PHẦN NỘI DUNG Chương 1CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 KHÁI NIỆM NGUỒN NHÂN LỰC Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triểnkinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, kho
Trang 1PHẦN GIỚI THIỆU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu của quá trình sản xuất kinh doanh Vìvậy, việc đảm bảo đủ số lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là việc làmrất quan trọng trong mỗi cơ quan, tổ chức Việt Nam được thế giới đánh giá là cólợi thế về dân số đông, đang trong thời kỳ “dân số vàng” nên lực lượng trong độ tuổilao động khá dồi dào Đây là nguồn lực vô cùng quan trọng để đất nước ta thực hiệnthành công Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020 đã được Đạihội Đảng XI thông qua ngày 16/2/2011
Đối với Việt Nam, khi làm chiến lược phát triển kinh tế thường không songhành với chiến lược phát triển nhân lực Đây là một hạn chế lớn, ảnh hưởng đến pháttriển nguồn nhân lực nước ta Và hệ quả của cách làm này cho thấy, dù chi tiêu chogiáo dục chiếm tỷ trọng lớn của GDP nhưng nguồn nhân lực vẫn không có bước độtphá, các chiến lược phát triển kinh tế không có đủ nguồn nhân lực cần thiết để thựchiện Theo Phó giáo sư – Tiến Sĩ Đức Vượng (Viện trưởng Viện Khoa học nghiêncứu nhân tài - nhân lực Việt Nam) đã khẳng định “nếu không làm tốt vấn đề tạonguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước, thì khó lòng đạt được mục tiêu đếnnăm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”
Hiện nay, Đồng bằng Sông Cửu Long có khoảng 85.000 cơ sở sản xuất, khucông nghiệp, thu hút 300.000 lao động làm việc Tuy nhiên, toàn vùng chỉ giải quyếtđược việc làm cho khoản 170.000 người Theo tiến sĩ Bùi Thị Thanh (Trường Đạihọc Kinh Tế Thành phố Hồ Chí Minh) nhận định: “Môi trường làm việc, chính sáchđãi ngộ để thu hút nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân tài của Đồng bằng Sông CửuLong, chậm cải thiện, chưa đủ mạnh và thiếu đồng bộ giữa các địa phương nênkhông tạo ra các điều kiện cần thiết kích thích phát triển và thu hút nguồn nhân lực.Điều đó dẫn đến tình trạng chảy máu chất xám sang các vùng khác như Thành phố
Hồ Chí Minh, các tỉnh Đông Nam Bộ”
Trang 2Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của những vấn đề trên nên việc
Phân tích “Thực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông Cửu Long” là vấn đề cần được nghiên cứu
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu chung
Phân tích hực trạng nguồn nhân lực có trình độ cao ở Đồng bằng Sông CửuLong Từ đó tìm ra các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lựcĐồng bằng Sông Cửu Long
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Phân tích thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao Việt Nam
- Phân tích thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Đồng bằng Sông CửuLong
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Đồng bằng Sông Cửu Long
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Phạm vi về không gian và đối tượng nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam Đối tượng nghiên cứucủa đề tài chủ yếu là nguồn nhân lực có trình độ ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
3.2 Phạm vi về thời gian
Đề tài sử dụng số liệu thứ cấp được thống kê trong năm 2010, 2011 và 2012 vềthực trạng nguồn nhân lực Việt Nam
3.3 Phạm vi về nội dung
Trang 3Do thực hiện trong thời gian ngắn, nên đề tài chỉ tập trung vào việc phân tíchthực trạng nguồn nhân lực tại Đồng bằng Sông Cửu Long.
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Do hạn chế về thời gian nên đề tài không sử dụng số liệu sơ cấp mà chỉ sửdụng số liệu thứ cấp Các số liệu thứ cấp này được thu thập trên Internet, các trangweb, các bài báo và tạp chí chuyên ngành,…
4.2 Phương pháp phân tích
Dùng phương pháp thống kê và mô tả để biết được thực trạng nguồn nhân lựcViệt Nam nói chung và thực trạng nguồn nhân lực tại Đồng bằng Sông Cửu Longnói riêng
Từ mô tả và phân tích trên sử dụng phương pháp suy luận để đề ra các giảipháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác thu hút nguồn nhân lực có trình độ,góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Đồng bằng Sông Cửu Long
Trang 4PHẦN NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 KHÁI NIỆM NGUỒN NHÂN LỰC
Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triểnkinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người … Trongcác nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết địnhtrong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay Mộtnước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưngkhông có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đóthì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và ngày nay trong công cuộchội nhập và phát triển nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh”, Đảng ta luôn xác định: Nguồn lao động dồi dào, con người ViệtNam có truyền thông yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hoá, giáo dục, cókhả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng nhất -nguồn năng lực nội sinh Vậy nguồn nhân lực là gì?
