1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo Tập tài liệu nhà công cộng: Công trình giao thông

92 329 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công trình Giao thông
Tác giả Nhóm sinh viên XD11KT
Trường học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Chuyên ngành Kiến trúc
Thể loại Tập tài liệu nhà công cộng
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 48,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo Tập tài liệu nhà công cộng: Công trình giao thông

Trang 1

TẬP TÀI LIỆU NHÀ CÔNG CỘNG

CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Là một trong những thể loại của công trình công cộng, việc thiết kế, xây dựng các công trình giao thông đòi hỏi kiến trúc sư phải có những hiểu biết nhất định về hạng mục này Để đáp ứng yêu cầu đó, nhóm sinh viên kiến trúc Bách Khoa XD11KT xin giới thiệu tập tài liệu nhà công công nhóm công trình giao thông

Tập tài liệu được soạn với hệ thống như sau:

Phần 1:Công trình giao thông đường bộ

Phần 2: Công trình giao thông sắt

Phần 3: Công trình giao thông thuỷ

Phần 4: Công trình giao thông hàng không

Phần 5: Giới thiệu tác giả tiêu biểu

Mục tiêu cơ bản của tập tài liệu công cộng này nhằm xây dựng kiến thức cơ bản về thể loại công trình từ phân loại, lịch sử phát triển, công năng, thành phần, xu hướng phát triển.…Ngoài ra tài liệu cũng cung cấp một số công trình tiêu biểu, tác giả tiêu biểu cho thể loại này.Tập tài liệu trình bày rõ ràng có kèm theo hình ảnh minh hoạ bởi ngôn ngữ có sức biểu cảm và hàm súc nhất của kiến trúc là ở đường nét và hình khối Những kiến thức sẽ giúp ích rất nhiều cho sinh viên trong việc hiểu biết một cách hệ thống tiến hành thiết kế thể loại công trình này

Dù đã cố gắng tìm kiếm nghiêm túc nhưng trong quá trình biên soạn, tổng hợp tài liệu không tránh khỏi những sai xót Rất mong được sự góp ý từ độc giả để tập tài liệu được hoàn thiện hơn

Trang 3

LỊCH SỬ 65 NĂM PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH GIAO

THÔNG VẬN TẢI VIỆT NAM

Kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định thành lập Bộ Giao thông công chính đến nay (28.8.1945), Ngành GTVT Việt Nam đã trải qua hơn 65 năm tồn tại và phát triển, gắn liền với sự nghiệp cách mạng của đất nước với nhiều thời kỳ sôi nổi, hào hùng Sinh thời, Chủ

tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Giao thông là mạch máu của tổ chức Giao thông tốt thì mọi việc

dễ dàng Giao thông xấu thì các việc đình trệ” Câu nói giản dị của Bác không chỉ nhấn

mạnh đến vai trò quan trọng của GTVT trong sự nghịêp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mà còn là lời nhắc nhở nhiệm vụ đối với những người làm công tác GTVT trong quá khứ, hiện tại

và tương lai sau này Có thể nói lịch sử hình thành, phát triển và trưởng thành của mình, lớp lớp thế hệ cán bộ, công nhân, lao động Ngành GTVT Việt Nam đã luôn theo lời chỉ dạy của Bác Hồ, luôn nỗ lực phấn đấu, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta

Giai đoạn 1945 - 1954: GTVT phục vụ kháng chiến chống thực dân Pháp

30 năm đầu tiên của thế kỷ XX, để thực hiện chính sách khai thác triệt để thuộc địa, thực dân Pháp đã xây dựng một hệ thống giao thông từ Bắc vào Nam nhưng chủ yếu nhằm phục

vụ công cuộc cai trị và bóc lột Ngay sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 28.8.1945, Hồ Chủ Tịch đã chính thức ký quyết định thành lập Bộ Giao thông Công chính thuộc Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và giao cho nhân sĩ yêu nước Đào Trọng Kim làm Bộ trưởng Cũng từ đây, hệ thống giao thông đã thực sự trở thành tài sản của người Việt Nam, phục vụ người dân nước Việt

Tuyến đường goòng bắc qua sông ở Bồng Sơn (Bình Định)

để phục vụ kháng chiến chống Pháp

Thời kỳ mới thành lập Bộ Giao thông Công chính đứng trước những khó khăn rất nặng nề với 6 nhiệm vụ rất căn bản: (1) Vận tải quân, lương phục vụ cho kháng chiến Nam Bộ và các chiến trường khi cuộc kháng chiến toàn quốc nổ ra (12.1946); (2) Phá hoại cầu đường ngăn chặn quân địch tiến quân đánh chiến các vùng tự do, các căn cứ kháng chiến với âm mưu đánh nhanh thắng nhanh; (3) Thiết lập các đường dây giao liên, giữ giao thông liên lạc thông suốt các miền Bắc - Trung - Nam phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng,

Trang 4

Chính phủ; (4) Sửa chữa, mở đường các vùng tự do, vùng kháng chiến và đi sâu vào các vùng hậu cứ của địch để phục vụ các chiến dịch đánh địch trên khắp các chiến trường đồng thời gia tăng phục vụ sản xuất; (5) Vận tải hàng hoá, hành khách, vận chuyển lương thực, quân đội tham gia các chiến dịch tấn công giai đoạn 1945 - 1954; (6) Làm nhiệm vụ quốc tế chi viện cho Lào, Campuchia v.v

Đoàn xe vận tải phục vụ chiến dịch Đông Xuân (1953 - 1954)

Thành tựu nổi bật của Ngành giao thông công chính thời kỳ này là đã cùng toàn dân tham gia thực hiện các phong trào do Chính phủ phát động và chỉ đạo như “Tiêu thổ kháng chiến”: Phá đường, cầu, cống và các hệ thống giao thông khác để ngăn chặn địch vận chuyển lương thực, thực phẩm, súng đạn Hàng ngàn các đoạn, các cung đường bộ, hàng trăm cầu lớn đã bị phá huỷ và trở thành vật cản ngăn chặn sự xâm lược của địch Một thành công lớn của ngành giao thông thời kỳ này là công tác mở đường phục vụ các chiến dịch tiến tới chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ Tuy không được đầu tư nhiều về tài chính nhưng sức dân, sự đoàn kết và dũng cảm của toàn quân, toàn dân đã mở ra những kỳ tích của ngành giao thông

Giai đoạn 1954 - 1964: GTVT xây dựng CNXH ở miền Bắc và chi viện cho miền Nam

Trong thời kỳ này, do nhiệm vụ mới của đất nước là khôi phục phát triển kinh tế miền Bắc

để chi viện cho chiến trường miền Nam, Chính phủ đã quyết định đổi tên Bộ Giao thông Công chính thành Bộ Giao thông và Bưu điện do ông Nguyễn Văn Trân làm Bộ trưởng Cơ cấu, bộ máy tổ chức của Bộ cũng được nâng lên ngang tầm với nhiệm vụ, chức năng cụ thể được Chính phủ giao Cơ cấu của Bộ bao gồm: Văn phòng Bộ, Tổng cục Đường sắt, Tổng cục Bưu điện, Nha Giao thông; Ngành vận tải Đường thuỷ; Sở Vận tải, Ty Công chính phi trường

và Trường Cao đẳng giao thông công chính

Trang 5

Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Hữu Mai cắt băng khánh thành cầu Việt Trì (1957)

Nhiệm vụ lớn nhất của Ngành GTVT trong thời kỳ này là khôi phục lại hệ thống giao thông

đã phá hỏng trong kháng chiến chống Pháp để phục vụ phát triển kinh tế miền Bắc và chi viện cho chiến trường miền Nam Trong 10 năm (1954 - 1964) hệ thống đường sắt miền Bắc đã được xây dựng và khôi phục lại với những tuyến đường chính là Hà Nội - Lào Cai; Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Lạng Sơn Những tuyến đường này đã có vai trò quan trọng phục

vụ đi lại, khôi phục kinh tế miền Bắc trong nhều năm thời điểm đó và còn phát huy tác dụng đến bây giờ Một tuyến đường sắt khác được xây dựng là Hà Nội - Thái Nguyên cũng hoàn thành trong giai đoạn này Về giao thông đường bộ, đường thuỷ cũng được Nhà nước đầu tư xây dựng mới nhiều tuyến quốc lộ phía Bắc và một số cảng sông cũng hình thành, trong đó cảng Hải Phòng có vai trò lớn nhất trong vận chuyển hàng hoá phía Bắc và giao thương với nước ngoài Nhiều cây cầu mới, con đường mới có tính huyết mạch cũng đã được mở mang xây dựng vừa bằng sức dân, vừa có sự đầu tư của Nhà nước Ngành GTVT còn tham gia thi công các sân bay như: Nội Bài (trước đây gọi là Đa Phúc), Hoà Lạc (Hà Tây), Vinh (Nghệ An) và sân bay Kép (Bắc Giang) Nhìn chung, thời kỳ này Việt Nam đã hình thành một mạng lưới giao thông tuy không hiện đại nhưng bước đầu phục vụ tốt nhịêm vụ của thời kỳ cách mạng mới

