Các nhà nghiên cứu Việt Nam đã sao chụp và tiếp cận được 4 Châu ấn trạng 朱印状ーshuin-jo do chính quyền Mạc phủ cấp vào các năm 1604 2 tờ, 1605 và 1614; sưu tập gồm 2 bản giao kèo về việc t
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Việt Nam học
TP.HCM, năm 2021
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC
Mã số sinh viên: 186022011304
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS LÊ GIANG
TP.HCM, năm 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, xin được chân thành tri ân và cảm tạ PGS.TS Lê Giang là
người đã nhận lời hướng dẫn tôi trong việc định hình và chọn đề tài:“Việt Nam giao lưu kinh tế, văn hóa với Nhật Bản thời Châu ấn thuyền” Nhờ sự hướng
dẫn ân cần, chu đáo của thầy tôi đã học hỏi được thêm rất nhiều và có thể hoàn thành được luận văn này theo cách tốt nhất
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn và cảm tạ đối với PGS.TS Nguyễn Tiến Lực, đã chỉ dạy và truyền đạt cho tôi bằng những kiến thức thâm sâu của thầy trong quan hệ hai nước Việt Nam - Nhật Bản Nhờ thầy đã tận tâm hướng dẫn
và giúp đỡ tôi rất nhiều trong những chuỗi ngày nghiên cứu đề tài
Tôi cũng rất lấy làm vinh dự khi nhận được sự hỗ trợ nghiên cứu từ TS.Noboru Kariya người thầy giáo cũ của tôi ở Osaka Đồng kính cám ơn, Bảo tàng quốc gia lịch sử và văn hóa Tokyo, thư viện điện tử Trường Đại học Ritsumeikan University đã cung cấp nhanh chóng cho tôi những tư liệu, tài liệu nghiên cứu hết sức cần thiết và có giá trị Đặc biệt, tôi trân trọng tri ân và cảm
tạ TS Trần Đức Anh Sơn – Phó viện trưởng Viện nghiên cứu kinh tế xã hội Đà Nẵng, người có nhiều năm nghiên cứu về giao thương Nhật – Việt thời Châu
ấn thuyền, nhờ thầy hỗ trợ tư liệu và một số tài liệu bổ sung, tôi đã có đủ tự tin
và tinh thần để hoàn thành nghiên cứu đề tài luận văn của tôi
Tôi xin kính cám ơn quý thầy cô khoa Việt Nam học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, quý thầy cô BGH và lãnh đạo khoa Ngôn ngữ
và Văn hóa Quốc tế trường Đại học Kinh tế Tài chính - Thành phố Hồ Chí Minh, mỗi người đều đã giúp tôi ở nhiều mức độ khác nhau, và tất cả đều đã
có những đóng góp quan trọng trong việc hỗ trợ tôi để hoàn thành công trình nghiên cứu của mình
Trang 4Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể toàn tâm toàn ý dành trọn thời gian cho việc học tập, nghiên cứu của mình và hoàn thành luận văn này
Việc học không bao giờ là đủ, khi càng đào sâu nghiên cứu, tôi càng thấy được cái hay cái đẹp và những bài học đáng giá trong học tập, càng nhận ra cái mong manh và nhỏ bé của mình trong bể nguồn kiến thức nhân loại Mặc dù đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý báu của các quý thầy cô, quý ân nhân, gia đình và bạn bè nhưng chắc chắn luận văn này của tôi vẫn còn nhiều thiếu sót và chưa hoàn thiện, cũng như chính bản thân còn có nhiều sai lầm chủ quan khi nghiên cứu Tôi xin tiếp tục học tập nghiên cứu, trau dồi và xin ghi nhận những đóng góp, chỉ dạy của quý thầy cô và toàn thể quý vị
Tp HCM, ngày 15 tháng 08 năm 2021
Nguyễn Thị Phong Nhã
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn về đề tài: “Việt Nam giao lưu kinh tế, văn hóa với Nhật Bản thời Châu ấn thuyền”- là công trình nghiên cứu cá nhân của tôi trong thời gian qua, với sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Giang là kết quả nghiên cứu có nguồn gốc rõ ràng và chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không trung thực trong thông tin sử dụng của công trình nghiên cứu này
Tác giả
Nguyễn Thị Phong Nhã
Trang 6Ý KIẾN GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu luận văn 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Các phương pháp nghiên cứu 8
5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 15
7 Bố cục của luận văn 15
CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM - NHẬT BẢN THẾ KỶ XVI - XVII 19
1.1 NƯỚC VIỆT NAM THẾ KỶ THỨ XVI – XVII 19
1.1.1 Bối cảnh Việt Nam thời kỳ phân tranh Đàng Trong - Đàng Ngoài 19
1.1.2 Vai trò thương cảng của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á 25
1.2 BỐI CẢNH LỊCH SỬ NHẬT BẢN THẾ KỶ XVI – XVII 29
1.2.1 Khái quát lịch sử thời kỳ Châu ấn thuyền 32
1.2.2 Chế độ cấp ấn trạng và các loại giấy thông hành cho thuyền Châu ấn 36
Tiểu kết chương 1 38
CHƯƠNG 2 VIỆT NAM TRONG GIAO LƯU KINH TẾ VỚI NHẬT BẢN THỜI CHÂU ẤN THUYỂN 40
2.1 CÁC CẢNG GIAO THƯƠNG VỚI NHẬT BẢN THỜI KỲ CHÂU ẤN THUYỀN 40
2.1.1 Thương cảng Đàng Ngoài 40
2.1.2 Thương cảng Đàng Trong 45
2.2 NHỮNG CHÍNH SÁCH KINH TẾ CỦA VIỆT NAM VỚI NHẬT BẢN THỜI KỲ CHÂU ẤN THUYỀN 50
2.2.1 Chính sách thuế 50
2.2.2 Các loại tiền dùng để giao thương ở Đàng Trong và Đàng Ngoài 54
2.3 NHỮNG HOẠT ĐỘNG GIAO THƯƠNG GIỮA HAI NƯỚC VIỆT - NHẬT THỜI KỲ CHÂU ẤN THUYỀN 56
Tiểu kết chương 2 67
CHƯƠNG 3 VIỆT NAM TRONG GIAO LƯU VĂN HÓA VỚI NHẬT BẢN THỜI KỲ CHÂU ẤN THUYỀN 70
3.1 PHỐ NHẬT Ở HỘI AN 70
Trang 83.2 VĂN BẢN NGOẠI GIAO THỜI CHÂU ẤN THUYỀN 73
3.3 NGƯỜI NHẬT Ở HỘI AN 79
Tiểu kết chương 3 86
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 98
Trang 9MỞ ĐẦU
Mối giao hảo giữa hai quốc gia Việt Nam và Nhật Bản ngày càng phát triển tốt đẹp Nhật Bản là một trong những nước có sự đầu tư lớn của Việt Nam với hơn 2000 các công trình đầu tư lớn nhỏ, trải đều và rộng khắp với các lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội… Tháng 10 năm 2011 Nhật Bản là nước G7 đầu tiên công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam và là nước tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam Hiện tại, Nhật Bản đang tích cực hỗ trợ Việt Nam phát triển trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam - Nhật Bản Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản thật sự quan trọng, có tầm ảnh hưởng nhất định trong khu vực và luôn là mối quan tâm hàng đầu trong vấn đề ngoại giao cũng như giao lưu văn hóa Vì thế đã có một số những nhà nghiên cứu của Nhật Bản và Việt Nam đã dành rất nhiều tâm huyết để nghiên cứu về mối quan hệ hữu hảo giữa hai nước Việt Nam - Nhật Bản
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản((21/9/1973 – 21/9/2018), với sự hỗ trợ của Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, một số cơ quan đơn vị đã tổ chức nhiều sự kiện nhằm tăng cường giao lưu, hợp tác trên lĩnh vực văn hóa, du lịch, đào tạo, thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản Thành phố Hội An đã được các cơ quan chức năng chọn lựa để khôi phục lại nét đẹp văn hóa của một đô thị sầm uất bậc nhất Đông Nam Á vào thế kỷ XVI – XVII, nơi mà Nhật Bản là một trong những quốc gia đã ghi dấu ấn đậm nét văn hóa Trong đó, di tích Chùa Cầu là kiến trúc độc đáo của Nhật Bản còn sót lại trên đất Hội An, đánh dấu cho sự giao hảo của hai quốc gia Việt Nam - Nhật Bản Gần nhất, chiều ngày 23/2/2010, các sư trụ trì chùa Jomyo, Nagoya - Nhật Bản đã trao tặng phiên
bản bức tranh Thác kiến Quan Thế Âm cho chùa Tam Thai, quận Ngũ Hành
Sơn, Thành phố Đà Nẵng Đây chính là món quà quý của Chúa Nguyễn Phúc Nguyên thỉnh từ chùa Ngũ Hành Sơn tặng cho thuyền buôn của dòng họ thương nhân Chaya -Nhật Bản khi thuyền đến Hội An cách đây 400 năm Đặc
Trang 10biệt, bức tranh Giao Chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ một bức tranh màu nước
đồ sộ : cao 78 cm, dài 498 cm, miêu tả chuyến hải trình vượt biển đi từ Trường
Kỳ (長崎 Nagasaki) cập bến Hội An đến Dinh Chiêm (lỵ sở Quảng Nam Dinh tại Thanh Chiêm) dâng lễ vật yết kiến chúa Nguyễn, cũng có niên đại khoảng
400 năm đang được lưu giữ cẩn trọng tại bảo tàng Nagasaki và được xem như quốc bảo của Nhật Bản Những di vật quý giá này đã kích thích những nhà nghiên cứu lịch sử, những học giả và những nhà nghiên cứu Việt Nam học có những suy nghĩ về sự hiện diện của thương nhân Nhật Bản ở Hội An
Ngoài ra, Ngoại phiên thông thư (外蕃通書) còn có tên khác là Ngoại
phiên thư hàn (外蕃書翰) là tập thư từ ngoại giao giữa Mạc phủ Tokugawa
(幕府徳川- Mạc Phủ Đức Xuyên ) với các nước: Triều Tiên, Lữ Tống (Philippines), Campuchia, Thái Lan, Việt Nam do tác giả Kondo Juzo (近藤 重蔵)1 biên soạn vào đầu thế kỷ XIX Đây là quyển sách tập hợp những thư