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực:
- Dưới dưới góc độ của Kinh tế Chính trị: nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực
và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đókết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch
sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầuhiện tại và tương lai của đất nước
- Theo Liên Hợp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng,kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triểncủa mỗi cá nhân và của đất nước”
Trang 5- Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người baogồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân Như vậy, ở đây nguồnlực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốntiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.
Nguồn nhân lực được xem xét trên giác độ số lượng và chất lượng Số lượngnguồn nhân lực được biểu hiện thông qua chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhânlực Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân
số Quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng cao thì dẫn đến quy mô và tốc
độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngược lại Tuy nhiên, mối quan hệ dân số vànguồn nhân lực được biểu hiện sau một thời gian nhất định (vì đến lúc đó con ngườimuốn phát triển đầy đủ, mới có khả năng lao động)
Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một “tài nguyên đặc biệt”, mộtnguồn lực của sự phát triển kinh tế Bởi vậy việc phát triển con người, phát triểnNguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triểncác nguồn lực Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho
sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia Đầu tư cho con người là đầu tư có tinhchiến lược , là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững
Phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia: chính là sự biến đổi về số lượng
và chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinhthần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực Nóimột cách khái quát nhất, phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và sửdụng năng lực toàn diện con người vì sự tiến bộ kinh tế- xã hội và sự hoàn thiện bảnthân mỗi con người
1.2 NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một ngườilao động cụ thể có trình độ lành nghề ( về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngànhnghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định(Đại học, trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề Giữa chất lượng
Trang 6nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao có mối quan hệ chặt chẽ với nhautrong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Nói đến chất lượng nguồn nhân lực làmuốn nói đến tổng thể nguồn nhân lực của một quốc gia, trong đó nguồn nhân lựcchất lượng cao là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh tuý nhất, cóchất lượng nhất Bởi vậy, khi bàn về nguồn nhân lực chất lượng cao không thểkhông đặt nó trong tổng thể vấn đề chất lượng nguồn nhân lực nói chung của mộtđất nước Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực phải đáp ứng được yêucầu của thị trường ( yêu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước), đó là: cókiến thức: chuyên môn, kinh tế, tin học; có kỹ năng: kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm,làm việc an toàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệmvới công việc.
Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là những con người phát triển cả
về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị- xã hội, vềđạo đức, tình cảm trong sáng Nguồn nhân lực chất lượng cao có thể không cần đông
về số lượng, nhưng phải đi vào thực chất
Trong thế giới hiện đại, khi chuyển dần sang nền kinh tế chủ yếu dựa trên trithức và trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt
là nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng thể hiện vai trò quyết định của nó Các
lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh
và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, pháttriển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trong đó độnglực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững chính là những con người,đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, tức là những con người được đầu tư pháttriển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo nhằm trởthành “nguồn vốn - vốn con người, vốn nhân lực” Bởi trong bối cảnh thế giới cónhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt, phần thắng sẽ thuộc về những người cónăng lực thực sự
Trang 71.3 VAI TRÒ CỦA NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Mối quan hệ giữa nguồn lao động với phát triển kinh tế thì nguồn lao độngluôn luôn đóng vai trò quyết định đối với mọi hoạt động kinh tế trong các nguồn lực
để phát triển kinh tế
Theo nhà kinh tế người Anh , William Petty cho rằng lao động là cha, đất đai
là mẹ của mọi của cải vật chất; Các-Mác cho rằng con người là yếu tố số một củalực lượng sản xuất Trong truyền thống Việt Nam xác định “Hiền tài là nguyên khícủa quốc gia” Nhà tương lai Mỹ Avill Toffer nhấn mạnh vai trò của lao động trithức, theo ông ta “Tiền bạc tiêu mãi cũng hết, quyền lực rồi sẽ mất; Chỉ có trí tuệcủa con người thì khi sử dụng không những không mất đi mà còn lớn lên”
Thứ nhất là, nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn lực chính quyết định quátrình tăng trưởng và phát triển kinh tế- xã hội Nguồn nhân lực, nguồn lao động lànhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác.Giữa nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, khoahọc công nghệ,… có mối quan hệ nhân quả với nhau, nhưng trong đó nguồn nhânlực được xem là năng lực nội sinh chi phối quá trình phát triển kinh tế - xã hội củamỗi quốc gia So với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu là trítuệ, chất xám có ưu thế nổi bật ở chỗ nó không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khaithác và sử dụng hợp lý, còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố
có hạn và chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp với nguồn nhân lực một cách cóhiệu quả Vì vậy, con người với tư cách là nguồn nhân lực, là chủ thể sáng tạo, làyếu tố bản thân của quá trình sản xuất, là trung tâm của nội lực, là nguồn lực chínhquyết định quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Ngày nay một quốc gia có thể không giàu về tài nguyên, điều kiện thiên nhiênkhông mấy thuận lợi nhưng nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh và phát triển bềnvững nếu hội đủ bốn điều kiện :
Trang 8+ Một là, quốc gia đó biết đề ra đường lối kinh tế đúng đắn.
