LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn “Tổ chức và hoạt động của Thông tấn xã Giải phóng ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1960 - 1975”, tác giả đã nhận được rất nhiều sự giúp
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THÔNG TẤN XÃ GIẢI PHÓNG Ở MIỀN NAM TRONG KHÁNG CHIẾN
CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1960 – 1975)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
TP HỒ CHÍ MINH - 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THÔNG TẤN XÃ GIẢI
PHÓNG Ở MIỀN NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Nguyễn Thị Phương Thảo tôi cam đoan rằng luận văn “Tổ chức
và hoạt động của Thông tấn xã Giải phóng ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1960 – 1975)” là kết quả nghiên cứu của tác giả
Những kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là công trình của riêng tác giả được sự hướng dẫn của TS Đỗ Văn Biên
Những kết quả nghiên cứu của các tác giả khác và các số liệu được sử dụng trong luận văn đều có trích dẫn rõ ràng và đầy đủ
Nguyễn Thị Phương Thảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn “Tổ chức và hoạt động của Thông tấn xã Giải
phóng ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1960 - 1975)”, tác
giả đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các cá nhân, tập thể và ban ngành
Trước tiên tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Đỗ Văn Biên người đã tận tình định hướng, giúp đỡ trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài
Tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn đến tập thế quý thầy cô khoa Lịch sử, phòng Đào tạo Sau Đại học, các anh chị nhân viên thư viện cùng bạn bè đã giúp đỡ, động viên tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn
Trong quá trình thực hiện nội dung luận văn, tác giả đã có nhiều cố gắng nhưng mới bước đầu nghiên cứu khoa học do đó không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót về nội dung, hình thức Vì vậy tác giả kính mong nhận được sự nhận xét, đóng góp của quý thầy cô trong Hội đồng khoa học và bạn đọc để luận văn hoàn thiện tốt hơn
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 CPCMLT: Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
2 MTDTGP: Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam
3 TTXGP: Thông tấn xã Giải phóng
4 TTXVN: Thông tấn xã Việt Nam
5 TWC: Trung ƣơng Cục miền Nam
6 XUNB: Xứ ủy Nam bộ
7 VNDCCH: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
8 VNCH: Việt Nam Cộng hòa
9 VNTTX: Việt Nam thông tấn xã
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Hướng tiếp cận tư liệu của đề tài 7
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 8
7 Bố cục đề tài 8
PHẦN NỘI DUNG
10
Chương 1: THÔNG TẤN XÃ GIẢI PHÓNG RA ĐỜI VÀ TỔ CHỨC, NHIỆM VỤ CHỨC NĂNG CỦA CƠ QUAN THÔNG TẤN TRONG KHÁNG CHIẾN 10
1.1 Tình hình cách mạng miền Nam trước và sau phong trào Đồng Khởi 10
1.2 Khái lược về phòng Việt Nam Thông tấn xã Nam bộ 16
1.3 Thông tấn xã Giải phóng ra đời 20
1.3.1 Sứ mệnh lịch sử 20
1.3.2 Nhiệm vụ của Thông tấn xã Giải phóng 22
1.4 Sự phát triển về tổ chức cơ quan Thông tấn xã Giải phóng 27
1.4.1 Cơ cấu tổ chức 27
1.4.2 Quá trình phát triển 32
Tiểu kết chương 1 39
Chương 2: HOẠT ĐỘNG CỦA THÔNG TẤN XÃ GIẢI PHÓNG TRONG GIAI ĐOẠN TỪ 1960 – 1975
42
2.1 Hoạt động của Thông tấn xã Giải phóng giai đoạn 1960 – 1965 42
Trang 72.1.1 Bối cảnh lịch sử 42
2.1.2 Hoạt động 45
2.2 Hoạt động của Thông tấn xã Giải phóng giai đoạn 1965 - 1968 50
2.2.1 Bối cảnh lịch sử 50
2.2.2 Hoạt động 53
2.3 Hoạt động của Thông tấn xã Giải phóng giai đoạn 1968 - 1973 58
2.3.1 Bối cảnh lịch sử 58
2.3.2 Hoạt động 61
2.4 Hoạt động của Thông tấn xã Giải phóng giai đoạn 1973 - 1975 67
2.4.1 Bối cảnh lịch sử 67
2.4.2 Hoạt động 72
Tiểu kết chương 2 77
Chương 3: NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VỀ VAI TRÒ CỦA THÔNG TẤN XÃ GIẢI PHÓNG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC
79
3.1 Nhận xét về vai trò của TTXGP trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước 79
3.2 Đóng góp của TTXGP trong chiến tranh giải phóng dân tộc 84
3.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn lịch sử 88
Tiểu kết chương 3 90
KẾT LUẬN
93
TÀI LIỆU THAM KHẢO
98
PHỤ LỤC
105
Trang 8Nam Tiến (2010), Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam 1960-1977,
NXB Tổng hợp, tr.33) Trong phong trào Đồng Khởi, hệ thống kìm kẹp, quản lý của chính quyền Ngô Đình Diệm ở các vùng nông thôn bị phá vỡ từng mảng, nhiều vùng giải phóng được hình thành Căn cứ địa nối liền các huyện, các tỉnh, tạo thành thế liên hoàn, chính quyền tự quản của quần chúng nhân dân lần lượt ra đời
Trước sự chuyển thế chiến lược của cách mạng miền Nam, để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định tái lập, thành lập các cơ quan chỉ đạo chiến tranh, hoạt động trên chiến trường như: Xứ ủy Nam
Bộ (XUNB), Trung ương Cục miền Nam (TWC), Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (MTDTGP) Từ đó, các tổ chức, các cơ quan đơn vị chuyên môn trong
hệ thống cơ quan lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn này được ra đời và hoạt động, trong
đó có Thông tấn xã Giải phóng (TTXGP)
TTXGP được XUNB quyết thành lập ngày 12/10/1960 Đây là cơ quan thông tin đặc biệt quan của cách mạng miền Nam, có sứ mệnh chuyển và phát các thông tin, phát ngôn chính thức của MTDTGP TTXGP còn có nhiệm vụ đưa tin trong nước và ngoài nước về cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam
Trang 9Việc thành lập TTXGP là chỉ đạo chiến lược của Trung ương Đảng về hoạt động thông tin trên chiến trường, chuẩn bị cho sự ra đời của MTDTGP TTXGP còn là cơ quan thông tin đặc biệt quan trọng, có tính chiến lược của cách mạng miền Nam Do vậy, sau khi được thành lập dưới chịu sự chỉ đạo toàn diện của XUNB sau này là TWC Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam quản lý mọi mặt hoạt động, theo cơ cấu: Ủy viên Ban Tuyên huấn đảm nhiệm Giám đốc TTXGP
