua ý niệm Cuộc sống của tiếng Việt của tác giả Dương Xuân Quang (2011) [2]; Ẩn dụ cấu trúc trong thơ Xuân Quỳnh qua ý niệm Con người là thực vật/cây cỏ của Phạm Thị Hương Quỳnh (2014) trong Tạp chí Khoa học Đại học Trà Vinh [18]; Ẩn dụ bản thể trong thơ Xuân Quỳnh qua ý niệm Cơ thể con người là vật chứa đựng tình cảm của Phạm Thị Hương Quỳnh (2015) trong Tạp chí Ngôn ngữ &

Đời sống [19];…

Đối với đề tài của bài luận này, đã có rất nhiều luận án, luận văn, khóa luận

liên quan, có thể kể đến: Khóa luận tốt nghiệp Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong tập

“Thơ thơ” của Xuân Diệu - Trần Thị Kim Anh (2016) [22]; Luận văn thạc sĩ Ẩn dụ

ý niệm về tình yêu trong ca từ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung – Trần Thanh Hà (2018) [21]; Luận văn thạc sĩ Ẩn dụ tri nhận trong ca dao – Bùi Thị Kim Dung [15, 7]; Luận

án tiến sĩ So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình Việt Nam – Hoàng Thị Kim Ngọc

Trang 11

nghiên cứu và phát triển ẩn dụ ý niệm nói chung và “tình yêu” trong ca dao, dân ca Nam Bộ nói riêng Đồng thời, chúng tôi cũng hy vọng có thể làm sáng tỏ quan niệm,

tư tưởng của con người Nam Bộ về “tình yêu” thông qua việc phân tích các ẩn dụ ý niệm của chủ đề này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Bài khóa luận dùng lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận để xác lập và giải thích

mô hình ẩn dụ ý niệm dựa trên 220 bài ca dao, dân ca Nam Bộ Qua mô hình, những

ý niệm về tình yêu trong ca dao, dân ca được thể hiện rõ

3.2 Nhiệm vụ

Để hoàn thành mục tiêu mà đề tài đặt ra, những nhiệm vụ cần phải thực hiện

đó là: Tìm hiểu và hệ thống hóa những lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận để làm cơ

sở cho việc xác định và phân tích ẩn dụ ý niệm “tình yêu” Sau khi đã hệ thống hóa xong phần lý thuyết, bài khóa luận tiếp tục thống kê ngữ liệu, phân loại các loại ẩn

dụ ý niệm, tiến hành xác lập mô hình tri nhận và cuối cùng là phân tích ngữ liệu để chứng minh mô hình vừa đưa ra Những nhiệm vụ này sẽ làm sáng rõ vấn đề nghiên

cứu Ẩn dụ ý niệm “tình yêu” trong ca dao, dân ca Nam Bộ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những câu ca dao, dân ca Nam Bộ về tình yêu Vì phạm vi tình yêu rất lớn nên trong bài này, chúng tôi chỉ khảo sát những câu ca dao, dân ca nói về tình yêu lứa đôi (tình yêu nam nữ)

Trang 12

Về ngữ liệu, chúng tôi khảo sát sách Ca dao, dân ca Nam Bộ (1984) của Bảo

Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Thân Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị ở phần “Tình yêu nam nữ”, đã tìm ra 220 câu ca dao, dân ca Nam Bộ về tình yêu lứa đôi có chứa các ẩn dụ

ý niệm Đây là những câu thể hiện ẩn dụ ý niệm rõ nhất, từ đó phục vụ hiệu quả mục đích nghiên cứu mà bài khóa luận này đưa ra

Vì dung lượng có hạn nên bài khóa luận này chỉ đề cập đến hai loại ẩn dụ ý niệm là ẩn dụ cấu trúc và ẩn dụ bản thể

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp mà chúng tôi sử dụng trong khóa luận này:

- Phương pháp miêu tả: được dùng để miêu tả đặc điểm, tính chất, cấu trúc nghĩa biểu trưng của các thuộc tính thuộc các phạm trù đối tượng ở miền nguồn và miền đích

- Phương pháp phân tích ý niệm: được dùng để phân tích các thuộc tính của các đối tượng và sự tương đồng giữa các đối tượng ở miền nguồn và miền đích

- Thủ pháp phân loại, thống kê: được dùng để phân loại các thuộc tính, các loại

ẩn dụ ý niệm và thống kê số lượng các biểu thức ngôn ngữ liên quan đến thuộc tính xuất hiện cụ thể trong phạm vi ngữ liệu nghiên cứu

6 Ý nghĩa của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Khóa luận góp phần làm rõ đặc điểm, chức năng của ẩn dụ ý niệm thông qua

ẩn dụ ý niệm của đối tượng “tình yêu” trong ca dao, dân ca Nam Bộ Ẩn dụ ý niệm không chỉ làm cơ sở hình thành nên các hình ảnh biểu trưng cho đối tượng mà nó còn

là yếu tố quyết định trong cách tư duy của con người về đối tượng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Khóa luận sử dụng các thuật ngữ về sơ đồ hình ảnh, mô hình tri nhận và ánh

xạ ẩn dụ để giải thích lối tư duy trong việc hình thành nên các ý niệm về tình yêu trong ca dao, dân ca Nam Bộ Qua đó làm rõ và thấu hiểu đến cách người dân Nam

Bộ quan niệm về đối tượng “tình yêu”

Trang 13

Kết quả nghiên cứu của khóa luận giúp người đọc có cái nhìn khái quát về đặc trưng của tình yêu trong ca dao, dân ca Nam Bộ Ngoài ra, khóa luận còn có thể sử dụng như tài liệu tham khảo đối với những ai quan tâm

7 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài Tài liệu tham khảo và Phụ lục, bài khóa luận này có cấu trúc gồm ba phần: mở đầu, nội dung và kết luận Trong đó, phần nội dung có ba chương chính, đó là:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Chương 2: Ẩn dụ cấu trúc “tình yêu” trong ca dao, dân ca Nam Bộ

Chương 3: Ẩn dụ bản thể “tình yêu” trong ca dao, dân ca Nam Bộ

Trang 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Phạm trù và phạm trù hóa

Theo triết học, phạm trù được định nghĩa là “kết quả của sự khái quát hóa sự phát triển lịch sử của nhận thức và của thực tiễn xã hội Những phạm trù chính của chủ nghĩa duy vật biện chứng: vật chất, vận động, không gian, thời gian, chất lượng,

số lượng, mâu thuẫn và thống nhất, nguyên nhân và kết quả, tất yếu và ngẫu nhiên, nội dung và hình thức, khả năng và hiện thực, bản chất và hiện tượng, ” [23, 250]

Phạm trù là một thuật ngữ được sử dụng nhiều trong các lĩnh vực khoa học Trong ngôn ngữ học, đặc biệt là ngữ pháp học, có những phạm trù ngữ pháp lớn như phạm trù từ loại với những tiểu phạm trù: danh từ, động từ, tính từ, Mỗi tiểu phạm trù lại chứa đựng những phạm trù đặc thù (ví dụ: phạm trù giống, số, cách, của danh từ) [23, 251]

Không chỉ xuất hiện nhiều trong các lĩnh vực khoa học, phạm trù còn xuất hiện trong đời sống hằng ngày của chúng ta Bởi lẽ, theo Trần Văn Cơ (2007) [23, 251],

“Con người suy nghĩ bằng phạm trù” Giải thích điều này, tác giả đưa ra ví dụ về một

người mẹ khi nói chuyện với con mình: “Đây là rau này, đây là quả này, đây là củ

này”, là mẹ đang dạy con phân biệt các phạm trù thực vật Rồi mẹ lại nói: “Đây là

rau muống này, đây là rau cải này, đây là rau đay này” là mẹ đang dạy con mình các

tiểu phạm trù trong phạm trù lớn là rau Người mẹ đang dạy cho con mình cách phạm trù hóa thế giới bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình

Như vậy, phạm trù là tên gọi của một tập hợp bao gồm những thành tố có đặc điểm chung Các thành tố trong một phạm trù là những tiểu phạm trù Giữa các phạm trù với nhau đều có ranh giới rõ ràng để phân biệt Mỗi đối tượng trong nhận thức của con người đều có thể đóng vai trò là một phạm trù thông qua phạm trù hóa

Theo nghĩa hẹp, phạm trù hóa là “việc đưa những hiện tượng, đối tượng, quá trình v.v vào phạm vi kinh nghiệm, vào phạm trù và thừa nhận nó là một thành tố của phạm trù này” Với nghĩa rộng, phạm trù hóa là “quá trình cấu tạo và phân suất chính bản thân các phạm trù, là quá trình phân chia thế giới bên ngoài và thế giới bên

Trang 15

trong của con người, quá trình sắp xếp các hiện tượng theo thứ tự số lượng ít hơn hoặc hợp nhất chúng lại” [23, 253-254]

Việc phạm trù hóa thể hiện rất rõ trong các biện pháp tu từ nói chung và ẩn dụ nói riêng Trong phép ẩn dụ, hai đối tượng A và B là những phạm trù Thông qua các tiểu phạm trù về nghĩa của A và B, ta tìm được mối quan hệ tương đồng giữa chúng

1.2 Ý niệm và các thuật ngữ liên quan

1.2.1 Ý niệm

Ngay từ thời Trung Cổ, ý niệm đã được các nhà nghiên cứu đặt ra và khái quát định nghĩa về nó Một trong số tác giả đề cập đến vấn đề ý niệm là nhà triết học và thần học kinh viện Pháp thời Trung Cổ Pierre Abélard Ông cho rằng ý niệm như là một hình thức “chộp lấy” ý nghĩa [23, 126] Ý niệm không phải đâu xa mà nó là tập hợp những khái niệm trong đầu chúng ta và có thể phát ra bất cứ lúc nào Và lời nói

là đơn vị chuyển tải ý niệm hay ý niệm được hình thành nhờ có lời nói Vậy nên, khi suy nghĩ về sự vật nào đó, mỗi người luôn hướng đến chủ thể khác là người nghe, người đọc và cũng đồng thời hướng về nguồn gốc của lời nói – Thượng Đế [23, 127]

