Với mong muốn hiểu rõ hơn về kịch bản phim điện ảnh Việt Nam trong những năm gần đây, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ lời thoại nhân vật trong kịch bản phim điện ảnh Vi
Trang 1Đoàn Thị Thanh Tiền
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ LỜI THOẠI NHÂN VẬT
(trên cứ liệu khảo sát một số kịch bản phim
đã công chiếu trong 5 năm gần đây)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀN NGÔN NGỮ HỌC
Hệ đào tạo: CNTN Khóa học: 2014 - 2018
TP HỒ CHÍ MINH, 2018
Trang 2-
ĐOÀN THỊ THANH TIỀN
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ LỜI THOẠI NHÂN VẬT
TRONG KỊCH BẢN PHIM ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM
(trên cứ liệu khảo sát một số kịch bản phim
đã công chiếu trong 5 năm gần đây)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC
Hệ đào tạo: CNTN Khóa học: 2014 - 2018 NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS HUỲNH THỊ HỒNG HẠNH
TP HỒ CHÍ MINH, 2018
Trang 3học đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện Khóa luận
này
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS Huỳnh Thị Hồng Hạnh người đã
tận tình chỉ dẫn và góp những ý kiến quý báu cho tôi từ lúc chọn đề tài cho
đến khi hoàn thành Khóa luận
Bên cạnh đó, tôi xin trân trọng cảm ơn Thư viện Trường Đại học Khoa
học xã hội và nhân văn và Trường Sân khấu Điện ảnh (TPHCM) đã tạo điều
kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thu thập tài liệu
Xin trân trọng cảm ơn quý Thầy cô, cùng bạn bè đã khuyến khích và
nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện Khóa luận
Khóa luận này sẽ không thể tránh khỏi những sai sót, vì vậy rất mong
nhận được sự góp ý của quý Thầy cô để Khóa luận có thể hoàn thiện hơn
Trân trọng
TP Hồ Chí Minh, ngày 9 tháng 6 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Đoàn Thị Thanh Tiền
Trang 4kết quả trong luận án này đều đảm bảo trung thực và chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 9 tháng 6 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Đoàn Thị Thanh Tiền
Trang 6Bảng 3.1: Thống kê tần số xuất hiện của lớp từ khẩu ngữ 62 Bảng 3.2: Thống kê từ địa phương trong ba kịch bản 64 Bảng 3.3: Thống kê lớp từ thông tục 72 Bảng 3.4: Thống kê số lượng từ Hán Việt 74
Trang 71 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Dự kiến đóng góp 4
7 Bố cục của khóa luận 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 6
1.1 Vài nét về lời thoại trong KB phim và ngữ liệu khảo sát 6
1.1.1 Lời thoại trong KB phim 6
1.1.1.1 Khái niệm 6
1.1.1.2 Phân loại 7
1.1.1.3 Đặc điểm và vai trò của lời thoại nhân vật trong KB phim 9
1.1.2 Về ngữ liệu khảo sát (3 KB) 10
1.1.2.1 Trúng số 10
1.1.2.2 Sài Gòn, anh yêu em! 11
1.1.2.3 Mẹ chồng 12
1.2 Một số thuật ngữ ngôn ngữ học hữu quan 12
1.2.1 Lí thuyết về phân tích diễn ngôn hội thoại 12
1.2.1.1 Khái niệm 12
1.2.1.2 Phân tích diễn ngôn 15
1.2.2 Cấu trúc hội thoại 16
1.2.2.1 Lượt lời 17
1.2.2.2 Mở thoại 17
1.2.2.3 Cặp thoại 17
1.2.2.4 Sự liên kết các phát ngôn 18
Trang 81.2.3.2 Quan hệ vị thế 19
1.2.3.3 Nguyên lí lịch sự 20
1.2.4 Các lớp từ vựng 22
1.2.4.1 Khẩu ngữ 22
1.1.1.1 Từ thông tục 23
1.1.1.2 Lớp từ địa phương 23
1.1.1.3 Thành ngữ 24
1.1.1.4 Từ Hán Việt 25
1.1.1.5 Từ vay mượn gốc Ấn – Âu 25
1.1.2 Một số thuật ngữ cú pháp 25
1.1.2.1 Câu đơn 25
1.1.2.2 Câu ghép 27
1.1.2.3 Tiểu từ tình thái 27
Tiểu kết 28
CHƯƠNG 2: QUAN HỆ LIÊN NHÂN TRONG LỜI THOẠI NHÂN VẬT TRONG KBĐAVN 29
2.1 Yếu tố thể diện trong lời thoại nhân vật 30
2.2 Các chiến lược giao tiếp lịch sự trong lời thoại nhân vật 38
2.2.1 Bày tỏ tình hình bi quan 38
2.2.2 Hành động ngôn từ gián tiếp 41
2.2.3 Tỏ ra kính trọng người nghe 47
2.2.4 An ủi, động viên 48
2.3 Đe dọa thể diện như một chiến lược giao tiếp 49
2.4 Vai trò định hình nhân vật của quan hệ liên nhân 53
2.5 Vai trò thúc đẩy kịch tính phim của quan hệ liên nhân 58
Tiểu kết 60
Trang 93.1 Đặc điểm từ vựng của lời thoại 62
3.1.1 Các lớp từ vựng sử dụng trong lời thoại 62
3.1.1.1 Lớp từ khẩu ngữ 62
3.1.1.2 Lớp từ địa phương 64
3.1.1.3 Ngữ cố định 69
3.1.1.4 Lớp từ thông tục 71
3.1.1.5 Lớp từ vay mượn 73
3.1.1.5.1 Từ Hán Việt 74
3.1.1.5.2 Từ gốc Ấn – Âu 77
3.2 Đặc điểm cú pháp của lời thoại 79
3.2.1 Các kiểu câu được sử dụng trong lời thoại 80
3.2.2 Một số yếu tố cấu tạo biểu thức đặc thù trong lời thoại 85
3.2.2.1 Tiểu từ tình thái 86
3.2.2.2 Tình thái ngữ 88
Tiểu kết 90
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 1
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, Điện ảnh là một trong những nền công nghiệp mũi nhọn của rất nhiều nước trên thế giới đặc biệt là Mĩ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ,…Hòa cùng với xu thế phát triển chung của điện ảnh thế giới, điện ảnh Việt Nam trong những năm gần đây cũng có nhiều khởi sắc và đang trên đà phát triển mạnh mẽ Công nghiệp điện ảnh được ví như “cổ máy cái” trong xây dựng công nghiệp văn hóa Việt Nam hiện nay Thị trường điện ảnh Việt Nam đang lớn dần và có nhiều bước tiến vượt trội về cả số lượng và chất lượng Rất nhiều phim được đánh giá cao tại các Liên hoan phim quốc gia, quốc tế và không ít tác phẩm đã phá kỉ lục phòng vé vượt qua nhiều bom tấn nước ngoài có danh tiếng Sự phát triển của điện ảnh không chỉ là động lực thúc đẩy nền kinh tế đất nước mà còn góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam bởi điện ảnh là sự tổng hợp của nghệ thuật và công nghiệp mang tính văn hóa cao Thị trường điện ảnh Việt Nam hiện nay đang tồn tại hai dòng phim, một là phim remake, là loại phim làm từ kịch bản nước ngoài đã qua quá trình Việt hóa, hai là dòng phim do biên kịch Việt Nam viết, được gọi là phim thuần Việt Dòng phim remake đang trở thành xu thế và được đông đảo các nhà làm phim lựa chọn Đặc biệt từ năm 2016 đến nay, dòng phim remakengày càng
chiếm thế thượng phong so với phim thuần Việt, có thể kể đến như: Yêu, Em là
bà nội của anh, Sắc đẹp ngàn cân, Bạn gái tôi là sếp, Ngày mai Mai cưới, Yêu
đi đừng sợ, Tháng năm rực rỡ, Mối tình đầu của tôi, Yêu bất chấp,… Việc
phim remake chiếm ưu thế trên thị trường điện ảnh Việt Nam đã phản ánh một thực tế đáng buồn của điện ảnh Việt Nam trên địa hạt Kịch bản – điện ảnh Việt Nam đang thiếu kịch bản hay, nhưng đồng thời cũng chứng tỏ các nhà làm phim thật sự rất coi trọng vai trò của kịch bản
Sự bùng nổ của phim remake tuy đã tạo một luồng sinh khí mới cho điện ảnh Việt Nam trong những năm gần đây, và gây ra nhiều hiệu ứng đáng kể, nhưng thị trường điện ảnh Việt Nam vẫn có rất nhiều kịch bản thuần Việt vừa
Trang 11thu hút đông đảo khán giả vừa được đánh giá cao ở các Liên hoan phim danh
giá trong nước và quốc tế Có thể kể đến như: Những đứa con của làng; Cô Ba
Sài Gòn; Em chưa 18; Dạ cổ hoài lang; Trúng số; Sài Gòn, Anh yêu em…
Trước làn sóng áp đảo của phim remake, phim thuần Việt trong những năm gần đây đã có nhiều đổi mới đáng kể để có thể vừa đáp ứng nhu cầu thị hiếu ngày càng nâng cao và không ngừng thay đổi của khán giả vừa đảm bảo tính văn hóa
- nghệ thuật
Với mong muốn hiểu rõ hơn về kịch bản phim điện ảnh Việt Nam trong những năm gần đây, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ lời
thoại nhân vật trong kịch bản phim điện ảnh Việt Nam (trên cứ liệu khảo sát
