1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng của c l montesquieu và j j rousseau về quyền lực nhà nước

113 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng của C. L. Montesquieu và J. J. Rousseau về quyền lực nhà nước
Tác giả Nguyễn Huỳnh Như
Người hướng dẫn TS. VÕ CHÂU THỊNH
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chính trị học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 860,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (7)
  • 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài (9)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn (0)
  • 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn (24)
  • 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn (24)
  • 6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn (24)
  • 7. Điểm mới của luận văn (25)
  • 8. Kết cấu của luận văn (25)
  • Chương 1. ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG CH-L. S. MONTESQUIEU VÀ J. J. ROUSSEAU VỀ QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC (26)
    • 1.1. Bối cảnh lịch sử Tây Âu và nước Pháp thế kỷ XVI - XVII (26)
    • 1.2. Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng chính trị của Montesquieu và (37)
      • 1.2.1. Một số tư tưởng chính trị tiêu biểu của Hy Lạp và La Mã cổ đại (37)
      • 1.2.2. Một số tư tưởng chính trị tiêu biểu của châu Âu thời kỳ Phục hưng và cận đại (44)
  • Chương 2. NỘI DUNG CƠ BẢN, Ý NGHĨA VÀ HẠN CHẾ CỦA TƯ TƯỞNG CH-L. S. MONTESQUIEU VÀ J. J. ROUSSEAU VỀ QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC (59)
    • 2.1. Lý luận chung về quyền lực nhà nước (59)
    • 2.2. Nội dung cơ bản trong tư tưởng của Montesquieu và Rousseau về quyền lực nhà nước (65)
      • 2.2.1. Nguồn gốc hình thành quyền lực nhà nước (65)
      • 2.2.2. Bản chất và nhiệm vụ của quyền lực nhà nước (73)
      • 2.2.3. Phương thức tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước (76)
    • 2.3. Ý nghĩa và hạn chế của tư tưởng Montesquieu và Rousseau về quyền lực nhà nước (84)
      • 2.3.1. Ý nghĩa tư tưởng của Montesquieu và Rousseau về quyền lực nhà nước (0)
      • 2.3.2. Hạn chế trong tư tưởng của Montesquieu và Rousseau về quyền lực nhà nước (89)

Nội dung

Các nghiên cứu về tiền đề lịch sử để hình thành tư tưởng của Montesquieu và Rousseau về quyền lực nhà nước Bối cảnh lịch sử Tây Âu nói chung và lịch sử nước Pháp nói riêng có vai trò kh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Võ Châu Thịnh đã tận tâm hướng dẫn tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn

Tôi xin cảm ơn quý thầy cô trong Khoa Triết học, phòng Sau Đại học thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi cũng xin cảm ơn đến toàn thể người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ủng hộ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu luận văn này

TP.HCM, ngày tháng năm 2022

Tác giả luận văn

Nguyễn Huỳnh Nhƣ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện

dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Võ Châu Thịnh Nội dung, kết quả

nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực Các tài liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Đồng thời, tôi xin cam đoan luận văn này chưa trình qua bất cứ Hội đồng nào hay công bố trên các phương tiện truyền thông nào

TP.HCM, ngày tháng năm 2022

Người cam đoan

Nguyễn Huỳnh Như

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 17

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 18

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 18

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 18

7 Điểm mới của luận văn 19

8 Kết cấu của luận văn 19

PHẦN NỘI DUNG 20

Chương 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TƯ TƯỞNG CH-L S MONTESQUIEU VÀ J J ROUSSEAU VỀ QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC 20

1.1 Bối cảnh lịch sử Tây Âu và nước Pháp thế kỷ XVI - XVII 20

1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng chính trị của Montesquieu và Rousseau về quyền lực nhà nước 31

1.2.1 Một số tư tưởng chính trị tiêu biểu của Hy Lạp và La Mã cổ đại 31

1.2.2 Một số tư tưởng chính trị tiêu biểu của châu Âu thời kỳ Phục hưng và cận đại 38

Kết luận chương 1 51

Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN, Ý NGHĨA VÀ HẠN CHẾ CỦA TƯ TƯỞNG CH-L S MONTESQUIEU VÀ J J ROUSSEAU VỀ QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC 53

2.1 Lý luận chung về quyền lực nhà nước 53

2.2 Nội dung cơ bản trong tư tưởng của Montesquieu và Rousseau về quyền lực nhà nước 59

Trang 6

2.2.1 Nguồn gốc hình thành quyền lực nhà nước 59 2.2.2 Bản chất và nhiệm vụ của quyền lực nhà nước 67 2.2.3 Phương thức tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước 70

2.3 Ý nghĩa và hạn chế của tư tưởng Montesquieu và Rousseau về quyền lực nhà nước 78

2.3.1 Ý nghĩa tư tưởng của Montesquieu và Rousseau về quyền lực nhà nước 78 2.3.2 Hạn chế trong tư tưởng của Montesquieu và Rousseau về quyền lực nhà nước 83

Kết luận chương 2 93 KẾT LUẬN CHUNG 95

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quyền lực nhà nước là một phạm trù cơ bản trong khoa học chính trị, là

bộ phận quan trọng cấu thành nhà nước và cơ thể chính trị Kể từ khi xã hội phân chia giai cấp, nhà nước ra đời, từ đó quyền lực nhà nước cũng được hình thành Vì vậy, quyền lực nhà nước là phương tiện quan trọng để thực hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, điều này thể hiện bản chất giai cấp của nhà nước Tuy nhiên, muốn giữ được quyền lực nhà nước lâu dài, ngoài đảm bảo lợi ích cho giai cấp cầm quyền thì phải đảm bảo tối thiểu lợi ích cho các giai cấp khác (kể cả giai cấp đối kháng) và thực thi các nhiệm vụ cộng đồng Do đó, quyền lực nhà nước còn có chức năng công cộng Chính vì sự đan xen phức tạp của hai nhiệm vụ trên trong một xã hội có giai cấp đối kháng nên quyền lực nhà nước luôn là mục tiêu của các cuộc đấu tranh chính trị, đồng thời cũng là vấn đề nóng bỏng trong trong lịch sử tư tưởng chính trị nhân loại

Ngay từ thời cổ đại, phạm trù quyền lực nhà nước đã được các nhà triết học chính trị ở cả phương Đông lẫn phương Tây quan tâm nghiên cứu nhằm hướng đến xây dựng mô hình nhà nước lý tưởng Ở phương Đông cổ đại, các triết gia Trung Quốc đã bàn luận vấn đề này từ rất sớm, điển hình như Khổng

Tử, Mạnh Tử, Hàn Phi Dù hướng tới đề cao đức trị như trường phái Nho gia hay pháp trị như trường phái Pháp gia thì quyền lực nhà nước ở thời kỳ này được xem là thiên mệnh, vua là thiên tử và chống lại vua là chống lại thiên ý Trong khi đó, ở phương Tây, cuộc đấu tranh tư tưởng giữa các nhà dân chủ và chống dân chủ Hy Lạp cổ đại lại diễn ra hết sức sôi nổi Trong đó, Solon, Pericles và Cicero là những nhà triết học tiêu biểu ủng hộ nền dân chủ chủ nô, xem quyền lực nhà nước là quyền lực của nhân dân Ngược lại, Socrates, Plato và Aristotle lại phê phán nền dân chủ chủ nô và cho rằng quyền lực nhà nước tốt nhất phải nằm trong tay tầng lớp quý tộc tri thức

Trang 8

Trải qua hơn mười thế kỷ đêm trường Trung cổ, nhà nước bị thống trị hoàn toàn bởi lực lượng tôn giáo, quyền lực nhà nước không còn mang tính chất thế tục mà được khoác lên lớp áo bóng bẩy của thần quyền Đến thời kỳ Phục hưng và cận đại, một lần nữa quyền lực nhà nước được tách khỏi sự huyền bí, huyễn hoặc để trở về với đúng bản chất thế tục của nó Bằng lý luận sắc bén của mình, các nhà triết học, chính trị học từ thời Phục hưng đến thời Khai sáng đã không ngừng đấu tranh để lý giải và chứng minh cho tính thế tục ấy Đồng thời, các nhà triết học thời kỳ này cũng đã đẩy quyền lực nhà nước hoàn toàn là “ý chí chung” của toàn xã hội, tiêu biểu là tư tưởng của Montesquieu và Rousseau

Trong dòng chảy lịch sử tư tưởng chính trị, Montesquieu và Rousseau nổi lên là những nhà khai sáng điển hình Tư tưởng của các ông có nhiều điểm tiến bộ trong việc đề cao tính chất công cộng của quyền lực nhà nước Tuy thống nhất trong quan điểm về nguồn gốc hình thành và chức năng của quyền lực nhà nước nhưng có sự khác biệt rõ nét về cách tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước trong quan điểm của hai ông Nếu Montesquieu là người đưa ra lý thuyết phân quyền nhằm mục đích hạn chế tối đa sự tha hóa của quyền lực nhà nước, thì Rousseau lại cho rằng quyền lực nhà nước là “ý chí chung” nên nó phải được thống nhất ở nhân dân và không thể phân chia Giữa quan điểm của Montesquieu và Rousseau có những điểm khác biệt và sự hợp lí riêng Tuy nhiên, sự khác nhau này không làm thay đổi bản chất và nguồn gốc của quyền lực nhà nước giống như một số người lầm tưởng, mà thực ra nó chỉ khác nhau

ở cách thức tổ chức và vận hành để sao cho đạt được hiệu quả cao nhất Do vậy, việc bóc tách kỹ lưỡng và so sánh để tìm ra ưu điểm, hạn chế của cả hai nhà tư tưởng này là hết sức cần thiết, làm cơ sở để tìm ra phương án hợp lí nhất cho từng quốc gia trong việc tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước

Hiện nay, lý thuyết phân quyền của Montesquieu được nhiều quốc gia ủng hộ và xem như đó là cơ chế tốt nhất để kiểm soát quyền lực nhà nước

Trang 9

Trên thực tế, nền chính trị của một số nước áp dụng lý thuyết phân quyền của Montesquieu rất năng động và hiệu quả, điển hình như Mỹ và Tây Âu Tuy nhiên, liệu có phải đây là phương án tốt nhất cho tất cả các quốc gia? Và phải chăng quan điểm của Rousseau về quyền lực nhà nước không có nhiều ưu điểm và hợp lý bằng quan điểm của Montesquieu? Một câu hỏi không kém phần quan trọng nữa là Việt Nam nên áp dụng phương thức tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước như thế nào để phát huy tối đa trí tuệ và hiệu quả quản lý nhưng vẫn đảm bảo được quyền làm chủ của nhân dân và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản?