+ Hai là, quốc gia đó biết tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đó
+ Ba là, quốc gia đó có đội ngũ công nhân kỹ thuật tay nghề cao và đông đảo.+ Bốn là, quốc gia đó có các nhà doanh nghiệp tài ba
Thứ hai là, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyếtđịnh sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; là quá trình chuyểnđổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử dụng laođộng thủ công là phổ biến sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động được đàotạo cùng với công nghệ tiên tiến, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đạinhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao Đối với nước ta đó là một quá trình tấtyếu để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hộ chủ nghĩa Khi đất nước tađang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn, tiếp cận kinh tế trithức trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, do đó yêu cầu nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực, nhất là trí lực có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và phát triển bền vững Đảng ta đãxác định phải lấy việc phát huy chất lượng nguồn nhân lực làm yếu tố cơ bản cho sựphát triển nhanh và bền vững
Thứ ba là, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để rút ngắn khoảng cáchtụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước nhằm phát triển bền vững
Thứ tư là, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.Quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt lànguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức lớn
Trang 9Chương 2 THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CÓ TRÌNH ĐỘ CAO
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
2.1 THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ CAO Ở VIỆT NAM 2.1.1 Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam
Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, dân số Việt Nam vào năm 2010 là 86,82triệu người Đến năm 2011, dân số nước ta tăng thêm 1,06% so với năm 2010, đạt87,84 triệu người Dân số trung bình cả nước năm 2012 ước tính 88,78 triệu người,tăng 1,06% so với năm 2011
Bảng 1 DÂN SỐ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010-2012
ĐVT: Triệu người Dân số Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Chênh lệch 2011-2010 2012-2011 +/- Tỷ lệ % +/- Tỷ lệ % Theo Giới tính 86,93 87,84 88,78 0,91 1,05 0,94 1,07
Thành thị 26,51 27,89 28,81 1,38 5,21 0,92 3,30Nông thôn 60,42 59,95 59,97 -0,47 -0,78 0,02 0,03
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
Phân theo giới tính: Dân số nam năm 2011 là 43,44 triệu người, tăng 1,05% vàdân số nữ năm 2011 là 40,44 triệu người, tăng 1,05% so với năm 2010 Đến năm
2012, dân số nam 43,92 triệu người, tăng 1,10%; dân số nữ 44,86 triệu người tăng1,04% Nhìn chung, tốc độ gia tăng dân số nam cao hơn tốc độ gia tăng dân số nữtrong giai đoạn 2010 – 2012
Trang 10Xét theo khu vực: Trong tổng dân số cả nước năm 2011, dân số khu vực thànhthị là 27,89 triệu người, tăng 1,38% so với năm trước; dân số khu vực nông thôn là59,95 triệu người, giảm 0,47% Tuy nhiên, dân số ở cả hai khu vực đều tăng trongnăm 2012 Dân số khu vực thành thị tăng 3,30% so với năm 2011, đạt mức 28,81triệu người Dân số khu vực nông thôn cũng tăng thêm nhưng với tỷ lệ thấp là0,03% so với năm 2011 và đạt 59,97 triệu người
Theo tính toán của Quỹ Dân số Liên hiệp quốc, đến giữa thế kỷ XXI, dân sốViệt Nam (VN) có thể đạt ngưỡng 100 triệu người [10, Tr 1] Ngân hàng thế giới(WB) đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay đạt 3,79 điểm(thang điểm 10), xếp thứ 11 trong số 12 nước ở châu Á tham gia xếp hạng