một số kịch bản phim đã công chiếu trong 5 năm gần đây) làm đối tượng nghiên cứu Nếu như kịch bản là yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành bại của một bộ phim, là cơ sở, nền tảng của việc sản xuất và hình thành một tác phẩm, thì lời thoại nhân vật là một yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của một kịch bản phim nói riêng và bộ phim nói chung Vì vậy, lời thoại luôn
là một trong những phương diện mà biên kịch cũng như các nhà làm phim đặc biệt chú trọng, dành nhiều tâm huyết Tuy nhiên, từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về kịch bản, nhưng chưa có công trình nào thật sự
đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu về lời thoại của nhân vật trong kịch bản, nếu có cũng chỉ là những ý kiến sơ lược Nghiên cứu lời thoại của nhân vật trong kịch bản, qua đó phần nào có thể hiểu rõ hơn về kịch bản nói riêng và bộ phim nói chung
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tìm hiểu về tình hình nghiên cứu lời thoại nhân vật trong kịch bản điện ảnh trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu lời thoại còn khá nhiều hạn chế và chưa có công trình nào dành riêng, đi sâu tìm hiểu về lời thoại nhân vật nói chung và đặc điểm sử dụng ngôn ngữ lời thoại nói riêng Lời thoại chỉ được đề cập sơ lược trong các công trình nghiên cứu kịch bản và hầu hết đều mang tính chuyên môn, tức là chủ yếu phục
vụ cho công tác dạy nghề, làm nghề Chẳng hạn một số công trình:
Trang 12Thế giới: “Nghệ thuật viết kịch bản điện ảnh” (1996) của John W Bloch William Fadiman & Lois Peyser, “Để viết một kịch bản điện ảnh” (2001) của
Michel Chion,“Kim chỉ nan giải quyết các vấn đề khó cho biên kịch điện ảnh”
(2005) của Syd Field, Cách viết kịch bản phim ngắn” (2006) của Jean- Marc RUDNICK,…
Việt Nam: Viết kịch bản phim truyện (2006) của Lê Ngọc Minh, Văn học nghệ thật truyền thống với phim truyện Việt Nam (2007) của Phân Bích Hà,
“Hướng dẫn viết kịch bản phim” (2013) của Đoàn Minh Tuấn, Từ tác phẩm văn học đến tác phẩm điện ảnh” (2014) của Phan Bích Thủy,…
Chính vì thế, trong Khóa luận này chúng tôi hi vọng bước đầu tìm hiểu thêm về đặc điểm ngôn ngữ lời thoại nhân vật nói riêng và góp phần làm sáng
rõ một phương diện nào đó trong quá trình nghiên cứu lời thoại nhân vật trong KBĐAVN nói chung
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của chúng tôi trong Khóa luận này là:
Thứ nhất, nhằm nghiên cứu, tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ được sử dụng trong xây dựng lời thoại nhân vật trong KBĐAVN, những năm gần đây
Thứ hai, nhằm tìm hiểu vai trò của lời thoại trong KB
Thứ ba, qua việc khảo sát nghiên cứu này chúng tôi mong muốn mang lại một cái nhìn rõ hơn, sâu hơn về lời thoại nhân vật trong KB nói riêng, trong điện ảnh nói chung
Bên cạnh đó, trong Khóa luận này chúng tôi sẽ sử dụng lý thuyết phân tích diễn ngôn để phục vụ cho quá trình khảo sát nghiên cứu, vì thế chúng tôi mong muốn có thể góp phần làm rõ hơn một số vấn đề liên quan đến hội thoại trong phân tích lời thoại nhân vật trong KBĐA
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Khóa luận này là đặc điểm ngôn ngữ trong lời thoại nhân vật trong KBĐAVN trên cứ liệu khảo sát các KB phim đã công chiếu trong 5 năm gần đây Cụ thể, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát và phân tích
Trang 13từ vựng, ngữ nghĩa, phong cách, cú pháp và ngữ dụng của các lời thoại từ góc nhìn phân tích diễn ngôn
Phạm vi nghiên cứu: Trong Khóa luận này chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát đặc điểm ngôn ngữ trong lời thoại nhân vật của 3 KB phim đã công chiếu trong
5 năm gần đây: Trúng số (2015) của Nguyễn Mạnh Tuấn; Sài Gòn, Anh yêu em (2016) của Ngọc Bích; và Mẹ chồng (2017) của Ngọc Bích – Kim
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện Khóa luận này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp miêu tả: Từ ngữ liệu đã thống kê, chúng tôi tiến hành phân tích, miêu tả một cách chi tiết các yếu tố ngôn ngữ để làm rõ đặc điểm ngôn ngữ lời thoại nhân vật trong KB, từ đó đi đến nhận xét, đánh giá những vấn đề liên quan đến lời thoại
Phương pháp phân tích diễn ngôn: dùng để phân tích các ngữ liệu lời thoại trong mối quan hệ của chúng với hoàn cảnh giao tiếp, qua đó có cái nhìn rõ hơn
về giá trị của lời thoại nhân vật trong mỗi tình huống cụ thể
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng thủ pháp thống kê: nhằm thống kê các đơn vị ngôn ngữ thể hiện các đặc trưng ngôn ngữ của lời thoại nhân vật trong các KB nói trên, từ đó đi đến phân loại các lớp đơn vị ngôn ngữ theo giới thuyết đã chọn
6 Dự kiến đóng góp
Về mặt lí luận: Qua việc khảo sát đặc điểm ngôn ngữ lời thoại nhân vật trong một số KB phim điện ảnh Việt Nam, Khóa luận tìm hiểu về các lớp từ ngữ nổi bật, các đặc điểm phong cách học, ngữ pháp và ngữ dụng học dưới góc nhìn phân tích diễn ngôn Từ đó, chúng tôi mong muốn góp phần làm sáng rõ thêm một số vấn đề lí thuyết liên quan đến ngôn ngữ lời thoại nhân vật trong
KB nói riêng và ngôn ngữ diễn ngôn hội thoại nói chung
Về mặt thực tiễn: Những KB phim chúng tôi khảo sát trên đây, đều là những KB được đánh giá khá cao và thu hút đông đảo khán giả trong 5 năm trở lại đây Trong bối cảnh điện ảnh Việt Nam đang thịnh hành dòng phim remake
Trang 14như ngày nay, chúng tôi hi vọng kết quả nghiên cứu của Khóa luận này có thể góp phần làm hiểu rõ hơn về ngôn ngữ lời thoại trong các KB được khảo sát nói riêng và KB điện ảnh thuần Việt trong những năm gần đây nói chung Qua
đó, có thể giúp ích một phần nào đó cho công việc biên kịch
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và phần Phụ lục, Khóa luận gồm có ba phần:
Chương 1: Cở sở lí thuyết
Ở chương này chúng tôi sẽ trình bày một số vấn đề lí luận cơ bản liên quan đến đề tài như: lời thoại trong KB phim điện ảnh, giới thiệu về các KB cứ liệu, một số thuật ngữ ngôn ngữ học hữu quan: phân tích diễn ngôn, lý thuyết hội thoại, từ vựng, cú pháp,…Đây là những cơ sở cho việc nghiên cứu và hoàn thành
Chương 3: : Đặc điểm từ vựng, cú pháp của lời thoại trong KB phim truyện
điện ảnh Việt Nam
Chúng tôi tập trung vào phân tích miêu tả đặc điểm từ vựng, cú pháp của lời thoại nhân vật dựa trên lý thuyết ở chương 1 và cứ liệu khảo sát để từ đó rút
ra được đặc điểm cơ bản, đặc trưng của ngôn ngữ lời thoại nhân vật trong KB phim điện ảnh Việt Nam trong những năm gần đây
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1 Vài nét về lời thoại trong KB phim và ngữ liệu khảo sát
1.1.1 Lời thoại trong KB phim
1.1.1.1 Khái niệm
Một bộ phim thường có 2 phần: hình ảnh và lời thoại Theo số liệu thống
kê, hình ảnh chiếm 75%, âm thanh chiếm 25% và bao gồm cả nhạc nền, bản nhạc chính trong phim, các tiếng động và lời thoại [33] Như vậy, có thể thấy lời thoại chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong một bộ phim, tuy nhiên nó có vai trò nhất định và cần thiết đối với một bộ phim Ngay từ khi phim có tiếng mới ra đời, người ta đã bắt đầu trau chuốt, đầu tư vào lời thoại nhiều hơn, sự có mặt của lời thoại cùng với âm thanh khiến cho bộ phim trở nên hấp dẫn hơn, thu hút nhiều người xem hơn Và ngày nay, lời thoại dường như là yếu tố không thể thiếu trong các bộ phim hiện đại
Vậy lời thoại nhân vật là gì? Lời thoại nhân vật có vai trò như thế nào trong một bộ phim?