Từ những nguyên nhân trên, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu để làm sáng tỏ về quyền lực nhà nước là điều hết sức cần thiết Để giải quyết các vấn

đề này, đề tài “Tư tưởng của CH-L S Montesquieu và J J Rousseau về quyền lực nhà nước” sẽ tập trung phân tích các nội dung về nguồn gốc, bản chất, chức năng, phương thức tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước Từ đó, tác giả mong muốn so sánh và chỉ ra những ưu, khuyết điểm của Montesquieu

và Rousseau để kế thừa và làm nền tảng lý luận vững chắc cho việc xây dựng nhà nước Việt Nam hiện đại

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Kể từ thời kỳ Khai sáng cho đến nay, tư tưởng chính trị của Montesquieu và Rousseau luôn có sức ảnh hưởng trong cả lý luận và thực tiễn Tác động của tư tưởng chính trị của Montesquieu và Rousseau rất mạnh

mẽ, điển hình như Cách mạng tư sản Pháp, Cách mạng tư sản Mỹ và sự hình thành nhà nước pháp quyền hiện đại Do vậy, tư tưởng của hai ông đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước Các hướng nghiên cứu chính có liên quan đến tư tưởng chính trị của Montesquieu và Rousseau gồm có: (1) hướng nghiên cứu về lịch sử và tiền đề hình thành tư tưởng; (2) hướng nghiên cứu về các nội dung trong tư tưởng chính trị của Montesquieu và Rousseau; (3) hướng nghiên cứu về giá trị và

Trang 10

tính kế thừa từ tư tưởng chính trị của Montesquieu và Rousseau Sự phân chia này của tác giả chỉ mang tính tương đối

Các nghiên cứu về tiền đề lịch sử để hình thành tư tưởng của Montesquieu và Rousseau về quyền lực nhà nước

Bối cảnh lịch sử Tây Âu nói chung và lịch sử nước Pháp nói riêng có vai trò không nhỏ trong việc hình thành tư tưởng chính trị của Montesquieu và

Rousseau Các vấn đề này được tìm thấy trong quyển Lịch sử thế giới của

Nguyễn Hiến Lê và Thiên Giang (2018) Công trình gồm bốn phần với 847 trang đã mô tả lại một cách sơ lược lịch sử thế giới, từ Đông sang Tây, từ cổ đại đến cận đại Trong đó, phần III - lịch sử thế giới thời cận đại đã cung cấp những góc nhìn về nền tảng lịch sử cho luận văn Bức tranh chung về lịch sử thế giới từ thời tiền sử đến hiện đại cũng được Hidehisa Nanbo (Nguyễn Huy

Hoàng dịch, 2020) mô tả trong công trình Lịch sử thế giới gồm 12 tập và Philip Steele (Lê Thị Thu Ngọc dịch, 2020) phân tích trong tác phẩm Encyclopeadia

of History (Bách khoa thư lịch sử) Điểm đáng chú ý trong nghiên cứu của

Hidehisa Nanbo là tập 6 - trình bày về thời kỳ Phục hưng và kỷ nguyên Khai sáng và tập 7 là trình bày về Cách mạng Pháp và cách mạng công nghiệp Trong khi đó, với lối trình bày bằng tranh vẽ, bản đồ và tóm tắt nội dung diễn biến lịch sử của nhân loại, Philip Steele đã trình bày ngắn gọn, đầy đủ những sự kiện nổi bật, trong đó có châu Âu từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII

Song song đó, Will Durant và Ariel Durant mất 40 năm nghiên cứu và

biên soạn bộ Lịch sử văn minh thế giới gồm 11 phần Riêng phần thứ X - Rousseau and Revolution (dịch là Rousseau và Cách mạng), bao gồm 05 tập,

trình bày đầy đủ về diễn biến lịch sử nước Anh và nước Pháp, xuất thân và những thăng trầm trong cuộc đời, sự nghiệp của Rousseau đã được Đỗ Lan dịch (2020) Công trình này không những cung cấp kiến thức về lịch sử mà còn giúp cho người đọc hiểu một cách sâu sắc về con người của Rousseau và

tư tưởng của ông

Trang 11

Các nghiên cứu về tiền đề lý luận hình thành tư tưởng chính trị của Montesquieu và Rousseau về quyền lực nhà nước

Lịch sử triết học phương Tây được Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh và

Nguyễn Anh Tuấn (2006) trình bày các nội dung cơ bản về khái niệm triết học và chức năng của nó, nội dung tư tưởng triết học thời kỳ cổ đại, Trung cổ, Phục hưng, Khai sáng Pháp và triết học cổ điển Đức Trong đó, tác giả dành

61 trang để trình bày các vấn đề cơ bản của triết học Khai sáng Pháp Song song đó, nhóm giáo sư triết học các trường đại học Pháp trình bày nội dung tư tưởng của các trường phái triết học, các nhà triết học phương Tây từ Hy Lạp

cổ đại đến hiện đại trong quyển Triết học Tây phương từ khởi thủy đến đương đại với 1200 trang đã được Phan Quang Định biên dịch (2010)

Tư tưởng chính trị của Montesquieu và Rousseau kế thừa trực tiếp từ các nhà tư tưởng thời Phục hưng và cận đại, mà nổi bật hơn hết là triết học chính trị của Machiavelli và John Locke Vì vậy, một số nghiên cứu tiêu biểu không thể bỏ qua như: Đinh Ngọc Thạch (2007) trong bài báo khoa học với nhan đề “Một số tư tưởng triết học chính trị của John Locke: thực chất và ý nghĩa lịch sử” và Nguyễn Ngọc Định (2008) trong luận văn thạc sĩ “Tư tưởng

chính trị của John Locke” là hai tác giả đã chỉ ra và luận giải nội dung và ý

nghĩa lịch sử của một số tư tưởng triết học chính trị của John Locke Nếu như tác giả Đinh Ngọc Thạch so sánh quan điểm của John Locke với một số nhà triết học trước và sau ông về các nội dung: tư tưởng pháp quyền, quyền con người, mối quan hệ giữa quyền và luật pháp, sự phân quyền trong quyền lực nhà nước và sự tự do công dân thì Nguyễn Ngọc Định đã nêu được ảnh hưởng

tư tưởng chính trị của John Locke đến tư tưởng Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII

về các nội dung: nguồn gốc và bản chất của nhà nước, tự do và dân chủ, quyền con người với quyền công dân Võ Châu Thịnh (2016b) trong luận án tiến sĩ “Triết học chính trị của Machiavelli trong lịch sử tư tưởng chính trị phương Tây cận đại” đã làm sáng tỏ nội dung cơ bản, đặc điểm, giá trị và hạn

Trang 12

chế của triết học chính trị của Machiavelli Bên cạnh đó, nghiên cứu đã chỉ ra

sự kế thừa và phát triển triết học Machiavelli của một số triết gia cận đại, trong đó có Montesquieu và Rousseau Ngoài ra, trong bài “Tư tưởng cộng hòa trong triết học chính trị của Niccolo Machiavelli”, tác giả Võ Châu Thịnh (2016a) cũng đã khai thác các quan điểm của Machiavelli về đề cao quần chúng nhân dân và chính quyền cộng hòa, cách thiết lập và duy trì chính quyền cộng hòa

Về nội dung tư tưởng của Montesquieu và Rousseau thì có khá nhiều công trình với đa dạng các góc độ nghiên cứu và lĩnh vực Một số hướng nghiên cứu tiêu biểu là triết học chính trị, quyền tự nhiên và quyền con người, trạng thái tự nhiên và xã hội dân sự, nhà nước và quyền lực nhà nước, xây dựng nhà nước pháp quyền, kinh tế và thương mại, các đề tài khác

Trên thế giới, triết học chính trị của Rousseau đã được được nghiên cứu

từ rất sớm Trong đó, Dunning (1909) là một trong những nhà nghiên cứu tiên phong trình bày khá đầy đủ nội dung lý thuyết chính trị của Rousseau Trong

“The Political Theories of Jean Jacques Rousseau”, Dunning đã chỉ ra nguồn gốc hình thành tư tưởng triết học của Rousseau, các vấn đề về tự nhiên và xã hội, khế ước xã hội, quyền lực tối thượng và luật pháp, chính quyền, sự ảnh hưởng của các lý thuyết chính trị của Rousseau đối với thời đại Trong khi đó, Turnbull (1982) trong luận án tiến sĩ “The Political of Philosophy of Jean

Jacques Rousseau” tập trung vào tiền đề hình thành và nội dung triết học

chính trị của Rousseau trong tác phẩm Khế ước xã hội, đồng thời chỉ ra mối liên hệ trong triết học chính trị của Rousseau đối với nhà nước hiện đại Ngoài

ra, nghiên cứu cũng bàn về ý chí chung và nguồn gốc của nó, nhưng điểm khác biệt của luận án so với những nghiên cứu trước là phát triển cách lí giải nguồn gốc của khế ước xã hội và ý chí chung thông qua việc phân tích “Bài giảng thứ 2 của Rousseau - Examination of Rousseau’s Second Discourse” (The Discourse on the Origin of Inequality - Bài luận về sự bất bình đẳng)

Trang 13

Còn Fralin (1978) trong “The Evolution of Rousseau’s view of Representative

Government” đã xem xét tính đại diện của nhà nước từ trạng thái tự nhiên,

khế ước xã hội đến việc hình thành nhà nước, quyền lực nhà nước và xã hội dân sự Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra những mâu thuẫn và hạn chế của Rousseau về chính thể đại diện

Ngoài những khía cạnh đã được Turnbull nghiên cứu, luận văn thạc sĩ

“Jean Jacques Rousseau and the Politics of Balance” của Sebhatu (1985) còn trình bày các quan điểm về quyền lực tối cao và hình thức chính phủ, chính thể đại diện và luật tự nhiên Espinoza và Saavedra (2007) trong “The legitimate republic and the political order in Rousseau: Principles, composition and image of the state of equilibrium” cũng trình bày tư tưởng của Rousseau về nhà nước, khế ước xã hội, ý chí chung nhưng điểm mới của nghiên cứu này là làm rõ khái niệm và nguyên tắc cơ bản về triết học và lịch

sử trong quan điểm của Rousseau về nhà nước và nguyên tắc cấu thành nền cộng hòa hợp pháp, mô hình của một nền cộng hòa cân bằng Từ đó, tác giả

đã nhận xét về vai trò mô hình cộng hòa của Rousseau và lý thuyết của ông đối với hoạt động của nhà nước và chính phủ Ngày nay, các nhà khoa học chính trị không chỉ xét nhà nước dưới góc độ bản chất và chức năng mà còn xem xét đến mối quan hệ giữa nhà nước với xã hội Nhà nước là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho sự tồn tại của xã hội, đồng thời nó cũng là sản phẩm của xã hội Điều này được thể hiện trong công trình “Sovereignty between Effectiveness and Legitimacy: Dimensions and Actual Relevance of Sovereignty in Bodin, Hobbes and Rousseau” vào năm 2006 của Olaf Asbach Nghiên cứu này đưa ra những lập luận bảo vệ chức năng của quyền lực nhà nước và chống lại khuynh hướng vô chính phủ Trong khi đó, các vấn đề: nhà nước và chủ quyền quốc gia, học thuyết khế ước xã hội, quyền con người, kinh tế chính trị được Haozhe Wang (2013) tìm hiểu và phân tích trong

“Political Realism and Political Philosophy in Jean - Jacques Rousseau’s

Trang 14

Social Contract” Nhưng khác các tác giả trước, Wang đánh giá Rousseau là một người theo chủ nghĩa hiện thực

Tại Việt Nam, nội dung triết học chính trị của Rousseau được Nguyễn Thị Châu Loan (2014) trong luận án tiến sĩ “Triết học chính trị J.J Rousseau

và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay” phân tích về quyền tự nhiên, về nguồn gốc của sự bất bình đẳng, về

ý chí chung, về chủ quyền tối cao và khế ước xã hội Trong khi đó, Dương Thị Ngọc Dung (2009) trong luận án tiến sĩ “Triết học chính trị Jean Jacques Rousseau và ý nghĩa lịch sử của nó” đã nghiên cứu nhiều hơn về quyền lực nhà nước và còn chỉ ra được một số điểm khác nhau trong tư tưởng của Rousseau và Montesquieu trong cơ cấu tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước Tác giả đánh giá được mặt tích cực và hạn chế của triết học chính trị Rousseau và ý nghĩa của nó đối với thời đại và lịch sử tư tưởng thế giới Tuy nhiên, trong luận án, tác giả chỉ điểm sơ qua về trạng thái tự nhiên và quyền

tự nhiên, nguồn gốc hình thành nhà nước Sự khác nhau trong quan niệm về thống nhất quyền lực của Rousseau với phân chia quyền lực của Montesquieu được đề cập đến, nhưng tác giả chưa có điều kiện để phân tích sâu và so sánh đến sự kế thừa và khác biệt trong tư tưởng chính trị của Rousseau và Montesquieu về trạng thái tự nhiên, bản chất và chức năng của quyền lực nhà nước, ưu khuyết điểm của hai phương thức tổ chức quyền lực nhà nước