Chỉ số cạnh tranh nguồn nhân lực VN đạt 3,39/10 điểm và năng lực cạnh tranhcủa nền kinh tế VN xếp thứ 73/133 nước được xếp hạng [10, Tr1] Tuổi thọ trungbình của người VN hiện nay là 75 tuổi
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên và lao động từ 15 tuổi trở lên đang làmviệc có xu hướng tăng qua các năm Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2011
là 51,40 triệu người, tăng 1,96% so với năm 2010 Trong năm 2012, lực lượng laođộng từ 15 tuổi trở lên đã tăng thêm 1,18 triệu người, tương đương 2,30%, đẩy con
số này lên 52,58 triệu người
Bảng 2 LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010-2012
ĐVT: Triệu người
Lực lượng
lao động
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Chênh lệch 2011-2010 2012-2011 +/- Tỷ lệ % +/- Tỷ lệ % Lực lượng lao động từ
15 tuổi trở lên 50,41 51,40 52,58 0,99 1,96 1,18 2,30Lao động từ 15 tuổi
trở lên đang làm việc 49,05 50,34 51,69 1,29 2,63 1,35 2,68
Trang 11(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
Tương tự, lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2011 là 50,34 triệungười, tăng 2,63% so với năm 2010 Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2012
là 51,69 triệu người, tăng 2,26% so với năm 2011
Cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc biến động với tỷ lệ thấp Xéttheo thành phần kinh tế, lực lượng lao động khu vực ngoài nhà nước chiếm tỷ trọngcao nhất, tăng từ 86,06% năm 2010 lên 86,30% năm 2012; Cơ cấu lao động khu vựcnhà nước có xu hướng giảm tăng trong năm 2011 từ 10,42% năm 2010 lên 10,43%năm 2011 và giảm trong năm 2012 xuống còn 10,39%; Khu vực có vốn đầu tư nướcngoài chiếm tỷ trọng thấp nhất và giảm dần qua các năm, từ năm 2010 là 3,53%giảm xuống còn 3,31% năm 2012 Phân theo ngành kinh tế, lĩnh vực nông lâmnghiệp và thuỷ sản chiếm tỷ trọng cao nhất và có xu hướng giảm dần qua các năm,
từ năm 2010 là 49,50% xuống 47,49% năm 2012; lĩnh vực dịch vụ tăng từ 29,54%năm 2010 lên 31,40 % năm 2012 Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng cũng tăng dầnqua 3 năm từ 20,96% năm 2010 lên 21,11% năm 2012
Bảng 3 CƠ CẤU LAO ĐỘNG TỪ 15 TUỔI TRỞ LÊN ĐANG LÀM VIỆC TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010 – 2012
Nông, lâm nghiệp và thủy sản 49,50 48,39 47,49
Công nghiệp và xây dựng 20,96 21,28 21,11
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam)
Số liệu từ Điều tra biến động dân số năm 2011 của Tổng cục Dân số - Kếhoạch hóa gia đình cho thấy, số lượng người cao tuổi đang tăng nhanh hơn bất kỳ
Trang 12nhóm dân số nào khác nên chỉ số già hóa cũng gia tăng nhanh chóng, trong khi đó tỷ
số hỗ trợ tiềm năng lại giảm đáng kể [20, Tr1]
Thời gian để VN chuyển đổi từ cơ cấu dân số già hóa sang cơ cấu dân số già sẽngắn hơn nhiều so với tăng trưởng kinh tế cũng như các chương trình an sinh xã hộicần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của nhóm dân số cao tuổi được coi là nhóm thiệtthòi và dễ bị tổn thương nhất Hiện tại, hơn 39% người cao tuổi VN vẫn đang làmviệc
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi và tỷ lệ thiếu việc làm của laođộng trong độ tuổi của VN giai đoạn 2010-2012 có chiều hướng giảm dần qua cácnăm, đây là một dấu hiệu tích cực của thị trường lao động Tỷ lệ thất nghiệp của laođộng trong độ tuổi năm đã giảm từ 2,88% năm 2010 xuống 1,99% năm 2012 Tỷ lệthất nghiệp ở khu vực thành thị luôn cao hơn ở khu vực nông thôn Trong đó, khuvực thành thị giảm từ 4,29% năm 2010 xuống 3,25% năm 2012 và khu vực nôngthôn giảm từ 2,30% năm 2010 xuống 1,42% năm 2012 Tỷ lệ thiếu việc làm năm
