1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hướng tiếp cận kinh thi hiện nay qua bộ sách kinh thi tinh chú giản tích, văn bạch đối chiếu do kim khải hoa, chu nhất thanh, trình tự tín chủ biên khóa luận tốt nghiệp

141 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hướng tiếp cận kinh thi hiện nay qua bộ sách Kinh Thi Tinh Chú Giản Tích, Văn Bạch Đối Chiếu Người hướng dẫn: Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Quận
Tác giả Kim Khải Hoa, Chu Nhất Thanh, Trình Tự Tín
Người hướng dẫn Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Quận
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngữ Văn Hán
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2019
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt nhất, chúng tôi tìm thấy công trình "Kinh Thi - Tinh chú giản tích, Văn bạch đối chiếu " trước đây có tên là "Kinh Thi giám thưởng từ điển" của nhóm tác giả Kim Khải Hoa, Chu Nh

Trang 1

-HOÀNG VĂN HIỂN

HƯỚNG TIẾP CẬN KINH THI HIỆN NAY QUA BỘ SÁCH “THI KINH - TINH CHÚ GIẢN TÍCH, VĂN BẠCH ĐỐI CHIẾU”DO KIM KHẢI HOA, CHU NHẤT THANH, TRÌNH TỰ TÍN

Trang 2

-HOÀNG VĂN HIỂN

HƯỚNG TIẾP CẬN KINH THI HIỆN NAY QUA BỘ SÁCH “THI KINH - TINH CHÚ GIẢN TÍCH, VĂN BẠCH ĐỐI CHIẾU”DO KIM KHẢI HOA, CHU NHẤT THANH, TRÌNH TỰ TÍN

Trang 3

các tài liệu được trích dẫn trong khóa luận này là trung thực, có nguồn gốc và xuất

xứ rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của khóa luận chưa được công bố trong bất kỳcông trình nghiên cứu nào khác

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 06 tháng 06 năm 2019

Sinh viên thực hiện

Hoàng Văn Hiển

Trang 4

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ “KINH THI” VÀ CÁC HƯỚNG

TIẾP CẬN “KINH THI” Ở VIỆT NAM··· 7

1.1 Khái quát về Kinh Thi ···7

1.2 Hướng tiếp cận Kinh Thi ở Việt Nam qua các tài liệu tiêu biểu···24

CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ BỘ SÁCH “THI KINH: TINH CHÚ GIẢN TÍCH, VĂN BẠCH ĐỐI CHIẾU”···31

2.1 Quá trình hình thành sách Thi Kinh··· 31

2.2 Giới thiệu các soạn giả··· 32

2.3 Giới thiệu “Xuất bản thuyết minh”, “Phàm lệ”, “Tiền ngôn”··· 37

2.4 Thống kê và mô tả số lượng tác phẩm ··· 55

CHƯƠNG 3: CÁC HƯỚNG TIẾP CẬN THI KINH QUA “THI KINH: TINH CHÚ GIẢN TÍCH, VĂN BẠCH ĐỐI CHIẾU”···69

3.1 Về nguồn gốc “Thi Kinh” ···69

3.2 Nội dung “Thi Kinh” ··· 73

3.3 Về nghệ thuật “Thi Kinh” ···80

3.4 Về chú thích ···84

KẾT LUẬN ··· 101

PHỤ LỤC ··· 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO ··· 134

Trang 6

DẪN NHẬP

1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài

“Kinh Thi” là bộ tuyển tập thơ ca trong dân gian xuất hiện sớm nhất ở Trung

Quốc, cũng là một trong những bộ sách sưu tập thơ ca sớm nhất trên thế giới Nó

vốn có tên là “Thi”, hoặc gọi “Thi tam bách” Đến thời Hán tôn sùng nâng nó lên đưa vào hàng kinh điển, mà gọi là “Thi Kinh”.

Nội dung của "Kinh Thi" vô cùng phong phú, từ miêu tả cuộc sống của người

nông dân, đến những lời ca oán thán về cuộc sống cực khổ dưới sự áp bức bóc lộtcủa bọn quan lại cai trị, đồng thời cũng có những tiếng phản kháng với sự áp bức ấy;hay có những bài ca miêu tả phong tục, miêu tả thiên nhiên; thậm chí, có cả nhữngbài thơ, bài ca về tình yêu đôi lứa, tình cảm vợ chồng Qua sự phong phú đó, một

bức tranh toàn diện về xã hội Trung Hoa cổ đại dần dần hiện ra Ca từ trong "Kinh

Thi" đạt đến trình độ tinh luyện, ý tứ của các bài thơ ca trong "Kinh Thi" trở thành

mô phạm để đời sau noi theo

Không phải tự nhiên "Kinh Thi" lại được nâng lên hàng kinh điển mà khi xét

theo quan điểm của nhà triết học Aristote cho rằng có hai nguyên nhân làm nẩy sinh

ra nghệ thuật thơ ca: "Thứ nhất, sự mô phỏng vốn sẵn có ở con người từ thuở nhỏ,

và còn người khác giống vật chính là ở chỗ họ có tài mô phỏng, nhờ có sự mô phỏng đó mà họ thu nhận được những kiến thức đầu tiên; còn điểm thứ hai là: những sản phẩm của sự mô phỏng mang lại thích thú cho con người"1, thì "Kinh

Thi" từ thời cổ đại đã "mô phỏng" chân thực nhất những gì tồn tại, diễn ra trong xã

hội đương thời Vậy nên, có thể khẳng định rằng "Kinh Thi" có một nghệ thuật thơ

ca vô cùng to lớn và giá trị

Giá trị ấy sớm được Khổng Tử khẳng định khi đã san định "Kinh Thi" để đem vào dạy học và trong sách Luận ngữ ông cũng rằng: "Bất học Thi, vô dĩ ngôn"

(Không học Kinh Thi thì không có gì để ăn nói)

Chính vì những lẽ đó, nhiều học giả từ thời trung đại ở các nước đồng văn

Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam, đã san định, dịch thuật "Kinh Thi".

1 Lê Đăng Bảng, Thành Thế Thái Bình, Đỗ Xuân Hà, Thành Thế Yên Báy dịch (2007), Aristote: Nghệ thuật thơ ca, NXB Lao động, Hà Nội, Tr 24.

Trang 7

Cho đến thời hiện đại, các nhà nghiên cứu ở nhiều nơi trên thế giới, bao gồm cả

phương Tây cũng bắt đầu nghiên cứu đến "Kinh Thi" dưới nhiều góc độ tiếp cận

khác nhau

Tuy nhiên, nhiều công trình nghiên cứu về "Kinh Thi" dưới góc độ tiếp cận

mới lại được viết bằng nhiều thứ tiếng và vẫn chưa được dịch sang tiếng Việt, cũng

như chưa thể đối chiếu với một số công trình nghiên cứu "Kinh Thi" bằng tiếng Việt.

Đặc biệt nhất, chúng tôi tìm thấy công trình "Kinh Thi - Tinh chú giản tích, Văn

bạch đối chiếu " (trước đây có tên là "Kinh Thi giám thưởng từ điển") của nhóm tác

giả Kim Khải Hoa, Chu Nhất Thanh, Trình Tự Tín được xuất bản từ năm 1990, táibản năm 2003, đến nay nhưng vẫn chưa được dịch thuật cũng như tìm hiểu về

hướng tiếp cận "Kinh Thi" của nhóm tác giả này.

Vì vậy, chúng tôi quyết định chọn từ công trình này một số bài phê bình nhận xét để phiên dịch, sau đó đối chiếu, đánh giá để tìm ra hướng nghiên cứu của

-công trình “Kinh Thi - Tinh chú giản tích, Văn bạch đối chiếu” của Kim Khải Hoa,

Chu Nhất Thanh, Trình Tự Tín Trong quá trình dịch thuật, chúng tôi sẽ cố hết sứcgiữ lại những ý tứ của tác giả để khi đối chiếu, phân tích sẽ không làm sai lệchhướng tiếp cận của nhóm tác giả trên Biển học mênh mông, những gì chúng tôi

thực hiện chỉ mong góp một phần nhỏ nhoi vào hệ thống nghiên cứu "Kinh Thi" để

từ đó, việc nghiên cứu, tiếp cận "Kinh Thi" sẽ trở nên phong phú, đa dạng hơn.

Đồng thời, bài nghiên cứu của chúng tôi chắc chắn không thể làm sáng tỏ hết những

vấn đề của công trình "Kinh Thi - Tinh chú giản tích, Văn bạch đối chiếu" của

nhóm tác giả Kim Khải Hoa, Chu Nhất Thanh, Trình Tự Tín, vì vậy, mong rằng, sẽ

có những bài nghiên cứu sâu hơn nữa về đề tài này

2 Lịch sử vấn đề

Nói về Kinh Thi, đây là một bộ sách kinh điển của Nho gia Với những giá trị

về nội dung và nghệ thuật đạt đến tuyệt mỹ, trải qua thời gian, Thi Kinh vẫn luôn được quan tâm nghiên cứu Chính vì vậy, các công trình nghiên cứu Kinh Thi nhiều

vô kể:

Trang 8

Sau khi san định Kinh Thi, Khổng Tử tuy không phải gọi là nghiên cứu nhưng cũng bước đầu đã có những nhận định về Kinh Thi như trong sách “Luận ngữ”, thiên “Dương hóa” rằng: “Kinh Thi có thể tạo hứng thú, có thể làm cho biết quan

sát, có thể làm cho người ta tập hợp, có thể làm cho biết căm giận” (Thi khả dĩ

hứng, khả dĩ qua, khả dĩ quần, khả dĩ oán Nhĩ chi sự phụ, viễn chi sự quân, đa thức

vu điểu thú thảo mộc chi danh) Và cũng trong đời Chu, đã có một vài sách nói về

Kinh Thi như: một quyển Tiểu tự, hai quyển Thi tự (do Bốc Thương viết), một

quyển Thi truyện, Thi truyện Khổng thi truyện (Đoan Mộc Tứ tuyển tập) (dựa theo

Lịch đại Thi kinh nghiên cứu trước tác mục lục do Chu Nhất Thanh biên tập).

Đến thời trung đại, nhiều học giả như Trịnh Khang Thành đời Đông Hán,Khổng Dĩnh Đạt đời Đường chú trọng hơn vào mặt bình giải, phân tích Kinh Thi về

mặt văn học nhất là sau khi nhà Hán thực hiện “độc tôn Nho giáo”, Kinh Thi được

liệt vào hàng Ngũ Kinh Đặc biệt, đến đời Tống, những bình giải, phân tích của Chu

Hy với mục đích giáo huấn đã tạo ra một hệ tư tưởng Tống Nho và những lí luận đó

của Chu Hy đã chiếm lĩnh về tư duy trong việc phân tích, nghiên cứu Kinh Thi trong

một thời gian dài cho đến khi những nhà Nho đời Thanh bắt đầu muốn nghiên cứu

Thi Kinh dưới góc độ một tuyển tập về văn học.

