đời của các tác phẩm văn học, tới nhu cầu của người tiếp nhận, từ đó chi phối quan điểm, tư tưởng sáng tác của các nhà văn; các hiện tượng văn hóa trong các tác phẩm đã được chưng cất ma
Trang 3Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, thầy cô, đồng nghiệp, bằng hữu, các anh / chị/ em/ học viên cao học, nghiên cứu sinh; Ban Giám hiệu & Phòng Đào tạo Trường Cao đẳng Bách Việt đã tạo điều kiện, luôn đồng hành, hỗ trợ, động viên
để giúp tôi theo đuổi công việc nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi đã gặp không ít những khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài, vì kinh nghiệm nghiên cứu khoa học còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp, chia sẻ của quý Thầy/ Cô và các bạn
Xin chân thành cảm ơn
Tp Hồ Chí Minh, 2022
Học viên
Đỗ Thị Thanh Vân
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Phan Mạnh Hùng
Các thông tin, hình ảnh, trích dẫn trong luận văn được tra cứu và chú thích nguồn rõ ràng, đảm bảo tính trung thực và khoa học trong quá trình nghiên cứu của tác giả
Toàn văn luận văn chưa được công bố trên các phương tiện thông tin dưới bất cứ hình thức nào
Người cam đoan
Đỗ Thị Thanh Vân
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do và mục đích chọn đề tài 1
2 Lược sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
4 Quan điểm tiếp cận và cơ sở lý thuyết 16
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 19
6 Đóng góp của luận văn 21
7 Bố cục luận văn 21
Chương 1 23
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 23
1.1 Cơ sở lý luận 23
1.2 Cơ sở thực tiễn 30
Chương 2 48
VĂN HÓA NAM BỘ NHÌN TỪ NỘI DUNG CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC ĐƯỢC GIẢI THƯỞNG BÁO CHÍ TRƯỚC NĂM 1945 48
2.1 Cảnh sắc Nam Bộ 48
2.2 Con người Nam Bộ 59
2.3 Phong tục Nam Bộ 68
2.4 Văn hóa tín ngưỡng Nam Bộ 72
2.5 Văn hóa nghệ thuật Nam Bộ 75
Chương 3 87
VĂN HÓA NAM BỘ NHÌN TỪ HÌNH THỨC CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC ĐƯỢC GIẢI THƯỞNG BÁO CHÍ TRƯỚC NĂM 1945 87
3.1 Đặc trưng văn hóa Nam Bộ qua cách miêu tả 87
3.2 Đặc trưng văn hóa Nam Bộ qua cách kể chuyện 95
3.3 Đặc trưng văn hóa Nam Bộ qua việc sử dụng ngôn ngữ 104
KẾT LUẬN 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
PHỤ LỤC 133
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do và mục đích chọn đề tài
Nam Bộ là một vùng đất mới, trong quá trình hình thành và phát triển đã tạo nên bản sắc văn hóa Có nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu về văn hóa Nam Bộ từ góc độ cách tiếp cận từ địa lý, lịch sử, nhân học… Trong đề tài này, chúng tôi chọn cách tiếp cận từ tư liệu là văn học viết và sử dụng thể loại tiểu thuyết để nghiên cứu
thông qua bốn tác phẩm: Lương Hoa truyện, Hòn máu bỏ rơi, Sóng tình và Đồng
quê Sự ra đời của thể loại tiểu thuyết xuất phát từ bối cảnh lịch sử, xã hội Việt
Nam, tiêu biểu chúng tôi chọn giai đoạn đầu thế kỷ XX Văn hóa Việt Nam trong giai đoạn này, trên nền văn hóa truyền thống và ngoài sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc còn chịu ảnh hưởng từ sự giao lưu, tiếp xúc với những nền văn hóa phương Tây mà đại diện là văn hóa Pháp Giai đoạn này, những trường học theo mô hình giáo dục phương Tây được xây dựng Pháp thực hiện chương trình học rất chặt chẽ, học theo sách giáo khoa Pháp và đưa chữ quốc ngữ vào lĩnh vực giáo dục Với mục đích truyền bá văn hóa vào thuộc địa, Pháp chú trọng truyền dạy các kiến thức
về văn hóa và ngôn ngữ Pháp Sự thay đổi các hình thức và nội dung giáo dục đã quyết định chiều hướng phát triển của tầng lớp trí thức Pháp đã đào tạo nên một đội ngũ trí thức phục vụ chế độ thực dân Trong giai đoạn này nghề in phát triển, Nam
Bộ trở thành nơi đi đầu về việc xuất bản sách báo Báo chí cũng trở thành cầu nối quan trọng cho sự gặp gỡ giữa tác phẩm văn học và độc giả cũng như người làm báo Sự tiếp xúc, giao lưu với văn hóa phương Tây, đặc biệt với công cuộc khai thác thuộc địa tạo tiền đề cho sự hình thành các đô thị, đội ngũ thị dân “phương Tây hóa” ngày càng đông đảo
Văn học nghệ thuật cũng theo xu thế mới, bắt đầu xuất hiện những thể loại như tiểu thuyết, thơ mới … các tiểu thuyết viết theo lối phương Tây đã thu hút độc giả Thị hiếu công chúng cũng dần thay đổi, từ việc thích các tác phẩm văn học truyền thống sang thói quen thưởng thức tác phẩm văn học theo phong cách mới
Đó cũng là lý do để các nhà văn thời ấy cầm bút viết đáp ứng cho nhu cầu công
Trang 7chúng Những nhà viết tiểu thuyết ngoài tài năng nghệ thuật và tư duy sáng tạo sẵn
có, họ cũng là những người có vốn học thức và am hiểu văn hóa sâu rộng Họ đều là những con người được sinh ra và trưởng thành trên quê hương Nam Bộ, đã từng cộng tác với các báo, tạp chí ở miền Nam hay giữ chức vụ quan trọng Họ nhận thức được sự cần thiết trong sáng tác để lưu giữ lại nét văn hóa của thời đại mình đang sống Các tiểu thuyết lựa chọn trong đề tài nghiên cứu đều là những tác phẩm đạt
giải thưởng báo chí Nam Bộ trước năm 1945, thông qua các cuộc thi như: Quốc âm
thi cuộc trên báo Nông cổ mín đàm, cuộc thi trên báo Đuốc nhà Nam, giải thưởng
văn học Thủ Khoa Nghĩa – Hội Khuyến học Cần Thơ trên báo Xuân Tây Đô
Những tác phẩm đạt giải là tác phẩm hay, đặc sắc, được tái bản nhiều lần, được dịch
ra tiếng nước ngoài, nội dung chứa đựng nhiều ưu điểm trong phản ánh văn hóa và được công chúng đón nhận rất tích cực
Các nhà văn đã sáng tạo ra sản phẩm không chỉ được đón nhận trong lòng công chúng nước nhà mà còn vượt qua biên giới Những sản phẩm văn hóa rất giá trị không chỉ tồn tại trong một thời đại mà còn tiếp tục sống qua nhiều thế kỷ trong tương lai Việc nghiên cứu văn hóa từ tư liệu văn học viết là cần thiết, quan trọng và hiện tại đang là hướng đi mang tính khả dụng để khám phá các giá trị văn hóa – văn học, hơn nữa tiểu thuyết là hình thức tự sự có khả năng riêng biệt chứa đựng nhiều vấn đề trong đời sống xã hội, phản ánh sự kiện của cả giai đoạn lịch sử Vì vậy, nghiên cứu không những phục dựng lại bức tranh văn hóa một thời kỳ của dân tộc
mà còn cho thấy giữa văn học và văn hóa có mối quan hệ gắn bó mật thiết, khăng khít, tác động qua lại lẫn nhau Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa, chịu sự chi phối của văn hóa Trong quá trình tồn tại, phát triển, văn học với tư cách là bộ phận năng động, sáng tạo đã thực hiện vai trò điều chỉnh và định hướng
sự phát triển của văn hóa
Mặc dù nghiên cứu văn hóa Nam Bộ qua các tác phẩm văn học đã được quan tâm nghiên cứu nhưng cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa trong tương lai để hiểu văn hóa Nam Bộ qua các giai đoạn lịch sử Chúng tôi lựa chọn bốn tác phẩm để nghiên cứu nhằm góp phần hiểu thêm về bối cảnh lịch sử xã hội tác động mạnh mẽ tới sự ra
Trang 8đời của các tác phẩm văn học, tới nhu cầu của người tiếp nhận, từ đó chi phối quan điểm, tư tưởng sáng tác của các nhà văn; các hiện tượng văn hóa trong các tác phẩm
đã được chưng cất mang tính chiều sâu, thông qua lăng kính của các tác giả nhằm truyền tải thông điệp cuộc sống con người của thời đại
Tôi vốn là người được sinh ra ở miền Bắc, nhưng sinh sống và làm việc ở miền Nam, ngoài lý do yêu thích văn học thì việc nghiên cứu văn hóa Nam Bộ qua các tác phẩm văn học giúp tôi hiểu hơn nữa về con người, vùng đất trên quê hương thứ hai của mình
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Văn hóa Nam Bộ qua các tác phẩm văn học được giải thưởng Báo chí trước năm 1945” để nghiên cứu làm luận văn cho khóa cao học
2 Lược sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa và văn học
Việc nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa góp vai trò chủ yếu và nghiên cứu văn hóa từ văn học cũng đã được quan tâm nhưng số lượng không nhiều Phải
kể đến những công trình trên thế giới và ở Việt Nam như sau:
Trên thế giới Mikhail Mikhailovich Bakhtin (1895 – 1975) và Yuri Mikhailovich Lotman (1922 – 1993) … đã có những công trình nghiên cứu văn học góp phần quan trọng cho sự hình thành và phát triển văn hóa học tại nước Nga M Bakhtin là một nhà triết học, văn hóa học, mỹ học và nghiên cứu văn học nổi tiếng thế giới của thế kỷ XX Trong suốt cuộc đời ông đã để lại những sáng tác nổi tiếng
như: Những vấn đề thi pháp Dostoievski, Sáng tác của François Rabelais và văn
hóa dân gian thời Trung cổ và Phục hưng, Những vấn đề văn học và mỹ học…
Trong công trình Những vấn đề thi pháp Dostoievski, ông nghiên cứu bản chất đối
thoại của văn học và văn hóa, về sự thống nhất, logic và mối quan hệ qua lại giữa các lĩnh vực của văn hóa diễn ra trên ranh giới với một nền văn hóa khác Văn hóa thực sự diễn ra sôi nổi, năng động nhất là ở ranh giới chứ không phải ở khu vực riêng của mỗi nền văn hóa Bản chất đối thoại không chỉ là sự giao tiếp giữa con người với con người ở những nền văn hóa khác nhau mà còn là giao tiếp giữa con
Trang 9người với văn bản Văn bản như là một nhân tố giao tiếp văn hóa để thông qua nó
có thể hiểu được con người, văn bản chứa đựng văn hóa và cần được hiểu bởi người tiếp nhận Y Lotman được coi là nhà ký hiệu học, ông có các tác phẩm nổi tiếng
như Ký hiệu quyển và vấn để truyện kể, Biểu tượng - gène truyện kể, Huyền thoại –
tên gọi – văn hóa, Về mã huyền thoại của truyện kể… Ông xem văn học và văn hóa
là những mã ký hiệu và đặt văn bản vào vị trí trung tâm của ký hiệu học văn hóa Văn bản là hiện tượng đa ngữ, là tổ chức truyền đạt, lưu giữ và sáng tạo thông tin,
nó có sự mở đầu và kết thúc, do đó nó có nội hàm rất rộng
Công trình Literature and Culture: Both Interaction and Effectiveness của
