Lịch sử nghiên cứu vấn đề Nam Bộ Đất và Người được Hội Khoa học Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh biên soạn với mục đích là diễn đàn học thuật dành cho các nhà nghiên cứu quan tâm đến lịch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
QUÁCH THANH TOÀN
VĂN HÓA NAM BỘ QUA CÁC SƯU KHẢO CỦA
HUỲNH MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2022
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
QUÁCH THANH TOÀN
VĂN HÓA NAM BỘ QUA CÁC SƯU KHẢO CỦA
HUỲNH MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VIỆT NAM HỌC
MÃ SỐ: 8310630
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS LÊ GIANG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2022
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Lê Giang - người hướng dẫn khoa học cho tôi Thầy hướng dẫn tôi trên tinh thần cởi mở để tôi có thể trình bày quan điểm của mình, Thầy cũng tận tình giúp đỡ về mặt tài liệu khi cho tôi mượn nhiều sách quý mà tôi không tìm thấy ở thư viện, nhà sách
Cảm ơn quý Thầy, Cô của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM đã giảng dạy tôi ở chương trình Thạc sĩ ngành Việt Nam học Các môn học cung cấp cho tôi kiến thức bổ ích để vận dụng trong quá trình viết luận văn Ngoài ra, tôi cũng cảm ơn các chuyên viên khoa Việt Nam học, thư viện Trường, phòng Sau Đại học đã hỗ trợ tôi về mặt thủ tục
Cảm ơn các tác giả của các sách, báo, luận văn, luận án, tài liệu khoa học mà tôi
đã tham khảo, trích dẫn trong luận văn này
Cuối cùng, tôi cảm ơn gia đình luôn thương yêu tôi vô điều kiện và cảm ơn những người bạn đã đồng hành, động viên để tôi hoàn thành luận văn sau đại dịch Covid-19
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Văn hóa Nam Bộ qua các sưu khảo của Huỳnh Minh”
là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tất cả các tư liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Các tài liệu tham khảo và trích dẫn trong luận văn đều được dẫn nguồn và tham chiếu đúng quy định
Tác giả luận văn
Quách Thanh Toàn
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1
3 Mục tiêu nghiên cứu, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học – Ý nghĩa thực tiễn 4
Chương 1 5
TỔNG QUAN VỀ CÁC SƯU KHẢO CỦA HUỲNH MINH VÀ VÙNG VĂN HÓA NAM BỘ 5
1.1 Các khái niệm 5
1.1.1 Văn hóa 5
1.1.2 Sưu khảo, địa chí 6
1.2 Tổng quan về vùng văn hóa Nam Bộ 9
1.3 Giới thiệu tác giả Huỳnh Minh và các công trình sưu khảo của ông 11
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 17
Chương 2 18
VÙNG ĐẤT NAM BỘ QUA CÁC SƯU KHẢO CỦA HUỲNH MINH 18
2.1 Một số câu chuyện lịch sử 18
2.1.1 Câu chuyện Nguyễn Ánh bôn tẩu tránh Tây Sơn 20
2.1.2 Câu chuyện thực dân Pháp xâm lược và nhân dân Nam Bộ kháng cự 24
2.2 Một số câu chuyện địa danh 28
2.2.1 Địa danh phản ánh tính cách mộc mạc của người Nam Bộ 29
Trang 62.2.2 Địa danh sử dụng yếu tố Hán Việt thể hiện khát vọng tốt đẹp của cuộc sống
30
2.2.3 Địa danh phản ánh giao lưu văn hóa người Việt, Khmer, Hoa, Pháp 31
2.3 Di tích 35
2.3.1 Núi Bà Đen 37
2.3.2 Lăng Cá Ông 39
2.3.3 Các hội quán của người Hoa ở Chợ Lớn 47
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 51
Chương 3 52
CON NGƯỜI NAM BỘ QUA CÁC SƯU KHẢO CỦA HUỲNH MINH 52
3.1 Dân cư 52
3.2 Một số nhân vật tôn giáo, tín ngưỡng 59
3.2.1 Đoàn Minh Huyên (Phật Thầy Tây An) 62
3.2.2 Hòa thượng Thích Quảng Đức 67
3.3 Một số tác giả văn học, báo chí 70
3.3.1 Nguyễn Đình Chiểu 71
3.3.2 Trương Vĩnh Ký 75
3.3.3 Sương Nguyệt Anh 80
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 85
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 95
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đối tượng nghiên cứu của ngành Việt Nam học chủ yếu là đất nước, con người, văn hóa Việt Nam nên tôi có sự quan tâm đến các tài liệu viết về vùng đất, con người của một khu vực hoặc một địa phương ở Việt Nam Trong số các tài liệu phải nhắc đến địa chí Địa chí là một loại chuyên khảo (monography) về một vùng lãnh thổ và bản sắc văn hóa xác định (xã, làng, huyện, tỉnh, vùng miền, quốc gia – dân tộc…) Nó nằm trong một khuynh hướng nghiên cứu hiện đại của giới Nhân học văn hóa phương Tây: nghiên cứu vùng (area studies)
Trước năm 1954, địa chí được viết bằng tiếng Hán / Nôm dưới thời phong kiến hoặc viết bằng tiếng Pháp khi Pháp xâm lược Việt Nam Từ năm 1954 đến 1975 có nhiều công trình biên soạn cá nhân có nội dung về lịch sử, văn hóa địa phương dưới dạng “xưa
và nay” theo cấu trúc dạng địa chí Nếu tính về số lượng công trình thì Huỳnh Minh là tác giả đứng đầu với 10 cuốn sưu khảo về các tỉnh, thành ở Nam Bộ Quan trọng hơn hết, chưa có công trình nghiên cứu nào về Huỳnh Minh, đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu các sưu khảo của Huỳnh Minh Do sự nổi bật này nên chúng tôi quyết định chọn các tác phẩm của Huỳnh Minh làm đề tài nghiên cứu
Ngoài ra, phục vụ cho công việc của bản thân, luận văn cung cấp một khối lượng kiến thức bổ ích về vùng đất, con người Nam Bộ phục vụ cho công việc giảng dạy ngành
du lịch của bản thân
Ba ý trên là lý do để tôi tiến hành nghiên cứu luận văn có tên đề tài là “Văn hóa Nam Bộ qua các sưu khảo của Huỳnh Minh”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nam Bộ Đất và Người được Hội Khoa học Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh biên
soạn với mục đích là diễn đàn học thuật dành cho các nhà nghiên cứu quan tâm đến lịch
sử - văn hóa của vùng đất Nam Bộ nói chung, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Tập sách tập hợp các bài viết của các học giả khác nhau, tập trung hai đối tượng nghiên cứu chính là đất và người Nam Bộ Từ năm 2017, các ấn bản được sắp xếp vào hai nhóm chính: Những vấn đề lịch sử - văn hóa Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh và Những vấn đề lịch sử - văn hóa Nam Bộ Tập sách được ra mắt hàng năm, đến năm 2020 là quyển thứ 15
Trang 8Luận văn Thạc sĩ ngành Văn hóa học của Bùi Ngọc Diệp (năm 2006) có hướng tiếp
cận khác Đề tài “Địa chí Nam Bộ dưới góc độ nghiên cứu văn hóa học” nghiên cứu địa
chí Nam Bộ qua các giai đoạn lịch sử:
(1) thời nhà Nguyễn;
(2) thời Pháp thuộc;
(3) năm 1954 – 1975;
(4) từ sau năm 1975 đến nay
Ở mỗi giai đoạn, tác giả giới thiệu một số địa chí tiêu biểu Luận văn đề xuất hướng biên soạn địa chí và giải pháp khai thác, sử dụng địa chí Nam Bộ Tác giả có đề cập đến Huỳnh Minh trong luận văn cũng như giới thiệu các tác phẩm của ông trong giai đoạn năm 1954 đến 1975 như một đại diện tiêu biểu Điểm nổi bật là luận văn có biên bản phỏng vấn bốn nhà sử học / biên soạn địa chí: Phan Đình Nham, Nguyễn Đình Tư, Thạch Phương, Nguyễn Đình Đầu
Luận văn Thạc sĩ ngành Văn học Việt Nam “Văn hóa và con người Nam Bộ trong
truyện của Sơn Nam” của Đinh Thị Thanh Thủy (2004), miêu tả văn hóa Nam Bộ và
con người Nam Bộ thông qua các truyện của Sơn Nam, đồng thời phân biệt phong cách nhà văn Sơn Nam so với các nhà văn Nam Bộ khác cùng thời điểm, cùng hoàn cảnh xã hội
Luận văn Thạc sĩ ngành Văn hóa học “Văn hóa Nam Bộ qua các tác phẩm nhà
văn Sơn Nam” của Võ Văn Thành (2011), ĐH KHXH&NV TP.HCM Phản ánh văn hóa
Nam Bộ qua 2 dạng: biên khảo và các sáng tác văn học của Sơn Nam, trong đó xác định nguồn tài liệu chính là các biên khảo Luận văn này chia thành 2 mảng: văn hóa vật thể
và văn hóa phi vật thể Văn hóa Nam Bộ theo cái nhìn hệ thống – cấu trúc gồm 3 yếu tố:
+ môi trường văn hóa (không gian văn hóa, giao lưu tiếp biến văn hóa)
+ chủ thể văn hóa (các tộc người Việt, Hoa, Khmer, Chăm)
+ hoạt động văn hóa (văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể)
Sơn Nam là một nhà biên khảo không chuyên, ông không nhìn văn hóa Nam Bộ như một hệ thống mà ông gộp chung tất cả lại trong các công trình biên khảo và sáng tác văn học
Lê Thị Thanh Tâm (2011), Văn hóa Nam Bộ qua tác phẩm của Hồ Biểu Chánh,
luận văn Thạc sĩ ngành Văn hóa học Tác giả chọn tiếp cận văn hóa Nam Bộ từ một loại
Trang 9tư liệu đặc biệt là văn học viết Văn học và văn hóa có một mối quan hệ đặc biệt, văn học phản ánh văn hóa theo cách riêng của mình Hồ Biểu Chánh để lại cho đời 64 tiểu thuyết Tác giả tập trung chủ yếu trên các tiểu thuyết để tìm ra những đặc trưng văn hóa Nam Bộ qua các trang viết của nhà văn Luận văn tìm hiểu đặc trưng văn hóa Nam Bộ qua “hình tượng tác giả” Hồ Biểu Chánh với những biểu hiện chính về ý thức sáng tác, chọn đề tài, ngôn ngữ, cách xây dựng hình tượng, phong cách… Tìm hiểu đặc trưng văn hóa Nam Bộ qua nội dung tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, góp phần phân tích đặc điểm giao lưu, tiếp biến giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa phương Tây được phản ánh trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh
Ngoài ra, các công trình như “Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ” (2013) của Trần Ngọc Thêm, “Nam Bộ, những vấn đề lịch sử, văn hóa, xã hội” (2012) của Phan Thị Yến Tuyết, “Đời sống xã hội – kinh tế - văn hóa của ngư dân và cư dân vùng biển Nam Bộ” (2014) của Phan Thị Yến Tuyết Nhìn chung, các công trình đã cung cấp nhiều kiến thức về mảnh đất Nam Bộ Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu văn hóa Nam Bộ thông qua các sưu khảo của Huỳnh Minh Luận văn của chúng tôi hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ vào bức tranh chung của văn hóa Nam Bộ
3 Mục tiêu nghiên cứu, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Huỳnh Minh là một tác giả đáng chú ý vì số lượng sưu khảo lên đến 10 cuốn sách nhưng chưa được nhắc đến nhiều, do đó chúng tôi thực hiện luận văn này với mong muốn tìm hiểu về văn hóa Nam Bộ thông qua các trang viết của Huỳnh Minh
Câu hỏi nghiên cứu: văn hóa Nam Bộ được thể hiện qua các sưu khảo của Huỳnh Minh như thế nào?