từ ngoại giao giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong dưới thời chúa Trịnh - chúa Nguyễn với Nhật Bản trong khoảng thời gian từ 1601 đến 1694 Ở Việt Nam,
Sở Cuồng Lê Dư - người Quảng Nam là người dã đăng 35 bức thư trong tổng
số 56 bức thư của Ngoại phiên thông thư - An Nam quốc thư trên Nam phong
tạp chí
Tiếp nối sau đó, PGS.TS Lê Giang đã và đang dày công nghiên cứu, tiếp dẫn từ những công trình của các tiền bối đi trước như Kondo Juzo và Sở Cuồng Lê Dư Ông đã có những bài viết nghiên cứu rất có giá trị khoa học được đăng tải trên các tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học và các trang điện tử trên toàn quốc
Theo Ngoại phiên thông thư, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một số văn
thư trao đổi giữa Nhật Bản với 11 nước và hai khu vực gồm 27 quyển Trong
1 Kondo Juzo (1771-1829) còn gọi là Morishige 守重, hiệu là Shiko 子厚, Seisai 正斎, Shoten Shinjin 昇天真
人 Ông sinh ở Edo trong gia đình là bề tôi của Mạc phủ Tokugawa Ông là nhà thám hiểm, nhà thư tịch học thời Edo hậu kỳ Năm 1798 ông đi làm công tác thám hiểm, điều tra về tình hình xứ Ezo (sau này là vùng Hokkaido)
Từ năm 1808 đến 1819 làm chức Thư vật phụng hành, quản lý thư viện Momijiyama 紅葉山文庫 ở thành Edo
Trang 11đó, từ quyển 11 đến 14 nhan đề An Nam quốc thư gồm 56 bức thư trao đổi giữa chính quyền Mạc Phủ Tokugawa với các chúa Trịnh ((Trịnh Tùng, Trịnh Tráng ) và chúa Nguyễn (Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên, Nguyễn Phúc Trân, Nguyễn Phúc Chu…), các văn thư đó đều mô tả chi tiết và minh chứng cho việc liên quan đến hoạt động các Châu ấn thuyền của Nhật Bản và quan hệ buôn bán Việt-Nhật ở Việt Nam bao gồm cả Đàng Trong và Đàng Ngoài Qua đó, chúng ta nhận thấy chúa Trịnh, chúa Nguyễn tuy chống nhau
nhưng đều mưu cầu giao thương với Nhật Bản và đều xưng mình là "An Nam
quốc vương" với chính quyền Nhật nhằm cạnh tranh phát triển kinh tế để giữ
vững lãnh thổ của riêng mình trong suốt thời kỳ phân tranh Nam - Bắc Chính quyền Đàng Trong và Đàng Ngoài đều dùng quốc hiệu của vua Lê (An Nam quốc vương)
Hiện nay một số bảo tàng ở Nhật Bản còn lưu nhiều đồ gốm sứ của Việt Nam được đưa vào Nhật Bản từ giữa nửa đầu thế kỉ XIV- XVII Các nhà nghiên cứu Việt Nam đã sao chụp và tiếp cận được 4 Châu ấn trạng (朱印状ーshuin-jo) do chính quyền Mạc phủ cấp vào các năm 1604 (2 tờ), 1605 và 1614; sưu tập gồm 2 bản giao kèo về việc thu mua hàng hóa cho các thuyền buôn Nhật Bản, do các thương nhân người Nhật ký kết với các đầu mối người Đàng Trong vào các năm 1617 và 1633; tờ danh mục các quà tặng của chính quyền Đàng Trong gửi chính quyền Nhật Bản vào năm 1632; sưu tập gồm 4 bức thư có niên đại vào thế kỷ XVII, là thư từ trao đổi của các thành viên trong dòng họ Kadoya (một dòng họ doanh nhân nổi tiếng ở Nhật Bản vào thời kỳ Edo) liên quan đến hoạt động buôn bán giữa Nhật Bản với Đàng Trong vào thế kỷ XV-XVII… [29, tr8] Những tư liệu quý giá này có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu khoa học về mối quan hệ hai nước Việt Nam - Nhật Bản
Thêm nữa, theo kết quả nghiên cứu của nhà sử học Nhật Bản Shigeru Ikuta, trong tổng số 354 Châu ấn trạng mà Mạc phủ Tokugawa cấp cho các thương thuyền Nhật Bản ra nước ngoài buôn bán trong khoảng thời gian 1604-
Trang 121634, có 331 Châu ấn trạng được cấp để đi đến 19 thương cảng thuộc các nước Ðông Nam Á Trong số đó có 130 shuin-jo cấp đi 6 thương cảng thuộc Việt Nam và Champa, với 86 thương thuyền được cấp đến Hội An Thời kỳ
“Mậu dịch Châu ấn thuyền” này đã tạo cơ hội cho việc giao thương giữa Nhật Bản với Việt Nam trong các thế kỷ XVII-XVIII, nhiều chứng cứ, hiện vật cũng đang còn được lưu giữ ở Nhật Bản và Việt Nam
Từ những công trình của nhà nghiên cứu trước, đề tài “Quan hệ Việt –Nhật” thật sự là mối thu hút lớn và kích thích sự tìm tòi nghiên cứu về mối quan hệ của cả hai nước Việt Nam – Nhật Bản Tuy phần đại lý khác biệt nhau
và cách xa nhau nhưng theo GS.TS Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh: “Việt
Nam và Nhật Bản là 2 nước “đồng văn, đồng chủng, đồng châu” với rất nhiều
nét tương đồng về văn hóa, xã hội Hiện nay ngoài các tư liệu nghiên cứu quan
hệ Việt-Nhật đặc biệt là thời Châu ấn thuyền bằng tiếng Việt (bao gồm cả tư liệu dịch) thì còn nhiều tài liệu nghiên cứu bằng tiếng Nhật của các nhà nghiên cứu Nhật Bản Việc khai thác các tư liệu này có thể giúp cho người ta hiểu rõ hơn tình hình Việt Nam trong giao lưu kinh tế, văn hóa Nhật Bản thời Châu
ấn thuyền - một thời bùng nổ quan hệ giao thương tốt đẹp giữa hai nước Thêm nữa, do công việc giảng dạy của chúng tôi cũng có liên quan đến lịch
sử và mối quan hệ của hai nước Việt Nam - Nhật Bản nên chúng tôi đã quyết định chọn để tài nghiên cứu này để đào sâu nghiên cứu và nâng cao chuyên môn trong công tác giảng dạy của bản thân Chính vì lý do đó, chúng tôi đã chọn đề tài “Việt Nam giao lưu kinh tế, văn hóa với Nhật Bản thời Châu ấn thuyền”
Ngày 26 và 27/7/2019, hội thảo quốc tế Việt Nam học lần 4 với chủ đề
Những vấn đề giảng dạy tiếng Việt và nghiên cứu Việt Nam học trong thế giới ngày nay do khoa Việt Nam học thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Trang 13Nhân văn, ĐHQG TP.HCM tổ chức với sự góp mặt đông đảo của các nhà nghiên cứu Việt Nam học trong nước và quốc tế Hội thảo đặt ra được nhiều vấn đề thú vị, mới mẻ, cho thấy một vị thế mới về nghiên cứu Việt Nam học trên thế giới Với hơn 150 báo cáo, nội dung chủ yếu tập trung vào bốn lĩnh vực chính: Việt Nam học quốc tế, Việt ngữ học và phương pháp giảng dạy tiếng Việt, Văn hóa - văn học Việt Nam; Lịch sử - xã hội Việt Nam và theo như PGS.TS Lê Giang đã chia sẻ: “Đã nhìn thấy một vị thế mới về Việt Nam học trên thế giới” Việt Nam là một đất nước có vị trí quan trọng ở Đông Nam
Á, hay rộng ra là ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương Việt Nam là một dân tộc có nền văn hóa phong phú, sâu sắc, người Việt Nam cần cù, thông minh, hiếu học, có ý chí và nghị lực phi thường Việc nghiên cứu vị thế của Việt Nam trên thế giới, đối với ngành Việt Nam học là một điều hết sức quan trong
và cần thiết Đồng quan điểm trên GS Furuta Motoo - nguyên Chủ tịch Hội Nhật Bản nghiên cứu Việt Nam, Hiệu trưởng Trường ĐH Việt Nhật, ĐH Quốc gia Hà Nội, nhà nghiên cứu Việt Nam học trong 20 năm qua, cũng đã chỉ ra những thách thức hiện tại và triển vọng hướng tới tương lai.GS Furuta Motoo cũng nhấn mạnh, trong tương lai, cần phát triển ngành Việt Nam học theo định hướng khu vực học để làm sáng tỏ vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế và định nghĩa lại bản sắc Việt Nam
Vì mục đích đó, việc nghiên cứu ngoại giao thông thương hàng hải thời Châu ấn thuyền là một để tài hết sức thu hút và được đông dảo các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, đặc biệt là những nhà nghiên cứu Việt Nam học người Nhật Bản Đây là một thời kỳ hoàng kim trong quan hệ đối ngoại giữa hai nước Việt Nam – Nhật Bản, mà qua đó chúng ta nhìn thấy được thái
độ ngoại giao của chính quyền sở tại của Việt Nam khi ấy là hết sức khôn ngoan, mềm dẻo và linh hoạt, được thể hiện rõ nét trong các chính sách bang giao và mở cửa giao thương kinh tế với ngoại quốc và Nhật Bản Bấy giờ, Việt
Nam không chỉ đơn thuần là một xã hội “trọng Nông ức Thương” như một số
nhìn nhận cũ trong lịch sử như trước mà là cái nhìn chiến lược trong quan hệ
Trang 14ngoại giao buổi sơ kỳ với các nước lân bang của Đàng Trong và Đàng Ngoài, hơn nữa mỗi nơi còn có những đặc trưng đối ngoại hết sức khôn khéo, riêng biệt Ngoài ra, nghiên cứu thời kỳ này càng làm cho chúng ta hiểu rõ về vấn
đề của hai nước về thời kỳ Châu ấn thuyền, qua nhiều phương diện như: lịch
sử, văn hóa, văn hóa khu vực, và đặc biệt là hệ thống hàng hải của Việt Nam nói riêng và vị trí thương cảng của Việt Nam trong khu vực thương cảng Đông Nam Á Ngoài ra, trong thời gian gần đây, nghiên cứu Việt Nam ở Nhật Bản trở nên đa dạng hơn Nhiều nhà nghiên cứu trẻ đạt được những thành công nhất định trong việc nghiên cứu các lĩnh vực như kinh tế, pháp luật, quan hệ quốc tế, nhân học văn hóa của Việt Nam.Tuy nhiên, xét về tổng thể và thành tựu thì nghiên cứu lịch sử (bao gồm cả khảo cổ học, dân tộc học) và ngữ văn học bao gồm cả dịch thuật và giáo dục tiếng Việt) vẫn chiếm giữ vai trò trung tâm của Việt Nam học ở Nhật Bản So với các lĩnh vực khác, nghiên cứu lịch