Mohammad Reza Hesaraki đã xác định một số khái niệm về văn hóa và văn học cũng như mối quan hệ giữa hai vấn đề này trong đời sống của con người Tác giả khẳng định văn học và văn hóa là hai vấn đề không thể tách rời, là mối quan hệ song phương, khi nói về văn hóa thì văn học cũng đồng thời xuất hiện có thể dưới dạng vô thức như suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc, cách thức cá nhân của xã hội… hay xuất hiện dưới dạng các nguyên tắc và quy tắc Sự tương tác giữa văn học và văn hóa không giới hạn trên một khu vực địa lý cụ thể nào mà tác động trên toàn thế giới Các nền văn hóa bao gồm niềm tin của con người, truyền thống trong bất kỳ xã hội nào, và văn học bộc lộ những yếu tố này dưới góc độ khác nhau Vì vậy, văn học tương tác và tác động đến văn hóa Những thay đổi văn hóa dẫn đường cho xã hội, do đó, văn hóa truyền đến thế hệ tương lai và sự đổi mới văn hóa có thể bảo vệ
xã hội khỏi bị hủy diệt Có một số yếu tố bên trong nền văn hóa hài hòa với nhau và hình thành một số niềm tin, giá trị, những yếu tố này có thể được phát triển bằng văn học Trên thực tế, văn hóa là kết quả của một xã hội, vì vậy các yếu tố của văn hóa bắt nguồn từ suy nghĩ của mọi người trong xã hội Từ công trình này chúng tôi khẳng định rằng mối quan hệ giữa văn học và văn hóa luôn có sự tương tác với nhau, bởi đối với văn học thì các yếu tố văn hóa như truyền thống, tín ngưỡng,… tạo ra các tài liệu văn học có giá trị, giúp phát triển văn hóa Mặt khác, văn hóa coi văn học như là một thành tựu của nó, tạo nên kết quả của một nền văn hóa
Trang 10Trong công trình Culture and Literature: Interdependence của hai tác giả
Tawhida Akhter và Meenakshi Lamba, trên cơ sở phân tích hai khái niệm Văn hóa
và Văn học thông qua các ví dụ, tác giả đã chỉ ra mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau của hai vấn đề Văn học được coi là biểu hiện của văn hóa và xã hội, đại diện cho ý tưởng và ước mơ của mọi người được đặt trong một thời gian và không gian nhất định, được phác thảo theo cách cảm hứng và tưởng tượng nhất Nó vừa mô tả và truyền cảm hứng cho những thay đổi xã hội và thường được coi là nguồn đáng tin cậy của sự miêu tả nền văn hóa Văn học và văn hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau, cả hai đều có một mối quan hệ với bên kia bởi vì, trong suốt nhiều năm và từ lâu đời nhất, văn học là hiện thân của văn hóa Một tác phẩm văn học chỉ có thể được hiểu đầy đủ bằng cách liên hệ nó với tổng thể động lực của các sự kiện lịch sử
và xã hội bởi vì phương tiện của nó nhận thức là một bộ phận của truyền thống văn hóa Sự tương tác giữa ngôn ngữ và các khía cạnh khác của văn hóa rất gần gũi đến mức không có phần nào của văn hóa có thể được nghiên cứu một cách chính xác trong sự tách biệt với ngôn ngữ Ngôn ngữ là một phần quan trọng và việc sửa đổi ít nhất là một phần để phản ứng với sự thay đổi văn hóa, đặc điểm văn hóa mới đòi hỏi phải có từ vựng mở rộng Trong bài viết này, tác giả còn đề cập tới việc giảng dạy văn hóa thông qua văn học Đọc văn học không chỉ là tìm hiểu về tác phẩm mà
là học cách thế giới hoạt động và vận hành Các văn bản văn học thúc đẩy sự hiểu biết về văn hóa giúp mở rộng kiến thức và nâng cao nhận thức của con người Thông công trình này chúng tôi thấy các đặc trưng văn hóa trong văn bản văn học nhất là ngôn ngữ có thể mở rộng nhận thức của chúng ta về cuộc sống và làm phong phú tầm nhìn của chúng ta về toàn thế giới
Trong công trình How literature “touchs” culture? (文学怎样 动文化) của
tác giả Wu Xuan khoa Trung văn Đại học Sư phạm Hoa Đông, Thượng Hải, đồng thời là giáo sư Đại học Kobe, Nhật Bản, từ sự phân tích các tác phẩm kinh điển/ cổ điển của Trung Quốc và Phương Tây, tác giả cho rằng ảnh hưởng văn hóa đối với văn học do ba khía cạnh: Thứ nhất vai trò quyết định của văn hóa đối với văn học là một thực tế Thứ hai văn hóa gắn chặt với lợi ích hiện sinh của con người Văn học
Trang 11không nhấn mạnh vào thực tế, tiện ích mà là chức năng hỗ trợ tinh thần, cảm hứng của nó đến từ sự phản ánh trân trọng của nhà văn về những yêu cầu phổ biến của văn hóa, hơn là nhận dạng phục tùng Thứ ba, các yêu cầu văn hóa đối với văn học
là một loại tư duy Hành động của văn học đối với văn hóa không chống lại văn hóa
mà là tôn trọng và không giới hạn trong văn hóa; nó không bị coi thường và loại trừ; thậm chí văn học không vượt qua văn hóa Qua công trình này chúng tôi thấy rằng dù bất kỳ nền văn học nào, dù là văn học hiện đại hóa hay phương Tây hóa thì đều không thể bỏ qua đặc điểm là tôn trọng văn hóa và sự hiểu đúng đắn về mối quan hệ giữa văn học và văn hóa
Công trình Language and Culture của tác giả Claire Kramsch khảo sát các
phương pháp nghiên cứu và phương pháp tiếp cận được sử dụng trong lĩnh vực đa ngành của các nghiên cứu ngôn ngữ ứng dụng hoặc giáo dục ngôn ngữ Dựa trên những hiểu biết thu được trong ngôn ngữ học tâm lý và xã hội học, giáo dục ngôn ngữ học và nhân học ngôn ngữ liên quan đến ngôn ngữ và văn hóa, nó được sắp xếp xung quanh năm câu hỏi chính mà các nhà giáo dục ngôn ngữ quan tâm Thứ nhất:
Ý nghĩa văn hóa được mã hóa như thế nào trong ký hiệu ngôn ngữ? Thảo luận về cách việc sử dụng một hệ thống ký hiệu ảnh hưởng đến suy nghĩ, cách người nói các ngôn ngữ khác nhau, suy nghĩ khác khi nói và cách người nói các bài diễn văn khác nhau (qua ngôn ngữ hoặc cùng một ngôn ngữ) có thế giới quan văn hóa khác nhau Thứ hai là: Ý nghĩa văn hóa được thể hiện một cách thực dụng thông qua hành động lời nói như thế nào? Thảo luận về việc thực hiện các hành vi lời nói qua các nền văn hóa, được hiểu biết về văn hóa phân tích hội thoại và sử dụng khung văn hóa Thứ ba là: Văn hóa được đồng xây dựng bởi những người tham gia tương tác bằng lời nói như thế nào? Thảo luận về cách áp dụng ngôn ngữ học đã chuyển từ quan điểm cấu trúc luận sang quan điểm kiến tạo về ngôn ngữ và văn hóa, từ biểu diễn đến biểu diễn, và từ tập trung vào văn hóa đến tập trung vào tính lịch sử và tính chủ quan Thứ tư là: Nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hóa bị ảnh hưởng bởi công nghệ ngôn ngữ? Văn hóa in của sách, văn hóa ảo của Internet, văn hóa giao lưu điện
tử trực tuyến tất cả đều có những cách riêng để vẽ lại ranh giới của những gì có thể
Trang 12được nói, viết và được thực hiện trong một cộng đồng diễn ngôn nhất định Chúng được liên kết chặt chẽ với các vấn đề về quyền lực và kiểm soát Phần cuối cùng khám phá phương pháp luận hiện tại xu hướng nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa: sự gia tăng đặt câu hỏi và chính trị hóa thực tế văn hóa, tính liên ngành gia tăng của nghiên cứu, tầm quan trọng ngày càng tăng của tính phản xạ và sự hội tụ đáng chú ý của các nền văn hóa nghiên cứu giao tiếp và nghiên cứu ngôn ngữ ứng dụng trong nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa
Trong công trình Culture, Language and Literature: Developing
Intercultural Communicative Competence through International Literature của tác
giả Zumbarlal Patil cho rằng mối quan hệ giữa văn hóa, ngôn ngữ giống như giữa mặt trái của một đồng tiền Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học tương tự như khiêu vũ và vũ công: chúng không thể tách rời Văn hóa thể hiện bản thân trong mọi thứ ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật biểu diễn, hành vi bằng lời nói và không lời của mọi người, v.v Văn học chứa đựng những nội hàm văn hóa chúng không chỉ đại diện mà còn thể hiện nền văn hóa tương ứng Bài báo tập trung chủ yếu vào “mã” (ngôn ngữ và văn học), chỉ nói ngắn gọn và gián tiếp về “cuộc trò chuyện” hoặc
“giao tiếp” và “sự tò mò” hoặc “Câu hỏi” Cuối cùng, tờ báo đưa ra rằng sự đa dạng của các nền văn hóa và nhiều quy chuẩn về hành vi bằng lời nói và không lời nói cần thiết đào tạo về giao tiếp giữa các nền văn hóa và tài liệu đó có thể được sử dụng như một nguồn tài nguyên phong phú để phát triển khả năng giao tiếp phù hợp trong môi trường văn hóa xa lạ
Ở Việt Nam, chúng tôi thấy có nhiều công trình nghiên cứu văn hóa văn học gắn liền với tên tuổi kỳ cựu như Trần Đình Hượu, Phan Ngọc, Trần Đình Sử, Chu Xuân Diên …, đây là những công trình đã góp phần xây nền móng cho ngành văn hóa học ở nước ta Theo tác giả Trần Đình Sử, văn học với tư cách là hiện tượng văn hóa – văn học là sự tự ý thức văn hóa đồng thời phản ánh các văn hóa khác trong cuộc sống con người tạo thành diện mạo văn hóa một thời đại, một dân tộc
Từ đó giúp con người có cái nhìn toàn diện và đánh giá một cách cụ thể, sâu sắc hơn Văn học trực tiếp tái hiện đời sống văn hóa của dân tộc và kết tinh văn hóa
Trang 13thẩm mỹ của dân tộc, bảo tồn văn hóa truyền thống được coi là cái gốc, cái đẹp, cái hay (Trần Đình Sử 2017)
Trong công trình Về mối quan hệ giữa văn học với văn hóa, tác giả Phan
Ngọc xét văn hóa Việt Nam trên thể nghiệm của bản thân Trước hết văn hóa là một kiểu lựa chọn nhằm thỏa mãn yêu cầu cơ bản nhất của một tộc người, có những yêu
cầu không thay đổi để trở thành bản sắc văn hóa và những yêu cầu thay đổi chỉ để
cho phù hợp Bản sắc văn hóa Việt Nam thể hiện trong bốn yêu cầu: Tổ quốc – Gia đình – Thân phận – Diện mạo Bốn yêu cầu này được nhìn trong mối quan hệ hai chiều, có sự tác động qua lại lẫn nhau Văn học cần có những cách giải quyết thích hợp, chủ động trước những thay đổi để tạo điều kiện thuận lợi cho sáng tác đáp ứng
những yêu cầu của con người (Tạp chí Văn học, 1998, số 9, tr.27-30)
Hiện nay, xu hướng nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đạt những thành tựu mới phải kể đến các công trình nghiên
cứu của Đỗ Thị Minh Thúy – Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học Việc đặt văn