- Đối tượng nghiên cứu: văn hóa Nam Bộ Chúng tôi phân tích vùng đất và con người Nam Bộ trong các sưu khảo của Huỳnh Minh để từ đó rút ra các đặc điểm của văn hóa Nam Bộ
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu cả 10 tỉnh Nam Bộ là quá rộng trong phạm vi một luận văn Thạc sĩ, do đó chúng tôi chỉ nghiên cứu ba phần: Lược sử, Di tích, Danh nhân trong 10 cuốn sưu khảo của Huỳnh Minh
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng hướng tiếp cận và các
phương pháp nghiên cứu sau:
- Hướng tiếp cận liên ngành, trong đó lấy Việt Nam học làm trung tâm, ngoài ra còn có các ngành khác: Lịch sử học, Văn hóa học, Tôn giáo học…
Trang 10- Vận dụng phương pháp phân tích và tổng hợp để xử lý các dữ liệu từ tác phẩm của Huỳnh Minh, từ đó rút ra các luận điểm
- Phương pháp so sánh: so sánh Huỳnh Minh với các tác giả khác cùng viết về một đặc điểm văn hóa Nam Bộ nào đó
5 Ý nghĩa khoa học – Ý nghĩa thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: phác họa văn hóa Nam Bộ thông qua góc nhìn của một tác giả, góp một phần nhỏ vào kiến thức chung của đất và người Nam Bộ
- Ý nghĩa thực tiễn: tổng hợp một lượng kiến thức về vùng đất, con người Nam
Bộ để phục vụ cho công việc giảng dạy ngành du lịch của bản thân
6 Cấu trúc luận văn
Luận văn bao gồm các phần:
- Mở đầu
Chương 1: Tổng quan về các sưu khảo của Huỳnh Minh và vùng văn hóa Nam Bộ
Ở chương này, chúng tôi tìm hiểu các khái niệm về văn hóa, địa chí, sưu khảo, lược khảo về vùng văn hóa Nam Bộ cũng như giới thiệu tác giả Huỳnh Minh và 10 cuốn sưu khảo của ông về các tỉnh, thành miền Nam
Chương 2: Vùng đất Nam Bộ qua các sưu khảo của Huỳnh Minh Nghiên cứu vùng đất Nam Bộ, chúng tôi tập trung tìm hiểu lược sử khai phá vùng đất, 10 địa danh của 10 tỉnh, thành và hai di tích nổi bật của Nam Bộ để khắc họa rõ nét văn hóa của vùng đất này
Chương 3: Con người Nam Bộ qua các sưu khảo của Huỳnh Minh Ở phần con người Nam Bộ, chúng tôi phân tích tổng quát về dân cư và đi chi tiết các nhân vật nổi tiếng trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng và lĩnh vực văn học, báo chí để tổng hợp thành những nét nổi bật của văn hóa Nam Bộ
- Kết luận
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 11…
Vì lẽ gì văn hóa các dân tộc lại khác nhau như thế? Vì rằng cách sinh hoạt của các dân tộc không giống nhau Chính vì những điều kiện tự nhiên về địa lý khiến mỗi dân tộc sinh hoạt ở trên cơ sở kinh tế khác nhau, cho nên cách sinh hoạt cũng thành khác nhau vậy Bởi thế muốn nghiên cứu văn hóa của một dân tộc, trước hết phải xét xem dân tộc ấy sinh trưởng ở trong những điều kiện địa lý thế nào” (Đào Duy Anh, 1998,
tr.13)
Toan Ánh trong Văn hóa Việt Nam những nét đại cương:
“Qua các sách vở cũ, hai chữ Văn và Hóa được thấy trong Kinh Dịch nơi câu:
“Quan thiên văn dĩ sát thời biến, quan nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ”, nghĩa là
“Nhìn hiện tượng trên trời để xét sự biến đổi của thời tiết, nhìn hiện tượng của người ta trong xã hội để sửa đổi thiên hạ”
Nghĩa đen Văn là nét vẽ, Hóa là biến đổi
Khi nói đến nét vẽ tức là nói đến sự thể hiện cái đẹp ra bên ngoài, do đó người ta nghĩ tới sự trau chuốt, thanh tao, điều hòa, tinh tế; và khi nói biến đổi, người ta thường mong sự biến đổi cho tốt đẹp hơn, nghĩa là có sự tiến bộ
Xét theo nghĩa đen và qua câu nói trong Kinh Dịch, Văn hóa có thể có nghĩa là biến đổi cái xấu xa cho thành tốt đẹp, cái hỗn tạp cho thành điều hòa để có sự tiến bộ trong nếp sống” (tr 10)
Hai nhà nhân chủng học trứ danh Kroeber và Clyde Khuckhohn trong bài phi lộ cuốn Culture đã mượn lời của một học giả khác, ông Lowell mà thú nhận rằng: “Người
Trang 12ta không thể mô tả văn hóa vì nó muôn mặt Muốn cô đọng ý nghĩa văn hóa thành lời lẽ thì cũng như tay không bắt không khí: ta sẽ thấy không khí ở khắp nơi và riêng trong tay chẳng nắm được gì” (tr 9)
“Nói đến Văn hóa ai cũng có ý niệm, nhưng định nghĩa Văn hóa cho đúng và cho
đủ thật là một sự khó khăn
…
Loài người luôn luôn phải nghĩ tới hoàn cảnh sinh hoạt, phải điều hòa thích ứng với mọi hoàn cảnh từ địa lý, khí hậu thiên nhiên đến xã hội lịch sử bằng cách tạo ra những phương tiện, những điều kiện để sinh hoạt chung cũng như riêng có sự điều hòa Muốn chuyển đạt tình cảm ý tưởng phải tạo ra ngôn ngữ văn tự, muốn chống rét phải tạo ra y phục, lại phải tạo ra nhà cửa để ở, tạo ra xe cộ để di chuyển… Về mặt tinh thần,
để cuộc sống xã hội được bình yên phải có trật tự, và như vậy cần có đạo đức, tôn giáo,
lễ nghĩa và pháp luật… Tất cả những cái con người đã tạo ra để thích ứng với mọi hoàn cảnh đều nằm trong văn hóa” (tr 17)
1.1.2 Sưu khảo, địa chí
Huỳnh Minh tự gọi các cuốn sách của mình là sách sưu khảo, nghĩa là sưu tầm và khảo cứu Vậy, sưu tầm là gì, khảo cứu là gì?
Khái niệm sưu tầm: Việt Nam cũng như các nước phương Đông khác chịu ảnh hưởng của Nho học nên chữ Hán được sử dụng chủ yếu thời phong kiến, do đó những từ có
phát âm từ gốc chữ Hán rất nhiều Từ “sưu tầm” cũng không ngoại lệ Theo Từ điển Từ
và ngữ Việt Nam (2000) của tác giả Nguyễn Lân: “sưu tầm” có ý nghĩa chữ Hán như
sau: sưu là góp lại, tầm là tìm Sưu tầm là tìm kiếm công phu và góp lại Từ điển tiếng
Việt (2010) của Viện Ngôn ngữ học: sưu tầm là tìm kiếm, thu thập một cách có hệ thống
(Hoàng Phê, 2010, tr 1127)
Khái niệm khảo cứu: Từ điển Từ và ngữ Việt Nam (2000) cho rằng: theo chữ Hán
“cứu” là xét hỏi, tìm tòi, cho nên đã định nghĩa: Khảo cứu là tìm tòi và nghiên cứu để
nắm vững vấn đề về khoa học (Nguyễn Lân, 2000, tr 928) Từ điển tiếng Việt (2010)
của Viện Ngôn ngữ học định nghĩa: Khảo cứu là tìm hiểu bằng cách nghiên cứu, đối chiếu các sách vở, tài liệu cũ (Hoàng Phê, 2010, tr 637)
Các quan niệm về “địa chí”:
Trang 13Theo Hán Việt Từ điển giản yếu của Đào Duy Anh thì: “Địa” là vùng đất, miền,
địa phương “Chí” là ghi chép “Địa chí”: sách ghi chép dân phong, sản vật, địa thế các địa phương (monographie) (Đào Duy Anh, 2005, tr 220)
“Địa chí là một loại chuyên khảo (monography) về một vùng lãnh thổ và bản sắc
văn hóa xác định (xã, làng, huyện, tỉnh, vùng miền, quốc gia – dân tộc…) Nó nằm trong một khuynh hướng nghiên cứu hiện đại của giới Nhân học Văn hóa phương Tây: nghiên cứu vùng (area studies)…” (Trần Quốc Vượng, 2002, tr 16)
“Hai tiếng địa chí quen thuộc thường dùng để chỉ một loại công trình ghi chép,
miêu tả, nói khác đi là thông tin nhiều mặt của một địa phương hoặc rộng (như tỉnh chí), hoặc hẹp (như xã chí)” (Nguyễn Đổng Chi ch.b., 1995, tr 9)
“Địa là một vùng đất, một khu vực, một địa phương; chí là ghi chép Địa chí là
loại sách ghi chép về địa lý, lịch sử, sản vật, nghề nghiệp, dân phong, các loại hình văn nghệ về một địa phương” (Ninh Viết Giao, 2000, tr 13)
Tóm lại, có thể rút ra một số nét chung về địa chí như sau:
* Về nội dung, địa chí được xác định bởi hai yếu tố chính:
- Tính vùng: nội dung, đề tài của địa chí thể hiện rõ tính chất vùng (có thể
là một xã, một huyện, một tỉnh hoặc rộng hơn là một vùng lãnh thổ, một quốc gia)
- Tính tổng hợp: nội dung của địa chí mang tính tổng hợp, bao gồm những tri thức toàn diện có hệ thống về địa lý, lịch sử, văn hóa – xã hội Trong đó địa lý (không gian) là yếu tố thứ nhất, lịch sử (thời gian) là yếu tố thứ hai
* Về thể loại, địa chí rất gần hoặc có thể xếp vào Địa lý học Lịch sử Có thể nói địa chí là một loại chuyên khảo (monographie) về một vùng lãnh thổ và bản sắc văn hóa xác định
Địa chí được ghi chép khách quan, cụ thể về một vùng lãnh thổ trong một thời điểm lịch sử nhất định, không phân biệt ngôn ngữ, văn tự Sách địa chí có giá trị lịch sử, khoa học, văn hóa, là nguồn tư liệu nhằm đáp ứng các nhu cầu nhận thức, giáo dục và phục vụ thực tiễn nghiên cứu địa phương, đất nước Tóm lại, địa chí mô tả tổng quát về một địa phương, như là một bác vật = bách khoa toàn thư Các công trình sưu khảo của Huỳnh Minh đều có tính chất địa chí
Trang 14Ở Trung Quốc cũng như ở nước ta xưa kia đã có truyền thống viết địa chí Địa chí là loại sách ghi chép các mặt địa hình, khí hậu, cư dân, chính trị, sản vật, giao thông
đi lại, danh nhân, phong tục… trên phạm vi toàn quốc (Đại Nam nhất thống chí) hay
theo từng đơn vị hành chính, từ đơn vị nhỏ nhất là làng, xã cho đến huyện, tỉnh Địa chí
dù trên phạm vi toàn quốc hay hẹp hơn như xã, huyện cũng đều không phải là việc ghi chép văn hóa theo vùng Tuy nhiên, việc hoạch định các đơn vị hành chính xưa, như xứ, trấn, tỉnh, cha ông đã có cảm quan văn hóa khá rõ rệt, do vậy việc xem xét, quan sát và biên soạn các sách địa chí theo địa dư hành chính ít nhiều cũng chứa đựng những hiểu biết về diện mạo môi trường tự nhiên, dân cư và sinh hoạt văn hóa liên quan tới vùng
Các sách mang tính chất là “chí” (ghi chép) hay “địa chí” (ghi chép theo địa dư)
xuất hiện ở nước ta từ khá sớm, từ thời Trần, Lê như An Nam Chí Lược của Lê Tác, Dư
Địa chí của Nguyễn Trãi và cho đến tận ngày nay người ta vẫn nối tiếp truyền thống đó
Xưa kia, cha ông ta viết địa chí bằng chữ Hán, Nôm, sau này bằng chữ quốc ngữ
Phạm vi của các cuốn sách địa chí cũng rất đa dạng Trước hết phải kể đến những
sách địa chí mang tính toàn quốc, như An Nam chí lược, Dư Địa chí, Đại Nam nhất