Quá trình hình thành và hoạt động trên chiến trường từ khi ra đời đế khi kết thức sứ mệnh, TTXGP đã thực hiện sáng tạo và hiệu quả chức năng và nhiệm vụ của một cơ quan chuyên môn về thông tấn vừa tham mưu, vừa tổ chức thực hiện, trở thành đơn vị chủ lực trên “trận địa” thông tin của cuộc chiến tranh nhân dân, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Sau nhiều thập kỷ kết thúc chiến tranh, kể từ ngày TTXGP hoàn thành nhiệm
vụ lịch sử, đến nay chưa công trình đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về về tổ chức và hoạt động của TTXGP trên chiến trường Nam bộ và cực Nam Trung bộ Do đó trong quá trình học tập, nghiên cứu bậc cao học tại khoa Lịch sử trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, trên cơ sở nguồn tư liệu tác giả khai thác và tiếp cận
đã quyết định chọn đề tài nghiên cứu “Tổ chức và hoạt động của Thông tấn xã
Giải phóng ỡ miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1960 – 1975)”
làm luận văn cao học
Học viên nghiên cứu đề tài với mong muốn, tiếp tục bổ sung thêm công trình nghiên cứu về tổ chức và hoạt động, chức năng, nhiệm vụ và những đóng góp của Thông tấn xã trên lĩnh vực thông tấn, báo chí trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên chiến trường miền Nam, tiếp tục làm sáng rõ thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng thời góp phần khắc học sinh động, đầy đủ hơn những thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ trên nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có lĩnh vực thông tấn, báo chí, thông tin tuyên truyền của cách mạng miền Nam
Trang 10Mục đích nghiên cứu của đề tài
Phục dựng lại quá trình hình thành, các bước phát triển của Thông tấn xã Giải phóng từ năm 1960 đến năm 1975
Trình bày bộ máy tổ chức và hoạt động của TTXGP trong chiến tranh, đưa ra một số nhận xét, đánh giá về vai trò, đóng góp của đơn vị trong kháng chiến chống
Mỹ cứu nước; bài học kinh nghiệm của công tác thông tin tuyên truyền, điện báo của cách mạng miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam
Kết quả nghiên cứu của để tài góp phần bổ sung thêm công trình nghiên cứu
về về cuộc đấu tranh trường kỳ, gian khổ của dân tộc ta trong kháng chiến chống
Mỹ cứu nước thế kỷ XX Đồng thời tri ân những con người đã ngã xuống vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước qua đó, nhằm giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ sau
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước năm 1975, có rất nhiều công trình nghiên cứu về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam do Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, các cơ quan, tổ chức, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước thực hiện và lần lượt công bố Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tiếp cập các công trình nghiên cứu về miền Nam, Nam bộ trong kháng chiến chống Mỹ có đề cập đến hoạt động thông tin tuyên truyền nói chung và hoạt động thông tấn nói riêng của
cách mạng miền Nam như: Trần Bạch Đằng (chủ biên) (2003), Chung một bóng cờ, NXB Chính trị Quốc gia; Nguyễn Thị Bình và tập thể tác giả (2001), Mặt trận Dân
tộc giải phóng, Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Paris về Việt Nam (Hồi ức), NXB Chính trị Quốc gia; Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng
sản Việt Nam (2005), Lịch sử Văn phòng Trung ương Cục miền Nam (1961-1975), NXB Chính trị Quốc gia; PGS.TS Nguyễn Quý (chủ biên) (2010), Lịch sử Xứ ủy
Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam 1954-1975, NXB Chính trị Quốc gia Các
công trình này cung cấp bức tranh tổng thể về hoạt động chỉ đạo, tổ chức cuộc
Trang 11kháng chiến của Đảng Lao động Việt Nam, Trung ương Cục, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLT) trong các giai đoạn của cuộc chiến tranh được đề cập trong các công trình quá trình ra đời, hoạt động và vai trò của Mặt trận Dân tộc Giải phóng đối với
sự nghiệp giải phóng dân tộc thống nhất đất nước Đặc biệt, có phần nội dung đề cập đến hoạt động của Thông tấn xã Giải phóng Các hoạt động thông tin của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, Chính phủ Cách mạng Lâm thời các tổ chức đoàn thể của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam trong thời kỳ kháng chiến
Các tập sách xuất bản dưới dạng hồi ức, kỷ niệm và những kinh nghiệm về những năm tháng hoạt động cách mạng, nhiều thông tin, mẩu chuyện về hoạt động, sinh hoạt và chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ tuyên huấn miền Nam các thời kỳ được
tập hợp và xuất bản như: Trần Bạch Đằng (1996), Cuộc đời và ký ức, NXB Trẻ; Câu lạc bộ truyền thống Đài phát thanh Giải phóng (1997), Đây là Đài phát thanh giải
phóng, NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh; Nhiều tác giả (2002), Làng Tuyên,
tập I, II, III, NXB Văn học; Tổng Công ty in Trần Phú (2002), Nhà in Trần Phú 55
năm phấn đấu, tự hào 1947 - 2002; Hồi kí của các nhà báo cao tuổi (2005), Một thời làm báo, NXB Văn học; Ban Liên lạc Thông tấn xã Giải phóng (2010), Hồi ức Thông tấn xã Giải phóng, NXB Thông tấn; Hải Ngọc Thái Nhân Hòa (2009), “Trên những nẻo đường - tự sự, hồi ức”, NXB Văn hóa Sài Gòn;…Các tập hồi kí này đã ghi lại
dòng hồi tưởng của cán bộ, công nhân viên các đơn vị trực thuộc Ban Tuyên huấn
Trung ương Cục và có thể xem như “những công trình sử học” qua lời kể của nhân
chứng Những bài viết ghi lại một thời chiến đấu, tham gia công tác ngôi nhà chung của Ban Tuyên huấn Trung ương Những tập công trình, phản ảnh những nét chính trong đời sống chiến đấu, sinh hoạt của cơ quan, đơn vị, cá nhân thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Cục, trong đó có Thông tấn xã Giải phóng
Đề cập đến quá trình ra đời, hoạt động của Thông tấn xã Giải phóng trong thời
kỳ kháng chiến trong công trình chuyên khảo Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền
Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1962 – 1975), Nhà xuất bản Đại học
Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2018 của Đỗ Văn Biên cung cấp nhiều
Trang 12thông tin tư liệu về tổ chức và quá trình hoạt động của Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam Đây là cơ quan được Trung ương Cục giao nhiệm vụ quản lý toàn diện các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực thông tấn, báo chí, thông tin, truyên truyền như: Thông tấn xã Giải phóng, Đài phát thanh Giải phóng, Báo Giải phóng, Điện ảnh Giải phóng…Công trình dành một phần dung lượng trình bày về Thông tấn xã Giải phóng cùng với các đơn vị chuyên môn của Ban Tuyên huấn Trung ương Cục
