HOÀNG XUÂN MẠNH VIỆC SỬ DỤNG THỜI GIAN NHÀN RỖI CỦA NỮ VIÊN CHỨC TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGHIÊN CỨU TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA
Trang 1HOÀNG XUÂN MẠNH
VIỆC SỬ DỤNG THỜI GIAN NHÀN RỖI
CỦA NỮ VIÊN CHỨC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(NGHIÊN CỨU TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
HOÀNG XUÂN MẠNH
VIỆC SỬ DỤNG THỜI GIAN NHÀN RỖI
CỦA NỮ VIÊN CHỨC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(NGHIÊN CỨU TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: Hoàng Xuân Mạnh
Ngày sinh: 15/4/1987
Nơi sinh: Thái Bình
Là học viên cao học khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐH KHXH&NV, ĐHQG-
HCM), niên khóa 2017 – 2019
Tôi xin cam đoan đây là phần nghiên cứu do tôi thực hiện và được sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Vân Hạnh Các dữ liệu, số liệu được sử dụng trong bài
luận văn này là hoàn toàn trung thực
Ngoài ra, luận văn có sử dụng một số nhận xét, đánh giá và số liệu từ nhiều nguồn tài liệu khác đều được tôi trích dẫn nguồn theo quy định
Nếu có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về các nội dung bài luận văn của mình
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng 12 năm 2021
Tác giả
Hoàng Xuân Mạnh
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi xin trân trọng được gửi lời cảm
ơn đến Quý thầy/cô của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, HCM, lãnh đạo các đơn vị và đồng nghiệp cùng với bạn bè,… đã luôn tạo điều kiện, quan tâm, động viên, chia sẻ và hỗ trợ kịp thời cho tôi trong suốt thời gian thực hiện
ĐHQG-đề tài
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến PGS TS Nguyễn Thị Vân Hạnh, cô đã luôn tận tâm, sâu sát, thường xuyên chỉ dẫn tận tình để tôi hoàn thành các nội dung của luận văn theo yêu cầu Sự hướng dẫn tận tình và trách nhiệm của
Cô đã giúp tôi có thêm nhiều vốn kiến thức chuyên ngành sâu hơn qua việc nghiên cứu trong từng giai đoạn của đề tài, đây được xem như hành trang quý giá giúp tôi
có thể vận dụng cho công tác của tôi tốt hơn trong tương lai
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Quý thầy/cô khoa Xã hội học đã luôn theo dõi, thông tin kịp thời các nhiệm vụ liên quan đến quá trình học, thực hiện đề tài và sẵn sàng hỗ trợ cho khi tôi cần giúp đỡ
Tôi xin được gửi lời cám ơn đến đến Ban Thường vụ Đảng ủy Trường và TS
Lê Thị Ngọc Điệp, Bí thư Đảng ủy – Chủ tịch Hội đồng Trường là cấp lãnh đạo trực tiếp của tôi đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình công tác để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin được gửi lời cám ơn tới gia đình hai bên nội, ngoại những người thân trong gia đình đã luôn quan tâm, chia sẻ, động viên và hỗ trợ tạo điều kiện cho tôi để có nhiều thời gian hơn trong công tác nghiên cứu hoàn thành luận văn này
Đề tài hoàn thành, mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng do khả năng nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn chế nên đề tài khó tránh khỏi được những thiếu sót
và hạn chế, tác giả rất mong được sự góp ý, chỉ dẫn của Quý Thầy/Cô và bạn bè đồng nghiệp,… trên cơ sở đó tác giả sẽ tiếp thu sâu sắc để hoàn thiện đề tài, hoàn thiện bản thân một cách tốt hơn
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu luận văn 3
2.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu nước ngoài 4
2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong nước 6
3 Mục đích nghiên cứu 9
3.1 Mục tiêu chung 9
3.2 Mục tiêu cụ thể 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
4.1 Đối tượng nghiên cứu 10
4.2 Khách thể nghiên cứu 10
4.3 Phạm vi nghiên cứu 10
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 10
5.1 Phương pháp chọn mẫu 10
5.2 Phương pháp thu thập thông tin 11
5.3 Phương pháp xử lý thông tin 11
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 11
6.1 Ý nghĩa lý luận 11
6.2 Ý nghĩa thực tiễn 12
7 Cơ cấu của luận văn 12
PHẦN NỘI DUNG 13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU VIỆC SỬ DỤNG THỜI GIAN NHÀN RỖI CỦA NỮ VIÊN CHỨC 13
1.1 Khái niệm cơ bản 13
1.1.1 Khái niệm viên chức 13
1.1.2 Khái niệm giảng viên 14
1.1.3 Khái niệm thời gian rỗi 15
Trang 61.2 Tiếp cận lý thuyết 17
1.2.1 Tiếp cận từ quan điểm giới 17
1.2.2 Tiếp cận từ quan điểm Xã hội học văn hoá về thời gian rỗi 20
1.2.3 Tiếp cận từ quan điểm Xã hội học về vai trò và xung đột vai trò 22
1.3 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 23
1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu 23
1.3.2 Giả thuyết nghiên cứu 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN, RÀO CẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG THỜI GIAN NHÀN RỖI CỦA NỮ VIÊN CHỨC TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQG-HCM 24
2.1 Tổng quan về Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM 24
2.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 24
2.1.2 Tầm nhìn - sứ mạng – mục tiêu – Triết lý giáo dục của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM 25
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM 26
2.1.4 Nguồn nhân lực 27
2.2 Tổng quan về một số chế độ, chính sách của Nhà trường dành riêng cho nữ viên chức 27
2.3 Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu khảo sát 29
2.4 Thực trạng việc sử dụng thời gian nhàn rỗi của nữ viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM 30
2.5 Những rào cản, khó khăn ảnh hưởng đến việc sử dụng thời gian nhàn rỗi của nữ viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM 49
Tiểu kết Chương 2 56
Trang 7CHƯƠNG 3: CÁCH THỨC TẠO THÊM THỜI GIAN RỖI VÀ NHU CẦU
VÀ NHÂN VĂN, ĐHQG-HCM 58
3.1 Cách thức tạo thêm thời gian rỗi và nhu cầu hỗ trợ của nữ viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM 58
3.2 Nhu cầu hỗ trợ của nữ viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM 68
3.3 Giải pháp, khuyến nghị 74
Tiểu kết Chương 3 76
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1: BẢNG HỎI
PHỤ LỤC 2: CÁC BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU
Trang 8DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1 Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu 29
Bảng 2.2 Tổng thời gian nhàn rỗi của nữ viên chức 30
Bảng 2.3 Tương quan nhóm tuổi, đơn vị công tác và thời gian nhàn rỗi 31
Bảng 2.4 Mức độ sử dụng thời gian nhàn rỗi 33
Bảng 2.5 Mức độ sử dụng thời gian nhàn rỗi so với độ tuổi 34
Bảng 2.6 Mức độ sử dụng thời gian nhàn rỗi so với trình độ học vấn 35
Bảng 2.7 Mức độ sử dụng thời gian nhàn rỗi so với đơn vị công tác 36
Bảng 2.8 Mức độ sử dụng thời gian nhàn rỗi so với vị trí công tác 38
Bảng 2.9 Mức độ sử dụng thời gian nhàn rỗi so với tình trạng hôn nhân 42
Bảng 2.10 Mức độ sử dụng thời gian nhàn rỗi vào cuối tuần, nghỉ lễ 44
Bảng 2.11 Mức độ sử dụng thời gian nhàn rỗi cuối tuần so với độ tuổi 46
Bảng 2.12 Mức độ sử dụng thời gian nhàn rỗi cuối tuần so với Đơn vị công tác 46
Bảng 2.13 Mức độ sử dụng thời gian nhàn rỗi cuối tuần so với vị trí công tác 47
Bảng 2.14 Mức độ sử dụng thời gian nhàn rỗi cuối tuần so với tình trạng hôn nhân 48
Bảng 2.15 Hoạt động thực hiện ngoài giờ làm việc của nữ viên chức 50
Bảng 2.16 Mức độ thực hiện hoạt động thường nhật so với độ tuổi 51
Bảng 2.17 Mức độ thực hiện hoạt động thường nhật so với vị trí công tác 51
Bảng 2.18 Mức độ thực hiện hoạt động thường nhật so với tình trạng hôn nhân 53
Bảng 2.19 Tần suất của các rào cản ảnh hưởng đến nữ viên chức 55
Bảng 3.1 Mức độ thường xuyên thực hiện các biện pháp để tạo thêm thời gian nhàn rỗi 59
Bảng 3.2 Mức độ thực hiện các giải pháp so với độ tuổi 61
Trang 9Bảng 3.3 Mức độ thực hiện các giải pháp so với trình độ học vấn 62
Bảng 3.4 Mức độ thực hiện các giải pháp so với vị trí công tác 63
Bảng 3.5 Mức độ thực hiện các giải pháp so với tình trạng hôn nhân 66
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quyền phụ nữ và bình đẳng giới đã trở thành nguyên tắc cơ bản trong Hiến chương Liên hợp quốc được thông qua vào năm 1945 Từ đó đến nay, vị thế, vai trò của phụ nữ, nữ lao động trong công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội đã được thực tiễn chứng minh và không ngừng nâng cao, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế, hội nhập quốc tế sâu rộng Nữ giới đóng vai trò quan trọng không chỉ trong đời sống kinh tế mà còn trong đời sống xã hội của mỗi quốc gia, đóng góp vào sự phát triển chung trên thế giới, theo ước tính của Liên hợp quốc, những tiến bộ của phụ nữ trong bình đẳng giới có thể thúc đẩy GDP toàn cầu thêm