sử và văn học Việt Nam có truyền thống lâu đời, bắt đầu từ thời Edo Từ đó đến nay, các nhà nghiên cứu nối tiếp nhau xây dựng “học phong” riêng cho ngành mình, đào tạo nhiều nhà khoa học xuất sắc, các nhà nghiên cứu có tên tuổi người Nhật Bản với những công trình nghiên cứu về Việt Nam
Hơn nữa, dưới sự hướng dẫn rất có tâm và sự chỉ bảo đầy nhiệt tình của giảng viên hướng dẫn là PGS.TS Lê Giang, chúng tôi đã bắt tay vào dịch thuật cuốn sách “Người Nhật thời Châu ấn thuyền - Bí mật về sự biến mất của các khu đô thị Nhật Bản tại Đông Nam Á” (朱印船時代の日本人:消えた東南アジア日本町の謎-小倉貞夫) của Gs Ogura Sadao, là cuốn sách tập hợp tư liệu và viết khá sớm về quan hệ Việt Nam - Nhật Bản ở Hội An Cuốn sách trở thành tài liệu "gối đầu giường", căn bản nhất, phong phú nhất về quan
hệ Việt Nam - Nhật Bản thế kỷ XVII Trước nay sách chưa hề được dịch ra tiếng Việt, việc dịch sách này ra tiếng Việt có thể giúp các nhà nghiên cứu, độc giả rộng rãi biết bức tranh toàn cảnh về quan hệ Việt Nam - Nhật Bản thế
kỷ XVII ở Hội An một cách cách bản và gần gũi nhất so với những công trình nghiên cứu đồ sộ của các nhà nghiên cứu tiền bối Thông qua cuốn sách này
Trang 15có thể biết những nguồn tài liệu gốc đang lưu trữ ở Nhật Bản về quan hệ Việt Nam - Nhật Bản thế kỷ XVII, mong được góp chung vào những công trình nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo Quyển sách là bước khởi đầu để chúng tôi định hướng nghiên cứu luận văn đúng đường lối và thông qua quyển sách này chúng tôi được tiếp cận sâu thêm những nguồn tư liệu và tài liệu quý giá khác
có liên quan đến đề tài nghiên cứu một cách thứ tự và hệ thống
Việc nghiên cứu đề tài “Việt Nam” với góc tiếp cận mới từ những tài liệu tiếng Nhật, chúng tôi mong muốn đóng góp thêm vào kho tàng tài liệu tham khảo về mối quan hệ Việt Nam - Nhật Bản những tài liệu tham khảo có giá trị khoa học Đồng thời, qua đó chúng tôi cũng được học hỏi, nghiên cứu và nâng cao kiến thức của bản thân trong lĩnh vực nghiên cứu chuyên ngành về quan
hệ Việt Nam – Nhật Bản
Chúng tôi chọn Việt Nam trong giao lưu kinh tế và văn hóa với Nhật Bản thời kỳ Châu ấn thuyền làm đối tượng nghiên cứu chính trong luận văn này Thời kỳ Châu ấn thuyền mặc dù chưa có nghiên cứu nào công bố chính thức nhưng trong phạm vị nghiên cứu đề tài của chúng tôi, chúng tôi chọn cột mốc từ 1592 đến 1635, nghĩa là từ cuộc chiến tranh lớn nhất Nhật Bản Sekigahara thiết lập nên một nền thống nhất đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản đến khi chính quyền Mạc Phủ Edo Tokugawa ban sắc lệnh bế quan tỏa cảng với các nước bên ngoài
Từ những thư từ, tài liệu có liên quan kéo dài đến gần hết thế kỷ XVII, đây là khoảng thời gian lưu dấu những thay đổi thế sự của hai nước Việt Nam
- Nhật Bản, song song thời kỳ có sự thay đổi thời cuộc và cục diện chung khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á nên đã tạo nhiều cơ hội cho những hoạt động ngoại thương giữa nước Việt Nam và Nhật Bản Chúng tôi lấy quá trình lịch sử đầu thế kỷ XVII làm gốc, lấy Việt Nam làm đối tượng nghiên cứu và lấy phương pháp nghiên cứu từ góc nhìn khu vực học, đặt để và định vị Việt
Trang 16Nam trong tương quan giữa các mối quan hệ mậu dịch hàng hải khu vực Đông Nam Á mà đặc biệt là mối tương quan Nhật Bản, để làm rõ vấn đề nghiên cứu trong hai lĩnh vực kinh tế và văn hóa
4 Các phương pháp nghiên cứu
Là một đề tài lịch sử được nghiên cứu từ góc nhìn khu vực với chủ thể Việt Nam trong bối cảnh thông thương hàng hải với các nước ngoài trên thế giới và lần đầu bang giao với Nhật Bản Chúng tôi chọn nhiều phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác để làm rõ vấn đề như:
➢ Phương pháp lịch sử
Phương pháp lịch sử là phương pháp tái hiện trung thực bức tranh quá khứ của sự vật, hiện tượng theo đúng trình tự thời gian và không gian như nó
đã từng diễn ra (quá trình ra đời, phát triển, tiêu vong)
Nhiệm vụ của phương pháp lịch sử là thông qua các nguồn tư liệu để nghiên cứu và phục dựng đầy đủ các điều kiện hình thành, quá trình ra đời, phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp của các sự kiện, hiện tượng, đồng thời đặt quá trình phát triển đó trong mối quan hệ tác động qua lại với các nhân tố liên quan khác trong suốt quá trình vận động của chúng, từ
đó có thể dựng lại bức tranh chân thực của sự vật, hiện tượng như đã xảy ra Đặt mối quan hệ thương mại, văn hóa giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài với Nhật Bản trong hệ thống ngoại giao cùng các nước trên thế giới cũng như trong khu vực để nghiên cứu Với đề tài nghiên cứu này chúng tôi cố gắng trình bày, so sánh cũng như phân tích mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử liên quan mối quan hệ thương mại của Đàng Trong với Nhật Bản từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVII, chúng tôi cố gắng đưa ra những luận điểm nhận định về mối quan hệ này trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ
Trang 17➢ Phương pháp logic
Là phương pháp nghiên cứu tổng quát các sự kiện, hiện tượng lịch
sử, loại bỏ các yếu tố ngẫu nhiên, không cơ bản để làm bộc lộ bản chất, tính tất yếu, quy luật vận động và phát triển khách quan của sự kiện, hiện tượng, nhằm tìm thêm điểm mới trong đề tài nghiên cứu của luận văn
để có một cách nhìn khách quan và đưa ra những nhận định mới
Ngoài ra, chúng tôi đã tập hợp và biên soạn những tư liệu, tài liệu có liên quan để khảo cứu và đối chiếu để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu
5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Châu ấn thuyền là một thời đại hoàng kim khởi đầu cho việc giao thương hàng hải của hai nước Việt Nam – Nhật Bản Theo các tài liệu của Nhật Bản, cũng như tài liệu của một số nhà truyền giáo phương Tây, và những công trình nghiên cứu lịch sử của Việt Nam, thì Nhật Bản và Việt Nam đã có
quan hệ giao thương từ lâu Các quyển sách lịch sử như: Đại việt sử ký toàn
thư, Việt sử tân biên, Ngoại phiên thông thư, Thư hàn bình phong, Dị quốc vãng lai, Dị quốc nhật ký v.v cũng có những ghi chép cụ thể về mối giao hảo
hàng hải đầu tiên này của hai quốc gia Ngoài ra để có cái nhìn tổng thể cho công trình nghiên cứu, chúng tôi đã tham khảo các tư liệu, tài liệu từ sơ cấp đến thứ cấp với những nguồn khảo cứu đầy tính chuyên môn và đáng tin cậy sau:
Trang 185.1 Ở trong nước:
Gần đây các nhà nghiên cứu Việt Nam đã có những đóng góp rất tích cực trong việc nghiên cứu mối giao hảo giữa hai quốc gia Việt – Nhật vừa để thúc đẩy sự gắn kết giữa hai dân tộc vừa là sự cộng hưởng và kế thừa với các nhà nghiên cứu trên thế giới về đề tài thú vị này Nghiên cứu về vấn đề này từ trước đến nay trước nhất phải kể đến là hội thảo Quốc tế tổ chức tại Đà Nẵng ngày 23-3-1990 rồi đến Kỷ yếu Hội An 1991 cho đến nay, qua nhiều kỳ hội thảo và các sách, luận án, luận văn, các bài viết tạp chí của cá nhân tự nghiên cứu kéo dài sau đó đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến mối giao hảo của hai quốc gia Việt Nam – Nhật Bản
Đơn cử như trong hội thảo quốc tế Đà Nẵng 1990 có những bài viết rất
đặc sắc như của GS Phan Huy Lê – “Hội An, lịch sử và hiện trạng”, GS Trần Quốc Vượng: “Vị thế địa-lịch sử và bản sắc địa-văn hóa của Hội An”, thứ trưởng Bộ văn hóa Nông Quốc Chấn: “Những giá trị của khu đô thị cổ Hội An
và hướng bảo vệ, tu bổ, phát huy tác dụng”.vv Từ sau hội thảo về Hội An
năm 1990 trờ đi (mặc dù từ năm 1985 cũng đã có nhiều hội thảo về Hội An nhưng chưa rõ nét và tập trung) đã có thêm nhiều hội thảo mới ra diễn ra và liên tục vào những năm sau đó Điều này, đã gây sự thu hút và quan tâm của các nhà nghiên cứu, các cá nhân muốn tìm hiểu về vấn đề này Đã có những bài viết tạp chí, những luận án, luận văn ra đời để làm rõ thêm mối giao lưu giữa hai nước Việt Nam – Nhật Bản, đặc biệt là thời Châu ấn thuyền, một thời kỳ được xem như là sự khởi đầu tốt đẹp cho mối quan hệ giữa hai quốc gia Việt Nam- Nhật Bản