Và với sức ảnh hưởng của nên văn minh Trung Hoa, đi cùng với hệ tư tưởng

Nho giá, Kinh Thi cũng bắt đầu lan dần sang các nước đồng văn, trong đó có cả Việt

Nam

Thời trung đại ở Việt Nam, Lê Quý Đôn tuy không trực tiếp nghiên cứu về Thi

Kinh nhưng thông qua Thư Kinh diễn nghĩa mà có những vận dụng của Kinh Thi,

phần nào mở ra thêm hướng để nghiên cứu về Kinh Thi Chính từ đây nhà nhiên cứu Nguyễn Mạnh Sơn đã có đề tài nghiên cứu Tư liệu Thi Kinh trong Thư Kinh Diễn

nghĩa của Lê Quý Đôn Ngoài ra, còn có bản dịch và bình giải Kinh Thi của Tạ

Quang Phát, các sách về văn học của Nguyễn Hiến Lê cũng góp phần làm phong

phú các hướng tiếp cận Kinh Thi.

Nói về công trình “Thi Kinh - Tinh chú giản tích, Văn bạch đối chiếu”, đây là

công trình ra đời năm 1990 do Nhà xuất bản An Huy tập hợp các bản thảo của

Trang 9

nhóm tác giả Kim Khải Hoa, Chu Nhất Thanh, Trình Tự Tín, thể hiện được hướngnghiên cứu mới của nhóm tác giả này Tuy vậy, hiện nay, ở Việt Nam vẫn chưa cóbản dịch tiếng Việt nào cho công trình này, do đó, vấn đề tìm hiểu về hướng tiếp

cận Kinh Thi của công trình này vẫn còn bỏ ngỏ.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Đề tài Hướng tiếp cận Kinh Thi hiện nay qua bộ sách Thi Kinh - Tinh chú giản tích, Văn Bạch đối chiếu do Kim Khải Hoa, Chu Nhất Thanh, Trình

Tự Tín chủ biên nhằm mục đích tìm hiểu thêm về "Kinh Thi" qua hướng nghiên

cứu của nhóm tác giả Kim Khải Hoa, Chu Nhất Thanh, Trình Tự Tín với công trình

Thi Kinh - Tinh chú giản tích, Văn Bạch đối chiếu Thông qua đó, đóng góp thêm

những tư liệu cho quá trình nghiên cứu "Kinh Thi" theo hướng tiếp cận này.

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Thông qua dịch thuật, giới thiệu công trình nghiên cứu của nhóm tác giảKim Khải Hoa, Chu Nhất Thanh, Trình Tự Tín cũng như nhóm tác giả này

- Trình bày một số các hướng nghiên cứu "Kinh Thi" đã có ở Việt Nam.

- Thống kê và mô tả các bài viết phê bình - đánh giá trong công trình

"Kinh Thi - Tinh chú giản tích, Văn bạch đối chiếu" của nhóm tác giả Kim

Khải Hoa, Chu Nhất Thanh, Trình Tự Tín

- Phân tích một số bản dịch các bài viết - đánh giá trong công trình "Kinh

Thi - Tinh chú giản tích, Văn bạch đối chiếu" của nhóm tác giả Kim Khải

Hoa, Chu Nhất Thanh, Trình Tự Tín, sau đó, đối chiếu hướng tiếp cận củanhóm tác giả này với một số hướng tiếp cận hiện hữu ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi, giới hạn nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Trang 10

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hướng nghiên cứu “Kinh Thi” của

nhóm tác giả Kim Khải Hoa, Thi Kinh - Tinh chú giản tích, Văn Bạch đối

chiếu.

4.2 Phạm vi, giới hạn

Đề tài chỉ tìm hiểu trong phạm vi các nghiên cứu về “Kinh Thi”, công

trình “Kinh Thi - Tinh chú giản tích, Văn bạch đối chiếu” của nhóm tác giả

Kim Khải Hoa, Chu Nhất Thanh, Trình Tự Tín Việc nghiên cứu chỉ giới hạntrong việc thống kê các bài phê bình - nhận xét trong công trình nghiên cứunày của nhóm tác giả Kim Khải Hoa, Chu Nhất Thanh, Trình Tự Tín và phântích và đối chiếu một số bài phê bình - nhận xét trong công trình trên

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân loại, hệ thống hóa số liệu.

- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết

- Phương pháp lịch sử

6 Bố cục

Với đề tài Hướng tiếp cận Kinh Thi hiện nay qua bộ sách Thi Kinh - Tinh chú giản tích, Văn Bạch đối chiếu do Kim Khải Hoa, Chu Nhất Thanh, Trình

Tự Tín chủ biên, chúng tôi trình bày thành ba chương:

Trong chương 1 - Giới thiệu khái quát về Kinh Thi và các hướng tiếp cận Kinh

Thi ở Việt Nam, chúng tôi sẽ giới thiệu khái quát về nguồn gốc, bố cục của Kinh Thi và một số hướng tiếp cận Kinh Thi ở Việt Nam.

Với chương 2 - Giới thiệu khái quát về công trình nghiên cứu “Thi Kinh - Tinh

chú giản tích, văn bạch đối chiếu”, chúng tôi sẽ giới thiệu sơ lược về công trình Thi Kinh của nhóm tác giả Kim Khải Hoa, Chu Nhất Thanh, Trình Tự Tín như quá trình

hình thành, nhóm tác giả và phàm lệ, tiền ngôn của công trình Sau đó, chúng tôitiến hành thống kê các bài “thưởng tích” và đồng thời chọn lọc ra một số bài tiêubiểu

Trang 11

Và trong chương 3 - Các hướng tiếp cận Kinh Thi qua Thi Kinh - Tinh chú

giản tích, Văn Bạch đối chiếu, chúng tôi tiến hành dịch các bải thưởng tích, sau đó

phân tích về nội dung và nghệ thuật, đối chiếu với các hướng nghiên cứu ở Việt

Nam để từ đó tìm ra hướng tiếp cận của Kinh Thi qua Thi Kinh - Tinh chú giản

tích, Văn Bạch đối chiếu.

Với cách trình bày này thì chúng tôi có thể từ từ đi sâu vào tiếp cận hướng

nghiên cứu của công trình Thi Kinh - Tinh chú giản tích, Văn Bạch đối chiếu,

chương 1 là chương tiền đề cung cấp khái quát những kiến thức về Kinh Thi và

những hướng tiếp cận Kinh Thi ở Việt Nam để làm cơ sở để đối chiếu Sang chương

2, thông qua thống kê, chúng tôi chọn lọc ra được những bài thưởng tích tiêu biểu

để tiếp tục phân tích về nội dung, nghệ thuật ở chương 3 và đối chiếu với các hướngtiếp cận đã trình bày ở chương 1 để từ đó thấy được hướng nghiên cứu của côngtrình này Như vậy, chúng tôi cho rằng cách trình bày này là hợp lý

Trang 12

CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ KINH THI VÀ CÁC HƯỚNG

TIẾP CẬN KINH THI Ở VIỆT NAM

1.1 Khái quát về Kinh Thi.

1.1.1 Nguồn gốc Kinh Thi.

Kinh Thi là tên gọi của bộ tuyển tập thi ca dân gian ra đời gần như sớm nhất

Trung Quốc còn truyền đến nay, sưu tập những tác phẩm ca dao có trong dângian xuất hiện từ thời Tây Chu (thế kỷ XI TCN) đến giữa thời Xuân Thu (thế kỷ

VI TCN) Ban đầu Kinh Thi có tên là “Thi”, nhưng đến thời Hán (những năm

206 TCN), các nhà Nho nâng nó lên hàng kinh điển và gọi là Kinh Thi Kinh

Thi là một trong sáu bộ sách kinh điển của Nho gia gồm Thi, Thư, Lễ, Nhạc,Xuân Thu, Dịch gọi chung là Lục Kinh Về sau Kinh Nhạc thất lạc, nên tên NgũKinh còn được lưu truyền đến ngày nay

Về lai lịch của Kinh Thi, có nhiều ý kiến khác nhau từ các nhà nghiên cứu,

nhưng tựu trung lại thì có hai ý kiến nổi bật:

- Trong thiên “Nghệ văn chí” của “Hán thư”, Ban Cố có chép: “ 故古有采

giả sở dĩ quan phong tục, tri đắc thất…” ( Xưa có quan đi sưu tầm thơ, bậcvương giả vì thế xem xét phong tục, biết được cái được cái mất…) Vì thế cómột số học giả cho rằng, thời Tây Chu có đặt một chức quan giữ nhiệm vụ sưutầm thơ trong dân gian gửi lại cho triều đình, để biết được sự tình dân chúng Từ

đó, sửa đổi bộ máy chính trị cho phù hợp

- Còn một ý kiến khác cho rằng: Việc sưu tập thơ ca dân gian này ở nhàChu là do các nhạc sư ở các nước thực hiện, vì nhạc sư là cơ quan phụ trách âmnhạc, lấy việc ngâm thơ và viết nhạc khúc để tấu lên triều đình Do đó, việc sưutập ca dao trong dân gian có ý nghĩa bổ sung thêm cho lời ca nhạc điệu đượcphong phú, đặc biệt là khi biểu diễn ở triều đình, khi tế lễ, khi tổ chức yếntiệc,…

Trang 13

Về số lượng ban đầu, theo Tư Mã Thiên trong “Sử Ký - Khổng Tử thế gia”

có viết: “古者詩三千餘篇,及至孔子,去其重,取可施於禮義,上採契、

Khổng Tử, khứ kỳ trùng, thủ khả thi ư lễ nghĩa, thượng thải Tiết, Hậu Tắc,

trung thuật Ân Chu chi thịnh,…tam bách ngũ thiên”, Kinh Thi vốn có trên 3000

bài, qua sự gạn lọc của Khổng Tử (551-479 TCN), còn lại 305 bài được sắp xếpthành một tập gọi là Thi Tam bách

Từ đời Hán, nó được xem là một trong Ngũ Kinh, tới đời Xuân Thu xem

việc học tập Kinh Thi là một trong những cách để tu dưỡng văn hóa đạo đức Trong thời Chiến Quốc, Kinh Thi được coi là "sách giáo khoa" toàn xã hội, luôn