12 nghìn tỷ USD vào năm 2025 Với vai trò ngày càng quan trọng, người phụ nữ cần được quan tâm, tạo điều kiện phát triển bình đẳng, được chăm lo về đời sống vật chất, tinh thần xứng đáng với những đóng góp của họ Mặc dù ngày nay sự tiến
bộ của phụ nữ không ngừng được nâng cao, vẫn còn những sự phân biệt, đối xử, bất bình đẳng giới vì thế phụ nữ chưa được quan tâm, chăm sóc về sức khỏe, tinh thần, còn phải chịu nhiều thiệt thòi khiến đời sống của một bộ phận nữ giới gặp nhiều khó khăn, thậm chí trở thành nhóm yếu thế trong xã hội
Tại Việt Nam, chủ trương khẳng định vai trò của phụ nữ và sự quan tâm của
xã hội đối với phụ này luôn được chú trọng trong đường lối, chủ trương chung Bản
Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới; Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội; nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới” Ngày 20/01/2018, Ủy viên Bộ
Chính trị, thành viên Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng thay mặt Ban Bí thư Trung ương Đảng ký ban hành Chỉ thị số 21-CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW, để tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới, trong đó nhấn mạnh “phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao, quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng, tôn vinh nhằm khơi dậy tiềm năng, trí tuệ, sức sáng tạo, tinh
Trang 11thần khởi nghiệp, khát vọng của đội ngũ nữ lãnh đạo quản lý, nữ trí thức, nữ cán bộ khoa học, nữ doanh nhân, …”
Thực tế hiện nay cho thấy, nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế sâu rộng
và nền công nghiệp 4.0 đòi hỏi người phụ nữ càng phải có năng lực, trình độ chuyên môn cao, sức khỏe tốt để đáp ứng được các yêu cầu của thị trường lao động cũng như vai trò xã hội trong gia đình Tỉ lệ lao động nữ trong các cơ quan, doanh nghiệp ngày càng cân bằng so với nam giới, nữ giới ngày càng khẳng định ở các vị trí lãnh đạo, đóng góp to lớn cho sự phát triển của đơn vị, tổ chức thì càng khiến họ chịu nhiều áp lực Tuy vậy, nữ giới có những giới hạn nhất định về khả năng làm việc vì điều kiện về thể chất cũng như phải thực hiện vai trò xã hội trong đình khiến họ càng khó khăn để chăm lo cho bản thân mình, rèn luyện, phát triển bản thân, nâng cao đời sống tinh thần Vì vậy, có thể nói việc quan tâm đến người phụ nữ, tăng cường chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, khơi dậy khả năng lao động, sức sáng tạo, khả năng cống hiến của phụ nữ Việt Nam nói chung và cho nữ viên chức nói riêng là cần thiết và quan trọng trong giai đoạn hiện nay
Với tư cách là một bộ phận của lao động nữ, nữ viên chức trong ngành giáo dục cũng cần được quan tâm, chăm sóc và tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần như vậy Nữ viên chức công tác tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM) cũng không năm ngoài quy luật đó, họ càng ngày cần phải cải thiện không ngừng về chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng đòi hỏi của ngành giáo dục trong thời
kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế Để thực hiện được điều ấy, nữ viên chức Trường cần có nhiều thời gian để đào sâu nghiên cứu, không ngừng cập nhật các thông tin, kiến thức có liên quan để phục vụ cho công việc của bản thân hoặc tham gia học tập
để không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tham gia nghiên cứu khoa học, …
Vì thế, để đáp ứng được những đòi hỏi của công việc, thích ứng với những
sự biến đổi nhanh chóng của hệ thống giáo dục và xã hội, yêu cầu nữ viên chức của Nhà trường phải không ngừng tự hoàn thiện bản thân Bên cạnh đó, với việc đóng
Trang 12nhiều vai trò trong xã hội ngoài vai trò ở Nhà trường dẫn đến việc nữ viên chức Nhà trường có thể bị quá tải trong khi quỹ thời gian trong một ngày, trong một tuần là có hạn, tuân theo quy luật vốn có của tự nhiên Do đó, để có thể hoàn thành hết các nhiệm vụ ở cơ quan cũng như nhiệm vụ khác trong xã hội thì chắc chắn rằng quỹ thời rảnh rỗi của nữ viên chức Trường sẽ bị thu hẹp và điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến quỹ thời gian rảnh rỗi của nữ viên chức Nhà trường trong việc phục hồi, tái tạo lại sức lao động (tinh thần, thể lực) để chuẩn bị cho một ngày mới làm việc, học tập, nghiên cứu có hiệu quả, chất lượng
Chính vì thế, tôi chọn nghiên cứu đề tài: Việc sử dụng thời gian nhàn rỗi
của nữ viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình, nhằm tìm hiểu
thực trạng sử dụng thời gian nhàn rỗi của nữ viên chức Trường và các khó khăn, rào cản mà họ gặp phải trong việc tạo ra thời gian nhàn rỗi trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị để tạo thời gian nhàn rỗi cần thiết tối thiểu cho mình trong việc thư giãn, lấy lại sự cân bằng về thể chất, tinh thần sau một ngày làm việc, học tập căng thẳng cũng như áp lực công việc của gia đình Từ đó đề xuất các giải pháp, khuyến nghị giúp cho nữ viên chức tại Trường có nhiều điều kiện thuận lợi để có thời gian nhàn rỗi, nghỉ ngơi, tái tạo lại sức lao động nhằm làm việc hiệu quả hơn nữa, có những đóng góp cho sự phát triển chung của tổ chức, xã hội và đất nước
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu luận văn
Trong khoảng thời gian hai thập kỷ gần đây, vấn đề nghiên cứu về việc sử thời gian nhàn rỗi đã thu hút nhiều sự quan tâm của các học giả nghiên cứu về xã hội học, công tác xã hội, … trên toàn thế giới và trong nước Việc nghiên cứu việc
sử dụng thời gian rảnh rỗi không chỉ dừng lại ở các cá nhân, các nhóm trong cộng đồng xã hội mà nó còn thể hiện thói quen hoạt động xã hội của mỗi quốc gia và dân tộc Điều này thể hiện cách thức mà mỗi cá nhân, nhóm cộng đồng trong xã hội tái tạo lại sức lao động (tinh thần và thể lực) sau một ngày làm việc để tiếp tục cho hoạt động của ngày tiếp theo Và nhằm để làm sáng tỏ các yếu tố ảnh hưởng đến quỹ thời gian nhàn rỗi của nữ viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Trang 13ĐHQG-HCM hiện nay,tác giả đã dựa trên tổng quan tình hình nghiên cứu theo
nhóm là các công trình ngoài nước và các công trình trong nước
2.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu nước ngoài
Iwasaki (2005) trong tác phẩm “Phân tích giới dựa trên thực trạng đối phó căng thẳng trong giới chuyên gia quản lý: Cơ chế đối phó căng thẳng trong công việc và khi nhàn rỗi (Gender-Based analyses of coping with stress among professional managers: Leisure coping and non-leisure coping)” đã xem xét việc
sử dụng thời gian rỗi của phụ nữ và nam giới trong lĩnh vực quản lý, các tác giả trên chỉ rõ có sự khác biệt do giới tính quyết định trong hành vi sử dụng thời gian rỗi và các giải pháp mà nữ giới và nam giới thực hiện trong thời gian nhàn rỗi để giải tỏa căng thẳng, áp lực cuộc sống cũng như ứng phó với các lo lắng Nghiên cứu này cũng kết luận rằng: những căng thẳng mà cả nam và nữ đang phải đối mặt từ thực tế cuộc sống có nhiều điểm chung nhưng cơ chế về việc sử dụng thời gian rỗi và hình thức giải trí ở mỗi giới lại khác nhau Hình thức giải trí là biện pháp quan trọng nhằm giải tỏa căng thẳng cho cả hai giới nam và nữ
Tác giả Chris Rojek (2005) trong công trình nghiên cứu “Học thuyết thời gian rảnh: nguyên lý và thực hành (Leisure Theory: Principles and practice Palgrave Macmillan)” đã xây dựng một số khái niệm về loại hình thời gian nhàn
rỗi Chris Rojek ủng hộ lý thuyết về sự giải trí (có tính đến mối quan hệ giữa các cá nhân, hành vi giải trí và quyền công dân) và phác thảo một cách tiếp cận để phân tích hoạt động giải trí nhằm củng cố động lực, vị trí và bối cảnh Để giải thích và
mô tả cho hoạt động định hình hành vi giải trí thông qua cuộc sống thực tế, ông đã đưa ra một khung các khái niệm trong đó vai trò của các yếu tố: giai cấp, giới, dân tộc và địa vị có sự ảnh hưởng khác nhau đến thời gian rỗi và đi đến kết luận thời gian rỗi có mối quan hệ mật thiết với các nguồn lực về kinh tế, văn hóa