học trong văn hóa là nhấn mạnh sự tác động tổng thể của văn hóa tới văn học, các nhân tố xã hội, kinh tế, chính trị… tác động tới toàn bộ văn hóa nói chung, thông qua văn hóa mới tác động tới văn học, văn học trở thành vai trò đại diện cho văn hóa Mối quan hệ tương tác giữa văn hóa và văn học được thể hiện là quá trình chuyển dịch cấu trúc của hệ thống văn hóa dẫn tới sự chuyển đổi cấu trúc của hệ thống văn học, hướng tiếp cận kiểu văn hóa sẽ có kiểu văn học tương ứng
Đỗ Lai Thúy – Từ cái nhìn văn hóa (1999), Hồ Xuân Hương: Hoài niệm
phồn thực (1999-2010), Văn hóa Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hóa (2005), Quan hệ văn hóa và văn học từ cái nhìn hệ thống (Tia sáng, 2006), Phê bình văn học con vật lưỡng thê ấy (2011) Trong công trình Quan hệ văn hóa và văn học từ cái nhìn hệ thống, tác giả Đỗ Lai Thúy dựa trên sự phân tích của mình với các
nghiên cứu trước đó cho thấy có sự khập khiễng trong khung nghiên cứu, vì vậy cần
phải tìm một khung nghiên cứu phù hợp, một cách tiếp cận văn học mới đó là phê
bình văn học từ văn hóa, đi từ cái đã biết đến cái chưa biết, cái biết nhiều đến cái
biết ít, cái toàn thể đến cái bộ phận bằng con đường loại suy Trong công trình này
Trang 14chúng tôi nhận thấy một vấn đề tất yếu, quan trọng trong nghiên cứu văn hóa và văn học chính là việc giải mã các giá trị văn hóa trong tác phẩm, bởi giữa chúng có mối quan hệ rất chặt chẽ và ở bất cứ tác phẩm văn học nào cũng hàm chứa trong đó những phẩm tính văn hóa cộng đồng cần được khám phá, nghiên cứu
Trong bài viết Mối quan hệ giữa nghiên cứu văn học và văn hóa học của tác
giả Nguyễn Văn Hiệu bước đầu so sánh văn hóa học với nghiên cứu văn học trên các phương diện như đối tượng nghiên cứu, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu để tìm ra những tương đồng, khác biệt cũng như mối quan hệ qua lại giữa hai ngành Mặc dù có nhiều điểm tương đồng về phương pháp luận nhưng vẫn khác nhau về cơ bản Hai ngành đều quan tâm đến tính đặc trưng của đối tượng như tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh, tính lịch sử, tính dân tộc… xét từ góc độ thời gian, không gian và chủ thể (Báo cáo Hội thảo khoa học, 2006)
Trần Hoài Anh – Văn hóa học: Sự giao lưu giữa văn hóa và văn học từ góc
nhìn ứng dụng (2020) luận giải mối quan hệ văn hóa và văn học trong việc vận
dụng lý thuyết liên ngành để khảo sát các giá trị văn hóa được phản ánh qua văn học
mở ra hướng viết các bài phê bình, nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa, tìm ra các giải pháp bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa các dân tộc và nghiên cứu sự giao thoa giữa văn hóa, văn học và điện ảnh
2.2 Những nghiên cứu về văn hóa Nam Bộ qua các tác phẩm văn học
Văn hóa Nam Bộ là đối tượng phản ánh của nhiều tác phẩm văn chương, việc tập trung khai thác các khía cạnh biểu hiện được nhiều nhà nghiên cứu chú trọng, quan tâm, đây là một đề tài thú vị nhấn mạnh những sắc thái văn hóa Nam Bộ qua sáng tác của các nhà văn Vấn đề nghiên cứu văn hóa Nam Bộ qua các tác phẩm văn học được giới thiệu qua một số công trình nghiên cứu sau:
Luận văn Văn hoá và con người Nam Bộ trong truyện của Sơn Nam (2004) của
Đinh Thị Thanh Thủy tập trung nghiên cứu văn hóa ứng xử của con người Nam Bộ với môi trường tự nhiên và ứng xử với môi trường xã hội, những yếu tố văn hóa trong sự ổn định, kế thừa, biến đổi Bên cạnh đó, tác giả đã nghiên cứu nghệ thuật của nhà văn trong việc thể hiện tính cách, phẩm chất của con người Nam Bộ
Trang 15Luận văn Tìm hiểu văn hóa công giáo Nam Bộ qua tác phẩm văn học từ thế kỉ
XIX - đầu thế kỉ XX (2009) của Phạm Thị Bích Hằng tiếp cận tư liệu văn học về Công
giáo và một số sách khảo sát về kinh thánh để nghiên cứu về văn hóa Công giáo Nam
Bộ Tác giả đưa ra những tiền đề lý luận và thực tiễn trong việc hình thành tôn giáo, văn hóa tôn giáo, quá trình tồn tại và phát triển đạo Công giáo ở Nam Bộ Đề tài tập trung nghiên cứu văn hóa ứng xử và văn hóa tổ chức cộng đồng Công giáo trong đời sống xã hội Nam Bộ nhằm góp phần làm phong phú cho nền văn hóa chung của dân tộc
Luận văn Phương ngữ Nam Bộ trong các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư (2009),
tác giả Nguyễn Bình Khang đem đến cái nhìn tổng quan về việc vận dụng ưu thế phương ngữ Nam Bộ của Nguyễn Ngọc Tư, cái mà mang đến cho nhà văn phong cách riêng – rặt ròng Nam Bộ, cụ thể ở phương diện ngữ âm, từ ngữ địa phương, ngữ khí từ,
hư từ biểu thị sắc thái, những hiện tượng làm nên sự khác biệt về mặt ngữ pháp so với phương ngữ Bắc Bộ bằng cách khảo sát, đối chiếu, phân tích, thống kê
Luận văn Văn hóa Nam Bộ qua tác phẩm của nhà văn Sơn Nam (2011) của tác
giả Võ Văn Thành đi vào tìm hiểu vùng đất Nam Bộ dựa trên phương diện văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Tác giả đã nghiên cứu về văn hóa mưu sinh, ẩm thực, trang phục, cư trú, giao thông; văn hóa tổ chức cộng đồng, tín ngưỡng, phong tục, lễ hội và nghệ thuật biểu hiện trong các tác phẩm để thấy sự phản ánh đa dạng và phong phú về vùng đất và con người Nam Bộ Qua sự phản ánh cho thấy ở Nam Bộ đã diễn ra quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa giữa các dân tộc trên vùng đất như Việt, Khmer, Chăm, Hoa, Ấn Độ, Pháp… Tuy nhiên, Nam Bộ luôn có sức mạnh bảo tồn dấu ấn bản địa và hấp thu văn hóa một cách chọn lọc
Luận văn Văn hóa Nam Bộ qua tác phẩm của Hồ Biểu Chánh (2011) của Lê Thị
Thanh Tâm đã phần nào nêu lên được tư tưởng, quan điểm sáng tác của nhà văn, đồng thời toát lên sức sống của một vùng đất mới, không gian văn hóa; phẩm chất con người cần cù, chất phác, trọng nghĩa khinh tài, bộc trực thẳng thắn và phong tục tập quán ăn, mặc, ở, đi lại đã tạo dựng bức tranh về đặc trưng văn hóa Nam Bộ những năm đầu thế
kỷ XX
Trang 16Luận văn Các lớp từ xét từ góc độ nguồn gốc và phạm vi sử dụng trong tác
phẩm văn học của một số nhà văn Nam Bộ cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX (đến 1930)
(2011) của Nguyễn Thị Kim Chinh sử dụng các phương pháp thống kê, miêu tả, phân tích, nhận xét góc độ nguồn gốc, phạm vi sử dụng các lớp từ trong văn bản văn học của tác giả Hồ Biểu Chánh và Nguyễn Chánh Sắt, từ đó so sánh tần số, số lượng từ giữa các tác giả để thấy được sự khác nhau về thời đại và vùng miền về mặt ngữ âm, ngữ nghĩa cũng như ngữ pháp ít nhiều cho thấy sự biến thiên tất yếu đối với quá trình phát triển của tiếng Việt
Luận văn Văn hóa người Việt miền Tây Nam Bộ qua truyện ký của Đoàn Giỏi
(2012) của Đào Nguyên Bình đã tiếp cận không gian văn hóa, chủ thể văn hóa và thời gian văn hóa để nghiên cứu văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của người Việt miền Tây Nam Bộ Việc tìm hiểu, nghiên cứu các tác phẩm văn học của nhà văn Đoàn Giỏi giúp đánh giá đúng về văn hóa người Việt cũng như hành trình tìm lại cội nguồn văn hóa Việt
Luận án Truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc từ góc nhìn văn hóa học
(2013) của tác giả Nguyễn Văn Đông đi vào phân tích đặc điểm, giá trị truyện ngắn của hai nhà văn về phương diện thể hiện văn hóa Nam Bộ trên phương diện con người và thiên nhiên miền Tây và miền Đông Nam Bộ, đồng thời phân tích, lý giải, đánh giá những đặc điểm, giá trị ấy trong bối cảnh miền Nam vào những năm đầu thế kỷ
Luận văn Tính cách người phụ nữ Tây Nam Bộ trong tác phẩm của Nguyễn
Ngọc Tư (2014), tác giả Trần Thị Mỹ Hương đóng góp thông tin đầy đủ, chân xác về
phụ nữ Tây Nam Bộ, có cái nhìn đa diện hơn về tính cách nhân vật nữ, nhận diện đặc trưng văn hóa qua tính cách của họ nhằm tạo điều kiện phát huy mọi tiềm năng của nguồn nhân lực đông đảo này cho sự phát triển của đất nước
Luận văn của Trần Ngọc Duyên, Văn hóa ẩm thực của người Việt Tây Nam Bộ
qua tác phẩm của Sơn Nam (2018) đã tìm hiểu những nét đặc trưng của văn hóa ẩm
thực cư dân Việt ở Tây Nam Bộ được phản ánh qua nội dung của các tác phẩm Tác phẩm đã tái hiện lại văn hóa ẩm thực của cha ông ta ngày xưa khi khai hoang mở đất để thấy được sự vận động và phát triển văn hóa ẩm thực Tây Nam Bộ theo thời gian
Trang 17Trên đây, người viết đã sơ lược tình hình nghiên cứu văn hóa Nam Bộ qua các tác phẩm văn học cho thấy vấn đề này cũng đã được quan tâm nhiều thể hiện qua những công trình nghiên cứu công phu, nghiên cứu trên nhiều phương diện văn hóa để thấy được giá trị giao thoa giữa văn hóa và văn học, nội dung các tác phẩm đã toát lên bức tranh văn hóa Nam Bộ nhưng cũng cần có thêm nhiều nghiên cứu hơn nữa trong thời gian tới để tìm hiểu Nam Bộ qua các giai đoạn lịch sử một cách trọn vẹn Những nghiên cứu về bốn tác phẩm đạt giải thưởng báo chí Nam Bộ được lựa chọn trong đề tài sẽ được tìm hiểu ở phần sau
2.3 Những nghiên cứu về tác giả và tác phẩm đạt giải báo chí Nam Bộ trước năm 1945
Văn hóa Nam Bộ là mảng đề tài được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến Tuy nhiên trực tiếp nghiên cứu cụ thể về phương diện văn hóa qua các tác phẩm được giải thưởng báo chí trước năm 1945 thì chưa có nhiều công trình Có thể sơ lược về tình hình nghiên cứu như sau:
Trong bài viết Các giải văn chương ở miền Nam nước Việt của nhà văn Nguiễn Hữu Ngư đăng trên Tạp chí Bách Khoa số 152 (1963) đã liệt kê nhiều giải
thưởng văn chương được tổ chức ở miền Nam trước năm 1945, có giới thiệu sơ
lược về tác giả và các tác phẩm đoạt giải Tác phẩm Đồng quê của Phi Vân đạt giải
nhất của Hội Khuyến học Cần Thơ
Năm 1978, trong bài viết Nông cổ mín đàm và cuộc thi tiểu thuyết đầu tiên
trong lịch sử văn học Quốc ngữ của tác giả Quốc Anh, tác giả đề cập đến cuộc thi