được các học giả truyền tụng, ra sức nghiên cứu và tìm tòi Đặc biệt trong thi

văn và giao tiếp, phải trích dẫn Kinh Thi để chứng tỏ mình uyên bác, có học thức Sách Luận ngữ có chép lời Khổng Tử: “不學詩無以言” “Bất học Thi vô

dĩ ngôn” (Không học Kinh Thi thì không biết lấy gì để nói) Kinh Thi làm cho ý

chí con người được phấn khởi, có cái nhìn rộng mở về phong tục tập quán và cókiến thức vô hạn về kinh nghiệm sống, tâm lý sống của người xưa truyền lại Sự

kiện “đốt sách chôn nho” của Tần Thủy Hoàng đã khiến cho Kinh Thi bị mất mát rất nhiều, sau khoảng thời gian đó, Kinh Thi mới được sưu tầm và khôi phục lại qua công sức của nhiều học giả từ đời Hán trở đi Một phần vì Kinh Thi

là những bài thơ được lưu truyền trong dân gian, nên dễ thuộc và dễ nhớ, đượcnhân gian truyền khẩu như một cách bảo tồn hữu hiệu Một phần vì những tư

liệu vẫn còn rơi rớt, nay được sưu tập lại khiến cho Kinh Thi gần như được trở

về nguyên vẹn Một phần vì giá trị của Kinh Thi qua nhiều đời là bất biến, khó

dời đổi, đã thuộc về chân lý, do đó vẫn được người đời trân trọng và giữ gìn

Trong số những học giả có công sưu tầm và phục nguyên lại Kinh Thi chủ yếu

có bốn nhà: Viên Cố Sinh (nước Tề), Thân Bồi (nước Lỗ), Hàn Anh (nước

Yên), hai thầy trò Mao Hanh người nước Lỗ và Mao Trường người nước

Triệu Về sau, các học giả nghiên cứu Kinh Thi lấy tên nước hoặc họ của bốn nhà sưu tầm nói trên mà định danh Kinh Thi, thành ra bản của Viên Cố Sinh sưu tầm gọi là Tề thi, của Thân Bồi thì gọi là Lỗ thi, của Hàn Anh thì gọi là Hàn thi,

Trang 14

của hai thầy trò họ Mao thì gọi là Mao thi Bản Mao thi xuất hiện sau cùng, có quan hệ mật thiết với Tả truyện, việc huấn hỗ cũng nhiều chỗ giống Nhĩ Nhã 爾

, được gọi là bản Cổ văn; ba bản kia gọi là Kim văn 2

Đến đời Tống, Chu Hy chú giải lại và nghiên cứu sâu hơn toàn bộ Kinh

Thi với đề xướng "kinh học hóa", "huyền thoại hóa" Kinh Thi, nặng về huấn hỗ,

nhằm phù hợp với yêu cầu giáo hóa Cho đến khi nền Tống Nho chiếm địa vị báchủ và độc tôn trong học thuật, trở thành giềng mối đối với các bậc nho lại thì lý

giải của Chu Hy về Kinh Thi cũng trở thành bất khả xâm phạm Đến đời Thanh, Thi kinh tập truyện của Chu Hy bị phản đối một cách quyết liệt vì nhiều học giả cho rằng Kinh Thi là một kho tàng văn hóa văn học, nên trả nó về

đúng với bản chất của nó trên tư cách một tuyển tập văn học chứ không phảimột tác phẩm kinh học Và ý kiến này, đến bây giờ vẫn còn được lưu giữ và tiếp

nối, đặc biệt với các nhà Thi học, đến tận sau này.

Kinh Thi không chỉ là một kiệt tác văn học giàu tính nghệ thuật cả về nội

dung và hình thức mà còn là một kho tàng quý giá của lịch sử, là nơi chứa đựngnhững tinh hoa tiềm tích của đời xưa Tư tưởng, những khuynh hướng, nhữnggiá trị của Kinh Thi hầu như ảnh hưởng rất sâu rộng đến đời sau bằng chứng làtoàn bộ nền luân lý được xây dựng trên nền tảng Nho giáo đều có khởi sự làKinh Thi và Kinh Thi gần như đã trở thành một pho sách không thể thiếu vớinhững ai có khát khao đỗ trạng, bảng vàng, từ đó Kinh Thi mặc nhiên trở thành

“giáo trình” chính trị - luân lý học thuật cho toàn bộ Nho sĩ trong xã hội TrungQuốc suốt hai nghìn năm phong kiến Vai trò và ảnh hưởng của Kinh Thi là vôcùng to lớn và vĩ đại, chẳng những truyền bá sâu rộng trên khắp lục địa TrungHoa mà còn đi ra khỏi biên giới Trung Nguyên để đến với thế giới mà mộttrong số những nơi bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi Kinh Thi đó là Việt Nam Tómlại, Kinh Thi phù hợp với toàn bộ nguyên tắc đạo đức được người đời thừa nhận

2Viện Nghiên cứu Hán Nôm (2004), Ngữ văn Hán Nôm: Ngũ Kinh, Hà Nội, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Tr.

101.

Trang 15

1.1.2 Nội dung Kinh Thi.

Kinh Thi được tỷ dụ như là một bức tranh sinh động và chân thực, miêu tả

toàn cảnh về xã hội đương thời, từ lịch sử, phong tục tập quán đến những tìnhtrạng, những tệ nạn xã hội cùng với đó là việc phản ánh chế độ chính trị củaTrung Quốc thời Chu Không chỉ thể Kinh Thi còn là kho chứa đựng cái nhìnsống động của con người về thiên nhiên như chim, thú, cây cỏ và từ đó hìnhtượng hóa, điển hình hóa thành những ý niệm mang tính phổ quát Và vì

thế, Kinh Thi được coi là nền tảng vững chắc cho khuynh hướng văn học hiện

thực của Trung Quốc Toàn bộ Kinh Thi gồm 305 bài, có sách ghi 311 bài vìbao gồm cả 6 bài chỉ có đầu đề và không có nội dung Đó là các bài thuộc Tiểu

Nhã: Nam cai, Bạch hoa, Hoa thử, Do canh, Sùng khâu, Do nghi.

Chia ra làm 3 bộ phận: Phong, Nhã, Tụng

1.1.2.1 Phong

Phong hay còn gọi là Quốc Phong, là bộ phận quan trọng và có giá trị nhất

trong Kinh Thi Gồm 160 bài, sản sinh từ 15 địa phương và các nước chư hầuthuộc lưu vực sông Hoàng Hà được nhạc quan sưu tập Phong gồm:

- Chính Phong: Chu Nam (11 bài), Thiệu Nam (14 bài)

- Biến Phong : Bội Phong (9 bài), Dung Phong (10 bài), Vệ Phong (10 bài),Vương Phong (10 bài), Trịnh Phong (21 bài), Tề Phong (11 bài), Ngụy Phong(7 bài), Đường Phong (12 bài), Tần Phong (10 bài), Trần Phong (10 bài), CốiPhong (4 bài), Tào Phong (4 bài), Bân Phong (7 bài)

Phong là những bài thơ có tính nhạc điệu ở trong đó, các bài Quốc

phong phần nhiều là "thơ ca dân gian" ("dân tục ca dao", chữ dùng của Chu Hy.

Chu Hy chú thích rằng "Gọi ấy là Phong, bởi vì họ dựa vào đức giáo hóa của

bề trên mà từ đó phát ra lời lẽ mà lời lẽ ấy lại đủ sức để rung động lòng người Giống như vật vì gió lay động mà từ đó phát ra âm thanh, rồi tiếng đó lại đủ sức làm vật khác rung động vậy Bởi thế các chư hầu sưu tầm “thái thi” để dâng lên Thiên tử, Thiên tử nhận lấy và giao cho Nhạc quan, lấy đó để khảo sát

Trang 16

cái tốt cái xấu trong phong tục, từ đó biết được chỗ được mất trong chính sự Theo thuyết cũ, Nhị Nam là Chính phong, thơ này được dùng cho gia đình, làng xóm, đất nước và giáo hóa cả thiên hạ vậy Thơ 13 nước là Biến phong, giao cho Nhạc quan lĩnh lấy, dùng để thời thường học tập" (謂之風者,以其被上

之化,以有言而其言又足以感人,如物因風之動,以有聲而其聲又足以動物也。是以諸侯采之,以貢於天子,天子受之,而列于樂官。於以考其俗尚之美惡,而知其政治之得失焉。舊說二南為正風。所以用之閨門鄉黨邦國,而化天下也。十三國為變風。則亦領在樂官。以時存肄,僃觀省而垂監戒耳。合之凡十五國云。)- Vị chi Phong giả, dĩ kỳ bị thượng chi hóa dĩhữu ngôn, nhi kỳ ngôn hựu túc dĩ cảm nhân Như vật nhân phong chi động dĩhữu thanh Nhi kỳ thanh hựu túc dĩ động vật dã Thị dĩ chư hầu thái chi dĩ cống

ư Thiên tử Thiên tử thụ chi nhi liệt ư Nhạc quan, ư dĩ khảo kỳ tục thượng chi

mỹ ác, nhi tri kỳ chính trị đắc thất yên Cựu thuyết Nhị Nam vi Chính phong, sở

dĩ dụng chi khuê môn hương đảng bang quốc nhi hóa thiên hạ dã Thập tamquốc vi Biến phong, tắc diệc lĩnh tại Nhạc quan dĩ thời tồn bị Bị hợp chi phàm

thập ngũ quốc vân) Sách Thi đại tự 詩大序 cho rằng Phong dùng vào giáo hóa con người, "nói việc của một nước, là gốc của một người" (以一國之事,繫一

人之本,謂之風。- Dĩ nhất quốc chi sự, hệ nhất nhân chi bản, vị chi phong)

Học giả đời Tống là Trịnh Tiều coi “Phong ra đời từ thổ phong, đại để là lời

của những kẻ tiều phu, hèn mọn, lời của đàn bà con giá; ý thơ tuy xa song lời thơ thì thiển cận trùng lặp" (《風》者出於土風,大概小夫 、賤隸、婦人、女

tiểu phu, tiện lệ, phụ nhân, nữ tử chi ngôn, kì ý tuy viễn, nhi kì ngôn thiển cậntrùng phục) Tuy những lời lẽ trên mang tính đả kích, thế nhưng Phong vẫnchiếm số lượng lớn trong Kinh Thi và chứa đựng nhiều giá trị nhất cho đến nayvẫn còn được lưu truyền và áp dụng

Trang 17

1.1.2.2 Nhã

Nhã bao gồm Tiểu Nhã và Đại Nhã, gộp thành Nhị Nhã gồm 105 bài, phân

thành:

- Tiểu Nhã: gồm 75 bài, nội dung khá phức tạp, hầu hết là những nhạc khúc

do giới quý tộc và sĩ đại phu sáng tác, dùng trong những trường hợp không quantrọng lắm như yến tiệc của tầng lớp thống trị và tri thức đương thời

- Đại Nhã: là nhạc khúc của triều đình, gồm 30 bài, do quý tộc sáng tác để cangợi trời đất, vua chúa và tổ tiên nhà Chu, dùng trong những trường hợp quantrọng như khi Thiên tử họp các vua chư hầu hoặc tế ở miếu đường

Nhã có nghĩa như "chính" 正 có nghĩa là "đúng đắn, thanh cao, cao thượng"được đặt trong thế đối sánh với thường tục Phàm những gì thuộc về “nhã” làcao quý, thanh thoát, được hiểu là "vương kỳ chính thanh", là âm nhạc vùngkinh ấp của nhà Chu thời Tây Chu, khu vực này người Chu gọi là Hạ, thuộctỉnh Thiểm Tây ngày nay "Nhã" cũng vốn là tên nhạc khúc, sách Luận Ngữ 論

có câu: “Ố tử chi đoạt chu dã Ố Trịnh thanh chi loạn nhã nhạc dã Ố lợi

khẩu chi phúc bang gia giả” (惡紫之奪朱也 惡鄭聲之亂雅樂也 惡利口之覆

邦 家 者 (Dương Hóa 陽貨 - Ghét màu tía cướp mất sắc đỏ Ghét nhạc nướcTrịnh làm loạn chính nhạc.Ghét kẻ bẻm mép làm nghiêng đổ nước nhà) và

thiên Cổ chung trong Tiểu nhã có câu: “以雅以南,以龠不僭”(Dĩ nhã dĩ nam,

dĩ thược bất tiếm – Lấy nhã từ phương Nam, lấy nhạc khí không giả mạo được)