Trang 14Nghiên cứu về công việc gia đình và sử dụng thời gian khá phổ biến với sự phân chia theo giới tính (Bianchi & Milkie, 2010), nhưng sự khác biệt về giới tính trong thời gian nhàn rỗi, cụ thể là thời gian nhàn rỗi của nữ giới cũng còn nhiều vấn
đề cần được bàn luận (Yerkes, M A., Roeters, A., & Baxter, J., 2018) Các nghiên cứu trên thế giới hiện nay chủ yếu bàn về các hoạt động giải trí của nữ giới trong thời gian nhàn rỗi cũng như mức độ thỏa mãn của họ (Biernat, E., & Piątkowska, M., 2017) Một số nghiên cứu có giá trị tham khảo đối với đề tài này như sau:
Nhóm nghiên cứu của Kamp Dush, C M., Yavorsky, J E., &
Schoppe-Sullivan, S J (2017) trong công trình “Nam giới Làm gì trong khi Phụ nữ làm thêm lao động không công? Giải trí và Chuyên môn hóa khi Chuyển sang Làm cha mẹ: Vai trò giới tính” đã chỉ ra một vấn đề nổi bật khi chuyên môn hóa xảy ra người đàn
ông tập trung vào công việc thị trường trong khi người phụ nữ tập trung vào công việc phi thị trường như nội trợ hoặc chăm sóc con cái Sử dụng dữ liệu nhật ký thời gian từ các cặp vợ chồng Hoa Kỳ, nghiên cứu đã tìm thấy có ít bằng chứng về sự chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội theo giới tính, tuy vậy, giới tính vẫn quan trọng Nam giới có nhiều thời gian giải trí hơn, đặc biệt là vào những ngày không làm việc, trong khi nữ giới phải thực hiện nhiều công việc phi thị trường hơn Nghiên cứu này đã khám phá những gì nam giới làm trong khi phụ nữ thực hiện thêm công việc nhà và chăm sóc con cái Vào những ngày không làm việc, các ông
bố nhàn rỗi là 47%, trong khi đó 35% thời gian nhàn rỗi các bà mẹ thực hiện các công việc nhà thông thường và chăm sóc con cái
Yerkes, M A cùng cộng sự (2018) trong nghiên cứu của mình về “Sự khác biệt giữa các nhóm giới tính trong chất lượng hoạt động giải trí: góc nhìn đa quốc gia” đã cho rằng sự khác biệt về giới tính trong thời gian giải trí ít nhận được sự quan tâm hơn từ các chuyên gia trong lĩnh vực công việc gia đình Nghiên cứu đã kết hợp những thông tin xem xét sự khác biệt giữa các quốc gia về sự khác biệt giới trong chất lượng giải trí giữa các giới thông qua sử dụng dữ liệu của 23 quốc gia từ năm 2007 trong Chương trình Khảo sát Xã hội Quốc tế
Trang 15Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các đặc điểm của quốc gia này điều chỉnh mối liên hệ giữa giới tính và mức độ thời gian rảnh rỗi dùng để thư giãn và phục hồi Ở các quốc gia có giới tính bảo thủ định mức, mức độ bao phủ chăm sóc trẻ em thấp, chế độ nghỉ thai sản hạn chế và quyền lực chính trị thấp hơn đối với phụ nữ, chất lượng giải trí của phụ nữ là thấp hơn của nam giới Ở các quốc gia theo chủ nghĩa bình đẳng giới cao hơn, khoảng cách giới trong chất lượng giải trí thấp hơn và trong một số trường hợp, thì ngược lại Những kết quả này phù hợp với những phát hiện từ nghiên cứu xuyên quốc gia về phân công lao động theo giới và đóng góp quan trọng vào sự hiểu biết chung đối với sự khác biệt về giới tính trong chất lượng giải trí giữa các quốc gia
Bên cạnh đó, còn nhiều công trình nghiên cứu về việc sử dụng thời gian nhà rỗi và các hoạt động thường được thực hiện trong thời gian này, tuy nhiên trong những nghiên cứu này chưa làm rõ về thời gian nhàn rỗi của nữ viên chức trong ngành giáo dục, mà chỉ nói chung về sự khác biệt giữa thời gian nhàn rỗi của nam
và nữ giới hoặc đề cập đến các hoạt động giải trí của nữ giới trong thời gian nhàn rỗi cũng như mức độ thỏa mãn của họ Chính vì thế, nghiên cứu về thời gian nhàn rỗi của đối tượng viên chức đang công tác trong ngành giáo dục có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn nhất định
2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong nước
Tác giả Chu Khắc trong bài nghiên cứu của mình về “Vấn đề quỹ thời gian trong sinh hoạt gia đình hàng ngày” đã nêu lên định nghĩa cho khái niệm thế nào là thời gian rỗi Theo ông, “thời gian rỗi là lúc con người được thảnh thơi hoàn toàn
và tùy ý thích cá nhân mà lựa chọn hình thức tự thể hiện” Ông cũng nêu ra ví dụ về
quỹ thời gian trung bình của mỗi cán bộ, công nhân viên khu Trương Định, Hà Nội Ông tìm ra được thời gian rỗi của nam so với nữ chênh nhau khoảng 7 giờ trong 1 tuần Tuy nhiên, ông cũng tóm lại rằng thời gian nhàn rỗi như vậy là quá ít, theo số liệu cho thấy người nam có khoảng 3 giờ trong 1 ngày và người nữ có khoảng 2 giờ trong 1 ngày Dựa trên những lý luận của Mác và Ăngghen về việc tạo ra thời gian
rỗi là “việc mở ra triển vọng phát triển đầy đủ lực lượng sản xuất của từng người,
Trang 16do vậy, cũng tức là của toàn xã hội” và “toàn bộ sự tăng thêm của cải dựa vào việc tạo ra thời gian rỗi”, tác giả Chu Khắc cho rằng thời gian rỗi là “nhân tố quan trọng
để hình thành nhân cách” và cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa việc nghỉ ngơi để hồi phục sức lực và việc phát triển nhân cách Không những thế, ông còn nêu lên nhận định về vai trò của gia đình trong việc tổ chức thời gian nhàn rỗi là rất quan trọng
Và yếu tố cuối cùng được ông nhắc đến chính là những phương tiện để đảm bảo đời sống tinh thần cho con người khi thảo luận về vấn đề làm sao để sử dụng tốt quỹ thời gian nhàn rỗi
Theo Phan Thanh Tá (1997) trong luận văn thạc sĩ về đề tài “Thời gian rỗi và hoạt động văn hóa của thanh niên Hà nội hiện nay”, tác giả có nêu ra một quan
điểm liên quan đến hoạt động văn hóa trong thời gian rỗi Ông cho rằng hoạt động văn hóa trong khoảng thời gian rảnh rỗi có nhiều loại hình khác nhau và một trong những loại hình đó chính là văn nghệ quần chúng Theo tác giả nhận định, đây có thể nói là một hình thức sinh hoạt văn hóa thường thấy trong đời sống của người dân
Lê Thị Quý (2000) đã chỉ ra trong bài nghiên cứu của mình về phụ nữ trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam cho rằng những người phụ nữ trí thức, viên chức phải lao động rất vất vả để lo cho cuộc sống gia đình Họ phải làm việc vất vả từ tờ
mờ sáng đến đêm khuya Qua đó tác giả cũng muốn khẳng định rằng những người phụ nữ trí thức, viên chức gần như không có chút thời gian rãnh rỗi nào cho các hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh để từ đó thắt chặt tình cảm giữa các thành viên trong gia đình
Theo Nguyễn Thị Vân trong công trình luận án tiến sĩ với đề tài “Thuyết tam tòng, tứ đức trong Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với người phụ nữ Việt Nam hiện nay” được thực hiện vào năm 2014, tác giả Vân có nhắc đến quỹ thời gian rảnh
rỗi của phụ nữ, cụ thể là người phụ nữ ở vùng nông thôn khi đề cập đến những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng “gia trưởng”, “xuất giá tòng phu” Theo tác giả, trong gia đình, người phụ nữ là người có thời gian nghỉ ngơi ít hơn so với nam giới do họ tận dụng những khoảng thời gian nghỉ ngơi cho những công việc nhà như rửa chén,
Trang 17giặt giũ vào buổi trưa và hướng dẫn con học thêm vào buổi tối Tác giả cũng rút ra nhận định về việc thiếu sự san sẻ những công việc nhà giữa người nam và người nữ
Trong bài nghiên cứu “Phân bố quỹ thời gian giữa nam giới và nữ giới: Nghiên cứu trường hợp tại Thái Nguyên” được đăng trên Tạp chí Kinh tế và Quản
trị kinh doanh số 05 (2018), 2 tác giả Dương Thị Huyền Trang và Lê Thị Thanh Thương đã đề cập đến vấn đề làm sao để cả người chồng lẫn người vợ trong gia đình có thể phân bổ thời gian, tổ chức sắp xếp cuộc sống một cách thật khoa học và hợp lý trong cơ cấu quỹ thời gian không thay đổi là 24 giờ cho một ngày Hai tác giả cho rằng sự phân bổ quỹ thời gian trong gia đình có tác động đến năng suất làm việc, tình hình sức khỏe và đời sống tinh thần của các thành viên trong gia đình Qua quá trình khảo sát nghiên cứu tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên, tác giả đã đưa ra những kết quả như ở cả ngày thường và ngày nghỉ số thời gian rảnh rỗi của nữ giới đều ít hơn nam giới từ 1 đến 2 tiếng Cuối cùng, tác giả cũng đề ra một vài giải pháp cho vấn đề này như cần thay đổi thói quen phân bổ thời gian giữa nam giới và nữ giới trong gia đình để tạo ra sự cân bằng trong việc phân chia công việc trong gia đình
Trong nghiên cứu về “Giới và tiền chuyển về của lao động di cư” dưới sự