“Quốc âm thí cuộc”, thể lệ cuộc thi và người đạt giải là Nguyễn Khánh Nhương với
tác phẩm Lương Hoa truyện (Tạp chí Văn học, số 3, tr.141-147)
Tác giả Đoàn Lê Giang, năm 2011 có bài viết Văn học Nam Bộ 1932-1945
một cái nhìn toàn cảnh giới thiệu về các tác phẩm thuộc tiểu thuyết xã hội – đạo lý,
trong đó tác phẩm Hòn máu bỏ rơi của Phan Huấn Chương được giải thưởng báo
Đuốc nhà Nam năm (1932)
Bài viết Phi Vân cây bút Đồng quê Nam Bộ trước Cách mạng của Hoài Anh
đã giới thiệu một số tác phẩm của Phi Vân Trong bài viết này, Hoài Anh đã đề cập
Trang 18đến các phương diện nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm như: nghệ thuật miêu tả cảnh sắc thiên nhiên, lối sử dụng ngôn ngữ mộc mạc và cách xây dựng nhân vật đặc sắc đã bộc lộ được tính cách con người Nam Bộ Qua công trình này chúng tôi có cái nhìn tổng quan về văn hóa Nam Bộ trước năm 1945 mà bài viết đề cập đến, là nguồn tham khảo để hỗ trợ trong quá trình nghiên cứu
Tác giả Bàng Bá Lân trong bài viết Phi Vân giới thiệu tiểu sử của nhà văn và
tóm tắt sơ lược nội dung các tác phẩm, trong các tác phẩm đã xuất bản thì tác phẩm
Đồng quê đạt giải nhất cuộc thi văn chương của Hội Khuyến học Cần Thơ năm
1943 và được một nhà văn Trung Hoa dịch ra tiếng bạch thoại năm 1950 Bài viết giúp chúng tôi có được thông tin về tác giả, ông là con người Nam Bộ (Cà Mau), từng giữ chức vụ quan trọng và cộng tác với nhiều tờ báo, tạp chí ở miền Nam Điều này khẳng định rằng tác giả thực sự am hiểu, có vốn tri thức sâu rộng về văn hóa, con người nơi đây khi ông đưa thông tin vào tác phẩm của mình đồng thời bằng phương tiện báo chí truyền tải đến công chúng
Công trình Tìm trong di sản văn hóa phương Nam của tác giả Phan Mạnh Hùng có bài viết Phan Huấn Chương và tác phẩm nhận giải thưởng Đuốc nhà Nam
năm 1932 cho thấy tinh thần đạo lý đã trở thành một ý thức, tôn chỉ trong sáng tác
của Phan Huấn Chương, với bút pháp tả thực đã tạo nên bức tranh sinh động của
đời sống Nam Bộ đầu thế kỷ XX Trong bài viết Người nông dân Nam Bộ qua trang
viết của Phi Vân tác giả đã nêu bật lên giá trị nghệ thuật trong tác phẩm, từ cách sử
dụng ngôn từ, lối kể chuyện, mô tả nhân vật, sự sáng tạo trong cách cắt nghĩa hiện thực đời sống… tạo nên phong cách Phi Vân khác biệt so với các tác giả khác Ngoài tài năng văn chương, sự theo đuổi đến cùng đề tài nông thôn và nông dân chính là phẩm chất trí thức của nhà văn Công trình này giúp chúng tôi hướng đến tìm hiểu về ý thức văn hóa, những thức nhận của con người trong tư tưởng, quan điểm luân thường đạo lý, đồng thời đi vào nghiên cứu nghệ thuật ngôn từ biểu hiện trong tác phẩm để đưa ra nét nổi bật trong văn hóa Nam Bộ so với các vùng miền khác
Trang 19Trong công trình Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tác giả
Võ Văn Nhơn đã đề cập đến tiểu thuyết Sóng tình gồm 8 cuốn của Cẩm Tâm đạt giải nhì trên Báo Đuốc nhà Nam (Võ Văn Nhơn, 2008, tr 100) Tác giả đã khái quát
những tiền đề chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa dẫn đến sự hình thành lực lượng sáng tác và phát triển tiểu thuyết Nam Bộ mới mẻ về cả nội dung thể hiện và hình thức thể loại Qua công trình này chúng tôi bước đầu nhận diện những tác động bối cảnh lịch sử xã hội lên thị hiếu công chúng và quan điểm sáng tác của các nhà văn, những tiền đề cho sự ra đời của thể loại tiểu thuyết và phát triển văn học theo hướng hiện đại
Luận văn Tìm hiểu các sáng tác văn học được giải thưởng báo chí Nam Bộ
trước 1945 của tác giả Phạm Thị Tuyết Vân đề cập đến các giải thưởng văn chương
và các nhà văn miền Nam đạt giải, đồng thời phân tích nội dung làm nổi bật hiện thực xã hội và con người nông thôn Nam Bộ, những phong tục, tập quán, những giá trị nghệ thuật mà tác phẩm đem lại Tuy nhiên, cách triển khai và nội dung nghiên cứu chủ yếu khai thác về góc độ văn học, một số phong tục tập quán trong công trình đi vào phân tích các mặt tiêu cực trong đời sống, coi đó là những hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan… Từ công trình này chúng tôi rút ra được một số giá trị nghệ thuật của tác giả và có hướng khai thác về mặt văn hóa phong tục, tập quán, tín ngưỡng, ngôn ngữ được hình thành dựa trên sự giao lưu, tiếp xúc giữa các dân tộc cùng sinh sống trên vùng đất, hiện tượng văn hóa này mang tính chất giao thoa mạnh mẽ Quá trình tiếp xúc với văn hóa phương Tây tạo nên giá trị văn hóa mới,
có sự thay đổi tích cực cũng như tiêu cực trong cuộc sống con người, tất cả phản ánh bộ mặt văn hóa Nam Bộ trong những năm đầu thế kỷ XX
Trong bài viết Văn hóa và con người Nam Bộ trong văn xuôi nghệ thuật của
Phi Vân của tác giả Đặng Văn Khương đã cho ta thấy diện mạo vùng văn hóa Nam
Bộ vào những năm trước cách mạng Tác giả nghiên cứu văn hóa Nam Bộ trên các phương diện không gian, thời gian, phong tục tập quán và tính cách con người Qua đây giúp chúng tôi có thêm nhiều thông tin về vùng đất, không gian văn hóa chi
Trang 20phối mọi sinh hoạt đời sống ăn, mặc, ở, đi lại và hình thành tính cách của con người tạo nên những giá trị đặc thù ở Nam Bộ
Luận văn Tìm hiểu tiểu thuyết và truyện ngắn của nữ sĩ Cẩm Tâm của tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Bích phác thảo chân dung nhà văn nữ Nam Bộ Cẩm Tâm Những đóng góp của nhà văn đối với quá trình hình thành và phát triển văn học chữ quốc ngữ, đồng thời chỉ ra một số đặc điểm, nội dung, hình thức của tiểu thuyết Qua đây chúng tôi thấy mảng đề tài về giáo dục, tình yêu, hôn nhân gia đình mà tác giả khai thác đã phản ánh hiện thực xã hội, tầng lớp trí thức mới, sự kỳ vọng khát khao trong tình yêu đôi lứa, sự thay đổi xã hội đô thị xuất hiện cuộc sống thực dụng, tình yêu đôi khi trở thành món hàng trao đổi dẫn tới những bi kịch xảy ra
Có thể thấy, việc quan tâm đến các nhà văn và các tác phẩm đạt giải thưởng báo chí Nam Bộ trước năm 1945 đã được chú ý Tuy nhiên, chủ yếu từ khía cạnh đơn lẻ hoặc từ góc độ của văn học Cần có một góc nhìn từ văn hóa để lý giải thêm sức hấp dẫn và giá trị của những hiện tượng văn học này mang lại Vì sao, ngày hôm nay đọc lại các tác phẩm này chúng ta vẫn cảm thấy bị thu hút?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn chính là văn hóa Nam Bộ qua các tác phẩm văn học được giải thưởng báo chí trước năm 1945 Cụ
thể là những đặc trưng văn hóa Nam Bộ được biểu hiện qua các tác phẩm Lương
Hoa truyện, Hòn máu bỏ rơi, Sóng tình, Đồng quê Qua đó phân tích, đánh giá
những đặc điểm, giá trị văn hóa của giai đoạn đầu thế kỷ XX
Phạm vi nghiên cứu: Do việc tìm kiếm tư liệu chưa thu thập được đầy đủ và không phải tất cả các tác phẩm được giải đều nằm trong lĩnh vực văn học, nên trong
đề tài này người viết chỉ đề cập tới các sáng tác thuộc thể loại tiểu thuyết của các nhà văn Nam Bộ được giải thưởng báo chí trước năm 1945, bao gồm 4 tác phẩm:
Tiểu thuyết Lương Hoa truyện của Nguyễn Khánh Nhương; Tiểu thuyết Hòn máu
bỏ rơi của Phan Huấn Chương; Tiểu thuyết Sóng tình của Cẩm Tâm; Phóng sự tiểu thuyết Đồng quê của Phi Vân, bước đầu phác họa về văn hóa của một giai đoạn lịch
Trang 21sử đầu thế kỷ XX, sự tác động của bối cảnh lịch sử xã hội lên những hiện tượng văn
hóa được thể hiện trong nội dung các tác phẩm
4 Quan điểm tiếp cận và cơ sở lý thuyết
Quan điểm tiếp cận: Đề tài sử dụng hướng tiếp cận văn hóa học và xã hội học văn hóa nhằm tạo cơ sở phân tích, khẳng định giá trị tác phẩm của các nhà văn theo phương diện mới, góc độ mới mang tính liên ngành Thông qua đó, chúng tôi nghiên cứu về các hiện tượng, vấn đề, quá trình văn hóa để tìm ra bản chất xã hội, nghiên cứu cấu trúc và hoạt động của văn hóa trong mối quan hệ với xã hội ở một bối cảnh lịch sử cụ thể
Cơ sở lý thuyết:
Lý thuyết đa hệ thống trong nghiên cứu văn hóa, văn chương: Lý thuyết đa
hệ thống gắn liền với tên tuổi Itamar Even-Zohar, nhà nghiên cứu văn hóa người Israel, ông là giáo sư tại Đại học Tel Aviv Ông đảm trách các vị trí người dẫn đạo các tổ chức và nhiều hoạt động nghiên cứu văn hóa, ký hiệu học, và đặc biệt xây
dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu văn hóa, văn chương Theo ông “Lý thuyết đa
hệ thống về căn bản là một tiếp nối của thuyết chức năng động” (Itamar
Even-Zohar, 2014, tr 106) Ông xem văn hóa như một hành động xã hội, và hoạt động văn hóa xã hội đó được quan sát qua mạng lưới các quan hệ mang tính hệ thống, nhìn nhận đối tượng trong một mạng lưới chằng chịt các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Mỗi một hoạt động của hiện tượng, ở mỗi thời điểm nó sẽ có chức năng khác nhau và không tách khỏi các yếu tố thay đổi trong văn hóa Hoạt động trong văn hóa được tạo nên bởi hệ thống các nhân tố với những tương thuộc giữa chúng Một người tiêu dùng (công chúng) có thể dùng một sản phẩm (tác phẩm) được sản xuất bởi một nhà sản xuất (tác giả hay nhân tố tác động sự ra đời của tác phẩm), theo một khuôn mẫu, trật tự, nguyên tắc (hạng mục), một thiết chế nào đó hoặc chi phối bởi thị trường Các nhân tố không hoạt động biệt lập mà có mối quan hệ xuyên suốt trong quá trình Bên cạnh việc tìm hiểu động năng của hệ thống, lý thuyết đa hệ thống cũng quan tâm đến sự giao thoa văn hóa, cái tạo nên sự chuyển dịch có thể là
tự nguyện hoặc cưỡng bức Khi “mối liên hệ giữa các nền văn hóa mà nhờ đó một
Trang 22nền văn hóa A nào đấy (nền văn hóa nguồn) có khả năng trở thành một nguồn truyền dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp cho một nền văn hóa B khác (nền văn hóa đích)”
thì có thể nói giao thoa đã diễn ra, mà sự giao thoa đúng nghĩa phải “được chuyển
thành các mô thức tạo sinh – tức là các thành tố động trong hạng mục bản địa”