Khi nghiên cứu về triết học chính trị của Montesquieu, trong luận văn thạc sĩ “Tìm hiểu triết học chính trị của Montesquieu”, Lê Tuấn Huy (2002) làm rõ đặc điểm của các hình thức nhà nước và học thuyết phân quyền trong

tư tưởng của Montesquieu, sự khác nhau cơ bản trong quan điểm phân quyền của Montesquieu và quan điểm thống nhất quyền lực của Rousseau Khi phát triển nội dung này thành luận án tiến sĩ “Triết học chính trị Montesquieu với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Lê Tuấn Huy (2004) đã chỉ ra những đóng góp của Montesquieu về tinh thần pháp

Trang 15

quyền và những nguyên tắc để thực thi nó Tác giả cũng trình bày đề cập đến nhà nước và quyền lực nhà nước, quan niệm về chính thể và các đặc điểm, hệ thống tổ chức quyền lực nhà nước thông qua việc phân tích ba cơ quan quyền lực nhà nước và thuyết phân quyền trong tư tưởng Montesquieu Tuy nhiên, cả hai luận văn và luận án nêu trên đều chưa bàn sâu về quyền lực nhà nước như nguồn gốc ra đời, đặc điểm, cách thức tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước trong tư tưởng của Montesquieu và so sánh nó với tư tưởng của Rousseau Cũng nghiên cứu về triết học chính trị của Montesquieu, nhưng Levy (2009) trong bài “Montesquieu’s Constitutional Legacies” xem Montesquieu là đại diện cho chủ nghĩa hợp hiến cổ điển và chỉ ra sự kế thừa, khác biệt của chủ nghĩa hợp hiến cổ điển đến hiện đại Đây là nghiên nghiên cứu có góc nhìn phân tích khác hẳn những nghiên cứu trước dù có cùng chủ thể

Nghiên cứu về nhà nước và quyền lực nhà nước, đề cập đến quan điểm của Rousseau, Trịnh Thị Xuyến (2007) trong bài báo “Tư tưởng của Rousseau về tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước” đã trình bày rất súc tích và đầy đủ nội dung như: nguồn gốc hình thành quyền lực nhà nước, nguyên tắc căn bản trong tổ chức quyền lực nhà nước là thuộc về nhân dân, quan điểm thống nhất quyền lực nhà nước nhưng có sự phân công giữa lập pháp, hành pháp, tư pháp và chức năng của chúng Từ những nội dung đã được phân tích, tác giả đã chỉ ra sự kế thừa, vận dụng nhưng có tính khác biệt của mô hình quyền lực nhà nước ở Việt Nam là quyền lập pháp mang tính đại diện chứ không mang tính trực tiếp như quan điểm của Rousseau Đồng thời, tác giả đưa ra một vấn đề đáng phải suy ngẫm, đó là “phải hình thành và hoàn thiện cơ chế kiểm soát Quốc hội” (Trịnh Thị Xuyến, 2007, tr.32) và lý giải nguyên nhân như sau:

Chính nhân dân là người kiểm soát Quốc hội thông qua các nhiệm kỳ bầu cử nhưng quyền lực này lại gián đoạn Do vậy trong thời gian giữa hai cuộc bầu cử, ngoài cơ chế tự kiểm soát của mình, Quốc hội

Trang 16

sai thì cơ quan nào giữ trọng trách phán xét Quốc hội? (Trịnh Thị Xuyến, 2007, tr.32)

Thật ra, đây là vấn đề còn bỏ ngỏ và gây nhiều tranh luận ở Việt Nam Tuy nhiên, nếu tác giả đề cập đến sự khác nhau giữa Rousseau và Montesquieu về mô hình tổ chức và kiểm soát quyền lực thì sẽ làm nổi bật hơn tư tưởng của ông Ngoài những nội dung trên, Nguyễn Trung Hiểu (2017)

đã nghiên cứu quyền lực nhà nước trong tư tưởng của Rousseau dưới góc độ triết học pháp quyền trong luận văn thạc sĩ “Tư tưởng triết học pháp quyền của J J Rousseau - giá trị và ý nghĩa lịch sử” Tuy nhiên, công trình này không phân tích sâu về nguồn gốc, bản chất, chức năng của quyền lực nhà nước trong tư tưởng của Rousseau và Montesquieu Thực ra những nội dung trên đã được Evans (1995) nghiên cứu từ rất lâu trong bài báo “Freedom in Modern Social: Rousseau’s Challenge” Hơn hết, tác giả còn chỉ ra sự biến đổi về bối cảnh, nhân tố kinh tế, chính trị, tôn giáo, lợi ích và mối quan hệ xã hội… trong xã hội hiện đại làm cho quyền lực nhà nước có khuynh hướng tha hóa hay bị tước đoạt và những khiếm khuyết trong quan điểm tự do của Rousseau đối với thời hiện đại

Còn đối với tư tưởng của Montesquieu về quyền lực nhà nước, từ góc

độ ủng hộ quyền tự do, Richard Bellamy (1996) đã phân tích tính hợp hiến của nhà nước, quyền lực nhà nước của một số nhà triết học chính trị, trong đó

có Montesquieu Sâu hơn thế, Phan Thị Hiên (2011) đã trình bày cơ cấu của quyền lực nhà nước gồm 03 nhánh: lập pháp, hành pháp và tư pháp trong luận văn thạc sĩ “Tư tưởng chính trị của Montesquieu trong tác phẩm Tinh thần pháp luật và ý nghĩa lịch sử của nó” Tác giả cũng nêu rõ chức năng, điều kiện của các nhánh quyền lực và mối quan hệ giữa các nhánh quyền lực đó trong

tư tưởng chính trị của Montesquieu Đồng thời, tác giả có chỉ ra điểm khác nhau giữa tư tưởng của Montesquieu với Hobbes, Locke về phân chia quyền lực Bên cạnh đó, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong tư

Trang 17

tưởng chính trị của Montesquieu cũng được tác giả phân tích, đồng thời liên

hệ đến xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, việc chưa phân biệt rõ quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước nên còn nhầm lẫn nội hàm giữa hai khái niệm này là một trong những hạn chế của tác giả khi trình bày nội dung quyền lực chính trị và lý thuyết phân quyền Trong khi

đó, Marco Goldoni (2013) trong bài “Montesquieu and the French Model of Separation of powers” đã phân tích những luận điểm của Montesquieu để làm

rõ sự khác biệt về đặc trưng của nhà nước và bản chất quyền lực nhà nước, vai trò của luật pháp, kinh tế giữa chính thể quân chủ chuyên chế và cộng hòa

và sự phân chia quyền lực nhà nước trong chính thể cộng hòa Cũng bàn về thể chế chính trị và mô hình nhà nước, nhưng khác với Goldoni, Robin Douglass (2012) làm rõ bản chất, đặc trưng và nguyên tắc chung của nền cộng hòa trong quan điểm của Montesquieu trong bài báo “Montesquieu and Modern Republicanism” Điểm khác biệt là tác giả chỉ ra lý luận của Montesquieu về tự do và phản biện lại quan điểm tự do là không thống trị trong nhận định về Montesquieu của Pangel và Pettit Bên cạnh đó, tác giả chỉ

ra sự thiếu sót của Montesquieu khi ông không liên kết bất kỳ hình thức tự do nào với nền cộng hòa

Dựa trên các nội dung tư tưởng của Montesquieu và Rousseau về quyền lực nhà nước, bài báo “Rousseau’s Thoughts on the Division and Control of State Power A Comparison with Montesquieu’s Model” của Nguyễn Thị Châu Loan (2017) đã phân tích các phương pháp tổ chức và phân chia các loại hình quyền lực nhà nước như lập pháp, hành pháp và tư pháp dựa trên mô hình nhà nước pháp quyền của Rousseau nhằm đảm bảo thực thi chủ quyền tối cao của nhân dân, khế ước xã hội và quyền con người Điểm nhấn của nghiên cứu là cho chúng ta thấy điểm giống và khác nhau giữa mô hình thống nhất quyền lực của Rousseau và tam quyền phân lập của Montesquieu, tuy nhiên công trình này chưa chỉ ra sự giống nhau và khác nhau trong nguồn

Trang 18

gốc, bản chất và chức năng của quyền lực nhà nước trong tư tưởng của Montesquieu và Rousseau

Vì trạng thái tự nhiên và khế ước xã hội là những vấn đề quan trọng trong nền tảng hình thành nhà nước và xã hội công dân, nên đây là một nội dung không thể thiếu khi nghiên cứu về Rousseau Điều này được đề cập khi Sue Slate Donaldson (1978) trình bày sơ lược về sự phát triển của học thuyết khế ước xã hội từ thời cổ đại đến Rousseau trong luận văn thạc sĩ “From the natural to the civil state: the Evolutionary process as viewed by Thomas Hobbes, John Locke and Jean Jacques Rousseau” Nội dung chính của luận văn là làm rõ quan điểm trạng thái tự nhiên và trạng thái xã hội dân sự của Thomas Hobbes đến John Locke và Rousseau, chỉ ra được sự khác biệt của Rousseau so với Thomas Hobbes và John Locke Conroy (1979) cũng nghiên cứu vấn đề tương tự như trên trong bài “Rousseau's Organic State”, cụ thể là

sự khác biệt giữa trạng thái tự nhiên với trạng thái xã hội dân sự và quá trình chuyển tiếp từ trạng thái tự nhiên lên xã hội dân sự Còn Hoàng Thị Hạnh (2007) trong bài “Jean Jacques Rousseau và tác phẩm Bàn về khế ước xã hội” chỉ trình bày sơ nét về cuộc đời và sự nghiệp của Rousseau, nội dung cơ bản

của tác phẩm Bàn về khế ước xã hội, điểm tiến bộ và hạn chế của Rousseau

trong tác phẩm này Khác nhiều so với các nghiên cứu trên, trong bài

“Rousseau, Montesquieu and the Origins of Inequality”, Robertson (2008) không chỉ phân tích điểm giống và khác nhau trong quan điểm của Montesquieu và Rousseau về trạng thái tự nhiên mà còn chỉ ra sự tiến bộ của Rousseau so với Montesquieu về quan niệm bình đẳng và bất bình đẳng

Khi nghiên cứu về Montesquieu và Rousseau thì các vấn đề về trạng thái tự nhiên, quyền con người, quyền công dân và các vấn đề khác trong xã hội dân sự là chủ đề được các học giả trong nước và trên thế giới nghiên cứu nhiều nhất Theo đó, Singer (2018) dành hẳn một chương trong quyển sách

Pragmatism, Rights and Democracy để bàn về quyền tự nhiên trong tư tưởng

Trang 19

của Rousseau, John Stuart Mill và Thomas Hill Green Nhìn chung, tác giả trình bày đầy đủ về quyền tự nhiên trong tư tưởng của Rousseau nhưng chưa chỉ ra được sự kế thừa hoặc so sánh quan điểm của Rousseau với bất kỳ triết gia nào Nghiên cứu về quyền con người, Timothy (2016) tập trung vào việc

so sánh điểm giống và khác nhau trong tư tưởng của Montesquieu và Rousseau về: mối liên hệ giữa khát vọng của con người trong tự nhiên với chính trị, nền tảng và nội dung về quyền tự nhiên của con người, nhiệm vụ và phương pháp thực hiện của chính phủ trong việc bảo vệ các quyền ấy trong trạng thái xã hội công dân trong luận án tiến sĩ “Montesquieu and Rousseau on the Passion and Politics” Tại Việt Nam, Nguyễn Quỳnh Anh (2018) trong luận