chủ trì của Tổng cục Thống kê thực hiện, nhóm nghiên cứu đã đưa ra một nguyên nhân vì sao người lao động di cư nữ lại không sẵn sàng dành quỹ thời gian rỗi vào chủ nhật cho những hoạt động giải trí như đọc báo, xem clip giải trí hay đi ăn uống gặp gỡ bạn bè Lý do là vì họ tận dụng khoảng thời gian đó để làm việc kiếm thêm chút ít thu nhập, từ đó có thể gửi thêm chút tiền về cho gia đình ở quê Điều này cũng phù hợp với đức tính của người phụ nữ là luôn lo toan, vun vén cho gia đình Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra một hoạt động thường thấy của lao động
di cư nữ, đó chính là về quê thăm gia đình Điều này chỉ ra rằng gia đình luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của người phụ nữ
Qua những công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã nêu lên định nghĩa về thời gian nhàn rỗi và nêu bật những con số cụ thể về thời gian nhàn rỗi trong ngày của người nam và người nữ qua những công trình nghiên cứu với những nhóm đối
Trang 18tượng khác nhau Ngoài ra, các tác giả cũng làm rõ những vấn đề liên quan tới việc
sử dụng thời gian nhàn rỗi là khác nhau giữa nam và nữ, nguyên nhân vì sao quỹ thời gian nhàn rỗi của người nam thường lại nhiều hơn hẳn cho với quỹ thời gian nhàn rỗi của người nữ
Thông qua nghiên cứu các công trình trong nước, đề tài nhận thấy vấn đề quỹ thời gian nhàn rỗi của nữ giới cũng đã được đề cập khá nhiều, trong đó đều nhấn mạnh đến những áp lực mà họ phải chịu đựng từ công việc và từ vị trí xã hội trong gia đình Các hoạt động giải trí hoặc các công việc khác mà nữ giới thường thực hiện trong thời gian nhàn rỗi, cuối tuần, nghỉ lễ để nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động hay tìm kiếm thu nhập tăng thêm Tuy nhiên, về mặt đối tượng, các nghiên cứu tập trung nghiên cứu nhiều nhóm đối tượng nữ khác nhau như nhóm đối tượng nữ là công nhân lao động di cư, nhóm đối tượng là những người phụ nữ nông thôn Tuy nhiên nhóm đối tượng có chưa được đề cập nữ viên chức đang công tác trong ngành giáo dục thì chưa thấy xuất hiện Chính vì thế, khi nghiên cứu trên đối tượng này,
đề tài luận văn này vì vậy có ý nghĩa lý luận và thực tiễn: Nghiên cứu vấn đề trên một đối tượng mới (nữ viên chức) và tìm hiểu, khuyến nghị các giải pháp để giúp
nữ viên chức tăng thêm thời gian nhàn rỗi, tái tạo sức lao động
3 Mục đích nghiên cứu
3.1 Mục tiêu chung
Qua nghiên cứu, đề tài muốn đánh giá thực trạng, tìm hiểu những khó khăn
và nhu cầu của nữ viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM trong việc sử dụng thời gian nhàn rỗi, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện việc sử dụng quỹ thời gian rỗi, hướng đến nâng cao chất lượng cuộc sống và công việc của nữ viên chức đang công tác trong ngành giáo dục nói chung cũng như của nữ viên chức đang công tác Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM nói riêng
3.2 Mục tiêu cụ thể
Nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, tác giả triển khai thành những mục tiêu cụ thể như sau:
Trang 19- Xây dựng cơ sở lý luận về nghiên cứu việc sử dụng thời gian rỗi của nữ viên chức Trường ĐHKHXH&NV;
- Mô tả thực trạng việc sử dụng thời gian rỗi của nữ viên chức Trường ĐHKHXH&NV;
- Tìm hiểu những khó khăn, rào cản đối với việc tạo ra và sử dụng thời gian rỗi của nữ viên chức Trường ĐHKHXH&NV;
- Tìm hiểu cách thức mà nữ viên chức Trường ĐHKHXH&NV sử dụng để tạo ra thời gian rỗi
- Tìm hiểu về những nhu cầu hỗ trợ để tăng cường số lượng và chất lượng thời gian nghỉ ngơi giải trí của nữ viên chức Trường ĐHKHXH&NV;
- Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giúp tổ chức hiệu quả hơn các hoạt động hỗ trợ nữ viên chức xét trên phương diện quản lý, thực hiện chính sách đối với phụ nữ hoạt động trong lĩnh vực giáo dục
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Việc sử dụng thời gian rỗi của nữ viên chức tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM
Trang 20Nhân văn, ĐHQG-HCM Các đặc điểm nhân khẩu học của mẫu khảo sát bao gồm
độ tuổi, trình độ học vấn, đơn vị công tác, vị trí công tác, trình trạng hôn nhân
Mẫu dành cho nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu) được lựa chọn là mẫu chỉ tiêu để đáp ứng bao phủ các tiêu chí khác nhau về đặc trưng nhân khẩu xã hội (như thâm niên, chức danh nghề nghiệp, vị trí công tác, độ tuổi, trình độ học vấn…)
5.2 Phương pháp thu thập thông tin
Nguồn dữ liệu phục vụ phân tích trong luận văn chủ yếu được khai thác từ hai phương pháp thu thập thông tin cơ bản sau:
+ Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi: Đề tài tiến hành khảo sát bằng bảng
hỏi tự ghi đối với 200 nữ viên chức đang làm việc tại Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG HCM Cơ cấu mẫu sẽ được mô tả cụ thể ở chương sau
+ Phương pháp phỏng vấn sâu: Để làm rõ thêm các khía cạnh của vấn đề
nghiên cứu, đề tài tiến hành phỏng vấn sâu đối với 06 trường hợp, gồm 01 lãnh đạo cấp trường; 02 lãnh đạo cấp khoa/ bộ môn và phòng ban chức năng; 03 giảng viên
và chuyên viên không giữ chức vụ quản lý
5.3 Phương pháp xử lý thông tin
+ Các thông tin định lượng được xử lý bằng phần mềm SPSS
+ Các thông tin định tính từ phỏng vấn sâu được ghi âm, gỡ băng, tổng hợp, phân loại và phân tích lồng ghép để làm rõ hoặc tăng thêm tính khách quan cho các
Bên cạnh đó, nghiên cứu này góp phần giúp kiểm chứng việc áp dụng một số
lý thuyết như quan điểm tiếp cận lý thuyết giới, quan điểm xã hội học văn hóa về thời gian rãnh rỗi, lý thuyết về căng thẳng và xung đột vai trò trong nghiên cứu về việc sử dụng thời gian nhàn rỗi đối với nữ viên chức cũng như đóng góp thêm vào
Trang 21nguồn tài liệu tham khảo cho hoạt động giảng dạy và nghiên cứu về chủ đề có liên quan
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Địa bàn nghiên cứu có số lượng và tỷ lệ nữ viên chức khá cao, thông qua việc chỉ ra những khó khăn, tồn tại và đề xuất các giải pháp, đề tài có thể góp phần tạo nên cơ sở giúp các nhà quản lý đưa ra hay điều chỉnh các chính sách giúp nữ viên chức tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM có thể cải thiện quỹ thời gian nhàn rỗi của mình hướng đến nâng cao chất lượng công việc
và cuộc sống của họ
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, luận văn chia phần nội dung chính thành
Chương 2: Thực trạng và những khó khăn, rào cản ảnh hưởng đến việc
sử dụng thời gian nhàn rỗi của nữ viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn, ĐHQG-HCM
Chương này mô tả thực trạng việc sử dụng thời gian rỗi và những khó khăn, rào cản trong việc tạo ra cũng như sử dụng thời gian rỗi của nữ viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM
Chương 3: Cách thức tạo thêm thời gian rỗi và nhu cầu hỗ trợ của nữ viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM
Chương này tìm hiểu những cách thức mà nữ viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM ứng dụng để tạo thêm thời gian rỗi cũng như phân tích những nhu cầu hỗ trợ của họ, từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp
Trang 22PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU VIỆC SỬ DỤNG THỜI GIAN NHÀN RỖI CỦA NỮ VIÊN CHỨC
1.1 Khái niệm cơ bản
Với các nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu đã xác định, luận văn làm rõ một
số khái niệm cơ bản có liên quan trực tiếp đến đề tài bao gồm giảng viên, viên chức
và thời gian rỗi
1.1.1 Khái niệm viên chức
Viên chức được hiểu là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (Điều 2, Luật Viên chức, 2020) Đơn vị sự nghiệp công lập cũng từ đó được giải thích là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước (Khoản 1, Điều 9, Luật Viên chức, 2020)
Căn cứ vào đó, luận văn tiếp cận khái niệm thuật ngữ „nữ viên chức‟ theo cách hiểu là những lao động nữ có tuổi đời từ 22 đến 55 tuổi, đang công tác tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM với hai cương vị khác nhau bao gồm nữ viên chức giữ chức vụ quản lý và nữ viên chức hành chính Trong
đó, nữ viên chức giữ chức vụ quản lý được giải thích bao gồm những lao động nữ được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý (Khoản 1, Điều 3, Luật Viên chức, 2020) Như vậy, những nữ viên chức không thuộc quy định trên được hiểu là nữ viên chức hành chính
Trang 231.1.2 Khái niệm giảng viên
Giải thích từ căn cứ ngôn ngữ toàn dân, giảng viên (hay còn được gọi là giảng sư) được xem như tên gọi chung của người làm công tác giảng dạy ở các trường chuyên nghiệp, các lớp đào tạo, huấn luyện hoặc các trường từ cấp độ trung học phổ thông trở lên (Hoàng Phê, 2018)