(Itamar Even-Zohar, 2014, tr 160-161), cái mới phải trở thành một phần của hệ thống và thiết lập được mối liên hệ với các thành tố bản địa Vận dụng lý thuyết này
sẽ thấy được mối quan hệ các hoạt động văn hóa trong cùng một hệ thống giữa tác giả - tác phẩm – công chúng trong mối quan hệ với ngôn ngữ, báo chí, giao thoa văn hóa trong một bối cảnh lịch sử xã hội cụ thể
Hành động xã hội và trường văn hóa:
Theo Max Weber, không phải hành động nào cũng là hành động xã hội, hành
động xã hội (Social Action) là hành động được chủ thể gắn cho nó một ý nghĩa chủ
quan nào đó, là hành động có tính đến hành vi của người khác, và vì vậy được định hướng tới người khác, trong đường lối, quá trình của nó (Lê Ngọc Hùng, 2008, tr
199) Hành động của con người có mối quan hệ mang tính quy luật, gắn liền với chủ thể, con người đã sống, tuân thủ như thế nào trước những tác nhân hay định chế xã hội Thuyết của ông phân thành bốn loại hành động xã hội: hành động duy lý – công
cụ, hành động duy lý giá trị, hành động cảm tính (xúc cảm), hành động theo truyền thống Một trong bốn loại thì Max Weber lập luận rằng đặc trưng quan trọng nhất là hành động xã hội của con người ngày càng trở nên duy lý, hợp lý với tính toán chi
li, tỉ mỉ, chính xác về mối quan hệ giữa công cụ/phương tiện và mục đích/kết quả Với Pierre Bourdieu (1930-2002) là viện sĩ hàn lâm Pháp, ông là người khai
thác khái niệm trường Trường là “không gian xã hội mà trong đó các tác nhân
tham gia sản sinh ra các tác phẩm văn hóa được xác định vị trí” và trường văn hóa
“là một trường lực tác động đến tất cả nhưng ai dấn thân vào đó, và theo cách thức
khác biệt tùy thuộc vào vị trí mà họ nắm giữ (…), đồng thời cũng là một trường tranh đấu nhằm duy trì hoặc chuyển hóa chính trường lực ấy” (dẫn lại, Phạm Văn
Quang, 2019, tr.70) Như vậy, thao tác của tiến trình sản xuất và tiếp nhận sản phẩm văn hóa được thực hiện thông qua cương vị xã hội người sáng tạo và người tiếp
Trang 23nhận, qua cấu trúc những quan hệ và qua những vị trí của họ trong trường Cấu trúc trường là một tình trạng của mối quan hệ về lực giữa các tác nhân hay giữa những định chế tham gia vào cuộc đấu tranh trong trường Những cuộc tranh đấu lại trở thành nguyên lý động lực của trường để những người tham gia vào trường tìm kiếm một vị trí và duy trì sự độc tôn của trường Việc phân tích các tác phẩm văn hóa có đối tượng là sự tương ứng giữa hai cấu trúc tương đồng, tức giữa cấu trúc tác phẩm (thể loại, hình thức, chủ đề) và cấu trúc của lãnh trường văn học (nghệ thuật, khoa học…) tức là lãnh trường của các lực lượng nhất thiết phải là một lãnh trường của các cuộc tranh đấu Động lực của sự thay đổi của tác phẩm văn hóa (ngôn ngữ, nghệ thuật, văn học…) nằm trong các cuộc tranh đấu trong các lãnh trường nhằm bảo lưu hay biến đổi (Pierre Bourdieu, 2021, tr.128-129) Khái niệm trường trong nghiên cứu văn hóa, văn học, P Bourdieu hướng đến việc thành lập cái mà ông gọi là
“cách thức tư duy liên hệ” (tr.78) để làm nổi bật đặc trưng của mọi yếu tố thông qua những quan hệ gắn kết nó với những yếu tố khác trong một hệ thống Để hiểu được một tác phẩm thì cần quan sát và xem xét những mối quan hệ qua lại giữa tác giả, nhà xuất bản, nhà phê bình và công chúng độc giả
Tiếp biến văn hóa: Theo tác giả Phan Ngọc không có nền văn hóa nào tồn tại biệt lập, tự thân mà văn hóa nào cũng cần đến sự giao tiếp để phát triển Giao tiếp văn hóa trước hết là những kiểu lựa chọn khác mình và có sự pha trộn về kiểu lựa chọn:
“Văn hóa phát triển theo quy luật riêng của nó Phát triển văn hóa trước hết dựa vào giao lưu… Chính giao lưu khiến mỗi nền văn hóa phải điều chỉnh mình để mở rộng ảnh hưởng cả về nội dung lẫn hình thức, phải tự
đổi mới để có sức lôi cuốn mạnh mẽ” (Phan Ngọc, 2001, tr.143)
Quá trình tiếp xúc diễn ra sẽ có nhiều thay đổi, có tiếp xúc xảy ra một cách
tự nguyện thông qua việc giao lưu buôn bán của các thương gia Có những tiếp xúc văn hóa cưỡng bức bởi chiến tranh xâm lược, tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi, bỏ điều không còn thích hợp để theo cái mới, nhưng thay đổi để làm chủ đất nước mình Hiện tượng tiếp biến văn hóa không diễn ra một cách ồ ạt mà là cả một quá trình dài
Trang 24tiếp xúc, lựa chọn và tiếp nhận Tác giả Phan Ngọc gọi đây là sự “Vượt gộp”, là tiếp
thu cái mới trên cơ sở cái cũ đã được đổi mới cho thích hợp với hoàn cảnh mới (Phan Ngọc, 2001, tr.31) Như vậy, áp dụng lý thuyết tiếp biến của Phan Ngọc sẽ cho thấy rõ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi mà nước ta tiếp xúc với Pháp đã có sự tiếp nhận những giá trị văn hóa mới và điều chỉnh cho phù hợp để vừa sáng tạo mà vẫn giữ bản sắc văn hóa truyền thống, hòa vào sự phát triển chung của thế giới
Nghệ thuật và tiếp nhận nghệ thuật: Từ góc độ tác giả với quan niệm nhà văn khi sáng tác thường họ gửi gắm những tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của mình trong tác phẩm, do đó với người tiếp nhận đọc tác phẩm sẽ phát hiện được cả những ngụ ý của nhà văn
Xét từ góc độ văn bản Theo tác giả Trần Đình Sử thì trước hết cần tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người, những nguyên tắc, phương tiện, biện pháp hình thức con người thể hiện trong văn học như thế nào để tạo nên một giá trị nghệ thuật
và thẩm mỹ Thứ hai là thời gian nghệ thuật, một đối tượng và là một nhân tố cấu
thành văn bản văn học “Thời gian biểu diễn bằng phương tiện ngôn từ”, thời gian
có thể phát triển theo chiều tuyến tính hoặc có thể đảo ngược từ hiện tại trở về quá khứ để tái hiện tư tưởng người viết hay bức tranh của cuộc sống Thứ ba là không gian nghệ thuật chính là đặc điểm của thế giới nghệ thuật được tái hiện và thể hiện quan niệm của nhà văn về không gian Bên cạnh còn cần chú ý đến thể loại, kết cấu, ngôn từ nghệ thuật… (Trần Đình Sử, 2007, tr.82)
Ngoài ra từ góc độ văn hóa thì việc nghiên cứu cần đi tìm các nhân tố chi phối sự hình thành các hiện tượng, các giá trị, các quan niệm văn học trong đời sống văn hóa xã hội Từ đó thông qua đề tài, nhân vật, thủ pháp nghệ thuật… người đọc
sẽ tìm kiếm được những biểu hiện văn hóa, nội hàm văn hóa trong văn bản văn học
và tự mình nhìn nhận, lý giải, suy ngẫm về các vấn đề trong cuộc sống
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
a Phương pháp
Trang 25Phương pháp thu thập và xử lý tư liệu: Bao gồm tài liệu bản giấy và bản điện
tử có liên quan tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện ĐH KHXH&NV – ĐHQG – HCM, Thư viện Khoa học tổng hợp Tp HCM, công cụ Google Scholar và các website học thuật khác… Chúng tôi đã tìm kiếm, tổng hợp, phân tích thông tin những tài liệu và tư liệu liên ngành từ nhiều lĩnh vực như văn hóa học, văn học, xã hội học, …để đưa ra quan điểm đồng thời dùng tư liệu để kiểm chứng quan điểm
Phương pháp lịch sử: Trong quá trình nghiên cứu, phương pháp này sẽ cho thấy rõ hoàn cảnh lịch sử xã hội tác động lên sáng tác của các tác giả như thế nào và nội dung của tác phẩm đã phản ánh văn hóa Nam Bộ ra sao Những tác phẩm được
ra đời trong giai đoạn đầu thế kỷ XX làm nổi bật giá trị văn hóa giai đoạn giao thời,
sự tồn tại văn hóa truyền thống phương Đông và văn hóa hiện đại kiểu phương Tây
Phương pháp so sánh: Đề tài sử dụng phương pháp so sánh để làm nổi bật lên những đặc trưng văn hóa vùng qua lăng kính của các nhà văn cũng như phong cách tác giả thể hiện trong nội dung, hình thức nghệ thuật Đề tài so sánh giữa 4 nhà văn Nam Bộ với nhau và với một số nhà văn tiêu biểu cho văn hóa Nam Bộ, Bắc Bộ cùng thời kỳ Bên cạnh đó cũng thấy được sự vận động của văn học dân tộc trong
nỗ lực hòa mình vào dòng chảy của văn học thế giới, xuất hiện sự tương tác giá trị văn hóa của các giao thoa văn hóa, văn học
Phương pháp thống kê: Luận văn tiến hành thực hiện thống kê thủ công (đếm từ) để có được kết quả là số lượng từ ngữ được biểu hiện trong các tác phẩm như: từ ngữ liên quan đến sông nước, môi trường, phương ngữ, từ vay mượn hay tên đất tên địa danh Kết quả của việc thống kê chính là cơ sở để đưa ra những phân tích, nhận định về đặc điểm nổi bật trong văn hóa Nam Bộ so với các vùng miền khác trong cả nước
Hướng tiếp cận liên ngành: Đề tài sử dụng hướng tiếp cận liên ngành nhằm phân tích các yếu tố văn hóa để có được kết quả nghiên cứu tổng thể và khách quan Dựa trên việc trình bày những vấn đề theo hướng liên ngành thì có thể tiếp cận một cách thấu đáo, hiểu đúng và đem lại một bức tranh toàn diện về các hiện tượng văn hóa
Trang 26b Nguồn tư liệu
Để thực hiện đề tài luận văn, tôi đã tiến hành tìm kiếm, tập hợp những tư liệu
từ nhiều nguồn khác nhau
Về tài liệu tham khảo: Tôi đã tìm hiểu về lý thuyết chuyên ngành văn hóa học Những nguồn tài liệu về tác giả, tác phẩm, ngoài ra còn tham khảo các tài liệu liên quan đến đề tài về văn hóa Nam Bộ qua các tác phẩm mà luận văn đề cập, những nguồn này là những thông tin của các học giả nghiên cứu lớn được công bố
và đánh giá cao, có trích dẫn rõ ràng Từ sự kế thừa của những người đi trước tôi rút
ra những dữ liệu cần thiết cho nghiên cứu của mình
Về tư liệu khảo cứu: Đề tài tập trung trên 4 tác phẩm văn học là tiểu thuyết được giải thưởng Báo chí Nam Bộ trước năm 1945, những tác phẩm này đã được đăng báo và in thành sách tái bản nhiều lần
6 Đóng góp của luận văn
Đóng góp về khoa học: Luận văn góp phần khẳng định tầm quan trọng và sự
cần thiết trong việc nghiên cứu văn hóa từ tư liệu văn học, để thấy được sự vận động phát triển, giao thoa các giá trị văn hóa, văn học
Đóng góp về thực tiễn: Luận văn có thể làm nguồn tài liệu tham khảo cho
những người nghiên cứu về đặc trưng văn hóa Nam Bộ qua tác phẩm văn học