Trí nhớ và óc tưởng tượng là hai thuộc tính không thể tách rời nhau của ý niệm Ý niệm là sự tổng hợp ba khả năng của tâm hồn, hướng chúng ta đến sự thấu hiểu ở quá khứ, hiện tại và cả tương lai Ý niệm hướng về quá khứ qua hành động của trí nhớ, hướng về tương lai qua hành động của trí tưởng tượng và hướng về hiện tại qua hành động phán đoán [23, 127]

Quan điểm về ý niệm của các nhà ngôn ngữ học tri nhận hiện đại cho rằng con người là trung tâm của các hiện tượng văn hóa và ngôn ngữ (nguyên tắc “dĩ nhân vi trung”) Chính vì vậy mà con người sống, suy nghĩ, hành động, giao tiếp trong thế giới của ý niệm [23, 127-128]

Về định nghĩa, có nhiều quan điểm khác nhau về ý niệm:

• Askoldov khái quát “ý niệm là biểu tượng”

Trang 16

• Tsesnokov cho rằng ý niệm “là khái niệm, là đơn vị tổng hợp của tư duy, là sự phản ánh trọn vẹn, không chia cắt một hiện tượng của hiện thực”

• Likhatsov nêu ý niệm “là ý nghĩa, biểu thức ‘đại số’ của ý nghĩa”

• Rakhilina cho rằng ý niệm “là nguyên dạng của ý nghĩa từ vựng”

• Wierzbicka: ý niệm “là hạt nhân, là điểm xuất phát của sự tích lũy ngữ nghĩa của từ”

“khái niệm” để xác định các đặc điểm, tính chất cơ bản của đối tượng Nhưng khi thể hiện những tư tưởng, suy nghĩ, phán đoán, thì lại là ý niệm Như vậy, khái niệm chỉ mang đặc trưng mô tả, xác định đối tượng, còn ý niệm mang cả những suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc, tâm lý,…Nó được tạo nên từ văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo, đạo lý, luật pháp,…của xã hội mà con người đang sinh sống, nó bao hàm luôn cả khái niệm

Ý niệm chứa đựng ba thành tố: khái niệm, cảm xúc – hình tượng và văn hóa

Ý niệm là đơn vị tinh thần hoặc tâm lý của ý thức chúng ta, là đơn vị nội dung của ngôn ngữ bộ não, của toàn bộ bức tranh thế giới được phản ánh trong tâm lí con người Theo một số học giả, những ý niệm đơn giản nhất được biểu hiện bằng một

từ, những ý niệm phức tạp hơn được biểu hiện trong các cụm từ và câu [23, 138 - 139]

Tóm lại, ý niệm cũng giống như khái niệm khi dùng để xác định một đối tượng trong tư duy, nhận thức của con người Nhưng khác với khái niệm, ý niệm là sự bao trùm tất cả các nét nghĩa của đối tượng trong đời sống vật chất và tinh thần Ý niệm

Trang 17

cũng bao gồm cả những tri thức trừu tượng như sự sáng tạo, tưởng tượng của con người qua những trải nghiệm trong cuộc sống hằng ngày

1.2.2 Sự ý niệm hóa

Trần Văn Cơ (2007) cho rằng ý niệm là một mảng của thế giới do con người chúng ta cắt ra bằng “lưỡi dao ngôn ngữ” để nhận thức Việc cắt thế giới ra từng mảng

như vậy được gọi là ý niệm hóa thế giới Thế giới là của chung, tồn tại và thống nhất

cho tất cả mọi người Nhưng khi ta đã cắt ra bằng “lưỡi dao ngôn ngữ” thì nó không còn thống nhất chung nữa Mỗi một tộc người sẽ có nhận thức khác nhau về mảng kiến thức đó, vì nền văn hóa ở mỗi tộc người không giống nhau [23, 177-178]

Từ khái niệm về ý niệm ở phần trước và quan điểm về ý niệm hóa của Trần Văn Cơ, ta có thể khái quát về sự ý niệm hóa như sau: Khi một đối tượng mới xuất hiện trong nhận thức của con người, ý niệm về đối tượng đó cũng chính là khái niệm

về nó Trong quá trình tiếp thu tri thức và tư duy bằng trải nghiệm, ý niệm về đối tượng dần được mở rộng và tạo ra các nét nghĩa mới liên quan đến đời sống vật chất, tinh thần Như vậy, ý niệm hóa chính là quá trình tiếp thu tri thức và tư duy của con người về một đối tượng

Có thể nói ý niệm hóa là một trong những quá trình quan trọng nhất của hoạt động tri nhận của con người, bao gồm từ việc ngữ nghĩa hóa những thông tin đã nhận được, từ đó dẫn đến hình thành những ý niệm trong tâm trí mỗi người [22, 7] Ý niệm hóa có liên quan chặt chẽ đến phạm trù hóa đã nói ở trên Bằng cách xem đối tượng

là một phạm trù, con người có thể ý niệm hóa đối tượng đó thông qua việc phân tích các tiểu phạm trù của nó và tìm mối quan hệ với các đối tượng khác dựa trên những tri thức của mình Kết quả của quá trình ý niệm hóa sẽ tạo ra những nét nghĩa mới của đối tượng, mở rộng trường ý niệm về đối tượng

Ví dụ: Khái niệm của “thép” là một ý niệm cơ bản của đối tượng này Theo

Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (2003), thép được định nghĩa là “hợp kim bền,

cứng, dẻo của sắt với một lượng nhỏ carbon” [6, 932] Bằng cách phạm trù hóa “thép”,

ta có tiểu phạm trù tiêu biểu là “cứng” Qua phân tích tiểu phạm trù này, ta có thể ý niệm hóa “thép” mang nét nghĩa biểu trưng cho những sự vật, hiện tượng, trạng thái

Trang 18

liên quan đến “cứng” Chẳng hạn, một sự nghị lực kiên cường, bất khuất được xem như có tính chất “cứng” Kết hợp với ý niệm hóa về “thép” ở trên, ta có một ý niệm mới trong đời sống tinh thần là “nghị lực thép”

Hay ta xét một ví dụ khác về trào lưu tiếng lóng hiện nay trong giới trẻ, nơi hình thành rất nhiều ý niệm mới: Khái niệm (ý niệm cơ bản) của “sa mạc” là “vùng rộng lớn có khí hậu rất khô, không có cây cối, trừ ở một số ốc đảo” [6, 842] Từ việc phạm trù hóa “sa mạc”, ta có tiểu phạm trù tiêu biểu là “khô”, có mối quan hệ sâu sắc với tính chất “cạn” Qua đó, ta có thể ý niệm hóa “sa mạc” mang nét nghĩa biểu trưng cho những tri thức liên quan đến “cạn”, “khô” Vì vậy, một ý niệm mới trong tiếng lóng được hình thành là “sa mạc lời” (cạn lời)

Ta lấy ví dụ: Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (2003) [6, 626], “men”

được định nghĩa “có tác dụng gây hưng phấn hoặc làm say” Vậy “say” ở đây là ý niệm về “men” mà con người tri nhận được Ý niệm này xuất hiện trong đời sống rất nhiều: “men tình”, “men yêu”, hay trong ca dao: “Chung nhau mấy chén rượu đầy/

Không say men rượu lại say men tình”

Cấu trúc của ý niệm có thể được thể hiện bằng một mô hình có hai cấp bậc Bậc trung tâm đó chính là khái niệm, mang tính khái quát Nằm xung quanh hạt nhân

“khái niệm” là những vòng tròn nhỏ giao nhau mang những nét đặc thù về văn hóa,

Trang 19

bao gồm: Văn hóa dân tộc, văn hóa nhóm xã hội, văn hóa cá thể, văn hóa vùng, văn hóa các tộc người [23, 142]

Từ cấu trúc của ý niệm, ta có thể thấy ý niệm như một vật chứa tất cả các tri thức của con người về một đối tượng trong thế giới vật chất, văn hóa, tinh thần Và thông qua việc phân tích cấu trúc ý niệm của một đối tượng, con người tạo ra các ý niệm mới dễ dàng hơn, thống nhất hơn

1.2.4 Sơ đồ hình ảnh

Lakoff, Johnson và một số học giả đã sử dụng thuật ngữ sơ đồ hình ảnh (image schemas) để nói về sự ý niệm hóa các kinh nghiệm giao tiếp và sự ý niệm hóa các tri thức ngôn ngữ mà chúng ta có được [8, 38]

Trần Văn Cơ (2007) [23, 140] cho rằng: “Ý niệm được hình thành trong ý thức của con người Cơ sở của ý niệm là kinh nghiệm cảm tính trực tiếp mà con người thu nhận được thông qua quá trình tri giác thế giới bằng các cơ quan cảm giác, thông qua hoạt động tư duy và hoạt động giao tiếp dưới hình thức ngôn ngữ Ý niệm là một hình ảnh, nó có thể chuyển động từ một hình ảnh cảm tính sang một hình ảnh tư duy.”