Từ góc độ pháp luật, giảng viên là một khái niệm nói về ngạch công chức ngành giáo dục và đào tạo được xếp cho viên chức (hoặc người lao động) chuyên làm nhiệm vụ giảng dạy ở bậc cao đẳng, đại học Chức danh của giảng viên bao gồm trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư Trình độ chuẩn của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ đại học là thạc sĩ trở lên (Chương VIII, Luật Giáo dục Đại học, 2019)
Nhìn chung với thuật ngữ này, luận văn của tác giả cũng tiếp cận khái niệm
„nữ giảng viên‟ hai nhóm đối tượng khác nhau bao gồm (1) nữ giảng viên đã được công nhận viên chức và đang giữ chức vụ quản lý (viên chức quản lý) và (2) nữ giảng viên đã được công nhận viên chức nhưng không giữ chức vụ quản lý
Với các cách giải thích từ các tiểu mục 1.1.1 và 1.1.2 như trên, khách thể nghiên cứu của luận văn sẽ được định nghĩa theo hai cách phân loại như sau:
- Theo cấp độ quản lý: Nhóm (1) sẽ bao gồm viên chức có ngạch chức danh chuyên viên hoặc từ chuyên viên trở lên (chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp) giữ chức vụ quản lý hoặc viên chức có ngạch chức danh giảng viên hoặc từ giảng viên trở lên (giảng viên chính, giảng viên cao cấp) giữ chức vụ quản lý và nhóm (2)
sẽ bao gồm viên chức có ngạch chức danh chuyên viên trở lên hoặc giảng viên trở lên nhưng không giữ chức vụ quản lý
- Theo chức danh nghề nghiệp: Nhóm (1) sẽ bao gồm chức viên chức có ngạch chức danh chuyên viên hoặc từ chuyên viên trở lên không phân biệt quản lý hay không và tương tự nhóm (2) sẽ bao gồm viên chức có ngạch chức danh giảng viên viên hoặc từ giảng viên trở lên cũng không xem xét yếu tố quản lý
Trang 241.1.3 Khái niệm thời gian rỗi
Nghiên cứu của Csikszentmihalyi, M., và LeFevre, J., (1989) được xem là một trong các góc nhìn sớm nhất ở lĩnh vực các khác biệt về giới trong việc sử dụng thời gian rảnh rỗi Bằng một so sánh giữa hai nhóm khách thể nam và nữ, nhóm tác giả này đã đúc kết khá đơn giản về thuật ngữ “thời gian rỗi” nghĩa là thời gian không phải làm việc nghĩa là bao gồm cả lúc đang trong giờ làm việc lẫn cả việc không phải đi làm Các kết luận sau cùng cho thấy thời gian rỗi là thời gian mà con người hay cá nhân có thể thực hiện các việc như: đọc sách, mơ mộng, các hoạt động ngoài trời, các hoạt động mang xu hướng xã hội (giao lưu, trò chuyện với bạn bè), xem TV, đi lại hoặc làm bất cứ việc gì nhưng không phải ở nơi làm việc Bên cạnh
đó, kế thừa theo tháp nhu cầu của Maslow, các tác giả này cũng liệt kê các hoạt động như ăn uống, vệ sinh chăm sóc cá nhân, đi mua sắm và làm việc nhà cũng là các hoạt động được xem như là hoạt động lúc rảnh rỗi
Một cách định nghĩa khác có phần ngắn gọn hơn từ Shaw cùng các cộng sự (1995) lại cho rằng định nghĩa “thời gian rỗi” cần căn cứ vào các hoạt động của cá nhân trong một ngày và sau đó phân loại thành hai nhóm: hoạt động bắt buộc và hoạt động không bắt buộc Nhóm tác giả này cho rằng việc nhà nên xếp vào hoạt động bắt buộc cùng với các việc làm ở trường, ở nơi làm việc hoặc bất cứ công việc
gì tạo ra thu nhập cho cá nhân Ngược lại, Shaw cùng cộng sự (1995) đúc kết thời gian rỗi là thời gian mà cá nhân có thể tham gia các hoạt động thể chất bao gồm cả thể thao, hoạt động xã hội bao gồm cả gặp bạn bè, xem TV và các hoạt động khác Nhìn chung cách định nghĩa này đi ngược lại với các nghiên cứu đi trước khi cho rằng hoạt động làm việc nhà không nên xếp vào loại hoạt động lúc rảnh rỗi mà đó là một hoạt động cần có
Sau quá trình khảo cứu, tác giả nhận thấy góc nhìn của Đoàn Văn Chúc (1997) là rõ nét hơn cả khi lấy xuất phát từ quan điểm xã hội học văn hoá khi nhấn mạnh rằng dù con người ở thời đại nào đi chăng nữa cũng sẽ phải dùng thời gian của bản thân để tập trung vào bốn loại hoạt động bao gồm: (1) Những hoạt động
Trang 25thuộc lao động sản xuất để đảm bảo sự sống còn cho cá nhân và xã hội nói chung
Đó là nghĩa vụ xã hội của mỗi người; (2) Những hoạt động thuộc các quan hệ cá nhân trong đời sống xã hội như dạy dỗ con em, chăm nom gia đình, họ hàng, bạn
bè, hàng xóm và láng giềng… và đây được xem như là bổn phận xã hội của mỗi người; (3) Những hoạt động thuộc sự duy trì, bảo vệ đời sống vật chất cá nhân, như nấu nướng, dọn dẹp chỗ ở, sửa sang, đồ dùng, ăn uống, tắm giặt và đó là nhu cầu vật chất cá nhân của mỗi người; (4) Những hoạt động thuộc đời sống tinh thần của
cá nhân được diễn ra bằng nhiều biện pháp khác nhau: kể và nghe kể chuyện, xem sách báo, xem sân khấu, đánh cờ, đánh đàn, làm thơ, đi dạo, thờ cúng, tín ngưỡng…
và đó là nhu cầu tinh thần của mỗi con người Đối với loại hoạt động đầu tiên, vì bị quy định, quy chế của xã hội nên hầu như mọi người phải thực hiện theo một khoảng giống nhau nên được gọi là thời gian tất yếu Đối với ba loại hoạt động còn lại, mặc dù không thể thiếu trong đời sống tuy nhiên do quá trình xã hội hoá cá nhân diễn ra rất đa dạng và phong phú nên mỗi cá nhân có thể tuỳ theo điều kiện riêng của mình hoặc các cộng đồng, tập thể mình đang tồn tại mà sẽ có những quy định riêng Nhìn chung, khoảng thời gian này cho ba loại hoạt động này được gọi là thì giờ tự do nghĩa là khoảng thời gian mà xã hội dành cho cá nhân quyền tự do sử dụng Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh trong loại hoạt động thứ tư là loại hoạt động con người thường sử dụng thời gian vào sau khi đã hoàn thành các loại bổn phận từ ba hoạt động trên nên tác giả nhấn mạnh đây chính là khoảng thời gian rảnh rỗi của mỗi con người
Mặt khác, tác giả lấy tiếp cận từ Hoàng Phê (2018) khi định nghĩa “rỗi” là trạng thái ít hoặc không có việc gì phải làm Từ căn cứ đó, thời gian “rảnh rỗi” chính là thuật ngữ rộng hơn khi mô tả về khoảng thời gian mà cá nhân ở trạng thái không phải làm việc gì hoặc không có việc gì thúc bách Theo cách hiểu này, có thể nhận định giải thích từ Hoàng Phê (2018) đã mang tính cách khái quát nhất bao gồm cả định nghĩa trước đó của Shaw cùng cộng sự (1995) Ngoài ra, với xuất phát điểm của tác giả tập trung vào nhóm khách thể nghiên cứu hoàn toàn là nữ giới có trình độ cao và đang là nguồn lao động nên quan điểm về giới cũng được lồng ghép
Trang 26để phần khái niệm thêm chính xác và rõ ràng hơn Cụ thể, tác giả không xem việc nhà là một hoạt động nằm trong khuôn khổ thời gian rỗi của phụ nữ vì theo A Hochschild (1989) nhận định rằng phụ nữ sau giờ làm việc họ sẽ bước vào „second shift‟ (tạm dịch là ca hai) và đây vốn là một góc nhìn châm biếm khi nói về thực trạng phụ nữ trí thức phải tiếp tục lao mình vào việc nhà sau giờ làm việc (dẫn theo Richard T.Schaefer, 2003; Mai Huy Bích, 2009)
Tóm lại, thuật ngữ “thời gian rỗi” được tác giả đúc kết các quan điểm từ bên trên từ Shaw cùng cộng sự (1995), Hoàng Phê (2018) và dưới định hướng xã hội học của Đoàn Văn Chúc (1997) và Mai Huy Bích (2009) và được định nghĩa là khoảng thời gian bên ngoài thời gian làm việc, lao động và cả thời gian làm việc nhà của nữ viên chức Những việc làm cụ thể được tôi quan tâm trong khoảng thời gian này bao gồm: sử dụng Internet cho mục đích giải trí; xem TV, nghe nhạc; đọc báo, đọc truyện, đọc sách; đi chơi cùng gia đình hoặc bạn bè; chơi thể thao, tập thể dục; làm đẹp cho bản thân; chăm sóc cây cối, vật nuôi; nghỉ ngơi, thư giãn và rèn luyện một kỹ năng khác như nấu ăn, trang điểm, thủ công, ngoại ngữ,
1.2 Tiếp cận lý thuyết
1.2.1 Tiếp cận từ quan điểm giới
Quan điểm của Ann Oakley
Được xem như là người đầu tiên đưa thuật ngữ giới vào các nghiên cứu xã hội, Ann Oakley nhấn mạnh đây được xem như là sự phân chia song hành nhưng bất bình đẳng về mặt xã hội giữa giới nam và nữ ngày nay Nói đến giới người ta có
xu hướng chú ý đến những khía cạnh được hình thành theo con đường xã hội từ sự khác biệt giữa đàn ông và đàn bà và mở rộng hơn chính là nói đến sự khác biệt về nhận diện cá nhân, nhân cách, lý tưởng văn hoá và các hình mẫu nam tính và nữ tính Ở cấp độ văn hoá, quan điểm này nhấn mạnh về việc phân công lao động theo giới trong các tổ chức và các thiết chế, đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra sự bất bình
Trang 27đẳng về phân công lao động trong gia đình đối với cả nam và nữ về vấn đề làm việc toàn thời gian ngoài xã hội (Dẫn theo Bùi Thế Cường cùng các cộng sự, 2012)