2012 của lao động trong độ tuổi là 2,80%, trong đó khu vực thành thị là 1,58%, khu vựcnông thôn là 3,35%, thấp hơn so với tỷ lệ lao động thiếu việc làm năm 2010 (các tỷ lệtương ứng năm 2009 là: 3,57%, 1,82%, 4,26%) Ngược lại với tỷ lệ lao động thấtnghiệp, tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ở khu vực nông thôn cao hơnkhu vực thành thị
Bảng 4 TỶ LỆ LAO ĐỘNG THẤT NGHIỆP VÀ THIẾU VIỆC LÀM
Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010-2012
Trang 13Theo Quyết định số 1216/QĐ-TTg, ngày 22-7-2011 của Thủ tướng Chính phủ,
về việc phê duyệt quy hoạch phát triển nhân lực VN giai đoạn 2011-2020 [6, Tr1],thì trong 10 năm tới cần tăng nhanh tỷ lệ nhân lực qua đào tạo trong nền kinh tế với
cơ cấu hợp lý Tổng số nhân lực qua đào tạo năm 2015 là khoảng 30,5 triệu người(chiếm khoảng 55,0% trong tổng số 55 triệu người làm việc trong nền kinh tế đấtnước) và năm 2020, có khoảng gần 44 triệu người (chiếm khoảng 70,0% trong tổng
số gần 63 triệu người làm việc trong nền kinh tế) Trong tổng số nhân lực qua đàotạo, số nhân lực đào tạo qua hệ thống dạy nghề đến năm 2015 có khoảng 23,5 triệungười (tăng 77%) Đến năm 2020 có khoảng 34,4 triệu người (bằng 78,5%) Số nhânlực đào tạo qua hệ thống giáo dục - đào tạo đến năm 2015 có khoảng 7 triệu người(bằng 23%), đến năm 2020 có khoảng 9,4 triệu người (bằng 21,5%)
2.1.2 Hiện tượng chảy máu chất xám
Chảy máu chất xám (tiếng Anh: human capital flight hoặc brain drain) là thuật
ngữ dùng để chỉ vấn đề di cư quy mô lớn của nguồn nhân lực có kiến thức và kĩthuật từ một nước qua những nước khác
Hiện nay, Chảy máu chất xám còn là cụm từ dùng để chỉ những người khôngthỏa mãn với môi trường làm việc, muốn tìm cơ hội thăng tiến và cống hiến ở mộtcông ty mới Việc giữ chân nhân viên giỏi đang là một vấn đề nhức nhối đối vớinhiều doanh nghiệp, nhất là những ngành yêu cầu trình độ cao
Xuất phát từ ước mơ thoát nghèo, lao động kĩ thuật cao thường có xu hướnghọc tập và làm việc ở môi trường được kỳ vọng là thuận lợi nhất Từ đó, hiện tượngchảy máu chất xám ở các nước nghèo và đang phát triển lại càng đáng quan ngạihơn
Theo thống kê của Trang Di cư (Bộ Ngoại giao VN) [25, Tr 1] thì cộng đồngViệt ở nước ngoài đã tăng hơn 4 triệu người, đang học tập, sinh sống và làm việctrên 103 quốc gia và vùng lãnh thổ Nếu chỉ nhìn trong ngắn hạn thì điều này đồngnghĩa với lượng chất xám đang thất thoát ngày càng nhiều Số liệu thống kê ước tính
Trang 14có khoảng 400.000 trí thức, trong đó có 25% du học sinh VN đang học tập, sinhsống tại xứ người Khảo sát năm 2010 của Viện giáo dục quốc tế IIE thì có đến 60-70% du học sinh có ý định ở lại học tập và công tác ở nước ngoài Đáng lo hơn là sốhọc sinh du học tự túc chiếm đến 90% tổng số lượng thống kê
Đề án đào tạo cán bộ tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước (đề án322) được hình thành từ năm 2000 với mục tiêu là đào tạo cán bộ tại những cơ sởgiáo dục nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước với những ngành mà VN thiếu hoặcchất lượng chưa đạt chuẩn quốc tế Đây là đề án được kỳ vọng rất lớn từ phía chínhphủ, nhân dân lẫn người học Đề án 322 là một chương trình nhận được nguồn kinhphí rất lớn trong điều kiện đất nước còn nghèo, kéo dài trong một thập kỷ Theo ôngNguyễn Xuân Vang, cục trưởng Cục Đào tạo nước ngoài - Bộ GD-ĐT, cho biết kinhphí đã chi cho việc đào tạo từ năm 2.000 - 2010 là trên 2.500 tỉ đồng, trung bình mỗinăm chi 228,5 tỉ đồng