thống chí, Hoàng Việt nhất thống chí Cũng có những cuốn sách đề cập đến một vùng,
nay tương đương với nhiều tỉnh, như Ô Châu cận lục của Dương Văn An (nay tương đương ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế), Hưng Hóa ký lược của Phạm Thận Duật (nay tương đương với Sơn Tây, Phú Thọ, Tuyên Quang), Gia Định thành
thông chí của Trịnh Hoài Đức (gồm nhiều tỉnh Nam Bộ sau này) Đa số các địa chí
khuôn trong phạm vi tỉnh, như Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch, Tuyên Quang phong
thổ ký của Nguyễn Văn Bân, Sơn Tây tỉnh địa chí của Phạm Xuân Độ, Bắc Giang địa chí và Hưng Yên địa chí của Trịnh Như Tậu, Ninh Bình phong vật chí của Thiện Đình…
Cũng không ít sách nói về địa chí các huyện, xã như Nghi Xuân huyện chí của Lê Văn Diễn, Quỳnh Côi huyện chí của Ngô Vi Liễn, Quỳnh Đôi hương biên, Trà Lũ xã chí,
Thiện Đình xã chí của Đặng Xuân Viện… (Vũ Ngọc Khánh, 1985; Đỗ Thị Hảo, 1983)
dẫn lại từ Ngô Đức Thịnh, tr 51
Ngoài một số rất ít những cuốn sách sử dụng hình thức sáng tác văn nghệ, như
Bài ca Tây Hưng, Hoan Châu phong thổ ký thì hầu hết các cuốn sách chí, địa chí đều
viết theo kiểu ghi chép và khảo cứu Chính cách đó vừa giúp cho người viết vừa có thể
Trang 15đề cập đến những vấn đề rộng lớn, lại vừa đi vào các chi tiết cụ thể về một vùng đất, một con người, một tính cách, một phong tục, một bài ca
Nội dung của các sách địa chí rất phong phú và đa dạng, chứa đựng nhiều tư liệu quý về tự nhiên, xã hội, con người của đất nước cũng như của địa phương Để có ý niệm chung, chúng ta có thể dẫn ra đây các phần nội dung của một vài cuốn địa chí Tiêu biểu
nhất là cuốn Đại Nam nhất thống chí do Quốc Sử quán triều Nguyễn biên soạn, trình
bày địa chí toàn bộ đất nước theo địa dư các tỉnh Trong mỗi tỉnh, địa chí được trình bày theo các phần sau: phân dã, dựng đạt và diên cách, hình thế, khí hậu, phong tục, thành trì, trường học, nhân khẩu, thuế ruộng, núi sông, cổ tích, cửa quan và tấn sở, nhà trạm, chợ, phố, cầu đò, lăng mộ, đê đập, đền miếu, chùa quán, nhân vật, thổ sản… (Ngô Đức Thịnh (2004), Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, NXB Trẻ)
1.2 Tổng quan về vùng văn hóa Nam Bộ
Về nguyên tắc chung, vùng văn hóa không hoàn toàn là vùng địa lý và càng không phải là vùng hành chính, bởi thế ranh giới của nó không trùng hợp với vùng hành chính Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, khi xem xét vùng văn hóa, nhất là các nhân tố tác động đến vùng văn hóa không thể không kể tới tác nhân quyền lực hành chính, mà một mặt
nó góp phần cào bằng khác biệt văn hóa trong phạm vi nó phát huy ảnh hưởng; mặt khác, không phải nó không góp phần tạo nên sự khác biệt văn hóa giữa vùng hành chính này với vùng hành chính kia
Người ta có thể gọi tên các vùng văn hóa theo nhiều cách, theo đơn vị hành chính nếu như giữa vùng văn hóa cụ thể nào đó có sự trùng hợp nhất định với đơn vị hành chính, như Thăng Long – Hà Nội, Kinh Bắc…; hay gọi theo tên vùng, như Tây Nguyên, Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ; gọi theo tên các dòng sông mà ở đó vùng văn hóa quy tụ, như vùng sông Mã, sông Lam, sông Hương, sông Thu Bồn, sông Đồng Nai… miễn sao tên gọi tương đối thích hợp với phạm vi và những đặc trưng văn hóa vùng (Ngô Đức Thịnh, tr 73)
Vùng văn hóa Nam Bộ thuộc địa phận các tỉnh Nam Bộ, hình thành trên vùng châu thổ của hai hệ thống sông chính là sông Cửu Long ở phía tây và sông Đồng Nai ở phía đông Một vùng đất màu mỡ được con người khai thác và thuần phục chưa lâu, càng về phía tây, đất đai càng rộng, nhiều rừng rậm và sình lầy, thủy triều ảnh hưởng sâu vào nội địa, đất đai còn bị nhiễm chua mặn, khí hậu với hai mùa mưa và mùa khô rõ rệt
Trang 16Trên lưu vực sông Cửu Long, người Việt, Khmer, Hoa chung sống, trong đó người Khmer sống chủ yếu trên các giồng đất cao chạy dọc các triền sông Ở đây, từ lâu con người đã học được nếp sống hòa điệu với thiên nhiên, khai thác nguồn tài nguyên dồi dào của vùng đất mới, nương tựa, đùm bọc nhau chống lại những thách thức, đe dọa của
tự nhiên và xã hội Lưu vực sông Đồng Nai, nhất là đoạn trung và thượng lưu, tiếp giáp với nam Tây Nguyên, có cảnh quan địa hình bán sơn địa, nơi người Việt chung sống với các tộc người Stieng ở Bình Phước, K’hor ở Lâm Đồng Vùng hạ lưu sông Đồng Nai, nhất là đoạn từ Sài Gòn đổ ra biển thì cảnh quan cũng tương tự như đồng bằng sông Cửu Long
Hiện tại, người ta đã tìm thấy dấu vết của con người thời tiền sử ở lưu vực hai con sông kể trên Vào giai đoạn kim khí, cư dân ở đây đã sáng tạo nên nền văn hóa đồng thau và sắt khá rực rỡ, có quan hệ giao lưu với các nền văn hóa khác xung quanh, như với Sa Huỳnh ở Trung Bộ, Đông Sơn ở Bắc Bộ Ở đây, khoảng đầu Công nguyên đã hình thành các trung tâm kinh tế, văn hóa lớn, nhà nước cổ đại, tiêu biểu là cảng thị Óc
Eo, đã có quan hệ thương mại với Ấn Độ và xa hơn là phương Tây
Trong nhiều thế kỷ trước kia cũng như hiện nay, Nam Bộ là nơi sinh sống xen cài giữa các cộng đồng người Việt, Khmer, Hoa, Chăm, nên nơi đây cũng đã và đang diễn
ra quá trình giao lưu, ảnh hưởng văn hóa sống động giữa các tộc người trên, từ đó nảy
nở những giá trị văn hóa chung, thể hiện trong đời sống văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, như nhà cửa, ăn mặc, đi lại, trong đời sống tôn giáo, vui chơi giải trí, sinh hoạt nghệ thuật Hoàn cảnh tự nhiên và lịch sử khai thác vùng Nam Bộ cũng đã tôi luyện con người nơi đây những tính cách tiêu biểu: dũng cảm, hiên ngang, hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, phóng khoáng, mến khách, bộc trực, nhạy cảm với cái mới
Ngô Đức Thịnh phân chia vùng văn hóa Nam Bộ thành ba tiểu vùng: (tr 85)
“Chúng ta cũng có thể nhận ra những khác biệt địa phương của vùng văn hóa qua
các tiểu vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), tiểu vùng sông Đồng Nai và tiểu
vùng Sài Gòn – Gia Định
- Tiểu vùng văn hóa ĐBSCL bao gồm vùng đồng bằng rộng lớn Tây Nam Bộ, là
địa bàn sinh sống của người Việt, Khmer, Hoa, Chăm Đây là vùng đất mới khai thác, nhiều nơi như U Minh, Đồng Tháp Mười còn sình lầy, rừng rậm, đất đai còn bị nhiễm phèn, mặn, nguồn tài nguyên thủy sản phong phú, nhiều nơi cư dân
Trang 17còn thưa thớt Chính môi trường thiên nhiên phần nào còn hoang sơ, cũng như số phận con người lưu lạc tới khai phá vùng này được phản ánh đầy đủ trong các sáng tác dân gian: truyện cổ, truyền thuyết, ca dao, các loại dân ca, cũng như tính cách con người Nam Bộ
- Tiểu vùng sông Đồng Nai bao gồm đất đai được tạo nên bởi lưu vực con sông
này, là vùng đất đã được con người đến sinh sống và khai thác sớm hơn cả, làng xóm khá trù phú, ngoài làm ruộng nước thì cư dân làm vườn Trồng cấy các cây đặc sản Đô thị vùng này hình thành sớm, nhất là dọc các trục lộ giao thông Các hình thức sinh hoạt văn hóa thể hiện tính chất quá độ giữa văn hóa người Việt miền Trung với người Việt ở ĐBSCL
- Tiểu vùng văn hóa Sài Gòn – Gia Định là trung tâm văn hóa của cả Nam Bộ,
cũng như đây là dạng văn hóa đặc thù của cư dân đô thị
1.3 Giới thiệu tác giả Huỳnh Minh và các công trình sưu khảo của ông
Huỳnh Minh sinh năm 1913, cùng thời với nhà văn Sơn Nam (sinh năm 1926) So với Sơn Nam thì thông tin về Huỳnh Minh rất ít Wikipedia giới thiệu Huỳnh Minh sinh tại một làng thuộc tổng Hòa Quới ở cù lao An Hóa, đương thời thuộc tỉnh Mỹ Tho, nay
là xã Giao Long, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre Ông vốn là chủ cơ sở xuất bản Cánh
Bằng ở số 585/88 đường Phan Đình Phùng (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu), Sài Gòn
Huỳnh Minh là người đam mê sưu tập các nguồn tư liệu xưa và nay về lịch sử, văn hóa, xã hội ở Nam Bộ Ngoài ra, ông còn nghiên cứu Đông y
Thạch Phương và Đoàn Tứ (2001) thông tin:
Huỳnh Minh – tên thật là Huỳnh Khắc Vịnh – từ chỗ là chủ hiệu sách ở đường Phan Đình Phùng (Sài Gòn), đã say mê sưu tập các nguồn tài liệu xưa và nay về lịch sử, văn hóa, xã hội ở Nam Bộ Ông dành khá nhiều thì giờ, đi về từng địa phương, tìm hiểu thêm thực tế và tiến hành biên soạn “địa phương chí” của từng tỉnh Kể từ cuốn
Địa linh nhân kiệt – Kiến Hòa xưa và nay viết về Bến Tre, quê hương ông, từ năm
1963 đến năm 1973, Huỳnh Minh đã cho ra đời 10 tập sách thuộc dạng này Đó là
những quyển Bạc Liêu xưa và nay, Cần Thơ xưa và nay, Định Tường xưa và nay, Sa
Đéc xưa và nay, Gia Định xưa và nay, Tây Ninh xưa và nay, Vũng Tàu xưa và nay, Vĩnh Long xưa và nay… Ở các quyển sách thuộc dạng “sưu khảo” này – chữ dùng
Trang 18của tác giả - ngoài phần văn chương (chiếm tỉ lệ không cao) còn có những tư liệu bổ ích về lịch sử, văn hóa, xã hội và kinh tế” (tr 731)
“Chúng tôi, một nhóm văn nhân ký giả nghèo tiền nhưng không nghèo tâm chí, nhận thấy chỗ khiếm khuyết cần được bồi bổ trong nền văn học quốc gia, muốn đáp ứng
sự đòi hỏi của một số đông đồng bào thật lòng yêu nước, sau mấy phen phiêu lưu đầy huyết lệ đã nhận chân được đâu là nguồn sống và phát triển của dân tộc, chúng tôi không ngần ngại lãnh làm cái công việc vừa khó khăn vừa bạc bẽo: sưu tầm khảo cứu
và xuất bản loại sách tìm hiểu danh lam, thắng cảnh và nhân vật nước non nhà.” (cuốn