Quan điểm của Talcott Parsons
Dưới góc nhìn xã hội học về giới trong bối cảnh gia đình và kinh tế, Talcott Parsons cho rằng lao động trong gia đình ngày nay được xem như là một loại lao động sản xuất Đây là một góc nhìn mang đậm tính phê phán vì chỉ ra sự áp bức mà phụ nữ chính là nạn nhân trong khuôn khổ của sự bóc lột mang tính gia trưởng Sự thống trị của nam giới đối với nữ giới được thực hiện trong tính vô hình của các công việc nhà mà cho đến lúc bây giờ người ta vẫn từ chối công nhận vị thế “lao động” của chúng Đối với những người theo quyết nữ quyền, nhìn từ quan điểm giới
họ cho rằng vấn đề lao động trong nhà chính là một dạng lao động bị bóc lột bởi vì người vợ là người sản xuất nhưng không được trả tiền công còn người chồng lại được hưởng thụ thành quả lao động đó một cách miễn phí Sự phê phán triệt để này dựa trên những ví dụ từ các khách thể nghiên cứu ở Mỹ Các nghiên cứu này nhận thấy khi con người kết hôn, người đàn ông tiết kiệm được 218 giờ mỗi năm cho các việc trong nhà, có nghĩa là nếu người ta nhân với 44 là số năm trung bình của một cuộc sống hôn nhân sẽ cho ra được con số 9592 giờ tương đương với 05 năm mà người đó có thể dành cho sự nghiệp, sinh hoạt nghỉ ngơi và giải trí của mình… Nếu như vậy, thay vì nhận được sự phục vụ này miễn phí, người đàn ông phải trả tiền thù lao, thì gia đình người đó có lẽ sẽ có mức sống thấp hơn nhiều và bản thân người đó chắc chắn sẽ có con đường công danh ít dễ dàng hơn Lao động “vô hình”
bị người chồng chiếm hữu, đến mức nếu người ta mô tả các mối quan hệ vợ chồng bằng các thuật ngữ kinh tế, thì người chồng được hưởng mọi lợi ích của hôn nhân, trong khi người vợ phải gánh chịu chi phí của cuộc hôn nhân đó Nếu nhìn theo góc
độ văn hoá, như vậy thời gian rảnh rỗi của phụ nữ đã bị trôi đi đâu và nếu có thì sẽ còn bao nhiêu và được dùng vào việc gì ngoài việc nhà (dẫn theo, Martine Segalen, 2013)
Trang 28Quan điểm của A Hochschild
Thông qua các góc nhìn từ Richard T.Schaefer (2003) và Mai Huy Bích (2009), A Hochschild là tác giả có góc nhìn có tính lý luận khá sâu sắc về việc phân chia thời gian rảnh rỗi của nam và nữ giới trong gia đình ngày nay Quan điểm này cho rằng nữ giới phải gánh nặng gấp đôi công việc của mình bằng việc làm việc kiếm sống rồi sau đó là công việc nhà và chăm sóc con cái trong khi đàn ông thì chẳng có mấy người gặp chuyện này Dựa trên các dữ liệu thực tiễn qua 52 cuộc phỏng vấn ròng rã suốt tám năm điền dã, bà đã kết luận rằng phụ nữ có số thời gian nghỉ ngơi giải trí ít hơn nam giới một tuần 15 giờ Trong một năm, các phụ nữ đó phải làm thêm một tháng 24 giờ/ngày do vấn đề xoay quanh „ca thứ hai‟; trải qua mười năm họ phải làm thêm đến một năm với tình trạng 24 giờ/ngày (Richard T.Schaefer, 2003) Vấn đề này được Mai Huy Bích (2009) nhận định cần xem xét lại bối cảnh phân chia công việc nhà đối với nam và nữ ngày nay để nữ giới thật sự cần có thời gian rảnh rỗi Tuy nhiên, một vấn đề cần quan tâm đó là sự thay đổi về tương quan thu nhập giữa hai giới trong gia đình thì sẽ ít nhiều có sự công bằng về việc nhà Cụ thể như sau: những cặp vợ chồng nào vợ có xu hướng kiếm tiền nhiều hơn thì lại phải mất nhiều thời gian đối với công việc nhà hơn (Kramer, 2005, dẫn theo Mai Huy Bích, 2009) Từ góc nhìn này cho thấy rằng việc phân bổ thời gian rảnh rỗi của nữ giới ngày nay không hoàn toàn phụ thuộc vào vấn đề kinh tế còn nhiều vấn đề khác có thể là dưới góc nhìn văn hoá
Như vậy, sau khi điểm qua các quan điểm giới, vấn đề nghiên cứu của tác giả nhìn chung là một vấn đề phù hợp với các nhận định đi trước dù là quan điểm nào
đi nữa Đánh giá sơ bộ, các quan điểm đều xem xét việc nữ giới ngày nay thường phải gắn liền vai trò giới với công việc nhà mà nếu xem xét dưới góc độ kinh tế thì phụ nữ nên nhận được khoảng thù lao cho việc đó (Martine Segalen, 2013) hoặc dưới góc độ văn hoá thì phụ nữ cần được nhiều thời gian rảnh rỗi để tham gia vào các hoạt động khác bên cạnh việc nhà và việc tạo ra thu nhập (Richard T.Schaefer, 2003; Mai Huy Bích, 2009) Điều này cho thấy công trình sẽ kế thừa và các nội
Trang 29dung nghiên cứu sẽ góp phần đánh giá lại sự phân công lao động trong gia đình (Bùi Thế Cường cùng cộng sự, 2012)
1.2.2 Tiếp cận từ quan điểm Xã hội học văn hoá về thời gian rỗi
Sau khi tiếp cận quan điểm giới cho thấy việc thời gian rỗi của nữ giới ngày nay là một vấn đề nghiên cứu đúng đắn và phù hợp với bối cảnh nghiên cứu Bước tiếp theo, nghiên cứu của tôi dùng quan điểm xã hội học văn hoá để lý giải các hoạt động rảnh rỗi dưới góc nhìn xã hội học
Bàn về hoạt động trong thời gian rỗi của mỗi con người, Đoàn Văn Chúc (1997) cho rằng quá trình này có thể gói gọn trong ba từ „Nghỉ‟, „Chơi‟ và „Giải trí‟, Theo đó, „Nghỉ‟ dùng để chỉ định sự ngừng làm việc nhằm lấy lại sức lực vật chất, lấy lại sự thăng bằng cơ thể để lại có thể tiếp tục làm việc Sự nghỉ ngơi có thể diễn
ra với đa dạng hình thức như: ngồi hoặc nằm nghỉ trong trạng thái thức và khi nghỉ như vậy cá nhân vẫn có thể xem một tờ báo, nghe một bài nhạc hoặc nói với nhau một vài câu chuyện nhưng cần khẳng định cốt lõi của việc này là ngừng làm việc để cho cơ thể đỡ mệt mỏi căng thẳng và việc này khác hoàn toàn với việc ngủ đêm Với thuật ngữ „Chơi‟ thì khi nhắc đến chúng ta có thể dễ dàng gợi ra trong suy nghĩ những hoạt động như: đánh cờ, đánh bóng, du lịch, xem kịch, nghe hát, đi thuyền… tức là những hoạt động không trực tiếp liên quan đến sự sinh tồn vật chất mà nghiêng về phía tinh thần nhiều hơn Cuối cùng „Giải trí‟ được hiểu nghĩa rộng hơn
để chỉ các hình thức chơi và khi này đồng nghĩa với chơi, về tính chất, có thể gọi các hoạt động chơi (giải trí) là hoạt động rảnh rỗi bởi chúng được diễn ra trong khoảng thời gian rảnh rỗi của mỗi con người
Bản chất của hoạt động rỗi: Sự rảnh rỗi trước hết đặt ra sự làm việc (lao động) Không có sự làm việc thì sẽ không có sự rảnh rỗi Ngay cả sự „ăn không ngồi rồi‟ của những kẻ dông dài biếng nhác cũng vẫn đặt ra một điều kiện tiên quyết là lao động, nếu không có lao động của các bộ phận khác trong xã hội thì lẽ đương nhiên họ cũng không thể tồn tại Bên cạnh đó, sự rảnh rỗi chính là tự nó đặt ra sự hoạt động Nhìn chung đây là những hoạt động để một mặt cá nhân phát huy được
Trang 30năng lực tiềm tàng bị kìm hãm trong các hoạt động tất yếu được quy định bởi xã hội, mặt khác việc thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần còn là quá trình tái nhận thức hiện thực theo phương thức thẩm mỹ Chính vì vậy, hoạt động lúc rảnh rỗi sẽ góp phần nâng cao, tái xây dựng chất lượng của hoạt động tất yếu, khi vắng mặt hoạt động nhàn rỗi thì sẽ gây trì trệ và giảm hiệu quả cho hoạt động tất yếu Như các hiện tượng xã hội khác, hoạt động lúc nhàn rỗi sẽ thay đổi theo các thời kỳ lịch
sử khác nhau bao gồm cả sự thay đổi về tính chất lẫn hình thức và cả thời gian hoạt động
Khi nhắc đến cấu trúc của thời gian rảnh rỗi, người ta sẽ phân định thành hai loại Đầu tiên chính là khoảng thời gian nghỉ ngơi giữa chừng của một buổi/ngày làm việc Những khoảng nghỉ này được xem như là sự giải lao để hồi phục sức khoẻ nên có xu hướng sẽ bị động và sẽ không được thực hiện một cách thoải mái nhất Ngược lại là loại khoảng nghỉ dài chính là khoảng nghỉ sau một ngày lao động Và khoảng nghỉ này vốn đã có từ thời tiền sử bởi vì con người sẽ không thể lao động khi trời tối dần Từ xã hội nông nghiệp chuyển sang xã hội công nghiệp, thời gian rảnh rỗi đã có nhiều biến đổi lớn lao ở đặc điểm cơ bản S De Grazia lý luận rằng
sự lao động và sự rảnh rỗi trong xã hội công nghiệp vốn đã thoát ra khỏi những lễ thức tập thể và bắt nguồn từ sự tự do lựa chọn của các cá nhân, mặc dầu tất nhiên rằng những quy định xã hội chi phối sự tự do lựa chọn đó Kế thừa quan điểm đó, J Dumazedier cũng cho rằng lao động nghề nghiệp cần được tách khỏi các hoạt động khác Nó có một ranh giới độc đoán, không tự nhiên Hơn nữa, nó có một sự tổ chức đặc thù khiến thời gian tự do tách khỏi nó hoặc là tự tách (dẫn theo Đoàn Văn Chúc, 1997)
Như vậy, đối với phạm vi nghiên cứu của luận văn dưới quan điểm của Đoàn Văn Chúc (1997), tác giả đồng thuận với quan điểm rằng các hoạt động lúc rảnh rỗi