Nhóm công trình được Thông tấn xã Việt Nam, các cán bộ lão thành cách mạng nguyên là cán bộ Thông tấn xã Giải phóng lần lượt công bố, xuất bản đã đề trực tiếp hoạt động của Thông tấn xã Giải phóng trong thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước như:
Ban Liên lạc Thông tấn xã Giải phóng nào năm 2010 đã tập hợp các bài viết
của các cán bộ, nhân viên từng công tác trong Thông tấn cho ra đời quyển Hồi ức
Thông tấn xã Giải phóng Tác phẩm được viết dựa trên lời kể lại từ các ký ức một
thời cầm súng, cầm bút của các cán bộ, nhân viên Công trình không chỉ cung cấp
tư liệu mà còn cung cấp rất nhiều tư liệu ảnh đáng giá do các phóng viên chiến trường chụp lại
Chi nhánh Trung tâm truyền hình Thông tấn tại Tp Hồ Chí Minh (2010),
Giải phóng xã - Kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Thông tấn xã Giải phóng (12/10/1960-12/10/2010) được công bố dưới dạng ký sự tài liệu VCD Thông tấn xã
Việt Nam vào năm 2020 đã xuất bản quyển sách Thông tấn xã giải phóng anh hùng
– kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Thông tấn xã Giải phóng
Thông tấn xã Việt Nam vào năm 2020 đã xuất bản quyển sách Thông tấn xã
Giải phóng anh hùng – kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Thông tấn xã Giải phóng
Công trình viết về tổ chức Thông tấn từ kháng chiến chống Pháp cho đến khi hòa bình lập lại ở Việt Nam vào năm 1975 Công trình không chỉ cung cấp tư liệu chữ
mà còn cung cấp rất nhiều tư liệu ảnh đáng giá do các phóng viên chiến trường chụp lại, được coi là một nguồn cung cấp quý giá cho học viên trong quá trình viết luận văn
Trang 13Từ kết quả lịch sử nghiên cứu vấn đề qua việc giới thiệu các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, chúng tôi nhận thấy: nghiên cứu cuộc kháng chiến chống Mỹ, các đơn vị chuyên môn của Trung ương Cục, Ban Tuyên huấn
Trung ương Cục trong đó có Thông tấn xã Giải phóng thu hút sự quan tâm của
nhiều nhà nghiên cứu, cơ quan tổ chức với nhiều công trình đã được công bố Đây
là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng trong quá trình triển khai nội dung nghiên cứu của đề tài như: Bối cảnh lịch sử, tình hình cách mạng miền Nam, những hoạt động và kết quả chủ yếu, đặc điểm, đóng góp của cơ quan chuyên môn là công tác thông tin, tuyên truyền, báo chí trong cuộc kháng chiến chống Mỹ từ 1954 đến năm 1975 Tuy nhiên, thông qua nguồn tài liệu nhóm tác giả khai thác và tiếp cận thì cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về cơ quan Thông tấn xã Giải phóng – một cơ quan đảm đương vai trò ngôn luận chính cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam Do vậy tôi xác định những vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu đó là:
- Nghiên cứu cơ sở hình thành Thông tấn xã Giải phóng, qua đó cung cấp cứ liệuliệu cơ bản về lịch sử hình thành một cơ quan chuyên môn về thông tấn vừa tham mưu, vừa tổ chức thực hiện, trở thành đơn vị chủ lực trên “trận địa” thông tin của cách mạng miền Nam
- Làm sáng rõ bối cảnh lịch sử, những nhân tố tác động đến công tác tổ chức
và hoạt động của Thông tấn xã Giải phóng Tìm hiều về những chức năng, nhiệm vụ của Thông tấn xã Giải phóng từ khi thành lập cho đến khi kết thúc nhiệm vụ lịch sử
- Đánh giá vị trí, vai trò và tầm quan trọng của Thông tấn xã Giải phóng trong kháng chiến chống Mỹ, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hôm nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 14Đề tài nghiên cứu về quá trình hình thành, phát triển, chức năng và nhiệm vụ hoạt động của Thông tấn xã Giải phóng ở miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ từ năm 1960 đến năm 1975
4 Phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở phương pháp luận, tôi dựa vào quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh để xem xét, đánh giá các vấn đề cũng như đánh giá tư liệu; nhìn nhận các sự kiện lịch sử trong mối quan hệ biện chứng
Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, tôi sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic Ngoài ra, để làm sáng tỏ thêm những vấn đề mà luận văn đặt
ra, tôi còn sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp và so sánh, thống
kê, hệ thống các tư liệu lời kể… giúp tái hiện được hệ thống tổ chức cũng như những hoạt động của Thông tấn xã giải phóng
5 Hướng tiếp cận tư liệu của đề tài
Để hoàn thành luận văn, đề tài đã nghiên cứu, tham khảo và sử dụng các nguồn tài liệu sau:
- Thứ nhất: Các văn kiện đại hội của Đảng Lao động Việt Nam, các nghị quyết, chỉ thị, văn bản chỉ đạo của Đảng Lao động Việt Nam và Trung ương cục miền Nam
Trang 15- Thứ hai: Tài liệu lưu trữ tại trụ sở Thông tấn xã Việt Nam chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh, phòng đọc thư viện tổng hợp Thành phồ Hồ Chí Minh về Thông tấn xã Giải phóng
- Thứ ba: Tham khảo từ các luận văn, luận án tốt nghiệp, đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến lịch sử Việt Nam hiện đại, liên quan đến công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
- Thứ tư: Các sách, hồi ký tài liệu của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến đế tài cũng cung cấp thêm nhiều cái nhìn mới về Thông tấn xã giải phóng cũng như các hoạt động nhiệm cụ của tổ chức
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn nghiên cứu làm rõ một số luận điểm khoa học sau:
- Khẳng định sứ mệnh lịch sử của Thông tấn xã Giải phóng - cơ quan thông tin đặc biệt quan trọng, có tính chiến lược của cách mạng miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
- Khẳng định vai trò và những đóng góp quan trọng của Thông tấn xã Giải phóng Sự ra đời của tổ chức này là một bước ngoặt trên lĩnh vực thông tấn, báo chí mang tính chính thống khi cung cấp tin tức trong và ngoài nước
- Cung cấp thêm tài liệu nhằm bổ sung làm rõ một khía cạnh mới của kháng chiến chống Mỹ trên mặt trận thông tin tuyên truyền Phục vụ cho công tác tham khảo, nghiên cứu liên quan đến luận án và góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, ý chí ngoan cường của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cho thế hệ trẻ