Trang 6

Hồ Chủ Tịch đến thăm công trường khôi phục đường sắt Hà Nội - Mục Nam Quan và cầu Phủ Lạng Thương (Bắc Giang) (25/1/1955)

Trong lĩnh vực vận tải, các ngành vận tải đường bộ, đường sông, đường sắt đều có nhiều bước phát triển vượt bậc so với trước năm 1954 Vận tải đường sắt trong 10 năm (1954 - 1964) đã đảm nhận trên 20% khối lượng vận chuyển toàn ngành, thực hiện sản lượng luân chuyển hàng hoá trên 50% Vận tải đường bộ đã đảm nhiệm từ 30 - 40% khối lượng vận chuyển hàng hoá và hành khách cả nước với đội ngũ các xí nghiệp vận tải hành khách và hàng hoá quốc doanh Công nghiệp GTVT được hình thành với một số chuyên ngành tuy còn hạn hẹp nhưng đã tự túc sản xuất được một số mặt hàng phục vụ ngành Trong công nghiệp GTVT thời kỳ này, nổi bật nhất là Nhà máy toa xe lửa Gia Lâm đã đã hình thành được nhiều phân xưởng quan trọng làm tiền đề cho công nghiệp đóng tàu đường sắt sau này như phân xưởng sửa chữa đầu máy, đóng mới toa xe, rèn, đúc v.v

Ngày 18/12/1965, Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị cắt băng khánh thành đầu máy Tự Lực mang tên "Nguyễn Văn Trỗi"

Trang 7

Đoàn tàu qua cầu Hàm Rồng trong ngày khánh thành 19/5/1964

Nhân dân các dân tộc Mai Châu (Hòa Bình) làm đường mới phục vụ phát triển kinh tế - xã hội miền núi

Giai đoạn 1964 - 1975: GTVT chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ

và chi viện cho giải phóng miền Nam

Đây là thời kỳ đầu đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Ngành GTVT kể từ khi thành lập Hai đặc điểm nổi bật của Ngành thời kỳ này là GTVT phục vụ sự nghiệp củng cố và phát triển kinh tế miền Bắc và chi viện cho cuộc kháng chiến chống Mỹ ở chiến trường miền Nam Cũng trong giai đoạn này, Ngành GTVT đã nhận được một sự đầu tư đáng kể của Nhà nước

và viện trợ giúp đỡ của bạn bè quốc tế, đặc biệt là sự giúp đỡ của Liên Xô (cũ) và Trung Quốc

Trang 8

San lấp hồ bom bảo đảm giao thông thông suốt

Những sự kiện nổi bật ghi dấu ấn của Ngành trong giai đoạn này là đường mòn Hồ Chí Minh lịch sử với phong trào “Tất cả vì miền Nam thân yêu” do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu, Ngành GTVT Việt Nam đã lập nên những kỳ tích huy hoàng, góp phần quan trọng vào chiến thắng của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ oanh liệt Ngành GTVT đã đi đầu trong cuộc kháng chiến với tất cả những con đường có thể mở được, từ đường mòn Hồ Chí Minh trên bộ đến đường đường mòn Hồ Chí Minh trên biển Những “con đường mòn” này về cơ bản vẫn dựa vào sức dân là chủ yếu song đã đóng vai trò quan trọng, nhất là trong việc vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí cho chiến trường miền Nam Lịch sử sẽ còn nhắc lại những chiến công dũng cảm của cán

bộ chiến sĩ, nhân viên Ngành GTVT với các sáng kiến đã đi vào huyền thoại trong cả vận tải đường bộ, đường thuỷ và hàng không

Đội thanh niên xung phong 759, đơn vị anh hùng sửa chữa đường bảo đảm giao thông ở Quảng Bình

Với ngành đường sắt, trong giai đoạn 1964 - 1975 đã liên tục đảm bảo giao thông suốt

Trang 9

trong điều kiện địch đánh phá dữ dội Ngành đường sắt đã làm 3.915 mét cầu tạm, 82km đường và 274,5km dây thông tin và vận chuyển được 4,16 triệu tấn hàng hoá Cán bộ, nhân viên và tự vệ ngành đường sắt đã bắn rơi hàng chục máy bay các loại và dò phá được hàng ngàn quả bom nổ chậm ở các chiến trường trọng điểm miền Nam Với ngành vận tải ô tô đã hình thành 5 công ty vận tải hỗn hợp có tổng 1.271 xe phục vụ chủ yếu chiến trường miền Nam Ngành vận tải đường biển với những con tàu “không số” trên đường mòn Hồ Chí Minh trên biển đã lập hàng trăm kỳ tích mà cho đến tận bây giờ vẫn chưa được nhiều người biết tới

Bộ trưởng Bộ GTVT Phan Trọng Tuệ thăm tàu Hồng Hà sau chuyến mở luồng Nhật Bản thắng lợi trở về

Đoàn xe tải chờ hàng chi viện cho miền Nam đang vượt qua ngã ba

Đồng Lộc, một trong những địa điểm bị đánh phá ác liệt nhất

Trang 10

Một đoàn xe đang vượt ngầm chuyển xăng dầu vào Nam (1971)

Những người đứng đầu Ngành GTVT giai đoạn này là Bộ trưởng Dương Bạch Liên và Bộ trưởng Phan Trọng Tuệ - các Bộ trưởng đã ghi dấu ấn đậm nét trong Ngành với các chiến công làm rạng rỡ truyền thống Ngành GTVT sau này

Giai đoạn 1975 - 1985: GTVT trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN

Sự tàn phá của chiến tranh trong một giai đoạn dài đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống giao thông cả hai miền Nam, Bắc Năm 1975 không còn một tuyến đường bộ nào ở miền Bắc đạt cấp kỹ thuật đồng bộ Phương tiện vận tải của tất cả các ngành giao thông miền Bắc đều thiếu thốn và lạc hậu Đường bộ có 861 xe, máy và thiết bị các loại, trong đó chỉ có hơn 50% là còn sử dụng được Đường biển mới có khoảng 4 vạn tấn phương tiện các loại nhưng đều cũ kỹ và không phù hợp với luồng tuyến Các ngành kinh tế công nghiệp GTVT đều suy yếu bởi thiếu nguồn tài chính đầu tư trong một giai đoạn dài Trước tình hình đó, Đại hội lần thứ 4 của Đảng (Tháng 12.1976) đã đề ra yêu cầu phải “tích cực mở mang GTVT và thông tin liên lạc vì thực tế không cân đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và không cân đối giữa các bộ phận trong nội bộ ngành ” Thực hiện chủ trương

đó, Ngành GTVT đã chấn chỉnh và tổ chức lại bộ máy hoạt động và hình thành một bộ máy mới với các chức năng đầy đủ hơn, đáp ứng thực tế Hàng loạt Sở GTCC ra đời trên toàn quốc và hàng trăm các doanh nghiệp quốc doanh của ngành đường sắt, đường bộ, hàng không, vận tải biển đã ra đời và giữ vững mô hình hoạt động đến năm 1986

Trên công trường xây dựng cầu Thăng Long (1984)

Trang 11

Cục Công trình I tham gia khôi phục đường sắt Thống Nhất

Toàn cảnh đèo Hải Vân sau khi đất nước thống nhất năm 1975

Về hoạt động vận tải đường sắt: trong giai đoạn này đã khánh thành tuyến đường sắt Bắc - Nam với sự kiện ngày 13/12/1976 chuyến hàng từ TPHCM ra Hà Nội và chuyến tàu chở Apatít phục vụ nông nghiệp đã từ Hà Nội lên đường vào TPHCM Vận tải đường sắt cũng đã khai thông tuy năng lực chuyên chở vẫn còn hạn chế Trong giao thông đường bộ đã xây dựng mới hơn 2 vạn mét cầu, 520 cống, đặt mới 660km đường ray và 1.686 km dây thông tin Các cảng quan trọng như cảng Hải Phòng, cảng Sài Gòn cũng được đầu tư nâng cấp thành 2 trung tâm giao nhận hàng hoá lớn nhất của cả nước cùng với hệ thống cảng sông, đội tàu được khôi phục và đầu tư mới tạo ra diện mạo khác hẳn thời kỳ chiến tranh chống