Trịnh Tiều viết "Nhã thì từ sĩ đại phu ở triều đình làm ra, lời thơ thuần hậu mẫu

mực, thể thơ lên bổng xuống trầm có lớp lang, không phải là điều mà hạng hèn mọn, tôi tớ, đàn bà con gái có thể nói lên được, cho nên gọi là “nhã”" (《雅》

故曰《雅》- Nhã giả xuất ư triều đình sĩ đại phu, kì ngôn thuần hậu điển tắc, kìthể ức dương đốn tỏa, phi phục tiểu phu, tiện lệ, phụ nhân, nữ tử sở năng đạo dã,

cố viết “nhã”)

Trang 18

1.1.2.3 Tụng

Tụng có 40 bài, bao gồm Chu Tụng (31 bài), Lỗ Tụng (4 bài), Thương

Tụng (5 bài) Tụng là tán tụng, ca ngợi các vua đời trước, dùng để hát trong

miếu đường, tế lễ… Tụng, theo Chu Hy, là "khúc ca tế lễ ở tông miếu” (宗廟之

樂歌 - Tông miếu chi nhạc ca) Sách Thi đại tự cho Tụng là “hình dung về cái đẹp thịnh đức của nhà vua, đem sự thành công của mình cáo với thần linh" (颂

hinh dung, dĩ kì thành công cáo vu thần minh) Học giả đời Tống là Trịnh Tiều

giải thích Tụng "thì thoạt đầu không có ý phúng tụng, chỉ nhằm phô trương

công đức to lớn mà thôi, lời thơ nghiêm trang, âm thanh có chừng mực, không dám kể lể rườm rà dông dài, cốt tỏ sự tôn kính” (雅頌者初無諷誦惟以鋪張勲

trương huân đức nhi dĩ, kì từ nghiêm, kì thanh hữu tiết, bất cảm tỏa ngữ nghệngôn, dĩ thị hữu sở tôn) Qua đó, ta thấy rằng Tụng là những áng thơ mang âmhưởng xưng tán, ca ngợi, có những nét phảng phất với tục thờ Mẫu của nướcViệt, tuy nhiên, từ chữ “tụng”, là cũng đã thấy giá trị của những áng thơ này rồi,

để nhận ra một cách chân chỉ về tụng, đòi hỏi người đọc phải có góc nhìn vănhóa sâu sắc mới có thể nhận xét một cách bao quát và toàn bộ được

1.1.3 Một số đặc điểm tiêu biểu của Kinh Thi.

Cũng giống như ca dao ở Việt Nam, Kinh Thi là những áng thơ được lưutruyền trong dân gian thông qua việc sưu tầm, chỉnh lý, là căn nguyên khai thác suynghĩ của dân gian về những hiện tượng xung quanh hầu tạo tiền đề cải tổ nền chínhtrị sao cho thuận tiện với việc cai quản đất nước Ở Việt Nam, ca dao chỉ là một bộphận của văn học phi chính trị, không có những tác động sắc sói đến bộ máy nhànước mà chỉ là dòng văn học ngầm chảy trôi dưới vòm trời văn đàn văn nghệ Dướigóc nhìn đối chiếu với ca dao, Kinh Thi được các nhà nghiên cứu chia thành nhiều

đề tài được đặt trong thế đối sánh với văn học dân gian tại Việt Nam để người đọcthấy được sự chênh chao giữa nội dung phản ánh cũng như cảm ngộ được những néttương đồng giữa hai địa vực văn hóa và văn học dân gian Xét trong Kinh Thi, các

Trang 19

nhà nghiên cứu tại Việt Nam chia toàn bộ ba thể tài Phong, Nhã, Tụng thành banhóm đề tài chính bao gồm:

- Cuộc sống áp bức bóc lột và tinh thần phản kháng của người dân lao động:

Ở điểm này, nhà văn Marxim Gorky đã từng nói: “Văn học dân gian hoàn toàn xa

lạ với chủ nghĩa bi quan”, trong Kinh Thi tiêu biểu là những bài như Thất nguyệt,

Mẫn nông, Phạt đàn đã thể hiện cái nhìn nhân sinh quan của người lao động, tuy

mang dang dấp của một bài ca “nông gia lịch” thế nhưng ở những bài thơ trên,

người đọc thấy rõ mồn một mâu thuẫn đối nghịch giữa một bên là thái độ sống vớimột bên là thực tế sống Công việc nông gia không khiến cho tâm khái con người bịchùng xuống mà đọc bài thơ, tiêu biểu là Thất nguyệt, ta thấy rõ tinh thần hồ hởi,

lạc quan, lôi cuốn người lao động vào vần quay của công việc đến độ quên cả lo âu

và phiền nhọc Trong đó, phải kể đến một bài thơ được ca dao Việt Nam chuyểnNôm thuần thục đến độ người đời khi dùng đã vô tình quên mất căn nguyên – đó làthi tácMẫn nông trong thiên Cổ phong:

Sừ hoà nhật đương ngọ

Hãn trích hoà hạ thổ

Thuỳ tri bàn trung xan

Lạp lạp giai tân khổ.

(Cày đồng đang buổi ban trưa

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày

Ai ơi bưng bát cơm đầy

Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.)

Hay như chủ đề về lao động phu phen tạp dịch trong Kinh thi cũng được các nhà

nghiên cứu nhấn mạnh đến với hai phương thức bóc lột căn bản của chế độ phong

kiến: địa tô và lao dịch như trong những áng thơ như Bảo vũ, Quân tử vu dịch, Thỏ viên, Cát lũy, Thức mị qua đó thấy được nỗi đắng cay, cơ cực, sự oán giận

của người dân Ngoài ra, chủ đề về tinh thần phản kháng cũng được nhắc tới trong

Kinh Thi với những bài thơ nhưPhạt đàn, Thạc thử Với Phạt đàn, mỗi đoạn là

một sự miêu tả chân phương khung cảnh sinh hoạt vất vả của người lao động được

Trang 20

diễn đạt theo mức độ tăng tiến dần, từ tái hiện quang cảnh khổ sai đến cái nhìn hoàinghi về mối bất công, ngang trái, để cuối cùng chất vấn cảnh cáo bọn thống trị tronglối láy đi láy lại những ba lần như khi càng dồn nén, ý chí phản kháng càng hun đúc

thêm nhằm chỉ thẳng, bắn trúng đích vào bản chất của bọn thống trị Bài Phù

dĩ (Chu Nam) là bài ca các cô gái hát khi hái hạt xa tiền, chỉ vọn vẹn có bốn câu, tiết

tấu đều đặn nhưng lại đủ sức khêu gợi trí tưởng tượng của độc giả:

Trái phù dĩ hái lại hái (cũng gọi là trái xa tiền),

Thì bắt đầu đi tìm hái

Trái phù dĩ hái lại hái,

Trang 21

lính, cha mẹ thì bơ vơ không người săn sóc, mơ hồ về một cuộc sống yên ổn, vềmột tương lai vô định đến nỗi phải kêu trời kêu đất than ngắn thở dài:

Tiếng cánh chim bảo nghe sầm sập,

Đậu trên bụi cây hủ

Việc vua sai không thể chẳng làm hoàn hảo tinh mật

Cho nên quá mệt mọc mà không thể trồng lúa kê, lúa nếp

Thì cha mẹ làm sao trông cậy vào để sống ?

Trời xanh xa vời ôi!

Lúc nào mới khiến cho ta được nơi yên ổn (để nuôi dưỡng cha mẹ) ?

Trang 22

Bài Trắc hộ (Ngụy phong) là lời oán thán của người con hiếu tử, phải đi lính thú

phục vụ quân dịch, ở xa nhớ cha mẹ, tưởng tượng mẹ cha ngóng trông mình trở về,

ý niệm oán thán gần như bàng bạc trong mỗi câu thơ:

Cha ta ắt nói rằng: Than ôi! Đứa con của mình đi quân dịch

Sớm tối không được ngừng nghỉ

Mong cho nó hãy cẩn thận,

Để còn trở về đây, đừng biệt ở đấy mãi

Đặt trong mối quan hệ với Việt Nam, ngoài thi tácMẫn nông có ảnh hưởng

đến ca dao Việt Nam nói riêng còn có những áng thơ đồng bộc lộ chủ đề một cáchquyết liệt như:

Trang 23

Người ta đi cấy lấy công, Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.

Trông trời, trông đất, trông mây, Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm.

Trông cho chân cứng đá mềm, Trời êm, bể lặng mới yên tấm lòng.

Qua đó thấy được tương quan đối chiếu giữa ca dao Việt Nam và Kinh Thi

Trung Hoa trong cùng một chủ đề và những ảnh hưởng mà ở phần Tình yêu đối lứa

sẽ được thể hiện rõ nét hơn

- Phản đối chiến tranh phi nghĩa: Từ thời Tây Chu đến giữa đời Xuân Thu,

các cuộc chiến tranh, xung đột giữa những phe phái diễn ra liên miên khiến Mạnh

Tử - một vị học giả thông minh bác lãm - mệnh danh là Xuân Thu vô nghĩa chiến nổi lên trong đó có ba loại chiến tranh: Chiến tranh bành trướng (của vua chúa),

Chiến tranh đất đai (của lãnh chúa) và Chiến tranh chống ngoại tộc (của nhân dân).

Thái độ phê phán trong Kinh Thi cũng như trong ca dao Việt Nam các thời kỳ hầunhư đều mang cùng một âm hưởng: phê phán, đả kích, bài xích và loại trừ Trongkhi những áng thơ như Hà thảo bất hoàng, Đông sơn, Thái vi miêu tả cảnh người

lính trở về trong nỗi buồn thảm mưa sa gió táp trong Kinh Thi thì ở Việt Nam, cónhững áng ca dao như:

“Phận chàng vạn tử nhứt sanh, trên thời mây đen kịt, dưới nước xanh dờn dờn.”

“Ðêm đêm chớp bể mưa nguồn Hỏi người quân tử có buồn chăng ai?”