Có một số nhà nghiên cứu đã đưa ra định nghĩa của lời thoại nhân vật trong phim điện ảnh như sau:
“Lời thoại là phần thể hiện lời nói giữa các nhân vật với nhau Nó không
phải là văn viết, nhưng cũng không hẳn là văn nói đời thường nó chỉ tương đồng
về nội dung với văn nói đời thường Thoại tập trung vào vấn đề không huyên thuyên, dông dài như văn nói hàng ngày Thoại là văn nói đã được biên tập lại,
có sắp xếp và có chủ đích, cô đọng súc tích Tuy nhiên thoại vẫn giữ phong cách lời nói thực Thoại không nhất thiết phải thực tế nhưng nó phải thuyết phục”
[33]
Còn trong công trình “Văn học nghệ thuật truyền thống với phim truyện
Việt Nam” (2007), Phan Bích Hà đã khẳng định: “Lời thoại được sử dụng trong
kịch bản là ngôn ngữ như là nguyên liệu của nghệ thuật”[13]
Trang 16Đối với Nguyễn Thị Hoa, lời thoại nhân vật được nhận định như sau:
“Tiếng nói trong phim (Lời thoại nhân vật) là tất cả ngôn ngữ nói: độc thoại, đối thoại, tiếng nói ngoài hình, tiếng nói nội tâm, tiếng quần chúng, lời dẫn truyện…Thoại trong phim cũng giống như thoại trong sân khấu Đặc điểm khác biệt của phim truyện, thoại thường sử dụng đối thoại, những loại thoại khác thường ít sử dụng trong điện ảnh…Lời thoại trong phim giống như ngôn ngữ thường nhật.”[19]
Như vậy, từ những quan niệm trên, có thể thấy, hầu hết các nhà nghiên cứu đều thừa nhận rằng: lời thoại nhân vật là tiếng nói của nhân vật trong phim và là một dạng ngôn ngữ nói
Trong Khóa Luận này chúng tôi sẽ sử dụng thuật ngữ “lời thoại” để chỉ lời thoại nhân vật trong các KBĐAVN
1.1.1.2 Phân loại
Về phân loại lời thoại, hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất phân loại lời thoại trong phim thành ba loại: đối thoại, độc thoại và lời ngoài hình (lời dẫn của tác giả) Dưới đây chúng tôi xin trình bày quan điểm của Lê Ngọc Minh trong công trình “Viết kịch bản phim truyện” (2006) như sau:
Hoa: Chiều nay chị đã sửa lại cái nhà tắm ngoài vườn để
dùng tạm…nay mai bố về mà cả nhà chỉ có mỗi một buồng
tắm thì cũng bất tiện
Thúy: Sao chị không để anh Quang anh ấy làm ?
Hoa: Chị có nhờ nhưng anh ấy cứ ừ hữ rồi lại để đấy… Mà
hình như dạo này anh ấy cũng bận
Trang 17Thúy: Chắc lại suốt ngày ngồi quán bia đấy thôi Cứ nhìn
cái bụng anh ấy thì biết, nó to lên từng ngày…[48]
Đoạn đối thoại trên giữa hai nhân vật thể hiện rất rõ tính cách của hai nhân vật: Thúy mạnh mẽ, cương nghị, thẳng thắn; Hoa nhu mì, mềm mỏng, hiểu chuyện, biết lo toan Bên cạnh đó, chính từ cuộc đối thoại trên của hai nhân vật
đã dẫn đến hành động sau đó: “Hoa thoáng buồn, nhưng cô không nói gì” …
• Độc thoại
Độc thoại trong điện ảnh là lời nói của nhân vật nào đó hoặc với chính mình và đôi khi có thể hướng tới khán giả, tạo nên một sự chú ý nhất định Độc thoại phải có sự tập trung cao của tính triết lí và những xung đột của tư tưởng nhân vật
Đoạn thoại dưới đây trong KB “Những đứa con của làng” của Phạm Dũng, là lời của nhân vật Bè nói với con gà của anh, nhưng thật ra đó chỉ là lời tâm tình, bộc bạch của Bè về nỗi lòng của mình, hình ảnh con gà chỉ là một cái
cớ, để Bè thực hiện những lời độc thoại này
BÈ
Tao muốn lấy bưởi mà Bưởi không cho Tao rồi cũng ế
vợ thôi
Sao ai cũng bảo tao khùng hả mày?
Không có cầu qua sông, không ai chịu làm cầu thì tao
làm, sao bảo tao khùng? Mày ở với tao rồi mày cũng ế
vợ như tao thôi gà ơi là gà ơi.[47]
• Lời dẫn của tác giả
Thủ pháp này được thực hiện dưới hai hình thức: nói bằng lời và ghi phụ
đề
Lời dẫn chuyện của tác giả có vị trí quan trọng trong cấu trúc của một số
KB mà nội dung cốt truyện kéo dài trong nhiều năm, nhiều chục năm và cả khi
cả thế kỷ Lời ngoài hình của tác giả có khi là một nhận định, đúc kết một sự
Trang 18kiện, một nhân vật nào đó mà tác giả phản ánh với mục đích làm sâu hơn những gì đã có trong hình ảnh
Chẳng hạn, trong KB Lô tô của Ngọc Bích, mở đầu KB là một chuỗi các lời ngoài hình là giọng nói của nhân vật Lệ Liễu kể về cuộc đời của mình, giọng nói xuất hiện trên nền hình ảnh của nhân vật Đực với một chuỗi các hành động xảy ra từ lúc Đực 7 tuổi đến lúc 17 tuổi, dưới đây chúng tôi xin dẫn ra hai lời ngoài hình của Lệ Liễu:
LỆ LIỄU ( V.O )
Tui ước một ngày nào đó sẽ được dì Thắm cho mặc
áo đầm, được trét môi son, được đi hát trong mấy
đám cưới trong xóm như con Méng bên nhà cậu
- Lời thoại phải đáng tin cậy, đanh thép nhưng phải rút ngắn đến cái cốt yếu
- Lời thoại cần sát hợp với nhân vật, tính cách nhân vật
- Lời thoại phải gần gũi với đời sống
- Rõ ràng, tiết kiệm, nhịp điệu, để có thể truyền đạt một cách tốt nhất.[21]
Trang 19Trong cuốn “Cách viết kịch bản phim ngắn” (2006), Jean- Marc RUDNICKI cho rằng thoại được sử dụng để:
- Làm nổi bật đặc điểm tính cách của nhân vật (một hoặc nhiều)
- Chuyển tải một thông tin và làm tiến triển hành động.[20]
1.1.2 Về ngữ liệu khảo sát (3 KB)
1.1.2.1 Trúng số
“Trúng số” là bộ phim điện ảnh Việt Nam của đạo diễn Justin Nguyễn, được khởi chiếu toàn quốc từ ngày 12/2/2015 Đây là một bộ phim được giới chuyên môn cũng như khán giả đánh giá khá cao trên nhiều phương diện Đặc biệt, đây một bộ phim hội tụ rất nhiều những chi tiết hài hước mang lại tiếng cười cho khán giả nhưng song song với đó là những tình tiết lắng đọng, trầm tư khiến cho người xem phải suy ngẫm rất nhiều Có thể nói “TS” là một bộ phim hài nhưng không nhảm, bởi nó mang đậm tính nhân văn cao cả và đặt ra một vấn
đề hết sức phổ biến trong xã hộị ngày nay- “lòng tốt chạy theo đồng tiền”
Bộ phim đã gặt hái được nhiều thành công lớn:
Tác phẩm điện ảnh này đã đạt được ba giải “Cánh Diều Vàng” năm 2015: Phim xuất sắc, Kịch bản xuất sắc cho biên kịch Nguyễn Mạnh Tuấn và Nữ diễn viên chính xuất sắc cho Ninh Dương Lan Ngọc
Bộ phim “TS” nhận được số điểm bình chọn cao nhất của Hội đồng Tuyển chọn tác phẩm đại diện cho Việt Nam tham dự giải thưởng điện ảnh danh giá nhất nước Mỹ - Oscar 2016, hạng mục “Phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc” Kịch bản phim truyện “TS” do nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn hoàn thành năm 2012, với tên gọi ban đầu là “Người tình trong mơ”
Theo nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, KB “Người tình trong mơ” dựa trên câu chuyện có thật về cô Lành, một người bán vé số tại Long An, đã trả lại 6 tờ vé số độc đắc cho một người đàn ông mặc dù anh này mua thiếu và chưa hề lấy vé gây xôn xao dư luận năm 2011 Sau khi biết được câu chuyện của cô Lành từ báo chí, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn đã tìm đến và gặp cô này, một mặt để xác minh
Trang 20thực hư câu chuyện, một mặt thu thập những thông tin cần thiết để phục vụ cho ý tưởng KB của mình
Kịch bản phim “TS” xoay quanh câu chuyện “người tốt việc tốt”, quan
điểm của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn khi quyết định viết KB này: “Tôi muốn
một lần nữa tìm hiểu phản ứng của nhiều người về lòng tốt, sự thật thà, đang hiếm gặp hoặc bị nghi ngờ trong đời sống hiện nay.” [37] Với mong muốn hết
sức nhân văn đó, Nguyễn Mạnh Tuấn đã thực sự tạo nên câu chuyện “TS” chạm đến lòng người KB “TS” xoay quanh câu chuyện trúng số độc đắc của các nhân vật: vợ chồng Tư Nghĩa, Út Thơm, những người dân quê nghèo khổ, nhưng thật thà chất phác, luôn đối đã tử tế với người khác, và một tư Phi ba xạo, bốc phét, vừa mãn hạn tù