Mỹ Điều đặc biệt là hệ thống vận tải quốc doanh đã có bước phát triển mạnh với đội ngũ kỹ

sư chế tạo, sửa chữa và lái xe được đào tạo trong những trường chuyên ngành Bộ GTVT

Trang 12

Bộ Trưởng Bộ GTVT Phan Trọng Tuệ

đi kiểm tra cầu đường sắt bắc qua sông Trà Khúc (1977)

Tàu Thái Bình - con tàu đầu tiên của ngành vận tải biển mở luồng sang Cuba và thực hiện chạy vòng quanh trái đất (1982)

Trang 13

Bộ trưởng Bộ GTVT Đồng Sĩ Nguyên và đại diện Chính phủ Phần Lan làm lễ bàn giao giai đoạn 1 - xây dựng

Nhà máy sửa chứa tàu biển Phà Rừng (1984)

Giai đoạn 1986 đến nay: GTVT góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển đất

nước thời kỳ Đổi mới

Ngay từ khi bắt đầu công cuộc ‘Đổi mới’, phát triển nền kinh tế đất nước theo kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đảng CSVN đã chủ trương phải ưu tiên đầu tư phát triển GTVT để GTVT đi trước một bước tạo tiền đề và thúc đẩy kinh tế phát triển Nghị quyết Đại hội Đảng

toàn quốc lần thứ VI (1986) xác định: “GTVT là khâu quan trọng nhất của kết cấu hạ tầng’’

và “GTVT phải đi trước một bước để đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế quốc dân’’

Km0 - Quốc lộ 5 cửa ngõ giao thông phía Đông của Thủ đô Hà Nội

Tiếp sau đó, Nghị quyết các Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991), lần thứ VIII (1996)

đã xác định những mục tiêu lớn của Ngành GTVT Đó là: “Khắc phục tình trạng xuống cấp

của hệ thống giao thông hiện có; khôi phục, nâng cấp và mở rộng thêm một số tuyến giao thông trọng yếu, kết hợp giao thông với thuỷ lợi, tận dụng giao thông đường thuỷ; mở thêm

Trang 14

đường đến các vùng sâu, vùng xa ; cải thiện giao thông ở các thành phố lớn Cải tạo, nâng cấp một số cảng sông, cảng biển, sân bay; xây dựng dần cảng biển nước sâu’’

Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001), Nghị quyết Đại hội một lần nữa ghi rõ: “Kết

cấu hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và có bước đi trước Hệ thống giao thông bảo đảm lưu thông an toàn, thông suốt quanh năm và hiện đại hoá một bước Mạng lưới giao thông nông thôn được mở rộng và nâng cấp”; “Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ: thương mại, hàng không, hàng hải ”

Đường cao tốc Thăng Long - Nội Bài con đường đầu tiên do các kỹ sư

Việt Nam thiết kế và thi công, được thông xe ngày 10/03/1994

Thực hiện chủ trương và những mục tiêu mà Đảng đề ra, toàn Ngành GTVT đã có nhiều cố gắng, huy động và phát huy nhiều nguồn lực phục vụ công cuộc phát triển Ngành Có thể chia ra 2 giai đoạn chính trong thời kỳ này :

Từ 1986 đến 1995:

Trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1995, do đất nước vẫn đang bị bao vây cấm vận, ngân sách Nhà nước hết sức khó khăn nên Ngành GTVT tập trung chủ yếu nguồn lực cho công tác duy tu bảo dưỡng để đảm bảo an toàn giao thông và triển khai xây dựng một số công trình thực sự cấp bách

Trang 15

Quốc lộ 5 Hà Hội - Hải Phòng

Trong giai đoạn này, Bộ GTVT đổi tên thành Bộ GTVT và Bưu điện sau khi Tổng cục Bưu điện và Cục Hàng không dân dụng sáp nhập vào Bộ GTVT Một số nhiệm vụ chính của Bộ GTVT và Bưu điện trong giai đoạn này là: (1) Về vận tải: Tập trung chỉ đạo các ngành vận tải kiên quyết thực hiện mục tiêu vận tải đối với các mặt hàng quan trọng trong nền kinh tế như than, phân bón, hàng xuất nhập khẩu; đồng thời phục vụ các nhu cầu đời sống xã hội như: lương thực, hàng tiêu dùng thiết yếu, hàng lên miền núi (2) Trong sản xuất công nghiệp tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm, áp dụng tiến bộ kỹ thuật để nghiên cứu, thiết kế và sản xuất những mặt hàng mới như trạm trộn nhựa, lu bánh lốp, lu diezen và tập trung vào hai khâu lớn là sửa chữa tàu biển, phương tiện thiết bị công trình lắp ráp ô tô, sửa chữa đầu máy và đóng toa xe (3) Về xây dựng cơ bản: kiên quyết dành vốn và các điều kiện khác cho những công trình trọng điểm và các công trình có khả năng hoàn thành để đưa vào khai thác Công tác duy tu, quản lý đường bộ, chất lượng công trình được coi trọng (4) Về thông tin liên lạc: Hoàn thành một số tuyến vi ba từ Hà Nội đi các tỉnh và nhất là công tác thông tin phục vụ hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các kỳ họp Quốc hội

Khánh thành cầu Phong Châu (Vĩnh Phú) ngày 28/7/1995

Trong 10 năm đầu quá trình đổi mới, ngành đường bộ đã hoàn thành một số tuyến đường, cây cầu có tầm vóc lớn, góp phần phát triển kinh tế xã hội như: cầu Bến Thuỷ, Thái Bình, Yên Bái, Đò Quan, Việt Trì, Tràng Tiền, Phong Châu ; các quốc lộ như QL1, QL5, QL80, QL24 Nhiều đô thị mới cũng đã mọc lên dọc theo các tuyến đường Giao thông miền núi, giao thông nông thông trong giai đoạn này cũng bắt đầu khởi sắc Nhờ sự đầu tư của Nhà nước kết hợp với ngân sách địa phương và sức dân, hàng ngàn con đường liên huyện, liên xã đã được mở ở nhiều nơi từ Bắc - Trung - Nam, tạo ra mạng lưới giao thông trải rộng trên khắp đất nước

Trang 16

Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Bộ trưởng Bộ GTVT Bùi Danh Lưu đến dự lễ thông xe cầu Việt Trì ngày 25/5/1995

Đối với đường sắt, những kỳ tích đặc biệt về tần suất và thời gian chạy tàu cũng được lập nên trong giai đoạn này nhờ việc đầu tư nâng cấp, đóng mới phương tiện và cải thiện trình

độ quản lý Đặc biệt, ngành hàng không dân dụng từ năm 1990 đã có sự phát triển cực kỳ nhanh chóng Từ chỗ chỉ có các máy bay thế hệ cũ của Liên Xô (trước đây) như TU, AN , đội máy bay của Vietnam Airlines lần đầu tiên đã mạnh dạn thuê 10 chiếc máy bay Airbus A320 và mua các máy bay như ATR72, Fokker70 để đưa vào khai thác Đây là những loại máy bay rất hiện đại lúc bấy giờ, làm thay đổi hẳn bộ mặt của hãng hàng không quốc gia Việt Nam Cùng với việc đổi mới máy bay, các điểm đến của hàng không Việt Nam trong giai đoạn này cũng phát triển hết sức ấn tượng, cả trong nước và quốc tế Thị trường hàng không Việt Nam trở nên sôi động và có tốc độ phát triển rất nhanh, có năm lên tới trên 40%

Cầu Mỹ Thuận - cây cầu dây văng lớn nhất Đông Nam Á

Các lĩnh vực quan trọng khác của Ngành GTVT như vận tải biển quốc tế, nội địa cũng được đầu tư hàng ngàn tỷ đồng để mở rộng các cảng; đóng mới và sửa chữa các tàu vận tải lớn

Hệ thống các doanh nghiệp thuộc Bộ có vai trò rất quan trọng trong việc sản xuất công nghiệp GTVT với việc hàng năm tạo ra hàng ngàn tỷ đồng lợi nhuận, không chỉ đóng góp và