là những việc việc cần thiết giúp cá nhân phục hồi và tái xây dựng sức lao động, chính vì vậy tác giả tập trung chủ yếu xem xét những hoạt động của nữ viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM được diễn ra như thế nào sau một ngày làm việc – nghĩa là khoảng nghỉ dài (không bao gồm dịp nghỉ
Trang 31cuối tuần và dịp nghỉ Lễ/Tết) Thêm vào đó, bằng việc đánh giá những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện các hoạt động vào thời gian rảnh rỗi, luận văn cũng góp phần đóng góp thêm cho quan điểm những góc nhìn mới hơn và có tính đóng góp nhất định về mặt lý luận
1.2.3 Tiếp cận từ quan điểm Xã hội học về vai trò và xung đột vai trò
Theo I Robertsons, vai trò được hiểu là một tập hợp những chuẩn mực, hành
vi, nghĩa vụ và quyền lợi gắn liền với một vị thế nhất định Bên cạnh định nghĩa của
I Robertsons còn có định nghĩa của J.H.Fischer về khái niệm vai trò Theo Fischer, vai trò được hiểu là sự phối hợp và sự tương tác qua lại của các khuôn mẫu được tập trung thành một nhiệm vụ xã hội Mỗi người trong xã hội cùng lúc phải đóng nhiều vai trò khác nhau trong xã hội Và một khi một cá nhân nào đó họ cảm thấy bản thân mình không phù hợp với vai trò đó hoặc họ gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện vai trò đó sẽ dẫn đến căng thẳng vai trò Bên cạnh căng thẳng vai trò, xung đột vai trò cũng sẽ xuất hiện khi một cá nhân cùng lúc nhiều vai trò hoặc tham gia vào nhiều nhóm xã hội khác nhau và cá nhân đó phải đáp ứng kỳ vọng của những nhóm xã hội này và nhiều khi giữa những kỳ vọng này lại có những xung đột, mâu thuẫn với nhau
Áp dụng vào đối tượng là nữ viên chức đang công tác tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, có thể thấy những nữ viên chức này cùng lúc phải đóng nhiều vai trò khác nhau trong xã hội Khi ở trường, họ phải đóng vai là những người cô giáo đứng trên bục giảng, là người đem đến những kiến thức và truyền nhiệt huyết học hành cho sinh viên hoặc là những nhân viên làm việc ở những phòng ban hoặc thậm chí là những người lãnh đạo đứng đầu một Khoa/ Bộ môn hoặc một Phòng/ Ban hoặc là người lãnh đạo của cả một trường đại học Một khi áp lực công việc quá nhiều, họ sẽ phải dành nhiều thời gian hơn cho công việc để hoàn thành tốt nhiệm vụ của một nữ viên chức trong ngành giáo dục Song song đó, họ phải hoàn thành vai trò của một người mẹ, người vợ, người con dâu hoặc người con gái trong gia đình Câu hỏi đặt ra là liệu xung đột vai trò có thể là một rào cản dẫn đến những nữ viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-
Trang 32HCM không còn quỹ thời gian rảnh rỗi cho bản thân khi họ vừa phải dành thời gian
để hoàn thành tốt công việc chuyên môn, vừa phải hoàn thành tốt vai trò của bản thân trong gia đình để tránh những xung đột về vai trò
1.3 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu
1 Thực trạng việc sử dụng thời gian nhàn rỗi của nữ viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM hiện nay như thế nào?
2 Nữ viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM gặp phải những rào cản nào trong việc tạo ra và sử dụng thời gian nhàn rỗi?
3 Nữ viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM sử dụng những cách thức nào để tạo thêm thời gian nhàn rỗi cho bản thân?
4 Nữ viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM cần được hỗ trợ những gì để tạo thêm và nâng cao chất lượng việc sử dụng thời gian nhàn rỗi?
1.3.2 Giả thuyết nghiên cứu
1 Nữ viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM không có nhiều thời gian rỗi nhưng sử dụng linh hoạt với nhiều hoạt động đa dạng
2 Gánh nặng gia đình với nhiều việc nhà tạo ra rào cản trong việc tạo thêm và sử dụng thời gian nhàn rỗi của nữ viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM
3 Nữ viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM chủ yếu linh hoạt thích ứng và tự thu xếp hơn là viện tới các nguồn trợ giúp trong việc tạo thêm thời gian rỗi cho bản thân
4 Nữ viên chức trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM cần nhiều hỗ trợ từ Nhà trường trong việc tạo thêm và nâng cao chất lượng việc sử dụng thời gian nhàn rỗi
Trang 33CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN, RÀO CẢN ẢNH HƯỞNG
ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG THỜI GIAN NHÀN RỖI CỦA NỮ VIÊN CHỨC TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQG-HCM
2.1 Tổng quan về Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM
Để làm rõ “việc sử dụng thời gian nhàn rỗi của nữ viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả tập trung phân tích sơ lược về quá trình hình thành và phát triển; tầm nhìn – sứ mạng – mục tiêu – triết lý giáo dục; cơ cấu tổ chức; nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực nữ của Trường bởi các yếu tố này ảnh hưởng một cách gián tiếp đến điều kiện vật chất, mối quan hệ xã hội và chế độ chính sách của nữ viên chức tại Trường
2.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn là cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao khoa học công nghệ có uy tín cao nhất tại khu vực phía Nam Việt Nam trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Cho đến nay, trường đã trải qua hơn 60 năm hình thành và phát triển
Theo số liệu năm 2021 trường có tất cả 21.000 sinh viên đại học, trong đó có 2.000 học viên cao học và nghiên cứu sinh với 28 ngành đào tạo 3 cấp chia thành 56 chuyên ngành đào tạo đại học; với 42 chuyên ngành đào tạo Thạc sĩ và Tiến sĩ thuộc 6 lĩnh vực khoa học khác nhau của khoa học xã hội và nhân văn Trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Trường đã có những thành tựu nổi bật trong quá trình giáo dục và đào tạo với việc khai mở ra nhiều ngành đào tạo, nghiên cứu khoa học mới Bên cạnh đó, Trường cũng thu hút nhiều sinh viên, học viên quốc tế đến học với 74 quốc tịch khác nhau Từ năm 1975 đến nay, Trường đã cung cấp cho đất nước đội ngũ các nhà khoa học, các cán bộ, viên chức và công dân có trình độ tri thức cao, với gần 80.000 Cử nhân khoa học, trên 7.000 Thạc sĩ và gần
800 Tiến sĩ về các ngành khoa học xã hội và nhân văn
Trang 34Với những thành tựu đạt được trong việc đào tạo và giáo dục, cho đến nay, Trường đã trở thành một trong hai Trường Đại học lớn nhất của cả nước về khối ngành khoa học xã hội và nhân văn
2.1.2 Tầm nhìn - sứ mạng – mục tiêu – Triết lý giáo dục của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM
Với vai trò là một thành viên của hệ thống ĐHQG-HCM, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn có ý nghĩa tiên quyết trong công cuộc đổi mới giáo dục đại học khối các ngành khoa học xã hội và nhân văn tại Việt Nam Do đó để hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, Trường đã xây dựng bộ giá trị cốt lõi về tầm nhìn, sứ mạng, mục tiêu và triết lý giáo dục như sau:
Về tầm nhìn: Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn là trường đại học
theo định hướng nghiên cứu trong hệ thống ĐHQG TP HCM, sẽ nằm trong tốp đầu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn của Châu Á
Về sứ mạng: Đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, với chất lượng cao,
nhằm tạo ra những công trình nghiên cứu khoa học tiêu biểu về khoa học xã hội và nhân văn: Có những đóng góp chiến lược cho sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước; Đi đầu trong xây dựng môi trường đại học tự do học thuật về khoa học xã hội và nhân văn
Về mục tiêu: Sẽ có những đột phá chiến lược về phát triển nguồn lực, về chất
lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và xây dựng môi trường văn hoá đại học
Về triết lý giáo dục: Với bề dày lịch sử hơn nửa thế kỷ phát triển đã hình
thành những truyền thống, giá trị văn hoá, triết lý giáo dục đại học của Nhà trường
Toàn diện, khai phóng và đa văn hoá là những cột trụ tư tưởng triết lý giáo dục
xuyên suốt thời gian qua
Có thể thấy, những yếu tố như bộ giá trị cốt lõi của Nhà trường cũng như với
vị thế là một trong hai Trường Đại học lớn nhất của cả nước về khối ngành khoa học xã hội và nhân văn, sẽ là một thách thức không nhỏ dành cho những nữ viên chức hiện đang công tác tại trường khi họ phải không ngừng phấn đấu, nâng cao chất lượng chuyên môn để không bị tụt lại phía sau Và chắc chắn rằng là để hoàn
Trang 35thành được điều này, những nữ viên chức cần dành rất nhiều thời gian trong một ngày cho việc nghiên cứu, nâng cao chất lượng giảng dạy cũng như chất lượng chuyên môn nghiệp vụ