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn dự kiến gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Trong chương một chúng tôi đã đưa ra cơ sở lý thuyết để nghiên cứu Tất cả những vấn đề về mặt lý luận và thực tiễn trong chương này sẽ là cơ sở để đi sâu vào nghiên cứu những đặc trưng văn hóa Nam Bộ ở khía cạnh nội dung và hình thức
Chương 2: Văn hóa Nam Bộ nhìn từ nội dung các tác phẩm văn học được giải thưởng báo chí trước năm 1945
Nội dung chương 2 chúng tôi đi vào phân tích và trình bày đặc trưng văn hóa Nam Bộ được biểu hiện trong nội dung bốn tác phẩm Vấn đề về không gian văn
Trang 27hóa, phong tục, tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa nghệ thuật ở Nam Bộ trong mối quan hệ với văn hóa của các dân tộc cùng sinh sống trên vùng đất
Chương 3: Văn hóa Nam Bộ nhìn từ hình thức các tác phẩm văn học được giải thưởng báo chí trước năm 1945
Chương này chúng tôi tập trung nghiên cứu đặc trưng văn hóa Nam Bộ nhìn
từ hình thức, cho thấy việc tiếp cận những biểu hiện về mặt ngôn ngữ trong cách miêu tả, kể chuyện và đặc thù sử dụng ngôn ngữ làm nổi bật lên văn hóa Nam Bộ
Trang 28NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa
Khái niệm văn học / Literature được xuất hiện vào khoảng những năm cuối thế kỷ XVIII và bắt đầu phát triển, hoàn thiện ở thế kỷ XIX
Văn học trên bình diện nghệ thuật và chất liệu, được hiểu là một bộ môn nghệ thuật lấy con người làm đối tượng nhận thức trung tâm, lấy hình tượng làm phương thức biểu đạt nội dung, lấy ngôn từ làm chất liệu xây dựng hình tượng Văn học phản ánh đời sống con người trên phương diện ý nghĩa và giá trị, đồng thời giúp cải tạo và hoàn thiện đời sống, đáp ứng những mong muốn cũng như mối quan tâm của con người
Trên bình diện lý luận nghệ thuật: “Văn học trước hết không phản ánh hiện thực mà là sự nghiền ngẫm về hiện thực” (Lê Ngọc Trà, 1991, tr.43) Văn học không phải là tài liệu ghi chép, mô tả mà là hành động tự nhận thức của nhà văn, qua đó họ thể hiện cách nhìn về cuộc sống, là sự khao khát hay là lời tâm sự về sự sống còn của nhân loại, họ thể hiện cái lý tưởng, mong ước trong xã hội… “Văn học là lương tâm của xã hội” (Lê Ngọc Trà, 1991, tr.45), nhà văn cũng phải biết, dám nói sự thật và vì vậy tính chân thực trong văn học không phải chỉ là tính chân thực trong sự phản ánh mà còn là tính chân thực lịch sử của thái độ, cách đánh giá
và sự trung thực của nhà văn
Jean-Paul Sartre cho rằng “Văn học là văn học” (Văn học là gì? 1999, Nguyên Ngọc dịch), theo ông một tác phẩm được chủ thể sáng tạo tạo ra chỉ tồn tại khi nó được đọc bởi người tiếp nhận, chính sự đọc của người đọc mới làm cho một tác phẩm được sống, được tồn tại
Trang 29Văn hóa có rất nhiều định nghĩa, trải qua quá trình nghiên cứu và phát triển lâu dài, định nghĩa về văn hóa đã được các nhà nghiên cứu quan tâm và hoàn chỉnh không ngừng Định nghĩa xuất hiện đầu tiên là năm 1871 của E B Tylor (1832-
1917), một nhà nhân loại học văn hóa người Anh, trong công trình Văn hóa nguyên
thủy Ông đã định nghĩa về văn hóa như sau:
“Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là thành viên của
xã hội” (Huyền Giang dịch, tr.13)
Với định nghĩa này ông đã nhìn văn hóa như một tổng thể các thành tựu mà con người đạt được với tư cách là thành viên của xã hội Tuy nhiên, ông đồng nhất văn hóa với văn minh, định nghĩa mang tính chất liệt kê, miêu tả, đề cập ở khía cạnh tinh thần chứ chưa nói đến mặt vật chất Định nghĩa này trở thành nền tảng cho các nghiên cứu văn hóa về sau
Năm 1988 tại buổi lễ phát động “Thập niên thế giới phát triển văn hóa” (1987-1997) Tổng Giám đốc UNESCO Frederico Mayor đã diễn đạt khái niệm văn hóa như sau:
“Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống động mọi mặt cuộc sống của con người đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó cấu thành nên một hệ thống các giá trị truyền thống, thẩm mỹ và lối sống, mà dựa vào đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” (Nguyễn Trần Bạt, 2005, tr 13)
Năm 2001 trong tuyên bố toàn cầu về đa dạng văn hóa, UNESCO đã đưa ra định nghĩa:
“Văn hóa nên được coi là tập hợp các đặc điểm tinh thần, vật chất, trí tuệ và cảm xúc riêng biệt của xã hội hoặc một nhóm xã hội, và ngoài nghệ thuật và văn học nó còn bao gồm các lối sống, những cách thức chung sống, các hệ
thống giá trị, các truyền thống và các niềm tin” (Dẫn lại Lý Tùng Hiếu, 2019,
tr.84)
Trang 30Với định nghĩa này thì UNESCO đã đề cao bản sắc dân tộc trong văn hóa
Tác giả Trần Ngọc Thêm, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam đã đưa ra định nghĩa:
“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” (tr.17-18)
Từ định nghĩa này tác giả đã nhấn mạnh đến tính hệ thống của văn hóa, xem xét các đặc trưng và chức năng của văn hóa như: tính hệ thống (chức năng tổ chức xã hội), tính giá trị (chức năng điều chỉnh xã hội), tính nhân sinh (chức năng giao tiếp) và tính lịch sử (chức năng giáo dục) Hệ thống bao gồm mối quan hệ đa dạng của các thành tố tạo nên cấu trúc của hệ thống văn hóa
Theo tác giả Chu Xuân Diên: “nói tới văn hóa là nói tới một cái gì tương đối
ổn định, gắn bó với đời sống tinh thần của một cộng đồng vốn có gốc rễ sâu xa trong lịch sử, tức với cái mà ta vẫn gọi là bản sắc dân tộc” (Dẫn lại Lý Tùng Hiếu, 2019; Nguồn Chu Xuân Diên, 2008, tr.13)
Như vậy, văn học xuất phát từ cái tâm của con người để nói lên những suy nghĩ, mong muốn và những cảm nhận về cuộc sống, nó hướng con người vươn tới chân – thiện – mỹ, cái đẹp trong tâm hồn, những tình cảm cao quý nhất Ngôn từ văn học thể hiện tâm hồn, tính cách con người, làm nổi bật lên đặc trưng văn hóa vùng miền Văn học không chỉ là thông điệp mà chủ thể sáng tạo viết nên bản sắc văn hóa của dân tộc mình để khơi dậy ký ức văn hóa nơi chủ thể tiếp nhận mà qua
đó còn gửi gắm những nỗi niềm tâm sự hay quan điểm của mình về con người và thời đại
Văn hóa ra đời, tồn tại và phát triển cùng với con người nên nó là sản phẩm đặc thù của con người có được trong quá trình hoạt động thực tiễn với tư cách là một thành viên của xã hội Những giá trị mà con người sáng tạo ra luôn hướng theo quy luật cái đẹp tức mục tiêu hướng tới hoàn thiện mọi mặt của con người, con người vừa là sản phẩm của văn hóa, mặt khác lại có quyền hưởng thụ giá trị văn hóa
do mình tạo ra Văn hóa gắn liền với dân tộc, tộc người để làm nên sự khác biệt
Trang 31giữa dân tộc này với dân tộc khác, làm nên cái nét riêng, cái đặc thù Giá trị văn hóa được phản ánh trong văn học, sự tồn tại của văn hóa trong các hiện tượng đời sống giúp cho người đọc cảm nhận sâu sắc và nâng cao nhận thức về văn hóa dân tộc
Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa, chịu sự chi phối của văn hóa vì văn hóa cung cấp vốn tri thức, vốn sống, nguồn cảm hứng sáng tác cho nhà văn Qua mỗi thời đại, văn hóa có sự biến đổi thì văn học cũng chịu tác động của sự biến đổi đó Những nhân tố xã hội kinh tế trước tiên tác động lên toàn bộ văn hóa nói chung và thông qua văn hóa mới tác động tới văn học Do đó, văn học không thể tách rời văn hóa, lại là một bộ phận có nhiều lợi thế, có ý nghĩa khoa học
và ý nghĩa thực tiễn to lớn Xét về mối quan hệ giữa văn học và văn hóa, M Bakhtin cho rằng: “Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa, không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ văn hóa một thời đại trong đó
nó tồn tại” (Mikhail Epstein, 2007, tr 18-25)
Điều ông đặc biệt quan trọng là khi nghiên cứu văn học phải quan tâm tới thời đại văn hóa, từ cái nguồn gốc sâu xa cho đến cái thời gian mà tác phẩm ra đời
và tác phẩm vươn tới cuộc sống ở tương lai:
“Tác phẩm vẫn không thể sống trong những thế kỷ tiếp, nếu nó không biết bằng cách nào đó thu hút vào mình những gì của các thế kỷ đã qua Nếu nó chỉ nảy sinh bằng tất cả những yếu tố của ngày hôm nay (tức của xã hội đương thời với nó) mà không tiếp tục quá khứ và không gắn bó với quá khứ một cách đáng kể, nó không tiếp tục sống trong tương lai…” (M Bakhtin,
1980, Vương Trí Nhàn dịch)
Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa và nghiên cứu văn hóa từ văn học là một xu thế xuất phát từ thực tiễn khi mà vấn đề văn hóa là vấn đề chung của các dân tộc trên thế giới Khi mà sự giao lưu văn hóa quốc tế trở thành nhu cầu của mỗi quốc gia thì việc xây dựng văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cũng trở nên cấp thiết Và tư liệu văn học xem văn hóa là đối tượng phản ánh, một mặt nhận thấy được bản sắc văn hóa của dân tộc mình và một mặt thúc đẩy nhận thức trong đối tượng tiếp nhận về cái phù hợp cũng như cái không phù hợp với truyền thống văn
Trang 32hóa Ngoài ra, dưới góc độ tiếp cận liên ngành thì văn học là một ngành gần với văn hóa học, có sự tác động qua lại lẫn nhau Sự tác động tích cực trở lại của văn học đối với văn hóa ở chỗ với tư cách là một bộ phận năng động, sáng tạo văn học phản ánh đời sống trên tiêu chí có sự chọn lọc tức ý thức văn học được sáng tạo trên một
tư tưởng chủ đạo vì thế lúc này văn học có vai trò điều chỉnh và định hướng sự phát triển của văn hóa Những hiện tượng đi ngược lại với văn hóa truyền thống dân tộc lập tức sẽ bị phản kháng và bắt buộc phải nhận thức lại để phù hợp với xã hội và sự tiến bộ của con người Sự tiếp cận liên ngành ngoài nghiên cứu văn học từ hiểu biết văn hóa và ngược lại thì việc vận dụng lý thuyết, phương pháp của văn hóa học, vận dụng các quan điểm, phương pháp nghiên cứu của các chuyên ngành khác sẽ giúp gắn kết sự đa dạng của các hiện tượng văn hóa, nhận diện được bản chất văn hóa
