Những thành tựu văn hóa và khoa học với sự hình thành và phát triển tính thống nhất và đa dạng trong triết học Ấn Độ cổ đại .... Đặc biệt trong tác phẩm Tư tưởng giải thoát trong triết h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ TƯỜNG LÃM
TÍNH THỐNG NHẤT VÀ ĐA DẠNG TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ TƯỜNG LÃM
TÍNH THỐNG NHẤT VÀ ĐA DẠNG TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
Trang 3Cuối cùng, tôi xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc gia đình, những người thân, bạn bè đồng nghiệp đã luôn là điểm tựa và là nguồn động viên to lớn về mọi mặt để tôi hoàn thành luận văn này
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Hà Thiên Sơn Tư liệu tham khảo, trích dẫn trong nội dung của luận văn là từ chính các văn bản gốc và hoàn toàn trung thực
TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2021
Tác giả
Trần Thị Tường Lãm
Trang 5Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 7
PHẦN NỘI DUNG 8
Chương 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – LỊCH SỬ XÃ HỘI, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TÍNH THỐNG NHẤT VÀ ĐA DẠNG TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 8
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – LỊCH SỬ XÃ HỘI VỚI SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TÍNH THỐNG NHẤT VÀ ĐA DẠNG TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 8 1.1.1 Điều kiện tự nhiên với sự hình thành và phát triển tính thống nhất và đa dạng trong triết học Ấn Độ cổ đại 8
1.1.2 Điều kiện lịch sử xã hội với sự hình thành và phát triển tính thống nhất và đa dạng trong triết học Ấn Độ cổ đại 12
1.2 TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TÍNH THỐNG NHẤT VÀ ĐA DẠNG TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 19
1.2.1 Nền văn minh của Ấn Độ cổ đại 19
1.2.2 Những thành tựu văn hóa và khoa học với sự hình thành và phát triển tính thống nhất và đa dạng trong triết học Ấn Độ cổ đại 21
Kết luận chương 1 31
Chương 2 NỘI DUNG, Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA TÍNH THỐNG NHẤT VÀ ĐA DẠNG TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 33
2.1 NỘI DUNG CỦA TÍNH THỐNG NHẤT VÀ ĐA DẠNG TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 36
2.1.1 Tính thống nhất trong triết học Ấn Độ cổ đại 36
Trang 62.2 Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA TÍNH THỐNG NHẤT VÀ ĐA DẠNG TRONG TRIẾT
HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 76
2.2.1 Ý nghĩa lý luận của tính thống nhất và tính đa dạng trong triết học Ấn Độ cổ đại 76
2.2.2 Ý nghĩa thực tiễn của tính thống nhất và tính đa dạng trong triết học Ấn Độ cổ đại 83
Kết luận chương 2 92
KẾT LUẬN CHUNG 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ ngàn xưa cho đến ngày nay, các nhà triết học luôn đi tìm nguồn gốc của vũ trụ và của mỗi cá thể để vạch ra bản chất của thế giới, bản tính của con người, sự tương đồng giữa nội tâm và ngoại tại, con đường giải thoát
ở hiện tại và tương lai, … Tùy theo khả năng của mình, mỗi người đã cố gắng vén mở bức màn bí ẩn của cuộc đời Vì vậy, biết bao nhiêu nhà tư tưởng triết học ra đời với mục đích tìm cách thỏa mãn những nhu cầu tri thức
và chỉ ra phương pháp để con người đạt tới hạnh phúc Tuy nhiên, mỗi tư tưởng, mỗi trường phái triết học lại có những quan điểm, cách triết lý khác nhau và không thể không kể đến các tư tưởng triết học của Ấn Độ đặc biệt thời kỳ cổ đại Triết học Ấn Độ cổ đại phản ánh một xã hội đầy áp bức, bất công mặc dù rất coi trọng và đề cao tôn giáo; một xã hội rất mê triết lý mặc
dù mỗi triết gia có những tư tưởng triết học khác nhau thậm chí đối nghịch nhau và là một xã hội có những tư tưởng triết học vô cùng vĩ đại làm nền tảng cho các tư tưởng triết học phát triển Vì thế, nền triết học của quốc gia này luôn là đề tài được nhiều tác giả nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực, nhiều khía cạnh khác nhau và bản thân tôi cũng không ngoại lệ
Điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt cùng với chế độ xã hội vô cùng hà khắc đã làm cho người Ấn Độ cổ muốn thoát khỏi nó nhưng lại bị nó trói buộc trong một vòng lẩn quẩn Nơi đây là điều kiện nuôi dưỡng con người nhưng cũng là nơi tác động tích cực và tiêu cực, chi phối hoàn toàn đến đời sống con người Ấn Độ cổ Điều kiện tự nhiên và xã hội không thuận lợi đã kìm hãm con người nhưng lại tạo điều kiện cho các tư tưởng triết học đầu tiên được hình thành và phát triển đan xen trong những bộ kinh sách như kinh Veda, kinh Upanishad; trong sử thi Ramayana, Mahabharata, Bhagavad – gita; trong luận văn kinh tế - chính trị Artha-sastra; trong đạo Bàlamôn, đạo Phật, đạo Jaina và trong các trường phái triết học chính thống, không
Trang 8chính thống,…Các tư tưởng, trường phái triết học Ấn Độ cổ đại nở ra như những bông hoa đa dạng phong phú nhưng lại thống nhất chung trong một điều kiện hoàn cảnh vô cùng khó khăn và khắc nghiệt Những bông hoa ấy
có cùng một mục đích là tìm cách vươn lên để giải thoát cho nên những tư tưởng triết học bắt nguồn từ những câu hỏi và tìm kiếm lời giải đáp cho hàng loạt câu hỏi liên quan đến vấn đề nhân sinh như: Con người có nguồn gốc từ đâu? Con người sống như thế nào? Con người trú ngụ ở đâu khi chết đi? Mục đích sống của cuộc đời này là gì? Tại sao con người đau khổ? Nguyên nhân vì sao con người phải khổ? Làm thế nào để con người thoát khổ? Tất
cả những câu hỏi này đều bàn đến bản thể luận, thế giới quan, nhân sinh quan, nhận thức luận, .và chung quy lại là cùng giải quyết một vấn đề là vấn đề cơ bản của Triết học Cho nên, triết học Ấn Độ cổ đại thống nhất trong mục đích nhưng đa dạng trong tư duy, phong phú trong giải pháp và sâu sắc trong hành động để tìm kiếm những cách thức thực hiện mục tiêu duy nhất là giúp con người thoát khổ và tìm được cuộc sống bình an, hạnh phúc Chính đặc điểm thống nhất và đa dạng này làm cho bản thân tác giả cảm thấy lôi cuốn và muốn đi sâu vào nghiên cứu làm rõ
Nền triết học, văn hóa, đạo đức và tôn giáo của Ấn Độ đã ít nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng và triết lý nhân sinh các nước trên thế giới Việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu đặc điểm tính thống nhất và đa dạng của triết học Ấn
Độ cổ đại vừa giúp chúng ta hiểu rõ về truyền thống, bản sắc văn hóa, tôn giáo của dân tộc Ấn Độ đồng thời giúp chúng ta tìm ra những nét tương đồng cũng như đối lập để rút ra bài học khắc phục chính mình Hơn nữa, trong hệ thống tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại, một trong những hệ thống tư tưởng vĩ đại thời kỳ này là tư tưởng của triết học Phật giáo Trong quá trình phát triển, Phật giáo Ấn Độ với tư cách là một tôn giáo, đã có nhiều đóng góp cho văn hóa Việt Nam Đặc biệt, Việt Nam lại là một quốc gia nhiều tộc người và đa tôn giáo cho nên việc nghiên cứu tính thống nhất và đa dạng trong triết học
Trang 9Ấn Độ cổ đại cũng góp phần bổ sung những giá trị và vận dụng vào việc phát triển tinh thần đoàn kết dân tộc, tôn giáo, phát huy sức mạnh của dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại
Việt Nam tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa từ một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, xã hội còn tồn tại nhiều luồng tư tưởng chính trị khác nhau, nhiều hình thức sở hữu khác nhau, nhiều tầng lớp giai cấp khác nhau, nhiều quan niệm, thái độ sống khác nhau, … Điều này làm nên một bức tranh đa dạng muôn màu nhưng thống nhất trên đất nước Việt Nam Vấn
đề nghiên cứu này càng có ý nghĩa lớn khi liên hệ, vận dụng vào tình hình hiện nay trong giai đoạn nhân loại đã có những bước tiến nhanh chóng về khoa học - công nghệ; trong giai đoạn Việt Nam ở thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn với phát triển nền kinh tế tri thức Trong thời đại như vậy, dừng lại, thậm chí tiến chậm là bị tụt hậu, là bị thụt lùi so với dòng chảy của tri thức nhân loại Với tất cả những lý do trên, tôi chọn đề tài
“Tính thống nhất và đa dạng trong triết học Ấn Độ cổ đại.” làm đề tài luận
văn thạc sĩ Triết học của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Triết học Ấn Độ được nhiều nhà tác giả tìm hiểu ở nhiều phương diện, nội dung và góc độ khác nhau Mỗi công trình nghiên cứu được các tác giả đi sâu vào một mặt, một khía cạnh hoặc khái quát tổng thể các đặc điểm, các lĩnh vực, các quan điểm hay hệ thống tư tưởng, … nhưng mỗi một tác phẩm đều có những giá trị riêng làm tiền đề để người nghiên cứu sau có thể phân tích sâu sắc hơn Có thể khái quát các công trình nghiên cứu về đặc điểm triết học Ấn Độ thành ba chủ đề chính