Điều này có nghĩa là trước khi hình thành một ý niệm mới của một đối tượng, kinh nghiệm cảm tính của con người về đối tượng được tiếp nhận dưới dạng những hình ảnh mô phỏng các đặc điểm, tính chất của đối tượng qua quá trình tri giác thế giới Những hình ảnh mô phỏng đó chính là thành tố thuộc những vòng tròn nhỏ giao nhau trong cấu trúc ý niệm Trong quá trình tri giác, các hình ảnh xuất hiện ngày càng nhiều và lặp đi lặp lại tạo thành “sơ đồ hình ảnh”

Johnson đã định nghĩa sơ đồ hình ảnh: “là một mô hình năng động, tái diễn của những tương tác cảm nhận và chương trình vận động, mô hình đem lại cấu trúc

và sự chặt chẽ cho kinh nghiệm của chúng ta” [8, 41] Như vậy, sơ đồ hình ảnh chính

là những cấu trúc cơ sở để tạo nên những cấu trúc ý niệm Nó được hình thành trong

tư duy của con người qua việc tổ chức, sắp xếp những kinh nghiệm cảm tính về đối tượng thành một sơ đồ Những sơ đồ hình ảnh chính là tiền đề để hình thành cấu trúc

ý niệm

Trang 20

Ví dụ khi xét đối tượng là “sa mạc”, trong đầu ta xuất hiện một chuỗi các hình ảnh liên quan đến đối tượng như “một vùng đất cát bao la”, “khí hậu nóng và khô”,

“ánh nắng chói chang”, “cảm giác khát nước”, Những hình ảnh đó được tạo nên bằng những tri thức, trải nghiệm của con người về đối tượng “sa mạc” Sau đó, bằng

sự tư duy, các hình ảnh được sắp xếp lại theo trình tự thích hợp, tạo thành một sơ đồ hình ảnh về đối tượng

1.2.5 Mô hình tri nhận

Trần Văn Cơ (2007) cho rằng mô hình tri nhận có thể được hiểu như một ẩn

dụ có cơ sở trong các quan sát và kết luận được rút ra từ những quan sát đó và miêu

tả thông tin được phát hiện, lưu trữ và sử dụng như thế nào Các mô hình tri nhận được chọn lọc một cách chủ quan bởi các nhà khoa học Chúng có thể đúng với ý tưởng của nhà khoa học này nhưng có thể không đúng trong nghiên cứu của nhà khoa học khác Khi đó, các mô hình tri nhận cần được xem xét lại và có thể bị từ bỏ nếu chúng mất đi tính thời sự của mình [23, 52]

Giới tự nhiên luôn tồn tại một cách khách quan Các nhà khoa học không làm thay đổi giới tự nhiên mà sự xuất hiện những khái niệm mới trong quá trình quan sát làm thay đổi quan niệm của họ Sự xuất hiện những khái niệm ấy tạo nên mô hình tri nhận Và mô hình này chính là kết quả của quá trình quan sát và là nhân tố quyết định toàn bộ quá trình [23, 53]

Như vậy, mô hình tri nhận phản ánh những thuộc tính của giới tự nhiên và là sản phẩm do con người tạo ra Bằng cách biểu hiện dưới dạng một sơ đồ, mô hình tri nhận giúp chúng ta đưa ra các giả thuyết và phỏng đoán kết quả trong quá trình nghiên cứu Đây là cơ sở để nhận biết dấu hiệu của những ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong ca dao, dân ca Nam Bộ mà chúng tôi sẽ phân tích ở các chương dưới

1.2.6 Tính nghiệm thân

Bàn về tính nghiệm thân, Lakoff cho rằng: “Những cấu trúc dùng để kết nối

hệ thống ý niệm của chúng ta đều nảy sinh từ những trải nghiệm thân thể và được hiểu theo những cách trải nghiệm thân thể; ngoài ra, hạt nhân hệ thống ý niệm của

Trang 21

chúng ta bắt rễ trực tiếp từ tri giác chuyển động thân thể cùng sự trải nghiệm về những đặc trưng vật lý và xã hội.” [22, 9] Thật chính xác khi các nhà ngữ học phát hiện ra tính nghiệm thân là một yếu tố quan trọng hàng đầu trong ẩn dụ ý niệm Bởi lẽ, ẩn dụ tri nhận nghiêng về những tư tưởng, cảm xúc, suy nghĩ của con người

Tính nghiệm thân chính là những trải nghiệm của thân thể để hình thành những tri thức, sự hiểu biết về thế giới xung quanh Vì vậy, tính nghiệm thân là yếu tố quyết định của hệ thống ý niệm trong bản thân mỗi người Bằng tính nghiệm thân, con người hình thành những sơ đồ hình ảnh trong tư duy để tạo nên những cấu trúc ý niệm Từ đó, những ý niệm mới được hình thành

Ngoài sự trải nghiệm của thân thể, tính nghiệm thân còn là quá trình nhận thức thế giới Khi nhận thức được những tri thức mới, con người mới trải nghiệm thân thể của mình để có được những kinh nghiệm truyền tải vào ngôn ngữ Điều đó làm cho mặt ngữ nghĩa trong ngôn ngữ ngày càng phát triển Vì vậy, tính nghiệm thân là yếu

tố quyết định trong việc tiếp nhận các ý niệm trong tri thức nhân loại Đồng thời, nó cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành những ý niệm mới

Trịnh Sâm cũng đã giải thích và phân loại nghiệm thân: “trí não của con người thông qua những trải nghiệm, dung nạp, xử lý, lưu trữ, phục hồi và cả truy xuất tri thức không hoàn toàn thụ động mà có tính tương tác, theo những mô hình tri nhận nhất định Tương tác chính là chủ động dùng tri thức nghiệm thân để tri nhận thế giới

Với cách hình dung này, có thể có ba loại nghiệm thân: nghiệm thân sinh lý, nghiệm thân tự nhiên và nghiệm thân xã hội” [25, 2] Trong đó, tác giả nêu rõ nghiệm thân

sinh lý gắn với thân xác con người, nghiệm thân tự nhiên tự nhiên gắn với sự tương tác với môi trường vật chất xung quanh, còn nghiệm thân xã hội gắn với sự tương tác với con người

Ta có thể lấy ví dụ về tính nghiệm thân: Trong cuộc sống, khi thấy cánh bèo trôi trên sông, người ta liên tưởng đến thân phận của người phụ nữ cũng trôi nổi giống như cánh bèo trôi vô định, không biết dạt về đâu Đó chính là những trải nghiệm, là tiếp nhận tri thức từ thế giới, xã hội, văn hóa vùng miền Từ những trải nghiệm đó,

Trang 22

con người nhìn nhận, trải nghiệm rồi chuyển tải vào ngôn ngữ “phận làm phụ nữ như cánh bèo trôi sông”

Như vậy, tính nghiệm thân không chỉ là cơ sở để đưa ra các giả thuyết cho mô hình tri nhận ẩn dụ ý niệm mà nó còn là sự kiểm nghiệm cho những mô hình đã đặt

ra Nó là yếu tố quyết định trong việc tiếp nhận các ý niệm trong tri thức nhân loại, đồng thời cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành những ý niệm mới Đây cũng là cơ sở để chúng tôi đưa ra các mô hình tri nhận ẩn dụ ý niệm “tình yêu” trong ca dao, dân ca Nam Bộ

1.3 Ẩn dụ

1.3.1 Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống

Ẩn dụ đã xuất hiện từ rất lâu trong nền văn học thế giới cổ đại Các khái niệm đầu tiên về ẩn dụ được được trình bày trong một công trình nghiên cứu là của Aristotle (384 - 322 TCN) Ông cho rằng ẩn dụ có bản chất là sự chuyển tên gọi từ đối tượng này sang đối tượng khác [2, 462]

Có nhiều quan điểm khác nhau về ẩn dụ của các nhà ngôn ngữ học thế giới: A.A Reformatsky đưa ra khái niệm: “Ẩn dụ theo nghĩa chiết tự là “sự chuyển đổi”, là trường hợp chuyển nghĩa điển hình nhất Sự chuyển nghĩa theo ẩn dụ dựa trên

sự giống nhau của các sự vật về màu sắc, hình thức, đặc tính vận động, ” [10, 77]

B.N Golovin cho rằng: “Sự chuyển đổi của các từ từ một đối tượng này sang một đối tượng khác trên cơ sở sự giống nhau của chúng được gọi là ẩn dụ” [10, 77]

O.S Akhmanova định nghĩa ẩn dụ là “phép chuyển nghĩa dùng các từ và ngữ

ở ý nghĩa bóng trên cơ sở sự tương tự, sự giống nhau” [10, 77]

Các tác giả Việt Nam cũng đưa ra quan điểm tương tự:

Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau” [16, 162]

Tác giả Đỗ Hữu Châu quan niệm: “Ẩn dụ là cách gọi tên sự vật này bằng tên

sự vật khác dựa trên mối quan hệ tương đồng” [4, 54] Từ đó, ông đưa ra công thức

Trang 23

về ẩn dụ: “Cho A là một hình thức ngữ âm, X và Y là những nghĩa biểu vật A vốn là tên gọi của X (tức là X có ý nghĩa biểu vật chính của A) Phương thức ẩn dụ là lấy tên gọi A của X để gọi tên Y nếu như X và Y có nét nào giống nhau” [5, 145]

Đào Thản: “Ẩn dụ cũng là một lối so sánh dựa trên sự giống nhau về hình dáng, màu sắc, tính chất, phẩm chất hoặc chức năng của hai đối tượng Nhưng khác với so sánh dùng lối song song hai phần đối tượng và phần so sánh bên cạnh nhau,

Cho đến khi công trình nghiên cứu Metaphor we live by (Ẩn dụ mà chúng ta đang

sống) của George Lakoff và Mark Johnson ra đời năm 1980, ẩn dụ đã đón nhận một bước chuyển mình trong ngành ngôn ngữ học [2, 462] Nó được cho rằng có mối quan

hệ với cả tư duy và hành động của con người Điều này xuất phát từ việc nghiên cứu

ẩn dụ theo khuynh hướng ngôn ngữ học tri nhận

1.3.2 Ẩn dụ theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận

Ngôn ngữ học tri nhận là hướng đi mới trong việc nghiên cứu ngôn ngữ, bắt nguồn từ Mỹ Lý Toàn Thắng đã giải thích: “Ngôn ngữ học tri nhận là một trường phái mới của ngôn ngữ học hiện đại, tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinh nghiệm và sự cảm thụ của con người về thế giới khách quan cũng như cách thức

mà con người tri giác và ý niệm các sự vật và sự tình của thế giới khách quan đó” [15, 15]