Bạc Liêu) “Mục đích của chúng tôi là phụng sự văn hóa, góp công tô điểm quê hương,
bảo tồn di tích lịch sử nước non nhà Nêu các gương trung dũng ái quốc của các bậc danh nhân chí sĩ, làm sống lại hùng khí của người xưa, bảo vệ dân tộc tính, đó là lý tưởng duy nhứt của chúng tôi vậy” (Gò Công, lời giới thiệu)
Bến Tre là quê hương của Huỳnh Minh nên cuốn sưu khảo đầu tiên ông viết là tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre) Huỳnh Minh đặt tên cuốn sách: “Địa linh Nhơn kiệt: tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre) xưa và nay”, ông dành những lời tự hào để viết về nơi chôn nhau cắt rốn:
“miền Nam nổi danh nhứt do vị trí lưu vực Cửu Long Giang, riêng tỉnh Kiến Hòa đã chiếm trọn năm cửa của Cửu Long huyền bí, và cũng là vị trí của ba cù lao lớn tam châu, quả nhiên là nơi kết tinh của Tổ quốc, nhờ ảnh hưởng địa lý mà tỉnh Kiến Hòa trổ sanh nhiều nhơn kiệt” (Huỳnh Minh, 1965, tr 51) Các tỉnh là mười mấy hòn học quý hợp
thành vương miện của nữ hoàng Nam Việt Huỳnh Minh (10 cuốn): Kiến Hòa xưa và
nay (1965), Gia Định xưa và nay (1973), Gò Công xưa và nay (1966), Cần Thơ xưa và nay (1966), Bạc Liêu xưa và nay (1966), Vĩnh Long xưa và nay (1967), Định Tường xưa
và nay (1970), Vũng Tàu xưa và nay (1970), Sa Đéc xưa và nay (1971), Tây Ninh xưa
và nay (1972) Các sưu khảo này được xuất bản những năm 1960 – 1970 có tên “… xưa
và nay” (ví dụ: Cần Thơ xưa và nay), đến năm 2001 và 2002 bộ sách này được Nhà xuất bản Thanh Niên tái bản với tên “… xưa” (ví dụ: Cần Thơ xưa)
10 quyển sưu khảo được Huỳnh Minh viết theo một đề cương tương đối thống nhất, chúng tôi tóm tắt trong bảng sau:
Trang 19Phần 1 Phần 2 Phần 3 Phần 4 Phần 5 Phần 6 Phần 7 1.Kiến
Hòa
(1965)
Sử lược, Địa lý
Di tích, Huyền sử
Danh nhân
Các giáo phái
2.Bạc
Liêu
Sử lược, Địa lý
Danh nhân
Địa danh, giai thoại, huyền sử
Di tích, Thắng cảnh, Cổ tục
Thơ ca, Tập quán
Trên đường phục hưng
3.Cần
Thơ
(1966)
Sử lược, Địa lý
Danh nhân
Di tích, Huyền
sử, Giai thoại
Văn vật, Nghệ thuật
Cần Thơ xưa,
Phong Dinh nay
4.Vĩnh
Long
(1967)
Sử lược, Địa lý
Di tích, Huyền
sử, Giai thoại
Tôn giáo Vĩnh Long
văn vật
Vĩnh Long ngày nay
5.Gò
Công
(1969)
Sử lược, Địa lý
Di tích, Huyền sử
Danh nhân
Huyền sử, Giai thoại, Tục lệ cổ truyền 6.Định
Tường
Sử lược, Địa lý
Danh nhân
Di tích lịch sử
Huyền sử, Giai thoại
Văn hóa nghệ thuật, Thi thơ
Định Tường ngày nay
7.Vũng
Tàu
(1970)
Sử lược, Địa lý
Di tích lịch sử
Du lịch Vũng Tàu
Vũng Tàu đượm tình thi vị
Vũng Tàu ngày nay
Trang 208.Sa Đéc
(1971)
Sử lược, Địa lý
Danh nhân
Di tích, Huyền sử
Tôn giáo, Đình chùa
Huyền thoại, Giai thoại
Kịch nghệ, Văn hóa, Giáo dục
Kinh tế
9 Tây
Ninh
Sử lược, Địa lý
Di tích lịch sử
Danh nhân
Huyền thoại, Giai thoại
Chùa, đình, nhà thờ
Văn học nghệ thuật
Tây Ninh năm
Di tích lịch sử
Danh nhân
Huyền thoại, giai thoại, địa danh
Tôn giáo Văn hóa
nghệ thuật
Gia Định ngày nay
Thời kỳ 1954 – 1975, nếu tính về số lượng công trình thì Huỳnh Minh là tác giả đứng
đầu với 10 cuốn sưu khảo về từng tỉnh thành ở Nam Bộ Bộ sách được xây dựng theo
những tiêu chí tương đối thống nhất, cơ cấu gồm sáu hoặc bảy phần:
(1) Lịch sử Địa lý tổng quát;
(2) Danh nhân lịch sử Nhân vật cận đại
(3) Di tích – Huyền sử - Giai thoại
(4) Tôn giáo
(5) Văn học
(6) Văn hóa – Xã hội
(7) Sinh hoạt kinh tế và Công kỹ nghệ Nguồn lợi thiên nhiên
Việc bố trí các phần của cuốn sưu khảo này so với cuốn sưu khảo kia cũng không
thật sự thống nhất Ví dụ, trong khi phần 3 của cuốn Cần Thơ là Di tích, Huyền sử, Giai
thoại thì phần 3 của cuốn Định Tường là Di tích, phần 4 mới là Huyền sử, Giai thoại
Cái hay và khéo của Huỳnh Minh là ông tặng các sách sưu khảo cho những người
nổi tiếng và muốn biết cảm nghĩ của họ về các sách này (trong cuốn Gò Công) Nhờ
những vị này viết bài giới thiệu ở phần đầu sách Cái hay của Huỳnh Minh là ở mỗi cuốn
đều dành một phần cảm nhận / nhận xét về cuốn sách đó từ những người nổi tiếng, nhờ
đó làm tăng sự tin tưởng của người đọc
Trang 21Phần đầu sách Phần cuối sách 1.Kiến Hòa Cụ Đào Văn Hội - một nhà khảo cứu về văn
học lịch sử lắm người biết, đã xuất bản nhiều
sách có giá trị như: Danh nhân nước nhà, Ba
nhà chí sĩ họ Phan, Lịch trình hành chánh Nam phần, Từ điển hỏi ngã…
2.Bạc Liêu Không có
3.Cần Thơ T.T Phạm Văn Tương (Phong Dinh) T.T Phạm Văn Tương
(Phong Dinh) 4.Vĩnh Long ông Trương Văn Đức - Giám đốc Nha Tiểu
học; Hội trưởng Hội Tương tế tỉnh Vĩnh Long 5.Gò Công Trịnh Huy Tiến - Giám đốc Nha Văn hóa
6.Định
Tường
Không có
7.Vũng Tàu Giáo sư Nguyễn Lương Hưng – nguyên cố
vấn đặc biệt Bộ Thông tin
8.Sa Đéc Giáo sư Trần Văn Quế - cựu giảng sư Đại học
Văn Khoa Sài Gòn và Vạn Hạnh Nguyên Bộ trưởng Nghiên cứu Cải cách 1951-1952 Hiệu trưởng trường Trung học Kiến thiết Sài Gòn
Ông cũng là một chức sắc thiên phong của Đại Đạo Tam Kỳ
9 Tây Ninh Không có
10 Gia Định Không có
Các cuốn sách viết sau này đều sử dụng các sưu khảo của Huỳnh Minh như là một
trong các tài liệu tham khảo Điển hình là cuốn Tây Ninh đất và người vừa xuất bản năm 2020, trong phần lời ngỏ của cuốn sách nhắc đến sưu khảo Tây Ninh xưa và nay của Huỳnh Minh: “Cuốn sách cho thấy một bức tranh vừa tổng thể vừa chi tiết với
Trang 22nhiều tài liệu về Tây Ninh, từ trong thư tịch cho đến những ghi chép trong dân gian…Và những người nghiên cứu đi sau không thể không “kế thừa” khi nghiên cứu
về vùng đất này” (Nhiều tác giả, Tây Ninh đất và người, tr 9)
Trang 23TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Huỳnh Minh là tác giả của 10 cuốn sưu khảo về các tỉnh, thành miền Nam được viết trong khoảng thời gian từ năm 1965 đến năm 1973 Ông gọi các sách của mình là
“sưu khảo”, nghĩa là “sưu tầm và khảo cứu” Các công trình này đều mang tính chất địa
chí, ghi chép về một vùng đất Trong hoàn cảnh chiến tranh mà ông điền dã và khảo cứu
tài liệu để biên soạn 10 cuốn sưu khảo các tỉnh Nam Bộ là một điều ấn tượng Liệt kê
các cuốn sưu khảo theo thứ tự năm xuất bản: Kiến Hòa xưa và nay (1965), Gia Định
xưa và nay (1973), Gò Công xưa và nay (1966), Cần Thơ xưa và nay (1966), Bạc Liêu xưa và nay (1966), Vĩnh Long xưa và nay (1967), Định Tường xưa và nay (1970), Vũng Tàu xưa và nay (1970), Sa Đéc xưa và nay (1971), Tây Ninh xưa và nay (1972) 10 cuốn
sưu khảo được Huỳnh Minh viết theo một cấu trúc tương đối thống nhất, chia thành các phần khác nhau từ Lược sử cho đến Di tích, Danh nhân, Kinh tế… Huỳnh Minh rất khéo léo khi nhờ các nhân vật nổi tiếng viết lời giới thiệu, nhận xét trong các cuốn sách của ông Bộ sách này đã được nhà xuất bản Thanh Niên tái bản vào năm 2001 và 2002 Nếu phân chia địa chí theo tiêu chí giai đoạn lịch sử thì xét trong giai đoạn năm 1954 cho đến năm 1975, Huỳnh Minh là tác giả đứng vị trí số một về số lượng tác phẩm
Trang 24Chương 2
VÙNG ĐẤT NAM BỘ QUA CÁC SƯU KHẢO CỦA HUỲNH MINH
2.1 Một số câu chuyện lịch sử
Huỳnh Minh trình bày sử lược mỗi tỉnh ở phần đầu tiên của mỗi cuốn sưu khảo,
từ khi vùng đất này thuộc về vương quốc Phù Nam, sau đó bị Chân Lạp thôn tính cho đến các cuộc chiến giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn Tựu trung lại, chúng tôi chọn lọc những điểm chung của cả mảnh đất Nam Bộ và trình bày tóm tắt trong bảng sau: Thế kỷ 1 - 6 Vương quốc Phù Nam chiếm trị
Thế kỷ 7 - 16 Nhiều dân tộc sống rải rác, người Miên, Chàm, Mã Lai, Tàu, không có
một chính quyền cai trị nào vững chắc Đầu thế kỷ 17 Nhân dân miền Trung (vùng Quảng Nam, Quy Nhơn, Phú Yên) thường
xuyên bị mất mùa, cộng thêm chúa Trịnh, chúa Nguyễn đánh nhau cho nên người dân di cư vào Nam
Năm 1679 Người Tàu di dân vào Nam Dương Ngạn Địch đến vùng đất Mỹ Tho
ngày nay, còn Trần Thượng Xuyên đến Biên Hòa ngày nay
Năm 1698 Chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược đất Chân Lạp Tổ
tiên ta bắt đầu chiếm trị đất Nam Kỳ kể từ đây
Năm 1714 và
mấy năm sau
Mạc Cửu đưa trấn Hà Tiên qui phụ vào Nam triều: Hà Tiên, Cà Mau), Rạch Giá), Trấn Giang (Phong Dinh), Bạc Liêu,
Năm 1776 Quân Tây Sơn đưa quân vào Nam Nguyễn Ánh và Tây Sơn giao tranh
nhiều trận
Năm 1802 Nguyễn Ánh đánh bại Tây Sơn, thống nhất Nam Trung Bắc và lên ngôi
vua, lấy hiệu là Gia Long Năm 1832 Tả quân Lê Văn Duyệt mất
Vua Minh Mạng bãi bỏ chức Tổng trấn, đổi năm trấn của Gia Định thành ngày trước thành 6 tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên Do đó, miền Nam có danh xưng Nam Kỳ lục tỉnh
Năm 1859 Pháp chiếm Gia Định
Năm 1862 Triều đình Huế ký Hòa ước Nhâm Tuất, Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông:
Biên Hòa, Gia Định, Định Tường Năm 1867 Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây
Năm 1874 Hòa ước Giáp Tuất, triều đình Huế công nhận 3 tỉnh miền Tây là thuộc
địa của Pháp Đổi lại, Pháp trả lại các tỉnh Bắc kỳ
Năm 1899 Pháp bãi bỏ chữ Tham biện (Inspection) và gọi là tỉnh (Province) Tháng 3/1945 Quân đội Nhật lật đổ chính quyền Pháp
Tháng 8/1945 Vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị
Trang 25Huỳnh Minh cũng tóm gọn sự thay đổi từ 6 tỉnh thời Nam Kỳ lục tỉnh sang 22 tỉnh thời Pháp thuộc theo bảng đối chiếu sau:
Tên tỉnh cũ năm 1832
Gia Định Biên Hòa Định Tường Vĩnh Long An Giang Hà Tiên
Tên tỉnh thuộc Pháp năm 1944