án tiến sĩ “Tư tưởng về quyền con người trong triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII với vấn đề bảo vệ và phát huy quyền con người ở Việt Nam hiện nay” đã trình bày sự hình thành và phát triển tư tưởng quyền con người, nội dung, đặc điểm và giá trị của nó đối với lịch sử tư tưởng triết học về quyền con người của thế giới Trong đó, tác giả có đề cập đến quyền con người trong tư tưởng của Montesquieu và Rousseau, đồng thời đánh giá các giá trị, hạn chế của nó và liên hệ đến vấn đề bảo vệ, phát huy quyền con người ở Việt Nam hiện nay Cũng nghiên cứu về quyền con người nhưng một số tác giả chỉ trình bày nội dung, đặc điểm và ý nghĩa tư tưởng quyền con người của Rousseau, như Nguyễn Thị Thanh Huyền (2014) trong bài “Tư tưởng của J J Rousseau về quyền con người” và Nguyễn Thị Huỳnh Như (2019) trong luận án tiến sĩ “Tư tưởng về quyền con người của Jean - Jacques Rousseau - đặc điểm và giá trị lịch sử” Luận án của Nguyễn Thị Huỳnh Như sâu hơn vì tác giả nêu thêm vai trò của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp và chức năng của nó trong việc bảo vệ quyền con người trong một nhà nước pháp quyền

Trong khi đó, Krause (2005) trong “Two concepts of Liberty in

Montesquieu” và Céline Spector (2012) trong Chương 4 của quyển French Liberalism From Montesquieu to Present Day thì nghiên cứu về phạm trù tự

Trang 20

do trong tư tưởng của Montesquieu Krause là một trong những chuyên gia nghiên cứu về chủ nghĩa tự do Tác giả đã bàn luận quan điểm của Montesquieu về tự do trong trạng thái tự nhiên và tự do dân sự, yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tự do ở các quốc gia và cách thức đảm bảo tự do chính trị của công dân Sự quan tâm của Spector cũng tập trung vào nghiên cứu nền tảng của quyền tự do dân sự, sự khác nhau giữa tự do tự nhiên với tự do dân

sự, các yếu tố tác động đến tự do trong tư tưởng của Montesquieu

Dân chủ cũng là một trong những quyền cơ bản của công dân trong việc thực thi quyền lực nhà nước, do đó trong bài “Democratic Theory and the Public Interest: Condorcet and Rousseau Revisited”, Estlund và cộng sự (1989) đã chỉ ra quan điểm của Condorcet và Rousseau về nội hàm khái niệm dân chủ, ý chí chung, mối quan hệ giữa dân chủ và tính đảng phái và làm sao để đảm bảo dân chủ một cách tốt nhất có thể Thực chất nghiên cứu này phân tích lại quan điểm của Condorcet và Rousseau về dân chủ để phê phán một số nhận định của Grofman và Feld (1988) trong bài “Rousseau’s geneneral will: A Condorsetian Perspective” Trong khi đó, bài báo “On the Intention of Rousseau” của Leo Strauss (1947) và bài “Rousseau and Democracy” của Wade (1976) đã chỉ ra các quan tâm chính yếu của Rousseau về các vấn đề chính trị, xã hội và nhà nước, đặc biệt là chủ quyền của nhân dân đối với nhà nước

Bàn về vấn đề dân chủ, luận văn thạc sĩ “Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của J J Rousseau” của Dương Thị Ngọc Dung (2001) đã trình bày về nguồn gốc hình thành, nội dung và ý nghĩa tư tưởng dân chủ của Rousseau Ngoài ra, trong “Góp phần tìm hiểu quan niệm về thống nhất quyền lực và những ý tưởng về nhà nước của dân, do dân và vì dân của J J Rousseau”, Dương Thị Ngọc Dung (2005) còn phân tích về nguyên nhân hình thành nguyên tắc quyền lực thống nhất của Rousseau Cũng tương tự như trên, Phạm Thế Lực (2006) đã trình bày nguyên tắc thống nhất quyền lực ở nhân dân của

Trang 21

Rousseau trong bài báo “Tư tưởng chủ quyền nhân dân trong tác phẩm Khế ước xã hội của J J Rousseau” Nhưng điểm nổi bật của nghiên cứu này là trình bày nguồn gốc, đặc điểm và điều kiện cần thiết của quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong quan điểm của Rousseau

Ngoài các công trình nghiên cứu trực diện về nhà nước và quyền lực nhà nước trong tư tưởng của Montesquieu và Rousseau còn có một số công trình nghiên cứu khác Dưới góc nhìn của một người nghiên cứu pháp luật, trong bài “Rousseau, Theorist of Constituent Power”, Colón-Ríos (2016) đã trình bày và đánh giá quan điểm của Rousseau về luật – như là một quy tắc của hệ thống chính trị chứ không phải là quy chế mà mọi người thường hiểu Tác giả đã xem xét cách tiếp cận của Rousseau về hiến pháp, quyền lập pháp

và ý tưởng về cách thực thi quyền lực thông qua các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp Khi so sánh với John Locke và Sieyès, tác giả đã đánh giá Rousseau cao hơn, bởi vì Rousseau bảo vệ quan điểm quyền lực tối thượng thuộc về nhân dân và không thể phân chia, các nhánh quyền lực chẳng qua chỉ

là sự đại diện tạm thời để điều hành nhà nước Hay dưới góc nhìn kinh tế học, Devletoglou (1963), trong bài “Montesquieu and the Wealth of Nations” đã tập trung bàn về cơ cấu nền kinh tế, dân số và các yếu tố đảm bảo cho sự vững mạnh của một quốc gia Trong khi đó Rosow (1984) lại khai thác các quan điểm về thương mại của Montesquieu dưới góc độ kinh tế và vấn đề này

đã được trình bày trong bài “Commerce, Power and Justice: Montesquieu on International Politics”

Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu nhằm chỉ ra tính kế thừa vận dụng vào thực tiễn Chẳng hạn như bài “Towards the Ideal Constitution: Rousseau, Montesquieu and 3 May 1791” của Lukowski (1995) phân tích những điểm hạn chế trong hệ thống chính trị của Ba Lan và dựa trên sự kế thừa tư tưởng của Montesquieu và Rousseau để hướng đến việc cải cách nền chính trị Ba Lan (lập pháp, hành pháp và tư pháp) và xây dựng một Hiến pháp

Trang 22

lý tưởng cho nước này Còn Vojislav Stanovcic (2013) trong bài báo

“Montesquieu, Rousseau and the French Revolution” đã trình bày về sự ảnh hưởng trong những quan điểm của Montesquieu và Rousseau đối với cách mạng tư sản Pháp 1791, đặc biệt là các vấn đề về quyền con người, tinh thần pháp luật, chủ nghĩa hợp hiến, dân chủ đại diện, quyền lực nhà nước và mô hình tam quyền phân lập

Ở Việt Nam, luận án tiến sĩ “Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước với việc tổ chức bộ máy nhà nước ở một số nước” của Nguyễn Thị Hồi

(2003) đã đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu và lí giải các vấn đề như sau: một là

khái niệm về tư tưởng phân quyền, nội dung cơ bản và lịch sử phát triển tư tưởng Trong phần này, tác giả có trình bày đến tư tưởng của Montesquieu như một đại diện tiêu biểu của thời Khai sáng Pháp và cũng là người trình bày

hoàn thiện nhất về tư tưởng phân quyền Hai là, từ sự phân tích trên, tác giả đã

chỉ ra được sự vận dụng tư tưởng phân quyền trong một số nhà nước tư sản đại

diện cho các mức độ áp dụng Ba là, luận án chỉ ra sự thể hiện tư tưởng phân

quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam qua các Hiến pháp Luận án

đã làm nổi bật tính kế thừa của tư tưởng phân quyền, đặc biệt chỉ ra được sự vận dụng trong thực tiễn bộ máy nhà nước của một số nước theo chính thể đại nghị (Anh, Đức), cộng hòa tổng thống và cộng hòa hỗn hợp Cũng đặt ra nhiệm

vụ nghiên cứu để xây dựng nhà nước, trong luận án “Triết học chính trị Montesquieu với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Lê Tuấn Huy (2005) đã trình bày nội dung triết học chính trị Montesquieu về chính thể và hệ thống tổ chức quyền lực nhà nước, quyền công dân, quan niệm địa chính trị và tinh thần khoan dung chính trị Đồng thời, luận

án đã đánh giá tinh thần cách mạng, giá trị và hạn chế trong triết học chính trị Montesquieu đối với thời đại và tiền đề lý luận cho sự kế thừa của Việt Nam trên con đường xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Trang 23

Tóm lại, Montesquieu và Rousseau là những nhà Khai sáng kinh điển nên có rất nhiều công trình nghiên cứu xoay quanh tư tưởng của các ông, kể

cả trong nước lẫn nước ngoài Ở Việt Nam, hầu hết các nghiên cứu chỉ được thực hiện dưới góc độ triết học, triết học chính trị và một số ít công trình nghiên cứu dưới góc độ chính trị học Nhiều nghiên cứu mang tính tổng quát, không chuyên sâu về một vấn đề cụ thể trong quan điểm của Montesquieu và Rousseau Ngược lại, các công trình nước ngoài có góc độ nghiên cứu đa dạng hơn như: triết học, chính trị học, luật học, kinh tế học, tâm lí học… và đào sâu từng phạm trù cụ thể trong quan điểm của Montesquieu và Rousseau Một số công trình, luận văn, luận án, bài báo khoa học nghiên cứu trực diện

về vấn đề quyền lực nhà nước nhưng nhìn chung chúng chỉ mới dừng lại ở việc tiếp cận, phân tích ở khía cạnh rất nhỏ, chưa thấy sự so sánh điểm giống

và khác nhau giữa Montesquieu và Rousseau về quyền lực nhà nước Một số nghiên cứu có đặt ra vấn đề so sánh nhưng chưa luận giải đầy đủ các vấn đề

mà Montesquieu và Rousseau đã nêu ra Do đó, tác giả nhận thấy đề tài “Tư tưởng CH-L S Montesquieu và J J Rousseau về quyền lực nhà nước” là nội

dung khá mới và chưa có công trình nào trùng lắp hoàn toàn

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu nghiên cứu của luận văn là “Tư tưởng của CH-L

S Montesquieu và J J Rousseau về quyền lực nhà nước”

Phạm vi nghiên cứu, xét về mặt nội dung, luận văn sẽ phân tích: (1) nguồn gốc hình thành quyền lực nhà nước, (2) đặc điểm và chức năng của quyền lực nhà nước, (3) phương thức tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước Những nội dung được trình bày trong luận văn được phân tích từ hai tác phẩm chính: “Tinh thần pháp luật” của Montesquieu và “Bàn về khế ước xã hội” của Rousseau Xét về mặt không gian và thời gian, luận văn nghiên cứu tư tưởng chính trị của Montesquieu và Rousseau về quyền lực nhà nước trong bối cảnh châu Âu thế kỷ thứ XVII - XVIII

Trang 24

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích của luận văn là trình bày nội dung tư tưởng của Montesquieu và Rousseau về quyền lực nhà nước; đồng thời đưa ra những nhận định về những giá trị, hạn chế và ý nghĩa trong tư tưởng của Montesquieu và Rousseau về quyền lực nhà nước

Để đạt được mục đích trên, luận văn cần giải quyết những nhiệm vụ như sau:

Một là, làm rõ điều kiện, tiền đề hình thành và phát triển của tư tưởng

Montesquieu và Rousseau về quyền lực nhà nước

Hai là, phân tích và làm rõ những điểm giống nhau, khác nhau về

nguồn gốc hình thành, bản chất và nhiệm vụ, phương thức tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước trong tư tưởng của Montesquieu và Rousseau