KB này đã đạt được giải Cánh Diều Vàng 2015
1.1.2.2 Sài Gòn, anh yêu em!
“Sài Gòn, anh yêu em !” là bộ phim điện ảnh hài tâm lí xã hội của đạo diễn
Lý Minh Thắng, Huỳnh Lập và La Quốc Hùng được khởi chiếu từ ngày 7/10/2016 Phim có thời lượng 98 phút, do CGV phát hành
Tại Giải Cánh Diều Vàng năm 2017, “SGAYE!” đã đạt được giải Cánh Diều Vàng cho phim điện ảnh xuất sắc, Biên kịch xuất sắc (Ngọc Bích), Âm nhạc xuất sắc (nhạc sĩ Đức Trí), Hoạ sĩ thiết kế xuất sắc (Nguyễn Anh Thao) và Nam diễn viên phụ xuất sắc (Huỳnh Lập)
Kịch bản “SGAYE!”là tác phẩm do hai nhà biên kịch Ngọc Bích và Kim đồng sáng tác dựa trên KB ý tưởng của Huyền Trân – Nhật Ánh nói về những con người sống ở Sài Gòn và yêu Sài Gòn, tuy nhiên 80% nội dung “SGAYE!”
là hoàn toàn mới Tên KB “SGAYE!” cũng lấy từ KB ý tưởng này “SGAYE!”
được hai tác giả Ngọc Bích – Kim viết trong vòng 4 tháng và hoàn thành vào tháng 4/2016 Đây là một kịch đa tuyến, xoay quanh 5 câu chuyện tình cảm, gia đình với 10 nhân vật, mỗi câu chuyện diễn ra hết sức nhẹ nhàng và mang màu sắc riêng giữa lòng Sài Gòn nhộn nhịp Đó là câu chuyện của Yên Khuê, một phát thanh viên Sài Gòn và chồng nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam, cặp
Trang 21đồng tính Đức và Khánh, đôi tình già nghệ sĩ cải lương ông Sáu và bà Ba và hai
mẹ con Mỹ Tuyền và Mỹ Mỹ
1.1.2.3 Mẹ chồng
“Mẹ chồng” là bộ phim điện ảnh của đạo diễn Lý Minh Thắng, khởi chiếu
từ ngày 1/12/2017 Đây là bộ phim thâm cung nội chiến đầu tiên của Việt Nam trên màn ảnh rộng Bộ phim cũng mang tính nhân văn về tình mẫu tử và phản ánh thân phận nhiều bất công và trói buộc của người phụ nữ xưa “MC” khá ăn khách và được đánh giá cao trong thời điểm phim ra rạp
Kịch bản “MC” do biên kịch Ngọc Bích hợp tác với Kim viết, và hoàn thành vào tháng 12/2016 Theo biên kịch Ngọc Bích,“MC”là một KB được đặt hàng từ nhà sản xuất về chủ đề mâu thuẫn mẹ chồng nàng dâu
“Mẹ chồng” kể lại câu chuyện bi kịch của gia đình Hội đồng Lịnh, xung đột giữa mẹ chồng nàng dâu từ đời này sang đời khác, gây nên biết bao sóng gió trong gia đình Để rồi đến cuối cùng phải nhận lấy cái kết bất hạnh
1.2 Một số thuật ngữ ngôn ngữ học hữu quan
Như đã nói ở trên, trong Khóa luận này chúng tôi sẽ khảo sát, nghiên cứu
đề tài dưới góc nhìn phân tích diễn ngôn, vì thế trước tiên chúng tôi xin trình bày
sơ lược về lí thuyết phân tích diễn ngôn hội thoại làm cơ sở lí luận cho quá trình thực hiện đề tài này Sau đó chúng tôi sẽ trình bày về một số vấn đề lí thuyết: từ vựng, cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng có liên quan để phục vụ cho việc nghiên cứu, và làm sáng rõ đề tài
1.2.1 Lí thuyết về phân tích diễn ngôn hội thoại
1.2.1.1 Khái niệm
Người đầu tiên đề xuất khái niệm diễn ngôn là Z Harris trong công trình
“Discourse Analysis” – Phân tích diễn ngôn (1952), theo ông thì diễn ngôn được hiểu với tư cách là một văn bản liên kết ở bậc cao hơn câu Khái niệm này vẫn còn nhiều tranh luận, tuy nhiên Harris đã góp phần quan trọng vào việc thay đổi đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học văn bản từ câu sang diễn ngôn
Trang 22Roland Barthes (1970) - một nhà lý luận văn học người Pháp trong “La
linguistique du discourse” đã định nghĩa: “Diễn ngôn là một đoạn lời nói hữu tận
bất kỳ, tạo thành một thể thống nhất xét từ quan điểm nội dung, được truyền đạt với những mục đích giao tiếp thứ cấp, và có một tổ chức nội tại phù hợp với những mục đích này, vả lại (đoạn lời này) gắn bó với những nhân tố khác nữa, ngoài những nhân tố có quan hệ đến bản thân ngôn ngữ” [Dẫn theo 38]
Đối với Teun Adrianus Van Dijk- người có công truyền bá Diễn ngôn trên bình diện thế giới với tác phẩm “Some Aspects of Text Grammars” (1972) thì
“Diễn ngôn là sự kiện giao tiếp diễn ra giữa người nói và người nghe (người
quan sát…) trong tiến trình hoạt động giao tiếp ở một ngữ cảnh thời gian, không gian, hay những ngữ cảnh khác nào đó Hoạt động giao tiếp này có thể bằng lời nói, bằng văn viết, những bộ phận hợp thành của nó có thể bằng lời và không lời”.[Dẫn theo 36]
Widdowson (1984) đã định nghĩa: “Diễn ngôn là một quá trình giao tiếp
Kết quả về mặt tình huống của quá trình này là sự thay đổi trong sự thể: thông tin được chuyển tải, các ý định được làm rõ, và sản phẩm của quá trình này là văn bản.” [Dẫn theo 10]
Còn theo quan điểm của Guy Cook (1989) thì “Diễn ngôn là những chuỗi
ngôn ngữ được nhận biết có nghĩa, thống nhất và có mục đích” [Dẫn theo10; 31]
Trong khi đó David Nunan cho rằng “diễn ngôn như là một chuỗi ngôn ngữ
gồm một số câu, những câu này được nhận biết là có liên quan nhau theo một cách nào đó” [8]
Ở Việt Nam nghiên cứu về diễn ngôn cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau, tiêu biểu như quan điểm của một số nhà Việt ngữ học sau đây:
Diệp Quang Ban với công trình “Giao tiếp diễn ngôn và văn bản” đã dẫn ra rất nhiều các quan niệm khác nhau về diễn ngôn của các nhà nghiên cứu trên thế giới Đặc biệt là các cách hiểu khác nhau về mối quan hệ giữa hai tên gọi diễn
Trang 23ngôn và văn bản trong các giai đoạn nghiên cứu khác nhau Theo Diệp Quang Ban thì quan điểm của Guy Cook được coi là hợp lí và chặt chẽ nhất, quan niệm này được dùng khá phổ biến trong lĩnh vực nghiên cứu Ông đưa ra sơ đồ về mối quan hệ giữa diễn ngôn và văn bản như sau:
Diễn ngôn
(Nghĩa logic, chức năng)
Hình: Văn bản là bề mặt ngôn từ, diễn ngôn thuộc về nghĩa logic và chức năng
Nguyễn Thiện Giáp cũng đưa ra quan điểm của mình về diễn ngôn trong tác phẩm “Dụng học Việt ngữ” Dựa trên một số định nghĩa khác nhau của các
nhà nghiên cứu, tác giả đã đi đến nhận định rằng: “diễn ngôn (discourse) và văn
bản (text) thường được coi là đồng nghĩa với nhau để chỉ các sản phẩm của ngôn ngữ, viết hay nói, dài hay ngắn, tạo nên một tổng thể hợp nhất, trong đó diễn ngôn thường được hiểu là bao hàm văn bản, còn văn bản thiên về sản phẩm viết nhiều hơn” [10; 169]
Nguyễn Hòa kế thừa các quan niệm của Widdowson và một số nhà nghiên cứu trong công trình “Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề lí luận và phương pháp” cũng đã đưa ra khái niệm của diễn ngôn, phân biệt với văn bản như sau:
“Diễn ngôn là sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có
mục đích không có giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp cụ thể”
Còn “Văn bản như là sản phẩm ngôn ngữ ghi nhận lại quá trình giao tiếp hay sự
kiện giao tiếp nói và viết trong một hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể”[18; 33 ]