Trang 17

ngân sách Nhà nước mà còn góp phần vào tái đầu tư, mở rộng hoạt động của ngành trong chế tạo, lắp ráp, xây dựng công nghiệp GTVT

Hầm đèo Ngang do Tổng công ty tư vấn thiết kế GTVT

tư vấn khảo sát và giám sát xây dựng

Về mặt tổ chức, năm 1992, ngành Bưu điện và ngành Hàng không tách ra khỏi Bộ GTVT Tuy nhiên, đến năm 2003, Cục Hàng không dân dụng trở lại trực thuộc Bộ GTVT Theo Nghị định 34/2003/NĐ - CP ngày 04/4/2003 của Chính phủ thì hiện nay tổ chức Bộ GTVT gồm có các Vụ, Văn phòng Bộ, Thanh tra Bộ ; các Cục: Đường bộ, Đường sắt, Đường sông, Hàng hải, Hàng không, Đăng kiểm, Giám định và Quản lý chất lượng công trình giao thông Ngoài

ra là một số đơn vị sự nghiệp (Viện, trường, báo, tạp chí, Sở Y tế ) và các doanh nghiệp

Đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ

Từ năm 1996 trở lại đây, trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng giao thông, nhiều công trình giao thông đã được triển khai Trong 10 năm (từ 1996 đến 2005) Ngành GTVT đã tiến hành cải tạo nâng cấp và làm mới hơn 16.000 km đường bộ; 1.400 km đường sắt; hơn 130.000 md cầu đường bộ; 11.000 m dài cầu đường sắt Nâng cấp và xây dựng mới 5.400 m dài bến cảng; nạo vét 4,8 triệu m3 luồng lạch

Về đường bộ, Ngành GTVT đã hoàn thành cơ bản việc nâng cấp toàn tuyến trục dọc “xương sống” của đất nước là Quốc lộ 1 từ Lạng Sơn đến Cần Thơ, trong đó nổi lên 02 công trình qui mô và hiện đại là Hầm đường bộ đèo Hải Vân và cầu Mỹ Thuận Cùng với trục dọc này, một trục dọc thứ hai cũng đã hình thành Đó là đường Hồ Chí Minh đã hoàn tất giai đoạn 1

Trang 18

(Đoạn từ Hoà Lạc đến Ngọc Hồi) Đường Hồ Chí Minh sẽ nối kết hơn 100 tuyến đường ngang trong đó có các trục hành lang Đông - Tây, nối liền với QL 1A ở phía Đông, gắn với hệ thống cảng biển nước sâu dọc bờ biển miền Trung, hệ thống các sân bay trên cao nguyên hình thành một mạng lưới giao thông hoàn chỉnh từ Bắc vào Nam và liên thông với các nước láng giềng

Ngoài 02 trục dọc trên, Ngành GTVT đã hoàn thành các tuyến quốc lộ chính yếu nối đến các cảng biển và cửa khẩu quốc tế như QL5, QL18, QL10, QL22, QL51, QL14B Đồng thời, đã

và đang nâng cấp các tuyến quốc lộ hướng tâm và vành đai phía Bắc, phía Nam; các tuyến quốc lộ ở Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long

Trên các tuyến đường mới, hàng loạt các cầu đã được xây dựng như: cầu Kiền, cầu Tô Châu,

Tạ Khoa, Bến Lức, cầu Tuần và tuyến tránh thành phố Huế, cầu Tân An và tuyến tránh Tân

An, cầu Yên Lệnh; cầu Tuyên Nhơn (tuyến N2); các cầu thuộc dự án cầu QL1: Đà Rằng, Diêu Trì, Tam Giang; Sông Vệ, Câu Lâu, Trà Khúc, Cây Bứa, Bồng Sơn và Bàn Thạch; cầu Sông Rộ (dự án Đường HCM về quê Bác); cầu Gò Chai (dự án Đường xuyên Á) cầu Hoà Mạc, cầu Kênh Tiêu, cầu Hà Nha, cầu Giát (QL38) Đặc biệt, hiện nay công trình cầu Cần Thơ đã được khánh thành và đưa vào sử dụng, đánh dấu sự hoàn tất các cầu trên Quốc lộ 1 - huyết mạch giao thông của đất nước

Các thợ lái đầu máy "Đổi mới" thực hiện kỷ cương

an toàn chạy tàu để phục vụ vận tải tết Quý Mùi 2003

Bên cạnh các dự án sử dụng vốn NSNN và tài trợ quốc tế, trong giai đoạn vừa qua đã nổi lên một số dự án BOT lần đầu tiên đã được hoàn thành và đưa vào sử dụng như BOT Đèo Ngang; BOT An Sương - An Lạc Đây là tín hiệu rất đáng mừng về khả năng huy động tối đa các nguồn lực trong xã hội cho sự phát triển kết cấu hạ tầng giao thông

Về đường sắt, Ngành GTVT đã từng bước nâng cấp các tuyến đường sắt hiện có, nâng cao

an toàn và rút ngắn đáng kể thời gian chạy tàu Các cầu và ga trên đường sắt Thống Nhất

đã được cải tạo và nâng cấp Về đường sông, đã hoàn thành nâng cấp 2 tuyến đường thuỷ phía Nam (TP HCM - Cà Mau, TP HCM - Kiên Lương); đồng thời từng bước nâng cấp các tuyến sông chính yếu khác

Về hàng hải, Ngành GTVT trong giai đoạn vừa qua đã hoàn thành nâng cấp giai đoạn 1 các cảng biển tổng hợp quốc gia chủ yếu như: Cảng Cái Lân, Cảng Hải Phòng, Cảng Cửa Lò, Cảng Vũng áng, Cảng Tiên Sa, Cảng Quy Nhơn, Cảng Nha Trang, Cảng Sài Gòn, Cảng Cần Thơ và hoàn thành nâng cấp một số cảng địa phương cần thiết đáp ứng lượng hàng hoá thông qua

Trang 19

Tàu Tây Sơn

Về hàng không, tất cả các cảng hàng không trên khắp cả nước đều được nâng cấp một bước, đáp ứng kịp thời nhu cầu đi lại bằng máy bay đang ngày càng gia tăng Một số công trình quan trọng có thể kể ra như: Nhà ga T1và đường cất hạ cánh 1B Cảng hàng không quốc tế Nội Bài; đường cất hạ cánh 25L tại Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất; nhà ga, sân đỗ, đường hạ cất cánh sân bay Vinh, nhà ga sân bay Phú Quốc ; nhà ga hành khách Cảng hàng không Phù Cát (Bình Định), hoàn thành nâng cấp Cảng hàng không Vinh, đưa vào sử dụng Cảng hàng không Côn Sơn (Bà Rịa - Vũng Tàu); khánh thành nhà ga hành khách và đài kiểm soát không lưu Cảng hàng không Điện Biên Phủ; Cảng hàng không Chu Lai

Đối với hệ thống giao thông địa phương, đến nay hệ thống đường tỉnh đã được mở mang, nâng cấp một bước, tạo được sự kết nối tốt hơn với hệ thống quốc lộ Giao thông nông thôn phát triển mạnh đã làm giảm số xã chưa có đường đến trung tâm từ 663 xã năm 1997 xuống còn 219 xã năm 2004 Tuy nhiên đến nay, do có sự chia tách xã và nhiều tuyến đường giao thông nông thôn do không được quản lý, bảo trì và thiên tai phá hoại bị hư hỏng, xuống cấp nên số lượng xã chưa có đường về trung tâm tăng lên gần 400 xã

Cảng Hàng không quốc tế Tây Sơn Nhất - 2004

Trang 20

Trong lĩnh vực vận tải, các dịch vụ vận tải đã và đang đáp ứng kịp thời những yêu cầu hết sức đa dạng của thị trường Chưa bao giờ người dân lại đi lại dễ dàng và thuận tiện như hiện nay nay với nhiều tuyến vận tải đường bộ đi khắp nơi, tới mọi “hang cùng, ngõ hẻm” với nhiều loại ô tô hiện đại, phục vụ nhiều tiện nghi như điều hoà, tivi Tàu hoả Bắc - Nam ngày càng nhiều chuyến hơn Hàng không Việt Nam ngày một có thêm nhiều máy bay đời mới, hiện đại như Boeing B767, B777, Airbus A321 đưa vào khai thác nhiều tuyến bay mới

cả trong nước và quốc tế Các đội tàu biển, tàu sông của Việt Nam cũng vươn tới nhiều điểm đến trên toàn thế giới