Gần nhất, trong kỷ yếu hội thảo khoa học “40 năm quan hệ Việt Nam – Nhật Bản thành quả và triển vọng”do PGS.TS Nguyễn Tiến Lực chủ biên được xuất bản năm 2014 bao gồm rất nhiều bài viết NCKH có giá trị xoay quanh mối quan hệ Việt Nam – Nhật Bản từ thời cận đại đến nay PGS.TS Nguyễn Tiến Lực có viết : “Trong 40 năm kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao , quan hệ Việt Nam và Nhật Bản đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử :
Trang 19từ “ quan hệ hữu nghị ” , “ quan hệ đối tác quan trọng ” , “ quan hệ đối tác
hợp tác chiến lược ” , “ quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện ” và hiện nay , đang bước vào giai đoạn “ làm sâu sắc hơn mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình và phồn vinh châu Á ” Không có kịch bản nào khác
cho quan hệ Việt Nam- Nhật Bản trong thời gian tới ngoại trừ kịch bản duy nhất là quan hệ đối tác chiến lược của hai nước ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn Hai nước có niềm tin chiến lược vững chắc, tôn trọng lợi ích lẫn nhau, quyết tâm hành động theo phương châm “ win - win ” , tức là hai bên cùng có lợi ” [29, tr.12] Đặc biệt quyển kỷ yếu có bài viết của PGS.TS Lê Giang (Đoàn Lê Giang) với bài viết : “ Ngoại phiên thông thư – tập tư liệu tối cổ về quan hệ Việt Nam – Nhật Bản” [29,tr.285], đã cung cấp cho người đọc và nghiên cứu những tư liệu về quan hệ ngoại giao cách đây 300-400 năm trước, nhờ vậy mà chúng tôi có thể phục dựng một phần bức tranh lịch sử về mối quan
hệ hai nước thời kỳ Châu ấn thuyền Đứng ở góc độ nghiên cứu của Việt Nam, Ngoại phiên thông thư là tập tư liệu sớm nhất và phong phú nhất về lịch sử bang giao giữa hai nước Việt – Nhật
Trang 20Nhiều nhà nghiên cứu Nhật Bản đã chọn Việt Nam là quê hương thứ hai để ở lại, nghiên cứu và đóng góp vào nền khoa học chung của Việt Nam như: Iwao Seiichi, Nishimura Masanari, Noriko, Ogura Sadao…vv
Cuốn sách “Người Nhật thời Châu ấn thuyền - Bí mật về sự biến mất
của các khu đô thị Nhật Bản tại Đông Nam Á” (朱印船時代の日本人―消
えた東南アジア日本町の謎 -小倉貞夫) của Ogura Sadao, là tài liệu "gối
đầu giường" căn bản về quan hệ Việt Nam- Nhật Bản thế kỷ XVII Mặc dù, Ogura Sadao không phải là chuyên gia nghiên cứu lịch sử nhưng trong quyển sách kể trên, ông cũng đã mục sở thị tại Việt Nam và đã tập hợp những tư liệu, tài liệu viết khá sớm về quan hệ Việt Nam -Nhật Bản ở Hội An Cuốn sách này của Ogura Sadao chưa phải là công trình nghiên cứu có giá trị khoa học được đánh giá cao nhưng với 5 chương viết rất cụ thể, ngắn gọn và súc tích qua những lần ông thực địa tại Việt Nam và tập hợp những bài viết nghiên cứu khoa học có giá trị và những thông tin xác đáng từ những nhà nghiên cứu tiền bối như Gs.Iwao Seiichi như : “Nghiên cứu lịch sử quan hệ mậu dịch thời Châu ấn thuyền - 朱印船貿易史の研究 (1958)”; “Thuyền Châu ấn và những phố Nhật - 朱印船と日本町 (1962)” ; “Tỏa cảng -鎖国(1966)”; “ Hải dương học thời kỳ cận thế và giao thương hải ngoại - 近世の洋学と海外交涉 (1979)” vv…thì cuốn sách như một sự tổng hợp cụ thể, giúp chúng tôi dễ dàng định hướng và tìm tòi những tài liệu nghiên cứu vấn đề của chúng tôi quan tâm
Ngoài ra còn có nhiều nhà nghiên cứu Nhật Bản cũng đã bắt đầu điều tra khảo cứu đề tài Châu ấn thuyền để giữ gìn, lưu trữ và tôn tạo một thời kỳ lịch sử hoàng kim của cả hai dân tộc
Trang 215.3 Những luận văn luận án của những nhà nghiên cứu Việt Nam ở Việt Nam và Nhật Bản
Để tham khảo và nghiên cứu thêm cho luận văn nghiên cứu, chúng tôi cũng đã tìm hiểu một số luận án, luận văn có liên quan gần với đề tài nghiên cứu của chúng tôi ở trong và ngoài nước như:
Luận án tiến sĩ của Trịnh Tiến Thuận (2002) Quan hệ Nhật Bản - Việt
Nam thế kỷ XVI – XVII
Luận văn thạc sĩ của Đinh Thị Lệ Thu (2009) Quan hệ thương mại Nhật
Bản - Đông Nam Á thời Châu ấn thuyền (1601 - 1635)
Là hai thầy trò có cùng đề tài nghiên cứu về vấn đề có liên quan gần với đề tài luận văn của chúng tôi Trong 2 công trình nghiên cứu kể trên các tác giả đã nghiên cứu, tìm hiểu quan hệ Nhật Bản - Việt Nam trong các thế kỷ XVI - XVII Cụ thể là quan hệ Nhật Bản - Việt Nam trong thế kỷ XVI, quan
hệ Nhật Bản - Việt Nam thời kỳ Châu ấn thuyền, quan hệ Nhật Bản - Việt Nam từ sau khi Mạc Phủ thi hành chính sách đóng cửa Từ những thông tin trên làm sáng tỏ một số vấn đề liên quan đến lịch sử Việt Nam thời kỳ này, chủ yếu là trên các lĩnh vực đối ngoại, kinh tế
Đặc biệt, chúng tôi cũng tham khảo thêm luận án ở Nhật Bản của
Huỳnh Trọng Hiền(2014) - 環シナ海における近世日越関係史の研究
- 広島大学大学院文学部研究科 (Nghiên cứu lịch sử quan hệ Việt Nam – Nhật Bản thời cận thế từ góc nhìn biển đông – Viện sau đại học- Đại học Hiroshima – Khoa Nghiên cứu văn thư ) Đây là một công trình nghiên cứu hết sức tỉ mỉ và đóng góp nhiều giá trị khoa học Trong luận án này, tác giả Huỳnh Trọng Hiền đã vừa phân tích sử liệu của hai nước Nhật Bản và Việt Nam, vừa sử dụng nguồn tài liệu của công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC) để làm
rõ tình hình mậu dịch và qua đó làm rõ ý nghĩa mối quan hệ bang giao hai nước từ cuối thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII Không những thế, luận án còn giải thích các thuật ngữ, chữ viết tắt, đơn vị đo lường, bảng , biểu vv , cung cấp nguồn tư liệu, lịch sử nghiên cứu vấn đề, phần kết luận , và danh
Trang 22mục trích dẫn , danh mục tài liệu tham khảo rất cụ thể và chỉnh chu Chúng tôi cũng đã học hỏi được thêm nhiều từ luận án này.Phần nội dung chính của luận án gồm 4 chương :
- Chương 1 , tác giả đã phân tích bối cảnh chính trị của mối quan hệ
Nhật – Việt đưa đến sự hình thành quan hệ mậu dịch giữa hai nước ,
- Chương 2 tác giả tập trung trình bày , phân tích quan hệ mậu dịch
của giữa hai nước trước và sau thời kỳ “ mậu dịch Châu Ấn Thuyền ” dưới góc độ các văn thư trao đổi của chính quyền họ Nguyễn ở Quảng Nam với Mạc Phủ và chính quyền họ Trịnh ở Đàng Ngoài ( Tonkin ) với Mạc Phủ
- Chương 3 và 4 tác giả đi sâu phân tích , trình bày sự thay đổi trong
quan hệ Nhật – Việt từ sau chính sách “ Tỏa quốc ” của Mạc phủ Ngoài ra, để nghiên cứu vấn đề, chúng tôi cũng đã dựa vào những tư liệu, báo cáo ghi chép của người Nhật Bản khi tham gia giao thương ở Đại Việt thông qua những nghiên cứu của GS Iwao Seiichi Hơn nữa, trong khả năng tiếp cận với các nguồn tài liệu tiếng Nhật chúng tôi cố gắng tổng hợp, phân tích
và mô tả lại những quá trình hoạt động giao lưu của Việt Nam – Nhật Bản thời kỳ Châu ấn thuyền
Các tài liệu nghiên cứu trên mặc dù rất chi tiết, phong phú và đa dạng nhưng với góc độ của ngành Việt Nam học, vẫn chưa có người khai thác và nghiên cứu vị trí và góc nhìn khu vực của Việt Nam trong giao thương quốc tế những năm đầu thế kỷ XVII, ngay cả việc tiếp cận những tài liệu tiếng Nhật để hiểu
rõ và phục dựng bức tranh hoạt động giao lưu kinh tế, văn hóa của Nhật Bản
với Đại Việt cũng còn khá ít ỏi nên chúng tôi mạnh dạn chọn chủ đề: “ Việt
Nam giao lưu kinh tế, văn hóa với Nhật Bản thời Châu ấn thuyền” làm đề tài
nghiên cứu luận văn của mình với hướng tiếp cận khu vực học và các nguồn tài liệu tiếng Nhật
Trang 236 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản đã có từ rất sớm Như đã nêu trên, kể từ những kỳ hội thảo quốc tế về Hội An từ những năm 1990, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu và bài viết về mối quan hệ Việt Nam – Nhật Bản Tuy nhiên, với góc độ khu vực học và lĩnh vực nghiên cứu của ngành Việt Nam học, vẫn chưa có người viết về mối quan hệ trên trong thời kỳ Châu ấn thuyền bằng tiêu điểm là Việt Nam Việc nghiên cứu lịch sử giao lưu hai nước để thấy thêm những truyền thống tốt đẹp trong quan hệ hai nước và rút ra những bài học kinh nghiệm trong mối quan hệ Việt Nam – Nhật Bản đương thời là việc làm hết sức cần thiết Đặc biệt, thông qua những tài liệu nghiên cứu bằng tiếng Nhật của các nhà nghiên cứu Nhật Bản, với đối tượng nghiên cứu chủ thể là Việt Nam, chúng tôi muốn làm rõ thêm tình hình Việt Nam thế kỷ XVII trong mối giao lưu kinh tế, văn hóa với Nhật Bản Và hơn nữa, luận văn này hoàn thành có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến đề tài với những đóng góp khoa học cụ thể sau đây :