Gia Định Biên Hòa Mỹ Tho Vĩnh Long Châu Đốc Hà Tiên
Gòn xưa được diễn tả rõ trong bài Cổ Gia Định vịnh:
“Phủ Gia Định, phủ Gia Định nhà đủ người no chốn chốn
Xứ Sài Gòn, xứ Sài Gòn ở ăn vui thú nơi nơi
Lạc thổ nhóm bốn dân, sĩ nông công thương, ngư tiều canh mục
Quy thành xây tám hướng, càn khảm cấn chấn tốn ly khôn đoài
Lợi đất thinh thinh xóm Vườn Mít, bình trời vòi vọi núi Mô Xoài
Đông đảo thay phường Mỹ Hội, sum nghiêm bấy làng Tân Khai
Ngói liễn đuôi lân, phố thương khách nhà ngang nhà dọc
Hiên sè cánh én, nhà quan dân hàng vắn hàng dài
Gái nha nhuốc tay vòng tay chuỗi, trai xinh xang chơn hớn chơn hài
Dù võng nghinh ngang chợ Điều Khiển, quan quân rậm rật cầu Khâm Sai…”
(Huỳnh Minh, 1973, tr 18) Quang cảnh thanh bình là vậy, ngờ đâu quân Pháp xâm lược gây nên cảnh chiến tranh Giặc Pháp đánh chiếm ba tỉnh miền Đông (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường),
Trang 26triều đình Huế đành nhượng cho Pháp phần đất ấy Năm 1867, Pháp chiếm luôn ba tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên)
Qua phần sử lược của tất cả các tỉnh, chúng tôi nhận thấy hai điểm nổi bật qua các trang viết của Huỳnh Minh:
- Dấu ấn của Nguyễn Ánh ở Nam Bộ trên đường bôn tẩu trốn quân Tây Sơn
- Dấu ấn Pháp xâm lược và nhân dân Nam Bộ chiến đấu chống Pháp
Để thể hiện dấu ấn của Nguyễn Ánh trên mảnh đất Nam Bộ, chúng tôi lựa chọn
nghiên cứu về: Gành Rái (cuốn Vũng Tàu xưa và nay), thủy liễu (cuốn Kiến Hòa xưa và
nay), kinh Cạnh Đền và sông Ông Đốc (cuốn Bạc Liêu xưa và nay) Đối với dấu ấn Pháp
xâm lược ở Nam Bộ, chúng tôi trình bày về Bạch Dinh (cuốn Vũng Tàu xưa và nay), anh hùng dân tộc Trương Định (cuốn Gò Công xưa và nay)
2.1.1 Câu chuyện Nguyễn Ánh bôn tẩu tránh Tây Sơn
Huỳnh Minh cho rằng: “vùng Định Tường, Kiến Hòa thuộc về công đầu khai sáng của chúa Nguyễn Vì vậy, tất cả chuyện cổ tích xưa nhứt đều bắt đầu bằng chuyện Gia Long tẩu quốc” (Huỳnh Minh, 1965, tr 51) Quả thật vậy, nghiên cứu các sách sưu khảo của Huỳnh Minh, chúng tôi nhận thấy rằng các câu chuyện liên quan đến Nguyễn Ánh được nhắc đến nhiều Trải dài từ tỉnh Vũng Tàu cho đến tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre)
và tận cùng của đất nước là tỉnh Cà Mau, đâu đâu cũng có dấu ấn của chúa Nguyễn
*Gành Rái
Vũng Tàu có gành mang tên Gành Rái Theo Huỳnh Minh (1970), trên đường bôn tẩu trốn quân Tây Sơn, thuyền của Nguyễn Ánh đến nơi này thì trời nổi giông bão, Nguyễn Ánh phải tấp thuyền vào gành để trú ẩn Vì bãi biển lài xa nên Nguyễn Ánh và quan quân phải đi bộ một đoạn vào bờ, dấu chân in đầy trên bùn lầy Bỗng đâu có bầy rái cá xuất hiện, xóa đi các dấu chân vì thế Nguyễn Ánh được an toàn Từ đó, người dân đặt tên gành này là Gành Rái Ngoài ra, câu chuyện rái cá giúp Nguyễn Ánh còn được biết đến ở Phú Quốc với nội dung tương tự, khi Nguyễn Ánh chạy trốn quân Tây Sơn,
để lại đầy vết chân trên bãi cát thì một bầy rái cá cũng giúp xóa dấu chân Khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu là Gia Long, nhớ ơn cứu mạng nên vua sắc phong cho rái cá
là Lang Lại Đại Tướng Quân và lệnh cho các đình phải thờ thêm vị thần Rái Cá
*Cây thủy liễu
Trang 27Tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre) cũng lưu lại vết tích của Nguyễn Ánh Theo Huỳnh Minh (1965), ở tỉnh Kiến Hòa, giữa sông Hàm Luông có cù lao Đất, gọi “Đất” nghĩa là đất do phù sa bồi lên Có lần Nguyễn Ánh theo đường biển Ba Tri vào cửa Hàm Luông, chúa Nguyễn đến bất ngờ và muốn đi gấp nên ông Trần Văn Hạc - giữ chức cai việc - đành đãi ăn món mắm sống với trái bần Nguyễn Ánh hỏi trái này là gì, ông Hạc không dám trả lời vì sợ thất lễ khi đãi Chúa ăn loại trái nghèo hèn Cuối cùng, khi biết đó là trái bần thì Nguyễn Ánh cảm thán trong lúc gian truân, trái bần cũng ngon như các loại trái cây khác Nhìn rặng bần mọc trùng trùng điệp điệp chạy dài theo sông, lá bần xanh mượt, Nguyễn Ánh nói cây này giống cây liễu bên Trung Hoa mọc trên đất cao ráo, còn cây liễu xứ ta mọc trên bãi bùn, dầm chân dưới nước mặn cũng không héo lá nên đặt tên cây là thủy liễu, loài liễu mọc dưới nước Từ đó, các Nho sĩ gọi cây bần là thủy liễu
*Cạnh Đền
Ở mảnh đất cuối cùng của đất nước cũng lưu lại dấu tích của Nguyễn Ánh những ngày bôn tẩu Theo Huỳnh Minh (1966), Cạnh Đền là một địa danh ở vùng U Minh, rừng tràm bao bọc, màu nước đỏ ngầu, ứ đọng quanh năm, thuộc xã Ninh Thạnh Lợi, quận Phước Long (Bạc Liêu) Cạnh Đền nổi tiếng qua câu ca dao:
“Đâu xa bằng xứ Cạnh Đền Muỗi kêu như sáo thổi Đĩa lền như bánh canh”
(Huỳnh Minh, 1966, tr 119) Năm 1783, Nguyễn Ánh bị Tây Sơn truy đuổi, Ngài đã đem gia quyến chạy đến vùng U Minh, rừng thiêng nước độc nên công chúa Ngọc Hạnh bị mắc bệnh thương hàn
mà chết Sau khi an táng công chúa ở giữa rừng, Nguyễn vương ra lệnh cho quan quân xây đền thờ công chúa, tục gọi là Cạnh Đền Danh từ Cạnh Đền được lưu truyền từ đó Thời Pháp thuộc, Pháp dùng xáng đào một con kinh nối từ chợ Hộc, thuộc xã Tân Phú với sông Bà Ai, thuộc xã Ninh Thạnh Lợi Con kinh này có đoạn băng ngang Cạnh Đền nên người dân địa phương quen gọi là kinh Cạnh Đền Huỳnh Minh khẳng định ai đi qua kinh Cạnh Đền đều nhìn thấy đền thờ công chúa Ngọc Hạnh Người ta còn tìm thấy xác chiếc ghe hồi Nguyễn Ánh dùng để lánh nạn Tây Sơn, vẫn còn nằm ở kế Cạnh Đền
Theo Lê Trung Hoa (2015), Cạnh Đền nay là ấp của xã Vĩnh Phong, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang Có hai cách giải thích nguồn gốc địa danh này: thứ nhất, là
Trang 28khúc sông quẹo gắt gần như góc vuông bên cạnh đền thờ công nương Ngọc Hạnh, con
gái Nguyễn Ánh mất tại đây năm 1783; thứ hai, từ tiếng Khmer Trey Kânđéng, nghĩa là
“cá trê ở trong bùn” Lê Trung Hoa cho rằng thuyết thứ hai có lý hơn
Theo chúng tôi, Cạnh Đền được biết đến rộng rãi qua bài hát “Em về miệt thứ”
của nhạc sĩ Hà Phương:
“Từ ngày xa đất Tiền Giang, em theo anh về xứ Cạnh Đền Muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lềnh tựa bánh canh
Em yêu anh nên đành xa xứ, xuôi ghe chèo miệt thứ Cà Mau”
Bài hát mang âm hưởng dân ca Nam Bộ tái hiện cảnh rừng thiêng, nước độc thời khẩn hoang của cư dân Việt Về việc giải thích tên gọi Cạnh Đền, ngoài giả thuyết có liên quan đến Chúa Nguyễn mà Huỳnh Minh đã nêu thì giả thuyết tiếng Khmer cũng rất
hợp lý Hợp lý ở chỗ từ Trey Kânđéng đọc trại thành Cạnh Đền rất gần về mặt ngữ âm
Xét ở góc độ văn hóa, điều này minh chứng cho sự giao lưu văn hóa giữa người Việt và người Khmer trong quá trình chung sống ở vùng đất Nam Bộ
Cũng trong cuốn Bạc Liêu xưa và nay, Huỳnh Minh đề cập một địa điểm khác
liên quan đến Nguyễn Ánh, đó là sông Ông Đốc1 Trong chính sử không thấy chép tên
họ, nhưng suy nghiệm theo truyền sử thì có lẽ ông họ Huỳnh hoặc ông tên Hoàng Nhân dân suy tôn ông làm Đốc binh, tục gọi Đốc Huỳnh Khi quân Tây Sơn tấn công, ông đã can đảm ở lại chiến đấu giữ chân quân Tây Sơn để Nguyễn Ánh có thời gian lẩn trốn Đốc Huỳnh đã hy sinh trong trận này, và sự hy sinh của ông đã giúp Nguyễn Ánh qua khỏi nguy hiểm Về sau, tên con sông ở vùng ấy mang tên là sông Đốc Huỳnh (hoặc Đốc Hoàng) Huỳnh hay Hoàng có nghĩa là màu vàng nên nhân dân cũng gọi là Đốc Vàng để kiêng húy
Theo Phạm Thị Quỳnh (2015), ban đầu con sông có tên là Khoa Giang, để lý giải cho việc đổi tên từ Khoa Giang sang Ông Đốc thì trong dân gian có câu chuyện Nguyễn Ánh trốn chạy quân Tây Sơn Ngài theo con sông Khoa Giang định chạy ra hòn Thổ Châu nằm trong vịnh Thái Lan với ý định sang cầu cứu quân Xiêm Khi đoàn thuyền qua khỏi vàm rạch Cui một đoạn thì bị quân Tây Sơn đuổi theo Đô Đốc Thủy binh Nguyễn Văn Vàng bèn tâu với Nguyễn Ánh xin cởi hoàng bào cho ông mặc để ở lại
1 Đốc: ông Đại tướng (Đào Duy Anh, 2005, tr 240)
Trang 29đánh lạc hướng và ngăn cản quân Tây Sơn Sau đó, Nguyễn Ánh đã rời thuyền và lên
bờ, trốn trong rừng Khánh Bình, còn Đô Đốc Thủy binh Nguyễn Văn Vàng thì bị quân Tây Sơn giết chết, trong lúc trời nhá nhem tối quân Tây Sơn tưởng đã giết được Nguyễn Ánh nên không truy đuổi nữa Nguyễn Ánh đổi lộ trình, quay trở lại rạch Ông Tự (nay thuộc xã Phong Lạc), rồi dừng binh ở rạch Rắn (nay thuộc xã Tân Hưng) sau đó chạy thoát ra đảo Thổ Châu Ngay khi lên ngôi vua, Nguyễn Ánh lệnh cho dân địa phương lập miếu thờ các vị công thần trong đó có Đô Đốc Thủy binh Nguyễn Văn Vàng tại vàm sông Khoa Giang Miếu có tên gọi là Quốc Công (hay còn gọi là miếu Âm Dương Thần, hoặc miếu Gia Long) Cũng từ đây, sông Khoa Giang được gọi là sông Ông Đốc
Theo Lê Trung Hoa (2015), sông Ông Đốc bắt đầu từ ngã ba sông Trèm Trẹm và kinh xáng Trèm Trẹm, thuộc huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, đổ ra vịnh Thái Lan, dài 49,5 km Nói rút gọn thành sông Đốc, cũng gọi Đốc Vàng Ông Đốc là Đốc Huỳnh Truyền thuyết cho rằng Ông Đốc là Đô Đốc Nguyễn Văn Vàng, tướng của Nguyễn Ánh,
tử trận tại đây
Chúng tôi nhận thấy Huỳnh Minh có sai sót về thời gian khi viết: “Quý Mão
1873, một sáng tinh sương, quân Tây Sơn kéo đến Chiêng khua trống gióng vang ầm một góc trời…” (Huỳnh Minh, 1966, tr 131) Chúng ta đều biết Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu là Gia Long, vào năm 1802 Vậy sao có chuyện năm 1873 quân Tây Sơn vẫn còn truy bắt Nguyễn Ánh?