Theo số liệu thống kê thì trong vòng 10 năm qua, hoạt động vận tải bình quân tăng 8,6%/năm về tấn hàng hoá; 9,9% về T.Km; 8% về hành khách và 9,6% về HK.Km cao hơn chỉ tiêu Đại hội IX đặt ra là 9 - 10% T.Km và 5 - 6% HK.Km Tốc độ tăng trưởng nói trên có thể nói là khá cao so với chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế chung 7,5% mà Đảng và Chính phủ đề

ra Điều này cũng có nghĩa là Ngành GTVT đã và đang đóng góp rất tích cực vào tốc độ tăng trưởng của kinh tế đất nước; giúp nền kinh tế đạt được mục tiêu tăng trưởng đã đặt ra

Khánh thành cầu Cần Thơ - 2010

Chất lượng các dịch vụ vận tải cũng ngày càng được nâng cao với nhiều hình thức đa dạng, phong phú Vận tải container có bước phát triển mạnh; vận tải đa phương thức đang từng bước được hình thành Vận tải hành khách công cộng tại các thành phố, đặc biệt là Hà Nội

và TP HCM phát triển mạnh, được xã hội chấp nhận, góp phần quan trọng làm giảm ùn tắc giao thông đô thị

Ngoài việc phát triển kết cấu hạ tầng giao thông và nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải, Ngành GTVT còn có những bước tiến rất nhanh trong lĩnh vực công nghiệp cơ khí, đặc biệt là ngành đóng tàu, sản xuất ô tô Nhiều sản phẩm của các đơn vị công nghiệp trong Ngành GTVT đã nhận được sự tín nhiệm của khách hàng cả trong nước và quốc tế Thời gian qua, một số sản phẩm xe buýt của VINAMOTOR, tàu thuỷ của VINASHIN đã xuất khẩu được ra nước ngoài, đánh dấu một bước phát triển quan trọng và có ý nghĩa của ngành công nghiệp

cơ khí GTVT

Về công tác an toàn giao thông, trong những năm gần đây, Ngành GTVT đã thực thi một cách mạnh mẽ, quyết liệt và đồng bộ nhiều chính sách nhằm góp phần cùng toàn xã hội thực hiện mục tiêu “3 giảm” về TNGT mà Quốc hội và Chính phủ đề ra Đó là giảm về số vụ tai nạn, giảm số người chết và giảm số người bị thương Để làm được điều này, Ngành GTVT

đã tập trung cải thiện kết cấu hạ tầng giao thông, xoá bỏ các “điểm đen” về TNGT; kiểm soát chặt chẽ phương tiện, từng bước loại bỏ các phương tiện cũ nát; tăng cường chất lượng công tác đào tạo, sát hạch và cấp phép người lái… Theo số liệu thống kê thì liên tục trong 3 năm qua, số vụ TNGT, số người chết và số người bị thương tính trên 10.000 phương tiện đều giảm Đây là kết quả rất đáng mừng, thể hiện sự nỗ lực không chỉ của Ngành GTVT mà còn của các địa phương và toàn bộ hệ thống chính trị

Về công tác quản lý Nhà nước của Bộ GTVT, từ năm 2001 trở lại đây, công tác xây dựng thể chế, văn bản qui phạm pháp luật trong lĩnh vực GTVT đã có bước chuyển biến quan trọng Hàng loạt bộ luật và văn bản quy phạm pháp luật đã được ra đời Năm 2001 Quốc hội ban hành Luật Giao thông đường bộ Năm 2004 là Luật Giao thông đường thuỷ nội địa Năm

2005, Quốc hội đã thông qua thêm 02 luật nữa là Luật Đường sắt và Bộ luật Hàng hải (sửa đổi) Cuối năm 2005, Quốc hội đã xem xét và thông qua Luật Hàng không dân dụng (sửa đổi) Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử, Ngành GTVT đã có đủ 05 bộ luật điều chỉnh 05 lĩnh vực giao thông của Ngành: đường bộ, đường sông, đường sắt, hàng hải và hàng không

Trang 21

CÔNG NĂNG CHUNG:

Cổng ra vào > Sảnh chờ > Khu vực làm thủ tục, bán vé > Khu vực đi-đến

KẾT CẤU:

Ngày nay Khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển, lịch sử kiến trúc đã trải qua bề dày sáng tạo Điều này dần đáp ứng môi trường sống và không gian làm việc lý tưởng cho con người

Mỗi công trình khi xây dựng nên phải thể hiện được những tiêu chí: Bền vững, có tính thẩm

mỹ kiến trúc độc đáo hài hòa và công năng sử dụng lớn Bởi nó mang trong mình nét văn hóa đặc trưng của từng dân tộc hoặc mang tính thời đại, là tiền đề để tăng trưởng kinh tế của cơ sở, của ngành, của vùng và là bộ mặt của cả Quốc gia

Đặc biệt những công trình có khẩu độ không gian nhịp lớn đã rất cần thiết và đem lại hiệu quả cực kỳ tối ưu, như các sân vận động, sân bay, nhà ga, nhà máy, bảo tàng Với việc sáng tạo ra loại mái không gian dạng lưới có nhiều ưu điểm: rẻ, dễ chế tạo, lắp ráp, bền, nhẹ, tạo nhiều hình dáng kiến trúc và nổi bật là vượt được nhịp lớn nên đã góp phần cho sự hoàn thiện những công trình này một cách nhanh chóng, kinh tế và linh hoạt

Nên việc nghiên cứu để đưa loại mái này vào thực tế ở nước ta hiện nay là một nhu cầu cần thiết

Trang 22

Kết cấu dàn lưới thép không gian nhờ ưu điểm vượt trội mà nó đang dần dần thay thế các dạng kết cấu truyền thống như: dàn vì kèo, dàn bê tông cốt thép, bản - vỏ mỏng bê tông cốt thép

Dạng kết cấu này đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới trong nhiều thập kỷ gần đây, các công trình như nhà trưng triển lãm, nhà ga, sân vận động

Cụ thể: Nhà ga xe lửa quốc tế Waterloo ở London, được xây dựng năm 1992 do Nicholas Grimshaw, các kỹ sư kết cấu và tổ chức YRM Anthony Hunt thiết kế Thiết kế bao gồm một số nét tân cách đặc trưng, các cấu kiện thép thon mảnh được sử dụng đã tăng thẩm mĩ và giảm đáng kể trọng lượng của hệ toàn mái

Giàn thép không gian lớn ở ga hàng không Kan-Sai, Nhật Bản

Đối với Việt Nam, trên con đường công nghiệp hóa đất nước, nhiều công trình vượt khẩu độ có nhiều hình dáng đặc biệt, yêu cầu thi công nhanh như: Cung thể thao, nhà ga sân bay, nhà công nghiệp được xây dựng ở nhiều nơi, trong đó các nhà thiết kế đã chọn kết cấu dàn lưới không gian làm mái che Chẳng hạn, nhà thi đấu Quần ngựa, nhà thi đấu thể thao Nam Định, sân bay quốc tế Nội bài

Trang 23

· Một số hình ảnh về mái lưới không gian nhịp lớn trên Thế giới:

Trang 25

LỊCH SỬ GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Luật giao thông, biển số xe, bằng lái, đèn giao thông hay những khái niệm khác liên quan đến ngành giao thông đường bộ đã trở nên quá quen thuộc nhưng không phải ai cũng biết rõ lịch sử hình thành và phát triển của chúng

Luật giao thông đầu tiên

Đối với những người sống trong thế kỷ 19, thuật ngữ “giao thông” không bao giờ đi kèm với nhựa đường, xe hơi, đèn giao thông, tín hiệu giao thông, bảng tên đường hay cảnh sát giao thông Tuy nhiên, khi cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu bùng nổ, đường sắt cũng như những cánh đồng bắt đầu ngập tràn các phương tiện chạy bằng động cơ (hay còn gọi là đầu máy đường bộ) Để di chuyển từ nơi này sang nơi khác, các đầu máy phải chạy xuyên qua những khu vực thành thị, đông dân cư Mặc dù chậm và ồn ào, chúng vẫn là mối đe dọa lớn cho những người đứng xem hoặc ngựa trên đường