Nguyễn Đức Tồn đã bàn về bản chất của ẩn dụ: “Mỗi sự vật, hiện tượng vốn

có nhiều đặc điểm, thuộc tính Do vậy cùng một sự vật, hiện tượng có thể được tư duy đồng nhất hóa với nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau tùy theo đặc điểm, thuộc tính nào cùng có ở chúng được chọn để làm cơ sở cho sự đồng nhất hóa” [10, 78]

Trang 24

Như vậy, tư duy là yếu tố quyết định việc lựa chọn cơ sở cho sự đồng nhất hóa các sự vật, hiện tượng trong ẩn dụ Quan điểm ngôn ngữ học truyền thống đã không

lý giải được sự liên quan của ẩn dụ với tư duy con người Vì vậy, việc nghiên cứu ẩn

dụ theo khuynh hướng ngôn ngữ học tri nhận được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm

Lakoff và Johnson cho rằng: “Ẩn dụ xuyên xuốt đời sống của chúng ta và không chỉ thể hiện ở ngôn ngữ mà còn cả tư duy và hành động Hệ thống ý niệm thường nhật của chúng ta, mà thông qua đó chúng ta tư duy và hành động, về thực chất mang tính ẩn dụ Bản chất của ẩn dụ là ở tư duy và cảm xúc về các hiện tượng thuộc loại này ẩn trong thuật ngữ của các hiện tượng khác” [2, 462]

Các quan điểm theo ngôn ngữ học tri nhận đều cho rằng ẩn dụ không chỉ xuất hiện trong văn chương mà còn cả trong các lĩnh vực triết học, tâm lý học, thần kinh học, logic học,… và cả trong đời sống thường ngày Ẩn dụ thể hiện tư tưởng của con người Nó cho phép con người gửi gắm những suy nghĩ, hiểu biết, buồn, vui, giận, hờn, Trên cơ sở này, các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra khái niệm về ẩn dụ ý niệm (hay ẩn dụ tri nhận)

1.4 Ẩn dụ ý niệm

1.4.1 Khái niệm

Ẩn dụ ý niệm là một khái niệm mới về ẩn dụ, ra đời dựa trên quan điểm ngôn ngữ học tri nhận Có thể nói cột mốc quan trọng của sự phát triển ẩn dụ ý niệm là khi

công trình Metaphor we live by ra đời vào năm 1980, Lakoff cùng Johnson (1980)

khái quát “Hệ thống ý niệm thường nhật của chúng ta, mà thông qua đó chúng ta tư duy và hành động, về thực chất mang tính ẩn dụ” [2, 462]

Dựa trên quan điểm về hiện tượng loại suy trong bản chất ẩn dụ, Nguyễn Đức Tồn cũng đã diễn đạt về ẩn dụ ý niệm: “Khi hai sự vật (hay hiện tượng, tính chất ), chẳng hạn kí hiệu X và Y, được tư duy đồng nhất hóa thì các đặc điểm, thuộc tính vốn có ở Y có thể cũng được quy gán cho X và được dùng để nói về X, hoặc ngược lại, các đặc điểm, thuộc tính vốn có ở X có thể cũng được quy gán cho Y và được dùng để nói về Y” [10; 78] Qua quan điểm của tác giả, ta có thể thấy rõ sự khác nhau

Trang 25

giữa ẩn dụ ý niệm và ẩn dụ từ vựng truyền thống Thay vì là cách gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng kia thì ẩn dụ ý niệm đã mở rộng sang sự đồng nhất hóa hai sự vật, hiện tượng dựa trên các đặc điểm, thuộc tính tương đồng

Trần Văn Cơ (2007) [23, 293-294] cho rằng ẩn dụ là một cơ chế tri nhận, nhờ

cơ chế này mà sự hiểu biết của con người đã qua quá trình phạm trù hóa được đánh giá lại trong bối cảnh những ý niệm mới Ẩn dụ là một trong những phương thức tri thức dưới dạng ngôn ngữ, nó có quan hệ với những không gian tư duy phức tạp không thể quan sát được Thông qua ẩn dụ, các không gian này có thể xác lập mối tương quan với những không gian tư duy khác đơn giản hơn hoặc có thể quan sát được cụ thể trong quá trình nhận thức [23, 294]

Từ đó, tác giả đưa ra định nghĩa: “Ẩn dụ tri nhận (hay còn gọi là ẩn dụ ý niệm – cognitive/conceptual metaphor) – đó là một trong những hình thức ý niệm hóa, một quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện và hình thành những ý niệm mới và không

có nó thì không thể nhận được tri thức mới” [23, 293]

Dựa vào những quan điểm của các tác giả, chúng ta có thể hiểu ẩn dụ ý niệm

là cách thức biểu hiện tư duy của con người, thể hiện năng lực tư duy của con người Thông qua ẩn dụ ý niệm, con người có thể hiểu được vùng tri thức mới về thế giới khá trừu tượng vốn dĩ không nhìn được qua mặt nghĩa đen của từ Không có ẩn dụ ý niệm, chúng ta sẽ không thể nhận được những tri thức mới Thật đúng khi tác giả Trần Văn Cơ nói rằng “Ẩn dụ là phương thức biểu tượng tri thức dưới dạng ngôn ngữ” [23, 294]

Ngoài ra, các tác giả cũng định nghĩa ẩn dụ ý niệm dựa trên cấu trúc của nó: Lakoff nhấn mạnh: “Ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) là các ánh xạ có tính

hệ thống giữa hai miền ý niệm: miền nguồn là một phạm trù trải nghiệm được ánh xạ hay phóng chiếu vào miền đích là một miền trải nghiệm khác”[17, 240]

Lý Toàn Thắng cho rằng: “Ẩn dụ ý niệm là một sự chuyển di (transfer) hay một sự đồ họa (mapping) cấu trúc và các quan hệ nội tại của một lĩnh vực hay mô hình tri nhận đích” [7, 30]

Trang 26

Cách nêu định nghĩa này đã làm rõ được cấu trúc của một ẩn dụ ý niệm bao gồm hai miền: miền nguồn và miền đích Và giữa chúng có sự “phóng chiếu” để hình thành nên ẩn dụ ý niệm Tựu chung lại, ẩn dụ ý niệm là cách con người tư duy mọi

sự vật, hiện tượng bằng phương tiện ngôn ngữ Sự tư duy đó dựa trên những kinh nghiệm mà họ có được trong cuộc sống thường nhật Chính nhờ ẩn dụ ý niệm mà con người chúng ta hiểu biết những tri thức mới ở mọi lĩnh vực của đời sống

Ẩn dụ ý niệm không đâu xa mà nó hiện hữu ngay trước mắt trong từng câu nói chúng ta phát ngôn hằng ngày Bàn về ẩn dụ ý niệm, Lakoff và Johnon lấy ví dụ “Đời

là một chuyến đi” [14] Ở đây, miền đích là “đời”, miền nguồn là “một chuyến đi” Chuyến đi thì ta có thể đi tàu, đi máy bay, đi xe máy hay thậm chí đi bộ Và khi đi thì

ta không chỉ đi một nơi mà rất nhiều nơi khác nhau Con đường ta đi sẽ có lúc suôn

sẻ, thuận lợi, có lúc lại gập ghềnh, gặp nhiều bất trắc Phạm trù cuộc đời sẽ không giúp ta hiểu hết ý nghĩa cuộc đời ra sao nên người ta mượn “một chuyến đi” để nói lên tri thức trừu tượng “đời”

1.4.2 Cấu trúc ẩn dụ ý niệm

Dựa trên định nghĩa của Lakoff, ta có thể thấy cấu trúc ẩn dụ ý niệm được phân thành hai miền là miền nguồn và miền đích Ẩn dụ là một cơ chế tri nhận bao gồm một miền ánh xạ (mapping) lên một miền khác mà miền thứ hai này được hiểu theo miền đầu tiên Miền thứ nhất làm cơ sở cho sự ánh xạ được gọi là miền nguồn (source domain), còn miền thứ hai nhận những hình ảnh của sự ánh xạ là miền đích (target domain) Miền nguồn được hình thành dựa trên sự trải nghiệm của bản thân con người thông qua các hoạt động tri giác không gian, tác động tới vật thể và cảm nhận thế giới khách quan Do đó những hình ảnh của miền nguồn có thể được hiểu là những gì cụ thể, có thể sờ nắm và tiếp xúc bằng các giác quan Còn miền đích là miền thiếu đi những hình ảnh cụ thể như tư tưởng, tình cảm, thời gian, sự sống, cái chết, tri thức v.v… Những ý niệm thuộc về miền đích thường trừu tượng và không thể tiếp xúc bằng các giác quan, chúng ta chỉ có thể cảm nhận và tri nhận chúng bằng trí óc [2, 463]

Trang 27

Theo Z Kovecses, miền đích và miền nguồn không quy định lẫn nhau, nghĩa

là bất kỳ một miền nguồn nào cũng có thể ánh xạ cho miền đích nào chứ không phải miền nguồn này là chỉ ánh xạ riêng mỗi miền đích này [22, 14] Lakoff và Johnson cho rằng một ẩn dụ ý niệm được cấu trúc với hai miền là đích và nguồn, được khái quát dưới dạng một công thức ĐÍCH LÀ NGUỒN [22] Trong ca dao, dân ca, ta có thể thường xuyên bắt gặp cấu trúc này [22], ví dụ TÌNH YÊU LÀ CÂY ĂN TRÁI

Bài khóa luận này vận dụng cấu trúc miền nguồn và miền đích và công thức

“Đích là nguồn” của hai tác giả Lakoff và Johnson để xác định và phân tích các loại