Chủ đề thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu về triết học Ấn Độ cổ
đại trong tổng thể quá trình lịch sử và nền văn hóa Ấn Độ Trong đó nổi bật
lên là những công trình như: Di sản phương Đông của chúng ta (Our Oriental
Heritage) của Will Durant, do Simon anh Schuster, New York, xuất bản năm
Trang 101954, với quyển 2 có tựa đề Ấn Độ và những người láng giềng của mình (India and Her Neighbors); hay tác phẩm The Discovery of India (Phát hiện
Ấn Độ), 3 tập của Jawaharlal Nehru, do the Oxford University Press, India, xuất bản năm 1954 được Phạm Thủy Ba, Lê Ngọc, Hoàng Túy và Nguyễn Tâm dịch ra tiếng Việt do nhà xuất bản Văn Học Hà Nội, xuất bản năm 1990
Các tác giả như Will Durant, Jawaharlal Nehru cũng đã trình bày và đưa ra những đánh giá những nhận định khá sâu sắc về đặc điểm của triết học
Ấn Độ Trong tác phẩm Di sản phương Đông của chúng ta, tư tưởng triết học
được Will Durant đề cập ở chương XIV, chương XV: Đức Phật (Buddha, gồm các vấn đề: Bọn theo tà giáo; Mahavira và các giáo đồ Jaina; truyện Phật Thích ca; Lời dạy của Đức Phật; ngày cuối cùng của Đức Phật); chương XVIII: Thiên đường của các vị thần (The Paradise of The Gods); chương XIX: Đời sống tinh thần (The Life of The Mind) gồm các phần khoa học Hindu; Sáu hệ thống triết học Bàlamôn; những kết luận về triết học Hindu Các tác phẩm này giúp chúng ta hiểu biết được bức tranh chung về triết học
Ấn Độ cổ đại qua một số đặc điểm chủ yếu và ý nghĩa lịch sử của nó
Chủ đề thứ hai, là các công trình nghiên cứu từng trào lưu, từng loại
kinh sách triết học tôn giáo Ấn Độ Các tác phẩm: “A Sourcebook in Indian
Philosophy”, do Sarvepalli Radhakrishan và Charles A Moore biên soạn, Princeton University Prees, Princeton New Jersey xuất bản năm 1973, gồm
các phần: Thời kỳ Veda (kinh Veda, kinh Upanishad); thời kỳ anh hùng ca (Bhagavad-gità, Mahàbhàrata, Luật Manu, Artha-sàstra của Kautilya); hệ thống triết học tôn giáo không chính thống (Càrvàka, Jainism, Buddhism); hệ thống triết học tôn giáo chính thống ( Nyàya, Vaisesika, Sàmkhya, Yoga, Pùrva, Mimànsà, Vedànta)” (Trịnh Thanh Tùng, 2013, trang 10); tác phẩm
The Upanishas, 4 vol, do Bonanaza Books, New York, xuất bản các năm
1949, 1953, 1956, 1959; The Bhagavad Gita của S Radhakrisnan do nhà xuất bản Allen và Unwin, London xuất bản năm 1953; tác phẩm The
Trang 11Ramayana and Mahabharata của Dutt Romesh, London xuất bản năm 1961
Đặc biệt trong tác phẩm Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn Độ của
Doãn Chính do nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 1997
đã trình bày những nét khái quát về triết học Ấn Độ và những đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ đại, như tính thống nhất và đa dạng, sự thống nhất giữa triết học và tôn giáo, triết lý đạo đức nhân sinh, vấn đề đời sống tinh thần tâm linh con người, tính nhân văn
Chủ đề thứ ba, là các công trình nghiên cứu về quá trình hình thành,
phát triển và những đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ đại Những công trình:
Indian Philosophy của S Radhakrisnan do New York, The Machillan, xuất
bản năm 1951; Oxford University Press, New Dehli, xuất bản năm 1956; Six
Systems of Indian Philosophy của Marx Muller, do Bhavan’s book University,
xuất bản năm 1899 hay tác phẩm Đại cương triết học phương Đông của Minh
Chi và Hà Thúc Minh, Ban xuất bản Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ
Chí Minh, xuất bản năm 1993; tác phẩm Nhập môn triết học Ấn Độ của Lê Xuân Khoa, Bộ Giáo Dục, Sài Gòn xuất bản năm 1972; tác phẩm Lịch sử triết
học phương Đông (5tập) của Nguyễn Đăng Thục do trung tâm học liệu, Bộ
Giáo Dục Sài Gòn xuất bản năm 1972 và các tác phẩm Lịch sử triết học Ấn
Độ cổ đại của Doãn Chính, Lương Minh Cừ, Nhà xuất bản Đại học và Giáo
dục chuyên nghiệp, Hà Nội xuất bản năm 1991; Tư tưởng giải thoát trong
triết học Ấn Độ của Doãn Chính, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,
xuất bản năm 1997; Lịch sử tư tưởng triết học Ấn Độ của Doãn Chính, nhà
xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội, xuất bản năm 2004
Tác phẩm Lịch sử triết học Phương Đông của Doãn Chính (chủ biên),
nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội xuất bản năm
2015;…Trong tác phẩm Lịch sử triết học phương Đông của Doãn Chính đã
nêu cụ thể điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị - xã hội, tiền đề hình thành tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại và tư tưởng của các trường phái triết học chính
Trang 12thống và không chính thống ở chương 1 - Tư tưởng triết học Ấn Độ thời kỳ Veda – Sử thi, chương 2 – Triết học Ấn Độ thời kỳ cổ điển hay thời kỳ Phật
giáo – Bàlamôn giáo Riêng, hai tác phẩm Lịch sử triết học với tập 1 Triết
học cổ đại của Doãn Chính - Nguyễn Thế Nghĩa (chủ biên) do Nhà xuất bản
Khoa học xã hội năm 2002 sản xuất ; tác phẩm Lịch sử tư tưởng triết học Ấn
Độ cổ đại của Doãn Chính viết, do nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm
1998 sản xuất và luận án tiến sĩ Triết học Ấn Độ cổ đại - Nội dung, đặc điểm
và ý nghĩa lịch sử của Trịnh Thanh Tùng, bảo vệ năm 2019 là ba công trình
có nội dung gần đề tài luận văn nhất Ba tác phẩm đã khái quát đầy đủ nội dung, đặc điểm của Ấn Độ thời kỳ cổ đại gắn với những tiền đề hình thành, phát triển triết học, những tư tưởng triết học tôn giáo, những trường phái triết học và ý nghĩa của nó
Tóm lại, qua các công trình nghiên cứu về triết học Ấn Độ đã giúp người đọc có cái nhìn bao quát về sự đa dạng phong phú trong triết học Ấn
Độ cổ đại với những nội dung, đặc điểm ở những mức độ khác nhau Đây thực sự là những tài liệu quý báu để tác giả tiếp thu, kế thừa và phát triển trong luận văn của mình
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.1 Mục đích luận văn
Luận văn trình bày cơ sở hình thành và phát triển của triết học Ấn Độ
cổ đại, trên cơ sở đó phân tích làm rõ nội dung tính thống nhất và đa dạng trong triết học Ấn Độ cổ đại
3.1.2 Nhiệm vụ của luận văn
Thứ nhất, luận văn trình bày khái quát và nêu rõ những điều kiện, tiền
đề hình thành tính thống nhất và đa dạng trong triết học Ấn Độ cổ đại
Thứ hai, luận văn phân tích, làm rõ nội dung tính thống nhất và đa
dạng trong triết học Ấn Độ cổ đại
Trang 133.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Luận văn không nghiên cứu tất cả các đặc điểm của triết học Ấn Độ mà chỉ
đi sâu vào nghiên cứu một nội dung của tính thống nhất và đa dạng trong triết học Ấn Độ thời kỳ cổ đại
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu trên cơ sở thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng
Phương pháp nghiên cứu kết hợp phương pháp phân tích và tổng hợp, đối chiếu, so sánh, phân tích, đánh giá để rút ra bài học cho bản thân và vận dụng vào hoàn thành luận văn
5 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
5.1 Ý nghĩa khoa học
Thứ nhất, luận văn góp phần trình bày có hệ thống những cơ sở hình
thành tính thống nhất đa dạng trong triết học Ấn Độ thời cổ đại và phân tích
cụ thể tính thống nhất và đa dạng trong nền triết học ấy
Thứ hai, luận văn góp phần làm sáng tỏ một nội dung của triết học Ấn
Độ cổ đại là tính thống nhất và đa dạng
Thứ ba, cái mới của luận văn là phần nào giúp người đọc không chỉ
thấy rõ nội dung tính thống nhất nhưng đa dạng trong triết học Ấn Độ cổ đại
mà còn thấy được vai trò, ý nghĩa cũng như hạn chế nhất định của nền triết học này
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho một số sinh viên chuyên ngành triết học
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương
và 4 tiết
Trang 14PHẦN NỘI DUNG Chương 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – LỊCH SỬ XÃ HỘI, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TÍNH THỐNG NHẤT
VÀ ĐA DẠNG TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – LỊCH SỬ XÃ HỘI VỚI SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TÍNH THỐNG NHẤT VÀ ĐA DẠNG TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
C.Mác đã từng nhận xét: “ không có một triết học, trường phái tư tưởng triết học nào nảy sinh trên mảnh đất trống không, mà đều hình thành, phát triển trên những nền tảng, điều kiện kinh tế chính trị, văn hóa nhất định” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, trang 15) Mỗi nền triết học đều dựa trên những điều kiện và tiền đề riêng và triết học Ấn Độ cổ đại cũng không phải