Lo ngại về viễn cảnh người dân bị nghiền nát cũng như đêm đêm phải nghe tiếng thở hổn hển, Quốc hội Anh đã áp dụng Dự luật giao thông dành cho đầu máy vào năm 1861

So với ngày nay, các điều khoản của dự luật có vẻ hài hước và mất dần ý nghĩa theo thời gian Tuy nhiên, một số điều khoản đã góp phần hình thành nền tảng cho bộ luật giao thông hiện tại Theo đó, trọng lượng tối đa của một chiếc xe là 12 tấn và giới hạn tốc độ ở con số 16 km/h Có vẻ như những người làm luật không biết rõ vận tốc thực của một chiếc

xe khi chạy trên đường

Trang 26

Năm 1865, dự luật được sửa đổi và thay tên thành Dự luật đầu máy (hay Dự luật cờ đỏ) Dự luật yêu cầu một chiếc xe gắn động cơ bất kể mục đích phải có một người cầm cờ đỏ dẫn đường khi tham gia giao thông (người Anh sử dụng thuật ngữ “highway” cho mọi loại

đường, bao gồm cả phố và vỉa hè công cộng)

Giới hạn tốc độ giảm xuống còn 6 km/h tại khu vực ngoại thành và 3 km/h trong thành phố Tuy nhiên, điều khoản bổ sung quan trọng nhất chính là yêu cầu phải có ít nhất 3 người vận hành một chiếc xe: một tài xế, một người đốt lò và một người cầm cờ đỏ lẫn xách đèn Người cầm cờ có hai nhiệm vụ: giảm tốc độ xe khi buộc phải lái ở vận tốc đi bộ và cảnh báo người đi bộ cũng như người cưỡi ngựa về sự hiện diện của họ

Đến năm 1896, Dự luật giao thông đầu máy sửa đổi (hoặc Dự luật giải phóng) đã chấm dứt yêu cầu về đội lái gồm 3 người, tăng giới hạn tốc độ lên 22 km/h và quan trọng hơn là thiết lập danh sách các loại đầu máy hạng nhẹ với trọng lượng dưới 3 tấn như hiện nay

Để tôn vinh dự luật, ông Harry Lawson đã khởi công xây dựng tuyến đường từ London đến Brighton Run dài nhất thế giới

Biển số xe đầu tiên

Khi số lượng xe hơi lưu thông trên đường tăng lên cũng là lúc các nhà lãnh đạo cần phải theo dõi chúng và những chủ sở hữu Quốc gia đầu tiên sử dụng biển số xe là Pháp vào năm 1893 Tuy nhiên, nước đi đầu trong việc thiết lập một hệ thống biển số quốc gia hoàn chỉnh lại là Hà Lan

Bằng lái xe đầu tiên

Cho đến tận thập niên 1900, mới chỉ có một vài bộ luật qui định về giới hạn và yêu cầu dành cho bản thân những chiếc xe Năm 1904 là thời điểm chứng kiến một loạt những thay đổi đáng kể

Tại Anh, thói quen sử dụng biển số xe như đã nói ở trên trở thành luật vào năm 1904 khi

Dự luật ô tô xe máy bắt đầu có hiệu lực

Lần đầu tiên, thuật ngữ lái xe bất cần được ra đời, song hành cùng hình phạt dành cho những người có tội Nếu không treo biển số xe, tài xế sẽ bị khép vào tội chống đối

Thật may mắn, cuối cùng thì bằng lái xe cũng xuất hiện Tuy nhiên, vào thời điểm đó vẫn chưa tổ chức những cuộc thi sát hạch lái xe nên chỉ cần trả 5 xu và điền vào mẫu là bạn có thể sở hữu bằng lái của mình

Hệ thống đèn giao thông đầu tiên

Người Anh giới thiệu loại đèn giao thông đầu tiên trước khi bắt buộc tài xế phải có bằng lái Bảng tên đường bắt đầu xuất hiện tại thành phố Ur (thuộc Iraq) vào khoảng 4.000 năm trước Công nguyên trong khi phải đến cuối những năm 1800 đèn giao thông mới ra đời

Loại đèn giao thông đầu tiên trên thế giới được lắp đặt bên ngoài tòa nhà Quốc hội Anh có hai màu (đỏ và xanh) Nó không vận hành bằng điện mà dùng khí và phải bật bằng tay

Trang 27

Theo các bản báo cáo, chỉ sau một tháng sử dụng, loại đèn giao thông này phát nổ, do đó

nó không bao giờ được tái thiết kế

Tuy nhiên, ý tưởng về hệ thống đèn giao thông lại rất hữu ích Đến năm 1912, ông Lester Wire tại Mỹ vốn được coi là nhà phát minh ra đèn giao thông đỏ-xanh chạy bằng điện đã hồi sinh ý tưởng đó Đèn giao thông đầu tiên được lắp đặt vào năm 1914 tại góc phố East 105th

và đại lộ Euclid thuộc thành phố Cleveland, bang Ohio Loại đèn ba màu ra đời như một bước tiến hóa tự nhiên vào năm 1920 dưới bàn tay của William Potts

Hệ thống đèn giao thông nối nhau xuất hiện lần đầu tiên tại thành phố Salt Lake năm 1917 khi giao thông tại 6 ngã tư được điều khiển bằng một công tắc Năm 1920 chứng kiến sự nổi lên của đèn giao thông tự động tại thành phố Houston 5 năm sau, Anh vốn là quốc gia khởi nguồn mới bắt đầu lắp đặt hệ thống đèn giao thông tại thành phố Wolverhampton

Hệ thống tín hiệu giao thông đầu tiên

Như đã nói ở trên, tín hiệu giao thông theo nghĩa chung chung đã có mặt hàng thiên niên kỷ nay Ban đầu, chúng xuất hiện dưới dạng cột đá dựng đứng hoặc tảng đá bên đường có đánh dấu các khoảng cách khác nhau dẫn tới những trung tâm thành phố quan trọng Tuy nhiên, vào thời điểm đó, chúng chỉ thông báo chứ không có tác dụng chỉ hướng cho người tham gia giao thông

Hệ thống tín hiệu giao thông hiện đại đầu tiên được phát minh năm 1895 bởi Câu lạc bộ Du lịch Italia nhưng ít ai biết những qui ước của nó Phải đến năm 1909, chín quốc gia châu Âu mới đồng ý sử dụng các tín hiệu giống nhau để ám chỉ những thuộc tính đường như “xóc”,

“vòng cung” hoặc “giao nhau” Ngày nay, người ta vẫn đang tiếp tục cố gắng tạo ra một hệ thống tín hiệu hoàn chỉnh và đồng nhất mặc dù hệ thống hiện đại được dùng từ năm 1950 Tại Mỹ, hệ thống quốc tế bắt đầu đi vào sử dụng từ những năm 1960 Kể từ đó, nước Mỹ sử dụng hệ thống tín hiệu riêng của mình

Thế giới bắt đầu đổi sang lề phải vào đầu thập kỷ 1800 khi những người đánh xe chở hàng hóa cảm thấy sử dụng lề đường bên phải để tránh các phương tiện khác dễ hơn (do thường ngồi trên con ngựa cuối cùng bên trái nên họ có thể ước tính khoảng cách chính xác hơn nếu có chiếc xe khác đang đến gần)

Ngày nay, ngoài những nước thuộc đế chế Anh, toàn bộ các quốc gia còn lại đều đi bên lề phải

Trang 28

HÌNH ẢNH CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ XƯA VÀ NAY

THÔNG ĐƯỜNG BỘ ( bến xe, trạm xe buýt, trạm thu phí, )

Trang 31

XU HƯỚNG

Hệ thống điều khiển giao thông thông minh (ITS)

ITS là công nghệ mới phát triển trên thế giới, được sử dụng để giải quyết các vấn đề của giao thông đường bộ, bao gồm tai nạn và ùn tắc giao thông ITS sử dụng các tiến bộ của công nghệ thông tin và viễn thông để liên kết giữa con người, hệ thống đường giao thông và phương tiện giao thông lưu thông trên đường thành một mạng lưới thông tin và viễn thông phục

vụ cho việc lưu thông tối ưu trên đường cao tốc

Các cảm biến sẽ được lắp đặt trên mặt đường để thu thập các thông tin về luồng giao thông, khí hậu, thời tiết,…các thông tin này được hệ thống máy tính phân tích và xử lý, sau đó cung cấp trở lại cho tài xế về tình hình giao thông trên đường (tai nạn, ùn tắc giao thông, thời tiết…) để tài xế chọn giải pháp giao thông tối ưu, giúp hạn chế tối đa tai nạn và ùn tắc giao thông, đảm bảo thời gian đi lại ngắn nhất và an toàn nhất cho các phương tiện đang lưu thông trên đường