Ba là, đưa ra những nhận định về giá trị và hạn chế của tư tưởng chính

trị Montesquieu và Rousseau về quyền lực nhà nước và ý nghĩa của nó trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận biện chứng duy vật và kết hợp với các phương pháp khác như: logic, phân tích – tổng hợp, diễn dịch – quy nạp, so sánh – đối chiếu

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa về mặt lý luận: luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu

về vấn đề quyền lực nhà nước trong tư tưởng của Montesquieu và Rousseau,

từ đó góp phần làm rõ, bổ sung thêm lý luận về quyền lực nhà nước và rút ra giá trị làm nền tảng trong việc xây dựng nhà nước Việt Nam hiện nay

Ý nghĩa về mặt thực tiễn: luận văn là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên và những người quan tâm đến khoa học chính trị phương Tây, triết học chính trị và nghiên cứu về vấn đề quyền lực nhà nước Đối với những người đang nắm trong tay quyền lực nhà nước, những nội dung được phân

Trang 25

tích trong luận văn sẽ giúp họ hiểu hơn về quyền lực nhà nước, từ đó điều chỉnh thái độ, hành vi trở và sử dụng quyền lực nhà nước một cách đúng đắn

và hiệu quả

7 Điểm mới của luận văn

Bên cạnh việc hệ thống hóa tư tưởng của CH-L.S.Montesquieu và

J.J.Rousseau về quyền lực nhà nước, luận văn đặc biệt chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau trong tư tưởng của hai ông về phương thức tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước Đây cũng chính là điểm mới của luận văn này

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

bao gồm 02 chương: Chương I có 02 tiết, tiết thứ nhất: phân tích bối cảnh lịch

sử và tác động của nó đến tư tưởng của Montesquieu và Rousseau Tiết thứ hai trình bày tiền đề lý luận hình thành tư tưởng của Montesquieu và Rousseau về quyền lực nhà nước Chương II có 02 tiết, tiết thứ nhất trình bày

nội dung tư tưởng của Montesquieu và Rousseau về quyền lực nhà nước

Trong tiết thứ hai, tác giả đánh giá giá trị, hạn chế và ý nghĩa lịch sử của tư

tưởng Montesquieu và Rousseau về quyền lực nhà nước

Trang 26

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

CỦA TƯ TƯỞNG CH-L S MONTESQUIEU VÀ J J ROUSSEAU

VỀ QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC

1.1 Bối cảnh lịch sử Tây Âu và nước Pháp thế kỷ XVI - XVII

Mỗi tư tưởng hay quan điểm chính trị đều chịu sự chi phối của bối cảnh lịch sử trong giai đoạn hình thành tư tưởng đó Vì vậy, tư tưởng của Montesquieu và Rousseau dĩ nhiên không thể nào thoát ly khỏi các biến động

về kinh tế, chính trị, tôn giáo, xã hội ở Tây Âu nói chung và nước Pháp đương thời nói riêng Nhìn chung, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội Tây Âu có những biến đổi lớn “Hai dòng thay đổi nội tại quan trọng liên quan đến (1) thương mại hóa xã hội và (2) định hướng lại thế giới quan” (Stearns, 2001, tr.817) đã làm thay đổi toàn diện mọi mặt của xã hội

Về kinh tế, sau khi trải qua chiến tranh và dịch bệnh ở thế kỷ XIV, cho đến giữa thế kỷ XV, nền kinh tế ở các nước Tây Âu dần được phục hồi Từ giữa thế kỷ XV trở đi, giao thương giữa châu Âu với Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản ngày càng trở nên mạnh mẽ (đặc biệt là nhu cầu về gia vị và lụa) nhưng chủ yếu diễn ra bằng đường bộ Hàng hóa được vận chuyển bằng đường bộ chủ yếu bằng ngựa, lạc đà với chi phí tương đối cao nhưng khả năng chuyên chở lại thấp Bên cạnh đó, con đường trọng yếu từ Âu sang Á do

đế quốc Ottoman chiếm giữ, lãnh thổ nước này trải dài từ khu vực Trung Á, Tây Á, bán đảo Balkan và một phần Bắc Phi Vì vậy, người châu Âu phải tìm kiếm con đường giao thương mới trên biển để mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn và tránh được sự đe dọa của đế quốc Ottoman Nhu cầu tìm kiếm nguồn nguyên liệu, thị trường, kết hợp với những tiến bộ của kỹ thuật đóng tàu đã trở thành động lực để thực hiện các cuộc phát kiến địa lý Điển hình nhất là

Trang 27

các cuộc phát kiến địa lý của Bartolomeu Dias phát hiện ra cực nam châu Phi năm 1488, Cristoforo Colombo phát hiện ra châu Mỹ năm 1492 và Vasco de Gama đã trở thành người châu Âu đầu tiên đến Ấn Độ qua đường Đại Tây Dương năm 1498

Nhờ các cuộc phát kiến địa lý vào cuối thế kỷ XV - đầu thế kỷ XVI mà ngành thương mại phát triển mạnh, thị trường thế giới được mở rộng, góp phần thúc đẩy nhanh sự khủng hoảng, tan rã của quan hệ sản xuất phong kiến

và sự ra đời của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu Quá trình tích lũy tư bản chủ nghĩa được manh nha từ thế kỷ XIII, tuy nhiên, cho đến thế kỷ XVII – XVIII thì phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mới được xác lập Mở đầu là các phát minh trong ngành dệt ở Anh như phát minh ra máy kéo sợi Jenny của James Hargreaves (năm 1764), máy kéo sợi chạy bằng sức nước của Thomas Arkwright (năm 1769), máy dệt chạy bằng sức nước của linh mục Edmund Cartwright (năm 1785) Đặc biệt là phát minh máy dệt chạy bằng hơi nước vào năm 1784 của James Watt đã làm năng suất lao động của ngành kéo sợi tăng lên nhiều lần, thúc đẩy nhu cầu trao đổi, mua bán giữa các quốc gia trở nên mạnh mẽ Đây còn được coi là dấu mốc đầu tiên của quá trình cơ giới hóa Các thành quả khoa học kỹ thuật đã làm thúc đẩy nhanh quá trình phân công lao động, chuyên môn hóa trong sản xuất, xuất hiện các công trường thủ công với quy mô lớn và các trung tâm thương mại sầm uất tại châu Âu Chính

vì vậy mà lực lượng sản xuất đã phát triển ở một tầm cao hơn, quan hệ sản xuất phong kiến lỗi thời không còn phù hợp nữa

Song song với quá trình phát triển kinh tế, giai cấp tư sản ra đời, họ

là đại diện cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đang lên và mâu thuẫn lợi ích với giai cấp địa chủ phong kiến (đại diện cho phương thức sản xuất đã lỗi thời) Về mặt kinh tế, phương thức sản xuất phong kiến khép kín, trì trệ là rào cản lớn nhất đối với nền kinh tế hàng hóa mà giai cấp tư sản đang xây dựng Chính quyền phong kiến ban hành nhiều đặc quyền cho

Trang 28

tầng lớp quý tộc, nhưng lại hạn chế quyền tự do kinh doanh, đặt ra nhiều chính sách, luật lệ, thuế lên giai cấp tư sản và các tầng lớp khác trong xã hội Trong xã hội, tầng lớp trung lưu tư sản ngày càng đông và trở thành lực lượng chi phối đời sống kinh tế nhưng họ không có địa vị chính trị Bên cạnh đó, nông dân là lực lượng lao động chính yếu nuôi sống xã hội phong kiến nhưng bị bóc lột đến cùng cực, vì vậy mà mâu thuẫn giữa giai cấp nông dân với địa chủ luôn là mâu thuẫn cơ bản trong lòng xã hội phong kiến Do vậy mà nông dân, tư sản và công nhân liên kết nhau chống lại giai cấp địa chủ phong kiến

“Sự biến đổi kinh tế theo chiều tư bản chủ nghĩa cuối thế kỷ XV gây ra nhiều ảnh hưởng đối với giáo hội” (Nguyễn Hiến Lê & Thiên Giang, 2018, tr.409) Phương thức sản xuất tư bản ra đời làm đơn giản hóa các mối quan hệ

xã hội, cởi bỏ lớp áo thần quyền phong kiến, xóa nhòa chế độ đẳng cấp, xem xét con người với tư cách công dân Bên cạnh đó, nền kinh tế hàng hóa kích thích sự sáng tạo và tính cạnh tranh trong lao động, mở rộng sản xuất và thương mại, đòi hỏi thị trường tự do, công cụ lao động được cải tiến, chuyên môn hóa và phân công lao động ngày càng rõ nét, thay đổi diện mạo đời sống của mọi tầng lớp trong xã hội Đồng thời, chính phương thức sản xuất tư bản làm phá bỏ nền chuyên chế tinh thần, thúc đẩy tự do sáng tạo và mở rộng không gian sinh hoạt tư tưởng hơn

Sau thời kỳ Phục hưng, chính trị xã hội ở các nước châu Âu có nhiều biến đổi Xu hướng chính từ thời Phục hưng đến thời đại Khai sáng là sự phân tách giữa thần quyền và thế quyền, vua chúa tập trung củng cố quyền lực và tìm cách thoát li khỏi sự lệ thuộc vào giáo hoàng Tiếp nối các phong trào thời Phục hưng, xã hội châu Âu từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII đã diễn ra cuộc cách mạng tư tưởng thông qua phong trào cải cách tôn giáo và làm giàu tri thức khoa học Hai phong trào này đã làm thay đổi nhận thức và lý trí, từ đó

góp phần tạo ra những chuyển biến mới trong xã hội

Trang 29

Từ đầu thế kỷ XVI, người châu Âu đã bắt đầu đặt lại nhiều vấn đề về tôn giáo Tuy vẫn còn dành niềm tin cho Chúa trời nhưng họ lại nghi ngờ và đặt nhiều dấu chấm hỏi cho những lý giải huyễn hoặc của hàng giáo sĩ, thậm chí nghi ngờ kiến thức và tính chính danh của giáo hoàng Mốc son quan trọng khơi nguồn cho phong trào Kháng cách trên khắp châu Âu là sự kiện tiến sĩ thần học Martin Luther treo bảng 95 luận đề tại cửa nhà thờ Wittenberg vào ngày 31/10/1517 nhằm tố cáo giới tăng lữ lộng quyền, bàn về vấn đề phép giải tội, cải cách một số điều liên quan đến sinh hoạt tôn giáo… Đây là một bản tuyên cáo vạch trần sự suy thoái của giáo hội và giáo hoàng Phong trào Kháng cách ở Đức diễn ra quyết liệt giữa Tân giáo và Cựu giáo, giữa nông dân với quý tộc phong kiến và giáo hội Cho đến năm 1555, giáo phái Luther được công nhận tại Đức và truyền bá đến các nước Ba Lan, Anh, Pháp, Na Uy

Song song với phong trào Kháng cách tại Đức, ở Thụy Sĩ, từ năm 1519 Ulrich Zwingli bắt đầu rao giảng tư tưởng cải cách tôn giáo và đả kích các nghi lễ của giáo hội Đến năm 1536, Jean Calvin là người đưa phong trào này phát triển khắp cả nước Ông đã trình bày các tư tưởng cải cách của mình

thông qua tác phẩm Thiết chế Cơ đốc Ông yêu cầu xóa bỏ các nghi lễ rườm

rà, không thờ tranh ảnh, tượng Chúa, cứu rỗi con người thông qua đức tin và

tổ chức giáo hội Calvin theo nguyên tắc dân chủ Còn ở Pháp, các giáo lý của giáo phái Calvin đã được giai cấp tư sản Pháp tiếp thu nhanh chóng Phong trào Kháng cách ở Pháp diễn ra mạnh mẽ, tạo thành cuộc chiến Hugennots