Đó là tiếng nói của những người chinh phu nhớ thương quê nhà, phải cam bề dứt áo

ra đi mà lo toan việc nước như trongKích cổ, Trắc hỗ, Phỉ phong cũng là tiếng

nói của người chinh phụ bình dân trước cảnh chiến tranh, con thì díu, cái thì bìu,đau khổ muôn phần Có thể nói Kinh Thi cũng như ca dao Việt Nam đã phản ánhmột cách chân chỉ cuộc sống con người, là ngọn nguồn để các bậc thống trị tối caolấy đó mà răn mình, mà cản mình

Trang 24

- Tình yêu và hôn nhân: Với lời lẽ thẳng thắn, mạnh bạo, biểu lộ tình cảm

chân thật, sôi nổi, chất phác, Kinh Thi đã phản ánh cái nhìn nhân sinh quan lànhmạnh của người lao động Đó là tình yêu trong sáng, ngây thơ, mà tiêu biểu là

Quan Thư - Bài thơ là bài ca dao, thuộc vùng Chu Công cai quản, nay thuộc Thiểm

Tây - với lời ca ngợi của Khổng Tử: “Quan thư vui mà không sa đà, buồn mà không

thảm thương” hợp với đạo Trung Dung, không quá lệch lại rất đúng mực Từ đời

Tần vê sau, đạo đức của chế độ phong kiến trung ương tập quyền chuyên chế và chế

độ tông pháp gia trưởng khiến cho những bài thơ liên quan đến tình yêu hầu như đivào quên lãng, khó có thể thấy được hình tượng những người con gái chủ động tìm

kiếm tình nhân, hóm hỉnh gọi người yêu là “chú bé kháu khỉnh” (Giảo đồng):

Thằng bé giao xảo kia ôi!

Đã đoạn tuyệt với ta, chẳng thèm nói chuyện với ta nữa

Duyên cớ chàng bỏ rơi ta,

Khiến ta buồn khổ mà không ăn cơm

Trang 25

Từ đó làm ta nhớ đến nữ thi sĩ Xuân Quỳnh với bài thơ “Sóng”, cũng diễn tảnỗi khắc khoải, mong chờ, thao thức như ngọn đèn trắng dưới mành tương trongtình yêu:

Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Những con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được

mời người yêu đi trẩy hội, tặng hoa hương dưới ánh nắng xuân xanh (Trăn vĩ), hay

đòi người tình hát vang giữa trời gió lộng (Thác hề), hẹn người yêu để rồi trốn đi để

cuộc hẹn hò thêm xao xuyến và bồi hồi (Tĩnh nữ) Có thể nói chỉ có Kinh Thi mới

dám bộc bạch những nỗi niềm thầm kín một cách rõ ràng đến thế, không những vậycòn ca ngợi cho cuộc sống vợ chồng hài hoa như Nữ viết kê minh, Đào yêu, Xuất

kỳ đông môn hay cảm thương cho tình cảnh đau khổ của người phụ nữ như

Phiếu hữu mai, Manh, Cốc phong, Bách chu Bài Dã hữu tử khuân (Thiệu Nam)

kể chuyện "chàng trai tốt đẹp" vào rừng săn con chương gói vào lá bạch mao và háicủi, rồi vô tình bắt gặp một người con gái đẹp, chàng mới lấy “con chương” chủđộng “dụ dỗ” cô gái Tình điệu chất phác thật thà, đặt trong mối tương quan vớicảnh núi rừng ngày xuân thì tình cảm ấy lại càng được bộc lộ một cách giản đạm,tinh tế mà rất bình dị:

Trang 26

Hữu nữ hoài xuân,

Cát sĩ dụ chi

Dịch nghĩa

Ngoài đồng nội có con chương chết,

Chàng trai đẹp bao gói con chương ấy với lá bạch mao

Có cô gái đang xuân ôm ấp xuân tình

Thì chàng trai đẹp ấy đem con chương đến dụ dỗ

Ở Việt Nam, tình yêu lứa đôi cũng thế, có những vùng dân gian, địa vực văn

hóa ảnh hưởng bởi phong cách của Kinh Thi như Thiện Sĩ trong vở chèo “Quan Âm

Thị Kính” có ngâm bài “Quan thư”, hay những áng thi thơ như:

“Anh đi lưu thú Bắc Thành

Để em khô héo như nhành mai khô Phụng hoàng lẻ bạn sầu tư

Em đây lẻ bạn cũng như phụng hoàng”

“Đàn cầm đã bén duyên tơ Năm canh luống những ngẩn ngơ tiếng đàn”

“Anh trông em như cóc trông mưa Ngày trông đêm tưởng như đò đưa sông.”

Cũng đều có ảnh hưởng với Kinh Thi nhưng vì tiếp thu trong tinh thần vănhóa vùng miền nên có nhiều điểm đã được chỉnh sửa sao cho hợp với nếp sống củangười Việt Nam Qua đó, ta có thể thấy được tinh thần tự do trong hôn nhân củaKinh Thi cũng như những ảnh hưởng của Kinh Thi vào Việt Nam Tóm lại nhờ vàoviệc phân chia chủ đề Kinh Thi cùng với việc đặt ca dao Việt Nam vào thế đối sánh,luận suy mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra những kết luận đặc sắc về những néttương đồng cũng như khác biệt giữa hai địa vực văn hóa Từ đó, phát hiện những

Trang 27

điểm đặc trưng của riêng từng vùng văn hóa cũng như thấy được sự giao thoa vàảnh hưởng sâu đậm giữa những địa tầng văn hóa văn học.

- Phản ánh phong tục tập quán và lễ nhạc nhà Chu: Bài Thanh miếu (Chu

tụng) cho người đọc những hình dung khái lược về ngôi miếu thờ tổ tiên nhà Chu:

“Ô mục thanh miếu, túc ung hiển tướng” (Ô! Sâu xa tôn miếu, kính cẩn hòa hợp rõ

ràng giúp đỡ) được các nhà thời xưa tại Việt Nam sử dụng như một điển cố tiêubiểu là tại điện thờ Long An và trên thế miếu:

Hán kiếm Đường cung hách hách thanh

Bắc nam cương vực xiển long bình.

Hiểu dương sự nghiệp lưu thiên cổ,

Thanh miếu ung ung tấu Cửu Thành.

Dịch nghĩa

Kiếm nhà Hán, cung nhà Đường, danh tiếng hiển hách,

Bờ cõi bắc nam mở ra cảnh thái bình thịnh trị

Hiển dương sự nghiệp, còn lưu lại nghìn xưa,

Tôn miếu nghiêm trang, tấu lên khúc Cửu Thành

Bài Phán thủy (Lỗ tụng) giúp người đọc có những hình dung đôi nét về công việc giáo dục và huấn hỗ đương thời Bài Na (Thương tụng) lại miêu tả về một buổi

đại lễ lớn Tóm lại đề tài trong Kinh Thi tùy vào những chiêm nghiệm và suy nghĩcủa những nhà nghiên cứu mà Kinh Thi có thể chia ra thành nhiều đề tài, chủ đềkhác nhau Quan trọng, ta thấy được tầm ảnh hưởng rộng lớn của Kinh Thi tới cácnước khác cũng như thấy được những giá trị tồn hữu trong Kinh Thi mà cho tới tậnbây giờ vẫn có nhiều người yêu mến, ưa chuộng, sử dụng như một công cụ giao tiếphoặc công cụ giáo hóa

Về nghệ thuật trong Kinh Thi: Lê Quý Đôn (Văn đài loại ngữ) nói: “Thơ

phát khởi trong lòng người ta Ba trăm bài thơ trong Kinh Thi phần nhiều là của nông dân, phụ nữ làm ra mà có những bài văn sĩ đời sau không theo kịp, như thế là

vì nó chân thực”.

Trang 28

- Nói đến Kinh Thi không thể không nói đến phương pháp "phú", "tỉ", "hứng",

có hiệu quả nghệ thuật ảnh hưởng rõ rệt đến văn học đời sau "Phú", "tỉ", "hứng"

được chép sớm nhất ở sách Chu lễ, hợp với "Phong", "Nhã", "Tụng" gọi là "lục nghĩa" Lời chú viết rằng "Phong Nhã Tụng là thể khác nhau của các thiên Kinh Thi,

Phú Tỉ Hứng là lời khác nhau về văn của Kinh Thi, lớn nhỏ không như nhau, song gọi chung là Lục nghĩa Phú Tỉ Hứng là sở dụng của Kinh Thi, Phong Nhã Tụng là

sự thành hình của Kinh Thi, dùng ba cái kia để hình thành nên ba cái này, bởi vậy được gọi chung là nghĩa" (風雅頌者,詩篇之異體。 賦比興者,詩文之異辭耳。

大小不同,而得並為六義者,賦比興是詩之所用,風雅頌是詩之成形。 用比三事,成此三事,是故同稱為義- Phong Nhã Tụng giả, Thi thiên chi dị thể; Phủ

Tỉ Hứng giả, Thi văn chi dị từ; đại tiểu bất đồng, nhi tịnh vi Lục nghĩa giả Phú TỉHứng thị Thi chi sở dụng, Phong Nhã Tụng thi Thi chi thành hình; dụng bỉ tam sự,

thành thử tam sự, cố đắc tịnh xưng vi Nghĩa) Trong Thi tập truyện 詩集傳, Chu Hy giải thích về "phú", "tỉ", "hứng" như sau "Phú là trình bày sự việc rồi viết thẳng ra.

Tỉ là lấy vật kia so sánh với vật này Hứng là trước nói một vật khác để dẫn đến lời của thơ" (賦者,敷陳其事而直言之者也。比者,以彼物比此物也。興者,先

言他物以引起所詠之詞也。- Phú giả, phu trần kỳ sự nhi trực ngôn chi dĩ Tỉ giả,

dĩ bỉ vật tỉ thứ vật dã Hứng giả, tiên ngôn tha vật dĩ dẫn khởi sở vịnh chi từ dã) Nóimột cách dễ hiểu thì "phú" là trần thuật, "tỉ" là ví dụ so sánh như “tỉ dụ”, "hứng" làqua một hiện tượng trước mắt đời sống mà gợi cho con người những cảm hứng đôilúc bất chợt, đôi lúc lâu dài

- Đặc điểm kết cấu dân ca trong Kinh Thi nổi bật nhất là cách "trùng chươngđiệp cú" (lặp đoạn lặp câu) Trùng chương nhằm tăng tiến trình độ cũng nhằm đểđẩy cảm xúc lên cao Bài Tang Trung (Dung phong), chương đầu thì kể chuyệnchàng trai hái rau đường rồi nhớ đến nàng Mạnh Khương, các chương sau đổi thànhhái lúa mạch, hái rau phong, nó khiến cho tính chất trữ tình được tăng lên đột ngột,thể hiện cái tâm khái khao khát muốn gặp tình nhân, liên hồi không dứt

- Kết cấu xướng – họa, đoạn một xướng, đoạn hai họa, thường dùng trong

các bài ca lao động tươi vui kiểu đối đáp hai chương như trong bài Thập mẫu chi

Trang 29

gian (Ngụy phong) của các cô gái hái dâu, có một phần giống với hát quan họ, giao

duyên ở xứ kinh kỳ phía Bắc nước Việt Nam ta Chỉ là nhịp điệu trong Kinh Thimang âm hưởng cung đình hơn là dân dã Ngày nay, phần âm nhạc đã mất đi, chỉcòn lời với tiết tấu vần điệu của ngôn ngữ nghe vẫn im tai, dễ nghe Lời trong bàiđược chọn lọc, tinh xảo Nhờ đó mà Kinh Thi rất được trọng dụng trong việc sửasang lại âm nhạc thanh điệu cho triều đình mỗi độ vua nước đương thời thăng triều

thưởng yến Những bài trong Kinh Thi có cách gieo vần rất rộng rãi tự do, không bị

gò bó trong một khuôn khổ hẹp hòi, theo một định luật nghiêm khắc như trong thơĐường luật Nhờ thế nên văn chương Kinh Thi đã giữ được cái âm điệu uyểnchuyển, lả lướt lại rất tự nhiên, không chỉ diễn tả dễ dàng những ấn tượng sâu đậmcủa người sáng tác âm nhạc mà còn có sức truyền cảm rất mạnh đối với người nghe