- Làm rõ cơ sở nghiên cứu và bối cảnh lịch sử của quan hệ Việt Nam – Nhật Bản thời Châu ấn thuyền
- Thông qua những tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt và tiếng Nhật của các công trình nghiên cứu, chúng tôi phục dựng lại một cách khách quan, toàn diện, quá trình và kết quả của giao lưu kinh tế, văn hóa thời Châu ấn thuyền về các lĩnh vực, giao thương cũng như giao lưu văn hóa của hai nước
7 Bố cục của luận văn
Chương 1 : Bối cảnh lịch sử Việt Nam - Nhật Bản thế kỷ XVI-XVII
Trong chương này, chúng tôi trình bày bối cảnh lịch sử của hai nước Việt Nam - Nhật Bản trong thời kỳ Châu ấn thuyền Đây là giai đoạn lịch sử với nhiều biến chuyển hết sức đa dạng và phức tạp Thời kỳ này, Việt Nam và Nhật Bản đều có những nét tương đồng trong bối cảnh lịch sử, cùng là lần đầu tiên mở rộng mối bang giao thương mại với nhau, cùng là thời kỳ mà chính
Trang 24quyền trung ương vừa cố gắng duy trì trật tự xã hội sau những biến cố chính trị lớn lao, vừa xây dựng cơ sở kinh tế nông nghiệp trong nước, vừa dung dưỡng cho những nhân tố phát triển thương mại với các trung tâm thương mại trong và ngoài nước Chúng tôi nghiên cứu lịch sử của Việt Nam vào cuối thế
kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, giai đoạn này Việt Nam ( tức nước Đại Việt lúc bấy giờ) đang trong thời kỳ phân tranh Đàng Trong - Đàng Ngoài khá gay gắt Cả hai chính quyền đều mang danh nghĩa phò vua Lê nhưng đã chiếm cứ mỗi vùng lãnh thổ khác nhau ra sức giao thương quốc tế, củng cố vị trí trên thị trường quốc tế và nâng cao vai trò thương cảng của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á lúc bấy giở
Song song đó bối cảnh lịch sử nhật bản thế kỷ XVI – XVII cũng có nhiều biến cố quan trọng Sau trận đánh Sekigahara, Nhật Bản thiết lập một trận tự mới với chính quyền Mạc Phủ Tokugawa điều hành và thống nhất đất nước Đây là thời kỳ có nhiều luật lệ, nhiều biến động nhưng lại là thời kỳ bình yên nhất trong lịch sử Nhật Bản Chính quyền Mạc Phủ Tokugawa đã đẩy mạnh giao thương hàng hải với các nước trên thế giới và tìm kiếm thị trường mới ở Đông Nam Á, nhờ đó thời kỳ Châu ấnn thuyền đã bước vào một giai đoạn đỉnh cao với chế độ cấp ấn trạng và các loại giấy thông hành cho những con thuyền thương mại quốc tế, làm nên một thời kỳ hoàng kim trong giao thương quốc tế của Nhật Bản với các nước trên thế giới và đặc biệt là đối với Việt Nam
Chương 2 : Việt Nam trong giao lưu kinh tế với Nhật Bản thời kỳ Châu
ấn thuyền
Ở chương này, với góc nhìn của Việt Nam trong bối cảnh lịch sử phân tranh Nam - Bắc, lần đầu tiên Việt Nam vươn mình ra thế giới, phát triển kinh tế hàng hải, xuất nhập khẩu và giao thương với người Nhật Bản, tạo tiền đề cho những chính sách kiến quốc và phát triển của Việt Nam cho mãi tận sau này Chúng tôi đặt công trình nghiên cứu theo các mốc lịch sử cụ thể để có cái nhìn khách
Trang 25quan và chính xác hơn khi phân tích các sự kiện thương mại và giao thương kinh tế của Việt Nam với Nhật Bản Qua đó, chứng minh được sự chuyển mình mạnh mẽ của Việt Nam trên mọi phương diện Đàng Trong và Đàng Ngoài đều
có những thế mạnh khác nhau, và những chính sách bang giao khôn khéo cởi
mở, đã tạo điều kiện phát triển Việt Nam thời kỳ Châu ấn với những biến chuyển kinh tế hàng hóa hết sức phong phú và linh hoạt Chính vì thế, chúng tôi đưa ra nghiên cứu về các cảng giao thương với nhật bản thời kỳ Châu ấn thuyền bao gồm cả những thương cảng ở Đàng Ngoài và những thương cảng Đàng Trong Thông qua đó, chúng tôi phục dựng khách quan quá trình và kết quả của giao lưu kinh tế giữa Việt Nam – Nhật Bản thời Châu ấn thuyền trong các lĩnh vực hoạt động giao thương bao gồm: những mặt hàng xuất khẩu được
ưa chuộng, những chính sách thuế, các loại tiền dùng để giao thương ở Đàng Trong và Đàng Ngoài và những hoạt động mậu dịch giữa hai nước Việt - Nhật thời kỳ Châu ấn thuyền Đặc biệt, sự hình thành phố Nhật ở Hội An như một minh chứng cho sự phát triển, trường tồn của một cộng đồng cư dân Nhật Bản trển đất Đại Việt và những năm nửa đầu thế kỷ XVII
Chương 3 : Việt Nam trong giao lưu văn hóa với Nhật Bản thời kỳ Châu ấn thuyền
Ở chương này, chúng tôi khảo cứu Việt Nam trong giao lưu văn hóa với Nhật Bản thời kỳ Châu ấn thuyền Do việc di chuyển hàng hải quá xa xôi về mặt địa lý, một số doanh nhân Nhật được cơ quan chính quyền sở tại hỗ trợ cho việc lưu trú tại Việt Nam, tạo nhiều điều kiện thuận lợi để sinh hoạt và phát triển, nên việc hình thành phố Nhật tại Hội An là một minh chứng cho việc giao thoa văn hóa Việt Nhật thời kỳ Châu ấn thuyền Song song với việc thực thi những chính sách hà khắc, ràng buộc với các luật lệ của hai chính quyền Việt Nam - Nhật Bản ở sở tại, những giá trị văn hóa truyền thống mang tính bản địa được giao thoa với những văn hóa Nhật Bản trên đất Việt, tạo nên một xung lực cho quá trình hình thành và phát triển ý thức tâm lý dân tộc, ngôn ngữ và
Trang 26những trường hợp kết hôn giữa người Việt va người Nhật ở Hội An và qua đó đánh giá khái quát việc ảnh hưởng văn hóa và giao thoa tư tưởng văn hóa trong bối cảnh chuyển biến lịch sử thời kỳ này
Trang 27CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VIỆT NAM - NHẬT BẢN THẾ KỶ XVI - XVII
1.1 NƯỚC VIỆT NAM THẾ KỶ THỨ XVI – XVII
Thế kỷ XVI-XVII, nước Việt Nam đã trở thành một thị trường quan trọng của Nhật Bản Đây là giai đoạn sơ khai trong việc giao lưu kinh tế, văn hoá giữa Việt Nam và Nhật Bản trong lịch sử Hai quốc gia đã quan hệ mua bán với nhau một cách hữu hảo và đôi bên đều có lợi Người Nhật đã mở phố Nhật
để thuận tiện mua bán, sinh hoạt tại Phố Hiến (Hưng Yên) nằm bên bờ tả ngạn sông Hồng, tại Phục Lễ huyện Hưng Nguyên (Nghệ An), tại Hội An (Quảng Nam) Ở đây, họ lưu ngụ với tư cách ngoại kiều để kinh doanh, phát triển thương nghiệp Thời kỳ này, tuy tình hình đất nước mất ổn định, rối ren, chính quyền phong kiến trung ương suy yếu, mâu thuẫn xã hội phát triển sâu sắc dẫn đến những cuộc chiến tranh liên miên và sự khởi nghĩa của nhân dân khắp nơi Thêm nữa, những cuộc chiến tranh tàn khốc giữa các phe phái, các tập đoàn phong kiến đã để lại những hậu quả nghiêm trọng: nhân dân đói khổ, đất nước
bị chia cắt kéo dài đến cuối thế kỉ XVIII, gây ra bao đau thương cho dân tộc và tổn hại cho sự phát triển của đất nước Nhưng do nước ta có vị trí địa lý thuận lợi cho giao thông đi lại, nhất là bằng đường biển, tạo điều kiện thu hút thương nhân các nước Các tập đoàn phong kiến ra sức thu hút những mối quan hệ và giao lưu quốc tế, nhằm nỗ lực phát kiến địa lý tạo điều kiện giao lưu Đông – Tây, để cải thiện kinh tế lẫn quân sự trong khu vực tự trị của mình hòng củng
cố sức mạnh đế chế và thu phục giang sơn về một mối
1.1.1 Bối cảnh Việt Nam thời kỳ phân tranh Đàng Trong - Đàng Ngoài
Theo Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại, năm 1527 Mạc Đăng Dung cướp ngôi
nhà Lê lập ra nhà Mạc, kéo dài chiến tranh và duy trì nhà Mạc khoảng gần 66 năm (1528-1592) Trong tình cảnh đó, quan quân nhà Lê đã cho người sang Trung Quốc để cầu viện nhà Minh mong lấy lại cơ đồ Vua nhà Minh đã sai
Trang 28Mao Bá Ôn ( 毛伯温) tiến đến Nam Ninh, truyền hịch sang kể tội cha con Mạc Đăng Dung Mùa thu năm 1540, Mạc Đăng Dung đã dâng biểu xin hàng, tự cởi trần, trói mình cùng với hơn 40 quan lại đến ải Nam Quan thú tội, lạy phục xuống đất để nộp sổ điền thổ và sổ dân-đinh, lại xin dâng đất 5 động: là động
Tê Phù, động Kim Lạc, động Cổ Sung, động Liễu Cát, động La Phù và đất Khâm Châu, đem vàng bạc dâng riêng cho nhà Minh Quan nhà Minh nhận được tiền bạc của Mạc Đăng Dung ngoài cứng trong mềm, thêm nữa lại ngại nạn đao binh, cho nên mới tâu với vua nhà Minh xin phong cho Mạc Đăng Dung làm chức Đô Đốc Sứ (都 統 使 - hàm quan nhị phẩm nhà Minh) Mao
Bá Ôn đồng ý, tuyên ân uy của thiên tử, thu nạp bản đồ, lấy lại đất là 4 động Khâm Châu, thả cho quan quân họ Mạc về nước đợi mệnh, làm sớ dâng lên, Minh đế rất hài lòng Năm 1541, Gia Tĩnh đế có chiếu đổi nước An Nam làm
An Nam đô thống sử tư, lập Mạc Đăng Dung làm đô thống sứ, được thế tập, đặt 13 tuyên phủ tư, lệnh cho tự sắp đặt, đóng tại Cao Bằng Được nhà Minh