ẩn dụ ý niệm “tình yêu” trong ca dao, dân ca Nam Bộ

1.4.3 Ánh xạ ẩn dụ

Trong khái niệm về ẩn dụ ý niệm của Lakoff, có một thuật ngữ tiếng Anh

“mapping” được Lý Toàn Thắng dịch ra tiếng Việt là “sự đồ họa” Tuy nhiên, chúng tôi xin được dùng nghĩa tiếng Việt của thuật ngữ “mapping” này là “ánh xạ” giống như nghĩa tiếng Việt phổ biến của từ này để làm rõ bản chất của nó Ánh xạ ẩn dụ là một yếu tố quyết định trong việc hình thành và xác định các ẩn dụ ý niệm Bàn về khái niệm ánh xạ trong ẩn dụ ý niệm, Phan Thế Hưng cho rằng sơ đồ ánh xạ “là hệ thống cố định của các tương ứng giữa các yếu tố hợp thành miền nguồn và miền đích” [20, 41]

Ánh xạ là một thuật ngữ bắt nguồn từ trong lĩnh vực toán học Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (2003) [6, 8], ánh xạ được định nghĩa là “quy tắc về sự

tương ứng giữa các phần tử của hai tập hợp” Từ định nghĩa trên, ánh xạ ẩn dụ có thể được hiểu là sự tương ứng giữa các đặc điểm, thuộc tính trong thành phần cấu tạo của miền nguồn và miền đích Trong đó, miền nguồn và miền đích là hai tập hợp, còn các thuộc tính trong thành phần của chúng chính là những phần tử của hai tập hợp

Dương Xuân Quang cũng đã nhận xét về ánh xạ ẩn dụ (mapping): “sự đồ chiếu còn phải bao hàm một thao tác – thao tác chuyển (phóng chiếu) những đặc trưng của miền Nguồn sang miền Đích trên cơ sở những quan hệ tương đồng (những quan hệ này được xác lập dựa trên cơ sở kinh nghiệm và tri giác của người bản ngữ), nhằm làm rõ hơn ý niệm của miền Đích Thông qua sự đồ chiếu, chúng ta thấy được chính

Trang 28

xác ý niệm ở miền Đích được hiểu như ý niệm ở miền Nguồn Sự đồ chiếu là cái cấu thành nên một ẩn dụ ý niệm Do vậy, muốn hiểu được một ẩn dụ ý niệm (conceptual metaphor) có nghĩa là chúng ta phải hiểu được sự đồ chiếu của một cặp miền Nguồn – Đích” [2, 463] (Trong trường hợp này, tác giả sử dụng nghĩa “sự đồ chiếu” cho thuật ngữ “mapping”)

Như vậy, trong một ánh xạ ẩn dụ, luôn luôn xảy ra “thao tác phóng chiếu” các ánh xạ từ miền nguồn đến miền đích Trong bài khóa luận này, chúng tôi xin được dùng cụm từ “chiếu xạ” thay cho thao tác “phóng chiếu các ánh xạ” để làm rõ những

ẩn dụ ý niệm Ánh xạ ẩn dụ thường được thể hiện dưới dạng một mô hình chiếu xạ hoặc sơ đồ chiếu xạ Trong đó bao gồm các thuộc tính tương đồng giữa miền nguồn

và miền đích

Về vai trò của ánh xạ ẩn dụ, Lý Toàn Thắng đã nêu: “thông thường các phạm trù ở mô hình nguồn, cụ thể hơn, nghĩa là chúng ta thường dựa vào những kinh nghiệm của mình về những con người, những sự vật và hiện tượng cụ thể thường nhật để ý niệm hóa các phạm trù trừu tượng” [7, 30]

Nhờ ánh xạ ẩn dụ, phạm trù trừu tượng ở miền đích đã được làm rõ thông qua một số thuộc tính tương ứng của phạm trù cụ thể ở miền nguồn Từ đó hình thành nên những ý niệm mới của phạm trù ở miền đích Nói cách khác, miền đích trừu tượng

đã được làm rõ bởi miền nguồn cụ thể Đó là sự chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích thông qua các thuộc tính tương đồng Đây là sự phóng chiếu mang tính một chiều

và không có chiều ngược lại

Qua khái niệm và đặc điểm của ánh xạ ẩn dụ, ta có thể thấy ánh xạ ẩn dụ chính

là yếu tố quyết định tạo nên một ẩn dụ ý niệm Việc các nhà nghiên cứu hình thành hay xác định một ẩn dụ ý niệm chính là hình thành hay xác định mô hình chiếu xạ của nó Cũng bằng việc làm rõ sự tương ứng giữa miền nguồn và miền đích trong ánh

xạ ẩn dụ, chúng ta đã làm rõ được và thấu hiểu về ẩn dụ ý niệm đó

Chẳng hạn lấy ví dụ ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH của Lakoff cùng Johnson Miền nguồn là “cuộc hành trình” còn miền đích là “tình yêu” Cả hai phạm trù ở hai miền là hai thế giới hoàn toàn tách biệt, không liên quan

Trang 29

gì với nhau Tuy nhiên, thông quan ẩn dụ ý niệm, ta có thể hiểu phạm trù trừu tượng

“tình yêu” qua phạm trù cụ thể “cuộc hành trình” Hành trình thì có các thuộc tính như người đi đường biểu trưng cho những người yêu nhau; đường gập ghềnh thể hiện

sự khó khăn, trắc trở biểu trưng đến những khó khăn, gian nan trong tình yêu; Đến đây ta có thể thấy sự chiếu xạ từ miền nguồn đến miền đích dựa trên những sự tương đồng giữa hai miền Từ đó thiết lập nên mô hình chiếu xạ của ẩn dụ ý niệm trên

1.4.4 Phân loại ẩn dụ ý niệm

Tác giả Trần Văn Cơ đã dẫn ra cách phân loại ẩn dụ ý niệm của các nhà nghiên cứu: Lakoff 1987; Lakoff, Johnson 1980; Reddy 1979; Langacker 1991, ẩn dụ ý niệm được phân ra thành các loại chính: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ kênh liên lạc,

ẩn dụ định hướng, Sau đó tác giả đã theo tinh thần của Lakoff, Johnson 1980 trong

Metaphors we live by nghiên cứu bốn loại kể trên [23, 294-295] Qua ngữ liệu khảo

sát được, chúng tôi nhận thấy phần lớn trong các bài ca dao, dân ca có chứa hai loại chính là ẩn dụ cấu trúc và ẩn dụ bản thể Chính vì vậy mà bài khóa luận này chúng tôi chỉ đề cập đến hai loại ẩn dụ ý niệm chính là ẩn dụ cấu trúc và ẩn dụ bản thể

1.4.4.1 Ẩn dụ cấu trúc

Ẩn dụ cấu trúc được các nhà ngữ học cho là xuất hiện nhiều nhất trong tất cả các loại ẩn dụ ý niệm Về khái niệm, quan niệm của tác giả Trần Văn Cơ (2007) [23, 295] cho rằng “Ẩn dụ cấu trúc (structural metaphor) là loại ẩn dụ khi nghĩa (hoặc giá trị) của một từ (hay một biểu thức) này được hiểu (được đánh giá) thông qua cấu trúc

của một từ (hoặc một biểu thức) khác Đây là kiểu ẩn dụ thường sử dụng kết quả của

quá trình biểu trưng hóa (vật thể và ngôn ngữ) và của sự liên tưởng” Ví dụ phân tích nghĩa biểu trưng của từ “con cáo” – biểu trưng cho sự tinh ranh, khôn ngoan thì ta nhận được cấu trúc nghĩa biểu trưng của nó

Đối với ẩn dụ cấu trúc, những nét nghĩa liên tưởng không trực tiếp biểu hiện

ra bên ngoài mà nó chứa đựng bên trong từ ngữ, suy nghĩ liên tưởng mới có thể hiểu được ý nghĩa sâu xa (vậy nên mới gọi là “ẩn” dụ) Nếu nét nghĩa hiện lên trên mặt chữ thì đó không phải là ẩn dụ Ví dụ: “Nam tinh ranh, khôn ngoan như con cáo” thì

Trang 30

“con cáo” ở đây không phải là ẩn dụ cấu trúc vì nét nghĩa “tinh ranh, khôn ngoan” đã bộc lộ ra ngoài [23, 296]

Nói đến ẩn dụ cấu trúc về tình yêu, Trần Văn Cơ (2007) [23, 310-311] đã lấy

ví dụ ẩn dụ ý niệm về tình yêu qua cấu trúc tình yêu là “thuyền và biển” Đây là ví dụ minh chứng rất rõ cho phần ẩn dụ cấu trúc “Thuyền và biển” là hình ảnh ta rất quen gặp trong thơ Xuân Quỳnh Tác giả đã dùng hình ảnh này để nói về tình yêu tạo cảm giác gần gũi, sâu lắng cho người đọc Hình ảnh ẩn dụ này giúp ta tri nhận những ý nghĩa sâu xa của tình yêu thông qua cấu trúc nghĩa biểu trưng của “thuyền và biển”

“Thuyền và biển” ở đây chính là ẩn dụ cấu trúc

Thuyền và biển Ý niệm tình yêu

“Em sẽ kể anh nghe

Chuyện con thuyền và biển

Từ ngày nào chẳng biết

Thuyền nghe lời biển khơi

Cánh hải âu, sóng biếc

Đưa thuyền đi muôn nơi

Lòng thuyền nhiều khát vọng

Và tình biển bao la

Thuyền đi hoài không mỏi

Biển vẫn xa…vẫn xa

Những đêm trăng hiền từ

Biển như cô gái nhỏ

Thầm thì gửi tâm tư

Quanh mạn thuyền sóng vỗ

Cũng có khi vô cỡ

Tình yêu kêu gọi

Khát vọng tình yêu Tình yêu bao la

Tình yêu hiền từ Tình yêu êm đềm

Tình yêu ào ạt

Trang 31

Biển ào ạt xô thuyền

(Vì tình yêu muôn thuở

Có bao giờ đứng yên?)