1.2 Các hướng tiếp cận Kinh Thi ở Việt Nam qua một số tài liệu tiêu biểu.

- Kinh Thi Việt Nam (Trương Tửu)

Đặc điểm tiếp cận: Khi viết Kinh thi Việt Nam, Trương Tửu đã khai thác

nguồn gốc, định giá tác động của Kinh thi tại Trung Hoa trước khi sự tiếp nhận bắtđầu len lỏi vào Việt Nam Trương Tửu đã nhận chân được sự liên hệ cốt lõi trongmối quan hệ giữa con người và xã hội: “Trong Khổng giáo, tất cả triết lý chính trịđều dựng trên nhận định này: con người là một động vật sống trong xã hội Không

có xã hội thì không có Khổng giáo Đạo của Khổng Tử là một hệ thống triết lý chỉ

có thể xuất hiện trong một xã hội đã tổ chức, hơn nữa một xã hội nông nghiệp đang

ở thời kỳ hỗn độn của chế độ phong kiến có xu hướng tiến đến thời kỳ trật tự củachế độ quân quyền Bởi phát sinh từ cội rễ ấy nên Khổng giáo mới coi con ngườisống trong xã hội là con người muôn thuở và mới tin ở sức mạnh cùng cực của chế

độ chính trị trong việc cải tạo con người” Không chỉ thế, Trương Tửu còn đặt

“Kinh thi" dưới cái nhìn của "một tài liệu xã hội học”: Kinh thi ra đời là bước ngoặtđánh dấu cho sự khởi nguyên của văn tự; là tài liệu chân xác để các nhà nghiên cứuphong tục, tập quán, lối sống sinh hoạt của con người Trương Tửu coi ca dao là

"Kinh thi ở Việt Nam", phân tích và nghiên cứu nó dưới nhiều góc nhìn, qua đóthấy được tinh thần chống Nho giáo và “nổi lên cái tinh thần độc lập của dân ta và

Trang 30

cái nỗ lực liên tiếp của tổ tiên ta đã thực hành trong bao nhiêu thế kỷ để tránh nạnTrung Quốc hoá Nhờ sự nỗ lực phi thường này mà hiện giờ chúng ta có thể tự hàorằng chúng ta vẫn giữ được trong cõi ý thức một tinh tuý Việt Nam cái tinh tuý màvăn hoá Trung Quốc chỉ đã kết tinh lại chứ không thể nào thôn tính được” TrươngTửu đã đề xuất, bàn luận ba vấn đề lớn mang tính khoa học và thực tiễn: Thứ nhất làmối tương giao giữa chính trị và văn nghệ, Thứ hai là đặt văn nghệ trong bối cảnh

xã hội và khai thác tâm lý dân tộc dựa trên những tìm tòi về "kinh thi Việt Nam".Thứ ba là xem "kinh thi Việt Nam" là thực thể sáng tạo của riêng người Việt Ôngviết: "Đọc Kinh thi Việt Nam bây giờ sẽ là tìm trong quá khứ của dân chúng ViệtNam cái sức mạnh để đảm bảo cho lòng tin của chúng ta ở tương lai của dân chúngViệt Nam Đọc nó sẽ còn tìm đến cái hay, cái đẹp, cái khéo của âm điệu và tiếng nóiViệt Nam là tìm đến cái hương hoả văn chương của cha ông để lại, do đó mà kiếnthiết nền thi ca Việt Nam hiện đại Đọc nó còn là tìm cho mình một gốc rễ tinh thần,một lạc thú tinh thần hiếm có”

-Giới thiệu Kinh Thi (Bửu Cầm)

Đặc điểm tiếp cận: Tác giả trong bài viết đã nghiên cứu Kinh thi trên nhiều

phương diện, đưa ra được những nét khái quát về lịch sử cũng như đặc trưng củaKinh thi Đó là những nét phác thảo sơ bộ mà người đọc Kinh thi bình thường cóthể tiếp cận và nắm rõ Không chỉ thế, tác giả bài viết còn đưa ra những vấn đề, chiaKinh thi thành nhiều mảng nội dung để phục vụ quá trình tiếp cận văn bản Có thểxem "giới thiệu Kinh thi" là tổng quan về một trong năm bộ sách quan trọng và kinhđiển của Nho gia để từ đó giúp người tiếp cận Kinh thi có những bước đệm vữngvàng trong quá trình tích góp tri kiến từ xưa

- Tiếp nhận Kinh Thi tại Việt Nam thời Trung Đại - Từ góc nhìn phiên dịch Hán Nôm.

Đặc điểm tiếp cận: Đứng dưới góc độ của phiên dịch học và giao tiếp

liên văn hóa, Nguyễn Tuấn Cường đã nhìn Kinh Thi trên bình diện ngôn ngữ, soixét cách các nhà văn, các nhà viết sử, thi nhân mượn Kinh Thi, san định, dịchthuật trong việc truyền tải ý nghĩa đến người đọc Ở đây, tác giả đã sử dụng lịch sử

Trang 31

phiên dịch từ trước đến nay, mượn làm tiền đề cho việc dịch thuật Kinh Thi - mộttác phẩm phân tích tính cao - sang ngôn ngữ thuần Việt Phân tách biện bạch KinhThi theo hai tư cách: tác phẩm văn học và tác phẩm kinh học Nho gia Để từ đónhận xét phương pháp mà các học giả sử dụng để chuyển từ một bản Kinh Thi khónuốt từ Trung Quốc trở nên gần gũi hơn với quần chúng Nghiên cứu của NguyễnTuấn Cường lấy một nhánh nhỏ trong tiếp nhận liên quan đến dịch thuật của học giảlàm nòng cốt xuyên suốt quá trình nhận định và khai thác Kinh Thi Cách nhìn mới,cách phân tích thái độ dịch giả, bàn luận về cách tiếp cận dịch thuật (diễn xuôi hoặcdiễn thơ) Kinh Thi đã khiến cho bài nghiên cứu của Th.S Nguyễn Tuấn Cường cónhững bước riêng trong việc tìm hiểu một cách kĩ lưỡng và chân chính tính giá trị

và tôn trọng trong quá trình tiếp nhận Kinh Thi Nhà nghiên cứu Nguyễn TuấnCường nhận định: "Ngôn ngữ phiên dịch nhìn chung là đa dạng, nhưng với đặctrưng ngôn ngữ phân tích tính cao như trong Kinh Thi thì các dịch phẩm thường tỏ

ra tôn trọng đặc trưng ấy, sẵn sàng hi sinh phần nào mặt ngữ nghĩa trong Việt văn

để truyền đạt nguyên vẹn mặt ngữ nghĩa tring Hán văn, nhưng cũng không quênmột số thao tác dịch để "tổng hợp tính hóa" thứ ngôn ngữ nguồn này" Đứng dướigóc độ này, người viết đã có cái nhìn khái quát, sơ lược, có nhận thức đúng đắntrong việc nhìn nhận và tiếp cận Kinh Thi một cách trực quan, rõ ràng và minh bạch

- Tư liệu Thi Kinh trong Thư Kinh Diễn Nghĩa của Lê Quý Đôn.

Đặc điểm tiếp cận: Nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Sơn trong bài nghiên

cứu này đã liệt kê toàn bộ những lời bình luận về Kinh Thư của Lê Quý Đôn có đềcập đến Kinh Thi làm dẫn chứng cho những ý kiến của mình về những từ, chươngcủa Kinh Thư Trong đó, ông liệt thành một bảng lớn có sự đối chiếu giữa bản chúcủa Chu Hy và những trích dẫn do Lê Quý Đôn lựa chọn để biên soạn Sau đó, rút

ra nhận xét một cách tổng quan và khái quát nhất về sự vận dụng Kinh Thi của LêQuý Đôn vào việc diễn, dịch Kinh Thư Nguyễn Mạnh Sơn nhận thấy, bằng phươngpháp thống kê và giản liệt, Lê Quý Đôn hầu như lấy trích dẫn nhiều nhất vào cácthiên Hồng Phạm, Hồng Hạc, chứng tỏ tầm giá trị của Kinh Thi trong mắt các họcgiả lớn từ xưa đến nay, từ cổ đại đến trung đại, từ Trung Quốc đến Việt Nam Tuynhiên, hướng tiếp cận của Nguyễn Mạnh Sơn chỉ thuần ở việc tập hợp, thống kê số

Trang 32

lượng những câu thơ trích từ Thi Kinh được Lê Quý Đôn áp dụng, ngoài ra, không

có bàn luận gì khác Vì thế, cũng có thể coi đây là một bài nghiên cứu trọng về tínhkhoa học, tỉ mỉ hơn

- Bước đầu tìm hiểu ảnh hưởng của Kinh Thi trong văn chương chữ Nôm Việt Nam (Đỗ Thị Bích Tuyển)

Đặc điểm tiếp cận: Đặt Kinh Thi dưới góc độ "điển tích", soi xét sự thâm nhập

của Kinh Thi vào các văn bản văn học Hán Nôm trong hướng diễn giải, bộc tỏ tâmtình theo hoàn cảnh và ý đồ của các tác giả, các thi nhân nổi tiếng thời Trung Đại.Nhấn mạnh đến sự phổ biến của những bài thơ trong Kinh Thi rải rác và nhan nhảntrong các tác phẩm văn học cổ điển, nêu bật lên giá trị của Kinh Thi trong việc phảnánh tâm tư, tình cảm của thi nhân trước thực tại Ngoài ra, tác giả nghiên cứu còntìm tòi được những đầu sách với nội dung bàn luận về Kinh Thi, dùng Kinh Thi nhưmột dẫn chứng điển hình cho các luận điểm của các nhà văn, các nhà lý luận phêbình sơ khởi thuở trước, trong bài nghiên cứu chép rằng: "Các tác giả sử dụng KinhThi cho mục đích biên soạn của mình như trong Kiến Văn Tiểu Lục 見聞小錄, LêQuý Đôn soạn băn 1777 nội dung ghi chép về chính trụ, giáo hóa, phẩm hạnh, lễnghi, quan chế trong đó có những đoạn văn về Tứ Thư và Ngũ Kinh (trong đó cóKinh Thi) Học giả Nhàn Văn Đình Trần Duy Vôn khi biên soạn sách Đế VươngBảo Giám 帝王寶監 dâng vua có trích dẫn Kinh Thi làm tài liệu để bàn luận "Không những vậy, Nhà nghiên cứu Bích Tuyển còn tìm thấy những đầu sách diễnNôm lại những bài thơ về Kinh Thi trong quá trình tiếp cận Kinh Thi tại Việt Namnhư "Thi kinh chính văn truyền chú diễn âm" 詩經正文傳注演音, ký hiệu AB.169,diễn theo thể thơ lục bát và song thất lục bát, "Thi kinh giải âm" 詩經解音, in nămQuang Trung 5 (1792), ký hiệu AB.144/1-5, dịch và chú thích toàn bộ KinhThi bằng chữ Nôm, "Thi kinh Thư kinh quốc ngữ ca" 詩經書經國語歌, ký hiệuAB.523

- Độc giả kinh thi tại Việt Nam (Qua lịch sử tiếp nhận Kinh Thi tại Việt Nam thời trung đại) (Phạm Ánh Sao).