Mối quan hệ văn học và văn hóa là mối quan hệ tương tác nhiều chiều Một trong những người đặt ra vấn đề nghiên cứu văn học trong văn hóa từ rất sớm là Hippolyte Taine (1828 - 1893), ông đã đặt văn học trong quan hệ ba chiều của đời sống văn hóa con người đó là vai trò của chủ thể sáng tạo văn học với đặc điểm hình thành bởi yếu tố có tính quy định là tố chất bên trong của tộc người, ông gọi đó
là “Cấu trúc tinh thần của một chủng tộc” Ông chỉ ra sự hình thành đặc tính tinh thần của tộc người là môi trường sống của họ Yếu tố thứ ba chính là thời điểm, là bản chất của quá trình kế thừa và sáng tạo văn học (Đỗ Thị Minh Thúy, tr.101-102)
Quan điểm lý thuyết ảnh hưởng tới hướng tiếp cận bản sắc văn hóa và con người trong văn học phải kể đến trường phái Văn hóa và nhân cách mà đại diện tiêu biểu là Ruth Fulton Benedict, Margaret Mead… R F Benedict (1887 – 1948) từ việc nghiên cứu điền dã các tộc người, R Benedict phân chia ra những kiểu thức văn hóa (Culture patterns) Theo đó văn hóa Pueblo của các cư dân Acoma, Hopi, Zuni ở New Mexico mang đặc tính Apollo là tính cách của thần mặt trời thể hiện cho sự sáng sủa, ý chí; coi trọng nghi thức, trật tự; coi trọng cộng đồng truyền thống, cá nhân không có sự cạnh tranh, không quan trọng thể hiện bản thân mà sống hòa mình vào cộng đồng theo bổn phận được quy định; coi trọng sự hòa nhã, nhún nhường, sự điềm tĩnh ôn hòa, tiết độ là phẩm chất thứ nhất Văn hóa của những cư
Trang 33dân bản địa ở Bắc Mỹ mang đặc tính Dionysus là tính cách của thần rượu, thể hiện cái bản năng, nghi thức bất quy tắc, quyền lực cá nhân, thái quá, cực đoan Nghiên cứu này đã chỉ ra mối quan hệ giữa con người và văn hóa, Bà khẳng định “Văn hóa
hiển nhiên là nhân cách” (Dẫn lại Nguyễn Văn Hiệu, 2008) Theo Benedict: “Một
nền văn hóa là một kiểu thức ít nhiều bền vững và nhất quán, hòa hợp với những tư tưởng và hành động” (Dẫn lại Nguyễn Văn Đông, tr 15)
Tiếp nối R Benedict, Magaret Mead (1901 – 1978) nghiên cứu quá trình hình thành nhân cách của con người từ thời thơ ấu cho đến tuổi thành niên Trong
công trình nghiên cứu Tuổi dậy thì ở Samoa (Coming of age in Samoa), M Mead
đã cùng chung sống, tìm hiểu, quan sát và phỏng vấn nhóm nhỏ người Samoa và cho thấy trẻ ở Samoa từ tuổi thơ đến tuổi thành niên có một sự chuyển tiếp nhẹ nhàng, không có nhiều cảm xúc lo âu, dằn vặt tâm lý như ở Mỹ Bà đi đến quyết định văn hóa có vai trò rất quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người
Vận dụng những hướng nghiên cứu văn hóa và xã hội học văn hóa trong đề tài tập trung: Thứ nhất là xác định các hiện tượng văn hóa trong tính đặc thù của bối cảnh lịch sử xã hội dân tộc đồng thời phân tích các biểu hiện văn hóa trong bốn tác phẩm lựa chọn nghiên cứu Thứ hai là nghiên cứu văn hóa Nam Bộ thông qua việc xác định các đặc trưng văn học để làm nổi bật lên giá trị văn hóa mà chỉ có ở Nam
Bộ
1.1.2 Mối quan hệ giữa nghệ thuật và văn hóa
Văn hóa và nghệ thuật là thuật ngữ chỉ hai lĩnh vực khác nhau, có quan hệ nhau theo cách nghệ thuật là bộ phận của văn hóa Nghệ thuật phản ánh xã hội và văn hóa là cơ sở cho nghệ thuật tồn tại Từ những nhận thức dựa theo kết quả nghiên cứu của nhiều ngành khoa học thì theo tác giả Huỳnh Quốc Thắng khẳng định: “văn hóa và nghệ thuật là sản phẩm đặc hữu do loài người sáng tạo ra, là một
thực thể xã hội mang tính Người tập trung cao nhất” và thống nhất rằng: “nguồn
gốc, cơ sở sự ra đời và phát triển của văn hóa và nghệ thuật trước sau vẫn là từ ý thức” (Huỳnh Quốc Thắng, tr.15-18)
Trang 34Một mặt ý thức phản ánh thông qua hệ thống ngôn ngữ, mỗi loại hình nghệ thuật có một đặc trưng ngôn ngữ, phương thức sáng tạo và đặc điểm cảm thụ riêng Như ngôn từ văn chương là ngôn từ thẩm mỹ, nghệ thuật, chứa đựng những yếu tố tiềm tàng âm thanh, nghĩa, yếu tố thanh điệu, mối quan hệ ngữ nghĩa… một thứ chất liệu duy nhất, rất đặc thù, bởi đó là một “hiện tượng xã hội, có tính xã hội trong mọi lĩnh vực đời sống của nó và trong mọi yếu tố của nó – từ hình tượng âm thanh
đến những lớp ý nghĩa trừu tượng nhất” (dẫn lại Nguyễn Kim Đính, M Bakhơtin…
số 4, 1991, tr.19) Tất cả là những câu chữ, những đoạn sống động tạo dựng một bức tranh chi tiết hay những nét chấm phá về chân dung, tính cách, tâm lý của con người, phong cảnh thiên nhiên, về những sự kiện, hiện tượng có ý nghĩa thẩm mỹ, tình hình lịch sử xã hội, về không gian và thời gian, những trăn trở suy tư, những nhận định mà tác giả gửi gắm vào tác phẩm… tất cả đều được hình thức hóa bằng thứ chất liệu đặc biệt là ngôn từ Đó là chất liệu cao quý bởi nó là sản phẩm xã hội được cả cộng đồng dân tộc sáng tạo nên trong quá trình lao động thực tiễn, trong giao tiếp văn hóa với nhiều dân tộc khác nhau Đó cũng là thứ chất liệu rất phổ biến bởi là ngôn ngữ giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày mà tất cả cộng đồng người đều hiểu và chấp nhận
Mặt khác ý thức sáng tạo ra văn hóa gồm cả nghệ thuật ở trong đó thông qua
hệ thống biểu tượng trong giao tiếp, ứng xử và các hoạt động Nhờ ngôn ngữ biểu tượng mà giúp con người có thể hiểu được nhau cho dù ở nhiều vùng văn hóa khác nhau, khả năng giao tiếp vượt qua không gian và thời gian thông qua hệ thống ký hiệu Việc tìm hiểu ngôn ngữ biểu tượng cũng chính là tìm hiểu đời sống văn hóa và
xã hội của con người, những biểu tượng do con người tạo ra giải mã sự tồn tại và
những tác động đến đời sống văn hóa của chính mình
Nghệ thuật là một loại hình văn hóa đặc biệt liên quan những giá trị văn hóa thẩm mỹ, giải trí, sáng tạo… do vậy nó là đối tượng nghiên cứu của văn hóa học Nghệ thuật phản ánh tổng thể những hiện tượng xã hội mà nó đang tồn tại một cách năng động, sử dụng trí óc và cảm xúc để phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng, mang trong mình dấu ấn của thời đại lịch sử, nó cũng đánh dấu các bước phát triển
Trang 35của xã hội Với tư cách là hoạt động văn hóa tồn tại trong thực tế đời sống xã hội, ở mỗi giai đoạn lịch sử, điều kiện phát triển khác nhau thì nghệ thuật cũng bao gồm các thành tố cấu tạo nên một chỉnh thể là: Nghệ sĩ với các hoạt động sáng tạo nghệ thuật, tác phẩm nghệ thuật, công chúng nghệ thuật và bên cạnh đó còn cần môi trường xã hội và các thiết chế cho hoạt động nghệ thuật
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Đời sống văn học trên báo chí Nam Bộ trước năm 1945
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là giai đoạn lịch sử xã hội rất đặc biệt và có nhiều biến động đối với nước ta Trong khi ở Tây phương khoa học tiến bộ không ngừng, các phương tiện giao thông được sản xuất, đổi mới vượt mức, tàu bè được chạy bằng động cơ nhanh chóng và thuận tiện, họ bắt đầu đi khắp thế giới để thông thương, tìm kiếm thị trường và bành trướng thế lực thì ở Việt Nam, chính sách xã hội và nội trị cổ lỗ, thô sơ lạc hậu, đàn áp tôn giáo, đàn áp các cuộc khởi nghĩa cùng chủ trương “Bế môn tỏa cảng” dưới triều nhà Nguyễn đã làm cho đất nước rơi vào tình trạng phát triển trì trệ Tất cả đã dẫn đến các cuộc nổi loạn bên trong và cuộc tranh chấp bên ngoài với Tây phương, để cuối cùng đến 1858 khi tiếng súng của thực dân phát nổ, mở màn cho cuộc chiến tranh xâm lược, nước ta mất trọn chủ quyền về tay đế quốc Pháp Sự hiện diện của phương Tây đã làm cho nền văn học thay đổi theo một hướng mới Những ảnh hưởng bối cảnh lịch sử xã hội đã khiến cho một nền văn học cổ điển cực thịnh theo giáo lý Khổng – Mạnh, chữ Nho và Nôm phát triển dần bị thay thế bởi sự mới lạ của Tây Âu với văn tự mới là chữ Quốc ngữ Chữ Quốc ngữ là một thứ chữ ghép các mẫu tự La Mã do các giáo sĩ Tây phương Bồ Đào Nha du nhập vào nước ta trong khoảng thế kỷ XVI với mục đích truyền giáo Về sau, vị giáo sĩ người Pháp là Alexandre de Rhodes đã sử dụng và soạn ra tự điển Việt Nam – Bồ Đào Nha La tinh và cho in tại La Mã vào năm 1651 (Vũ Hân, tr 53-54) Mục đích Pháp sử dụng chữ Quốc ngữ để đưa kiến thức Tây học vào Việt Nam nhưng đây cũng chính là vũ khí mà dân tộc ta dùng để giác ngộ quần chúng trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và xây dựng một nền quốc
Trang 36văn mới Khi Pháp chiếm Nam Bộ, chữ Quốc ngữ được truyền ra ngoài phạm vi tôn giáo sớm hơn so với cả nước, hình thành khuôn mẫu và được lan rộng khắp lục tỉnh
Theo Phan Khôi, chữ Quốc ngữ hồi đầu chỉ có tín đồ đạo Thiên Chúa dùng,
từ tự điển sang kinh thánh Thiên Chúa giáo rồi từ trường học Pháp sang chính trị, báo chí, văn học bình dân Kể cả việc học chữ Quốc ngữ cho quen và phổ biến nó mỗi ngày một lan rộng chính là xứ Nam kỳ: “Tôi muốn nói xứ Nam kỳ là thầy dạy Quốc ngữ cho cả và dân An Nam, cũng không phải là quá đáng Độc giả hãy nhớ,
xứ Nam kỳ là thầy dạy Quốc ngữ cho dân An Nam!” (Phan Khôi, 1929, Phụ nữ tân
văn, số 28 ngày 7.11)
Thời kỳ đầu các học giả chủ yếu dùng chữ Quốc ngữ để phiên dịch các sách truyện chữ Nôm, tiểu thuyết của Trung Hoa hoặc sách tiếng Pháp, dần dần được chỉnh đốn quy củ bắt đầu sáng tác văn học, báo chí… Chữ Quốc ngữ ra đời là điều kiện tiên quyết trong việc nâng cao dân trí tạo điều kiện cho văn học và báo chí phát triển mạnh mẽ Chữ Quốc ngữ thịnh hành từ 1913 trở về sau, được xem là văn tự quốc gia với sự đóng góp rất lớn lao của Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của Nhìn chung ở thời đại nào thì nền văn học cũng không thể tách rời khỏi các sự kiện lịch
sử xã hội và văn tự
Cho đến cuối thế kỷ XIX, những chính sách văn hóa của Pháp nhằm đồng hóa tận gốc nền văn hóa Việt Nam không mấy hiệu quả, Pháp còn vấp phải sự chống đối quyết liệt từ các phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam Văn hóa bản địa vẫn không bị đồng hóa mà còn tỏ ra hết sức bền bỉ Bước sang đầu thế kỷ