1562 – 1598 giữa Cựu giáo và Tân giáo Cho đến năm 1598 thì vua Henri IV buộc phải ký sắc lệnh Nantes, thừa nhận tính pháp lý của Tin lành và kêu gọi khoan dung tôn giáo Ở Anh, thực chất cuộc cải cách tôn giáo xuất phát từ mục tiêu chính trị của vua Henry VIII Những mâu thuẫn giữa triều đình phong kiến Anh với Giáo hội La Mã đã âm ỉ từ lâu, nhưng cho đến năm 1534 thì vua Henry VIII tuyên bố cắt đứt quan hệ với Giáo hội La Mã nhân cớ Giáo

Trang 30

hoàng Clement VII phản đối việc ông bỏ vợ Sau đó, Henry VIII đã ban bố sắc luật về quyền tối thượng, thành lập giáo hội Anh và tuyên bố vua Anh chính là người lãnh đạo tối cao của giáo hội Anh Tuy nhiên, trên thực tế, cải cách của Anh giáo không triệt để, bởi vì các lễ nghi và giáo lý không có gì thay đổi, do đó “Anh giáo thực chất chỉ là một hình thức trung gian giữa Tân giáo và Công giáo” (Lê Phụng Hoàng, 2008, tr.158) Chính vì vậy mà giai cấp

tư sản Anh đã sáng lập ra Thanh giáo nhằm xóa sạch tàn dư của Công giáo và thành lập giáo hội độc lập

Như vậy, phong trào Kháng cách có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong điều kiện xã hội đang trong quá trình tích lũy tư bản nguyên thủy Song song với cuộc cải cách tôn giáo là sự li khai của chính quyền thế tục, tách thế quyền ra khỏi thần quyền Phong trào Kháng cách cho ra đời các giáo phái mới như giáo phái Luther, giáo phái Calvin, Anh giáo, Thanh giáo… Các giáo phái này yêu cầu xét lại giáo lí Kitô, phê phán thói xa hoa lãng phí, đòi khoan dung tôn giáo Hơn thế nữa, các phái mới lần lượt tuyên bố bất tuân giáo hội

và tách khỏi Công giáo La Mã Phong trào Kháng cách có tầm ảnh hưởng rộng khắp châu Âu và thu hút đến tất cả mọi người trong xã hội, kể cả tầng lớp bình dân

Bên cạnh những biến chuyển về tôn giáo, chính trị - xã hội, sự phát triển của các ngành khoa học tự nhiên và khoa học thực nghiệm cũng góp phần trở thành tiền đề để xét lại giáo lí Kitô, mà đặc biệt là công trình của Nicolaus Copernicus Cuối thế kỷ XVI, Nicolaus Copernicus công bố thuyết thuyết nhật tâm – cho rằng mặt trời là trung tâm của vũ trụ, trái đất tự quay quanh trục của

nó trong lúc quay quanh mặt trời tạo ra hiện tượng ngày và đêm, các mùa trong năm Ông còn tính được chu kỳ chuyển động của các hành tinh và mô tả những chuyển động đó trong hệ mặt trời Đến đầu thế kỷ XVII,

sự khởi đầu của cách mạng khoa học đã đánh dấu sự ra đời của một kiểu mẫu hoàn toàn mới về vũ trụ học và thế giới quan với đặc trưng

Trang 31

của cách tiếp cận hiện đại Cách tiếp cận này không nhất thiết bác bỏ truyền thống niềm tin tôn giáo nhưng có xu hướng coi chúng chỉ có liên quan gián tiếp đến việc hiểu thế giới tự nhiên (Stearns, 2001, tr.821) Điển hình như thuyết nhật tâm và định luật về sự chuyển động của các hành tinh của Galileo Galilei (và sau này được Johannes Kepler hoàn thiện) đã đặt lại dấu chấm hỏi đối với thế giới quan, vũ trụ quan, triết lý thần học của giáo hội truyền bá suốt cả hơn mười thế kỷ qua

Bên cạnh đó, thời đại này còn có nhiều công trình nghiên cứu với nhiều nhà khoa học nổi tiếng, đóng góp rất lớn cho nền tri thức của nhân loại Trong triết học, Rene Descartes và Baruch Spinoza đã phá vỡ lý thuyết truyền thống trong nhận thức và lý trí Trong toán học, các công bố nổi tiếng như: phát triển phép vi phân và tích phân của Isaac Newton và Gottfried Leibniz, phép tính logarit của John Napier, môn hình học giải tích của Rene Descartes, lý thuyết xác suất của Fermat và Blaise Pascal Trong các nghiên cứu về vật lý

và vũ trụ học gồm có các công trình và phát minh: thực nghiệm của Galileo

về vật rơi, William Gilbert với nghiên cứu về tính chất từ của trái đất và lực điện, Isaac Newton với định luật vạn vật hấp dẫn và luật của chuyển động, Hans Lippershey và Zacharias Jansen với phát minh ra kính viễn vọng, Lavoisier xây dựng định luật bảo toàn vật chất Trong sinh học, William Harvey đã mô tả chính xác sự tuần hoàn máu, Antoni va Leeuwenhoek phát

hiện ra vi trùng, đặc biệt là cuốn Micrography (Kính hiển vi) của Thomas

Hooke xuất bản năm 1665 được xem như “một đài chiến thắng của chủ nghĩa duy nghiệm khoa học” (Niall Ferguson, 2018, tr.120) Tất cả những công trình khoa học này đã tạo thành đột phá trong nhận thức thời bấy giờ, nó khiến cho con người cần phải xem xét lại những hiểu biết của mình về giới tự nhiên Và cũng chính “dòng thác của những tri thức đổi mới ấy đã sinh ra những ngành khoa học hiện đại: giải phẫu học, thiên văn học, sinh vật học, hóa học, địa chất, hình học và vật lý học” (Niall Ferguson, 2018, tr.121)

Trang 32

Niềm tin của nhân dân đối với giáo hội ngày càng giảm sút khi mà giáo hội cấm phổ biến, trừng phạt hay xử tử các nhà khoa học nếu họ công bố những phát hiện mới đi ngược lại nền tảng lý luận “bất di bất dịch” của giáo hội Điển hình là phiên tòa xét xử Galileo Galilei khi ông bảo vệ thuyết nhật tâm đã trở thành những giọt nước tràn ly, làm cho niềm tin của các nhà khoa học vào giáo hội và giáo hoàng sụp đổ Và đây cũng có thể được xem là một trong những nguyên nhân chính làm cho tư tưởng của nhiều học giả thay đổi

để tự phát triển tinh thần độc lập, duy lý, duy nghiệm, thay vì định hướng niềm tin vào thần học

Bên cạnh đó, nhờ sự tiến bộ của ngành in ấn mà những tri thức khoa học được phổ biến rộng rãi trên khắp châu Âu Sau cải tiến kỹ thuật in của Gutenberg, nghề in đã phát triển rộng khắp châu Âu, đặc biệt là ở Anh, Ý, Pháp, Đức Chẳng hạn như nước Đức vào năm 1518 có tổng cộng 150 xưởng thì đến năm 1524 đã có tất cả 990 xưởng Nhờ sự nở rộ của ngành in đã làm “hồi sinh” các công trình triết học Hy Lạp thời cổ đại và đưa những điều răn của Chúa được

“trở về đúng với Chúa” Cũng nhờ như vậy mà những lời rao giảng của Luther được phổ biến trên khắp nước Đức dù chỉ trong một thời gian ngắn

Trước sự ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ của phong trào Kháng cách, giáo hội La Mã tiến hành đàn áp, sát hại những người “dị giáo” và tạo thành phong trào Phản Kháng cách làm hàng nghìn người đã bị giết hại Đến đầu thế kỷ XVII, châu Âu diễn ra cuộc chiến khốc liệt 30 năm, từ năm 1618 đến

1648 Về mặt hình thức thì đây là cuộc chiến giữa những người theo Tin lành với Công giáo, nhưng thực chất là cuộc chiến tranh giành quyền lực giữa nhà Habsburg (La Mã) với các quốc gia khác ở châu Âu Chiến tranh 30 năm đã tàn phá nặng nề đến đời sống, kinh tế, chính trị xã hội của người dân châu Âu, đồng thời cũng làm cho nhiều quốc gia suy yếu

Những hiệu quả mà phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mang lại cũng làm cho tầng lớp quý tộc và giáo sĩ phong kiến bị phân hóa thành nhiều

Trang 33

khuynh hướng, giai cấp tư sản thì từng bước tìm cách tham gia vào bộ máy chính phủ

Xung đột giữa chính quyền và tầng lớp thượng lưu (và ở Châu Âu Cơ đốc giáo, giữa các vị vua và nhà thờ) là phổ biến, và cùng với những xung đột giữa các quốc gia, được coi là một trong những nguyên nhân chính của chiến tranh” (Ackermann, 2008b, tr.32)

Các cuộc đấu tranh chống giáo hội phong kiến diễn ra vào thế kỷ XV – XVII

đã từng bước làm phân rã cấu trúc xã hội hiện tồn Đến thế kỷ XVIII, “sự khởi đầu của chủ nghĩa thế tục hiện đại đã tìm cách tách tôn giáo khỏi các lĩnh vực của đời sống, đặc biệt là chính trị” (Stearns, 2001, tr.821) Chính vì những lý

do nêu trên mà trật tự xã hội phong kiến khắp nơi đều đang trên bước đường lung lay sụp đổ Vì vậy, thế kỷ XVII – XVIII được xem là thời kỳ bùng nổ cách mạng tư sản và tiến tới thành lập các nhà nước tư bản hiện đại

Điển hình là sự kiện năm 1688 tại nước Anh, cách mạng tư sản nổ ra và

đã trở thành một bước ngoặt lớn, một ngòi nổ chấn động cả châu Âu, làm lật

đổ quan hệ sản xuất phong kiến lỗi thời, mở đường cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển Đầu thế kỷ XVII, nước Anh là một nước có nền kinh

tế phát triển nhất châu Âu Trong nông nghiệp, chăn nuôi cừu trở thành ngành mang lại lợi nhuận cực kì cao Vì vậy, bắt đầu từ thế kỷ XV cho đến thế kỷ XVII, giới địa chủ và quý tộc phong kiến Anh chuyển hướng sang kinh doanh theo lối tư bản Họ rào đất, đuổi tá điền và thậm chí cướp đoạt đất của nông dân để trồng cỏ và nuôi cừu trên quy mô lớn Điều này đã tạo ra một lượng lớn nông dân bị bần cùng hóa, còn đất đai thì ngày càng tập trung vào tay của địa chủ Chính nhờ điều này mà một bộ phận trong giới quý tộc và địa chủ phong kiến cũng dần dần bị tư sản hóa và trở thành tầng lớp quý tộc mới

Ngược lại, một bộ phận nhỏ nông dân trở thành người lao động làm công ăn lương ở nông thôn, đại đa số còn lại thì di cư đến thành thị Các cuộc

di cư này làm tăng nhanh số lượng lao động giá rẻ tại các công trường thủ

Trang 34

công, đồng thời cũng tạo ra một lượng lớn người thất nghiệp ở các thành thị Quy mô của công trường thủ công ngày càng được mở rộng và chiếm ưu thế hơn so với sản xuất phường hội Giới tư sản Anh giàu lên nhanh chóng nhờ sự phát triển của ngoại thương, chủ yếu là buôn bán len dạ và nô lệ da đen Phương thức sản xuất phong kiến trở nên lỗi thời và kiềm hãm lực lượng sản xuất Về mặt xã hội và tôn giáo, chính sách khắc nghiệt của chính quyền phong kiến đã đẩy đời sống nhân dân ngày càng trở nên cơ cực, trong khi giới quý tộc lại được hưởng nhiều đặc quyền, đặc lợi Đồng thời, các giáo phái mới không chấp nhận phục tùng giáo hội, chống lại sự chuyên quyền độc đoán của nhà vua, ủng hộ hạ viện và các phong trào của nhân dân Chính từ

sự phát triển của phương thức sản xuất và lực lượng sản xuất, kết hợp với mâu thuẫn xã hội gay gắt đã dẫn đến cách mạng tư sản Anh bùng nổ