Trong mười năm hoạt động của Ðề án 322, có 7.129 ứng viên trúng tuyển đãđược gửi đi đào tạo ở các cơ sở giáo dục tiên tiến tại nhiều nước trên thế giới, trong
đó có 3.838 tiến sĩ, 2.042 thạc sĩ, 416 thực tập sinh và 833 cử nhân Theo Bộ Giáodục và Ðào tạo, 95% số lưu học sinh đã về nước đúng thời hạn và đã hoàn thànhnhiệm vụ đào tạo [9, Tr 1] Ðề án 322 là một minh chứng thể hiện những nỗ lực củaNhà nước ta trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học
và công nghệ, đồng thời bảo đảm tính công bằng về cơ hội trong lĩnh vực đào tạo
Tuy vậy, ngay khi Ðề án khép lại, có một vấn đề đã được đặt ra một cáchnghiêm túc, là hiệu quả hoạt động nghiên cứu của lưu học sinh sau khi trở về đơn vịcông tác cũ Không ít nghiên cứu sinh sau khi trở về đã phải từng bước tạm dừnghoặc rời bỏ hẳn hoạt động nghiên cứu khoa học vì nhiều lý do: môi trường khoa họccòn bảo thủ, chưa chấp nhận thay đổi đến từ bên ngoài; điều kiện hoạt động khoahọc thiếu thốn (thiếu kinh phí nghiên cứu; nghèo nàn cơ sở vật chất, phòng thínghiệm, thư viện ) và đặc biệt là những vấn đề của đời sống vật chất khiến nhiềunhà nghiên cứu phải đặt khoa học sang một bên để lao vào các công việc mưu sinh
Trang 15Như vậy, vấn đề chảy máu chất xám không chỉ là những vết thương ngoại khingười được đào tạo rời bỏ Tổ quốc, di dân đến các quốc gia phát triển, mà còn lànhững vết thương nội khi nguồn chất xám chất lượng cao không phục vụ cho cácmục tiêu phát triển khoa học, công nghệ, mà nhiều khi bị lãng phí trong những mụcđích tầm thường của cuộc sống (nhưng không hề tầm thường với mỗi cá nhân) Nhìnmột cách sâu xa, những vết thương nội để lại những hậu quả tai hại còn hơn cảnhững vết thương ngoại Bởi lẽ một chuyên gia, một nhà khoa học nếu còn có nhữngliên hệ với đất nước thì đến một lúc nào đó, sau khi vượt qua được những vấn đềtrước mắt, họ vẫn có thể có những đóng góp quan trọng cho Tổ quốc Nhưng nếumột nhà khoa học không vượt qua được thì rất nhiều khả năng giới khoa học sẽ mất
đi một nhà khoa học chỉ sau một khoảng thời gian không tham gia nghiên cứu
Đánh giá về chính sách thu hút, trọng dụng, đãi ngộ cán bộ khoa học và côngnghệ trong các trường đại học (ĐH), Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ NguyễnQuân nhận định: “VN đang rất lãng phí nguồn lực chất xám ở các trường ĐH, nơitập trung rất đông nguồn nhân lực trình độ cao với nhiều giáo sư, phó giáo sư, tiếnsĩ” [12, Tr 1]
2.1.3 Hoạt động động đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
Theo Bộ Giáo dục và đào tạo năm học 1999-2000, cả nước có 153 trường ĐH
và cao đẳng (ĐH là 69, cao đẳng là 84), năm học 2004-2005 số trường là 230 (93trường ĐH, 137 trường cao đẳng), năm học 2011-2012, số trường ĐH và cao đẳng(CĐ) là 419 (ĐH là 204 trường, số trường CĐ là 215) Như vậy, so với năm học1999-2000 thì số trường ĐH và cao đẳng tính đến năm học 2011-2012 đã tăng thêmhơn 2,7 lần Việc tăng thêm các trường ĐH và CĐ để đáp ứng nhu cầu học tập của
xã hội, góp phần đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước là cần thiết Song việc mở ồ ạt các trường trong điều kiện cơ sở vậtchất thiếu thốn, đội ngũ giáo viên chưa đủ, đồng thời một cơ chế quản lý lỏng lẻo,nhiều bất cập thì lại trở thành một điều đáng lo ngại đối với giáo dục nước ta
Trang 16Bảng 5 SỐ LƯỢNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG
VÀ SINH VIÊN ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG QUA CÁC NĂM HỌC
Ghi chú: - Đơn vị tính cột Trường là: Trường
- Đơn vị tính cột Sinh viên là: Sinh viên
(Nguồn: Bộ giáo dục và Đào tạo)