là ngoại lệ Triết học Ấn Độ thời cổ đại được hình thành từ những điều kiện như sau:
1.1.1 Điều kiện tự nhiên với quá trình hình thành và phát triển của triết học Ấn Độ cổ đại
Điều kiện tự nhiên của Ấn Độ rất đa dạng và khắc nghiệt
Ấn Độ là quốc gia có nhiều núi non trùng điệp, sông ngòi rộng lớn và những đồng bằng trù phú Ấn Độ là một bán đảo lớn ở phía Nam Châu Á Phía Đông Nam giáp với Ấn Độ dương, phía Tây Nam giáp với biển Á-rập, phía Bắc giáp với rặng núi Himalaya hùng vĩ, quanh năm tuyết phủ Theo Will Durant Ấn Độ cổ đại là một tam giác mênh mông quanh năm tuyết phủ ở Phía bắc, phía nam thì nóng như thiêu, như đốt cùng với những sa mạc khô cằn làm cho con người sống trong tình trạng đau khổ, chán nản Theo Will Durant: “Xứ đó là một tam giác mênh mông, đáy ở phía Bắc, tức dãy Himalaya quanh năm tuyết phủ; đỉnh ở phía nam, tức đầu đảo Tích Lan, quanh năm nóng như thiêu như đốt Phía Tây là Ba Tư mà dân chúng, ngôn ngữ, thần thánh đều rất gần gũi với Ấn Độ thời Veda” (Durant Will, 1954, p 392)
Trang 15Nhắc đến Ấn Độ không thể không kể đến Himalaya Himalaya có hơn
40 ngọn núi cao quanh năm tuyết phủ và đỉnh cao nhất hơn 8.000 mét, có
bề dài trên 7.200 mét Đây là nơi ẩn dật, là chốn tu hành của nhiều đạo sĩ
Đã có nhiều chuyện thần thoại và nhiều truyền thuyết về các chuyện đã xảy
ra trên ngọn núi này Tư duy huyền thoại cho rằng đây là nơi tiếp giáp, đi
về của thần linh giữa cõi trời và nhân gian nên đã hình thành những tư tưởng thế giới quan thần thánh tôn giáo gắn với tự nhiên như thần nắng, thần mưa, thần gió, thần nông, thần y, … Các nhà văn hoá Ấn Độ cho rằng dãy núi Himalaya đã tạo nên những khuôn mẫu tư tưởng sâu đậm trong văn hoá của miền Nam Châu Á Nhiều đỉnh núi của rặng Himalaya đã là những nơi linh thiêng của cả Phật giáo và Ấn Độ giáo Rặng núi Himalaya là ranh giới của Tiểu lục địa Ấn Độ với cao nguyên Tây tạng Từ trên ngọn núi Himalaya, có 3 con sông lớn của thế giới chảy vô nước Ấn Độ , tạo nên những đồng bằng rộng lớn: Indus, Ganges và Brahmaputra Jawaharlal Nehru đã viết ông từng lang thang trên dãy Himalaya Nơi đây là dãy núi
có nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng triết học và văn học của nhiều tác giả Tại đây, Jawaharlal Nehru tìm thấy những điều tuyệt vời, những sinh lực của quá khứ, hiện tại và đặc biệt là vẻ đẹp của các thời đại đã qua “Tôi lang thang trên dãy Himalaya, nơi gắn chặt với những chuyện thần thoại và truyền thuyết xưa, và nơi đã có nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng và văn học của chúng tôi Lòng yêu mến núi non của tôi và tình ruột thịt với Kashmir
đã kéo tôi đến đó, và tôi được nhìn thấy không những cuộc sống, sinh lực
và cái đẹp của hiện tại mà cả vẻ duyên dáng được ghi nhớ của các thời đại
đã qua.” (Jawaharlal Nehru, 1954, vol 1, p 18)
Miền cực bắc Ấn Độ với không khí lạnh giá khắc nghiệt cũng là điều kiện giúp cho người Ấn Độ cổ đại sáng tạo ra những truyền thuyết và những truyện thần thoại nhằm lý giải các hiện tượng hết sức đa dạng, mạnh mẽ, bí
ẩn của tự nhiên và thăng trầm của đời sống con người
Trang 16Miền trung nổi bật là các đồng bằng và những con sông linh thiêng Sông Indus - sông Ấn chảy qua miền Tây nước Ấn Độ và đổ ra vịnh Oman Sông này có 4 phụ lưu chính là các sông: Ravi, Thelum, Chenar và Sutleji Năm con sông này tạo nên đồng bằng Pendjab (âm VH, Ngũ Hà tức là vùng có 5 con sông) Lưu vực sông Ấn đã sinh thành một nền văn minh đáng chú ý là “Văn minh lưu vực sông Indus”( Indus valley civilization) vào khoảng năm 3.000 năm trước Công nguyên Sông Hằng cung cấp nguồn sống cho hàng triệu người Ấn Độ dọc theo nó và phụ thuộc vào nó hàng ngày Đây là nơi được người Ấn Độ cổ xem là linh thiêng và cũng là nơi khơi nguồn cho nhiều tư tưởng trên nhiều lĩnh vực lần lượt ra đời Jawaharlal Nehru đã viết:
“sông Hằng, trước hết, là con sông của Ấn Độ; con sông đã nắm giữ trái tim của Ấn Độ và thu hút hàng bao nhiêu triệu người đến bên bờ của nó từ buổi bình minh của lịch sử Câu chuyện dòng sông Hằng, từ ngọn nguồn của nó đến biển cả, từ thời xưa đến thời nay, là câu chuyện của nền văn minh và văn hóa Ấn Độ, của sự hưng suy của các triều đại, của những thành phố lớn kiêu hãnh, của cuộc phiêu lưu của con người và sự tìm tòi của trí tuệ từng làm bận bịu các nhà tư tưởng của Ấn Độ, của sự phong phú và hoàn mỹ của cuộc sống cũng như sự
từ chối và bác bỏ nó, của những thăng trầm, tăng trưởng và tàn lụi, của cuộc sống và cái chết ” (Jawaharlal Nehru, 1954, vol 1, p 18) Sông Hằng chảy qua miền giữa của nước Ấn Độ và đổ ra vịnh Bengal Sông Hằng là một con sông linh thiêng nhất của Ấn độ Hằng năm, vào lễ hội tắm Kumbh Mela, có hàng triệu tín đồ đạo Ấn Độ giáo đến tắm trên dòng sông Hằng vì họ tin tưởng rằng nước sông Hằng sẽ rửa sạch mọi tội lỗi
mà họ đã làm, và làm trong sạch , làm thanh tịnh tâm hồn của họ Các “câu chuyện của dòng sông Hằng” cũng đã ảnh hưởng đến tư tưởng và văn hóa
Ấn Độ Với lượng phù sa màu mỡ và lưu vực rộng lớn, sông Hằng là cái nôi
Trang 17phát triển của nền nông nghiệp lúa nước cổ xưa và là nơi phát sinh ra các quốc gia chiếm hữu nô lệ nhỏ, phân tán đầu tiên ở Ấn Độ cổ đại Các quốc gia chiếm hữu nô lệ này là các quốc gia của những bộ tộc người Aryan, hình thành khi họ làm cuộc di thực xâm nhập, chinh phục Ấn Độ vào những năm cuối thiên niên kỷ II đầu thiên niên kỷ I trước Công nguyên Lưu vực sông Hằng là khu vực đông dân nhất và là vùng sản xuất nông nghiệp rộng lớn, quan trọng nhất của Ấn Độ Phần phía tây của đồng bằng sông Hằng, được cung cấp lượng nước tưới dồi dào bởi một hệ thống kinh rạch chằng chịt, với các kinh huyết mạch là kinh Thượng lưu và Hạ lưu sông Hằng Thông thường hai bên bờ sông Hằng có các vùng đầm lầy và các hồ nước Ở các khu vực đồng ruộng hai bên bờ sông Hằng, người ta trồng các loại cây lương thực và hoa màu như lúa, lúa mì, khoai tây, bắp, mía đường, đậu lăng, mè, rau, ớt, mù tạt, hạt có dầu, bông, đay, gai
Sông Brahmaputra còn gọi là sông Tsangpo Bramaputra, đây là con sông ngăn cách biên giới xuyên suốt phía Đông - Bắc Ấn Độ Sông này chảy
vô Ấn Độ theo hướng Tây Nam, rồi hạ lưu của nó sát nhập với sông Hằng để cùng nhau chảy ra vịnh Bengal tạo điều kiện để trồng trọt và chăn nuôi Sông Ấn là cái nôi của nền văn minh cổ Ấn Độ Lịch sử ghi chép lại nền văn minh lúa nước này có 5 đặc điểm chứng tỏ nơi đây là mầm mống của những truyền thống, lễ nghi tôn giáo cùng với những bí ẩn chưa được giải mã hoặc đứt đoạn hoặc chỉ truyền lại một phần Người Ấn Độ cổ tập trung dòng họ, dòng tộc chiếm một vùng đất hình thành chế độ nô lệ
Miền Nam Ấn Độ Có các cao nguyên cùng nhiều sông suối đồi dốc không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Khí hậu khô nóng, đất đai khô cằn làm cho người dân ở đây “đen như mọi” và vì cuộc sống cực nhọc khó khăn nên con người không đủ khả năng nuôi sống bản thân Từ đó họ chán nản, thất vọng, bi quan, trễ nãi, biến nhát, đau khổ không muốn lao động và
họ mơ đến một nơi hạnh phúc lý tưởng đó là “niết bàn”
Trang 18Khí hậu của Ấn Độ thì vô cùng khắc nghiệt Miền Bắc ở dưới chân
rặng Himalaya thì lạnh lẽo, khi có gió nóng từ miền Nam thổi lên thì thời tiết
có nhiều đám sương mù dày đặc Vào mùa hè, nhiệt độ gia tăng làm các băng tuyết trên Himalaya tan ra tạo thành những cơn nước chảy dữ dội xuống thành lụt lội có sức tàn phá kinh khủng, và đem phù sa phủ khắp làng mạc, thành phố như trường hợp ở lưu vực sông Indus
Ấn Độ có nhiều khu rừng rậm có đầy cọp, beo, voi, chó sói, rắn độc,
có những đầm lầy có nhiều cá sấu Khí hậu ở miền Nam thì oi bức, khó chịu làm ảnh hưởng đến tinh thần của con người và làm ảnh hưởng tới những quan niệm triết lý, nhân sinh Rừng cây soi bóng mát là nơi rất thích hợp cho các đạo sĩ tu tập, ngồi thiền định Vào mùa hè, mưa nhiều, nên khí hậu được mát mẻ hơn, nhà nông có thể trồng trọt
Như vậy, điều kiện tự nhiên ở Ấn Độ cổ đại vô cùng khắc nghiệt đã đè nặng lên đời sống con người Ấn Độ làm cho con người ở đây hết sức khổ cực và mọi người cùng đặt ra vấn đề là làm thế nào để con người thoát khỏi khổ đau Đây là hỏi chung, câu hỏi lớn và cũng là câu hỏi trung tâm mà tất
cả các nhà tư tưởng, các triết gia, các tầng lớp trí thức tập trung giải quyết lúc bấy giờ