Theo ông Seong J.Namkoong, Giám đốc trung tâm dữ liệu về đường cao tốc Hàn Quốc, giao thông cũng là một cách để hiểu được con người Bởi vậy, khái niệm ITS có 3 yếu tố tham gia là con người- xe cộ- đường sá

Thông minh hóa hệ thống giao thông chính là giảm vai trò của con người trong điều hành giao thông Khi con người không còn vai trò gì thì sẽ đạt đến mức tự động hóa Đây chính là mục tiêu cao nhất của ITS Để đạt được mục tiêu này, ITS phải có 3 giai đoạn: thu thập thông tin, xử lý thông tin và đưa thông tin được xử lý tới người tham gia giao thông

ITS là công nghệ mới phát triển trên thế giới, được sử dụng để giải quyết các vấn đề của giao thông đường bộ, bao gồm tai nạn và ùn tắc giao thông ITS sử dụng các tiến bộ của công nghệ thông tin và viễn thông để liên kết giữa con người, hệ thống đường giao thông và phương tiện giao thông lưu thông trên đường thành một mạng lưới thông tin và viễn thông phục vụ cho việc lưu thông tối ưu trên đường cao tốc

Trang 32

Hệ thống ITS Hong Kong sử dụng hệ thống CCTV và các cảm biến để thu thập thông tin

Chính vì vậy, sẽ có nhiều camera và cảm biến được lắp đặt trên mặt đường để thu thập các thông tin về luồng giao thông, khí hậu, thời tiết, các thông tin này được hệ thống máy tính phân tích và xử lý, sau đó cung cấp trở lại cho tài xế về tình hình giao thông trên đường

để tài xế chọn giải pháp giao thông tối ưu, giúp hạn chế tối đa tai nạn và ùn tắc giao thông, đảm bảo thời gian đi lại ngắn nhất và an toàn nhất cho các phương tiện đang lưu thông trên đường

Đây là hệ thống bao gồm các phương tiện truyền hình, nối mạng quản lý toàn quốc Nhà quản lý chỉ cần ngồi một chỗ vẫn có thể bao quát được toàn bộ hệ thống đường toàn quốc Đơn cử, một sự kiện đang xảy ra trên một điểm của đường cao tốc có thể lập tức được thông báo trong toàn hệ thống quản lý và sử dụng đường cao tốc, đồng thời kết nối với tổ chức thanh tra giao thông trên toàn quốc để kịp thời xử lý

Tại một số cuộc hội thảo gần đây, nhiều chuyên gia trong và ngoài nước còn đưa ra rất nhiều lợi ích khác của ITS như: nâng cao được tính an toàn cho các phương tiện tham gia giao thông; giảm ô nhiễm môi trường, tối ưu hóa nhu cầu giao thông, hệ thống quản lý xe tiên tiến, tăng cường hiệu quả trong việc vận chuyển hàng hóa; tăng cường được tính tiện nghi cho các cá nhân; thúc đẩy các hoạt động kinh tế trong khu vực; tạo lập được một nền tảng chung và xúc tiến các tiêu chuẩn quốc tế và quy trình kỹ thuật toàn cầu

Thời gian tới đây, Việt Nam sẽ đầu tư mạnh mẽ vào đường bộ cao tốc Tại Quy hoạch phát triển mạng đường bộ cao tốc Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020 được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 1734/QĐ-TTg - đã xác lập mạng đường bộ cao tốc Việt Nam gồm 22 tuyến, với tổng chiều dài 5.873 km

Trong đó, riêng tuyến cao tốc Bắc-Nam có tổng chiều dài khoảng 3.262km, gồm tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông dài khoảng 1.941km và tuyến cao tốc Bắc-Nam phía Tây dài khoảng 1.321 km Hơn nữa, trong năm 2010 này, ngoài 40km của tuyến TP HCM- Trung Lương, dự kiến một tuyến cao tốc khác cũng sẽ đưa vào sử dụng là Cầu Giẽ - Ninh Bình Do vậy, việc gấp rút triển khai hệ thống ITS là yêu cầu hết sức cấp bách với Việt Nam

CẦU (Giao thông):

I Khái niệm:

- Cầu là một phương tiện nối liền 2 hay

nhiều điểm khác nhau, giúp việc di chuyển

giữa các vị trí ấy được dễ dàng hơn

- Cầu là một công trình giao thông được

bắc qua các chướng ngại nước như: rãnh

nước, dòng suối, dòng sông, hồ, biển,

thung lũng , hay các chướng ngại khác

như: đường bộ, đường sắt đảm bảo cho

giao thông được liên tục

II Lịch sử:

Cầu đã ra đời cách ngày nay rất lâu Thể thức ban đầu của những cây cầu là tác

phẩm của tự nhiên, là khúc cây đổ bắc ngang qua dòng nước Thời gian đầu, người ta

Cầu Carvalha của Sertã

Trang 33

thường làm cầu từ một tấm ván mỏng, từ những cây gỗ đơn, tre, thậm chí là từ những tảng

đá Các cầu loại này thường không chịu được tải trọng lớn và cường độ giao thông cao

Những cây cầu vòm bằng đá và đường ống dẫn nước (aqueduct) được xây dựng đầu tiên dưới Đế chế La Mã, một số còn tồn tại đến ngày nay như cầu Alcántara qua sông Tagus

ở Tây Ban Nha Nhiều vùng lãnh thổ khác cũng xây dựng các loại cầu bằng nhiều loại vật liệu khác nhau như gỗ, đá, gạch xây vữa, các cầu treo đơn giản bằng dây thừng Cho đến

thế kỉ 19 khi xảy ra cách mạng công nghiệp, các cầu bằng sắt rèn rồi tiến đến

bằng thép ra đời Ngày nay các loại cầu bằng bêtông trở nên phổ biến cùng với các loại cầu thép Nhịp cầu ngày càng được kéo dài, từ vài trăm mét với các loại cầu dầm, cầu

giàn bêtông ứng suất trước hoặc thép, và lên đến 2000 mét như cầu treo dây võng Kaikyo (Nhật Bản)

Akashi-III.Cấu trúc và phân loại:

1 Các bộ phận cơ bản của công trình cầu:

Trang 34

Các bộ phận cơ bản của công trình cầu

1 Kết cấu nhịp; 2 Tr ụ; 3 Mố; 4 Móng

Trang 35

2 Kết cấu cầu:

Kết cấu cầu là một lĩnh vực thuộc kết cấu xây dựng Độ khó trong xây dựng cầu

nằm tại kết cấu của nó, nên việc thiết kế cầu vẫn chủ yếu do các kỹ sư xây dựng thực hiện mà ít có đóng góp của kiến trúc sư

Mặt cắt ngang một kết cấu nhịp

Sơ đồ cầu treo dây võng

Sơ đồ cầu vòm

Trang 36

Kết cấu nhịp

Mố của một cầu đường sắt

Kết cấu nhịp cầu bao gồm: mặt cầu (gồm có bản mặt bằng bêtông cốt thép hoặc thép hoặc

gỗ, các lớp phủ như lớp chống nước, bêtông asphalt ), dầm dọc và dầm ngang, kết cấu nhịp chịu tác dụng của tải trọng bản thân cầu gọi là tĩnh tải, cùng với tải trọng người, xe trên cầu gọi là hoạt tải, ngoài ra còn có tác dụng của gió, của động đất (trường hợp đặc biệt), toàn bộ tải trọng này đuợc truyền xuống đất qua hệ thống mố trụ cầu

xi măng mác cao

Trụ cầu

Bộ phận giữa hai mố cầu để cho kết cấu nhịp tựa lên gọi là trụ cầu Do nhiều yêu cầu về kinh tế kĩ thuật chiều dài kết cấu nhịp không thể quá dài Để vượt được khoảng cách lớn yêu cầu phải có cọc chống đỡ trung gian dó là trụ cầu Trụ cầu truyền tải từ kết cấu nhịp xuống móng công trình Đối với loại cầu dây văng hoặc cầu treo thì trụ cầu thường được làm cao hẳn hơn bản mặt cầu, để treo, neo dây cáp chịu lực, gọi là trụ tháp