Nếu như số lượng sinh viên vào năm học 1999-200 là 893.754 sinh viên thìđến năm học 2011-2012 là 2.204.313 sinh viên tăng 1,6 lần Quy chuẩn về cơ cấutrình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động khu vực châu Á hiện nay là: 1 đại học/4cao đẳng/10 trung cấp [27, Tr 1] nhưng đối với VN thì con số này là ngược lại Sốtrường ĐH năm 2012 là 204 trường với 1.448.201 sinh viên, trong khi số CĐ chỉ là
215 trường với 756.292 sinh viên Thay vì 1 đại học/4 CĐ thì chúng ta đã làm ngượclại: 2 đại học/1 cao đẳng Cơ cấu ngành nghề đào tạo cũng đang gặp vấn đề: đào tạocông nhân kỹ thuật còn chiếm tỷ trọng thấp; nhân lực được đào tạo các ngành kỹthuật - công nghệ, nông - lâm - ngư chiếm tỷ trọng thấp, còn tỷ trọng các ngành xãhội, luật, kinh tế, ngoại ngữ lại quá cao, thiếu nhiều công nhân kỹ thuật lành nghề,trước hết là trong các ngành trọng điểm (cơ khí, điện tử - kỹ thuật điện, hóa chất ).Trung tâm Nghiên cứu và Phân tích chính sách thuộc Trường ĐH Khoa học Xãhội và Nhân văn (ĐH Quốc gia Hà Nội) tổ chức một cuộc khảo sát với quy mô gần3.000 cựu sinh viên thuộc năm khóa khác nhau (ra trường từ năm 2006-2010) của baĐH: ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐH Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và ĐH Huế, đãcho thấy những con số báo động Có đến 26,2% cử nhân cho biết chưa tìm được việclàm, dù khái niệm việc làm ở đây được hiểu rất rộng là bất cứ công việc gì tạo ra thu
Trang 17nhập, không nhất thiết phải đúng với trình độ, chuyên ngành đào tạo Trong số này,46,5% cho biết đã đi xin việc nhưng không thành công 42% lựa chọn một giải pháp
an toàn là tiếp tục học lên hoặc học thêm một chuyên ngành khác Thậm chí, có 27%
cử nhân được hỏi cho biết, họ rất khó kiếm việc làm do ngành học của mình khôngphù hợp với thị trường Số người rơi vào cảnh nhà tuyển dụng không hiểu về ngànhhọc cũng chiếm tới 18% Do đây là khảo sát được thực hiện tại các ĐH quốc gia,
ĐH vùng - những ĐH “đầu tàu” của VN nên thực trạng này ở các trường ĐH khác
có lẽ cũng không khả quan hơn [15, Tr 1]
Theo bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào Tạo Phạm Vũ Luận thì “so với nhu cầuhiện đại hóa đất nước, chất lượng giáo dục ĐH còn yếu kém Chính vì vậy Đảng rachỉ thị phải đổi mới căn bản và toàn diện bậc học này” [22, Tr 1] Nguyên nhân việckhông kiểm soát chất lượng giảng dạy và cấp bằng tùy tiện hiển nhiên là làm giảmthấp uy tín của giáo dục VN Bằng chứng là chất lượng của các trường ĐH hàng đầu
VN bị xuống cấp nghiêm trọng, không có khả năng cạnh tranh quốc tế, và trên thực
tế không thể lọt vào nhóm 200 trường đầu bảng xếp hạng các trường ĐH trên thếgiới
2.1.4 Hoạt động nghiên cứu khoa học
Theo thống kê của Bộ Khoa học - Công nghệ, tính đến tháng 12-2012 cả nước
có 24.300 tiến sĩ và 101.000 thạc sĩ So với năm 1996 đội ngũ này tăng trung bình11,6%/năm, trong đó TS tăng 7%/năm, thạc sĩ tăng 14%/năm [28, Tr 1]
Theo Phó Giáo Sư – Tiến Sĩ Phạm Bích San, Phó tổng thư ký Liên hiệp Cáchội khoa học và kỹ thuật VN (VUSTA) nhận định “Số Giáo sư, Tiến sĩ chúng tanhiều nhất Đông Nam Á nhưng không có trường ĐH VN nào được đứng trong bảngxếp hạng 500 trường ĐH hàng đầu thế giới Số lượng các bài báo công bố quốc tếcủa cả nước gần 90 triệu dân trong một năm chỉ bằng số lượng của một trường ĐH ở
Thái Lan” [28, Tr 1] Theo Báo cáo Harvard, trong năm 2006, 2.830 giảng viên của
trường ĐH Chulalongkorn của Thái Lan đăng được 744 công trình nghiên cứu trên
Trang 18các tạp chí quốc tế Trong khi đó, 3.360 giảng viên của hai trường ĐH Quốc gia HàNội và Thành phố Hồ Chí Minh đăng được tổng cộng 36 công trình.