7 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu luận văn chia thành ba chương
Trang 16Chương 1: THÔNG TẤN XÃ GIẢI PHÓNG RA ĐỜI VÀ TỔ CHỨC, NHIỆM VỤ CHỨC NĂNG CỦA CƠ QUAN THÔNG TẤN TRONG KHÁNG CHIẾN
Trình bày khái lược tình hình cách mạng miền Nam từ sau Hiệp định Genève cho đến trước năm 1960, Phòng Việt Nam Thông tấn xã Nam bộ, sự ra đời của Thông tấn xã Giải phóng, chức năng, nhiệm vụ và những bước phát triển về hệ thống tổ chức, bộ máy nhân sự của Thông tấn xã Giải phóng trong các giai đoạn của cuộc kháng chiến chống Mỹ
Chương 2: HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA THÔNG TẤN XÃ GIẢI PHÓNG TRONG CHIẾN TRANH 1960 – 1975
Trình bày và phân tích bối cảnh lịch sử cụ thể, từ đó trình bày hoạt động của Thông tấn xã Giải phóng qua từng giai đoạn lịch sử: giai đoạn 1960 – 1965, giai đoạn 1965 – 1968, giai đoạn 1968 – 1973, giai đoạn 1973 – 1975
Chương 3 NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VỀ VAI TRÒ CỦA THÔNG TẤN XÃ GIẢI PHÓNG TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC
Từ nội dung được trình bày, phân tích ở chương 1, chương 2, nội dung chương 3 tập trung đánh giá, nhận xét về vai trò và đóng góp của Thông tấn xã Giải phóng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng thời đúc rút những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn hoạt động của một cơ quan thông tấn trong thời kỳ kháng chiến
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 17PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: THÔNG TẤN XÃ GIẢI PHÓNG RA ĐỜI VÀ TỔ CHỨC, NHIỆM
VỤ CHỨC NĂNG CỦA CƠ QUAN THÔNG TẤN TRONG KHÁNG CHIẾN
1.1 Tình hình cách mạng miền Nam trước và sau phong trào Đồng Khởi
Sau 9 năm chiến tranh, ngày 21/7/1954 Hiệp định Genève đã được ký kết Bản tuyên bố cuối cùng của hội nghị đề ra hướng giải quyết việc thống nhất nước Việt Nam bằng cuộc Tổng tuyển cử dự kiến được tổ chức trong cả nước vào tháng 7/1956
Trái với nguyện vọng hoà bình, thống nhất của nhân dân hai miền, đế quốc
Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm dùng mọi phương cách để phá hoại Hiệp định Genève Sau khi củng cố được quyền lực, chính quyền Ngô Đình Diệm ngày càng gia tăng mức độ đàn áp, khủng bố, bắt giam những người yêu nước Họ dùng lực lượng quân đội và cảnh sát truy sát, trả thù những người tham gia kháng chiến hoặc ủng hộ kháng chiến, nhất là sau khi lực lượng cách mạng hoàn thành việc chuyển quân, tập kết ra miền Bắc Mở đầu là hoạt động đàn áp lực lượng cách mạng và quần chúng yêu chuộng hoà bình ngay sau Hiệp định Genève Trọng điểm của các cuộc bắt giam, bắn giết là những vùng giải phóng, vùng căn cứ cách mạng trong kháng chiến chống Pháp Song song đó, chính quyền Ngô Đình Diệm còn đẩy mạnh thực hiện các biện pháp về chính trị - quân sự - kinh tế - xã hội ở miền Nam, theo định hướng của đế quốc Mỹ, tạo thế chia cắt lâu dài đất nước
Chính quyền Ngô Đình Diệm gây ra các cuộc thảm sát đẫm máu ở hầu kết các tỉnh/thành miền Nam Nhiều vụ đàn áp, sát hại dẫm máu do quân đội và lực lượng cảnh sát của Ngô Đình Diệm gây ra Nặng nề nhất là các địa phương từng là căn cứ cách mạng và những nơi phong trào kháng chiến phát triển mạnh trước đây như: Cam Lộ, Hướng Điền, Duy Xuyên, Vĩnh Trinh, Chợ Được, Củ Chi, Mỏ Cày… Nhiều nơi, người dân hàng ngày phải hứng chịu không khí tang tóc, u ám, kềm kẹp
Trang 18đến “ngạt thở” mà chưa có phương cách này để có thể thoát ra Để kiểm soát nhân dân, Ngô Đình Diệm tổ chức Liên gia, chia các hộ dân thành các loại A, B, C Trong đó, A là thành phần nguy hiểm gồm: cán bộ, đảng viên tham gia kháng chiến
cũ Loại B là thân nhân những người đi tập kết, có dính díu với loại A Loại C là những người không liên quan đến hai loại trên Việc chia các hộ dân bằng cách phân loại theo thành phần nhằm để cơ quan an ninh và cảnh sát dễ dàng kiểm soát, kềm kẹp và theo dõi lẫn nhau
Từ giữa năm 1955, chính quyền Ngô Đình Diệm gia tăng các hoạt động đàn
áp, khủng bố phong trào yêu nước bằng chính sách “Tố cộng, diệt cộng” và được nâng lên thành quốc sách hàng đầu Triển khai thực hiện “quốc sách” này, chính quyền Ngô Đình Diệm huy động toàn bộ nguồn lực, dùng toàn bộ lực lượng quân
sự, an ninh, hành chính, tình báo, thông tin, tuyên truyền…để tiến hành cuộc khủng
bố, đàn áp toàn diện lực lượng cách mạng
Riêng ở Sài Gòn - Chợ Lớn, chính quyền Ngô Đình Diệm dành “42% ngân sách chung của đô thành Sài Gòn cho các cuộc vây ráp, lùng sục, bắt bớ” (Ban
Tổng kết chiến tranh Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh (2015), tr.304) Chính
quyền Sài Gòn - Chợ Lớn huy động quân đội, cảnh sát, công an, mật vụ, chỉ điểm
“lùng sục, bắt bớ, đánh đập, bắn giết, dùng mọi hình phạt dã man nhất, những cuộc tàn sát đẫm máu nhất vừa để không bỏ sót, vừa khủng bố tinh thần những
người còn lại” (Thượng tướng Trần Văn Trà (2005), Kết thúc cuộc chiến tranh 30
năm, tr.204) Chúng bắt giam, bắn giết, cô lập tất cả những người mà nghi là Việt
cộng, có tham gia kháng chiến và những người đối lập, gây hoang mang trong lực lượng cách mạng và quần chúng nhân dân nhằm tiêu diệt một cách triệt để lực lượng cách mạng trong thành phố
Cũng từ năm 1955, chính quyền Ngô Đình Diệm lần lượt ban hành các chỉ thị, đạo dụ và luật với mục tiêu duy nhất là tiêu diệt những người kháng chiến cũ và đàn áp những người đối lập, không ủng hộ chính quyền như: Chỉ thỉ số 4 ngày
Trang 1920/3/1956 với nhiều nội dung “kiểm soát nhân dân hết sức nghiệt ngã”1, Hiến Pháp Cộng hoà ngày 26/10/1956, Dụ 47, Dự luật đặt Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật Các văn bản pháp lý này là cơ sở để cho quân đội và lực lượng cảnh sát tiến hành các cuộc đàn áp, bố ráp, khủng bố, “tấn công ồ ạt và vô điều kiện vào lực lượng cách mạng” (Ban Biên soạn Lịch sử Tây Nam Bộ kháng chiến (2010), tr.90) đang hoạt động và bám trụ ở miền Nam
Hỗ trợ cho cỗ máy quân sự trong chính sách “Tố cộng, diệt cộng” là bộ máy thông tin, tuyên truyền khổng lồ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa Chúng được vận hành tối đa nhằm tuyên truyền cho chủ nghĩa quốc gia, thuyết Duy linh - Nhân Vị,… Hàng loạt các tờ báo, chủ bút, các đài phát thanh do chính quyền Ngô Đình Diệm chỉ đạo hàng ngày phát tin những nội dung vu khống những người cộng sản,