1.1.2 Điều kiện lịch sử xã hội với quá trình hình thành và phát triển của triết học Ấn Độ cổ đại
Khoảng trên 4.000 năm trước Công nguyên, đã có nhiều dân tộc sinh sống ở Ấn Độ với các phong tục, tập quán, ngôn ngữ và trình độ văn minh khác nhau Giống người Dravidian là dân tộc nổi bật nhất trong các dân tộc
đã sống ở Ấn Độ khoảng trên 3.000 năm trước Công nguyên, vào khoảng thời đại đồ đồng, họ sống theo chế độ mẫu hệ Họ có nước da sậm, mũi to,
mắt đen Phần lớn họ sống về nghề nông, trồng lúa nước Theo sách Triết
học quyển số 1 của tác giả Vũ Ngọc Pha và Doãn Chính đã viết đầu thiên
niên kỷ II trước Công nguyên đã tồn tại nền văn hóa sớm nhất là nền văn
Trang 19minh sông Ấn Thông qua các cuộc khai quật di tích cổ chứng tỏ: “Nền văn minh sông Ấn hay còn gọi là nền văn minh Harappa là một nền văn minh đồ đồng trong đó nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp đã đạt tới trình độ nhất định” (Vũ Ngọc Pha, Doãn Chính, Nguyễn Ngọc Long, Nguyễn Hữu Vui, 1996, trang 22,23)
Vào khoảng năm 2.500 trước Công nguyên, giống người Aryan sống
ở phía Bắc dãy núi Cause, (rặng núi Cause dài 1.200 km, nằm giữa biển Caspienne và Hắc hải), đã chia ra làm hai toán: một toán di chuyển về phía Tây Nam để đi vào xứ Iran, một toán khác di chuyển về hướng Đông Nam
để xâm nhập vào miền Tây Bắc Ấn Độ, rồi dần dần xâm chiếm cả bán đảo
Ấn Độ: họ thống trị vùng lưu vực sông Gange, rồi xuống phía Nam đi lên Cao nguyên Deccan Người Aryan có vóc dáng to lớn, da trắng hơn dân bản địa Dân tộc Aryan có trình độ văn hoá kém hơn người Dravidian khi họ mới xâm chiếm Ấn Độ Về sau, dân tộc chiến thắng Aryan dựa vào sự học hỏi từ dân tộc Dravidian, họ đã phát triển về mọi mặt như tôn giáo, văn minh, kỷ thuật, cách quản lý hành chánh xã thôn Họ đã tạo một bước tiến vượt bực về
tư tưởng triết học, tôn giáo như thời kỳ Veda và về sau này Sau khi chiếm được nhiều đất đai, người Aryan đã chuyển từ chăn nuôi du mục sang định
cư Từ đó họ tiếp thu kỹ thuật, văn minh của người Dravidian Nhờ có nhiều đất đai nông nghiệp nên người Aryan bắt đầu phát triển nông nghiệp tuy nhiên nó còn yếu ớt và biệt lập, khép kín Chính sự biệt lập, khép kín, thụ động, tĩnh tại, quân bình này được phản ánh vào trong triết học khá rõ Điều này cũng được phản ánh vào trong tư tưởng vận động vòng tròn khép kín của các trường phái triết học
Tuy nhiên, trên cơ sở mở mang kiến thức từ việc học tập và phát triển các công trình xây dựng thủy lợi, canh tác đất đai, trồng cây, phát triển các nghề thủ công cho đến thương nghiệp cũng ngày càng mở rộng Tiền tệ kim loại xuất hiện Nhiều thành phố lớn hình thành và trở thành trung tâm
Trang 20thương nghiệp nối liền các thành thị với nhau và thông từ Ấn Độ qua các nước như Trung Hoa, Ai Cập
Như vậy, mặc dù kinh tế có bước phát triển nhưng người Ấn Độ cổ vẫn còn giới hạn trong một khuôn khổ đời sống vô cùng khó khăn, khắc nghiệt, khổ đau Vì thế cho nên tư tưởng của họ vẫn nằm trong vòng lẩn quẩn Họ vẫn lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên Mục đích của họ là làm sao để hết khổ đau, làm sao để đạt đến sự giải thoát Cho nên, các tư tưởng triết học
Ấn Độ cổ đại trở nên nhỏ bé trước vấn đề triết học cần giải quyết thì lớn lao giống như ngón tay chỉ mặt trăng, như con đò đưa lữ khách qua sông Nó cần được gắn vào những tư tưởng bao trùm, khái quát hơn như triết lý sống, đạo đức, tôn giáo, tâm linh,…
Đặc điểm nổi bật của xã hội Ấn Độ cổ đại là chế độ nô lệ mang tính chất gia trưởng, lại bị kìm hãm bởi sự khép kín, trì trệ, bảo thủ, kiên cố của công xã nông thôn và chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội khắc nghiệt Chính điều này đã làm cho tư tưởng triết học thống nhất trong một điều kiện chung nhưng đa dạng trong suy nghĩ, hành động và giải pháp
Người cổ nhất ở Ấn Độ - người Nêgritô (da đen), nay còn một số ở Madras Sau đó người Nêgritô kết hợp với người Mongoloid (da vàng) hình thành nên người Australoid, về sau phát triển thành người Dravidian (hiện sống nhiều ở Nam Ấn) Khoảng 3000-1500 trước công nguyên, Ấn Độ có nền văn minh Indus, văn minh đồng thau của người Dravidian Khoảng 1500
- 500 trước công nguyên - Ấn Độ có nền văn minh Ganga mà chủ nhân là người Aryan tràn từ Tây Bắc vào Ấn Độ khoảng 2000 trước công nguyên Khoảng 1500 trước công nguyên họ hình thành các bộ Veda - Kinh đầu tiên
ở Ấn Độ Công xã nông thôn với ngành nghề chính là nông nghiệp bên cạnh thủ công nghiệp là dệt vải kéo sợi, tổ chức sản xuất theo lối gia đình tự cấp,
tự túc Công xã nông thôn tồn tại một cách biệt lập, bị động, thụ động, khép kín, từ đó làm hạn chế lý trí của con người và trở thành công cụ ngoan ngoãn
Trang 21của mê tín Chính sự biệt lập, khép kín, thụ động, tĩnh tại, quân bình này được phản ánh vào trong triết học khá rõ
Thời cổ đại, Ấn Độ bao gồm nhiều quốc gia nhỏ bé của những bộ lạc hay liên minh bộ lạc chẳng hạn như Sakya, Gandhara, Magadha, Koshala, Kashi, Anga,… Đến thế kỷ V trước công nguyên, Ấn Độ còn bốn quốc gia lớn: Kashi, Koshala, Vrijas, Magadha trong đó Magadha có ưu thế hơn cả Năm 321 Trước công nguyên, Chandragupta đã thống nhất toàn Ấn Độ, hình thành nhà nước Maurya cai quản toàn bộ tiểu lục địa cổ đại
Xã hội Ấn Độ cổ được phân làm 4 đẳng cấp: Balamon (Tu sĩ), Kshatrya (Vua chúa, võ tướng), Vainshya (Thương nhân), Shudra (Những người lao động bình thường, nô lệ) Sự phân chia đẳng cấp, theo luật Manu,
là vô cùng khắt khe
Ấn Độ là quốc gia đa ngôn ngữ (150 thứ ngôn ngữ) nhưng hiện nay tiếng Hindi là ngôn ngữ chính Thời Ấn Độ cổ đã có nhiều trường đại học như Nalanda (Phật học), Ujjair (Thiên văn), Ajanta (Nghệ thuật),…Theo C.Mác, Ấn Độ là chiếc nôi của các ngôn ngữ và tôn giáo nhân loại, còn lịch
sử của nó có dạng lịch sử của những tôn giáo
Tổ chức xã hội của người Aryan lấy gia đình và gia tộc làm căn bản Đứng đầu mỗi tộc là một thủ lĩnh chính trị, quân sự được gọi là tiểu vương Mới đầu, chế độ bộ tộc trưởng tiểu vương được bầu, sau đó sự tiếp nối này trở thành thế tập của một dòng họ, cha truyền con nối Giúp việc cho vua là
là một “hội đồng bộ tộc” Sau đó, công xã nông thôn được thay thế, tế bào cơ
sở của xã hội là các làng xã Đứng đầu làng xã là xã trưởng Dân chúng sống theo gia đình phụ hệ
Đặc biệt trong thời kỳ này ở Ấn Độ cổ đại tồn tại chế độ đẳng cấp, gọi
là chế độ “varna” Chế độ đẳng cấp này ảnh hưởng sâu sắc và nghiêm trọng đến tư tưởng người Ấn Độ cổ đại và chi phối hành vi của họ trong mọi hoạt động Đây là một chế độ hết sức khắc khe vì nó không chỉ là sự phân biệt về
Trang 22chủng tộc, màu da mà còn là sự phân biệt về dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo, quan hệ giao tiếp, hôn nhân nhân gia đình, văn háo, giáo dục… Chế độ này được hình thành trong quá trình người Aryan chinh phục, thống trị người Dravidian Chế độ phân biệt đẳng cấp này được hình thành và dần dần trở thành bộ luật thống trị giai cấp và xã hội đương thời Theo thánh điển Bàlamôn và bộ luật Manu, người ta phân biệt trong xã hội Ấn Độ rất nhiều chủng tính nhưng có thể quy định thành bốn chủng tính lớn và đó cũng là bốn đẳng cấp lớn của Ấn Độ cổ đại Đứng đầu là đẳng cấp tăng lữ, lễ sư Bàlamôn hiện thân đầu và miệng của thần Sáng tạo Công việc của họ là đọc kinh Veda; giảng giải tri thức, linh hồn linh thiêng; chủ trì các nghi lễ
để tiếp xúc với thần linh Thứ hai là đẳng cấp vương công, vua chúa, tướng lãnh, võ sĩ hiện thân hai vai thần Sáng tạo với hai nhiệm vụ chính là duy trì trật tự xã hội và chỉ huy quân đội bảo vệ chế độ Hai đẳng cấp này tranh giành vị thế của nhau Trong xã hội loạn lạc thì đẳng cấp thứ hai được đề cao nhưng khi hòa bình, ổn định thì vai trò của đẳng cấp tăng lữ lại đặt lên hàng đầu Thứ ba là đẳng cấp thương nhân, điền chủ và thường dân hóa thân hai bắp đùi của thần Sáng tạo nắm toàn bộ nền kinh tế, sinh hoạt vật chất của xã hội vì đẳng cấp này sản xuất ra của cải vật chất để nuôi sống xã hội và đóng góp tiền tài, của cải để xây dựng tài chính và ngân khố quốc gia Thứ tư là đẳng cấp tiện dân và nô lệ hiện thân hai bàn chân của thần Sáng tạo Nhiệm vụ của đẳng cấp này là lao động, phục dịch, phục vụ gia đình chủ nô và các đẳng cấp khác một cách vô điều kiện và chỉ được thờ cúng ông bà không được tham gia sinh hoạt tôn giáo Họ phải đi lính, đi chiến tranh, làm tất cả mọi việc cho đẳng cấp vương công, võ sĩ Ngoài bốn đẳng cấp trên, còn có đẳng cấp thứ năm là những người bị coi là ngoài lề đẳng cấp xã hội Đó là tầng lớp người cùng đinh, hạ đẳng như người chandala và bị xem là đáy của xã hội Họ chỉ được phép làm những nghề thấp hèn như đồ tể, sơn phết, thuộc da,…