Mố trụ cầu rất quan trọng trong tổng thể của công trình cầu vì vậy khi thiết kế mố trụ cần chú ý đến nhiều yếu tố không những phải chịu được lực truyền từ kết cấu nhịp bên trên xuống mà còn các yếu tố khác tác dụng vào mố trụ: đối với mố là lực đẩy ngang của đất, đối với trụ là sự va đập của các phương tiện giao thông: tàu thuyền vào trụ cầu (cầu vượt sông), xẹ cộ (cầu cạn); ngoài ra trụ cầu qua sông còn phải chịu các yếu tố thủy lực như lực đẩy nổi, lực do dòng chảy tác động Những yếu tố ăn mòn cũng tác động mạnh đến trụ cầu; như han rỉ

Trang 37

Móng cầu

Móng cầu là bộ phận bên dưới cùng của một cây cầu, làm bằng bê tông cốt thép Móng có tác dụng truyền và phân bố toàn bộ tải trọng xuống nền đất sao cho toàn bộ kết cấu đứng vững trên đất mà không bị phá hoại do nền đất bị vượt quá sức chịu tải

Gối cầu

Gối lăn

Gối cầu là bộ phận trung gian nằm giữa kết cấu nhịp và mố trụ cầu Gối cầu có tác dụng như tấm đệm chịu tải trọng và giảm lực cắt ngang của kết cấu nhịp truyền xuống mố trụ Đồng thời gối cầu giúp cho kết cấu làm việc theo mô hình tính toán, giúp kết cấu nhịp dịch chuyển, co giãn ít mà bị cản trở Các loại gối cầu rất đa dạng nhưng chia ra hai loại chính là gối cố định và gối di động, gối có thể cứng (thép, gối chậu) hoặc đàn hồi (gối cao su, cao su bản thép)

Phụ kiện

Lan can: lan can là phần biên ngoài cùng của mặt cầu Lan can có tác dụng ngăn không

cho người cũng như phương tiện giao thông bị văng ra khỏi cầu và tạo cảm giác an toàn cho nguời đi trên cầu cũng như tạo mỹ quan cho cầu Đối với những cây cầu mà có phần dành cho người đi bộ cao hơn mặt cầu thì lan can thiết kế chỉ dành bảo vệ người đi bộ

và tạo cảm giác an toàn,còn đối với phương tiện giao thông (như ôtô) thì lan can không

có tác dụng nhiều trong việc bảo đảm cho phương tiện giao thông không bị văng ra khỏi cầu khi có sư cố tai nạn, mà chính chiều cao của phần làn dành cho người đi bộ mới là yếu tố quan trọng ngăn đỡ phương tiện không bị văng ra khỏi cầu, còn loại cầu không

có phần dành cho người đi bộ thì lan can có tác dụng ngăn phương tiện giao thông rơi ra khỏi cầu

Khe co giãn: là khoảng không gian bắt buộc trong thiết kế giữa các bản cầu, trong

khoảng không đó người ta lắp bộ phận bằng thép thiết kế đặc biệt để vừa bảo đảm khe lúc bị co hẹp lúc giãn rộng theo nhiệt độ môi trường và vừa bảo đảm cho phương tiện khi đi qua khe co giãn êm, không bị nẩy, xóc

Đường ống kỹ thuật: dầm cầu rỗng là hình ảnh điển hình của đường ống kỹ thuật trên

những cây cầu hiện đại, trong đó có hệ thống điện, đường dây điện tín hiệu, điện điều khiển, điện động lực, đường ống chuyển tải nước, dây cáp thông tin liên lạc Khi cầu

Trang 38

không phải là loại kết cấu dầm hộp, các loại đường dây, đường ống này được lắp đặt bên cạnh cầu hoặc đáy dầm, chạy theo chiều dọc

3 Phân loại cầu:

Phân loại theo sơđồ kết cấu (tĩnh học) có:

+ Hệ dầm: Dưới tác dụng của tải trọng thẳng đứng kết cấu nhịp bị uốn và

truyền áp lực thẳng đứng xuống mố trụ Hệ thống cầu dầm bao gồm: dầm đơn

giản, dầm liên tục, dầm mút thừa

+ Hệ khung: Kết cấu nhịp và trụ liên kết cứng với nhau tạo thành khung,

cùng tham gia chịu lực dưới dạng một kết cấu thống nhất

+ Hệ vòm: Cầu vòm có thể có dạng vòm 3 khớp, hai khớp hoặc vòm

không khớp Đặc điểm của hệ vòm là tại vị trí chân vòm luôn xuất hiện

phần phản lực theo phương nằm ngang (lực xô)

+ Hệ liên hợp: Cầu liên hợp là loại cầu được kết hợp từ các hệđơn giản

hoặc hệđơn giản được tăng cường các bộ phận chịu lực Bằng cách đó người ta

có thể tạo ra những kết cấu chịu lực hợp lý và có hiệu quả về các phương diện

kinh tế – kỹ thuật, đặc biệt trong các trường hợp nhịp lớn

+ Cầu treo (cầu dây parabol – dây võng, cầu dây văng):

Cầu treo là loại kết cấu trong đó bộ phận chịu lực chính là dây làm việc

chịu kéo Dưới tác dụng của hoạt tải hệ dầm mặt cầu và dây cùng làm việc như

một hệ liên hợp

Phân loại theo đặc điểm riêng của công trình như:

Cầu phao, cầu quay, …

Phân loại theo quy mô công trình:

Cầu nhỏ (L ≤ 25m), cầu trung (L = 25 ÷ 100 m), cầu lớn (L > 100 m hoặc

có nhịp L ≥ 42 m), cầu vĩnh cửu, cầu bán vĩnh cửu …

Trang 39

Hình - Các sơđồ của cầu

a, b, c – Cầu dầm giản đơn, liên tục, mút thừa, d – cầu dàn, e – cầu khung;

f, g – cầu vòm có đường xe chạy trên và gi ữa; h – cầu liên hợp (d ầm – vòm);

i – cầu treo dây võng; k – cầu treo dây văng

Trang 40

III.Xu Hướng:

Cho đến nay ngành xây dựng cầu đã đạt được những thành tựu lớn về mọi phương diện, từ kết cấu đến kỹ thuật công nghệ, từ lý thuyết đến nghiên

cứu thực nghiệm Các công trình cầu đạt được các chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật tốt

hơn, khả năng vượt nhịp ngày một lớn hơn

Phân tích các công trình cầu hiện đại được xây dựng trên thế giới trong

những năm gần đây thấy các khuynh hướng:

1 Về vật liệu

Sử dụng vật liệu cường độ cao (thép cường độ cao, thép hợp kim, bê tông

mác cao) và vật liệu nhẹ (bê tông cốt liệu nhẹ, hợp kim nhôm), nhằm mục đích

giảm khối lượng vật liệu và giảm nhẹ trọng lượng bản thân kết cấu

2.Về kết cấu

Sử dụng những kết cấu hợp lý và áp dụng các biện pháp điều chỉnh ứng

suất nhằm tiết kiệm vật liệu

- Kết cấu bản trực giao;

- Kết cấu thép – bê tông cốt thép liên hợp

- Kết cấu ứng suất trước

- Kết cấu dầm tiết diện hộp

- Các sơđồ cầu treo với các biện pháp tăng cường độ cứng, cầu dây văng,

cầu khung – dầm bê tông cốt thép ứng suất trước

3.Về liên kết và ghép nối

Sử dụng các biện pháp liên kết ghép nối có chất lượng cao, thực hiện đơn

giản, tiết kiệm như liên kết hàn và bu lông cường độ cao cho kết cấu thép, dán

keo êpôxy với kết cấu bê tông

Ngày đăng: 27/05/2014, 14:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH ẢNH CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ XƯA VÀ NAY - Báo cáo Tập tài liệu nhà công cộng: Công trình giao thông
HÌNH ẢNH CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ XƯA VÀ NAY (Trang 28)
HÌNH ẢNH MỘT SỐ CÔNG TRÌNH  GIAO - Báo cáo Tập tài liệu nhà công cộng: Công trình giao thông
HÌNH ẢNH MỘT SỐ CÔNG TRÌNH GIAO (Trang 28)
Sơ đồ cầu treo dây võng - Báo cáo Tập tài liệu nhà công cộng: Công trình giao thông
Sơ đồ c ầu treo dây võng (Trang 35)
Hình - Các sơđồ của cầu - Báo cáo Tập tài liệu nhà công cộng: Công trình giao thông
nh Các sơđồ của cầu (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w