Như vậy, qua đó có thể thấy, mỗi tác giả có mỗi hướng tiếp cận khác nhau
và có cách nhìn nhận riêng về diễn ngôn Trong Khóa luận này, chúng tôi lựa
Văn bản ( bề mặt từ ngữ)
Trang 24chọn dựa trên quan điểm của Guy Cook, cũng là quan điểm mà theo Diệp Quang
Ban được xem là hợp lí và đồng tình nhiều nhất Theo hình ảnh nêu trên, “văn
bản là một chuỗi ngôn ngữ lí giải được ở mặt hình thức, bên ngoài ngữ cảnh”,
“diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là trọn nghĩa, được hợp nhất lại và có mục đích” [1;215] Văn bản được đề cập khi cần phân tích mặt từ
ngữ của sự kiện nói, đó là phân tích văn bản Những trường hợp giải thích các từ ngữ bằng mối quan hệ giữa chúng với tình huống vật lí và xã hội bên ngoài văn bản, ý định của người phát thì thuộc về diễn ngôn Cả hai thao tác trên đều là một bộ phận quan trọng của phân tích diễn ngôn
1.2.1.2 Phân tích diễn ngôn
Về vấn đề liên quan đến phân tích diễn ngôn, cũng có khá nhiều quan niệm khác nhau, và chưa có một quan niệm nào được thống nhất hoàn toàn Đặc biệt
là phân biệt giữa hai thuật ngữ phân tích diễn ngôn và phân tích văn bản Có thể nói ranh giới giữa hai thuật ngữ này cũng khá không rõ ràng, cho nên thường hay lẫn lộn
Brown và Yule khi đề cập đến khái niệm phân tích diễn ngôn đã cho rằng:
“Phân tích diễn ngôn nhất thiết là sự phân tích ngôn ngữ hành chức Như vậy,
không thể giới hạn phân tích diễn ngôn với việc miêu tả các hình 27 thức ngôn ngữ mà không quan tâm đến mục đích hay chức năng mà các hình thức này tạo
ra để đảm nhận trong thế giới hoạt động của con người” [12]
David Nunan trong “Phân tích diên ngôn” (1998) đã phân biệt phân tích diễn ngôn và phân tích văn bản Theo ông: Phân tích văn bản là xem xét các đặc điểm nội dung và hình thức của văn bản tách rời ngữ cảnh ngoài ngôn ngữ còn
Phân tích diễn ngôn sẽ quan tâm đến mặt chức năng, tức là “liên quan đến việc
nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng (ngôn ngữ hành chức).” [ 8 ]
Ở Việt Nam, cũng như khái niệm diễn ngôn, phân tích diễn ngôn cũng được một số nhà Việt ngữ học quan tâm rất nhiều:
Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Phân tích diễn ngôn là một cách tiếp cận
việc nghiên cứu diễn ngôn, nó dựa trên những khái niệm và thuật ngữ của ngữ
Trang 25pháp truyền thống… Phân tích diễn ngôn cố gắng mở rộng sự phân tích cấu trúc câu đến những đơn vị lớn hơn câu, nó thường bắt đầu bằng sự cố gắng nhận diện những đơn vị tối thiểu của diễn ngôn, sau đó tìm kiếm những quy luật chi phối những đơn vị tối thiểu đó cùng nhau kết hợp thành chuỗi tạo nên diễn ngôn như thế nào.” [11; 441]
Diệp Quang Ban định nghĩa: “Phân tích diễn ngôn là đường hướng tiếp cận
tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngôn/ văn bản) từ tính đa diện hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực (register) mà nội dung hết sức phong phú và đa dạng (gồm các hiện tượng thuộc thể loại và phong cách chức năng, phong cách cá nhân, cho đến các hiện tượng xã hội, văn hóa, dân tộc).”
[1;158 ]
Với Nguyễn Hòa: “phân tích diễn ngôn và phân tích văn bản không phải là
hai bộ mặt khác biệt mà chỉ là hai mặt của phân tích ngôn ngữ hành chức trong hoàn cảnh giao tiếp xã hội.” [18; 34]
Cũng như khái niệm diễn ngôn, khái niệm phân tích diễn ngôn cũng có khá nhiều quan điểm khác nhau, mỗi quan điểm đều có hướng tiếp cận và cách nhìn nhận riêng Trong đó quan điểm của Diệp Quang Ban khá phù hợp với hướng nghiên cứu Khóa luận này chúng tôi chọn quan điểm của tác giả này để làm cơ
sở lí luận cho đề tài của mình
Từ những cơ sử lí luận về diễn ngôn và phân tích diễn ngôn nói trên có thể thấy lời thoại nhân vật trong KBĐAVN cũng là một loại diễn ngôn - diễn ngôn của nhân vật trong KB Như vậy, nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ lời thoại nhân vật trong KBĐAVN cũng có nghĩa là đi nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ được sử dụng trong các diễn ngôn hội thoại của nhân vật trong KBĐAVN Tức là, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích diễn ngôn hội thoại của nhân vật trên cả hai phương diện: hình thức và chức năng, bao gồm các yếu tố ngôn ngữ: các đơn vị từ vựng, các đơn vị cú pháp, ngữ nghĩa – ngữ dụng tạo nên diễn ngôn
1.2.2 Cấu trúc hội thoại
Trang 26Trong phần này chúng tôi sẽ trình bày sơ lược một số vấn đề trong cấu trúc hội thoại dựa trên cơ sở quan điểm của Nguyễn Đức Dân
Hội thoại là hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất của con người Hội thoại có thể là cuộc trò chuyện đối đáp giữa hai nhân vật, đó là song thoại; hoặc giữa ba người, đó là tam thoại, và bốn người trở lên là đa thoại
Theo Nguyễn Đức Dân, cấu trúc khái quát của một cuộc thoại là:
Mở thoại- Thân thoại- Kết thoại
Để hiểu rõ hơn cấu trúc nội tại của một cuộc thoại, cần chú ý đến một số khái niệm dưới đây:
1.2.2.1 Lượt lời
Theo Nguyễn Đức Dân: “Đơn vị cơ bản của hội thoại là lượt thoại Đó là
một lần nói xong của một người trong khi những người khác không nói, để rồi đến lượt một người tiếp theo nói.”[7]
Mỗi lượt lời được xây dựng trên cơ sở lượt lời trước đó, đó là sự luân phiên lượt lời trong hội thoại Luận phiên lượt lời diễn ra theo cơ chế: trao lời hoặc tranh lời
“Trao lời là sự chuyển lời tự nhiên, có ý thức chủ động của người đang giữ
lượt lời” [7]
“Tranh lời (ngắt lời) là những lời nói xen ngang vào lời của người
khác”.[7]
1.2.2.2 Mở thoại
“Trong giao tiếp có những hành vi -bằng lời và có kèm theo cử chỉ nhằm
tạo lập một quan hệ giao tiếp đưa đẩy vào một cuộc thoại nào đó”[7], đó là sự
mở thoại
Ví dụ một số kiểu mở thoại:
Dùng lời hô gọi: Báo cáo anh…, Bác gì ơi!, Thầy nó ạ…
Hoặc một số tín hiệu cụ thể hơn: Cho tôi hỏi một chút…; Tôi muốn biết cô có…; ở đây có…
Trong những mở thoại kèm theo lời nói có thể là một cử chỉ, một điệu bộ
Trang 27Trong hội thoại mỗi phát ngôn đều có quan hệ trực tiếp với những phát ngôn đi trước nó hoặc định hướng cho những phát ngôn tiếp sau Hay nói cách khác, hành vi ngôn ngữ không đứng độc lập, hành vi này kéo theo hành vi kia, lượt lời này kéo theo lượt lời kia, từ đó hình hình thành nên khái niệm cặp thoại Các cặp thoại được tổ chức thực hiện theo một quy cách chắc chẽ tuân theo những quy tắc chi phối hội thoại Trong một cặp thoại, hai lượt lời có quan hệ chặt chẽ với nhau,lượt lời thứ nhất có chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai, hiệu lực hành vi ngôn ngữ của lượt lời thứ nhất tác động lên lượt lời thứ hai Chẳng hạn một số, cặp hành vi ngôn ngữ sau: chào- chào, hỏi- đáp, đề nghị- đáp ứng, đề nghị- bác bỏ,…