Trang 23Chế độ nô lệ ở Ấn Độ hà khắc cùng với tính chất gia trưởng trong quy định gia đình, bộ tộc mang nặng tính chất tự nhiên, tự cấp tự túc, biệt lập đã trói buộc con người vào những quy tắc bất di bất dịch làm cho con người bảo thủ, trì trệ, không phát triển Chế độ này trói con người và xã hội trong một vòng tròn khép kín Tổ chức phân công lao động trong nông nghiệp và thủ công nghiệp mang tính chất gia trưởng Người ta không gọi chế độ này là chế độ nô lệ mà là chế độ cổ truyền, tập tục cổ truyền C Mác đã gọi đây là quan hệ sản xuất quá độ từ chế độ công xã nguyên thủy sang chiếm hữu nô
lệ Trong giai đoạn này, nhân dân Ấn Độ sống tập trung trong những trung tâm nhỏ và có mối quan hệ chặt chẽ trong hoạt động nông nghiệp và lao động thủ công nghiệp và hình thành nên chế độ công xã nông thôn và hầu như nó hoạt động độc lập, tách biệt không chịu sự chi phối của chính phủ Vì thế, C.Mác và Ph Ăngghen đã phân tích chế độ công xã nông thôn là cơ sở của một chế độ chuyên chế bó buộc tư tưởng con người trong một khuôn khổ nhất định “làm cho người nó trở thành công cụ ngoan ngoãn của mê tín, trói buộc nó bằng những xiềng xích của các quy tắc cổ truyền, … công xã nhỏ bé
ấy mang dấu ấn của sự phân biệt đẳng cấp và của chế độ nô lệ, rằng những công xã ấy làm cho con người phục tùng những hoàn cảnh bên ngoài chứ không nâng con người lên địa vị làm chủ những hoàn cảnh ấy” (C.Mác và
Ph Ăngghen, 1994, tập 9, p 178)
Chế độ nô lệ ở Ấn Độ còn có tính chất đặc biệt nữa ở chỗ đó là chế độ
xã hội chưa đạt tới trình độ phát triển thành thục như ở Hy Lạp - La Mã cổ đại, lại bị kìm hãm bởi sự kiên cố của công xã nông thôn vốn dựa trên mối liên hệ có tính chất gia trưởng giữa lao động nông nghiệp và thủ công nghiệp, mang nặng tính chất tự nhiên, tự cấp tự túc, biệt lập và sự trói buộc của những quy tắc của chế độ cổ truyền, cho nên nó hết sức khắt khe, bảo thủ, trì trệ, chậm chạp Vì thế, C Mác đã viết:
“Cũng như nhân dân của tất cả các nước phương Đông, nhân dân Ấn
Trang 24Độ trao cho chính phủ trung ương chăm lo những công trình công cộng lớn, những công trình đó là điều kiện cơ bản của nền nông nghiệp và thương nghiệp của họ; mặt khác, dân cư Ấn Độ, rải rác ở khắp lãnh thổ của đất nước, sống tập trung trong những trung tâm nhỏ nhờ vào mối liên hệ có tính chất gia trưởng giữa lao động nông nghiệp và lao động thủ công nghiệp - cả hai tình hình từ những thời kỳ xa xưa nhất, đã đẻ
ra một chế độ xã hội đặc biệt gọi là chế độ công xã nông thôn, chế độ này đem lại cho mỗi đơn vị nhỏ bé ấy cái tổ chức độc lập và cuộc sống biệt lập của nó” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1994, t 9, tr 175 - 176)
Như vậy, điều kiện tự nhiên cùng với điều kiện xã hội Ấn Độ cổ đại
đã hình thành đặc điểm đời sống vật chất, tinh thần, đạo đức, tư tưởng, tình cảm của người Ấn Độ cổ và các trường phái triết học Nó ngăn cản con đường phát triển của sức sản xuất của xã hội nhưng nó tạo điều kiện cho các nhà triết học tìm con đường, giải pháp sao cho có thể phát triển quan điểm tư tưởng của mình phù hợp điều kiện xã hội đương thời Các trường phái triết học bắt đầu kế thừa, phát triển thậm chí là đối lập, đấu tranh với các trường phái khác để chứng minh học thuyết của mình là tối ưu Trong đó, đặc biệt
là các làn sóng phản đối sự thống trị của đạo Bàlamôn và chế độ đẳng cấp đã tồn tại dai dẳng ở Ấn Độ kiềm hãm sự phát triển Ấn Độ Các làn sóng chống lại những luật lệ khắc khe, bất bình đẳng làm cho con người khổ đau nhưng rồi cuối cùng phải chấp nhận trong tuyệt vọng Các cuộc đấu tranh tư tưởng
đã làm nên tính đa dạng, phong phú trong cách thức để tìm ra giải pháp tối
ưu giúp người Ấn Độ đương thời thoát khỏi sự khắc nghiệt của tự nhiên và
sự cai nghiệt của chế độ đẳng cấp vô cùng hà khắc Tính chất đặc biệt đó đã tác động mạnh mẽ không chỉ đến đời sống vật chất mà còn ghi dấu ấn sâu đậm trong đời sống tinh thần của người Ân Độ cổ, và do đó cũng đã ảnh hưởng sâu đậm đến quá trình hình thành, nội dung và đặc điểm của triết học tôn giáo Ân Độ Vì thế, C.Mác và Ph Ăngghen đã viết:
Trang 25“Chúng ta không được quên rằng những công xã nông thôn thơ mộng
ấy, dầu cho chúng có vẻ vô hại như thế nào chăng nữa, bao giờ cũng là
cơ sở bền vững của chế độ chuyên chế phương Đông, rằng những công
xã ấy đã hạn chế lý trí của con người trong một khuôn khổ chật hẹp nhất, làm cho người nó trở thành công cụ ngoan ngoãn của mê tín, trói buộc
nó bằng những xiềng xích của các quy tắc cổ truyền Chúng ta không được quên rằng những công xã nhỏ bé ấy mang dấu ấn của sự phân biệt đẳng cấp và của chế độ nô lệ, rằng những công xã ấy làm cho con người phục tùng những hoàn cảnh bên ngoài chứ không nâng con người lên địa
vị làm chủ những hoàn cảnh ấy, rằng những công xã ấy đã biến trạng thái tự động phát triển của xã hội thành một số phận không thay đổi do thiên nhiên quyết định trước, và do đó, đã tạo ra sự thờ cúng thiên nhiên một cách thô lỗ, mà sự thoái hóa biểu hiện trong việc con người, kẻ làm chủ thiên nhiên, lại phải quỳ gối trước con khỉ Hanuman và trước con bò Sabbala.” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1994, t 9, tr 178)
1.2 TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TÍNH THỐNG NHẤT VÀ ĐA DẠNG TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
1.2.1 Nền văn minh của Ấn Độ cổ đại
Sự phát triển của nền văn minh Ấn Độ cổ với quá trình hình thành và phát triển tính thống nhất và đa dạng của triết học Ấn Độ cổ đại
Sự thống nhất và đa dạng trong triết học Ấn Độ cổ đại được nảy sinh
và mang đậm dấu ấn của điều kiện sống nhưng nó cũng phản ánh và chịu sự chi phối sâu sắc từ các nền văn minh cổ Ấn Độ Từ thời kỳ văn minh sông
Ấn, qua nền văn minh Veda - Sử thi đến thời kỳ Phật giáo - Bàlamôn giáo,
xã hội Ấn Độ và các tư tưởng triết học Ấn Độ đã kế thừa những thành tựu rực rỡ, đặc sắc của những tinh hoa ấy để hình thành nên tính đa dạng nhưng thống nhất và trở thành nội dung, đặc điểm nổi bật của triết học Ân Độ thời
cổ đại
Trang 26Tiền đề đầu tiên là nền văn minh sông Ấn (từ thiên niên kỷ thứ III đến
đầu thiên niên kỷ thứ II trước Công nguyên) Tư tưởng triết học chỉ mới hình thành như tư tưởng triết lý thần thoại tôn giáo qua tín ngưỡng tô tem, tín ngưỡng vật linh, qua những di chỉ khảo cổ như bức tượng Thánh mẫu Kali, các bức phù điêu đạo sĩ Yoga, bể tắm nước thanh tẩy theo các lễ nghi tôn giáo, biểu tượng thần Nước, thần Đất Sir Johon Maxshall đã nói: “Những
di tích về tôn giáo mà người ta tìm thấy ở nơi đây chứng tỏ rằng tôn giáo của nhân dân miền Indus là nguồn gốc của Ấn giáo sau này.” (Jawaharlal Nehru,
1954, vol.1, p 33)
Tiếp theo nền văn minh sông Ấn là nền văn minh Veda - Sử thi
(khoảng từ thế kỷ XV trước Công nguyên đến thế kỷ VI trước Công nguyên) Vào cuối thiên niên kỷ thứ II, người Aryan làm một cuộc di thực xuống phía nam và tây nam, xâm chiếm khu vực của người bản địa Người Aryan chăn nuôi du mục, săn bắt trên cao nguyên Caucase, còn những người bản địa của Ấn Độ sống định cư thành làng xã, với nghề chính là nông nghiệp lúa nước và tiểu thủ công nghiệp Sau khi xâm lược, các bộ tộc của
họ họp nhau lại thành từng tiểu quốc, sau cùng mỗi bộ tộc gồm nhiều làng cộng đồng tương đối tự trị do một hội đồng gia tộc cai trị Dần dần về sau, vai trò của tiểu vương càng được đề cao và được suy tôn lên thành Hoàng đế
Từ đó, văn hóa giữa người Dravidian và người Aryan dần dần hòa hợp Bằng quá trình chinh phục và dung hợp văn hóa, người Aryan đã sáng tạo nên một nền văn minh mới - văn minh Veda Trên cơ sở đó, hình thành tư tưởng triết
lý tôn giáo Ấn Độ, được phản ánh trong nội dung tư tưởng của kinh Veda, kinh Upanishad, giáo lý đạo Bàlamôn và các bộ kinh sách cổ Ấn Độ như Ramayana, Mahabharata, Bhagavad - gita, Manu, Artha,
Tiền đề thứ ba là thời kỳ Phật giáo - Bàlamôn giáo hay thời kỳ các vương triều thống nhất, từ thế kỷ thứ VI trước Công nguyên đến thế kỷ thứ III sau Công nguyên Sau nhiều năm đấu tranh đến thế kỷ VI trước Công
Trang 27nguyên đã kết thúc bằng sự thắng lợi của vương triều Magadha Đây là thời
kỳ Ấn Độ cổ đại hình thành các trường phái triết học – tôn giáo lớn Đó là 9