Chỉ có thuyền mới hiểu

Biển mênh mông nhường nào

Chỉ có biển mới hiểu

Thuyền đi đâu, về đâu

Những ngày không gặp nhau

Biển bạc đầu thương nhớ

Những ngày không gặp nhau

Từ những lý thuyết mà Trần Văn Cơ đã đưa ra, ta có thể khái quát được ẩn dụ cấu trúc là hiểu từ này thông qua cấu trúc nghĩa biểu trưng của một từ khác Khi phân tích ẩn dụ cấu trúc, ta xác định hai miền là miền nguồn và miền đích Miền nguồn là

Trang 32

những sự vật, hiện tượng cụ thể, khi tiếp cận ta liên tưởng đến cấu trúc nghĩa biểu trưng của nó và chính cấu trúc nghĩa biểu trưng đó làm rõ miền đích trừu tượng Từ

đó, miền đích được hiểu thông qua những nét nghĩa của miền nguồn Đây là cơ sở để chúng tôi phát hiện và phân tích những câu ca dao, dân ca về tình yêu Nam Bộ có chứa ẩn dụ cấu trúc

Điểm quan trọng nhất của ẩn dụ bản thể là “vạch ranh giới của bản thể trong không gian” hay nói cách khác là vạch ranh giới cho miền đích bằng ranh giới trong không gian của miền nguồn Toàn bộ phạm vi trong ranh giới đã vạch ra được xem

là vật chứa đựng miền đích trong ẩn dụ bản thể Miền đích có thể đóng vai trò là vật chứa hoặc là đối tượng nằm trong vật chứa Vì vậy có thể xem ẩn dụ bản thể chính là

ẩn dụ vật chứa

Trần Văn Cơ (2007) [23, 312-317] đã phân loại ẩn dụ vật chứa thành 3 loại theo mục đích phục vụ: không gian hạn chế; trường thị giác; sự kiện, hành động, công việc và trạng thái

Trang 33

• Không gian hạn chế: Mỗi thực thể vật lý tồn tại với hình dạng, kích thước xác định trong không gian là những vật chứa Chúng tách biệt với các thực thể vật lý khác trong không gian bởi bề mặt của mình Đó chính là sự vạch ranh giới trong không gian và tạo thành một không gian mới hạn chế làm vật chứa đựng Ví dụ như một căn phòng là vật chứa với ranh giới trong không gian là bốn bức tường, trần và sàn; một cái chai là vật chứa với ranh giới

trong không gian là bề mặt vỏ chai Ở đây, căn phòng và chai chính là đối tượng - vật chứa Trong thực tế, chất liệu cũng có thể là vật chứa Đặc điểm của chất liệu – vật chứa là hình dạng của nó không cố định mà thay đổi theo

không gian bên ngoài Phần này tác giả có đưa ra ví dụ minh chứng qua bài

ca dao:

“Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

Nhị vàng, bông trắng lá xanh, Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”

Ở đây, “đầm” và “bùn” là hai ẩn dụ vật chứa, trong đó “đầm” là đối tượng vật chứa, còn “bùn” là chất liệu - vật chứa Hay ví dụ gần gũi hơn là cơ thể

con người chúng ta Cơ thể ta là vật chứa những bộ phận như đầu, bụng, Trong đó, đầu chứa não bộ điều khiển mọi hoạt động cơ thể chúng

ta, bụng là nơi chứa đựng những tình cảm, ý chí Mỗi một vật chứa như vậy

là một ẩn dụ ý niệm

• Trường thị giác: Chúng ta quan sát các sự vật, hiện tượng, hoạt động diễn ra trong cuộc sống hằng ngày bằng thị giác Tuy nhiên, tại mỗi thời điểm trong dòng thời gian, ta chỉ có thể quan sát một khía cạnh của cuộc sống trong khi những cái khác vẫn đang diễn ra Chẳng hạn khi ta đọc sách, thứ chúng ta nhìn thấy chỉ là những trang sách trong khi mọi sự vật, hiện tượng, hoạt động khác trong cuộc sống vẫn diễn ra bình thường Lúc này, thị giác của chúng

ta là một vật chứa, còn những trang sách là đối tượng được chứa đựng trong vật chứa ấy Vì vậy, trường thị giác được xem là một ẩn dụ vật chứa giống như không gian vật lý hạn chế ở trên

Trang 34

• Sự kiện, hành động, công việc và trạng thái: Mỗi sự kiện, hành động, trạng

thái được xem như một đối tượng – vật chứa; còn mỗi công việc được xem như chất liệu – vật chứa

Trong các loại ẩn dụ vật chứa đã nêu, “không gian hạn chế” được sử dụng phổ

biến hơn cả Các vật chứa bao gồm đối tượng – vật chứa và chất liệu – vật chứa đều

được xác định một cách rõ ràng, tách biệt trong không gian Qua đó, miền đích có tính chất trừu tượng trong ẩn dụ bản thể đã được định hình bằng một miền nguồn có tính chất cụ thể Điều này mang lại sự chính xác và thống nhất trong quá trình hình thành hệ thống ý niệm chung cho tất cả mọi người

1.5 Ẩn dụ ý niệm “tình yêu”

Tình yêu là một phạm trù trừu tượng, liên quan đến các cảm xúc của con người

Vì vậy, nhìn “tình yêu” dưới góc độ ẩn dụ ý niệm là một trong những hướng đi hiệu quả nhất để làm rõ các ý niệm về nó Trong các công trình nghiên cứu của mình, Lakoff và Johnson đã đưa ra rất nhiều các ẩn dụ ý niệm về tình yêu như TÌNH YÊU

LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH, TÌNH YÊU LÀ SỰ DẠI DỘT, TÌNH YÊU LÀ MA LỰC, TÌNH YÊU LÀ CANH BẠC, [21, 29] Đa số các ẩn dụ ý niệm được tác giả phân tích là những ẩn dụ cấu trúc Từ đó, các đặc điểm, tính chất của phạm trù “tình yêu” được làm rõ thông qua cấu trúc nghĩa biểu trưng của miền nguồn Kovecses cũng đưa ra rất nhiều ẩn dụ tình yêu, tiêu biểu như TÌNH YÊU LÀ SỰ GẦN GŨI, TÌNH YÊU LÀ SỰ SAY MÊ, TÌNH YÊU LÀ DƯỠNG CHẤT, TÌNH YÊU LÀ CHẤT LỎNG TRONG BÌNH CHỨA, TÌNH YÊU LÀ SỰ HÒA HỢP TỪ HAI PHÍA, [21, 29-30] Ngoài các ẩn dụ cấu trúc, Kovecses còn đưa ra được một số ẩn

dụ bản thể như TÌNH YÊU LÀ CHẤT LỎNG TRONG BÌNH CHỨA Đây là một ẩn

dụ bản thể thuộc loại ẩn dụ chất liệu - vật chứa Bằng cách vạch ranh giới cho “tình yêu” thông qua ranh giới trong không gian của chất lỏng trong bình chứa, tác giả đã đưa “tình yêu” từ một đối tượng trừu tượng thành một đối tượng cụ thể

Trong phần “Lịch sử nghiên cứu vấn đề”, chúng tôi đã đề cập hai công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam về ẩn dụ ý niệm “tình yêu” gồm: Khóa luận tốt

nghiệp Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong tập “Thơ thơ” của Xuân Diệu - Trần Thị Kim

Trang 35

Anh (2016) [22]; Luận văn thạc sĩ Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong ca từ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung – Trần Thanh Hà (2018) [21] Trong đó, các tác giả đã vận dụng

lý thuyết ẩn dụ ý niệm để làm rõ ý niệm về “tình yêu” trong phạm vi ngữ liệu nghiên cứu Các ẩn dụ ý niệm được phân tích một phần xuất phát từ các ẩn dụ ý niệm tiêu biểu như TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH, TÌNH YÊU LÀ MEN SAY, TÌNH YÊU LÀ ÁNH SÁNG, TÌNH YÊU LÀ LỬA/NHIỆT, TÌNH YÊU LÀ DƯỠNG CHẤT, TÌNH YÊU LÀ CHẤT LỎNG TRONG BÌNH CHỨA và một số khác mang nét đặc trưng riêng, xuất phát từ tính nghiệm thân của tác giả như TÌNH YÊU LÀ GIẤC MƠ, TÌNH YÊU LÀ SỰ SAY MÊ, TÌNH YÊU LÀ ĐỒ VẬT Qua mỗi ẩn dụ

ý niệm về tình yêu, ta lại được làm rõ về một khía cạnh trong ý niệm của nó

Nhìn chung, các ẩn dụ ý niệm “tình yêu” rất phong phú, đa dạng Bằng lý thuyết về ẩn dụ ý niệm, phạm trù “tình yêu” được ý niệm hóa theo nhiều cách khác nhau dựa trên tính nghiệm thân và sự sáng tạo của tác giả Các ẩn dụ ý niệm về tình yêu đã được phân tích bởi các tác giả khác chính là những nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho bài khóa luận này

1.6 Khái quát về ca dao

1.6.1 Khái niệm ca dao, dân ca

Theo Dương Quảng Hàm trong “Việt Nam văn học sử yếu”, ca dao được định nghĩa: “Ca = hát, dao = bài hát không có chương khúc; ca dao là bài hát ngắn lưu hành trong dân gian thường tả tình, phong tục của người bình dân” Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng người dân sáng tác ca dao ra là để hát, và ngược lại có những bài hát có thể biến thành những bài ca dao Trong cuộc sống sinh hoạt, lao động hằng ngày, người dân sáng tác ra những câu hát, giao lưu với nhau, từ đó có những bài dân

ca truyền lại cho đời sau [11, 23-24]

Về phân biệt ca dao, dân ca, có rất nhiều ý kiến khác nhau Vũ Ngọc Phan cho rằng “Ca dao được phổ biến rộng rãi, còn dân ca gắn liền với từng địa phương vì dân

ca là sản phẩm của từng địa phương thuộc văn hóa vùng miền khác nhau” Còn Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên khái quát “Ca dao là những bài hát thường ngắn, hoặc hai, bốn, sáu, tám câu, âm điệu lưu loát và phong phú Theo cách hiểu thông thường