hô hào các khẩu hiệu vu khống miền Bắc xâm lược, chia cắt đất nước, xuyên tạc nội dung Hiệp định Bộ máy thông tin, tuyên truyền khổng lồ “có liên hệ với hệ thống chiến tranh tâm lý của Mỹ ở Đông Nam Á, được Mỹ cung cấp tiền bạc và phương tiện hoạt động rất hiện đại” (Ban Chấp hành Đảng bộ Cộng sản Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh (2010), tr.531) Ngoài ra, chính quyền Ngô Đình Diệm còn tổ chức hơn 100 đoàn với gần 4000 nhân viên chuyên nghiệp, hơn 1 vạn nhân viên cấp
cơ sở thực hiện hoạt động tố cộng trong dân chúng
Sau nhiều năm bị khủng bố liên tiếp, Đảng bộ miền Nam bị tổn thất nghiêm trọng Cách mạng miền Nam “bị đẩy vào bước khó khăn chưa từng thấy, trải qua một thời kỳ thoái trào nguy ngập tưởng chừng không thể gượng dậy nổi” (Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1996), tr.40) Các báo về tình hình cách mạng miền Nam của XUNB gửi ra Trung ương về những thiệt hại mà chính phủ Mỹ - Diệm gây ra đối với nhân dân miền Nam ngày một khẩn thiết hơn Trước tình thế khó khăn đó, nhân dân miền Nam chỉ có một con đường duy nhất là vùng lên dùng bạo lực cách mạng đánh đổ chính quyền Mỹ - Diệm tàn bạo Trong hoàn cảnh đó, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư XUNB đã soạn thảo “Đề cương cách mạng miền
1
Theo chỉ thị này hễ những ai không ủng hộ chính quyền Ngô Đình Diệm thì mặc nhiên bị gán là Việt cộng
Trang 20Nam” Đề cương cách mạng đã bám sát thực tiễn phong trào các tỉnh miền Tây, miền Đông Nam bộ và Sài Gòn - Chợ Lớn; đánh giá đúng âm mưu của chính quyền
Mỹ - Diệm và nguyện vọng của nhân dân; khả năng và sự phát triển tất yếu của cách mạng miền Nam Đề cương nêu rõ: “Để chống lại Mỹ - Diệm chỉ có con đường cách mạng, ngoài con đường cách mạng không còn con đường nào khác” (Hội đồng Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến (2010), tr.99) Đề cương cách mạng miền Nam như một bước chuẩn bị cơ sở lý luận và thực tiễn để Trung ương đề ra Nghị quyết 15 về cách mạng miền Nam ba năm sau đó
Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng cho các đồng chí lãnh đạo Đảng bộ Nam bộ và Khu ủy khu V, vùng Tây Nguyên dự bắt đầu
từ ngày 5/2/1959 Hội nghị quyết định thông qua Nghị quyết lịch sử về cách mạng miền Nam Nghị quyết nêu rõ “Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai chẳng những xâm chiếm miền Nam, ngăn cản sự phát triển của xã hội miền Nam mà còn ráo riết chuẩn bị chiến tranh hòng xâm chiếm cả nước ta, phá hoại toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta” Vì vậy, mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam cần giải quyết là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc xâm lược, giai cấp địa chủ phong kiến
và tư sản mại bản thống trị miền Nam với dân tộc Việt Nam, nhân dân cả nước Việt Nam; nói cách khác mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam là mâu thuẫn giữa con đường
xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc với con đường tư bản chủ nghĩa ở miền Nam Nghị quyết xác định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo
là tiến hành đồng thời “Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam” Trong tác phẩm “Phong trào Đồng Khởi (1959
– 1960) trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975) của các tác giả Bùi
Thị Thu Hà, Vũ Thị Hòa, Nguyễn Xuân Trường có nhắc đến sự đổi mới trong Nghị quyết Trung ương 15 khi xác định con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện tại của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang
Trang 21để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng nhân dân”
Nghị quyết 15 là một cột mốc quan trọng trong quá trình chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam, trực tiếp là đồng bào ở tiền tuyến lớn miền Nam Nghị quyết ra đời trên cơ sở, đường lối chiến lược cơ bản về cách mạng Việt Nam về mục tiêu và nhiệm vụ trước mắt của nhân dân miền Nam Vì vậy nó đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng tha thiết của nhân dân miền Nam muốn đứng dậy cầm vũ khí đấu tranh để tự vệ và buộc Mỹ - Diệm phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Genève để giải phóng miền Nam thống nhất đất nước
Từ giữa năm 1959, ở miền Nam đã nổ ra các cuộc nổi dậy diệt ác, phá kìm của đồng bào Bình Định, Quảng Ngãi, Phú Yên và Tây Nguyên thuộc Khu V như: Vĩnh Thạnh - Bình Định, Bác Ái - Bình Thuận, Đắc Lây - Kon Tum, tiếp đến là các
xã vùng núi Trà Bồng - Quảng Ngãi Lần đầu tiên, các cuộc nổi dậy đã có sự tham gia của các nhóm vũ trang, du kích tại chỗ triệt phá bộ máy kìm kẹp, mở đường cho quần chúng nhân dân đấu tranh chính trị giành chính quyền dưới hình thức Ủy ban Nhân dân tự quản Các cuộc nổi dậy diệt ác, phá kìm này bắt đầu tạo nên sự chuyển thế cho cách mạng miền Nam
Ở Nam bộ, từ các “lõm” căn cứ, “làng rừng” chiếu đấu, với các đội vũ trang tự
vệ của các địa phương cũng đã nổ ra nhiều cuộc nổi dậy, diệt ác, phá kềm Nhiều trận đánh vũ trang kết hợp với sự nổi dậy của quần chúng ở Xẻo Rô (Rạch Giá), Gò Quản Cung (Kiến Phong), đã tiêu diệt hàng trăm tên địch, hỗ trợ nhân dân vùng dậy giành chính quyền Tháng 10/1959, tại Tây Ninh, được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, nhân dân các huyện Châu Thành, Dương Minh Châu, Bến Cầu đã nổi dậy thắng lợi
Đầu năm 1960, xuất hiện một làn sóng đồng khởi bắt đầu từ 3 xã là Định Thủy, Bình Khánh và Phước Hiệp, sau đó nhanh chóng lan ra toàn huyện Mỏ Cày, Giồng Trôm, Thạnh Phú, Ba Tri, Châu Thành, Bình Đại (Bến Tre) Trong phong trào Đồng khởi, đơn vị vũ trang đầu tiên của Bến Tre đã được thành lập để bảo vệ thành quả cách mạng vừa giành được
Trang 22Tiếp đó, ngày 26/1/1960, chiến thắng Tua Hai - Tây Ninh đã cổ vũ khí thế cho nhân dân các địa phương Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa, và vùng ven Sài Gòn đồng loạt nổi dậy, tiêu diệt bộ máy tề điệp, thành lập chính quyền nhân dân
Từ tháng 5 đến tháng 9 năm 1960, “từng đợt, từng cao điểm, khởi nghĩa nối tiếp nhau nổ ra khắp nông thôn Nam bộ và từ Nam bộ trở ra Nam Trung bộ, Trung Trung bộ và Tây Nguyên Bão táp cách mạng nổi dậy phá vỡ chính quyền cơ sở của