Oliver Cromwell là người lãnh đạo cách mạng tư sản Anh lật đổ chính quyền của vua Charles I và bãi bỏ chế độ chuyên chế Trong lúc khí thế cách mạng dâng lên đỉnh điểm thì Cromwell chết, nội bộ lực lượng cách mạng cũng chia thành nhiều nhóm nhỏ theo những khuynh hướng khác nhau, trong

đó tầng lớp đại tư sản vì lo sợ ảnh hưởng đến lợi ích mà thỏa hiệp với quý tộc phong kiến Sau cuộc cách mạng lần thứ nhất, nền chuyên chế phong kiến Anh đã bị lung lay Đến lần đấu tranh thứ hai, vua Jacques II bị phế và trốn sang Pháp, người Anh tôn Marie (con gái của vua Jacques II) lên làm nữ hoàng và thông qua Tuyên ngôn công quyền Tuyên ngôn xác định các quyền

tự do dân chủ và tự do đại nghị

Mặc dù cuộc cách mạng tư sản Anh không thể lật đổ hoàn toàn chế độ phong kiến nhưng làm cơ cấu xã hội hoàn toàn thay đổi Vị thế vua hay nữ hoàng không còn như trước mà chỉ mang tính tượng trưng, quyền lực và sức ảnh hưởng của giai cấp địa chủ trong chính trị, kinh tế và xã hội cũng bị giảm

đi Thay vào đó là chế độ đại nghị được thiết lập và ngày càng củng cố vững chắc Tuy nổ ra sau cách mạng tư sản Hà Lan nhưng cuộc cách mạng tư sản

Trang 35

Anh có ý nghĩa to lớn trong quá trình hình thành Chủ nghĩa tư bản trên phạm

vi toàn châu Âu và thế giới

Mặc dù cũng chịu tác động trước những biến chuyển của thời cuộc, nhưng nhìn chung Pháp vẫn là quốc gia lạc hậu rất nhiều so với Anh, Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha Trong nông nghiệp, không giống như tình hình ở nước Anh, nông dân vẫn được thuê mướn đất của địa chủ để canh tác vì quá trình rào đất để mở rộng đồn điền bị hạn chế

Trong hầu hết những năm 1600 và 1700, sản xuất nông nghiệp bị đình trệ, phần lớn vẫn hướng đến tự cung tự cấp và nộp thuế cho các lãnh chúa phong kiến Ngay cả ở những khu vực gần các thị trường đang phát triển, chẳng hạn như Normandy và Cambrésis, năng suất nông nghiệp bị đình trệ hoặc giảm sút, trong khi các cải tiến kỹ thuật rất hiếm (Ackermann, 2008a, tr.25)

Ngoài ra, ngành nông nghiệp lại thường xuyên chịu thiên tai, nông dân phải chịu mức sưu thuế và địa tô nặng nề, vì vậy mà cuộc sống của nông dân ngày càng túng quẫn Công thương nghiệp cũng có bước phát triển, một số ngành đã được áp dụng máy móc vào sản xuất như ngành dệt, luyện kim, khai khoáng Công thương nghiệp tập trung phát triển chủ yếu ở khu vực ven biển Địa Trung Hải và Đại Tây Dương Tuy nhiên, công, thương nghiệp gặp rất nhiều khó khăn bởi các chính sách mà chính quyền phong kiến đặt ra làm kìm hãm sự phát triển của nó

Về chính trị - xã hội thì nước Pháp vẫn là một nước quân chủ chuyên chế Xã hội chia thành ba đẳng cấp: tăng lữ, quý tộc và đẳng cấp thứ ba Quyền lực nhà nước rơi vào tay của Vua Tăng lữ và quý tộc tuy là thành phần thiểu số nhưng giữ những chức vụ cao trong nhà nước và giáo hội, được miễn thuế, hưởng nhiều bổng lộc, nhiều đặc quyền và cuộc sống xa hoa Do

đó mà họ luôn muốn duy trì chế độ phong kiến và trật tự xã hội hiện tồn Đẳng cấp thứ ba gồm nhiều tầng lớp: tư sản, nông dân, bình dân thành thị

Trang 36

Những người thuộc đẳng cấp thứ ba phải chịu mọi thứ thuế và nghĩa vụ, song lại không có quyền lợi chính trị Bên cạnh đó, vua và giáo hội bắt tay nhau đàn áp các giáo phái khác, xem họ là dị giáo và là nguồn gốc của bất ổn xã hội Do đó mà các tầng lớp tư sản, nông dân, bình dân thành thị và những người “dị giáo” liên minh và đấu tranh chống lại sự chuyên chế, độc đoán của chính quyền phong kiến, điển hình như phong trào Fronde năm 1652 chống lại vua Louis XIV và Mazarin nhưng hoàn toàn thất bại

Về đối ngoại, cuối thế kỷ XVII, với mục đích bành trướng lãnh thổ và trở thành bá chủ của châu Âu, chính quyền nước Pháp tham gia vào các cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha và Hà Lan để chiếm Bỉ Nhưng đến cuối thế kỷ XVII, Anh, Hà Lan và Đức liên kết nhau để chống Pháp Chiến tranh 13 năm (1701-1714) đã làm cho Pháp thất bại nặng nề, mất hết thuộc địa và quyền lợi tại châu Âu, tài chính cạn kiệt, cuộc sống của người dân vốn đã khó khăn nay lại còn cơ cực hơn Xét về mặt tổng thể, ta có thể thấy rằng xã hội nước Pháp đang lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc Sau thất bại của các cuộc chiến,

từ đầu thế kỷ XVIII trở đi, chính quyền phong kiến Pháp suy yếu trong khi giai cấp tư sản và tân giáo ngày càng lớn mạnh và có sức ảnh hưởng trong xã hội

Chính sự khủng hoảng chính trị xã hội kết hợp với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tác động đến lĩnh vực khoa học và tư tưởng, tạo thành ước muốn, trào lưu cách mạng tư tưởng Do đó, thế kỷ XVII – XVIII được xem là thời kỳ Khai sáng (Age of Enlightenment) mà nước Pháp là trung tâm tư tưởng của châu Âu Không chỉ kế thừa các giá trị nhân văn thời Phục hưng trong việc đấu tranh chống chủ nghĩa kinh viện và các định chế có sẵn của giáo hội phong kiến, lật đổ nền chuyên chính tinh thần của chế độ

phong kiến, chủ trương phát triển khoa học, đề cao con người lý trí với các giá trị: tự do, công bằng, bình đẳng Trong đời sống chính trị, các nhà tư

tưởng thời kỳ này phê phán chế độ quân chủ chuyên chế và những bất công

của nó, đề cao giá trị dân chủ, yêu cầu thiết lập trật tự xã hội bằng pháp luật

Trang 37

và đề cao tinh thần khoan dung tôn giáo Tiêu biểu là Voltaire với Oedipe, Montesquieu với Những bức thư từ Ba Tư và Tinh thần pháp luật, Diderot,

Holbach, Rousseau Ngoài ra, các nhà kinh tế còn chỉ trích chính sách kinh

tế chỉ huy của chính quyền, yêu cầu thiết lập nền kinh tế tự do cả trong sản xuất và thương mại Vì vậy, phong trào Khai sáng được đánh giá là một cuộc cách mạng tư tưởng thúc đẩy sự chuyển biến chính trị, xã hội của nước Pháp

và các quốc gia lân cận ở thế kỷ XVII – XVIII Những chuyển biến về kinh

tế, xã hội, tư tưởng của châu Âu nói chung và nước Pháp nói riêng là cơ sở hình thành ước muốn thay đổi chế độ phong kiến bằng ý thức hệ tư sản và chế

độ chính trị hiện đại hơn Đây chính là gốc rễ sâu xa của cuộc vận động khai sáng, tác động trực tiếp đến tư tưởng của các nhà triết học chính trị thời kỳ này, trong đó có Montesquieu và Rousseau

1.2 Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng chính trị của Montesquieu

và Rousseau về quyền lực nhà nước

1.2.1 Một số tư tưởng chính trị tiêu biểu của Hy Lạp và La Mã cổ đại

Tuy thời đại mà Montesquieu và Rousseau sống cách Hy Lạp cổ đại đến hơn 1500 năm nhưng suy cho đến cùng thì tư tưởng của các ông vẫn có

sự kế thừa từ tư tưởng của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại Bởi lịch sử tư tưởng nhân loại là một dòng chảy có tính liên tục và kế thừa Cũng như Engels đã từng nhận định “không có cái cơ sở của nền văn minh Hy Lạp và

Đế chế La Mã thì không có châu Âu hiện đại” (Engels, 1877, Chương IV) Vì vậy, có thể xem Hy Lạp và La Mã là những cái nôi hình thành nên nền văn minh phương Tây

Ngay từ thế kỷ VIII - VII TCN, người Hy Lạp đã quan tâm đến các vấn

đề chính trị và đã xuất hiện các quan niệm về quyền tự nhiên, khế ước, luật pháp, logos, ý thức hình thành nhà nước và quyền lực nhà nước - mặc dù các quan niệm này chỉ mới mang tính sơ khởi Điểm nổi bật trong tư tưởng chính trị Hy Lạp cổ đại là cuộc đấu tranh giữa hai luồng tư tưởng chính, đó là ủng

Trang 38

hộ dân chủ mà tiêu biểu là Solon, Pericles và Ciceron và chống dân chủ mà đại diện tiêu biểu là Socrates, Plato và Aristotle về các vấn đề quyền lực nhà nước, hình thức nhà nước, lý tưởng chính trị, pháp luật

Montesquieu và Rousseau đã kế thừa quan điểm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thông qua công cuộc cải cách dân chủ của Solon và thể chế hóa nền dân chủ của Pericles Solon (638 TCN - 558 TCN) là một trong những nhà thông thái của Hy Lạp cổ đại và cũng là người đầu tiên đưa ra tư tưởng dân chủ theo lối ôn hòa Mở đầu công cuộc cải cách dân chủ là ban hành luật ân xá để giúp những người bị trục xuất trở về quê hương, trừ những

kẻ phạm tội phản quốc và bảo vệ chế độ độc tài Bên cạnh đó, ông đã ban bố luật xóa nợ cho những người nghèo và buộc mọi người không được phép thừa nhận bản thân con nợ là vật thế chấp Tiếp theo ông mua lại những người nông dân bị buộc làm nô lệ rồi trả lại tự do cho họ Bên cạnh đó ông đã loại

bỏ luật Draco khắc nghiệt, công bố luật di chúc, luật đất đai… khuyến khích nhân dân tham gia vào hoạt động chính trị, hoạt động sản xuất, giao thương phát triển kinh tế Xã hội có sự bình đẳng giữa người giàu và người nghèo, giữa các đẳng cấp trong các hoạt động công cộng, đặc biệt là hoạt động của nhà nước Solon chủ trương quyền lực nhà nước được trao vào tay nhân dân Quyền lực nhà nước được chia thành ba nhánh: lập pháp, hành pháp và tư pháp Nhánh lập pháp và hành pháp thuộc về Hội đồng 400 người với chức năng xem xét, soạn thảo các chương trình trước khi trình Hội nghị nhân dân

về các vấn đề đối nội và đối ngoại Mục tiêu của việc thành lập hai hội đồng

là để tránh tình trạng bè phái và đảm bảo ổn định cho nền chính trị đất nước Nhà nước có chức năng ban hành luật pháp luật pháp để bảo đảm công bằng trong xã hội, kiềm chế lòng tham lam và ích kỷ của con người