XX, Pháp thực hiện các chính sách về kinh tế ở Việt Nam, nhiều nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ… được xây dựng vì vậy đã xuất hiện các đô thị hiện đại theo kiểu phương Tây Để thực hiện các biện pháp áp đặt các chính sách về kinh tế, chính trị, văn hóa…người Pháp cần có một đội ngũ người bản xứ để giúp chúng chạy việc, dần dần hình thành tầng lớp thị dân đầu tiên bên cạnh Pháp Tầng lớp thị dân được hình thành đông đảo bao gồm các thương gia, viên chức, bác sĩ, nghệ sĩ, sinh viên, học sinh… Các ngành nghề đa dạng, kinh tế hàng hóa phát triển cũng lôi cuốn những nông dân phá sản, thậm chí cả nhà Nho và những người từ bỏ nông thôn lên
Trang 37thành thị với mong muốn tìm kiếm được việc làm dễ dàng hơn, dần dần họ bị thành thị hóa Ngoài ra Pháp thực hiện những chính sách ưu đãi về vật chất và tinh thần cho những người có danh vị, chức tước, lôi cuốn lực lượng thanh thiếu niên đến học
ở trường Pháp Việt Chính sách giáo dục phương Tây cũng chính là điều kiện để văn hóa phương Tây mà đặc biệt là văn hóa Pháp bám rễ vào văn hóa truyền thống Việt Nam Nền giáo dục ấy đã tạo nên tầng lớp trí thức Tây học, hiểu và thấm đẫm văn hóa phương Tây, là một vị trí quan trọng được đào tạo cho mục đích truyền bá sâu rộng văn hóa Pháp và thế giới trong dân chúng
Sự thay đổi trong xã hội đã dần kéo theo sự thay đổi trong văn học Ở thành thị với con người mới, cuộc sống mới và nhu cầu văn học cũng không còn như xưa
Bộ phận lớn là lớp cư dân thành thị đã biết chữ Quốc ngữ cộng với tính tình phóng khoáng nên họ sẵn sàng bỏ tiền ra để mua báo với mục đích là đọc tiểu thuyết:
“Ở đây người công chức sau 8 giờ làm việc ở công sở, về nhà rỗi rãi, cần đọc báo, đọc tiểu thuyết, đi xem hát Những nhà kinh doanh cần biết tin tức, cần tiêu khiển Những cô gái ngồi trông cửa hàng, những cậu bồi anh xe ngồi chờ chủ, những cô sen ngồi chờ lấy nước bên giếng máy, cần xem truyện Người ta đòi hỏi biết nhiều chuyện có tình tiết cụ thể, hấp dẫn, ly
kỳ, gây xúc động Người ta cần giải trí, cần cười, cần mơ màng Ở thành phố không có những buổi hò hát dưới trăng, vả lại thứ văn nghệ thôn dã ấy cũng không thỏa mãn được thị hiếu thị dân của họ nữa Lớp công chúng mới ra đời đó đòi hỏi một nền văn học thị dân” (Trần Đình Hượu, 1988, tr.27)
Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thành thị làm con người ta trở nên thay đổi, cuộc sống bị xáo trộn, phức tạp, lợi nhuận được đặt lên hàng đầu Những quan niệm
về luân thường đạo lý không truyền tải hết được sự biến động trong cuộc sống, người ta nhìn xã hội khác, có thái độ khác và chờ đợi văn học mang đến sự khác biệt so với trước:
“Người ta – nhất là người dân thành thị - trong sống đua chen cạnh tranh cần sống thực, không thỏa mãn với những lời giáo huấn về đạo lý cương thường
Trang 38Người ta cần hiểu rõ, hiểu kỹ cuộc sống với cả những tình tiết đầy đủ, những chi tiết cụ thể, gây được cảm giác, thỏa mãn được sự tò mò Người ta cần sống những cảnh ngộ của kịch, những số phận của tiểu thuyết – những cảnh ngộ, số phận của những con người cụ thể trong cuộc sống bình thường thế tục Người ta muốn nếm trải cái có thật (hay có thể có thật) chứ không phải được khích lệ bằng những gương trung hiếu… Người ta cũng muốn rút ra từ
đó những bài quý giá nhưng là bài học của cuộc sống chứ không phải là bài học của giáo lý Người ta muốn xúc động, muốn mở mang như những con người, những cá nhân chứ không phải xúc động như khi chiêm ngưỡng tấm gương cao cả của vị thánh xuất chúng” (Trần Đình Hượu, 1988, tr.32)
Thị hiếu văn học thay đổi đã kéo theo quan niệm và tư tưởng của người sáng tác cũng thay đổi Bên cạnh lực lượng cũ là các nhà nho, đã xuất hiện lực lượng sáng tác mới đó là những người làm báo, từ con đường dịch thuật văn học nước ngoài, đọc và học văn học phương Tây, họ dần dần phỏng tác theo và chuyển sang viết tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch Đề tài văn học về cuộc sống sinh hoạt bình thường của con người trong đời sống xã hội dần thay cho nền văn học giáo huấn chỉ trọng đạo lý Nhà văn, nhà báo Nam Bộ đi vào con đường hoạt động chuyên nghiệp:
“Trong xã hội tư sản văn nghệ sĩ sẽ thành chức nghiệp: viết văn bán cho công chúng, thoát khỏi sự ràng buộc của đạo lý để nói về những con người mới, về cuộc sống bình thường, kịch và tiểu thuyết phát triển” (Trần Đình Hượu, 1988, tr 33) Như vậy, khi tác phẩm văn học trở thành hàng hóa thì người sáng tác phải chú ý đến xây dựng nhân vật, cốt truyện hay việc sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, đưa lời nói hàng ngày vào trong văn học để sao cho gần gũi với người Việt, ngay cả dịch thuật cũng phải được Việt hóa để không xa lạ với tập quán bản địa, để phù hợp với công chúng bình dân Đóng góp tích cực của lực lượng sáng tác đã đẩy nhanh quá trình phát triển của báo chí và sự đổi mới của văn học
Trong điều kiện giao thông và giao lưu văn hóa phát triển hơn, báo chí, nhà
in trở thành kênh truyền bá các tác phẩm văn học một cách nhanh chóng, không chỉ giới hạn ở thành thị mà còn tới các vùng nông thôn, văn học bác học của các nhà
Trang 39nho và nông dân luôn say mê với điệu hát, câu hò, bài vè thì nay đã xuất hiện thêm nền văn học mới, sự tiếp xúc đó dẫn tới sự thay đổi để thích ứng với xã hội mới Hai nền văn học tiếp xúc với nhau ở vào thế cạnh tranh, cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ:
“Văn học bác học của nhà nho rút hẹp địa bàn lại và tự nó cũng thay đổi tính chất Văn mới và văn cũ đều đăng lên báo chí, đều đem ra công bố cho mọi người Nó thành một thứ hàng hóa, không thể không chú ý đến yêu cầu công chúng Trong cuộc cạnh tranh đó, văn học cũ, căn bản là một sản vật
có tính chất nông thôn, phong kiến không thể thích hợp với xã hội mới Công chúng thành thị đông đảo về số lượng lại có đồng tiền bỏ ra nuôi sống báo chí và người cầm bút, trở thành lực lượng chi phối sự phát triển của văn học, bắt người ta quan niệm văn học theo yêu cầu của nó” (Trần Đình Hượu, 1988, tr.28)
Nam Bộ trở thành nơi dẫn đầu về tiếp xúc văn hóa và đổi mới văn hóa Tầng lớp trí thức Tây học đóng vai trò rất lớn trong việc vận dụng chữ Quốc ngữ để tiếp xúc với văn hóa phương Tây, truyền bá văn hóa phương Tây và thế giới vào Việt Nam Giới trẻ thì ùn ùn học ở trường Pháp Việt, học tiếng Pháp và học văn học Pháp, mọi thứ trở nên mới mẻ, lạ lùng, khác xa so với văn học truyền thống Nam
Bộ trở thành nơi để phương tiện báo chí, sách, truyện phát triển, tạo điều kiện cho
sự đổi mới đất nước, nhất là văn học đi theo con đường hiện đại hóa Các truyện dịch từ tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc, các tiểu thuyết được đăng trên báo chí hay in thành từng cuốn nhỏ đã lôi cuốn đông đảo công chúng thị dân mới, bởi nó phù hợp với thị hiếu và túi tiền của họ Báo chí không chỉ là kênh tuyên truyền, truyền tải chính sách, phục vụ cho chính quyền thuộc địa mà cũng đã làm thay đổi thói quen tiếp cận thông tin của người dân, một quan điểm văn hóa mới trong cộng đồng người Việt
Báo chí – văn học có sự giao thoa mạnh mẽ, văn trên báo, báo trong văn, nhà báo chính là nhà văn và nhà văn cũng kiêm công việc nhà báo Nội dung văn
chương luôn là nội dung chủ yếu, sống còn, tạo sức sống của mọi tờ báo Từ Gia
Trang 40Định báo (1865) cho tới Nông cổ mín đàm (1901) hay Lục tỉnh tân văn (1907) đều
đăng tải tác phẩm văn chương bên cạnh những thông tin về thông báo, chính sách
của chính phủ Tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên là Gia Định báo (1865) đặt nền móng
cho bước đi đầu tiên trong sự phát triển báo chí, in ấn, văn học và ngôn ngữ ở nước
ta Lần lượt sau đó là sự ra đời của tờ báo kinh tế Nông cổ mín đàm, số đầu tiên xuất bản năm 1901, chủ báo Canavagio đã cho đăng truyện dịch Tam Quốc chí Khảo sát trên tờ Nông cổ mín đàm cho thấy, mỗi tuần sẽ xuất bản một số với tổng 8 trang thì
đã dành tận 3 tới 4 trang để đăng nội dung các tiểu thuyết hoặc các tác phẩm thơ ca, một số thông tin về các cuộc thi và kết quả giải thưởng văn chương Như vậy, việc cho đăng tiểu thuyết để thu hút công chúng lúc này chứng tỏ các nhà làm báo đã nắm bắt được tâm lý của độc giả, từ đó dù xuất bản tờ báo nào với mục đích gì thì
cũng đều cho đăng các tác phẩm văn học Tờ báo Nông cổ mín đàm đã phát động cuộc thi văn chương đầu tiên với tên gọi Quốc âm thi cuộc, bên cạnh đó còn có Lục
tỉnh tân văn, hay sự xuất hiện của nhiều tờ báo đăng các cuộc thi văn chương sau
này như Đuốc nhà Nam, giải Thủ Khoa Nghĩa – Hội Khuyến học Cần Thơ trên báo
Xuân Tây Đô… Tất cả đã dần hình thành nên một lượng độc giả lớn có tới hàng
trăm, thậm chí hàng ngàn, họ thường xuyên mua báo chí để tìm kiếm thông tin và thậm chí mua báo chỉ để đọc tác phẩm văn chương mình yêu thích
Nguyễn Văn Xuân trong công trình Khi những lưu dân trở lại cho rằng:
“Miền Nam, tờ báo Sài Gòn, Thần chung, Dân quyền, Lục tỉnh tân văn,
Đuốc nhà Nam… Các ký giả đã biết nhiều phương cách để thu hút độc giả…
người bình dân miền Nam có nhiều tiền nên đã bày ra cảnh đọc báo khắp cả vỉa hè và báo chạy như tôm Mỗi ngày, hoặc chiều hoặc sáng, trẻ bán báo ta, báo tây chạy tấp nập rao inh ỏi ở khắp nẻo đường làm cho sinh hoạt ngành ấy nổi bật” (Nguyễn Văn Xuân, 1990, tr.100)
Báo chí chính là phương tiện truyền tải văn chương đến với công chúng, mỗi mục nói về văn chương đều được đăng vào ngày cố định trong tuần/ tháng/ quý và ở một vị trí nhất định trong tờ báo Hình thức đăng tác phẩm văn học trên báo chí trở nên mới lạ, chỉ đăng một đoạn ngắn trích ra từ tác phẩm nhưng chứa đựng những