hỗ trợ nên kéo dài thêm đến 3 đời con cháu tại Cao Bằng Và như thế, thời kỳ Nam - Bắc triều là khoảng thời gian từ năm 1528 bắt đầu từ khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê cầm quyền tại đất Thăng Long, cho đến khi nhà Mạc thoái trào vào năm 1592.[21,tr.81-86]
Trong thời kỳ lâm nguy khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, một số trung thần với nhà Lê chạy sang Ai Lao (ngày nay thuộc Lào giáp các tỉnh miền Trung của Việt Nam) lánh nạn chờ ngày phục quốc, trong đó có Hữu Vệ Điện Tiền
An Thành hầu Nguyễn Kim (1467 - 1545) Nguyễn Kim thuộc dòng dõi danh gia vọng tộc trong triều đình nhà Lê xứ Thanh Hóa, ông nội của Nguyễn Kim
là Nghĩa Quốc Công Nguyễn Văn Lang người đã tham gia cuộc đảo chính lật
đổ vua Lê Uy Mục đưa Lê Tương Dực lên ngôi và dẹp yên những cuộc phản loạn của Trần Tuân, cha của Nguyễn Kim là Trừng Quốc Công Nguyễn Hoằng
Dụ cũng là một trọng thần trong triều đại nhà Lê Nguyễn Kim chạy sang đất
Ai Lao đã được vua đất Ai Lao là Sạ Đầu ban cho vùng đất Sầm Châu để dựng bản doanh, Nguyễn Kim ngày đêm rèn luyện binh đao, chiêu mộ nghĩa sĩ, sau
Trang 29đó ông phò Lê Duy Ninh là con út dòng họ Lê lên làm vua đặt niên hiệu là Lê Trang Tông hay còn gọi là Trang Tông Dụ Hoàng đế (莊宗裕皇帝) ) Năm Canh Tý (1540), Nguyễn Kim đem quân đánh chiếm Nghệ An và thu phục luôn
cả Thanh Hóa, lập được công trạng lớn, khôi phục nhà Lê, được phong là Thái
sư hưng quốc công, nắm giữ toàn bộ binh quyền trong Lê triều
Nguyễn Kim có 3 người con là Nguyễn Uông- trưởng nam, Nguyễn thứ nam và ái nữ Nguyễn Thị Ngọc Bảo (có sách viết Ngọc Bửu) Trong dòng khanh tướng cùng sát cánh với Nguyễn Kim có Trịnh Kiểm là người có sức khỏe
Hoàng-và tài lực hơn người, tuy xuất thân nghèo hèn nhưng đã lập được nhiều chiến công lớn trong những trận đánh với nhà Mạc nên An thần hầu Nguyễn Kim và vua Lê Trang Tông xem là người tâm phúc Nguyễn Kim cũng nhân vì sự ấy mà
gả ái nữ Ngọc Bảo cho Trịnh Kiểm Năm 1539, vua Trang Tông phong cho Trịnh Kiểm làm Dực quốc công, và giao cho Trịnh Kiểm binh quyền cùng Trịnh Công Năng và Lại Thế Vinh đánh họ Mạc Trịnh Kiểm sau trận đánh đại thắng quân nhà Mạc ở Lôi Dương, cuối cùng đã phục hưng được quyền lực cho nhà
Lê Tuy nhiên, chính điều này càng giúp cho thế lực Trịnh Kiểm nổi lên như một lực lượng hùng mạnh và tạo thành một đế chế mới vững bền Cũng từ đó,
họ Trịnh đã gây áp lực với chính quyền Lê rồi từng bước thâu tóm quyền lực thực tế về tay mình Tình thế chính trị khi đó đã gây nên tâm lý bất mãn đối với các nhân vật trung nghĩa với họ Nguyễn cùng gia tộc Nguyễn Kim mà tiêu biểu
là các con trai ông như Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng (1524-1613), vì họ không thể chống lại cũng như không thể giành đoạt quyền lực với họ Trịnh
Đến năm 1545, khi vua Lê Trang Tông thân chinh đánh Mạc, đóng bản doanh hạt Yên Mô (Ninh Bình ngày nay), nhân cơ hội này Dương Chấp Nhất(楊
執一) mời Nguyễn Kim sang chơi bên quân doanh của mình Nhân tiết trời nắng nóng bức, Dương Chấp Nhất mời Nguyễn Kim ăn dưa Sau khi ăn dưa và
ra về, Nguyễn Kim cảm thấy trong người không được khỏe và qua đời ngay sau
đó Dương Chấp Nhất ngay trong đêm đó trốn về lại với nhà Mạc Việt Nam sử
Trang 30ký toàn thư, Đại Nam thực lục, Cương mục đều cho rằng, thực chất Dương Chấp Nhất nhằm mục đích ám sát vua Lê Trang Tông nhưng việc ám sát không thực hiện được vì thế mà Dương Chấp Nhất mới đổi mục tiêu sang ám sát Nguyễn Kim, người thực sự nắm giữ binh quyền của lực lượng nhà Lê Bởi lẽ Dương Chấp Nhất vốn dĩ là Trung Hậu hầu Dương Chấp Nhất, là tướng của nhà Mạc được vua Lê chiêu hàng năm 1543 Sau cái chết của Nguyễn Kim, quan quân nhà Lê dao động tinh thần, các tướng lĩnh dưới trướng Nguyễn Kim
đã tìm cách lui về Tây Kinh (Thanh Hóa) để ẩn thân và củng cố lực lượng, tạo điều kiện cho Trịnh Kiểm nắm toàn bộ quyền bính triều đình trong tay Trịnh Kiểm lúc này được phong là Thái sư đô tướng, có quyền tiền trảm hậu tấu trong mọi phương diện từ quân chính đến dân sự Chính vì thế, lo ngại các con của Nguyễn Kim sau này có khả năng tranh quyền đoạt vị, chia sẻ quyền hành nên Trịnh Kiểm đã diệt cỏ tận gốc, Trịnh Kiểm đã ra tay ám hại Tả tướng Lãng quận công Nguyễn Uông là trưởng nam của Nguyễn Kim để trừ hậu hoạn Nguyễn Hoàng là con thứ của Nguyễn Kim, nhận thấy thế cục không thuận lợi nên Nguyễn Hoàng cáo bệnh, ẩn thân cẩn thận, cốt giữ mình kín đáo để Trịnh Kiểm khỏi nghi ngờ đồng thời ngầm sai sứ giả tới hỏi Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trạng Trình nhìn cái núi non bộ ở trước sân mà ngâm lớn rằng: “Hoành sơn
nhất đái, vạn đại dung thân.” Cũng chính nhờ câu nói đó mà Nguyễn Hoàng
có thêm lòng tin và động lực, ông ngay lập tức, đã cậy nhờ chị mình là Nguyễn Thị Ngọc Bảo xin Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ ở Thuận Hoá (khu vực từ Quảng Bình đến Thừa Thiên Huế ngày nay) Vì Thuận Hóa là nơi xa xôi, đất đai cằn cỗi nên Trịnh Kiểm đã đồng ý, liền tâu vua Lê Anh Tông cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất đó Năm 1558, Vua Lê Anh Tông trao cho Nguyễn Hoàng trấn tiết vùng Thuận Hóa, ủy thác trông nom mọi việc, chỉ cần mỗi năm nộp thuế là đủ là được Nguyễn Hoàng và gia quyến cùng các tướng Nguyễn Ư Dĩ, Mạc Cảnh Huống, Văn Nham, Thạch Xuyên, Tường Lộc, Thường Trung, Vũ Thì Trung, Vũ Thì An và hàng nghìn đồng hương thân tín
Trang 31Thanh Nghệ đi vào Thuận Hóa Khi đến nơi, đoàn thuyền đã đi vào cửa Việt Yên (nay là Cửa Việt), đóng trại tại Gò Phù Sa, xã Ái Tử, huyện Vũ Xương (nay là huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị) và đã chọn nơi này để lập Thủ Phủ gọi là dinh Ái Tử Lưu Thủ Thuận Hóa Tống Phước Trị (quê ở Tống Sơn, Thanh Hóa) đã dâng nộp bản đổ, sổ sách trong xứ cho Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng, và theo phò tá ông
Mùa đông năm 1560, quân Mạc thường theo đường biến vào cướp Thanh Nghệ nên Nguyễn Hoàng cho đặt đồn cửa biển giữ miền duyên hải Theo Lịch
sử vương quốc Đàng Ngoài, tháng 3 năm 1568, thượng tướng Thái quốc công Trịnh Kiểm lấy Nguyên quận công Nguyễn Bá Quýnh ( là cháu đời thứ năm của công thần khai quốc Thái Sư Đại vương Nguyễn Xí) làm tổng binh thay Trấn quận công Bùi Tá Hán qua đời, để giữ đất ấy Tuy nhiên Năm 1569, khi Nguyễn Hoàng ra Thanh Hóa yết kiến Lê Anh Tông, nộp quân lương giúp Nam triều đánh nhà Mạc, rồi đến phủ Thượng tướng lạy mừng Trịnh Kiểm, Trịnh Kiểm e sợ Nguyễn Hoàng mỗi ngày càng lớn, có lòng khoan hậu và chí lớn nên tìm cách ám hại Bà Ngọc Bảo chị Nguyễn Hoàng đã biết được âm mưu thâm độc ấy, vì muốn cứu mạng em và cứu chồng khỏi tội sát nhân; bà khuyên chồng cho em trai ra trận và giữ vững vùng đất Thuận Quảng mới chiếm, Trịnh Kiểm đồng ý phong cho Nguyễn Hoàng làm Tổng Trấn Tướng Quân kiêm quản cả Xứ Quảng Nam và Xứ Thuận Hóa, trấn thủ luôn đất Quảng Nam, thay cho Nguyễn Bá Quýnh và theo lệ mỗi năm phải nộp thuế là 400 cân bạc, 500 tấm lụa
Tháng 1 năm 1570, Nguyễn Hoàng từ Tây Đô trở về đã dời dinh đến làng Trà Bát, nằm gần Ái Tử, chếch về phía đông bắc (nay là hai làng Trà Liên Đông, Trà Liên Tây, xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong)- gọi là Dinh Trà Bát Hình thành một triều đại mới với sự phân bố hành chính, đất đai của hai xứ Quảng Nam và Thuận Hóa như sau:
- Xứ Thuận Hóa chia làm 2 phủ gồm: phủ Tiên Bình và phủ Triệu Phong
Trang 32- Xứ Quảng Nam chia làm 3 phủ gồm: phủ Thăng Hoa, phủ Hoài Nhân, phủ Tư Nghĩa
Trong các phủ thì lại được chia nhỏ thành các huyện các châu
Ngày 24 tháng 3 năm 1570, nhân việc Trịnh Kiểm qua đời, con trai thứ
là Trịnh Tùngđã cử binh chống lại và trục xuất con trai trưởng Trịnh Cối3, và lên nối giữ binh quyền, chính thức mở ra thời kỳ vua Lê, chúa Trịnh Trong suốt những năm 1545–1580 là giai đoạn từ thời của Trịnh Kiểm đến thời Trịnh Tùng dẫn quân tấn công Thanh Hóa - Nghệ An để đánh quân nhà Mạc Tháng