Trang 33

Đặc điểm tiếp cận: Tiếp cận Kinh Thi dưới góc độ tiếp nhận văn học, thể

hiện bằng mối quan hệ giữa tác phẩm và người đọc Người đọc ở đây được nhắcđến là người đọc Kinh Thi trung và hiện đại Nhà nghiên cứu Phạm Ánh Sao đã đặt

ra những nghi vấn mang tính gợi mở để người tiếp cận có cái nhìn hình dung vàmường tượng về quá trình tiếp nhận Kinh Thi từ cổ chí kim, từ khi còn trọng thịVăn học dân gian đến khi Văn chương bác học xuất thế Không những vậy, còn tiếpcận bằng cách nhận diện tâm lý cũng như lối hành văn, hành đạo thông qua KinhThi để nhận thức sâu sắc sự thẩm thấu qua nhiều đời của Kinh Thi với người ViệtNam Phân tách độc giả thành hai kiểu loại: Dịch giả và Tác giả nhằm thâu tóm rõràng hơn, đặc trưng hơn tính cách sáng tác lấy Kinh Thi làm điểm nhìn, cho rằng:

"Chính quá trình ảnh hưởng và tiếp nhận Kinh Thi sâu rộng đó đã tạo nên lịch sửtiếp nhận Kinh Thi đầy đặn và hình thành nên đội ngũ độc giả có quy mô khá lớn vàkiểu loại đa dạng" Ngoài ra, Ánh Sao còn chỉ ra, so sánh một cách biện bạch nhữngđặc điểm giống và khác nhau trong cách khai thác Kinh Thi giữa độc giả Việt Nam

và Chu Hi cùng những người am hiểu Kinh Thi tại Trung Hoa Bài viết này nghiêncứu dưới góc độ thi học và đối chiếu

- Kinh Thi – Tập thơ cổ nhất, làn gió ảnh hưởng sâu đậm tới nghệ thuật thơ ca Việt Nam (Tịnh Tâm - Hà Phương).

Đặc điểm tiếp cận: Ở bài viết này các tác giả Tịnh Tâm và Hà Phương sử

dụng và phân tích Kinh Thi qua nhiều góc độ, đi từ lịch sử đến nội dung, từ nộidung đến nghệ thuật, từ nghệ thuật tới những ảnh hưởng, trong đó là ảnh hưởng tới

âm nhạc Trung Hoa và ảnh hưởng tới văn chương Việt Nam Trong quá trình phântích, các tác giả không chỉ đưa ra những dẫn chứng, những cảm nhận riêng tây màcòn đưa ra những nhận định giá trị đặt Kinh Thi ở nhiều vai trò khác nhau để soi xét,luận bàn Qua bài viết, người đọc có thể nhận thấy được, không chỉ giá trị của KinhThi mà còn nhận chân được tầm vóc của nó, đứng trên nhiều bình diện mà nói, tácgiả bài viết nhận thấy để hiểu Kinh Thi, không phải chỉ có thể đọc một cách qua loađại khái mà thấu triệt được, người đọc khi tiếp cận Kinh thi phải có tầm văn hóahiểu biết nhất định mới đủ sức thu nhận tinh hoa mà Kinh thi truyền tải Tuy nhiên,các tác giả bài viết chỉ dựa trên các bài nghiên cứu có sẵn trong nước để triển khai

Trang 34

thêm ý kiến, chưa thực sự tiếp cận sâu vào cách nghĩ của Trung Hoa - nơi đã dungdưỡng sức trường tồn của Kinh Thi Và vì thế, dù đã rất cố gắng, bài viết vẫn bị hạnchế ở một tầm hiểu biết nhất định trong nước.

- Kinh Thi trong đời sống và tư tưởng Trung Hoa (Martin Kern)

Đặc điểm tiếp cận: Tác giả bài viết đã tiếp cận Kinh thi dưới góc độ lịch

sử lịch đại, quán chiếu sự ảnh hưởng của Kinh thi dưới các mối quan hệ đời sống,chính trị và xã hội hầu đưa ra những kết luận về tầm vóc của Kinh thi với con người

ở Trung Hoa Từ cách phân tích Kinh thi trong giáo dục, chính trị, giáo huấn nhânquần đến cách Kinh thi len lỏi vào tâm hồn của các tầng lớp bình dân, tác giả đãtừng lớp bóc tách các giá trị của Kinh thi một cách đa tầng, nhiều chiều Dưới gócnhìn của một người nước ngoài, tác giả còn đặt Kinh thi trong sự đối sánh với

trường ca Homer: "Giống như các trường ca của Homer trong thế giới phương Tây,

Kinh Thi có tầm ảnh hưởng vươn ra rộng khắp chứ không chỉ trong khuôn khổ văn thơ, và có tác động vô cùng to lớn, dài lâu lên nền văn minh Trung Hoa." Không

chỉ thế, tác giả còn dẫn chứng Phong trào Ngũ Tứ như một chứng nhân của thời đại

để thấy được giá trị và tầm phổ quảng của Phong trong Kinh thi Tuy nhiên, tác giảvẫn chưa tiếp cận Kinh thi từ nơi nó được sinh ra và dung dưỡng, vẫn còn có mộttầm tri kiến nhất định

Tiểu kết Chương 1

Hiện tại ở Việt Nam có rất nhiều bài nghiên cứu khai phá những đặc trưng vốn

dĩ của Kinh Thi, tuy nhiên tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu không khai thác từngtác phẩm thơ riêng biệt mà nghiên cứu một cách khái quát toàn bộ những đặc trưngcăn bản có trong Kinh Thi từ đó khai thác thành nhiều khía cạnh đặt trong mối quan

hệ so sánh, dối sánh với văn chương bác học và văn học bình dân ở Việt Nam, lạinghiên cứu những ảnh hưởng qua lại giữa Kinh Thi với ngữ liệu văn điển Việt Namnhằm làm rõ mối quan hệ giữa hai nước dựa trên tương giao văn hóa văn học Thếnhưng, tôi nhận thấy một điểm khá quan trọng, rằng các bài nghiên cứu hầu nhưchưa đặt mình vào trong thế đối sánh với những bài nghiên cứu bên Trung Hoa, vẫnchưa có những điểm rạch ròi trong cái nhìn giữa ta và Trung Hoa trong khi đó khi

Trang 35

nghiên cứu về Kinh Thi, các nhà nghiên cứu Việt Nam hầu như chỉ dựa vào chủ đề

mà triển khai, chưa thực sự để ý đến cách nghĩ của người bản địa nơi mà Kinh Thisản sinh Vì thế, các bài nghiên cứu ở Việt Nam vẫn chỉ mang tính phiến diện, độcsuy chưa bao quát rõ, và do đó, để nghiên cứu Kinh Thi một cách tổng quát hơn, đòihỏi người nghiên cứu phải nắm rõ những bản nghiên cứu từ bản địa, để từ đó, rút racái nhìn bao quát hơn trong việc luận suy vấn đề tồn hữu trong Kinh Thi

Trang 36

CHƯƠNG 2 - GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ BỘ SÁCH “THI KINH - TINH

CHÚ GIẢN TÍCH, VĂN BẠCH ĐỐI CHIẾU”

2.1 Quá trình hình thành sách “Thi kinh - Tinh chú giản tích, văn bạch đối chiếu”

Bộ sách này được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1990 với tên Thi Kinh giám

thưởng từ điển sau đó được tái bản, hiệu đính và xuất bản lần 2 vào năm 2003-2004.

Cuốn sách là tập hợp các bài nghiên cứu của những tác giả khác nhau về những bàithơ có trong Kinh Thi Không giống như những bài nghiên cứu, những cuốn sáchnghiên cứu về Kinh Thi khác, cuốn sách là lời phân trần căn nguyên, là lời luận bàncủa nhiều tác giả và được trình bày dưới mỗi bài thơ Ý nói mỗi bài thơ sẽ do mộttác giả ưu tú đảm nhận công việc bàn luận, phân tích các giá trị tồn hữu đằng saumỗi bài thơ đó Lại nói mỗi bài thơ tuy chứa đựng nhiều yếu tố đặc trưng thế nhưnglại chất chứa nhiều giá trị mà một người nghiên cứu không thể kham hết tất cảnhững ý vị ẩn tàng sâu trong đó và vì thế, có những bài thơ có hai nhà nghiên cứuhợp tác cũng có những tác giả hợp tác với nhau để nghiên cứu về bài thơ đó, phảinói đến hai nhà nghiên cứu Kim Khởi Hoa và Kim Tiểu Bình là hai người đã cócông hợp soạn làm nên nhiều bài nghiên cứu giá trị bàn về những áng thơ có trongKinh Thi Qua đó, người đọc có thể tìm hiểu một cách cặn kẽ cũng như có đượcnguồn tư liệu vô cùng quý giá góp phần vào việc khai phá những khía cạnh ẩn tàng,khuất lấp trong Kinh Thi Cuốn sách chứa đựng nhiều giá trị, không chỉ trong nước

mà ở ngay cả nước ngoài, do đó việc tái bản cuốn sách, theo nhã ý của nhà xuất bản,không chỉ hướng tới những người ưa nghiên cứu mà còn hướng tới những bạn thanhthiếu niên hiện còn đang mơ hồ về tinh hoa của dân tộc và nhân loại

Cái nhìn mang tính gợi mở, cách lập luận logic, lời văn sắc bén, trau chuốt,mỗi lời là một câu danh ngôn tinh tế, cả cuốn sách đã mở ra cho người đọc nhiềuhướng tiếp cận khác nhau, có khi đồng tình, cũng có khi phản đối, song nhờ vàocuốn sách Thi Kinh – Tinh chú giản biên, văn bạch đối chiếu, người đọc có thể cóthêm nhiều tri kiến mới lạ, có thêm nhiều cách nhìn nhận độc đáo cũng như có thêm

Trang 37

nhiều lối tư duy mới mẻ hầu phục vụ không chỉ cho con đường nghiên cứu sau này

mà còn phục vụ cho con đường đạo đức, giao tiếp nhân sinh hằng ngày Và vìnhững thiển ý ấy mà nhà xuất bản đã cho tái bản cuốn sách Thi Kinh này, bổ sung

ví như thêm vào bài viết của nhà nghiên cứu Trình Côn Lôn để mở mang thêmnhiều cái nhìn hơn về Kinh Thi, cũng như sửa sang, đưa ra những luận điểm mới mẻhơn trong việc nghiên cứu, tìm hiểu, khai phá và mở rộng Kinh Thi

2.2 Giới thiệu các soạn giả

2.2.1 Các đồng chủ biên

Có 3 tác giả chính chủ biên công trình nghiên cứu về Kinh Thi này, gồm:

-Kim Khải Hoa (金启华) (1919 - 2011) là người vùng Lai An, tỉnh An Huy,

Trung Quốc Năm 1947, ông tốt nghiệp trường Đại học Trung Ương Trung Quốc,đạt học vị Thạc sĩ Văn học tại trường này Đảm nhiệm học hàm Giáo sư của cáctrường đại học lớn ở Trung Quốc như Đại học Trung Ương Trung Quốc, Đại học

Sư phạm Sơn Đông, Đại học Sư Phạm Nam Kinh; Cố vấn của Hội Văn học Thi từGiang Tô, Hội Nghiên cứu Đỗ Phủ Trung Quốc, Hội Văn học thời Đường TrungQuốc; Ủy viên ban Trung văn của cục Khảo thí Giáo giục Cao đẳng, Đại học toànQuốc; Ủy viên Hội Liên hiệp Văn học tỉnh Giang Tô; đại diện danh sự cho Tổnghội Hán Thi toàn cầu; từng đảm nhiệm Giám khảo của rất nhiều các cuộc thi về vănthơ lớn ở Trung Quốc Nguyên Giáo sư Văn học khoa Trung Văn của trường Đạihọc Sư phạm Nam Kinh

Hướng nghiên cứu của ông chủ yếu là công việc nghiên cứu khoa học và dạyhọc trong Văn học Cổ điển Trung Quốc

Các công trình nghiên cứu được in thành sách đã xuất bản: 国 风 今 译

(Quốc phong kim dịch ); 诗经全译(Thi Kinh toàn dịch); 杜甫论丛(Đỗ Phủluận tùng); 诗词论丛 (Thi từ luận tùng); 中国词史论纲 (Trung Quốc từ sử luậncương); 匡庐诗 (Khuông lư thi); 新编中国文学简史 (Tân biên Trung Quốc vănhọc giản sử), Đồng chủ biên gồm một số bộ: 中国文学史 (Trung Quốc văn họcsử); 全宋词典故考释辞典 (Toàn Tống từ điển cố khảo thích từ điển); 唐宋词籍序

Trang 38

跋汇编 (Đường Tống từ tịch tự bạt hối biên); 中国古代文学作品选 (Trung Quốc

cổ đại văn học tác phẩm tuyển); 诗经鉴赏辞典 (Thi Kinh giám thưởng từ điển), Ngoài ra còn đồng tác giả với rất nhiều công trình nghiên cứu về Văn học Cổ điểnTrung Quốc khác, đồng thời cũng đã đăng báo, phát biểu rất nhiều các bài nghiêncứu trên các tạp chí Văn học uy tín trong và ngoài nước

-Chu Nhất Thanh (朱一清) (1931 - 2018), nguyên quán là người thành phố

Nghi Hưng, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc Năm 1960 tốt nghiệp khoa Trung văntrường Đại học Bắc Kinh, sau đó làm việc và nghiên cứu tái Sở Nghiên cứu Vănhọc của Viện Khoa học Trung Quốc Năm 1961 bắt đầu tham gia giảng dạy tại khoaVăn học trường Đại học An Huy Từ năm 1962-1964 là nghiên cứu sinh của khoaTrung văn trường Đại học Sơn Đông Năm 1973 quay về giảng dạy lại tại TrườngĐại học An Huy, đến năm 1986 được phong học hàm Phó Giáo sư, 1987 thì trởthành trưởng khoa Trung Văn trường Đại học An Huy Đến năm 1991 được phonghọc hàm Giáo sư Nguyên là Đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc, nguyên Giáo

sư khoa Văn học trường Đại học An Huy Hướng nghiên cứu của ông là về Văn học

Cổ đại Trung Quốc

Rất nhiều các công trình nghiên cứu đã được in, phát biểu trên tạp chí, báođài, diễn đàn Văn học uy tín trong và ngoài nước Trong đó nổi bật như: 古文观止鉴赏集评(Cổ văn quan chỉ giám thưởng tập bình - Chủ biên); 诗经注评 (Thi Kinhchú bình); 天下才子必读书校注 (Thiên hạ tài tử tất độc thư hiệu uông – Đồng tácgiả); 阅微草堂笔记选注 (Duyệt vi thảo thường bút kí tuyển chú ); 诗经鉴赏辞典(Thi Kinh giám thưởng từ điển – Đồng tác giả),

- Trình Tự Tín (程自信): Sinh tháng 9 năm 1938, người huyện Hấp, tỉnh

An Huy, Trung Quốc, giáo sư khoa Trung văn trường Đại học An Huy, hướng dẫnnghiên cứu sinh, thạc sĩ, tiến sĩ chuyên đề Văn học Đường - Tống Năm 1960, tốtnghiệp khoa Trung văn, của trường Đại học Hạ Môn Năm 1964, tốt nghiệp nghiêncứu sinh khoa Trung văn, trường Đại học Phúc Đáng, Thượng Hải Từng đảm nhận

Trang 39

dạy ở khoa Trung văn, trường Đại học Sư phạm Hoa Nam và trường đại học KýNam, Quảng Châu Hiện nay là giáo sư khoa Trung văn của trường Đại học An Huy.

Hướng nghiên cứu của ông chủ yếu về văn học cổ đại và văn học thời Đường

- Tống Các tác phẩm đã xuất bản: “Kinh Thánh Thán tuyển phê tài tử tất độc tânchú” (Hiệu đính và chú thích, Nxb Văn nghệ An Huy, 1988), “Trung Quốc cổ đạivăn luận loại biên” (Chủ biên, Nxb Văn nghệ Hải Hiệp, 1988), “Ngô Tam Quế,Trần Viên Viên truyền kỳ” (Hiệu đính và chấm câu, Nxb Văn nghệ An Huy, 1990),

“Thi Kinh giám thưởng từ điển” (Đồng chủ biên, Nxb Văn nghệ An Huy, 1990),

“Tống từ tinh hoa phân loại phẩm hối” (Chủ biên, Nxb Thanh niên Trung Quốc,1994), “Tống từ bách khoa từ điển” (Chủ biên, Nxb Giáo dục An Huy, 1990), “Cổđại văn học đạo độc tòng thư - Tống từ tam bách thủ, Đường Ngũ đại từ” (Độctuyển, Nxb Hoàng Sơn, 1997-1998) và cùng với rất nhiều các bài phát biểu, luậnvăn khác đã được công bố

Đây là ba nhà nghiên cứu lỗi lạc của giới nghiên cứu và phê bình Trung Hoa,

từ những tác phẩm đã xuất bản đến những bài nghiên cứu đã được đưa lên báo vàtạp chí, ta có thể thấy được sự tài hoa, thông minh bác lãm của họ, đồng thời thấyđược những công lao to lớn mà các nhà nghiên cứu trên đã dày công tích góp chonền văn học trong nước cũng như thế giới Ngoài ra, còn có một nhà nghiên cứu cóđóng góp nhiều nhất cho bộ sách này phải kể đến là Kỷ Tác Lượng:

Kỷ Tác Lượng là hội viên hội nhà văn Trung Quốc, đảng viên Đảng Cộng

sản Trung Quốc, là người huyện Hòa, tỉnh An Huy, Trung Quốc, là giáo sư khoaTrung văn trường Đại học An Huy, hướng nghiên cứu chủ yếu của ông là Văn học

cổ đại Trung Quốc và Văn học Đường - Tống, ông là nhà nghiên cứu nổi tiếngtrong và ngoài nước Các công trình nghiên cứu đã được xuất bản: “Trương tịchnghiên cứu, Đường Tống Văn danh thiên thưởng tích”, “Đường Ngũ đại từ thưởngtích”, “Trung ngoại danh thiên tuyển độc”, “Thi Kinh danh thiên chú giải” vànhiều các bài nghiên cứu đã được phát biểu trong và ngoài nước được giới học thuậtđánh giá cao

Trang 40

Bộ sách nghiên cứu về Kinh Thi này của ba tác giả trên và những tác giảđồng biên soạn nói chung, theo tôi, không chỉ mang tính học thuật mà còn mangtầm vĩ mô, kinh điển, đưa người đọc đến gần hơn với Kinh Thi cũng như đưa họđến gần hơn với văn học văn hóa phương Đông trên đà tiếp biến ra với thế giớingoại biên nhiều biến động và phức tạp.

2.2.2 Tập thể tham gia biên soạn

Để làm nên thành công của bộ tài liệu nghiên cứu về Kinh Thi này, phải kểđến những tác giả được kể đến dưới đây: ( Lấy số nét bút trong họ để làm thứ tự):

Ngày đăng: 30/06/2023, 08:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh được chụp từ sách Thi Kịnh - Tinh chú giản tích, văn bạch đối chiếu - Hướng tiếp cận kinh thi hiện nay qua bộ sách kinh thi   tinh chú giản tích, văn bạch đối chiếu do kim khải hoa, chu nhất thanh, trình tự tín chủ biên khóa luận tốt nghiệp
nh ảnh được chụp từ sách Thi Kịnh - Tinh chú giản tích, văn bạch đối chiếu (Trang 42)
Hình ảnh được chụp từ sách Thi Kịnh - Tinh chú giản tích, văn bạch đối chiếu - Hướng tiếp cận kinh thi hiện nay qua bộ sách kinh thi   tinh chú giản tích, văn bạch đối chiếu do kim khải hoa, chu nhất thanh, trình tự tín chủ biên khóa luận tốt nghiệp
nh ảnh được chụp từ sách Thi Kịnh - Tinh chú giản tích, văn bạch đối chiếu (Trang 46)
Hình ảnh được chụp từ sách Thi Kịnh - Tinh chú giản tích, văn bạch đối chiếu - Hướng tiếp cận kinh thi hiện nay qua bộ sách kinh thi   tinh chú giản tích, văn bạch đối chiếu do kim khải hoa, chu nhất thanh, trình tự tín chủ biên khóa luận tốt nghiệp
nh ảnh được chụp từ sách Thi Kịnh - Tinh chú giản tích, văn bạch đối chiếu (Trang 48)
BẢNG THỐNG KÊ SỐ LIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM PHÊ BÌNH - NHẬN - Hướng tiếp cận kinh thi hiện nay qua bộ sách kinh thi   tinh chú giản tích, văn bạch đối chiếu do kim khải hoa, chu nhất thanh, trình tự tín chủ biên khóa luận tốt nghiệp
BẢNG THỐNG KÊ SỐ LIỆU TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM PHÊ BÌNH - NHẬN (Trang 60)
BẢNG MÔ TẢ SỐ LIỆU CÁC TÁC PHẨM CỦA MỖI TÁC GIẢ VÀ NHỮNG - Hướng tiếp cận kinh thi hiện nay qua bộ sách kinh thi   tinh chú giản tích, văn bạch đối chiếu do kim khải hoa, chu nhất thanh, trình tự tín chủ biên khóa luận tốt nghiệp
BẢNG MÔ TẢ SỐ LIỆU CÁC TÁC PHẨM CỦA MỖI TÁC GIẢ VÀ NHỮNG (Trang 68)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w