hệ thống tư tưởng lớn, được chia làm hai phái: chính thống và không chính thống Thuộc phái chính thống có các trường phái Samkhuy, Mimasa, Vedanta Yoga, Nyaya và Vasêsika Thuộc phái không chính thống có Jaina, Lokayata và Phật giáo (Buddha) Các tư tưởng triết học của các trường phái này có giá trị vô cùng to lớn và phong phú làm tiền đề cho những tư tưởng triết học kế thừa, sinh sôi và nảy nở Nhận định một cách tổng quát về quá trình tiến triển của nền văn minh Ấn Độ cổ đại, trong đó
có tư tưởng triết học tôn giáo, Will Durant đã viết: “các triết gia của họ đã đưa ra đủ các thuyết về chủ đề nhất nguyên luận, từ các thuyết trong Upanishad xuất hiện tám thế kỷ trước Kitô cho tới thuyết của triết gia Sankaracharya, sống sau Kitô tám thế kỷ… Đó là xứ Ấn Độ mà hiện nay nhiều người đương gắng sức nghiên cứu để mở ra cho người phương Tây thấy một thế giới mới của trí tuệ, mà khỏi tự hào rằng trên trái đất này chỉ
có họ mới văn minh.” (Will Durant, 1954, p 391)
1.2.2 Những thành tựu văn hóa và khoa học của Ấn Độ cổ đại
Thứ nhất, những thành tựu văn hóa cổ với quá trình hình thành và phát triển tính thống nhất và đa dạng của triết học Ấn Độ cổ đại
Năm 1922, nhà khảo cổ học John Marhall đã cùng với các viên chức khảo cổ Ấn Độ: R.D Banerji, D.K Dikshita và Ernest Mackoy bắt đầu cuộc khai quật ở Mohenjo-daro, và sau đó ở Harappa Mohenjo-daro là vùng khảo
cổ nằm ở hữu ngạn sông Indus Harappa nằm về phía bắc Mohenjo-daro ở phía trái sông Indus Hai địa danh nầy hiện thuộc tỉnh Sindh, nước Pakistan Sông Indus phát nguồn ở cao nguyên Tây tạng từ rặng Himalaya, dài 3.180km chảy qua vùng Penjab, có 5 phụ lưu gồm các con sông: Ravi, Thelum, Chenar và Sutleji rồi đổ ra biển Á-rập (Arabian Sea) Sông Ấn chảy qua Tây-Bắc Ấn Độ và Đông Bắc Pakistan hiện nay Theo các nhà khảo cổ thì
Trang 28vùng nầy có lẻ đã bắt đầu phát triển khoảng năm 3000 trước Công nguyên, các di tích khảo cổ được cho là thuộc “Văn minh lưu vực sông Ấn Độ cổ xưa” (Ancient Indus valley civilization) Nền văn minh nầy có thể có cùng một thời với các nền văn minh cổ khác như: văn minh cổ Ai-cập, văn minh cổ Mesopotania và văn minh cổ Minoan (Minoan civilization) được khai quật ở đảo Crete, phía Nam thành Athene, nước Hy lạp Năm 1980, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hiệp quốc ( UNESCO / United Nations, Educational, Scientific and Cultural Organization) đã công nhận phần đất này
là một di sản của thế giới Nhiều nhà văn hóa Ấn Độ rất hãnh diện:
“Dân chúng đã quy hoạch và xây cất nhiều thành phố có nhiều nhà cửa, nhiều con đường rộng, nhiều ngỏ hẻm lót cát, các ống cống đã được xây ở dưới lòng đất, nhiều (nữ trang) được làm bằng vàng, bằng bạc, và bằng đồng: các di tích này chứng tỏ có một nền văn minh cao đã hiện diện; chắc chắn rằng văn minh này phải cao hơn văn minh của (văn hoá) Véda Aryan”.( “The people who planned and built towns with houses, streets, path sand, underground drains as they had done, and used made of gold, silver and copper, must have been highly civilized; certainly more civilized than the Vedic Aryans” (Suhas Chatterjee, 1998, p 26)
Trong số các di vật khảo cổ ngoài các nền nhà, đường xá của thành phố còn
có các hình nhân đứng hoặc ngồi, các dụng cụ bằng đồng và bằng đá, các con dấu có khắc hình, bàn cân với các khối trọng lượng để cân đo, nữ trang bằng vàng, bạc, đồng và bằng ngọc thạch, dây chuyền, đồ chơi của trẻ em, tượng cô gái đang vũ múa, tượng Priest- King … Đặc biệt có con dấu niêm phong (seal) có hình người đang ngồi tréo chân, hai bàn tay thong thả để trên hai đầu gối, đôi mắt lim dim đang suy niệm, đây là hình ảnh của các vị đạo sĩ đang ngồi thiền
Trang 29Sự phát triển của văn hóa Ấn Độ cổ đã hình thành và phát triển tính
thống nhất và đa dạng của triết học Ấn Độ cổ đại thông qua các bộ kinh sách, sử thi,…
Nổi bật nhất là kinh Veda trong tiếng Sanskrit có nghĩa là sự hiểu biết (knowledge) Thánh kinh Veda là bộ sách thâu tóm tất cả cái hiểu biết của dân Aryan qua các câu thơ ca bình dân về quan niệm, tập tục lễ nghi ở các bộ lạc Aryan dọc theo sông Ấn, song Hằng và dọc theo chân núi Hymalaya
Bộ kinh này được truyền khẩu qua nhiều thế hệ, có lẽ trước năm 1500 tr.CN cho đến năm 800 tr.CN thì được ghi lại bằng tiếng Ấn độ cổ Bộ kinh Veda có điểm tương tự như Kinh thi, là sự ghi lại các câu thơ ca về phong tục tập quán của người bình dân do Đức Khổng tử kết hợp lại Như vậy, kinh Veda là một sáng tác do nhiều người trong dân gian Aryan Ví dụ một bài thơ trong Rig - Veda - qua bản dịch của Nguyễn Hiến Lê từ tác giả Will
Durant ghi chép lại:
“ Buổi đó, hoàn toàn chẳng có gì cả, mặt trời rực rỡ kia không có,
Mà vòm trời là cái khăn phủ mênh mang kia, cũng không có
Vậy thì cái gì trùm lên, che phủ, chứa chất vạn vật?
…
Ai là người vén được màn bí mật? Ai là người cho ta biết
Sự sáng tạo muôn vật đó từ đâu mà có?
Chính các thần linh cũng chỉ xuất hiện sau này
Vậy thì ai là người biết được sự sáng tạo mầu nhiệm đó từ đâu mà có? Đấng nào đã gây ra sự sáng tạo đẹp đẽ đó
Là do vô tình hay hữu ý?
Đấng Tối Cao trên tầng trời cao nhất kia” (Will Durant, 1996, trang 58,59)
Đặc biệt nhất là trong bộ kinh Veda gồm có 4 cuốn:
Trang 301- Rig - Veda: gồm các bài thơ dùng để cầu nguyện, tán tụng công đức của các bậc thần thánh
2- Sama - Veda: gồm các bài thơ ca dùng để ca ngợi các thần thánh khi cầu lễ
3- Yayur- Veda: gồm các bài thơ ghi lại cách thức cầu khẩn, cách thức cúng tế khi hành lễ
4-Atharva-Veda: gồm các bài thơ là các bài thần chú, các bài phù phép khi được đọc tụng sẽ đem lại nhiều điều tốt cho người đọc hoặc cho người thân, hoặc có thể gây tai họa cho kẻ thù Thí dụ: có bài thần chú để cầu cho
có con, hoặc để tai qua nạn khỏi; hoặc có bài thần chú làm tiêu diệt hoặc làm nản lòng kẻ thù
Trong mỗi cuốn kinh Veda đều chia làm 4 phần:
1 Mantra: gồm các bài ca tụng, các bài thánh ca
2 Brahmana: gồm các bài ghi các nghi thức hành lễ cho các tu sĩ dùng, có các bài cầu nguyện và thần chú cho tu sĩ đọc tụng
3 Aranyaka: gồm các bài dành riêng cho các nhà tu khổ hạnh dùng, hoặc cho các vị đang tu luyện trong rừng sâu
4 Upanishad: gồm các bài thuyết giảng, các bài giải thích về triết học của Véda, các triết gia dùng để học hỏi triết lý Véda
Thánh ca Veda đã ca tụng ngôi sao sáng tạo “Thần sáng tạo”hay
“Đấng sáng tạo” Brahman Thượng đế là nguyên lý của vũ trụ, là nguồn sống, là đấng tối cao điều hành vũ trụ, có toàn năng Theo thánh kinh Veda thì có rất nhiều vị thần ở khắp 3 cỏi: Trời, Không trung, Đất như thần lửa Agni, thần mặt trời Mitra, thần mặt trăng Varuna, rồi đến thần sông, thần núi, thần gió thần mưa v v… tất cả các hiện tượng thiên nhiên đều được gắn với các vị thần Người Ấn Độ cổ tin và giải thích rằng trong vũ trụ này đồng thời tồn tại ba thế lực có liên quan với nhau là thần linh, con người và quỷ
ác, ứng với ba cõi của vũ trụ bao la là thiên giới, trần thế và địa ngục Họ đã
Trang 31phân tích các hiện tượng tự nhiên và lý giải chúng qua biểu tượng của thế giới thần linh phong phú, hiện diện ở khắp mọi nơi và khắp mọi thời, chia nhau chi phối sự biến hóa của vũ trụ vạn vật Như vậy, quá trình phát sinh và
phát triển của tư tưởng triết học - tôn giáo trong thánh kinh Veda, đặc biệt là trong kinh Rig - Veda là từ sự giải thích các sự vật hiện tượng riêng lẻ của
thế giới qua biểu tượng các vị thần có tính chất tự nhiên, người Ấn Độ cổ
đã đi tới phát hiện ra cái chung, cái bản chất, là bản nguyên tối cao của thế
giới, biểu hiện rõ trong kinh Upanishad, trong Bhagavad - gita và trong
Vedanta - những hình thức bình chú, giải thích, kế thừa và phát triển mặt
triết học của kinh Veda, bên cạnh việc khai thác mặt nghi thức tế tự của kinh Veda Triết lý thần thoại trong kinh Veda đã thỏa mãn con người ở hai
mặt: mặt nhận thức và mặt tâm lý Về mặt nhận thức, thế giới quan đa thần
tự nhiên trong kinh Veda đã góp phần giúp con người nhận thức và giải thích thế giới, trả lời cho câu hỏi mang tính chất thế giới quan, rằng thế giới này là gì, nó tồn tại như thế nào Tuy nhiên, do hạn chế của điều kiện đời sống và trình độ nhận thức, việc giải thích thế giới trong kinh Veda còn mang tính chất cụ thể cảm tính và mang dấu ấn của thần thoại tôn giáo Khi giải thích thế giới bằng biểu tượng các vị thần có tính chất tự nhiên, người