Năm 2006, các nhà nghiên cứu của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam(VAST) đăng được 41 bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế [13, Tr 1] Cũngtrong năm đó, chỉ riêng các nhà nghiên cứu của Trường ĐH Phúc Đán ở ThượngHải đã đăng được 2.286 bài trên các tạp chí quốc tế
Theo thống kê Viện thông tin khoa học (ISI), trong giai đoạn 1996-2011 ViệtNam mới có 13.172 ấn phẩm khoa học công bố trên các tập san quốc tế có bìnhduyệt, bằng khoảng một phần năm của Thái Lan (69.637), một phần sáu củaMalaysia (75.530), và một phần mười của Singapore (126.881)
Thống kê của Bộ Khoa học – Công nghệ và các chuyên gia cho thấy trong 5năm (2006 - 2010) cả nước chỉ có khoảng 200 bằng sáng chế, giải pháp hữu íchđược cấp tại Cục Sở hữu trí tuệ và chỉ có 5 bằng sáng chế được đăng ký tại Mỹ,trung bình mỗi năm có một bằng sáng chế; riêng năm 2011, nước ta không có bằngsáng chế nào được đăng ký tại đây Trong khu vực Đông Nam Á, Singapore (4,8triệu dân) có 647 bằng sáng chế Đứng thứ hai là Malaysia (27,9 triệu dân) với 161bằng sáng chế; Thái Lan (68,1 triệu dân) có 53 sáng chế Còn một nước có số dân vàtrình độ phát triển tương đương nước ta là Philippines cũng có tới 27 bằng sáng chế
Để giải thích cho tình trạng này là giảng viên VN kém ngoại ngữ Điều này cóthể chấp nhận như một lời giải thích nhưng khó chấp nhận với thực tế hiện tại, nhất
là trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay, khi mà các hoạt đông nghiên cứu khoa họcngày càng trở nên có tính toàn cầu trong đó tiếng Anh là ngôn ngữ giao tiếp chính.Những nhà khoa học không có khả năng kết nối với những xu hướng toàn cầu tronglĩnh vực của họ chắc chắn sẽ không tham gia vào các nghiên cứu có liên quan
Nguyên nhân khác, theo quy định của Bộ Giáo dục – Đào tạo, mỗi giảng viên
ĐH ngoài việc đảm bảo 900 giờ giảng dạy phải có 500 giờ dành cho nghiên cứukhoa học/năm Đối với Giáo sư, Phó Giáo sư và giảng viên chính thì số giờ dành
Trang 19cho nghiên cứu khoa học từ 600 - 700 giờ/năm Tuy nhiên, hiện nay đa số giảngviên các trường ĐH chỉ đào tạo mà không nghiên cứu khoa học Các trường ĐHkhông có biên chế làm khoa học chuyên nghiệp Việc nghiên cứu chỉ được coi làhoạt động làm thêm của cán bộ giảng dạy.
Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đã công bố bảng xếp hàng về Chỉ sốđối mới công nghệ toàn cầu năm 2012, trong đó VN xếp vị trí 76 [19, Tr 1]
Hình 1 Chỉ số đối mới công nghệ toàn cầu
Chỉ số đổi mới toàn cầu (GII- Global Innovation Index) được tính dựa trênđiểm số trung bình của các yếu tố đầu vào là môi trường thuận lợi cho đổi mới (cách
tổ chức, nguồn nhân lực, thị trường, cơ sở hạ tầng), môi trường kinh doanh và đầu ra
là thành tựu trong đổi mới khoa học và sáng tạo
Theo Tổng giám đốc Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới Francis Gurry, đổi mớicông nghệ đóng vai trò quan trọng thúc đẩu tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm mới vàchất lượng Đổi mới công nghệ cũng là yếu tố quan trọng hàng đầu để tăng sức cạnhtranh của nền kinh tế Tuy nhiên, chỉ số này luôn thấp hơn các nước Malaysia,Singapore và Thái Lan