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM
Có thể hình dung cơ cấu tổ chức của Trường thông qua mô hình dưới đây:
Cơ cấu tổ chức trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM
Trang 362.1.4 Nguồn nhân lực
Tính đến tháng 7 năm 2021, Trường hiện có 898 viên chức và người lao động Trong đó, số viên chức thuộc biên chế nhà trường là 574 và số viên chức hợp đồng là 324
Về vị trí công tác, trong tổng số 898 viên chức và người lao động có 523 giảng viên, 11 nghiên cứu viên và 364 chuyên viên
Về trình độ chuyên môn, tỷ lệ ít nhất là giáo sư và phó giáo sư với 4,7%, tỷ
lệ chiếm nhiều nhất là thạc sĩ với 43,9%, tỷ lệ có phần trăm gần bằng nhau là tiến sĩ với 23,2% và cử nhân với 22,2%
Trong số 898 viên chức và người lao động hiện đang công tác tại Trường, tỷ
lệ viên chức và người lao động nữ nhiều hơn so với viên chức và người lao động nam khoảng 20% Tỷ lệ viên chức và người lao động nữ tính đến tháng 7/2021 là 60,2%
Riêng tỷ lệ viên chức nữ giữ vai trò quản lý ngày càng tăng trong hơn 15 năm qua Trong năm 2004, tỷ lệ số viên chức nữ là quản lý chiếm 36,4% 16 năm sau, tỷ lệ này đã tăng lên hơn 15%, chiếm 52% Điều này cho thấy nữ viên chức ngày càng được đánh giá cao và đảm nhiệm nhiều trọng trách quan trọng trong Nhà trường
2.2 Tổng quan về một số chế độ, chính sách của Nhà trường dành riêng cho nữ viên chức
Nhà trường đã thực hiện việc triển khai đầy đủ các đồng bộ các chế độ chính sách của Nhà nước, của Công đoàn Việt Nam và Công đoàn các cấp đối với lao động
nữ trong Nhà trường, nổi bật trong những năm gần đây là việc triển khai Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 20 tháng 01 năm 2018 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới, việc triển khai chỉ thị này được lãnh đạo Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM thực hiện sâu sát, cụ thể là việc chỉ đạo Công đoàn Trường tập trung thực hiện nhiều giải pháp tạo điều kiện cho người lao động nữ trong Nhà trường có cơ hội phát triển toàn diện hơn về mọi mặt Điều
Trang 37đó cũng đã góp phần làm gia tăng vị thế của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội;
sự bình đẳng giới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội từng bước được bảo đảm
Song song đó, Nhà trường tiếp tục triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách riêng đối với công tác phụ nữ và bình đẳng giới đạt được nhiều kết quả rất khả quan, như: Công đoàn Trường đã thành lập Ban Nữ công (2018), việc ra đời của Ban Nữ công đã tạo ra nhiều hoạt động hữu ích về mặt tinh thần đối với đời sống của nữ viên chức đang công tác tại Trường Qua từng năm, các chương trình của Ban Nữ công ngày càng phong phú, thiết thực đã thu hút được đông đảo nữ viên chức tham gia, tiêu biểu có các chương trình như kỷ niệm các ngày lễn lớn trong năm của Phụ nữ, như 08/3; ngày 20/10; tổ chức các hội thảo, tọa đàm, tư vấn về chăm sóc sức khỏe, làm đẹp cho phụ nữ Chính những hoạt động này đã góp phần làm cho nữ viên chức cảm thấy vị trí của bản thân như được trân trọng, yêu thương và quan tâm nhiều hơn
Không chỉ có những hoạt động về văn hóa, tinh thần Ban Nữ Công còn là đơn vị chủ trì trong việc phối hợp cùng Trạm Y tế Nhà trường lên kế hoạch tổ chức khám sức khỏe định kỳ hằng năm riêng cho đối tượng là nữ viên chức, việc khám sức khỏe theo chế độ riêng với nữ viên chức với mong muốn sức khỏe của người lao động nữ được chăm sóc một cách tốt nhất, tầm soát sớm được những bệnh nguy hiểm thường xảy ra ở phụ nữ Ngoài ra, Ban Nữ công cũng là tổ chức thường xuyên theo dõi giúp Nhà trường trong việc thực hiện đúng các chế độ chính sách đối với nữ viên chức như nghỉ thai sản, nghỉ dưỡng do ốm đau, chế độ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm Y tế,…
Ngoài những hoạt động của Ban Nữ Công giúp cải thiện đời sống tinh thần cho nữ viên chức đang công tác tại Trường thì với việc thành lập của Chi hội Nữ Trí thức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM (2017) là một điểm sáng trong hoạt động về đời sống tinh thần của nữ viên chức trong Nhà trường Chi hội Nữ tri Tri thức hoạt động với tôn chỉ Chi hội “Sáng tạo – Tự tin – Tỏa sáng” nhằm mục đích nâng cao vai trò của nữ trí thức trong sự nghiệp phát triển của Nhà trường, tạo một môi trường để đội ngũ công chức, viên chức nữ có thể giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm chuyên môn, kinh nghiệm sống, hỗ trợ lẫn nhau và
Trang 38cũng tạo một sân chơi bổ ích nhằm gắn kết các thành viên nữ trong Trường Mặc dù chi hội mới được thành lập gần 04 năm nhưng chi hội đã tổ chức được nhiều hoạt động chuyên môn, tạo điều kiện cho các thành viên trong chi hội có sân chơi, giúp
đỡ nhau trong học tập, chia sẻ để nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ
để cùng tiến bộ, góp phần vào sự nghiệp phát triển chung của Nhà trường nói riêng
và đất nước nói chung
2.3 Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu khảo sát
Các đặc điểm nhân khẩu học được nghiên cứu là độ tuổi, trình độ học vấn, đơn vị công tác, vị trí công tác, trình trạng hôn nhân Kết quả phân tích đặc điểm nhân khẩu học của mẫu khảo sát được trình bày ở bảng phía dưới:
Bảng 2.1 Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu nghiên cứu
Trang 39Kết quả phân tích như sau:
Về độ tuổi, đa số người tham gia khảo sát có độ tuổi từ 22 - 35 tuổi, chiếm 58.0% (116 khảo sát), còn lại là nhóm từ 36 - 55 tuổi, chiếm 42.0% (84 khảo sát)
Về đơn vị công tác, có 54.5% (109) người tham gia khảo sát công tác tại Phòng/Ban/Trung tâm thuộc Trường, còn lại 43.0% (86) công tác tại các Khoa/Bộ môn thuộc Trường Có 2 mẫu khảo sát lựa chọn vị trí công tác khác (1%)
Về trình độ học vấn, nữ viên chức có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ chiếm 74.5% (149), đại học, cao đẳng chiếm 19.0% (38), và có trình độ khác là 1.0% (2)
Về vị trí công tác, chiếm tỉ lệ cao nhất là viên chức hành chính, 45.0% (90), tiếp theo là giảng viên không giữ chức vụ lãnh đạo quản lý, 34.5% (69), viên chức giữ chức vụ quản lý chiếm 11.5% (23) và thấp nhất là giảng viên giữ chức vụ quản
lý, 9.0% (18)
Về tình trạng hôn nhân, những người tham gia khảo sát đã số đã kết hôn và
có con, 68.0% (136), tiếp theo là chưa kết hôn, 24.0% (48), đã kết hôn và chưa có con với 6.5% (13) Có 03 quan sát lựa chọn giá trị khác (1.5%)
2.4 Thực trạng việc sử dụng thời gian nhàn rỗi của nữ viên chức Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM
Thực trạng việc sử dụng thời gian nhàn rỗi của nữ viên chức Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM được nghiên cứu thông qua: (1) tổng thời gian nhàn rỗi, (2) các hoạt động thực hiện trong thời gian nhàn rỗi, (3) các hoạt động thực hiện vào ngày cuối tuần, nghỉ lễ
Bảng 2.2 Tổng thời gian nhàn rỗi của nữ viên chức
Trang 40Người tham gia khảo sát được hỏi về tổng thời gian của mình trong 01 ngày,
đó là thời gian họ không bị chi phối bởi nhu cầu sinh tồn, hay thực hiện các nghĩa
vụ nào khác, có thể sử dụng cho các hoạt động giải trí, tái tạo năng lượng Kết quả cho thấy, thời gian rỗi từ 3 – 4 giờ/ngày chiếm tỉ lệ cao nhất 63% (126), tiếp theo là trên 4 giờ/ngày 19.5% (39), và chiếm tỉ lệ thấp nhất là 1 – 2 giờ/ngày 15.5% (31) Theo một khảo sát của Beko năm 2017 bằng hình thức trực tuyến với 10.100 người đến từ nhiều quốc gia cho thấy thời gian nhàn rỗi trung bình của nữ giới là 2.7 giờ/ ngày So sánh với kết quả này, có 82.5% nhóm nữ viên chức tham gia khác sát có thời gian nhàn rỗi trên 3 giờ/ngày Vì thế, có thể cho rằng nhóm nữ viên chức này
có thời gian nhàn rỗi cơ bản trên mức trung bình chung, tuy vậy vẫn còn một tỉ lệ không nhỏ có thời gian nhàn rỗi quá ít (15.5% chỉ có 1 – 2 giờ/ngày) (Doãn Phong, 2017)
Kiểm định mối quan hệ giữa các biến đặc trưng nhân khẩu học (nhóm tuổi, trình độ học vấn, đơn vị công tác, vị trí công tác, trình trạng hôn nhân) với tổng thời gian nhàn rỗi cho thấy: có sự khác biệt về tổng thời gian nhàn rỗi giữa những người tham gia khảo sát có độ tuổi và đơn vị công tác khác nhau (sig đều bằng 0.000), cụ thể như sau:
Bảng 2.3 Tương quan nhóm tuổi, đơn vị công tác và thời gian nhàn rỗi
Tổng thời gian nhàn rỗi Tổng 1-2
giờ/ngày
3-4 giờ/ngày
trên 4 giờ/ngày