8 năm 1555 vua Mạc Phúc Nguyên đã sai Mạc Kính Điển4 dẫn theo 100 chiến thuyền đánh vào Thanh Hóa Trong những cuộc chiến giằng co đó, nổi lên tên tuổi các tướng Hoàng Đình Ái, Nguyễn Hữu Liêu bên Lê, Nguyễn Quyện bên Mạc Năm 1572, Nhà Mạc sai tướng Mạc Lập Bạo đem hơn 60 chiến thuyền đánh vào Thuận Hóa, đổ bộ lên làng Hồ Xá và ở làng Lạng Uyển (thuộc huyện Minh-linh) để tấn công phủ, dân ở Thuận Quảng nhiều người theo hàng Lúc này, Nguyễn Hoàng mới sai một người con gái đẹp là Ngô thị giả làm cách mỹ nhân kế và đưa vàng bạc đút lót và sang nói với Mạc Lập Bạo xin cầu hòa Mạc Lập Bạo đồng ý giảng hòa Năm 1573, ông giết vua Lê Anh Tông và đưa vua nhỏ Lê Thế Tông lên làm vua bù nhìn, bản thân nắm hết quân quốc đại sự Trịnh Tùng được sử sách ghi nhận là nhà chỉ huy quân sự tài ba, người đã chặn được các cuộc tấn công của quân Mạc từ năm 1577 đến năm 1583 Năm 1592, Trịnh Tùng xuất quân bắc phạt, giành lại Đông Đô từ tay nhà Mạc, hoàn thành
sự nghiệp trung hưng triều Lê Sau đó, năm 1599 ông buộc nhà vua phải phong cho mình tước Bình An Vương (平安王) và lập con làm thế tử, thiết lập phủ chúa tại thành Đông Kinh, chính thức mở ra cơ đồ 200 năm của họ Trịnh Những năm tiếp theo, Trịnh Tùng lo việc thông hiếu với nước Minh, đối phó với dư đảng họ Mạc ở phía bắc và sự trỗi dậy của họ Nguyễn ở phương nam
Từ đó, hình thành thời kỳ phân chia lãnh thổ giữa chế độ "vua Lê chúa Trịnh" phía Bắc sông Gianh (Đàng Ngoài) và chúa Nguyễn cai trị ở miền Nam (Đàng Trong), mở đầu khi Trịnh Tráng đem quân đánh Nguyễn Phúc Nguyên
Trang 33năm 1627 và kết thúc vào cuối thế kỷ 18 khi nhà Tây Sơn lật đổ cả chúa Nguyễn lẫn chúa Trịnh.[44, tr.119]
Lần đầu tiên trong một thời kỳ dài hình thành và phát triển đất nước, Việt Nam (lúc này là Đại Việt ) có một chế độ quân chủ tập quyền xuất hiện, với
cơ chế “quyền lực song trùng ”, “thể chế lưỡng đầu” hay “hai chính quyền cùng song song tồn tại” rất hy hữu trong thời kỳ Hậu Lê này
1.1.2 Vai trò thương cảng của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á
Từ khi Nguyễn Hoàng theo sấm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tiến vào vùng Thuận Hóa, ông đã quyết tâm xây dựng một thế lực độc lập và vững mạnh, khai mở vùng đất mới trường tồn để các đời chúa Nguyễn tiếp theo có được một nền móng hình thành, hưng vượng kéo dài mãi đến sau này Tháng
10 năm 1558 Nguyễn Hoàng cùng gia quyến và các binh tướng thân tín đi về phương Nam, dừng chân ở cửa Việt Yên nay là cửa Việt đóng doanh trại ở Gò Phù Sa, xã Ái Tử, huyện Đăng Xương (nay thuộc huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị) Trong thế cuộc phân tranh Trịnh - Nguyễn, xứ Đàng Trong mau chóng nổi lên như một vùng đất giàu có Do nằm ở trung điểm của một trong những tuyến chính trong hệ thống giao thương châu Á nên các thương cảng như Cửa Việt, Cửa Tùng, Thanh Hà, Hội An, Nước Mặn vv đều có thể phát huy những tiềm năng phát triển và trở thành các thương cảng quan trọng của Đàng Trong Chính quyền Đàng Trong đã khai phá thiết lập vùng đất Thuận Hóa từ vùng đất hoang sơ nghèo nàn tập trung giặc cỏ, cướp biển và lực lượng quân Chiêm Thành thường xuyên đánh phá thành một vùng đất trù phú, rộng rãi và phát triển Nguyễn Hoàng đưa ra chính sách khai khẩn, khích nông, người nào khai khẩn được bao nhiêu được hưởng bấy nhiêu nên nhờ thế mà vùng đất Thuận Hóa được khai hoang và mở rộng Đối nội thì dùng thuật an dân, trọng người tài, trấn yên giặc cỏ và giữ hòa hiếu với họ Trịnh ở Đàng Ngoài, đối ngoại thì đem quân dẹp loạn quân Chiêm Thành mở mang bờ cõi
và củng cố mối quan hệ, giao thương liên quốc gia với các nước khác thông qua mậu dịch hàng hải thế giới Trong đó có mạng lưới giao thương hàng hải
Trang 34với các quốc gia Đông Á đặc biệt là Nhật Bản, dần dần Đàng Trong đã tự khẳng định vị thế của mình, mở mang không gian lãnh thổ, xác lập, bảo vệ và khẳng định chủ quyền lãnh thổ, biển đảo đồng thời tự lựa chọn cho mình một con đường và mô hình phát triển phù hợp Nhận thấy tiềm năng to lớn và sự tin cậy của thị trường này, các chúa Nguyễn không chỉ thiết lập mối quan hệ trực tiếp với Nhật Bản mà còn huy động các nguồn lực, hàng hóa, tiềm năng của thị trường khu vực để giao thương với Nhật Bản và các quốc gia khác Vì thế, vào thế kỷ XVI - XVII hoạt động của các tuyến thương mại truyền thống:
“Đông Dương châm lộ” và “Tây Dương châm lộ” (hình thành vào thời Tống,
960 - 1279) đã tiếp tục được phát huy trong bối cảnh mới Điều đáng chú ý là, cùng với các thương nhân châu Á, hoạt động giao thương quốc tế của Đàng Trong còn có sự tham gia và can dự ngày càng mạnh mẽ của nhiều Công ty Đông Ấn, tập đoàn thương mại phương Tây Năm 1618- 1621 giáo sĩ người Ý
là Cristoforo Borri từng nhận định rằng vị trí tự nhiên của các thương cảng Đàng Trong ở vùng duyên hải san sát nhau khoảng hơn 100 dặm có khoảng 60 hải cảng nhộn nhịp rất thuận lợi để cập bến Do sự thuận lợi về tự nhiên khí hậu cùng chính sách cởi mở của chính quyền Đàng Trong, những thương cảng Đàng Trong dần khẳng định vị thế của mình trên thị trường thương hải quốc
tế và nhanh chóng trở nên thịnh vượng và cũng là nơi có hội chợ danh tiếng chính là hải cảng thuộc tỉnh Quảng Nam thu hút nhiều người ngoại quốc khác.[2,tr19]
Thời kỳ thương mại khu vực Đông Á, quốc gia Việt Nam có vị trí quan trọng và trong những thời kỳ nhất định, Đàng Trong cũng như Đàng Ngoài của Đại Việt thời ấy trở thành những mắt xích không thể thay thế Bản sắc của Đàng Trong mang nhiều màu sắc “Đông Nam Á” hơn là so với Đàng Ngoài
“Hán hóa” tuy khác biệt nhưng cũng đã làm cho Việt Nam được đánh giá là nhân tố quan trọng, tác động trực tiếp đến vị trí của Việt Nam trong hải cảng khu vực Đông Bắc Á Thế kỷ thứ XVI mặc dù tình hình chính trị trong nước rối ren và diễn biến phức tạp nhưng từ những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XVI
Trang 35hệ thống thương mại biển Đông đã đánh dấu giai đoạn ngoại thương quan trọng giữa Việt Nam và quốc tế Có thể nhắc đến là người Bồ Đào Nha với quá trình xác lập mạng lưới thương mại liên Đông Á của Công ty Hoàng gia Bồ Đào Nha (Estado da India) đã từng bước phá vỡ cấu trúc thương mại Bắc - Nam ở khu vực Biển Đông và Nam Hải Song song với việc bang giao cùng Nhật Bản trong giai đoạn Châu ấn thuyền cho đến khi những thay đổi đầu thế kỷ thứ XVII với những chính sách bế quan tỏa cảng thời kỳ Tokugawa ở Nhật bản làm xuất hiện sự có mặt của các thương nhân Phúc Kiến Trung Quốc 1635-
1700 Từ cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, với sự chuyển giao quyền lực từ triều Mạc sang triều đình Lê-Trịnh, cửa ngõ thông thương của Việt Nam lại tiếp tục có những hoán đổi: từ Dương Kinh chuyển dịch xuống vùng cửa sông Thái Bình Như vậy là, chỉ trong vòng khoảng một trăm năm dưới triều Mạc
và triều Lê-Trịnh, cửa ngõ thương mại chính yếu của quốc gia Việt Nam đã liên tục chuyển dịch xuống phía nam: từ Vân Đồn (thế kỷ XII - XVI) qua Dương Kinh (thế kỷ XVI) xuống vùng cửa sông Thái Bình (thế kỷ XVII - khoảng thế kỷ XIX) làm mạng lưới mậu dịch gốm sứ quốc tế cũng có những thay đổi mạnh từ giữa thế kỷ XVI và tác động không nhỏ đến Việt Nam [13,tr5]
Tuy cùng một bối cảnh địa lý và thu nhận những luồng giao thương như nhau nhưng có thể nhận thấy rằng, về mặt thiên nhiên và khí hậu ở Đàng Trong lại có phần ôn hòa và lợi thế hơn Đàng Ngoài Các con sông lớn ở Đàng Ngoài bắt nguồn từ Trung Quốc nên những trận mưa lớn trong các tháng ba, tư, năm khiến cho dòng sông chảy xiết một cách khủng khiếp (vì địa hình Trung Quốc cao hơn xứ Đàng Ngoài), đe dọa phá vỡ các con đê, đôi khi những trận lụt lớn tràn qua đê, nhấn chìm nhiều tỉnh và gây nên những rối loạn và thiệt hại nặng
cả người và súc vật Về tiềm năng của vị trí địa lý tự nhiên ở Đàng Trong, giáo
sĩ Alexandre de Rhodes cũng cho rằng: “Họ rất giàu vì có đất đai phì nhiêu
với 24 con sông cung cấp nước, cũng nhờ đó mà rất tiện việc đi lại bằng đường sông ngòi, tiện việc thông thương và hành trình”[1,tr.16] hoặc nhà bác học thế
Trang 36kỷ XVIII Lê Quý Đôn (1726 - 1784) nhận xét: “Xứ Thuận Hóa, đường thủy
đường bộ liên tiếp tới xứ Quảng Nam, phía hữu xứ Quảng Nam lại thông với các nước phiên, về đường biển thì cách tỉnh Phúc Kiến,tỉnh Quảng Đông không đến 3 - 4 ngày, cho nên thuyền buôn từ trước đến tụ hội ở đấy”.