Trang 36

thì ca dao là lời các bài dân ca đã lược bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy hoặc ngược lại là những câu thơ có thể bẻ thành làn điệu dân ca” Đỗ Bình Trị nhận xét “Chúng tôi coi ca dao và dân ca chỉ là những thuật ngữ khác nhau chỉ cùng một đối tượng (của văn học dân gian truyền thống) đó là những câu hát dân gian Coi ca dao là một thể loại là không đúng ” Có thể nói rằng, quan niệm của tác giả Đỗ Bình Trị giúp

ta hiểu đúng nhất về ca dao và dân ca Ca dao, dân ca - tuy hai mà một tuy một mà hai Khi hát những câu này theo làn điệu thì đó là dân ca, còn khi tách riêng phần ngôn từ thì đó là ca dao [11, 25-26]

Ca dao, dân ca là tiếng nói tình cảm của quan hệ giữa người với người, giữa người với thiên nhiên, tâm tư thầm kín riêng của con người, Vậy nên, đại bộ phận

ca dao Việt Nam là ca dao trữ tình, đặc biệt là ca dao về tình yêu nam nữ

1.6.2 Tình yêu trong ca dao dân ca Nam Bộ

Nhắc đến tình yêu, có lẽ ai cũng hiểu nó là gì, đóng vai trò quan trọng thế nào trong cuộc sống mỗi người Nhưng mấy ai định nghĩa được tình yêu? Đến một thi sĩ

“chỉ biết yêu thôi chẳng biết gì” - Xuân Diệu cũng phải thốt lên “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu” (Vì sao)

Nói về tình yêu thì đa dạng các loại tình cảm Đó có thể là tình cảm gia đình, bạn bè, hàng xóm láng giềng, thầy cô, hay với những sự vật gần gũi trong cuộc sống Tuy nhiên, bài luận này chỉ đề cập đến tình yêu lứa đôi nam nữ, giữa những con người

có trái tim đồng điệu với nhau

Từ thời xa xưa, định nghĩa tình yêu đã xuất hiện như: Tình yêu là “tạo ra điều tốt lành cho người khác” (thánh Thomas Aquinas), “vui mừng vì hạnh phúc của người khác” (nhà triết học Gottfried Leibniz), Mỗi một người đều có quan niệm khác nhau

về tình yêu do mình đặt ra Tuy nhiên, ta có thể hiểu một cách khái quát tình yêu là

sự gắn bó giữa hai người, là sự quan tâm, chia sẻ lẫn nhau, luôn muốn ở bên cạnh người mình yêu thương Tình yêu là sự tổng hợp của tất cả mọi cảm xúc như giận dỗi, vui, buồn, hạnh phúc, cô đơn,…

Trang 37

Nhắc đến ca dao, dân ca Nam Bộ, người ta nghĩ ngay đến ca dao về tình yêu, đặc biệt là tình yêu nam nữ Bởi lẽ, đối với người dân Nam Bộ, ca dao, dân ca như món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày Sau những giờ lao động vất vả, họ giao tiếp với nhau, thể hiện tình cảm với nhau qua những câu ca dao thấm đẫm tình người để xua tan mọi mệt nhọc Và cũng như thế, những đôi trai gái để ý nhau, tán tỉnh nhau, yêu nhau cũng qua những câu hát, những câu ca dao gần gũi ấy

Từ đó hình thành nên kho tàng ca dao, dân ca về tình yêu lưu truyền mãi về sau Những câu ca dao về tình yêu lứa đôi ấy giản dị, chân chất, thật thà cũng như tính cách người dân Nam Bộ vậy Thật đúng khi Cao Huy Đĩnh cho rằng: “phong phú nhất, sâu sắc nhất là những mảng ca dao về tình yêu nam nữ Trai gái gặp gỡ, tìm hiểu nhau, thổ lộ tình cảm với nhau trong khi lao động, hội hè đình đám, vui xuân,

họ có thể thổ lộ với nhau bằng câu ví, bằng hình thức giao duyên trong những cuộc hát đối đáp nam nữ Nội dung những câu ca dao này phản ánh được mọi biểu hiện, sắc thái, cung bậc tình yêu, những tình cảm thắm thiết trong hoàn cảnh may mắn, hạnh phúc với những niềm mơ ước, những nỗi nhớ da diết hoặc cảm xúc nảy sinh trước những tình huống rủi ro, ngang trái, thành bại, khổ đau với những lời than thở oán trách” [11, 28-29]

1.7 Tiểu kết

Trong chương này, chúng tôi đã làm rõ các thuật ngữ liên quan đến cơ sở hình thành ẩn dụ ý niệm là phạm trù và phạm trù hóa, ý niệm, sự ý niệm hóa, cấu trúc ý niệm, sơ đồ hình ảnh Đó chính là những tiền đề tạo nên hệ thống ý niệm, có sự liên quan chặt chẽ với nhau, phục vụ việc thiết lập các mô hình tri nhận, ánh xạ ẩn dụ trong ẩn dụ ý niệm Dựa vào đó, các nhà nghiên cứu có thể đưa ra giả thuyết và kiểm chứng kết quả bằng tính nghiệm thân để xác định một ẩn dụ ý niệm

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đã phân tích khái niệm ẩn dụ ý niệm dựa trên quan điểm của tác giả Trần Văn Cơ, Lakoff, Johnson, Trên nền tảng ẩn dụ theo quan điểm truyền thống, ẩn dụ ý niệm được khái quát và phát triển thành một bộ phận riêng theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận Ẩn dụ ý niệm là yếu tố quyết định trong việc

Trang 38

tri nhận những tri thức mới, hình thành nên những ý niệm mới thông qua sự tương đồng trong phạm trù giữa các đối tượng

Theo quan điểm của Lakoff, ẩn dụ ý niệm có cấu tạo gồm hai phần miền nguồn

và miền đích Sự tương đồng giữa các phạm trù trong miền nguồn và miền đích tạo nên các ánh xạ ẩn dụ Thông qua sự phóng chiếu các ánh xạ này từ miền nguồn đến miền đích, phạm trù mang tính trừu tượng ở miền đích được làm rõ bởi phạm trù mang tính cụ thể ở miền nguồn

Ẩn dụ ý niệm được chia làm nhiều loại bao gồm: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ kênh liên lạc, ẩn dụ định hướng, Tuy nhiên, bài khóa luận này chỉ tập trung làm rõ hai loại: ẩn dụ cấu trúc và ẩn dụ bản thể Đây là hai loại ẩn dụ ý niệm phổ biến trong ca dao, dân ca Nam Bộ nên việc tập trung vào nó để làm sáng tỏ vấn

đề nghiên cứu của đề tài là điều cần thiết

Ngoài ra, chủ đề ca dao, dân ca cũng được khái quát qua những khái niệm khác nhau của các nhà nghiên cứu Đó là hai từ ngữ khác nhau nhưng lại mang cùng một bản chất là những câu nói, lời ca trong dân gian được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Ca dao, dân ca Nam Bộ về tình yêu đã khắc họa rất rõ những hoạt động, biểu tượng của tình yêu theo quan niệm của con người nơi đây Đó là những hình ảnh, từ ngữ điển hình trong đời sống hằng ngày, mang đậm bản sắc văn hóa của miền sông nước Nam Bộ

Cơ sở lý thuyết của ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong ca dao, dân ca Nam Bộ chính là nền tảng để chúng tôi làm căn cứ phân tích các ẩn dụ ý niệm trong các chương sau Đó là cơ sở để đưa ra các giả thuyết và xác định chính xác những ẩn dụ ý niệm

về tình yêu hiện hữu trong ca dao, dân ca Nam Bộ Từ đó có thể làm rõ và thấu hiểu những ý niệm về tình yêu trong quan niệm, tư tưởng của con người nơi đây

Trang 39

CHƯƠNG 2: ẨN DỤ CẤU TRÚC “TÌNH YÊU” TRONG CA DAO, DÂN CA

Trong văn hóa Việt Nam, hoa là hình ảnh tượng trưng cho sự xinh đẹp cả về ngoại hình lẫn tính cách con người Một người tài giỏi, xinh đẹp thường được ví như một bông hoa Các loài côn trùng hút mật (ong bướm) là những kẻ đã phải lòng trót yêu “bông hoa xinh đẹp” nên cứ lượn lờ, vây quanh Từ khái niệm mật hoa theo lĩnh vực sinh học đã được phân tích ở trên, ta có thể kết luận rằng mật hoa chính là nguyên nhân khiến ong bướm yêu hoa hay mật hoa chính là sự biểu trưng cho tình yêu của bông hoa mà tất cả ong bướm đều muốn sở hữu

Đại thi hào Victor Hugo từng đưa ra một câu danh ngôn về tình yêu nổi tiếng trong lịch sử nhân loại: “Cuộc đời là một đóa hoa mà tình yêu là mật ngọt” Điều ấy cho thấy tình yêu chính là một trong những đích đến, phần thưởng và là một yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống này Nếu ví cuộc đời tươi đẹp như một đóa hoa thì mật hoa như món quà tình yêu ngọt ngào trong những năm tháng ấy Nếu hoa biểu

Trang 40

trưng cho sự xinh đẹp thì mật hoa biểu trưng cho sự ngọt ngào, quyến rũ của sự xinh đẹp ấy Hình ảnh ong bướm và hoa luôn được gắn liền với nhau, không thể tách rời giống như những lứa đôi đang yêu quấn quýt, gắn bó bên nhau Tất cả đều không thể kiềm lòng trước sự hấp dẫn của mật hoa hay tiếng gọi của tình yêu

Do đó, trong tư tưởng con người, tình yêu luôn được ví như những điều ngọt ngào, mang lại hạnh phúc cho những ai đang yêu Cách tri nhận từ phạm trù “hoa” hay “mật hoa” đến ý niệm tình yêu luôn là một lối tư duy điển hình cho tư tưởng trên

và cũng là một thói quen của con người khi liên tưởng về tình yêu Những phạm trù này cũng là những hình ảnh ẩn dụ về tình yêu được các nhà văn, nhà thơ sử dụng rất nhiều trong các tác phẩm của mình