chế độ thực dân mới ở miền Nam” (Hà Minh Hồng, Trần Nam Tiến (2010), Mặt
trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam 1960-1977, NXB Tổng hợp, tr.33)
Sức công phá của Đồng Khởi làm cho Cục tình báo Trung ương Mỹ phải thú nhận rằng: “Một thời kì hết sức nghiêm trọng đối với Tổng thống Ngô Đình Diệm và Việt Nam Cộng hòa hiện đã ngay trước mắt Trên một nửa toàn bộ vùng nông thôn nằm ở phía Nam và Tây Nam Sài Gòn cũng như một số vùng ở phía Bắc đã nằm dưới sự kiểm soát rất lớn của Cộng sản” (Việt Nam Thông tấn xã (1971), Tài liệu mật, Bộ Quốc phòng Mỹ về chiến tranh Việt Nam) Hệ thống kìm kẹp của chính quyền Ngô Đình Diệm ở các vùng nông thôn bị phá vỡ từng mảng; chính quyền cách mạnh được thành lập dưới hình thức Ủy ban nhân dân tự quản; vùng giải phóng được hình thành và mở rộng liên hoàn nhiều xã Căn cứ địa liên hoàn nối liền các huyện, các tỉnh thành Trong vùng giải phóng, quyền làm chủ hoàn toàn thuộc
về quần chúng lao động Chính quyền tự quản của quần chúng nhân dân đã ra đời
Chuẩn bị cho việc thành lập MTDTGP, TWC quyết định thành lập TTXGP Ngày 12/10/1960, phát bản tin đầu tiên gửi tín hiệu ra ngoài Hà Nội đây cũng là mốc thời gian đánh dấu sự ra đời của cơ quan thông tin mang tính chiến lược của cách mạng miền Nam TTXGP là cơ quan được thành lập trước MTDTGP, với mục đích thu thập tin tức và truyền tải tin thời sự về cho Ban lãnh đạo nắm nói chung cũng như công bố tin cho toàn thề đồng bào Việt Nam và thế giới biết về tình hình chiến tranh ở Việt Nam
Từ trong cao trào nổi dậy mạnh mẽ của nhân dân miền Nam, ngày 20/12/1960 tại xã Tân Lập, huyện Tân Thành, tỉnh Tây Ninh, đại biểu các giai cấp,
Trang 23đảng phái, các dân tộc, tôn giáo, các giới toàn miền Nam đã họp đại hội thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam Mặt trận là nơi đoàn kết các tầng lớp nhân dân, giai cấp, đảng phái, các dân tộc, tôn giáo, các giới toàn miền Nam không phân biệt xu hướng chính trị đứng lên đấu tranh đánh đổ ách thống trị của chính quyền Mỹ - Diệm nhằm xây dựng miền Nam hòa bình, dân chủ, trung lập, tiến tới hòa bình, thống nhất đất nước Để giúp MTDTGP hoạt động, các ban giúp việc được thành lập như: Văn phòng, Ban Quốc phòng, Ban Đối ngoại, Ban Kinh tài, Ban Nội vụ, Ban Thông tin - Văn hóa - Giáo dục Kể từ đây, các cơ quan làm nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền thực hiện song hành hai chức năng Bên cạnh vai trò là Ban chuyên môn của TWC , Ban Tuyên huấn Trung ương Cục còn đảm nhận luôn vai trò
là một đơn vị cơ quan chính quyền, với danh xưng là Ban Thông tin - Văn hóa của MTDTGP, trong đó có TTXGP
1.2 Khái lược về phòng Việt Nam Thông tấn xã Nam bộ
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (VNDCVH), các cơ quan tổ chức được hình thành trong đó có cơ quan Thông tấn Ngày 15/09/1945 những bản tin phát đi toàn thế giới nội dung văn bản
“Tuyên ngôn độc lập” lịch sử và danh sách các thành viên chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – đánh dấu sự ra đời của cơ quan thông tấn nhà nước Việt Nam đầu tiên với tên gọi Việt Nam Thông tấn xã (VNTTX)
Tháng 9/1947 phòng Truyền tin vô tuyến thuộc Sở Thông tin Nam bộ thành lập tại xã Hậu Thạnh trên kênh Dương Văn Dương – Đồng Tháp Mười Phòng có nhiệm vụ thu phát tin trong nước và thế giới cung cấp cho XUNB và Ủy ban Kháng chiến – Hành chính Nam bộ, nhiều nhất là các bản tin của VNTTX và một số tin của Đài phát thanh trong nước (Đài tiếng nói Việt Nam) và các đài quốc tế (Pháp, Tân Hoa xã, đài Bắc Kinh) Đây là đơn vị đầu tiên của Nam bộ thực hiện chức năng thông tấn, thường được gọi là Phòng VNTTX Nam bộ và là tiền thân của TTXGP sau này
Trang 24Phòng VNTTX Nam bộ do đồng chí Nguyễn Văn Hạng phụ trách, tuy ít người nhưng đơn vị vẫn hoạt động sáng tạo và tích cực suốt từ năm 1947 đến 1960 trước khi trở thành lực lượng nòng cốt để thành lập TTXGP
Ở liên khu V, khoảng đầu năm 1948, chính phủ thành lập Sở thông tin liên khu V trong đó có bộ phận làm tin và thu tin của VNTTX trung ương Ở Nam Trung
bộ, VNTTX có trụ sở tại huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định do đồng chí Võ Thế Ái phụ trách Năm 1952 VNTTX liên khu V được tổ chức với các đồng chí đấu tiên là: đồng chí Đoàn Bá Từ, Trương Xuân Thân, Hồ Vinh
Năm 1948 Ủy ban Kháng chiến – Hành chính Nam bộ do đồng chí Lê Văn Nhàn làm trưởng phòng gồm 2 bộ phận: Ban tin tức do đồng chí Tôn Thất Trân phụ trách; Ban thu tin và phát tin do đồng chí Nguyễn Văn Hạng phụ trách Đài phát tin mang tên VNW phát trên sóng 31 – 50 mét cho các đài thu cả nước Máy thu lắp theo kiểu Schmell (si-neo) dùng đầu cổ lỗ sĩ, thu tín hiệu vừa nhỏ vừa bị nhiễu Đài phát đặt giữa cánh đồng, hai ăngten máy phát dựng bằng cây tầm vông cao ngất lúc phát tin thì dựng lên phát tin xong thì hạ xuống, đài phát tin lúc 17g30 phút hàng ngày để tránh bị máy bay trinh sát địch phát hiện
Năm 1949 thực dân Pháp mở nhiều cuộc càn quét lớn bằng xe lội nước kết hợp máy bay, các cơ quan phải di chuyển từ Đồng Tháp Mười vào khu 9 Năm 1950 máy bay địch bắn phá căn cứ, một phần cơ quan bị cháy đài phát tin VNW phải chuyển về một đồn điền bên sông Bảy Háp (Cà Mau) Sau đó Sở Thông tin Nam bộ dời về Đầm Dơi Phòng truyền tin vô tuyến có mật danh là K chuyển về rừng Tân Tiến do đồng chí Nguyễn Văn Hạng phụ trách Phòng K thường xuyên di chuyển từ Tân Thành, Tân Tiến sang Tân Hòa, Tân Long, Đầu Trâu, Tân Phước Năm 1954 cơ quan chuyển lên vùng Cán Gáo Tuy di chuyển liên miên có lúc phải sáp nhập vào Đài Tiếng nói Nam bộ lúc thì tách ra nhưng các bản tin, tin phát luôn đảm bảo không bị gián đoạn Cùng thời gian này phòng K được đổi tên mới là phòng VNTTX xã Chi nhánh Nam bộ gọi tắt là phòng Thông tấn xã Nam bộ
Trang 25Sau hiệp định Genève được ký kết năm 1954 đất nước tạm thời chia cắt hai miền, chờ tổng tuyển cử Cuối năm 1954 hầu hết các máy móc, phương tiện của phòng Thông tấn xã Nam bộ được tập kết ra Bắc nên bản tin chi nhánh Nam bộ tạm ngừng Đồng chí Nguyễn Văn Hạng được lệnh ở miền Nam mang thẻ căn cước giả đổi tên thành Đỗ Văn Ba (Ba Đỗ) Đầu năm 1955 tại Sài Gòn, Ban Tuyên huấn XUNB giao cho đồng chí Đỗ Văn Ba nhiệm vụ thu bản tin VNTTX phát hàng ngày cho miền Nam để biên tập, tổng hợp ra bản tin phục vụ các đồng chí lãnh đạo, trong đó có đồng chí Lê Duẩn