Về tên gọi Ông Đốc, đây là một chức vụ quân sự vào thời Nguyễn Ánh, tức chức Đốc binh, không phải tên người Đốc Huỳnh chính là tên chữ của Đốc Vàng Nhạc sĩ
Thanh Sơn giúp nhiều người biết con sông này hơn với sáng tác Áo mới Cà Mau:
“Xuôi mái chèo sông Ông Đốc Đêm chẳng kịp tới chợ Cà Mau Xuồng ghe ngày đêm không ngớt Người Cà Mau dễ thương vô cùng”
Ngoài ra, Huỳnh Minh còn đề cập miếu Công Thần ở Cà Mau, do chính Chúa Nguyễn Ánh ra lệnh xây cất để tưởng nhớ những người đã hy sinh trong lúc phò tá Chúa chạy loạn, cũng để lưu lại vết tích đau thương của Chúa ở vùng đất này, chú của Chúa Nguyễn Ánh, bị Tây Sơn bắt tại đây vào năm 1777 và đưa về Sài Côn (tức Sài Gòn sau
Trang 30này) hành hình Ngôi miếu là một bằng chứng cho thấy dấu vết của Chúa Nguyễn Ánh đối với vùng đất Bạc Liêu, Cà Mau
Tựu trung lại, chúng tôi nhận thấy mảnh đất Nam Bộ còn lưu nhiều dấu tích của Nguyễn Ánh khi Ngài bôn tẩu trốn quân Tây Sơn Trải qua nhiều gian khổ, cuối cùng Ngài lên ngôi vua, lấy hiệu Gia Long
2.1.2 Câu chuyện thực dân Pháp xâm lược và nhân dân Nam Bộ kháng cự Bạch Dinh
Theo Huỳnh Minh (1970), người Pháp đi đến đâu cũng lo chỗ ăn ở cho ngon lành trước đã Dưới chân núi Lớn, họ xây cất một biệt thự nguy nga, đồ sộ nhìn ra biển làm nơi nghỉ mát cho viên Toàn quyền Thời Mỹ, biệt thự này để lại cho Tổng thống ra nghỉ mát và đi câu cá Vị trí của biệt thự khá đặc biệt: cất trên đồi cao 20 thước, chiếm chỗ đồn binh Nam triều trú đóng trước kia Biệt thự trắng toát nổi bật giữa nền xanh của rừng cây lá, quay mặt ra biển, phía sau dựa núi rừng
Theo Thạch Phương và Nguyễn Trọng Minh (2005), Bạch Dinh, hoặc gọi theo
tiếng Pháp Villa Blanche, là một công trình kiến trúc nằm ở phía nam núi Lớn, ở độ cao
27 mét so với mực nước biển Tên gọi Bạch Dinh đúng theo nghĩa đen, là một dinh thự
có màu trắng, đồng thời từ “Blanche” (trắng) cũng là tên con gái yêu của Toàn quyền Paul Doumer – người chủ trương xây dựng ngôi biệt thự này Ngôi biệt thự được xây dựng đồng thời với các công trình kiến trúc khác của Pháp tại Việt Nam vào khoảng thời gian cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, như Nhà thờ Đức Bà, Nhà hát Lớn Sài Gòn, Nhà hát Lớn Hà Nội Khuôn viên Bạch Dinh chính là vị trí thiết lập pháo đài phòng vệ bờ biển của quân triều đình nhà Nguyễn xưa kia với tên gọi pháo đài Phước Thắng Thời Pháp đô hộ, Bạch Dinh không chỉ dành làm nơi nghỉ ngơi cho Paul Doumer mà còn cho các đời Toàn quyền Đông Dương sau đó Thời Mỹ xâm lược, các tổng thống, thủ tướng, tướng lĩnh của chính quyền Sài Gòn cũng lấy nơi này làm chỗ hội họp, nghỉ dưỡng Vua Thành Thái – một ông vua có tư tưởng yêu nước – bị thực dân Pháp phế truất (tháng 9-1907), đã có thời gian bị giam lỏng ở đây trước khi bị đày sang đảo Réunion
Chúng tôi nhận thấy Huỳnh Minh trình bày về Bạch Dinh ở phần 1, Sử lược Theo chúng tôi, sẽ hợp lý hơn nếu Huỳnh Minh để ở phần Di tích, vì Bạch Dinh là di tích lịch sử - văn hóa đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận với quyết định số 938/VHQĐ ngày 04-8-1992 Thêm nữa, dễ dàng thấy Huỳnh Minh giới thiệu ít thông
Trang 31tin về Bạch Dinh, có thể vì ông không thể nói nhiều về di tích này trong khi đang mạch
kể chuyện lịch sử của Vũng Tàu
Trương Định và Đám lá tối trời
Huỳnh Minh giải thích “Đám lá tối trời” là đám lá dừa nước mọc dày đặc, dày đến nỗi tàng cây nhành lá che kín mít, ngăn cản ánh mặt trời rọi xuống đất Đám lá này mọc rất rộng, choáng cả một phần ba làng Kiểng Phước, tỉnh Gò Công, gần cửa sông Soài Rạp (nay là xã Gia Thuận, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang)2 Vì không có ánh mặt trời nên nơi đây ẩm thấp, dưới đất đầy cỏ mục, côn trùng, trên không bao phủ một bầu không khí âm u Người lọt vào vùng này bước một bước là gây nên một cuộc chạy trốn tứ tán của các loài vật chuyên bò dưới đất, chạm đến một lùm cây là bốc lên một đám muỗi mòng bay khắp nơi Nơi đây là thế giới của những loài chuyên sống trong bóng tối Đối với con người thì khó sống nhưng lại là chiến khu rất tốt, Trương Định đã chọn nơi đây làm căn cứ chống Pháp Từ nơi này, các chiến sĩ của Trương Định phóng
ra những cuộc tấn công chớp nhoáng rồi rút theo chiến thuật “tam khoái” (nghĩa là “ba mau”: di quân mau, đánh phá mau, rút về mau) đã làm cho giặc Pháp ngay ngáy đêm ngày Theo tin tình báo, Pháp biết đám lá tối trời là mật khu của kháng chiến quân nhưng không làm gì được, vì pháo binh thời đó còn thô sơ, không đủ sức oanh tạc cả một vùng rộng lớn như vậy, còn nếu bộ binh tiến vào mà không có pháo binh yểm trợ thì coi như vào chỗ chết Thế rồi Pháp sử dụng chiêu dùng củi đậu nấu đậu, dùng chó ghẻ của đất Việt cắn người Nam Pháp dùng Đội Tấn và lũ chó săn của hắn Đội Tấn, tên thật là Huỳnh Công Tấn, vốn là nghĩa quân của Trương Định, nhưng bị Trương Định phạt vì
vi phạm kỷ luật Tấn đâm ra thù oán ông cộng thêm cạm bẫy danh lợi, hắn bỏ hàng ngũ qua đầu quân cho Pháp vào năm 1862 Hiểu tính tình và thói quen của chủ tướng cũ, Đội Tấn biết Trương Định chỉ quanh quẩn vùng Gò Công nơi ông có bà con thân quyến rất đông, nhất là được dòng tộc họ Phạm – bà con bên ngoại của vua Tự Đức vừa có tiền vừa có quyền âm thầm hỗ trợ ông Ngày 20-8-1864, Đội Tấn dẫn quân bao vây Đám lá tối trời, nơi Trương Định đang ẩn náu Trương Định bị trúng đạn của quân thù, ngã xuống chết (có sách nói bị chém trúng, có sách nói ông tử tiết)
Từ đó, thiên hạ đồn rằng ở đám lá tối trời cứ đêm đêm nghe tiếng gào thét, tiếng binh đao va chạm Khi thì nghe tiếng chân đi rầm rập như thiên binh vạn mã kéo đi, lúc
2 http://tiengiang.gov.vn/chi-tiet-tin?/ve-tham-ao-dinh/22818112
Trang 32lại nghe ngựa hí người la và tiếng trống trận Bằng chứng là giặc Pháp cho đem đại bác xuống bắn, cho lính đến thổi kèn đồng để phá bớt cảnh âm u, tịch mịch Thời điểm Huỳnh Minh viết cuốn sưu khảo tỉnh Gò Công vào năm 1969, Đám lá tối trời đã không còn Cả vùng đã được khai hoang, nhà cửa, ruộng rẫy thay thế vùng dừa nước rậm rạp ngày xưa Di tích đó chỉ còn qua truyền khẩu dân gian và qua mấy câu thơ của cụ Nguyễn
Liên Phong trong quyển Nam Kỳ phong tục diễn ca:
“Tiếng đồn đám lá tối trời
Có ông Trương Định trải phơi gan vàng Hiềm vì cơ chưởng nan minh Lưỡi gươm đâm bụng liều mình như chơi
Nên hư số hệ ở Trời Khá đem thành bại luận người hùng anh”
(Huỳnh Minh, 1969, tr 85)
Xét ở góc độ văn hóa, dừa nước gắn bó mật thiết với cuộc sống của người dân Nam Bộ qua hình ảnh tàu lá dừa nước được treo trên cây bẹo ở chợ nổi, hàm ý người chủ muốn chiếc ghe, chiếc xuồng đó Bởi vì chiếc ghe, chiếc xuồng được coi như một ngôi nhà của những người sống trên sông, mà căn nhà ở quê thường được lợp bằng lá dừa nước Hình ảnh lá dừa nước gắn với căn nhà, do đó khi muốn bán ghe, xuồng là căn nhà trên sông thì người dân chọn treo tàu lá dừa nước Hay như dừa nước cũng xuất hiện trong truyền khẩu nói về hệ sinh thái vùng ven biển Nam Bộ:
“Mắm trước, đước sau, tràm theo sát Sau hàng dừa nước, mái nhà bậu thương”
Mắm, đước, tràm là những loại cây chỉ mọc ở vùng nước mặn, giảm dần theo độ mặn Chỗ đất nào mặn nhiều thì có cây mắm, chỗ đất nào ít mặn hơn thì có cây đước, chỗ đất ít mặn hơn nữa sẽ thấy cây tràm Đến khi thấy đất đó có dừa nước thì người dân biết là vùng nước lợ, có thể lấy nước ở đó nấu pha trà uống được, người dân có thể sống được Dừa nước như một loại cây chỉ điểm, một công cụ để người dân nhận biết đâu là vùng nước lợ Tóm lại, dừa nước không chỉ gắn với cuộc kháng chiến qua cái tên “Đám
lá tối trời” mà còn gần gũi trong văn hóa của người dân Nam Bộ
Nhắc đến Đám lá tối trời, người ta sẽ nghĩ ngay đến Trương Định Trương Định nổi tiếng với các đợt tấn công quân Pháp và bọn Việt gian, khiến cho Pháp khiếp vía
Trang 33Ông sinh năm 1860, là con một gia đình giàu có quê ở Quảng Nam, cha là Lãnh binh Trương Cầm Tên ông là Trương Định, được người dân đặt thêm chữ “Công” để tỏ lòng kính mến Khi ông mất, trên bia mộ cũng khắc tên Trương Công Định: “Đại Nam Bình Tây Đại Tướng quân Trương Công Định chi mộ” Lê Thọ Xuân (1966) đặt vấn đề liệu chữ “Công” đây có phải nghĩa là “Ông”, như Quan Vũ nhà Hán thì được gọi là Quan Công (ông Quan, ông họ Quan), Bao Chửng nhà Tống thì được gọi là Bao Công (ông Bao, ông họ Bao)? Vả lại, văn xưa cũng có đệm chữ “Công” trước tên để tỏ lòng sùng kính, như bài của cụ Phan Thanh Giản soạn trong dịp di táng phần mộ cụ Võ Trường Toản, chỉ môn sanh cụ Võ thì viết: Trịnh công Hoài Đức, Lê công Quang Định, Ngô công Tịnh…