Ấn Độ cổ đã dần khám phá ra rằng đằng sau thế giới hiện thực phong phú có một lực lượng tối cao, siêu hình chi phối Điều đó có nghĩa là trong nhận thức của người Ấn Độ đang chuyển dần từ trình độ cảm tính sang trình độ tư duy trừu tượng Thế giới các vị thần biểu tượng cho các hiện tượng phong phú, mạnh mẽ, huyền bí của tự nhiên và xã hội chính là chỗ dựa, niềm an ủi cho con người; là nơi con người gửi gắm những ước muốn của mình vào đó, khi mà trong đời sống trần tục con người gặp phải những bất trắc, khổ đau và thất vọng Có thể nói, thế giới biểu tượng các vị thần có tính chất đa thần tự nhiên trong kinh Veda là thế giới nối dài của dương trần Nhận định về kinh Veda, Jawaharlal Nehru đã viết:
Trang 32“Những bài thánh ca Veda là một di chúc nên thơ về phản ứng tập thể của một dân tộc trước những điều kỳ diệu và nỗi kinh hoàng của cuộc sống Một dân tộc với sức sáng tạo mạnh mẽ và chất phác ở ngay buổi bình minh của nền văn minh đã có được ý thức lý giải những bí ẩn vô tận ẩn tàng trong cuộc sống” (Jawaharlal Nehru,
1954, vol 1, p 40)
Do vậy, có thể nói, kinh Veda không chỉ là bộ kinh cổ xưa với nội dung có tính tổng hợp, mà hơn thế, còn là cả một nền văn hóa chứ không phải là một cuốn sách với những chữ nghĩa văn chương; dù nặng về tính chất thần thoại tôn giáo nhẹ về triết lý, nhưng kinh Veda vẫn được coi là khởi nguyên của các trường phái triết học, tôn giáo Ân Độ cổ đại Sarvepalli Radhakrishnan
đã nhận xét về ba phần chính yếu của kinh Veda rằng:
“Trong khi thánh ca Mantra là phần sáng tạo của thi nhân thì nghi thức Brahmanas là tác phẩm của các nhà tế tự, và áo nghĩa thư Upanishad
là tư tưởng của các nhà triết học Tôn giáo thiên nhiên của Mantra, tôn giáo giới luật của Brahmanas và tôn giáo tâm linh của Upanishad, cả
ba rất phù hợp với sự phân chia trong quan niệm của Hégel về sự phát triển của tôn giáo Mặc dù sau này cả ba phần đều đi liền với nhau, chúng ta vẫn biết chắc rằng chúng đã tiến triển trong những thời kỳ kế tiếp nhau Upanishad vừa là một hình thức tiếp nối Veda lại vừa là một hình thức phản đối tôn giáo nghi thức Brahmanas” (Jawaharlal Nehru, 1954, vol 1, p 65 - 66)
Kinh Upanishad là cơ sở tiền đề quan trọng hình thành những tư tưởng triết học thời cổ đại Kinh Upanishad là những lời bình chú triết học tôn giáo
về các lễ nghi thuyết yếu và ý nghĩa triết lý sâu xa của các bài kinh cũng như các bản thần thoại của thánh kinh Vệ đà Từ đây, tư duy triết học dần thay thế cho thế giới quan thần thoại tôn giáo Những tư tưởng triết học mầm mống trong kinh Upanishad muốn khai phá con đường trí tuệ để lý giải
Trang 33những vấn đề bản thể vũ trụ và bản chất đời sống tâm linh của con người Tư tưởng triết học trong kinh Upanishad Upanishad là một trong những kinh quan trọng nhất của thánh kinh Veda Nó là những lời bình chú tôn giáo triết học về các lẽ thiết yếu và ý nghĩa triết lý sâu xa của các bài kinh thần thoại Veda Sự xuất hiện của kinh Upanishad đánh dấu bước chuyển từ tư duy
thần thoại tôn giáo sang tư duy triết học (Doãn Chính, 2010, tr 121), bởi nếu
trong kinh Veda giải thích thế giới bằng biểu tượng các vị thần tự nhiên mang tính chất cụ thể, cảm tính, thì trong Upanishad đã giải thích thế giới bằng một bản nguyên, một nguyên lý triết học có tính chất khái quát, trừu
tượng Đó là Tinh thần thế giới, là Linh hồn vũ trụ tuyệt đối tối cao
Brahman Nó là tác phẩm triết lý và tâm lý cổ xưa, đặc sắc của nhân loại Vì thế, Arthur Schopenhauer (1788 - 1860) ca ngợi:
“Những tư tưởng thâm thuý, thăng hoa độc đáo toát ra từ mỗi câu văn;
và toàn thể pho kinh đều thấm đượm một tinh thần thánh thiện, cao siêu và thành khẩn Khắp thế giới không có gì ích lợi nâng cao tâm hồn con người bằng các Upanishad Nó đã an ủi đời sống của tôi, nó sẽ là nguồn an ủi tôi khi tôi chết.” (Durant Will, 1954, p 410)
Mặc dù trong kinh Upanishad không có sự đan xen giữa triết lý và tôn giáo nhưng thông qua bộ kinh này, các nhà nghiên cứu cũng đã cố gắng đi tìm giải đáp cho những khái niệm, phạm trù liên quan đến mặt thứ nhất trong vấn đề cơ bản của triết học, đi tìm bản chất của vũ trụ Tuy nhiên các tư tưởng triết học cũng chưa giải đáp được các thắc ấy cho nên họ quay về tìm hiểu con người và tìm cách giải thoát khổ đau bằng cách chấp nhận thực tại, hạn chế mong cầu Do vậy, trong các kinh Upanishad có nhiều chỗ vô lý, mâu thuẫn, ngây thơ đôi khi cũng mông lung, nhưng cũng có nhiều chỗ ẩn dấu những tư tưởng sâu sắc trong lịch sử triết học
Thứ hai, những thành tựu về khoa học với quá trình hình thành và
phát triển tính thống nhất và đa dạng của triết học Ấn Độ cổ đại
Trang 34Ở Ấn Độ cổ đại, sự phát triển của những tiến bộ khoa học gắn liền với
sự phát triển tư tưởng triết học để giải quyết những vấn đề do đời sống xã hội đặt ra một cách gay gắt Những thành tựu khoa học không chỉ giúp con người khám phá, cải tạo tự nhiên mà còn là cơ sở hình thành nên thế giới quan triết học duy vật và những tư tưởng biện chứng tự phát Những di vật khảo cổ học và các bản văn cổ chứng tỏ người Ấn Độ cổ xưa đã đạt được những thành tựu khá phong phú và độc đáo trên tất cả các lĩnh vực như: thiên văn học, toán học, y học, kỹ thuật, văn học, nghệ thuật, âm nhạc, điêu khắc, kiến trúc Đây là những tiền đề, những dữ liệu để triết học khái quát nên thành những quan điểm có tính chất thế giới quan và nhân sinh quan khá phong phú nhưng không kém phần đặc sắc và độc đáo của người Ấn Độ
Thiên văn học, ngay từ thời Veda (thế kỷ XV đến thế kỷ VIII trước
Công nguyên), thiên văn học Ấn Độ đã bắt đầu xuất hiện Người Ấn Độ cổ
đã biết sáng tạo ra lịch pháp, phỏng đoán trái đất hình cầu và tự quay quanh trục của nó Cuối thế kỉ V trước Công nguyên, người Ấn Độ đã giải thích được hiện tượng nhật thực và nguyệt thực, xem về thời tiết, vấn đề của các tinh tú, các hiện tượng của vũ trụ Các nhà thiên văn đương thời đã biết tính lịch Trong bộ Siddhanta đã viết: “Trái đất, do trọng lực của nó, hút hết thảy mọi vật về nó, họ đã tìm ra được thuyết trọng lực, nếu không phải là luật trọng lực” (Will Durant, 1954, p 527)
Y học, nền y học Ấn Độ có từ rất sớm Ngay trong kinh Veda, người ta
đã tìm thấy nhiều tên cây làm thuốc và nhiều phương pháp trị bệnh đơn giản Ban đầu người Ấn Độ cổ còn tin vào ma thuật, bùa chú, mê tín nhưng dần dần đã tiến bộ hơn Trong kinh Atharva - Veda hay trong“khoa trường sinh”
đã ghi chép rất nhiều kinh nghiệm chữa bệnh của người Ấn Độ cổ đại Ngay
từ thời Veda, các y sĩ và các nhà giải phẫu đã tách biệt với bọn phù thủy Đặc biệt, trong kinh Rig - Veda kể tên cả ngàn thảo mộc dùng làm thuốc Điều đó chứng tỏ họ đã biết cách cải tạo tự nhiên và giúp con người giảm bớt khổ
Trang 35đau Thế kỷ V trước Công nguyên Shursada đã viết cuốn sách trình bày thuật chữa bệnh ngoại khoa, bảo trợ thai, vệ sinh hài nhi, phương pháp dưỡng sinh, tiêu độc,…Ông đã liệt kê trên một ngàn chứng bệnh và đề ra phương pháp chẩn đoán bệnh Vào thế kỷ I sau Công nguyên thuộc vương triều Kushona, thời vua Kanisha, danh y Shanraka đã có công trong thuật châm cứu, chủng đậu và chẩn đoán bệnh Đến thế kỷ II, các nhà y học Ấn Độ đã tổng kết các thành tựu y học thời bấy giờ thành bộ sách bách khoa về y học Tuy y học Ấn Độ lúc này chưa phát triển và còn vài nơi mê tín thần linh nhưng đã tiến bộ rất nhanh ở thời Veda và đến thời Phật giáo
Toán học, người Ấn Độ cổ đại đã phát minh ra chữ số thập phân, tính
được số pi, biết được những định luật cơ bản về quan hệ giữa cạnh và đường huyền của một tam giác vuông, biết giải phương trình bậc 2, 3,… Người Ấn
Độ cổ đại cũng có những cống hiến quan trọng trong lĩnh vực toán học Trong đó có những cuốn sách đề cập đến các vấn đề tính toán về số học, và một ít kiến thức về hình học, đặc biệt là hình tam giác và hình vuông, được người Ấn Độ sáng tạo ra rất sớm như cuốn Baudhayara vào thế kỷ thứ VIII trước Công nguyên, cuốn Apastamba và Katyayara ở thế kỷ V trước Công nguyên Họ cũng đã tìm ra hệ thống thập phân, trong đó phải kể đến việc sáng tao ra các con síp (chiffre), tức chữ số hay các con số… Đặc biệt những bài toán này được truyền miệng như những câu hát, câu vè trong dân gian nên rất dễ đi sâu vào đời sống người dân
Văn học và chữ viết
Thành tựu nổi bật nhất của văn học nghệ thuật của người Ấn Độ cổ là
họ đã sáng tạo ra các áng văn chương bất hủ như kinh Veda và các bộ sử thi lớn như Mahabharata, Bhagavad - gita, Ramayana, cả Luận văn kinh tế - chính trị Artha - sastra của Cautilya; tất cả đều viết bằng thể thơ đôi (sloka) hay văn vần, trong đó tư tưởng triết lý thần thoại tôn giáo của kinh Veda một