Trong giai đoạn này chính quyền Ngô Đình Diệm còn bận giải quyết các vấn đề nội bộ nên chưa tập trung đánh phá cách mạng nhưng việc ngồi mang tai nghe loại lớn trùm khăn qua đầu để thu tin morse từ Hà Nội giữa ban ngày tại Sài Gòn là việc rất nguy hiểm Hai tháng sau, tổ chức bổ sung thêm đồng chí Lê Quang Nghĩa (Sáu Nghĩa
- nguyên cán bộ thông tin vô tuyến điện phân liên khu Đông Nam bộ) Hàng ngày, sau khi nhận xong bản tin VNA5 của VNTTX hai đồng chí phải dọn dẹp và cất giấu máy móc cho an toàn Việc mang bản tin viết trên giấy pơ-luya đi giao cũng rất nguy hiểm, phải thường xuyên thay đổi cách cất giấu để đưa tin đến địa điểm giao an toàn
Đầu năm 1957 chính quyền Ngô Đình Diệm bắt đầu khủng bố gắt gao, cơ quan phải ngừng thu tin, đồng chí Ba Đỗ và Sáu Nghĩa phân tán đi thực hiện các nhiệm vụ khác Tuy việc in và phát hành bản tin VNA5 của VNW ở Nam Bộ và bản tin “Tin tức miền Nam” không bị gián đoạn Các bản tin in trên giấy roneo trên khổ giấy 18x26cm dày từ 8 đến 16 trang mỗi tháng 2 kỳ nhưng cũng có thời gian không
ra đều đều kỳ Các hoạt động của VNTTX trong suốt những năm 1950 trước khi MTDTGP ra đời là các bước chuẩn bị cho việc thành lập TTXGP vào ngày 12/10/1960 bởi chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có chỉ đạo yêu cầu thành lập TTXGP
trước khi thành lập MTDTGP “Đài phát thanh Giải phóng thì bước đầu có thể
chưa cần đặt tại chiến trường nhưng Thông tấn xã Giải phóng thì phải có mặt tại từng địa bàn chiến đấu” (Đỗ Phượng (2012), Cho dòng tim chảy mãi, tr.10)
Trang 26Ở miền Nam chính quyền Mỹ - Diệm ra sức đàn áp những người yêu nước và phong trào cách mạng của các tầng lớp nhân dân Trước những diễn biến cam go, phức tạp của tình hình miền Nam và từ những yêu cầu tất yếu của các mạng trong tình hình mới, năm 1960 cách mạng miền Nam chuyển từ đấu tranh chính trị sang đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang Để khẳng định tính chính danh và tăng cường thống nhất sự lãnh đạo cách mạng trong toàn miền Nam thì việc thành lập MTDTGP là một yêu cầu cấp bách
Sau chiến thắng Tua Hai (1/1960) XUNB dời về căn cứ Dương Minh Châu Phòng thông tấn xã Nam Bộ không chỉ nhận mà còn phát tin Bộ phận kỹ thuật sử dụng máy phát điện tay quay để tạo ra nguồn điện phát sóng Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng miền Nam chuẩn bị cho việc thành lập MTDTGP, ngày 22/4/1960 XUNB ra chỉ thị số 18-TVA về việc tổ chức một bộ phận cán bộ chính trị
và cán bộ kỹ thuật để thành lập cơ quan thông tin chính thức ở miền Nam Ban tuyên huấn XUNB giao cho các đồng chí Tân Đức, Ba Đỗ thực hiện nhiệm vụ này Nhiệm vụ của cơ quan là cung cấp tin cho các lãnh đạo, liên lạc với các địa phương, tổng hợp tin tức và phát tin ra Hà Nội để kịp thời nắm bắt những thông tin về cuộc đấu tranh và tố cáo những tội ác của địch Các anh chị em trong cơ quan dùng radio thu được của địch ráp lại thành máy thu phát tin kiểu Schnell để liên lạc thu và phát tin với VNTTX Đồng thời cơ quan được bổ sung thêm các anh em từ đất mới Củ Chi, Long An, Đồng Tháp… và được cấp tốc đào tạo về văn hóa và điện báo
Sau khi tập hợp lực lượng gồm một số cán bộ điện báo cũ sau Hiệp định Genève còn ở lại và một số thanh niên nòng cốt từ các địa phương thoát ly tham gia cách mạng được đưa về, cấp trên điều một máy phát sóng 15w và một máy phát điện tay quay Ragonot của Trung Quốc do trung ương bí mật đưa theo tàu chở quân tập kết Máy bị ẩm ướt phải phơi sấy kỹ mới dám cho chạy thử Không có đồng hồ
đo điện anh em phải dùng ta kiểm tra nguồn điện Với một số hiểu biết về kỹ thuật
vô tuyến điện, các đồng chí tìm linh kiện lắp hai máy thu Morse để làm việc và thu tin VNTTX Bộ phận kỹ thuật điện báo ra đời từ đó
Trang 27Như vậy, ngay từ tháng 9/1947, Phòng truyền thông vô tuyến điện thuộc Sở thông tin Nam bộ được thành lập tại xã Hậu Thạch, trên kênh Dương Văn Dương - Đồng Tháp Mười Phòng có nhiệm vụ thu phát tin trong nước và thế giới cung cấp cho Xứ ủy và Ủy ban kháng chiến Nam bộ, nhiều nhất là các bản tin của VNTTX và một số tin của Đài phát thanh trong nước (Đài tiếng nói Việt Nam), và của quốc tế (Pháp, Tân Hoa xã, đài Bắc Kinh); thực hiện chức năng “Thông tấn xã”, thường được gọi là Phòng VNTTX Nam bộ Đây là đơn vị tiền thân của TTXGP do đồng chí Nguyễn Văn Hạng phụ trách Ban đầu số thành viên trong đơn vị này tuy ít nhưng hoạt động rất sáng tạo, tích cực suốt từ năm 1947 đến năm 1960, cho đến khi trở thành lực lượng nòng cốt cho sự ra đời của TTXGP sau này
1.3 Thông tấn xã Giải phóng ra đời
1.3.1 Sứ mệnh lịch sử
Sau chiến thắng Tua Hai (ngày 26/1/1960) tại Tây Ninh, cơ quan XUNB dời
về căn cứ Dương Minh Châu (Tây Ninh) và xúc tiến việc thành lập MTDTGP Để phục vụ cho việc tuyên bố thành lập MTDTGP và đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ mới của cách mạng, Ban tuyên huấn Xứ ủy đã giao đồng chí Đỗ Văn Ba, nguyên phụ trách chi nhánh VNTTX Nam bộ trong thời kháng chiến chống Pháp, chịu tránh nhiệm về nhân sự, phương tiện kỹ thuật… chuẩn bị cho sự ra đời của TTXGP
Sau một thời gian ngắn chuẩn bị về lực lượng và phương tiện, đúng 19g00 ngày 12/10/1960, tại khu rừng Chàng Riệc (Tây Ninh), qua chiếc máy phát sóng 15w, TTXGP đã phát đi bản tin đầu tiên của mình, đánh dấu sự ra đời và thực hiện
“sứ mệnh” thông tin vẻ vang, anh dũng trên mặt trận, duy trì mạch thông tin thông suốt, kịp thời về cuộc đấu tranh chính nghĩa của quân và dân miền Nam vì hòa bình thống nhất nước nhà đến đông đảo bạn đọc trong nước và quốc tế
Ngày 20/12/1960, MTDTGP được thành lập Mặt trận là nơi đoàn kết các tầng lớp nhân dân, giai cấp, đảng phái, các dân tộc, tôn giáo, các giới toàn miền Nam không phân biệt xu hướng chính trị đứng lên đấu tranh đánh đổ ách thống trị của chế độ Mỹ - Diệm nhằm xây dựng miền Nam hòa bình, dân chủ, trung lập, tiến
Trang 28tới hòa bình thống nhất đất nước TTXGP đã nhanh chóng chuyển toàn bộ văn kiện của MTDTGP ra VNTTX, từ đó phát ra thế giới để thông báo về sự ra đời của một