Cụ Đồ Chiểu từng làm cố vấn cho Trương Định, rất cảm động khi hay tin ông mất và có sáng tác 12 bài thơ điếu Trương Định Hai cột trụ trước mộ bia có một đôi liễn:
“Sơn hà thâu chánh khí Nhựt nguyệt chiếu đơn tâm”
1945, Nhật đảo chánh Pháp, người dân Gò Công nhân cơ hội đập phá đài kỷ niệm Đội Tấn và dựng ngay tại vị trí này đài kỷ niệm anh hùng Trương Định Lê Thọ Xuân (1966)
có chụp hình đài kỷ niệm Lãnh binh Tấn trước sân chợ Gò Công, đặc biệt là dòng chữ tiếng Pháp: “A la mémoire du Lãnh-binh Tấn, grand serviteur de la France” Lê Thọ Xuân ẩn ý rằng người viết câu này là người Pháp nhưng người đọc lại là người Việt Nam “Serviteur” theo ý khen của người Pháp là “người giúp việc, người có công”, nhưng “serviteur” còn có nghĩa “đầy tớ” Nghĩa là, nếu dịch theo Pháp thì là: “Để kỷ
Trang 34niệm Lãnh binh Tấn, người giúp việc rất dày công của Đại Pháp” Còn dịch theo Việt Nam chửi kẻ bán nước thì là: “Tui đây là tên đày tớ quá đỗi thấp hèn và rất dễ sai khiến của Quan Lớn” (Lê Thọ Xuân, 1966, tr 84)
Xét ở phạm vi cả cuốn Gò Công xưa và nay, liên quan đến Trương Định thì
Huỳnh Minh đề cập trong 3 phần:
- Phần Lược sử: kể về thân thế, cuộc đời, quá trình chiến đấu chống Pháp cho tới khi mất của Trương Định
- Phần Di tích: mộ của Trương Định và Đám lá tối trời
- Phần Huyền sử - Giai thoại – Tục lệ cổ truyền địa phương: âm binh xuất hiện ở Đám lá tối trời
Chúng tôi nhận thấy Huỳnh Minh kể về cuộc đời Trương Định ở phần 1, Lược
sử, là không hợp lý Khi đang mạch chuyện kể lịch sử của tỉnh Gò Công, đến giai đoạn Pháp xâm lược thì Huỳnh Minh kể về cuộc đời của Trương Định, từ lai lịch của ông cho đến khi ông chiến đấu chống Pháp và hy sinh Chúng tôi nghĩ rằng khi đang trình bày
về lịch sử của cả tỉnh Gò Công một cách tổng quát thì không nên nói chi tiết về một nhân vật cụ thể ở đây, cho dù nhân vật đó nổi tiếng Theo chúng tôi, Huỳnh Minh nên
bố trí ở phần Danh nhân thì sẽ hợp lý hơn Ngoài ra, chúng tôi đánh giá cao việc Huỳnh
Minh có khảo cứu Bản phúc trình của Đô đốc Bonard đề ngày 2-3-1863 để miêu tả về cuộc tổng tấn công của Pháp, điều này thể hiện phần khảo trong sưu khảo của Huỳnh
Minh
2.2 Một số câu chuyện địa danh
Huỳnh Minh trình bày nội dung các sách theo một cấu trúc thống nhất, phân chia thành các phần về lịch sử - địa lý, danh nhân, di tích lịch sử, tôn giáo, văn học – nghệ thuật… Trong mỗi cuốn sưu khảo, Huỳnh Minh đề cập nhiều địa danh của một tỉnh tuy nhiên trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu địa danh của 10 tỉnh tương ứng 10 cuốn sưu khảo của Huỳnh Minh mà thôi Lê Trung Hoa (2011) khẳng định:
Địa danh là một phạm trù lịch sử Nó phản ánh nhiều khía cạnh địa lý, lịch sử, văn hóa… tại mảnh đất mà nó chào đời Từ lâu, nó được xem là những tấm bia lịch sử - văn hóa bằng ngôn ngữ Chính vì vậy, muốn hiểu rõ một vùng đất nào,
ta không thể không quan tâm đến địa danh (tr 88)
Trang 35Tìm hiểu địa danh qua các trang viết của Huỳnh Minh, chúng tôi nhận thấy các địa danh này có thể phân chia thành ba nhóm, phản ánh ba đặc điểm: (1) tính cách mộc mạc, chất phác của người dân Nam Bộ; (2) khát vọng bình yên, tốt đẹp thông qua các địa danh Hán Việt; (3) giao lưu văn hóa giữa người Việt với người Khmer, Hoa, Pháp
2.2.1 Địa danh phản ánh tính cách mộc mạc của người Nam Bộ
Năm 1969, khi Huỳnh Minh viết cuốn Gò Công xưa và nay, thì Gò Công là một tỉnh của Nam Bộ còn hiện nay, Gò Công là một huyện của tỉnh Tiền Giang Huỳnh Minh
đưa ra hai giả thuyết để giải thích địa danh Gò Công: Một, vùng này khi xưa là nơi rừng
rậm, chưa có người ở, xứ này có một gò đất cao, nhiều giống chim công nên gọi Gò Công Khi vua Minh Mạng ra lệnh cho các quan địa phương đổi tên các tỉnh sang chữ Nho cho tao nhã thì “Gò Công” được đổi thành “Khổng Tước nguyên” Tương tự, “Đồng
Nai” cũng được đổi thành “Lộc Dã”, “Bến Tre” được đổi thành “Trúc Giang”… Hai,
lần đầu tiên tại xứ này có một người đàn bà tên là Thị Công đến đây mở quán bán thức
ăn cho dân khai thác đồn điền Vì nơi đây dễ sinh sống nên dần dần người dân tụ họp về đây khai hoang ruộng rẫy, lập thành làng mạc Số người càng ngày càng đông, dân địa phương quen gọi quán Bà Công, lâu ngày trở thành một địa danh vắn tắt là Gò Công
Lê Trung Hoa (2015) trong Từ điển địa danh Nam Bộ chỉ đề cập giả thuyết thứ nhất
Theo chúng tôi, giả thuyết thứ hai không thuyết phục Gò Công thì có bà tên Thị Công, giả sử nếu là Gò khác thì có một nhân vật tên Thị khác sao? Thêm nữa, từ Thị Công đọc chệch thành Gò Công thì không có cơ sở nào về mặt ngữ âm Như vậy, trong hai giả thuyết của Huỳnh Minh thì chỉ có giả thuyết “gò có nhiều chim công” là thuyết phục
Vũng Tàu được nhiều người biết đến trước hết là một trung tâm nghỉ dưỡng, du lịch có nhiều ưu thế được hình thành sớm nhất (1880), trước cả Đà Lạt (do đề xuất của bác sĩ Yersin năm 1893) Huỳnh Minh lý giải “vũng” là “chỗ nước sâu, làm bến cho thuyền, tàu đậu được” Vậy Vũng Tàu là chỗ nước sâu, một cái vịnh nhỏ gần bờ biển
mà tàu bè nước ngoài tới đó có thể đậu để tránh sóng to gió lớn, hoặc đậu chờ phép tắc trước khi ngược sông Nhà Bè để vào Sài Gòn
Qua hai địa danh Gò Công, Vũng Tàu, chúng tôi nhận thấy người dân Nam Bộ rất am hiểu về vùng đất mình sinh sống, biểu hiện bằng việc dùng chính những đặc điểm địa hình để định danh Thấy miếng đất nhô lên như cái gò, có nhiều chim công thì đặt tên là Gò Công Thấy địa hình là một cái vũng gần bờ mà tàu thuyền có thể neo đậu
Trang 36được thì đặt tên Vũng Tàu Đồng thời, điều này cũng bộc lộ sự mộc mạc, chất phác của người dân Nam Bộ, kiểu thấy sao nói vậy Đây là nét tính cách rất nổi bật của người dân Nam Bộ
2.2.2 Địa danh sử dụng yếu tố Hán Việt thể hiện khát vọng tốt đẹp của cuộc sống
Để giải thích ý nghĩa địa danh ba tỉnh Gia Định, Vĩnh Long, Định Tường, tác giả
Huỳnh Minh quay ngược lịch sử trở về giai đoạn chúa Nguyễn Phúc Ánh đánh thắng
Tây Sơn, thống nhất non sông và lên ngôi vua, xưng hiệu là Gia Long Dưới triều Gia Long, toàn lãnh thổ miền Nam đặt là một thành, mang tên Gia Định thành Chữ “Gia”
nghĩa là tốt đẹp, chữ “Định” nghĩa là sắp xếp đã ổn định rồi Hai chữ “Gia Định” nghĩa
là mảnh đất tốt đẹp đã được sắp xếp ổn định Đến triều vua Minh Mạng thì miền Nam
chia thành sáu tỉnh: Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên Lấy mấy chữ đầu trong tên sáu tỉnh mà đọc cho dễ nhớ là “Gia, Biên, Vĩnh, Định, An, Hà” Huỳnh Minh giải thích ý nghĩa của sáu chữ này qua công cuộc thống nhất non sông của vua Gia Long được sánh ngang Hán Cao Tổ Lưu Bang đã dẹp yên nhà Tần, thâu gom Trung Nguyên về một mối Khi bình định xong đất nước, các triều thần đã khen
ngợi vua Hán qua câu: “Khoái mã gia tiên, vĩnh định an hà”, nghĩa là: chạy ngựa ra roi,
định an non nước lâu dài Triều thần nhà Nguyễn lấy sáu chữ cuối “gia tiên vĩnh định
an hà” sửa trại ra thành “gia biên vĩnh định an hà” để đặt tên cho sáu tỉnh miền Nam
Gia = Gia Định = ổn định và tốt đẹp Biên = Biên Hòa = vui hòa nơi biên thùy Vĩnh = Vĩnh Long = bền vững hưng thịnh vĩnh viễn Định = Định Tường = điềm lành ổn định
An = An Giang = non sông an vui
Hà = Hà Tiên = sông có tiên xuất hiện Tất cả sáu tên này đều có ý nghĩa tốt đẹp, được dùng để đặt cho sáu tỉnh Nam
Kỳ, người dân hay gọi là Nam kỳ lục tỉnh Cho tới ngày nay, trong ba tỉnh Gia Định, Vĩnh Long, Định Tường thì chỉ có tỉnh Vĩnh Long vẫn còn giữ nguyên tên gọi Đối với tỉnh Định Tường, tháng 2-1976, tỉnh Định Tường sáp nhập với tỉnh Gò Công và thị xã
Mỹ Tho thành tỉnh Tiền Giang Đối với tỉnh Gia Định, sau năm 1975, Gia Định được sáp nhập vào Đô thành Sài Gòn, thêm những phần lấy của Long An, Bình Dương, Hậu
Trang 37Nghĩa, gọi chung là thành phố Sài Gòn – Gia Định Ngày 2-7-1976, đổi tên là thành phố
Hồ Chí Minh
Một địa danh khác có yếu tố Hán Việt là Tây Ninh Huỳnh Minh giải thích “Tây
Ninh” nghĩa là an ninh ở phía Tây, đủ thấy tầm quan trọng về mặt chính trị của vùng
đất Tây Ninh như thế nào Danh xưng Tây Ninh ra đời lần đầu tiên vào năm 1836, thể hiện khát vọng của vua Minh Mạng về một vùng đất biên viễn phía Tây an ninh mãi mãi Khi đó, Tây Ninh là một phủ của tỉnh Gia Định Còn hiện nay, Tây Ninh là một tỉnh của Nam Bộ
Chúng tôi nhận thấy bốn địa danh Gia Định, Vĩnh Long, Định Tường, Tây Ninh đều có yếu tố Hán Việt và phản ánh khát vọng bình yên, hạnh phúc của người dân Việt Nam có lịch sử “một ngàn năm nô lệ giặc Tàu”3 nên dù muốn hay không, tiếng Việt vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tiếng Hán Chưa có số liệu thống kê chính xác số lượng yếu