bộ kinh tối cổ, được coi là suối nguồn của văn hóa Ấn Độ và tư tưởng triết lý
Trang 36đạo đức nhân sinh sâu sắc của các bộ sử thi lớn, Ramayana, Mahabharata
là niềm tự hào của nền văn hóa Ấn Độ
Thời cổ đại ở Ấn Độ còn có tập ngụ ngôn “Năm phương pháp” chứa đựng rất nhiều tư tưởng được gặp lại trong ngụ ngôn của một số dân tộc thuộc hệ ngôn ngữ Ấn - Âu Riêng bộ sử thi Mahabharata có độ dài tới khoảng 110 000 câu thơ đôi, nghĩa là dài gấp bảy lần cả hai bộ Iliade và Odyse gộp lại “Một học giả Ấn Độ bảo rằng anh hùng ca Mahabharata là
“tác phẩm tưởng tượng vĩ đại nhất của châu Á” và ông Charles Eliot cũng ca ngợi “bộ đó là một trường ca hay hơn Iliade” (Will Durant, 1954, p 561)
Thời kỳ cuối của chế độ công xã nguyên thủy có những bức phù điêu ; sáng tạo chữ viết (thế kỷ VI,VII trước Công nguyên) – tiếng Sanskrit Trong
Sử thi, các bộ kinh đã phản ánh một nền văn hóa rực rỡ của Ấn Độ ; phản ánh những nhân vật lý tưởng, phản ánh những quan hệ, chính trị xã hội, triết
lý nhân sinh, đạo đức, đức tin, nghi lễ tôn giáo vô cùng phong phú Ở Ấn Độ, chữ viết có từ những thời rất xa xưa
Công nghệ và kỷ thuật, thế kỷ III trước Công nguyên, người Ấn Độ đã
biết luyện kim, luyện nhôm, dệt vải sợi, chế tạo thủy tinh, thuốc ngủ, thuốc
mê, hóa chất, xà phòng, … chạm khắc gốm, trang sức vàng, bạc, sừng, công nghệ dệt thổ cẩm hai mặt như nhau, chế tạo hương vật liệu, gia vị cho các món ăn, …
Nghệ thuật kiến trúc, người Ấn Độ đã để lại một phong cách kiến trúc
độc đáo, tinh tế đặc biệt là lối xây dựng chùa chiền, tháp Phật theo kiểu hình tháp (stupa) Những năm đầu công nguyên, nền văn hóa Ấn Độ đã phát triển lên một bước mới do sự giao lưu giữa Ấn Độ với Hy Lạp, La Mã và các nước khác trên thế giới
Tóm lại, những thành tựu rực rỡ của nền văn minh Ấn Độ cổ cùng với nền văn hóa độc đáo và nền khoa học phát triển trên là những tiền đề quan trọng cho quá trình hình thành và phát triển cũng như ảnh hưởng, chi phối
Trang 37đến các tư tưởng triết học đương thời làm nên tính đa dạng nhưng thống nhất trong nội dung của nền triết học Ấn Độ thời cổ đại
Kết luận chương 1
Điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt cùng với chế độ xã hội vô cùng hà khắc đã làm cho người Ấn Độ cổ muốn thoát khỏi nó nhưng lại bị nó trói buộc trong một vòng lẩn quẩn Nơi đây là điều kiện nuôi dưỡng con người nhưng cũng là nơi tác động tích cực và tiêu cực, chi phối hoàn toàn đến đời sống con người Ấn Độ cổ Điều kiện tự nhiên và xã hội không thuận lợi đã kìm hãm con người nhưng lại tạo điều kiện cho các tư tưởng triết học đầu tiên được hình thành và phát triển đan xen trong những bộ kinh sách như kinh Veda, kinh Upanishad; trong sử thi Ramayana, Mahabharata, Bhagavad – gita; trong luận văn kinh tế - chính trị Artha-sastra; trong đạo Balamôn, đạo Phật, đạo Jaina và trong các trường phái triết học chính thống, không chính thống,… Cùng với các tiền đề lý luận như tinh hoa của nền văn hóa Ấn
Độ cổ, sự phát triển của khoa học khá rực rỡ đã tạo điều kiện cho các tư tưởng, trường phái triết học Ấn Độ cổ đại nở ra như những bông hoa đa dạng phong phú nhưng lại thống nhất chung trong một điều kiện hoàn cảnh vô cùng khó khăn và khắc nghiệt Những bông hoa ấy có cùng một mục đích là tìm cách vươn lên để giải thoát cho nên những tư tưởng triết học bắt nguồn
từ những câu hỏi và tìm kiếm lời giải đáp cho hàng loạt câu hỏi liên quan đến vấn đề nhân sinh như: Con người có nguồn gốc từ đâu? Con người sống như thế nào? Con người trú ngụ ở đâu khi chết đi? Mục đích sống của cuộc đời này là gì? Tại sao con người đau khổ? Nguyên nhân vì sao con người phải khổ? Làm thế nào để con người thoát khổ? Tất cả những câu hỏi này đều bàn đến bản thể luận, thế giới quan, nhân sinh quan, nhận thức luận, và chung quy lại là cùng giải quyết một vấn đề là vấn đề cơ bản của Triết học Cho nên, triết học Ấn Độ cổ đại thống nhất trong mục đích nhưng đa dạng
Trang 38trong tư duy, phong phú trong giải pháp và sâu sắc trong hành động để tìm kiếm những cách thức thực hiện mục tiêu duy nhất là giúp con người thoát khổ và tìm được cuộc sống bình an, hạnh phúc Dựa trên điều kiện tự nhiên,
xã hội khắc nghiệt nên triết học Ấn Độ cổ đại phản ánh một xã hội đầy áp bức, bất công mặc dù rất coi trọng và đề cao tôn giáo; một xã hội rất mê triết
lý mặc dù mỗi triết gia có những tư tưởng triết học khác nhau thậm chí đối nghịch nhau và là một xã hội có những tư tưởng triết học vô cùng vĩ đại làm nền tảng cho các tư tưởng triết học phát triển
Điều kiện tự nhiên cùng với điều kiện xã hội Ấn Độ cổ đại đã hình thành đặc điểm đời sống vật chất, tinh thần, đạo đức, tư tưởng, tình cảm của người Ấn Độ cổ và các trường phái triết học Nó ngăn cản con đường phát triển của sức sản xuất của xã hội nhưng nó tạo điều kiện cho các nhà triết học tìm con đường, giải pháp sao cho có thể phát triển quan điểm tư tưởng của mình phù hợp điều kiện xã hội đương thời Các cuộc đấu tranh tư tưởng
đã làm nên tính đa dạng, phong phú trong cách thức để tìm ra giải pháp tối
ưu giúp người Ấn Độ đương thời thoát khỏi sự khắc nghiệt của tự nhiên và
sự cai nghiệt của chế độ đẳng cấp vô cùng hà khắc
Cùng với chế độ nô lệ mang tính chất gia trưởng hà khắc lại bị kìm hãm bởi chế độ công xã nông thôn, chế độ tự cung, tư cấp dựa trên sự phân công lao động giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp mang tính chất bảo thủ, trì trệ; chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội đã làm cho người Ấn Độ cổ luôn sống trong tâm trạng buồn bã, chán nản, thất vọng, mất niềm tin Họ không tìm ra lối thoát Họ không khắc phục được tự nhiên, không cải tạo được xã hội nên họ chỉ có thể chấp nhận sống trong những giáo lý tôn giáo đương thời Tất cả những điều đó đã thôi thúc các nhà triết học cổ đại phải tìm ra những tư tưởng, những giáo lý phù hợp với con người, phù hợp với đẳng cấp, phù hợp với thời đại Tóm lại, những điều kiện tự nhiên xã hội và tiền
đề lý luận này ở Ấn Độ thời kỳ cổ đại đã tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến
Trang 39đời sống, tâm tư, tình cảm của người dân trong xã hội lúc bấy giờ và đồng thời góp phần hình thành nên tính đa dạng và phong phú trong tư tưởng triết học với mục đích thống nhất là mục đích thành tựu Tuy nhiên do hạn chế về mặt nhận thức cùng với khoa học kỹ thuật chưa phát triển nên hầu hết các tư tưởng đều rơi vào lập trường duy tâm nên phải tìm đến, cầu xin các lực lượng siêu nhiên, bên ngoài cứu giúp Từ đó, vấn đề tôn giáo, tâm linh nảy sinh, tồn tại và phát triển trên mảnh đất hiện thực này và còn ảnh hưởng cho đến ngày nay
Trang 40Chương 2 NỘI DUNG - Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA TÍNH THỐNG NHẤT
VÀ ĐA DẠNG TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
Ấn Độ cổ đại có nền văn hóa tư tưởng vô cùng đa dạng và phong phú Qua đó, tư tưởng triết học Ấn Độ thời kì này cũng vô cùng đặc sắc Nó phản ánh một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, nếu xem xét triết học Ấn Độ ở mặt giá trị thì vấn đề nhân
sinh và vấn đề giải thoát là đặc điểm trung tâm của triết học Ấn Độ cổ đại Triết học Ấn Độ ra đời trên một điều kiện vô cùng khắc nghiệt Sự khắc nghiệt này làm cho tất cả mọi người khát khao tìm kiếm hạnh phúc bất kể là thường dân, vua chúa, công nông, trí thức, đẳng cấp cao, đẳng cấp thấp, chủ
nô, nô lệ, Tất cả mọi người đều có niềm say mê kỳ lạ đối với triết học Theo họ, triết học là đạo lý, là chân lý, là con đường giúp họ giải thoát Cho
dù khác nhau về nội dung, về cách thức nhưng hầu hết các tư tưởng triết học đều tập trung giải quyết một vấn đề cơ bản là vấn đề nhân sinh và giải thoát thông qua quá trình chiêm nghiệm, tự nhận thức, tranh luận, học hỏi Do đó, đối với các trường phái triết học Ấn Độ, mục đích tối cao của đời sống con người là phải vượt qua sự vô minh tìm được sự giải thoát
Thứ hai, nếu xem xét triết học Ấn Độ cổ đại về tính biện chứng thì tư
tưởng biện chứng trong triết học Ấn Độ mang tính chất duy tâm, tự phát Điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt cùng với chế độ xã hội vô cùng hà khắc đã làm cho người Ấn Độ cổ muốn thoát khỏi nó nhưng lại bị nó trói buộc trong một vòng lẩn quẩn Nơi đây là điều kiện nuôi dưỡng con người nhưng cũng
là nơi tác động tích cực và tiêu cực, chi phối hoàn toàn đến đời sống con người Ấn Độ cổ
Thứ ba, nếu xem xét ở mặt động lực thì sự đấu tranh và kế thừa là đặc
điểm xuyên suốt của triết học Ấn Độ cổ đại