Sự tương đồng giữa phạm trù “mật hoa” và “tình yêu” được thể hiện rõ thông qua cấu trúc nghĩa biểu trưng của mật hoa Mật hoa làm ong bướm say mê hoa giống như những con người đang yêu, muốn chiếm lấy tình yêu, trái tim của đối phương Hành động, cảm xúc của những người đang yêu được cụ thể hóa bởi các hành động, thái độ, tính chất của sinh vật lấy mật (ong, bướm) và hoa Đây là sự chiếu xạ từ miền nguồn “mật hoa” đến miền đích “tình yêu” Từ đó hình thành nên ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ MẬT HOA Ẩn dụ ý niệm này là ẩn dụ cấu trúc vì miền đích “tình yêu” được khái quát thông qua nét nghĩa biểu trưng cụ thể của miền nguồn “mật hoa” và các đối tượng ong, bướm và hoa

Mô hình chiếu xạ từ miền nguồn MẬT HOA đến miền đích TÌNH YÊU được

cụ thể hóa như sau:

Bảng 2.1 Mô hình chiếu xạ ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ MẬT HOA

NGUỒN: MẬT HOA CHIẾU XẠ ĐÍCH: TÌNH YÊU

(i) Hoa và sinh vật lấy mật (ong,

Ngày đăng: 30/06/2023, 08:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Thân Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị. (1984). Ca dao dân ca Nam Bộ. TP Hồ Chí Minh: Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao dân ca Nam Bộ
Tác giả: Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Thân Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị
Nhà XB: Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1984
2. Dương Xuân Quang. (2011). Tìm hiểu ẩn dụ trong khuynh hướng Tri nhận luận qua ý niệm cuộc sống của tiếng Việt. Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Đào tạo và nghiên cứu Ngôn ngữ học tại Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, 462-474 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu ẩn dụ trong khuynh hướng Tri nhận luận qua ý niệm cuộc sống của tiếng Việt
Tác giả: Dương Xuân Quang
Nhà XB: Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Đào tạo và nghiên cứu Ngôn ngữ học tại Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn”
Năm: 2011
3. Đào Thản. (1988). Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật. Hà Nội: Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật
Tác giả: Đào Thản
Nhà XB: Khoa học xã hội
Năm: 1988
4. Đỗ Hữu Châu. (1962). Giáo trình Việt ngữ. Hà Nội: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Việt ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Giáo dục
Năm: 1962
5. Đỗ Hữu Châu. (1981). Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt. Hà Nội: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Giáo dục
Năm: 1981
7. Lý Toàn Thắng. (2005). Ngôn ngữ học tri nhận - Từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt. Hà Nội: Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học tri nhận - Từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt
Tác giả: Lý Toàn Thắng
Nhà XB: Hà Nội: Khoa học xã hội
Năm: 2005
8. Ngô Tuyết Phượng. (2017). Ẩn dụ tri nhận trong thành ngữ, tục ngữ Việt Nam. Truy xuất từ Cổng thông tin điện tử Học viện khoa học xã hội. (62220240) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ tri nhận trong thành ngữ, tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Ngô Tuyết Phượng
Nhà XB: Cổng thông tin điện tử Học viện khoa học xã hội
Năm: 2017
9. Nguyễn Đức Tồn. (2007). Bản chất của ẩn dụ. Tạp chí Ngôn ngữ, 2007(10- 11), 1-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất của ẩn dụ
Tác giả: Nguyễn Đức Tồn
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 2007
10. Nguyễn Đức Tồn & Vũ Thị Sao Chi. (2013). Về các khái niệm ẩn dụ tri nhận, ẩn dụ từ vựng và ẩn dụ tu từ. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, 2013(3), 76- 84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về các khái niệm ẩn dụ tri nhận, ẩn dụ từ vựng và ẩn dụ tu từ
Tác giả: Nguyễn Đức Tồn, Vũ Thị Sao Chi
Nhà XB: Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam
Năm: 2013
11. Nguyễn Nghĩa Dân. (2015). Văn hóa dân gian về tình yêu lứa đôi trong cac dao người Việt. Hà Nội: Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian về tình yêu lứa đôi trong cac dao người Việt
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Dân
Nhà XB: Khoa học xã hội
Năm: 2015
12. Nguyễn Thị Hà. (2010). Bước đầu khảo sát ý niệm về tình yêu trong ca dao người Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu khảo sát ý niệm về tình yêu trong ca dao người Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Hà
Năm: 2010
13. Nguyễn Thị Phương Châm. (2013). Ngôn ngữ và thể thơ trong ca dao người Việt ở Nam Bộ. Hà Nội: Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ và thể thơ trong ca dao người Việt ở Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Châm
Nhà XB: Thời đại
Năm: 2013
14. Nguyễn Thị Quyết. (2012). Ẩn dụ ý niệm về cuộc đời trong thơ tiếng Anh và tiếng Việt. Tạp chí Ngôn ngữ, 2012(6), 19-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ ý niệm về cuộc đời trong thơ tiếng Anh và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Quyết
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 2012
15. Nguyễn Thị Thùy. (2013). Ẩn dụ tri nhận trong thơ Xuân Diệu (luận văn thạc sĩ). Lấy từ Thư viện Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. (602201) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ tri nhận trong thơ Xuân Diệu (luận văn thạc sĩ)
Tác giả: Nguyễn Thị Thùy
Nhà XB: Thư viện Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Năm: 2013
16. Nguyễn Thiện Giáp. (1988). Từ vựng học tiếng Việt. Hà Nội: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Giáo dục
Năm: 1988
17. Nguyễn Thiện Giáp. (2009). Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ. Hà Nội: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Giáo dục
Năm: 2009
18. Phạm Thị Hương Quỳnh. (2014). Ẩn dụ cấu trúc trong thơ Xuân Quỳnh qua ý niệm Con người là thực vật/cây cỏ. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Trà Vinh, 2014(16), 65-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ cấu trúc trong thơ Xuân Quỳnh qua ý niệm Con người là thực vật/cây cỏ
Tác giả: Phạm Thị Hương Quỳnh
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Trường Đại học Trà Vinh
Năm: 2014
19. Phạm Thị Hương Quỳnh. (2015). Ẩn dụ bản thể trong thơ Xuân Quỳnh qua ý niệm Cơ thể con người là vật chứa đựng tình cảm. Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, 2015(2), 11-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ bản thể trong thơ Xuân Quỳnh qua ý niệm Cơ thể con người là vật chứa đựng tình cảm
Tác giả: Phạm Thị Hương Quỳnh
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống
Năm: 2015
20. Phan Thế Hưng. (2009). Ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (luận án tiến sĩ). Lấy từ Thư viện Quốc gia Việt Nam. (62220101) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (luận án tiến sĩ)
Tác giả: Phan Thế Hưng
Nhà XB: Thư viện Quốc gia Việt Nam
Năm: 2009
21. Trần Thanh Hà. (2018). Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong ca từ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung. Truy xuất từ Cổng thông tin điện tử Học viện khoa học xã hội. (8229020) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ ý niệm về tình yêu trong ca từ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung
Tác giả: Trần Thanh Hà
Nhà XB: Cổng thông tin điện tử Học viện khoa học xã hội
Năm: 2018

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Mô hình chiếu xạ ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ MẬT HOA - Ẩn dụ ý niệm tình yêu trong cao dao, dân ca nam bộ khóa luận tốt nghiệp
Bảng 2.1. Mô hình chiếu xạ ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ MẬT HOA (Trang 40)
Bảng 2.3. Mô hình chiếu xạ ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ SỰ SANG SÔNG - Ẩn dụ ý niệm tình yêu trong cao dao, dân ca nam bộ khóa luận tốt nghiệp
Bảng 2.3. Mô hình chiếu xạ ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ SỰ SANG SÔNG (Trang 54)
Bảng 2.4. Bảng thống kê các thuộc tính trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ SỰ - Ẩn dụ ý niệm tình yêu trong cao dao, dân ca nam bộ khóa luận tốt nghiệp
Bảng 2.4. Bảng thống kê các thuộc tính trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ SỰ (Trang 55)
Bảng 2.5. Mô hình chiếu xạ ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ CƠN GIÓ - Ẩn dụ ý niệm tình yêu trong cao dao, dân ca nam bộ khóa luận tốt nghiệp
Bảng 2.5. Mô hình chiếu xạ ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ CƠN GIÓ (Trang 66)
Bảng 2.6. Bảng thống kê các thuộc tính trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ CƠN - Ẩn dụ ý niệm tình yêu trong cao dao, dân ca nam bộ khóa luận tốt nghiệp
Bảng 2.6. Bảng thống kê các thuộc tính trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ CƠN (Trang 67)
Bảng 3.1. Mô hình chiếu xạ ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ BỘ PHẬN TRONG CƠ - Ẩn dụ ý niệm tình yêu trong cao dao, dân ca nam bộ khóa luận tốt nghiệp
Bảng 3.1. Mô hình chiếu xạ ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ BỘ PHẬN TRONG CƠ (Trang 79)
Bảng 3.2. Bảng thống kê các thuộc tính trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ BỘ - Ẩn dụ ý niệm tình yêu trong cao dao, dân ca nam bộ khóa luận tốt nghiệp
Bảng 3.2. Bảng thống kê các thuộc tính trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ BỘ (Trang 80)
Bảng 3.3. Mô hình chiếu xạ ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ THỰC THỂ GẮN KẾT - Ẩn dụ ý niệm tình yêu trong cao dao, dân ca nam bộ khóa luận tốt nghiệp
Bảng 3.3. Mô hình chiếu xạ ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ THỰC THỂ GẮN KẾT (Trang 100)
Bảng 3.4. Bảng thống kê các thuộc tính trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ - Ẩn dụ ý niệm tình yêu trong cao dao, dân ca nam bộ khóa luận tốt nghiệp
Bảng 3.4. Bảng thống kê các thuộc tính trong ẩn dụ ý niệm TÌNH YÊU LÀ (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w