tố Hán trong tiếng Việt Lê Trung Hoa (2011) cho biết: “Nhiều người phỏng đoán số lượng này độ 70% Gần đây, trong một luận án Tiến sĩ, Cho Myeong Sook cho rằng có
độ 5.200 từ ngữ Hán trong tiếng Việt” (tr 98) Do đó, địa danh hành chính cũng xuất hiện yếu tố Hán Việt và tất cả đều mang ý nghĩa tốt đẹp
2.2.3 Địa danh phản ánh giao lưu văn hóa người Việt, Khmer, Hoa, Pháp
Bến Tre là quê hương của Huỳnh Minh nên được tác giả ưu ái viết đầu tiên trong
số 10 cuốn sưu khảo Thời điểm Huỳnh Minh viết cuốn Kiến Hòa (Bến Tre) xưa và nay,
năm 1965, tỉnh Bến Tre được gọi là tỉnh Kiến Hòa Cũng có giai đoạn tỉnh Bến Tre được
đặt tên là tỉnh Đồ Chiểu vào khoảng năm 1945 - 1946 Huỳnh Minh cho rằng thuở xưa
nơi đây có một làng gọi là Sóc Tre, trồng rất nhiều tre Chữ Miên kêu là “Kompong Rusei”, người Pháp dịch là “Perge des Bambous”, dưới thời Minh Mạng gọi là “Bến Tre” Ngoài giả thuyết trên, Lê Trung Hoa (2015) bổ sung thêm một giả thuyết: dạng
gốc là tiếng Khmer Srok Kompon Trey / Treay, nghĩa là “xứ bến cá” Tại Bến Tre người
ta không thấy nhiều tre nên Lê Trung Hoa cho rằng giả thuyết thứ hai có lý hơn
Vùng Bạc Liêu có nhiều người Triều Châu sống đến mức có câu ca dao:
“Bạc Liêu là nước chảy lờ đờ Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu”
3 Ca khúc “Gia tài của Mẹ”, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn
Trang 38Vậy nên, Bạc Liêu đọc theo tiếng Hoa, giọng Triều Châu là Pô Léo, nghĩa là xóm
nghèo làm nghề hạ bạc, tức là nghề chài lưới, đánh cá, đi biển Theo Huỳnh Minh, “Pô” phát âm theo tiếng Hán Việt là “Bạc”, “Léo” phát âm thành “Liêu” Cách giải thích thứ
hai, Pó là đồn, Liêu là Lào Vì trước khi người Hoa đến sinh sống thì ở đây có một đồn
binh của người Lào đồn trú Ngoài hai cách giải thích trên, Lê Trung Hoa (2015) còn
tổng hợp thêm hai cách giải thích khác: gốc Khmer Po Loueh, nghĩa là “cây đa cao
nhất”; gốc Khmer, nghĩa là “gò đất câu cá” Hiện nay chưa thể xác định thuyết nào có
lý hơn
Gắn liền với Bạc Liêu là Cà Mau, vì trước khi được nâng lên thành tỉnh thì Cà Mau là một quận của tỉnh Bạc Liêu Cà Mau là mảnh đất cuối cùng trên bản đồ Việt Nam, từng được miêu tả là xứ quê mùa:
“Cà Mau là xứ quê mùa Muỗi bằng gà mái, cọp tùa4 bằng trâu”
Ở miền này, nước mưa ứ đọng mãi, và mọc đầy cây đước, tràm, vẹt Vì nước đọng không chảy được, lá cây rụng lâu ngày mục nát làm cho thúi nước, nước có màu
đen Do đó, người Khmer gọi “Khamau” nghĩa là “xứ nước đen”, người Việt biến âm thành “Cà Mau”
Nếu như năm 1971, Sa Đéc là một tỉnh của Nam Bộ thì ngày nay Sa Đéc là thành phố thuộc tỉnh Đồng Tháp Theo Huỳnh Minh, Sa Đéc đọc chệch từ tiếng Khmer
Psardek nghĩa là chợ sắt Ngoài ra, còn một cách giải thích khác: Phsa-dek là một vị thủy thần của người Khmer Nguyễn Hữu Hiếu(2013) trích dẫn một đoạn trong sách
Đại Nam nhất thống chí - Lục Tỉnh Nam Việt: “Chùa Tô Sơn ở địa phận thôn Hưng
Nhượng, huyện Hà Dương (tỉnh An Giang) Phía sau núi có viên đá hình con rùa, người xưa truyền rằng: gặp khi trời hạn thì đến đấy cầu đảo ắt có được mưa Thổ nhơn bèn lập đền ở chân núi để thờ, gọi là Sa Đéc (tức là Thủy Thần)” (tr 228)
Đầu thế kỷ 20, Sài Gòn phát triển và được mệnh danh là Hòn ngọc Viễn đông Cùng lúc đó, ở miền Tây Nam Kỳ, Cần Thơ trở thành đô thị lớn nhất vùng nên tự phát
mang tên Tây Đô, nghĩa là đô thành lớn nhất miền Tây Huỳnh Minh lý giải tên gọi Cần Thơ theo hai cách: Một là, Nguyễn Ánh trên đường chạy trốn Tây Sơn truy đuổi, khi
Ngài ngự trên một chiếc thuyền đi ngang sông Hậu, chợt nghe có tiếng ngâm thơ, đờn
4 tùa (tiếng Triều Châu): lớn
Trang 39ca vọng lại giữa đêm trường canh vắng Ngài chạnh lòng giữa bước đường lưu lạc, khiến tâm can thêm xúc động nên ban cho con sông cái tên mỹ miều “Cầm Thi giang” Cầm
là đàn, thi là thơ, con sông của thơ ca đàn hát Dần dà người dân đọc trại thành “Cần Thơ” Huỳnh Minh có đưa thêm ví dụ về việc đọc trại tên như: “Sài Côn” đọc thành
“Sài Gòn”, “Soctre” đọc thành “Bến Tre”, “Poléo” đọc thành “Bạc Liêu” để tăng thêm
sức thuyết phục Hai là, khi xưa dân vùng này trồng nhiều rau cần và rau thơm, khi thu
hoạch đem bán họ rao khắp nơi nơi: “Ai mua rau cần rau thơm không?’’ Thiên hạ xúm nhau mua hai loại rau này rất nhiều, đến mức có câu ca dao:
“Rau cần lại với rau thơm Phải chăng đất ấy rau thơm có nhiều”
Từ rau cần rau thơm, nhiều người đọc chệch thành Cần Thơ Xét riêng câu ca dao không thôi, chúng tôi thấy có điểm bất hợp lý: câu ca dao không đúng chuẩn, vì từ thứ sáu của câu lục và từ thứ sáu của câu bát giống y nhau, đều là chữ “thơm” Đúng chuẩn ca dao thì hai từ này phải vần với nhau, ví dụ một câu khác Huỳnh Minh có đề cập:
“Rau cần, rau thơm xanh mướt Mua mau kẻo hết, chậm bước không còn”
Mướt vần với bước, nghe hợp lý hơn hẳn Vậy nên, theo chúng tôi, Huỳnh Minh
nên bỏ hẳn câu ca dao đầu, chỉ giữ lại câu ca dao thứ hai để bài viết súc tích và thuyết phục người đọc hơn Ngoài hai giả thuyết của Huỳnh Minh, Lê Trung Hoa (2011) nêu giả thuyết thứ ba:
Vùng này có nhiều cá kìn tho, tiếng Khmer để chỉ cá sặt rằn, cũng gọi là cá lò
tho Lâu dần người dân đọc trại thành Cần Thơ Trước hết, loại cá này còn khá
phổ biến ở Cần Thơ cũng như các tỉnh khác ở Nam Bộ Kế đến, việc lấy tên các con vật sống dưới sông rạch để đặt tên cho sông rạch là hiện tượng quen thuộc ở
Nam Bộ: rạch Đỉa, rạch Sấu, rạch Voi, rạch Cá Trê, rạch Cá Chốt, rạch Cá Tra
Tiếp theo, về mặt ngữ âm, âm cổ của vần “ân” là “in” Ở thế kỷ 17, người Việt
nói: nhin đức (nhân đức), nhin sâm (nhân sâm), tiểu nhin (tiểu nhân), nhin thể (nhân thể) Nên kìn tho là âm cổ của Cần Thơ Mặt khác, giữa hai âm “o” và “ơ” cũng có nhiều tiền lệ biến đổi: (con) so – sơ (ban đầu), đó – nớ (chỗ nớ), vói (tay) – với (tay), (hàng) dỏm – rởm (trí thức rởm), họp (lại) – hợp… (tr 24)
Trang 40Theo chúng tôi, giả thuyết “kìn tho” đáng tin cậy nhất, kế đến là “Cầm Thi giang”
vì trong lịch sử, Nguyễn Ánh đã từng trốn chạy quân Tây Sơn ở khắp các tỉnh Nam Bộ
Vũng Tàu còn có một tên gọi khác, không chính thức, là Ô Cấp Tên gọi này có
nguồn gốc từ tiếng Pháp, Cap Saint Jacques, nghĩa là mũi đất của Thánh Jacques Du khách đi Vũng Tàu nghỉ mát hay tắm biển, thường dùng cụm từ “aller au Cap” (= đi ra
Mũi Đất) Cụm từ này được rút gọn thành Au Cap, dần dần được Việt hóa thành Ô Cấp
để chỉ Vũng Tàu Theo Huỳnh Minh, cái vũng mà tàu thuyền neo đậu có lẽ bắt đầu từ Bãi Dâu chạy vòng qua đến tận Bến Đình Còn Ô Cấp là mũi Thùy Vân, vì ông cho rằng nhìn xem hình thể bờ biển nơi đây, ta không thấy có mũi đất nào khác nữa Huỳnh Minh cũng lưu ý, về mặt chữ nghĩa thì Vũng Tàu và Ô Cấp khác nhau Vũng Tàu là vũng nước sâu cho tàu thuyền đậu, còn Ô Cấp là mũi đất nhô ra ngoài biển
Các địa danh Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Sa Đéc, Cần Thơ, Ô Cấp phản ánh sự giao lưu văn hóa giữa người Việt và người Khmer, người Hoa, người Pháp Đây là một đặc điểm nổi bật của văn hóa Nam Bộ Trong quá trình cộng cư, các dân tộc luôn mở lòng tiếp nhận văn hóa của nhau Bằng chứng là các địa danh có nguồn gốc từ ngôn ngữ Khmer, Hoa Đặc biệt, người Pháp cai trị Việt Nam nhưng tiếng Pháp vẫn xuất hiện trong địa danh như một biểu hiện của sự giao lưu văn hóa Tất cả những điều này cho thấy sự thoáng mở trong giao lưu văn hóa của người dân Nam Bộ, kể cả đối với dân tộc
ít nhiều có mối quan hệ không tốt với mình Lý Lan (2009) diễn đạt sự giao lưu văn hóa
ở Nam Bộ rất ấn tượng:
“Nó thể hiện tinh thần dung hòa cởi mở trong bối cảnh xã hội đa văn hóa Ở miền Tây có nhiều người Tiều, họ nói nhỏ là “xíu”, nên “nhỏ xíu” thành từ phổ biến Tương tự, ở miền Tây có người Khơ me, họ nói một mình là “ên”, nên người miền Tây quen miệng nói “một mình ên” (tr 110)
Xét về hình thức trình bày, Huỳnh Minh thường bố trí các địa danh này ở phần một của cuốn sách – phần nói về lược sử và địa lý các tỉnh Tuy nhiên, vẫn có những địa danh được sắp xếp ở các phần khác Cụ thể, địa danh của tỉnh Gia Định bố trí ở phần 4 (Huyền thoại, Giai thoại, Địa danh), địa danh của tỉnh Tây Ninh tác giả chỉ nói sơ qua trong phần Lời tác giả ở đầu sách trong khi tỉnh Sa Đéc lại đặt ở phần tổng kết cuối sách Nếu Huỳnh Minh đồng loạt sắp xếp tất cả địa danh ở phần một thì cả 10 cuốn sưu khảo
sẽ mang tính nhất quán