Đến nửa sau thế kỷ V TCN, Pericles (495 – 429 TCN) đã thể chế hóa nền dân chủ, là thời đại nền dân chủ được định nghĩa cụ thể và trực tiếp nhất -

“quyền lực của nhân dân” Pericles nhấn mạnh nguyên tắc bình đẳng chính

Trang 39

trị, theo đó mọi người đều bình đẳng trong đời sống riêng tư, tham gia tổ chức quyền lực, là cơ sở cho tính tích cực công dân Ông là người lập nên Hội nghị nhân dân - là cơ quan quyền lực cao nhất, chuyên thảo luận về các vấn đề lớn nhỏ, đối nội đối ngoại của quốc gia đồng thời là nơi lựa chọn ra công nhân viên chức nhà nước theo quy định pháp lí Bên cạnh đó ông cũng đề cao tự do

tư tưởng, đề cao quyền bày tỏ ý kiến cá nhân, mục đích của nhà nước là lợi ích toàn xã hội, không phân biệt tầng lớp, giai cấp “Cải cách của Pericles làm cho Athens đạt đến thời kì cực thịnh và trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của toàn Hy Lạp” (Lê Phụng Hoàng, 2008, tr.119)

Cicero (106 - 43 TCN) là một chính trị gia nổi tiếng của La Mã cổ đại ủng hộ nền dân chủ Ông xem chính trị là nghệ thuật sử dụng quyền lực còn nhà nước ra đời là để đảm bảo cho cuộc sống tốt đẹp của con người Theo Cicero, con người trước kia vốn sống biệt lập với nhau nhưng nhờ có lý tính và ngôn ngữ mà con người có thể giao tiếp và liên kết với nhau, xã hội cũng vì thế

mà hình thành Ông xem nhà nước là tài sản chung của nhân dân, bản chất quyền lực nhà nước thực ra là quyền lực của nhân dân cho nên nhà nước được

tổ chức theo mô hình dân chủ thì mới là nhà nước chân chính Bầu cử là quyền

tự do của nhân dân và không ai được phép xâm phạm Để điều hành nhà nước thì cần có các chính trị gia - đây là những người được nhân dân bầu cử công khai và giữ chức vụ theo nhiệm kỳ “Chức năng của quan chức nhà nước là điều hành cũng như ban hành các chỉ thị công bằng, hữu ích và đúng luật” (Cicero, 2017, tr.261) nhằm duy trì trật tốt đẹp cho đời sống của nhân dân

Cơ cấu tổ chức và thực thi chức năng quyền lực nhà nước bao gồm: quyền lập pháp (do Viện nguyên lão và Hội đồng tối cao nhân dân nắm giữ); quyền hành pháp (do Quan thị chính và Giám quan (gọi chung là quan chấp chính) nắm giữ) và quyền tư pháp Bên cạnh đó, quyền lực nhà nước còn có thêm một nhánh thứ tư nữa là quan bảo dân, bao gồm 10 người được giới bình dân bổ nhiệm Mục đích bầu ra vị trí quan bảo dân là nhằm gia tăng quyền lực

Trang 40

của nhân dân Quan bảo dân có nhiệm vụ bảo vệ nhân dân khỏi những đàn áp

vũ lực của chính quyền Do vậy mà các sắc lệnh hay quyết định của Quan bảo dân được giới bình dân thông qua và có giá trị bắt buộc như luật

Cicero không đề cập đến khái niệm phân quyền và sự độc lập giữa các quyền, nhưng khi nghiên cứu mối quan hệ giữa các nhánh quyền lực nhà nước trong tư tưởng của ông thì ta thấy sự chế ước giữa các nhánh quyền lực hiện lên rất rõ Chẳng hạn như khi bàn về quyền lập pháp, ngoài chức năng ban hành luật thì Viện nguyên lão và Hội đồng nhân dân tối cao được quyền quy định số lượng các pháp quan Hội đồng nhân dân tối cao còn có thể bầu chọn

bổ sung và trao quyền lực thích hợp cho các quan chức nhánh hành pháp khi

có những hoạt động hành chính phát sinh vượt ra khỏi các vấn đề thường lệ Quan bảo dân là lực lượng đối lập với giới nguyên lão, đồng thời cũng là chức quan duy nhất mà Quan chấp chính không có quyền buộc họ tuân theo các mệnh lệnh của mình Ngược lại Quan bảo dân còn có nhiệm vụ giám sát quan chấp chính Tuy nhiên để tránh tình trạng lạm quyền và lộng quyền thì cần phải đặt ra giới hạn quyền lực cho Quan bảo dân, chỉ cho họ quyền hỗ trợ người khác (dù công dân hay quan chức) mà thôi Quan chấp chính được phép tham dự các cuộc họp của Hội đồng nhân dân tối cao và Viện nguyên lão, trong đó Quan bảo dân được quyền làm chủ tọa các cuộc họp ở Viện nguyên lão và lắng nghe ý kiến của Hội đồng nhân dân tối cao khi cần thiết “Một quan chức có thẩm quyền ngang bằng hoặc cao hơn sẽ có quyền phủ quyết các quyết định của Hội đồng” (Cicero, 2017, tr 267)

Dù trong mối quan hệ giữa các cá nhân trong cộng đồng hay quan hệ giữa các nhánh quyền lực trong cơ cấu nhà nước thì cũng cần được luật hóa

Do đó, luật pháp phải mang tính phổ quát, hợp lý tính và hợp tự nhiên Cicero quan niệm con người là do các vị thần tạo nên, do đó tính tự nhiên của luật được hiểu theo nghĩa hợp với bản chất tự nhiên của con người, đồng thời nó cũng là luật do các vị ban xuống nên nó bất biến và vĩnh cửu Do đó, chống lại

Ngày đăng: 29/06/2023, 23:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristotle. (2020). Chính trị luận. (Nông Duy Trường dịch). Hà Nội: NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính trị luận
Tác giả: Aristotle
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2020
2. Asbach, O. (2006). Sovereignty between Effectiveness and Legitimacy: Dimensions and Actual Relevance of Sovereignty in Bodin, Hobbes and Rousseau. Eurostudia, 2(2). Doi: https://doi.org/10.7202/014584ar Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sovereignty between Effectiveness and Legitimacy: Dimensions and Actual Relevance of Sovereignty in Bodin, Hobbes and Rousseau
Tác giả: O. Asbach
Nhà XB: Eurostudia
Năm: 2006
3. Ackermann, M. E., Schroeder, M. J., Terry, J. J., Upshur, J. H. L. & Whitters, M. F. (2008a). Encyclopedia of World History: The First global age from 1450 to 1750 Volume III. New York: Facts on File Sách, tạp chí
Tiêu đề: Encyclopedia of World History: The First global age from 1450 to 1750 Volume III
Tác giả: Ackermann, M. E., Schroeder, M. J., Terry, J. J., Upshur, J. H. L., Whitters, M. F
Nhà XB: Facts on File
Năm: 2008
4. Ackermann, M. E., Schroeder, M. J., Terry, J. J., Upshur, J. H. L. & Whitters, M. F. (2008b). Encyclopedia of World History: Age of Revolution and Empire 1750 to 1900 Volume IV. New York: Facts on File Sách, tạp chí
Tiêu đề: Encyclopedia of World History: Age of Revolution and Empire 1750 to 1900 Volume IV
Tác giả: Ackermann, M. E., Schroeder, M. J., Terry, J. J., Upshur, J. H. L., Whitters, M. F
Nhà XB: Facts on File
Năm: 2008
5. Alvin Toffler. (1990). Powershift: Knowledge, Wealth, and Violence at the Edge of the 21 st Century. New York: Bantam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Powershift: Knowledge, Wealth, and Violence at the Edge of the 21 st Century
Tác giả: Alvin Toffler
Nhà XB: Bantam
Năm: 1990
6. Bellamy, R. (1996). The political form of the constitution: the separation of powers, rights and representative democracy. Political Studies, 44(3), 436-456 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The political form of the constitution: the separation of powers, rights and representative democracy
Tác giả: R. Bellamy
Nhà XB: Political Studies
Năm: 1996
7. C. Mác và Ph. Ăng-ghen. (2002a). Toàn tập, t.1. Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, t.1
Tác giả: C. Mác, Ph. Ăng-ghen
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Sự thật
Năm: 2002
8. C. Mác và Ph. Ăng-ghen. (2002b). Toàn tập, t.4. Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, t.4
Tác giả: C. Mác, Ph. Ăng-ghen
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Sự thật
Năm: 2002
9. C. Mác và Ph. Ăng-ghen. (2002c). Toàn tập, t.20. Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác, Ph. Ăng-ghen
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Sự thật
Năm: 2002
10. Cicero, M. T. (2017). Bàn về chính quyền. (Lương Đăng Vĩnh Đức dịch). Hà Nội: NXB Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về chính quyền
Tác giả: M. T. Cicero
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2017
11. Conroy, P. V. (1979). Rousseau’s Organic State. South Atlantic Bulletin, 44(2), 1-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rousseau’s Organic State
Tác giả: Conroy, P. V
Nhà XB: South Atlantic Bulletin
Năm: 1979
12. Colón-Ríos, J. I. (2016). Rousseau, theorist of constituent power. Oxford Journal of Legal Studies, 36(4), 885-908 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rousseau, theorist of constituent power
Tác giả: Colón-Ríos, J. I
Nhà XB: Oxford Journal of Legal Studies
Năm: 2016
13. Dahl, R. A. (1957). The concept of power. Behavioral science, 2(3), 201- 215 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The concept of power
Tác giả: Dahl, R. A
Nhà XB: Behavioral science
Năm: 1957
14. Devletoglou, N. E. (1963). Montesquieu and the Wealth of Nations. The Canadian Journal of Economics and Political Science/Revue canadienne d’Economique et de Science politique, 29(1), 1-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Montesquieu and the Wealth of Nations
Tác giả: Devletoglou, N. E
Nhà XB: The Canadian Journal of Economics and Political Science/Revue canadienne d’Economique et de Science politique
Năm: 1963
15. Donaldson, S. S. (1978). From the natural to the civil state: the evolutionary process as viewed by Thomas Hobbes, John Locke and Jean Jacques Rousseau (luận văn thạc sĩ). Truy xuất từ The University of Richmond. (415) Sách, tạp chí
Tiêu đề: From the natural to the civil state: the evolutionary process as viewed by Thomas Hobbes, John Locke and Jean Jacques Rousseau
Tác giả: S. S. Donaldson
Nhà XB: The University of Richmond
Năm: 1978
16. Dorwin, C. (1959). Studies in Social Power. The University of Michigan: The Insitute for Social Research Sách, tạp chí
Tiêu đề: Studies in Social Power
Tác giả: Dorwin, C
Nhà XB: The University of Michigan
Năm: 1959
17. Douglass, R. (2012). Montesquieu and modern republicanism. Political Studies, 60(3), 703-719 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Montesquieu and modern republicanism
Tác giả: R. Douglass
Nhà XB: Political Studies
Năm: 2012
18. Dunning, W. A. (1909). The Political Theories of Jean Jacques Rousseau. Political Science Quarterly, 24(3), 377- 408 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Political Theories of Jean Jacques Rousseau
Tác giả: W. A. Dunning
Nhà XB: Political Science Quarterly
Năm: 1909
19. Durant, A & Durant, W. (2020). Lịch sử văn minh thế giới – Phần X: Rousseau và Cách mạng. (Bùi Xuân Linh dịch). Hà Nội: NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh thế giới – Phần X: Rousseau và Cách mạng
Tác giả: Durant, A, Durant, W
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2020
20. Dương Thị Ngọc Dung. (2001). Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của J. J. Rousseau (luận văn thạc sĩ). Thư viện Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh (Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của J. J. Rousseau
Tác giả: Dương Thị Ngọc Dung
Nhà XB: Thư viện Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2001

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w