1.2.2.4 Sự liên kết các phát ngôn
Mỗi phát ngôn phải là một mắt xích trong một chuỗi các phát ngôn có liên kết chặt chẽ với một hay nhiều phát ngôn trước đó, đáp ứng hiệu lực tại lời phù hợp với những tiền giả định ngữ dụng của những phát ngôn đi trước
Trong một lượt lời có thể có nhiều phát ngôn (hành vi hội thoại) Các phát ngôn có mục đích và chức năng khác nhau như: hồi đáp, dẫn nhập,… và theo đó tầm quan trọng của các phát ngôn không giống nhau, có phát ngôn chính và phát ngôn thứ yếu Tuy nhiên chúng liên kết chặt chẽ với nhau Có hai phương diện liên kết các hành vi hội thoại:
Liên kết giữa các hành vi hướng ngoại
Có những hành vi ngôn ngữ gây ra những hành vi ngôn ngữ nhất định, chúng tạo thành những cặp hành vi ngôn ngữ song song có liên kết với nhau: chào – chào, hỏi – trả lời, đề nghị - chấp nhận/ từ chối,…
Một hành vi đưa ra có thể được người tiếp nhận hưởng ứng hoặc không hưởng ứng
Sự liên kết các hiệu lực tại lời của các hành vi ngôn ngữ mới là chủ yếu
Để đạt được hiệu quả cao trong giao tiếp, việc lựa chon hành vi ngôn ngữ
để đi đến hiệu lực tại lời là rất quan trọng
Liên kết giữa các hành vi hướng nội
Trang 28Liên kết hướng nội là liên kết hành vi chính và hành vi phụ với nhau trong một lượt lời
1.2.3 Những mối quan hệ cá nhân
Những quan hệ cá nhân có tầm quan trọng trong tương tác hội thoại
1.2.3.1 Quan hệ thân sơ
Quan hệ nhân sơ đặc trưng bằng yếu tố “khoảng cách”, tức là sự gần gũi hay xa cách trong một quan hệ Quan hệ thân sơ có thể điều chỉnh và thay đổi trong quá trình hội thoại, từ sơ tới thân, hoặc ngược lại Quan hệ này thường đối xứng, nếu người thấy cảm thấy xa cách người kia thì người kia cũng cảm thấy như vậy
Có nhiều dấu hiệu thể hiện quan hệ ngang: dấu hiệu bằng lời và những dấu hiệu cử chỉ, điệu bộ và dấu hiệu cử chỉ
Dấu hiệu bằng lời
- Những từ nhân xưng, những từ dùng để thưa gửi mang sắc thái quan hệ cá nhân rất rõ ràng: ông, anh, chị, cậu, tớ, mày , tao, …
- Gọi một người theo tên riêng, theo họ, tên tục, biệt danh,…
- Đề tài của cuộc hội thoại: những chuyện cá nhân riêng tư thầm kín chỉ có thể xảy ra giữa những người có quan hệ gần gũi thân thiết
Dấu hiệu cử chỉ và dấu hiệu kèm lời
• Dấu hiệu cử chỉ:
- Dấu hiệu về khoảng cách không gian: đứng xa hay gần
- Những cử chỉ gần gũi thân mật: nắm tay nhau, vỗ vai, xoa đầu,…
• Dấu hiệu kèm lời:
- Cường độ âm lực phát âm
- Tốc độ nói năng: giữa những người có quan hệ thân thiết, người ta nói nhanh
- Tốc độ nối tiếp, sự chồng chéo lượt lời phản ánh quan hệ bình thản, châm chạp hay khẩn trương, căng thẳng
1.2.3.2 Quan hệ vị thế
Trang 29Quan hệ vị thế là quan hệ tôn ti xã hội, tạo thành các vị thế trên dưới xếp thành tầng bậc trên một trục dọc Quan hệ vị thế được đặc trưng bằng quyền lực Quan hệ vị thế có tính chất tương đối, Một người có thể thấp hơn người người này những lại cao hơn người kia
Quan hệ vị thế không đối xứng
Quan hệ vị thế phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như cương vị xã hội, giới tình, tuổi tác,…; các yếu tố nội tại như tương tác lời nói, chúng mang dấu ấn
cá nhân như: sự nắm vững ngôn ngữ, lợi khẩu,…
Các dấu hiệu thể hiện quan hệ vị thế:
• Những dấu hiệu bằng lời
- Những cặp từ xưng hô, nghi thức xưng hô
- Cách tổ chức lượt lời về phương diện số lượng và chất lượng: người nói nhiều lần và mỗi lần nói thường dài hơn, người hay xen lời hay ngắt lời người khác là người có vị thế cao hơn
- Cách tổ chức cuộc thoại như ai mở thoại, ai hồi đáp, ai kết thúc,…
- Cách hành vi ngôn ngữ và hành vi hội thoại, cũng như sự thể hiện phép lịch sự Người có quyền cao thường vô tình hay thản nhiên đe dọa đến thể diện của người khác
- Những từ tình thái, những từ đi kèm các hành vi ngôn ngữ
• Những dấu hiệu cử chỉ và dấu hiệu kèm lời
- Tư thế: ưỡn vai, ngã người ra ghế bành, co chân lên ghế, là những người có vị thế cao
- Âm lực, âm lượng
- Không gian giao tiếp: mời người tới nhà bằng cửa chính hay cửa phụ, chỗ ngồi cao hay thấp,…
- Hình thức trang phục: sắc phục nghề nghiệp nói len vị thế của một người
1.2.3.3 Nguyên lí lịch sự
Trang 30Lịch sự theo C.K Orecchioni: “… phép lịch sự liên quan tới tất cả các
phương diện của diễn ngôn:
- Bị chi phối bởi các quy tắc (ở đây không có nghĩa là những công thức hoàn toàn đã trở thành thói quen)
- Xuất hiện trong địa hạt liên cá nhân
- Có chức năng giữ gìn tính chất hài hòa quan hệ đó (ở mức thấp nhất là giải tỏa những sung đột tiềm tàng, tốt hơn nữa là làm cho người này trở thành dễ chịu đối với người kia thì càng tốt”[Dẫn theo 4,582]
Nhắc tới nguyên lí lịch sự là nói tới khái niệm “thể diện” và “giữ thể diện”
trong hội thoại Theo Brown và Levinson: “Thể diện là một hình ảnh – về - ta
công cộng mà mỗi thành viên trong xã hội muốn mình có được”[Dẫn theo 4]
Thể diện gồm hai phương diện: thể diện dương tính và thể diện âm tính
“Thể diện dương tính là cái “được phản ánh trong ý muốn mình được người ưa thích, tán dương, tôn trọng, đánh giá cao.”(J Thomas)[Dẫn theo 4;588]
“Thể diện âm tính là mong muốn không bị can thiệp, mong nuốn được hành
động tự do theo như cách mình đã chọn.” (J Thomas)[Dẫn theo 4;588] Để chỉ
khái niệm âm, Goffman còn sử dụng thuật ngữ “lãnh địa của cái tôi”
❖ Hành vi đe dọa thể diện
Trong giao tiếp người nói luôn có ý thức giữ thể diện cho người khác, tuy nhiên phần lớn các hành vi ngôn ngữ đều tiềm ẩn khả ngăn đe dọa thể diện của người khác, Brown và Levinson gọi đó là hành vi đe dọa thể diện Có bốn loại hành vi đe dọa thể diện:
- Hành vi đe dọa thể diện âm tính của người nói: tặng, biếu, hứa hẹn,
Trang 31- Hành vi đe dọa thể diện dương tính của người nghe: phê bình, chê bai, …
❖ Chiến lược lịch sự
Mức độ đe dọa thể diện được đánh dấu bằng ba thông số: tương quan quyền lực, khoảng cách xã hôi giữa người nói và người nghe, mức độ áp đặt của hành
vi Khi giao tiếp, người nói phải tính toán mức độ đe dọa thể diện của các hành
vi để sử dụng các chiến lược lịch sự phù hợp, để đạt được hiểu quả cao trong giao tiếp Có hai chiến lược lịch sự dương tính và âm tính
Cách chiến lược lịch sự dương tính nhằm tôn vinh thể diện, gia tăng một trong hai thể diện của người nghe:
- Bày tỏ sự chú ý của người nói đến người nghe
- Sử dụng lối nói tán dương, cường điệu
- Gia tăng sự quan tâm của người nói với người nghe
Đinh Trọng Lạc dùng thuật ngữ “từ hội thoại” để chỉ lớp từ này và định