[25,tr.103]. Như vậy, đến thế kỷ XVI - XVII, do những tiến bộ về kỹ thuật đóng thuyền và tri thức hàng hải, nhiều đoàn thuyền lớn của các quốc gia châu Á không nhất thiết phải tuân thủ theo các tuyến hải thương truyền thống nữa Từ miền nam Trung Hoa hay Nhật Bản, các đoàn thuyền buôn có thể tiến thẳng đến các cảng Đông Nam Á Do vậy, các cảng miền Trung trong đó có Hội An trở thành đầu mối giao thương trực tiếp với các trung tâm kinh tế lớn khu vực Ban đầu, cả thế lực họ Trịnh và họ Nguyễn đều mang khẩu hiệu "phò Lê diệt Mạc" để lấy lòng thiên hạ và thề trung thành với triều Hậu Lê Sau khi nhà Mạc đã bị đánh đổ, trên danh nghĩa, cả Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn đều là hai
vị bề tôi của nhà Hậu Lê, cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài đều là lãnh thổ của nhà Lê Nhưng trên thực tế thì cả hai tập đoàn phong kiến này đều tạo thế lực cát cứ cho riêng mình như hai nước riêng biệt, vua nhà Hậu Lê đã không còn thực quyền nên không ngăn chặn được sự phân tranh giữa hai họ Trịnh – Nguyễn Nước Việt Nam trong giai đoạn này bị chia cắt hơn 150 năm Đàng Trong - Đàng Ngoài, theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, nói về tỉnh Quảng
Bình có viết: “Khi quốc sơ, binh họ Trịnh cùng binh ta (họ Nguyễn) chống
nhau, lấy Sông Gianh làm giới hạn, đồn binh ở đấy Một đồn ở xã Trung Ái, một đồn ở xã Phan Long, một đồn ở xã Xuân Kiều, tục hiệu là Ba Đồn (cũng gọi là Tam Hiệu hay Tam Phiên) sau bị Đại tướng quân của ta là Nguyễn Hữu Dật đánh phá tan cả” [21,tr.125-129]
Trong thời kỳ ấy, cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài vẫn có những cuộc cải cách kinh tế, văn hóa và đẩy mạnh giao thương với nước ngoài nhằm tạo nên một nền kinh tế vững mạnh, sự liên minh quân sự hùng hậu để triệt tiêu đối phương
Trang 37Và ngay thời điểm này cũng vừa hay, Nhật Bản chọn Đông Nam Á làm thị trường mới thay cho thị trường Trung Quốc đang trong cảnh rối loạn của thời kỳ phản Thanh phục Minh và lẽ nghiễm nhiên, Việt Nam là một thị trường vàng của giao thương hàng hải trong khu vực Đông Nam Á
1.2 BỐI CẢNH LỊCH SỬ NHẬT BẢN THẾ KỶ XVI – XVII
Nhật Bản vào thế kỷ XV, bắt đầu thời kỳ chiến quốc (Sengoku Jidai -戦国時代) đây là một thời đại loạn lạc bậc nhất trong lịch sử Nhật Bản Thiên hoàng lúc này chỉ còn quyền hành trên danh nghĩa, mọi quyền lực và sức mạnh tập trung vào tay tướng quân ( quan tể tướng tiếng Nhật gọi là Shogun 将軍), thế cục đất nước lúc này biến đổi khôn lường khó bề đoán định Theo sách lịch
sử Nhật Bản có viết năm 1464, tể tướng đương triều là Ashikaga Yoshimasa ( 足利 義政, Túc Lợi Nghĩa Chính) vì không có con trai nối dõi nên đã chọn
em trai là Ashikaga Yoshimi(足利義美 , Túc Lợi Nghĩa Mỹ)làm người nối nghiệp Tuy nhiên, một năm sau đó là 1465, Tướng quân Shogun Ashikaga Yoshimasa bất ngờ sinh được con trai nối dõi đặt tên là Ashikaga Yoshihisa (足利義久 Túc Lợi Nghĩa Cửu), gây ra sự tranh giành quyền hành giữa hai chú cháu nhà Ashikaga Cuộc nội chiến này diễn ra dữ dội mà lịch sử Nhật Bản gọi là Loạn Oonin năm 1467, đã khiến nước Nhật Bản lúc này vỡ vụn thành trăm mảnh và trên các vùng đất bị phân chia bị đó hàng trăm lãnh chúa (大名―DAIMYO ) ra đời làm nên một thời kỳ hỗn tạp nhất trong sử Nhật, chính thức mở đầu cho một thời kỳ chiến quốc và cũng chính là là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống phong kiến tại Nhật Bản dưới chế độ Mạc phủ Ashikaga
Chính vì thế, quyền lực của tướng quân Shogun ngày càng suy giảm còn các lãnh chúa địa phương (大名— Daimyo) thì lại ngày càng thịnh vượng, lớn mạnh, họ tự do phát động chiến tranh để giành đất đai mở rộng lãnh địa của họ Nhiều lãnh chúa và các gia tộc samurai khác nhau đã gây chiến mong
Trang 38kiểm soát toàn bộ lãnh thổ Nhật Bản trong giai đoạn khoảng trống quyền lực này
Một gia tộc nhỏ là Matsudaira, nằm giữa gia tộc Oda Nobuhide hùng mạnh ở phía Tây và gia tộc Imagawa ở phía đông, do tình hình chiến sự khốc liệt khó kiểm soát trong cục diện “ cá lớn nuốt cá bé” , năm 1548 gia tộc Matsudaira bị gia tộc Oda tấn công nên lãnh chúa của vùng Matsudaira là Matsudaira Hirotada phải cầu cứu sự hỗ trợ từ gia tộc Imagawa phía đông Theo sử Nhật Bản, lãnh chúa Imagawa lúc bấy giờ là Yoshimoto Imagawa đã đồng ý giúp đỡ với điều kiện nhà Matsudaira phải cam kết và giao đứa con trai đầu lòng là Matsudaira Takechiyo mới tuổi của dòng họ làm con tin Tuy nhiên, cậu bé con tin nhà Matsudaira giữa đường bị quân nhà Oda mai phục và bắt giữ, gia tộc Oda dùng cậu bé để uy hiếp nhà Matsudaira, thế nhưng với tinh thần quyết tử cho lời thề danh dự, Matsudaira Hirotada thà hy sinh con trai của mình nhất quyết không bội tín lời thề với gia tộc Imagawa Chính sự chính trực
và kiên quyết này mà gia tộc Oda không nỡ giết chết cậu bé Matsudaira Takechiyo 5 tuổi mà giam cậu vào một ngôi đền của gia tộc Oda 3 năm sau
đó, lãnh chúa Oda Nobuhide và Matsudaira Hirotada đều qua đời, một lần nữa gia tộc Oda nổi lên những cuộc nội chiến tranh giành ngôi vị giữa 2 người con trai dòng họ Oda là Oda Nobunaga và Oda Nobuyuki Gia tộc Imagawa nhân
sự xáo trộn nội bộ nhà Oda đã lợi dụng thời cơ đánh nhà Oda và cướp con tin
là cậu bé Matsudaira Takechiyo về và tiếp tục làm con tin cho dòng họ Imagawa cho đến khi trưởng thành Năm 1556, con tin Matsudaira Takechiyo
đã trở về quê nhà là vùng Matsudaira nhưng lúc này Takechiyo đã chính thức
là một nước chư hầu của dòng họ Imagawa phía đông Đồng thời nhà Imagawa lập liên minh với các lãnh chúa vùng Takeda và Hojo, phô trương thanh thế đến 40.000 quân và tiến về kinh thành( kyoto) để uy hiếp Shogun nhằm giành quyền lực, tuy nhiên đi đến Kyoto buộc phải đi ngang lãnh thổ của gia tộc Oda Năm 1557, Oda Nobunaga ( được mệnh danh là tên khùng xứ Owari) đã giết chết người em trai mình là Oda Nobuyuki, với 3000 quân trong tay Oda
Trang 39Nobunaga đã tương kế tựu kế đánh tan liên minh Imagawa, phát động một cuộc chiến thống nhất chính trị bằng vũ lực gây nhiều thành công vang dội về tài thao lược bách chiến bách thắng của mình và trở thành vị lãnh chúa hàng đầu của Nhật Bản Nhân cơ hội ấy, cậu bé con tin Matsudaira Takechiyo đã bắt tay thỏa hiệp với Oda Nobunaga đổi tên thành Tokugawa Ieyasu ( Đức Xuyên Gia Khang), tình nguyện làm lá chắn phía đông phòng thủ cho Oda Nobunaga Sự xuất hiện của người Châu u vào năm 1543 đã mang tới một loại
vũ khí mới, súng hỏa mai, thứ nhanh chóng được sử dụng trong cuộc chiến giữa các gia tộc Oda Nobunaga với sự hỗ trợ của Tokugawa Ieyasu đã sử dụng hiệu quả những loại vũ khí mới và uy danh thanh thế trên những trận đánh khốc liệt thu giang sơn Nhật Bản dần về một mối Năm 1568, Shogun ở Kyoto
bị ám sát, em trai Shogun là Ashikaga Yoshiaki đã cầu cứu Oda Nobunaga Ông đã đánh dẹp các phiên quân và đưa Ashikaga Yoshiaki lên làm tướng quân, nhưng sau đó Ashikaga Yoshiaki trở mặt vì lo sợ Oda Nobunaga nắm quyền và biến mình thành bù nhìn nên đã liên minh với những thế lực kẻ thù nhà Oda để chống lại Oda Nobunaga vì sự việc này Oda Nobunaga đã trục xuất Shogun
Ashikaga Yoshiaki ra khỏi Kyoto, chấm dứt vai trò shogun và giải tán Mạc phủ Ashikaga, trấn yên Nhật Bản Năm 1582, phần lớn miền Trung Nhật Bản đã dần thống nhất trong tay Oda Nobunaga, ông đẩy mạnh giao thương với Châu u và có những chính sách thương mại và giao thương cởi mở tạo điều kiện cho kinh tế lẫn quân sự phát triển đến đỉnh cao, cho đến khi Oda Nobunaga bị ám sát tại ngôi chùa Horyu bằng một trận hỏa hoạn của một kẻ thuộc hạ Người kế vị của Oda Nobunaga là Toyotomi Hideyoshi (Phong Thần
Tú Cát)tiếp tục hoàn thành công việc thống nhất Nhật Bản và củng cố sự cai trị của gia tộc với nhiều cải cách có ảnh hưởng lớn, thống nhất Nhật Bản Năm
1592, Hideyoshi phát động cuộc chiến xâm lăng Triều Tiên để thông tính Trung Quốc nhưng thất bại và qua đời vào năm 1598
Trang 401.2.1 Khái quát lịch sử thời kỳ Châu ấn thuyền
Chế độ Châu ấn thuyền (朱印船- Shuinsen) – hay còn gọi là "Thuyền
mang giấy phép có đóng dấu đỏ" là loại thuyền buồm thương mại của Nhật
Bản có trang bị vũ trang, được Mạc phủ Tokugawa cấp giấy phép thông hành
có dấu triện đỏ (朱印状-shuinjo) cho phép thương thuyền Nhật Bản vượt biển
đi giao thương, buôn bán ở hải ngoại, trong đó có Việt Nam vào đầu thế kỷ XVII
H1.1 Số lượng tàu thuyền Châu ấn đến Việt Nam đầu thế kỷ XVII[27,tr.67-68]