nghĩa như sau: “từ hội thoại là những từ được dùng đặc biệt trong lời nói miệng
của sinh hoạt hằng ngày, nhất là trong đối thoại” [22]
Trang 32Ví dụ: chắc dạ (no bụng, no được lâu), nói toạc (nói thẳng ra không úp mở), trở mặt (đang tử tế quay ra có thái độ chống lại), chỉ mỗi tội (chỉ có một điều đáng tiếc),…
Lớp từ này có đặc điểm là mang tính “cụ thể”, tự nhiên, ít trau chuốt, “giàu hình ảnh” và mang màu sắc “biểu cảm- cảm xúc” cao Chính vì thế, chúng hổ trợ rất lớn cho người nói trong quá trình biểu đạt, bày tỏ thái độ, tình cảm của mình trong đời sống sinh hoạt Khẩu ngữ là một yếu tố từ vựng không thể thiếu trong hội thoại, chính chúng làm cho hội thoại mang màu sắc riêng, rất gần gũi, rất tự nhiên
Trong quá trình khảo sát chúng tôi nhận thấy, khẩu ngữ xuất hiện rất nhiều trong lời thoại nhân vật ở các KBĐAVN, sự có mặt của chúng đã mang đến những đóng góp rất lớn cho lời thoại nói riêng và KB nói chung Chúng tôi sẽ làm rõ phần này hơn trong chương 3
1.1.1.1 Từ thông tục
Đinh Trọng Lạc định nghĩa từ thông tục như sau: “Từ thông tục là từ chỉ
được dùng trong lời nói miệng thoải mái, thậm chí thô lỗ tục tằn.” [22 ]
Ví dụ: hố (ở vào thế do sơ suất mà bị thiệt), chặn họng (ngăn chặn không cho nói), ngứa tiết (tức điên lên),…
Từ thông tục khá bị hạn chế về mặt sử dụng, không nằm trong từ vựng của ngôn ngữ văn hóa, và người ta thường tránh dùng những từ ngữ này trong giao tiếp văn hóa thông dụng Theo Đinh Trọng Lạc thì từ thông tục chỉ đùng trong phong cách sinh hoạt hằng ngày có tính chất tự nhiên thông tục, giữa những cá nhân có quan hệ tự do, thoải mái, suồng sã
1.1.1.2 Lớp từ địa phương
Từ địa phương cũng là một trong những yếu tố từ vựng có tần suất xuất hiện trong lời thoại nhân vật khá lớn.Từ địa phương hay còn gọi là phương ngữ, thật ngữ dùng để chỉ biến thể địa phương, hoặc biến thể xã hội của ngôn ngữ Hoàng Thị Châu trong công trình “Phương ngữ học tiếng Việt” (2009) đã
đưa ra khái niệm phương ngữ như sau: “Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ
Trang 33những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác.”[6]
Từ địa phương có sắc thái biểu cảm cao so với các từ toàn dân đồng nghĩa,
vì vậy khi được sử dụng trong các tác phẩm nghệ thuật nó có thể trở thành một phương tiện tu từ góp phần làm tăng giá trị biểu đạt của tác phẩm
Trong đề tài này, chúng tôi chọn ngữ liệu khảo sát là ba KBĐAVN miền Nam, cho nên ở đây chúng tôi chỉ xin đề cập qua một số vấn đề liên quan đến từ địa phương Nam Bộ, một bộ phận của phương ngữ Nam
Từ địa phương Nam Bộ có nhiều điểm khác biệt với từ toàn dân, dưới đây chúng tôi chỉ xin trình bày một số đặc trưng tiêu biểu liên quan đến ngữ liệu khảo sát:
Vẫn tồn tại một lớp từ cổ tiếng Việt, mà các vùng khác không còn sử dụng: mần (mừng), ngộ (dễ nhìn), coi (xem), cậy (nhờ), méc (mách), hun (hôn),…
Từ địa phương Nam Bộ gắn liền với văn hóa Nam bộ, có một số lượng từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng khá phong phú: ghe, xuồng, đầm, ao, kinh, mương, thốt nốt, bình bát, điên điển,…
Từ vay mượn từ các dân tộc thiểu số ở Nam Bộ: xập xám, bạc bỉu, miệt, chế, tía,…
Những từ ngữ biến âm so với từ ngữ toàn dân: huê (hoa), mệnh (mạng), hường (hồng), kiểng (cảnh), phước (phúc),…
Có hiện tượng rút gọn từ: ổng (ông ấy), bả (bà ấy), thẩy (thầy ấy), chỉ (Chị ấy), ở trỏng (ở trong ấy), hôm ấy (hổm), ở trển (ở trên ấy)…
1.1.1.3 Thành ngữ
Thành ngữ là đơn vị được sử dụng rộng rãi trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân
Theo Đinh Trọng Lạc: “Thành ngữ là những đơn vị định danh biểu thị khái
niệm nào đó dựa trên hình ảnh, những biểu tượng cụ thể.”[22]
Tính hình tượng của thành ngữ được xây dựng dựa trên cơ sở của phương thức so sánh và ẩn dụ Chính vì thế, thành ngữ là đơn vị có sắc thái biểu cảm rất
Trang 34cao, biểu đạt bằng thành ngữ sẽ có thể “vừa sâu sắc vừa hấp dẫn, vừa hàm súc
vừa đẹp đẽ”
1.1.1.4 Từ Hán Việt
Theo Đinh Trọng Lạc: “Từ Hán Việt là từ Việt mượn ở tiếng Hán phát âm
theo cách Việt Nam (quy ước thời Đường – Tống)”.[22]
Ví dụ: thảo mộc, thi hài, thổ huyết, từ trần, …
Đinh trọng Lạc cũng đưa ra đặc điểm của từ Hán Việt như sau:
Từ Hán Việt có sắc thái ý nghĩa trừu tượng, khái quát nên mang tính tĩnh tại, không gợi hình ảnh, không mang tính chất miêu tả sinh động
Nhiều từ Hán Việt mang màu sắc trang trọng, thanh nhã
1.1.1.5 Từ vay mượn gốc Ấn – Âu
Theo Đinh Trọng Lạc: “Từ vay mượn góc Ấn – Âu là từ lấy từ tiếng nước
ngoài nhưng đã phần nào thích nghi với nhưng chuẩn mực của tiếng Việt, cho nên được ùng một cách thông thường, mặc dù người nói cảm thấy rất rõ cái gốc ngoại lai của nó.”[22]
Ví dụ: apphe, rocket, socola, video, xêmina, karaoke,…
1.1.2 Một số thuật ngữ cú pháp
Trong phần này chúng tôi sẽ trình bày một số lí thuyết cú pháp, chú trọng đến cách xác định và phân loại kiểu câu, làm cơ sở lí luận cho việc khảo sát cứ liệu của chúng tôi Trong đề tài này chúng tôi muốn khảo sát và xác định tỉ lệ sử dụng các loại câu cơ bản của ngữ pháp tiếng Việt trong các KBĐAVN cứ liệu, từ
đó đưa ra nhận xét chung về đặc điểm cú pháp trong KBĐAVNA
Cách xác định và phân loại kiểu câu trong tiếng Việt đã có rất nhiều quan niệm khác nhau: Hoàng Trọng Phiến, Hồ Lê, Nguyễn Kim Thản,Diệp Quang Ban, Cao Xuân Hạo,…
Ở Khóa luận này, chúng tôi sẽ sử dụng lí thuyết về câu tiếng Việt của Hoàng Trọng Phiến để làm cơ sở cho việc khảo sát, nghiên cứu của mình
1.1.2.1 Câu đơn
Trong “Ngữ pháp tiếng Việt- Câu”, Hoàng Trọng Phiến đã định nghĩa như
Trang 35Phần lớn câu đơn tiếng Việt ứng với một kết cấu chủ - vị Về tổ chức, câu đơn bao giờ cũng biểu hiện một vị tính và có thể biểu hiện bằng một vị ngữ hoặc không Về số lượng, các yếu tố tham gia vào cấu trúc cú pháp không lớn hơn câu ghép Về chức năng, câu đơn mang thông tin ngữ nghĩa tự thân” [28]
Ví dụ: Chị Dậu khóc nức nở (Ngô Tất Tố) [Dẫn theo 2]
Trong câu trên chỉ có một kết cấu C-V:
Diệp Quang Ban căn cứ vào cấu tạo ngữ pháp, chia câu đơn thành hai kiểu: Câu đơn hai thành phần và câu đơn đặc biệt
“Câu đơn hai thành phần là câu đơn có một cụm chủ vị duy nhất làm thành
nòng cốt câu.”.[2]
Ví dụ:
Anh này / là sinh viên
(Dẫn theo Ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, Diệp Quang Ban, NXB GD VN, 2015)
“Câu đơn đặc biệt được làm thành từ một từ hoặc một cụm từ (trừ cụm
C-V) Các từ loại thường gặp ở đây là danh từ và vị từ (động từ, tính từ)”[2]
Ví dụ:
Những một giờ Lại hai giờ Lại ba giờ (Nguyễn Công Hoan)
Ngoài ra, Diệp Quang Ban còn đề cập đến một kiểu câu – câu dưới bậc (hay còn gọi là câu đơn có thành phần tỉnh lược)
Trang 36“Câu dưới bậc là biến thể của câu, có ngữ điệu kết thúc, tự lập, nhưng
không tự lập về cấu tạo ngữ pháp mà về ngữ nghĩa”[2]
Câu ghép là “câu bao gồm hai hoặc hơn hai bộ phận câu tương đối độc lập
và có hai trung tâm tính vị ngữ trở lên Mỗi bộ phận câu có thể ứng với một câu đơn chủ -vị, hoặc không chủ vị Câu ghép biểu hiện nội dung thông báo phức tạp Giữa các bộ phận ý nghĩa trong câu ghép có quan hệ chặt chẽ”.[2]
Ví dụ: Năm cũ đã qua, năm mới sắp đến (Dẫn theo…)
Phân tích câu trên, có hai kết cấu C-V:
Theo Lê Biên: “TTTT diễn đạt ý nghĩa tình thái trong mối quan hệ với mục
đích phát ngôn, biểu thị thái độ, cảm xúc của người nói Ý nghĩa tình thái ở đây
có quan hệ chặt chẽ với mục đích phát ngôn.”[3]
Về mặt ngữ pháp: TTTT thường có vị trí ổn định đối với cấu trúc câu, chúng thường đứng ở đầu hoặc cuối phát ngôn và ít chịu ảnh hưởng của những của những biến đổi của trật tự và cấu trúc
TTTT có hai chức năng cơ bản:
Trang 37- Biểu thị thái độ, tình cảm của người nói
Tiểu kết
Tóm lại trong chương này, chúng tôi đã giới thiệu tổng quát về những vấn
đề liên quan đến lời thoại, cũng như KB Các cơ sở lí luận trong chương này chính là tiền đề vững chắc tạo điều kiện thuận lợi cho những khảo sát, nghiên cứu, phân tích về sau của cả Khóa luận bao gồm các vấn đề liên quan đến phân tích diễn ngôn, lí thuyết hội thoại, từ vựng, ngữ pháp
Trang 38CHƯƠNG 2: QUAN HỆ LIÊN NHÂN TRONG LỜI THOẠI NHÂN
Bảng 2.1: Thống kê số lượt thoại trong ba kịch bản
Có thể thấy tổng số lượt thoại được sử dụng trong cả ba KB là khá nhiều Trong đó, số lượt thoại của “TS” nhiều gấp hai lần hai KB còn lại, tuy nhiên, ở
“TS” chỉ có đối thoại, không có độc thoại và lời dẫn chuyện Trong “SGAYE”
và “MC” có độc thoại và lời dẫn chuyện nhưng số lượng cũng rất hạn chế, cụ thể
ở “SGAYE” có 7 lượt độc thoại, “MC” có 6 lượt độc thoại và 9 lời dẫn chuyện Như vậy, hầu hết các KB đều chú trọng nhiều hơn vào đối thoại Thông qua đối đáp qua lại giữa các nhân vật với nhau để làm bật lên mọi vấn đề, mọi ngóc ngách, mọi tình tiết của câu chuyện Trong đó biểu hiện rõ nhất là quan hệ liên nhân giữa các nhân vật
Trong hội thoại ngoài quan hệ trao đổi thông tin còn có quan hệ liên nhân (hay còn gọi là quan hệ giữa các vai trong giao tiếp) Quan hệ liên nhân có vai trò nhất định trong hội thoại Đây là một trong những quy tắc quan trọng mà người đối thoại phải tuân thủ để duy trì cuộc thoại diễn ra bình thường
Trang 39Quan hệ liên nhân gắn liền với khái niệm lịch sự và khái niệm thể diện, hai yếu tố có vai trò quan trọng trong việc chi phối quan hệ liên nhân trong lời thoại Đồng thời, chúng cũng góp phần không nhỏ vào việc định hình nhân vật và thúc
đẩy diễn tiến của bộ phim
2.1 Yếu tố thể diện trong lời thoại nhân vật
Thể diện là yếu tố hết sức quan trọng đối với mỗi người, nó là bộ mặt, là hình ảnh của mỗi người trước xã hội Mỗi cá nhân tham thoại đều mong muốn được giữ thể diện, tức là mong muốn đối ngôn tôn trọng thể diện của mình Chính vì thế, trong giao tiếp, mọi người luôn cố gắng khẳng định, bày tỏ thể diện của mình với người khác, để được công nhận, và ngăn chặn sự đe dọa thể diện
Từ việc ý thức thể diện của chính mình, chúng ta ý thức được thể diện của mọi người xung quanh và lựa chọn cách nói năng phù hợp nhất nhằm giữ thể diện cho nhau, hướng đến đạt được hiệu quả cao trong giao tiếp
Thông qua lời thoại của các nhân vật trong KB, chúng tôi nhận thấy, yếu tố thể diện được biểu hiện rất rõ và có vai trò chi phối, điều chỉnh lời ăn tiếng nói của nhân vật trong các môi trường giao tiếp khác nhau
Nhân vật Tư Phi trong KB “TS” là một điển hình, đây là một nhân vật có
sự ý thức về thể diện của mình rất cao Có thể dễ dàng nhận ra yếu tố thể diện
bao trùm lên từng lời thoại của nhân vật này Thể diện – “hình ảnh – về ta công
cộng” mà Tư Phi muốn đạt được và muốn được mọi người công nhận, tôn trọng
là:
Một quan chức đại gia, liêm khiết vì “kiên quyết đấu tranh chống tham
nhũng nên bị bọn xấu liên kết vu cáo hãm hại, ngồi tù mười lăm năm mới được minh oan, thả tự do.”[TS] Để xây dựng hình ảnh thể diện này, trong mỗi lời
thoại của mình với các nhân vật đối thoại, Tư Phi luôn tỏ ra hết sức chuẩn mực, hiểu biết và dùng cách nói năng của một người có hiểu biết, chẳng hạn:
(1) Khi đối thoại với những người đứng trước trại giam: “Tôi mà kiện
thì tiền bồi thường thừa sống khỏe đến lúc lên thiên đường, nhưng mấy thằng xử oan tôi vào tù, vợ con chúng nó cực, tôi không nỡ, nên chuyện xong rồi, cho qua…”[TS]
Trang 40(2) Với Út Thơm:“Hồi đương chức đương quyền, chỉ có thiên hạ nhờ
xe tôi, chứ không có vụ phải xin đi nhờ kẻ khác thế này”[TS]
(3) Với bà Mười: “Tôi vừa được minh oan Trong khi chờ phục hồi
Đảng và các chức vụ, tình cờ gặp Út Thơm, cô ấy khuyên tôi nên về thăm bà ”[TS]
(4) Với Hai Lức: “Hồi tôi làm chủ tịch quận trên Sài Gòn, việc lớn,
việc nhỏ nào cũng xem thày hết Không thày đố mày làm nên Có thày coi, thày cúng, việc lớn, nhỏ mới thành, và không ai phá được mình.[TS]
(5) Hay với những người đến chúc mừng trúng số độc đắc: “10 tỷ độc
đắc này là do thánh ông thấy Tư Phi tôi ăn ở phúc đức, hồi làm chủ tịch
quận trên Sài Gòn vô cùng liêm khiết, chí công vô tư, trung thực thật
thà thì thiệt thòi thiếu thốn, nên giờ đây, thánh thương mà ban thưởng và
đền bù thiệt hại Đúng không?”[TS]
(6) Với Năm Mị: “Thời tôi làm chủ tịch quận, mấy thứ đó còn thuộc
loại quốc cấm, nói đến nó là vi phạm đạo đức cách mạng.”[TS]
(7) Với Hai Tần và Sáu Thạo: “Hồi làm chủ tịch tỉnh, những vụ này,
anh tuyệt đối không dính vào, nhưng thôi, chiều các chú Bán cái độc đắc này lấy thêm 10 phần trăm, anh cũng chia cho thiên hạ, chứ với anh, tình mới lớn, chứ tiền là nhỏ.”[TS]
Mong muốn được người khác thừa nhận mình là một người như vậy, Tư Phi đã không ngần ngại khẳng định, thể hiện bản thân trong lời nói Chính Tư Phi đã tự xây dựng hình ảnh của mình trong lòng người khác, và luôn hành động
theo chuẩn mực, khuôn khổ của hình ảnh đó để duy trì và gìn giữ nó
Một con người hào sảng, phóng khoáng, coi trọng tình nghĩa hơn tiền bạc, luôn rộng lượng với thiên hạ cũng được biểu hiện rất rõ qua lời thoại của Tư Phi với những người xung quanh:
(8) “Mười vé Giờ tôi biếu bà Mười một vé, vì tôi luôn sống không phải
với bà, nhưng bà vẫn luôn thương tôi.”[TS]