tổ chức chính trị có quyền trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam Việt Nam, để cổ vũ, động viên và tập hợp mạnh mẽ mọi tầng lớp nhân dân miền Nam yêu nước chống Mỹ và bè lũ tay sai
Bản tin tiếng Việt có tiêu đề là Giải phóng xã (GPX), phát đối ngoại với hô hiệu tiếng Anh là LPA (Libération Press Agency) phát trên sóng điện 31 mét Dưới tiêu đề có ghi “Tiếng nói chính thức của những người yêu nước miền Nam Việt Nam” Trong lời ra mắt TTXGP trịnh trọng thông báo đến toàn dân, toàn thể bạn bè
quốc tế rằng “TTXGP là cơ quan phát ngôn và Thông tấn chính thức của MTDTGP,
có nhiệm vụ phổ biến tin tức và kinh nghiệm đấu tranh phong phú của đồng bào ở khắp nơi, phản ánh uy thế ngày càng lớn của phong trào cách mạng và sự sụp đổ của tập đoàn thống trị miền Nam” (Ban Liên lạc Thông tấn xã Giải phóng (2010),
tr.23)
Bản tin của TTXGP phát ra Hà Nội đều đặn vào 18g00 hàng ngày đã trở thành nguồn thông tin không thể thiếu của nhiều cơ quan thông tin ở Việt Nam và ở nước ngoài (phần lớn thông qua VNTTX) lúc bấy giờ, cũng như đối với những người quan tâm tình hình miền Nam Việt Nam trước ngày thống nhất đất nước Sau này, ngày 12/10 hàng năm được lấy là ngày truyền thống của TTXGP và của các đơn vị kế thừa ngày nay: Cơ quan TTXVN khu vực phía Nam và Cơ quan TTXVN khu vực miền Trung - Tây Nguyên
Với tư cách là cơ quan phát ngôn chính thức của MTDTGP và sau là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLT), TTXGP đã thông tin “đúng sự thật, đúng sự lãnh đạo của Đảng”, trở thành vũ khí đấu tranh cách mạng sắc bén, mạnh mẽ, góp phần cực kỳ quan trọng làm nên những chiến công chói lọi của dân tộc ta đi tới ngày thống nhất đất nước
Trong hơn 15 năm ra đời và phát triển dưới bom đạn kẻ thù, TTXGP được coi như một cái loa, là một công cụ tuyên truyền hiệu quả của MTDTGP và giương
Trang 29cao ngọn cờ của cách mạng Việt Nam Tuy phải sơ tán trụ sở chính rất nhiều lần: Khi thì ở chiến khu Tây Ninh (năm 1960), lúc dời sang Mã Đà thuộc Chiến khu Đ (đầu năm 1961), rồi quay lại Tây Ninh (cuối năm 1961), có lúc ở giáp biên giới Campuchia và thậm chí còn ở tạm trên đất Campuchia khi Mỹ mở rộng chiến tranh Đông Dương (năm 1971) và chuyển về lại Tây Ninh sau khi ký Hiệp định Paris (năm 1973) nhưng cái loa ấy vẫn không bị hư hao mà ngày càng trở nên hữu hiệu hơn Có lắm khi địch tràn vào căn cứ, cán bộ phóng viên, nhân viên đều tham gia du kích vừa bảo vệ phương tiện làm việc song song đó luôn đảm bảo tin tức lưu thông liên tục
Ở Khu V, TTXGP Trung Trung bộ cũng phải dời địa điểm nhiều lần theo Ban tuyên huấn Khu ủy V, chuyển từ Trung Mang, huyện Hiên (ngày nay là huyện Đông Giang) đến Tắk Pỏ; Nước Là; Sông Thanh, huyện Trà My, tỉnh Quảng Nam
Từ năm 1970 đến đầu năm 1973 chuyển theo Khu ủy V về Nước Oa, huyện Trà My
Từ năm 1973 đến cuối tháng 3/1975, TTXGP Trung Trung bộ lại chuyển đến trú đóng gần Khu ủy V tại xã Phước Trà, huyện Phước Sơn (ngày nay là xã Sông Trà, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam)
Mặc dù ra đời trong hoàn cảnh có rất nhiều khó khăn về nguồn lực, phương tiện kỹ thuật nhưng TTXGP đã trụ vững và trưởng thành, không ngừng phát triển cả
về tổ chức và lực lượng trên khắp miền Nam
1.3.2 Nhiệm vụ của Thông tấn xã Giải phóng
Khi chúng ta tìm hiểu về 9 năm kháng chiến chống Pháp (từ 1945 - 1954) và
21 năm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, thì mới thấy hiếm có cuộc chiến tranh ở đất nước nào lại thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận quốc tế nói chung và báo chí nói riêng
Lực lượng báo chí cách mạng được thành lập và tác chiến ngay tại chiến trường miền Nam do TWC và Bộ Chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam trực tiếp chỉ đạo Đó là các cơ quan báo chí: Báo Giải phóng, Đài phát thanh Giải phóng, Thông tấn xã Giải phóng và Báo Quân Giải phóng, Tạp chí Văn nghệ
Trang 30Quân Giải phóng, Điện ảnh Quân Giải phóng, chương trình phát thanh Quân Giải phóng miền Nam tất cả đều được thành lập ngay trong những ngày đấu tranh đầy quyết liệt, cam go, gian khổ, hy sinh từng ngày, ở chiến trường miền Nam và dĩ nhiên những cơ quan ấy đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
Dù trải dài trên nhiều mặt trận, trên các chiến trường trong những tình cảnh gian khổ, ác liệt, song sự phối kết hợp giữa các lực lượng báo chí trên mặt trận thông tin, tạo dư luận đồng tình trong nước, quốc tế sự phối kết hợp cùng các hoạt động đấu tranh ngoại giao, quân sự đã góp phần làm nên sức mạnh tổng hợp, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đi đến thắng lợi hoàn toàn mùa Xuân năm
1975 Từ đầu năm 1969 trở đi, đến ngày 4 bên ký kết Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, lúc nào trên bàn đàm phán tại hội nghị Paris luôn có một nguồn thông tin chính thức được cập nhật hàng ngày, điều này có lợi trực tiếp cho 2 phái đoàn đàm phán của ta Đó là những chuyến thư được TWC và Khu ủy Sài Gòn - Gia Định bố trí chuyển công khai bằng máy bay từ Sân bay Tân Sơn Nhất đến thẳng thủ đô Paris của nước Pháp, nơi đang diễn ra Hội nghị Paris về chiến tranh Việt Nam
TTXGP là cơ quan ngôn luận chính thức và duy nhất phát ở chiến trường miền Nam đãm nhiệm sứ vụ cung cấp thông tin từ chiến trường cũng như đảm bào nguồn tin quốc tế Trong những năm đầu tiên nhiệm vụ bám sát tình hình chiến trường được TTXGP theo dõi sát sao, sát cánh cùng quân đội trong những trận chiến
Từ sau năm 1965, TTXGP mở ra nhiệm vụ thông tin ra phạm vi quốc tế, không chỉ cung cấp tin từ Việt Nam ra bên ngoài (sự kiện thành lập CPCMLT) mà còn cập nhật tin quốc tế đều đặn để từ đó Ban chỉ đạo kháng chiến có những phương hướng hoạch định phù hơp với bối cảnh Nhiệm vụ lớn nhất của TTXGP chính là nhiệm vụ chiến trường, trong các bản tin ghi nhận của TTCGP lượt đưa tin về chiến trường là chủ đạo, nhiệm vụ quốc tế tuy có nhưng do nhân tố thời đại ảnh hưởng nên nguồn tin còn hạn hẹp
Trong suốt quá trình tồn tại, TTXGP đã thường xuyên phát đi những thông tin chính thức trong vai trò, tư cách là cơ quan phát ngôn của MTDTGP và sau đó là CPCMLT; đồng thời khẳng định vai trò cơ quan ngôn luận chính thức, chính thống
Trang 31có nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền, phổ biến tin tức và kinh nghiệm đấu tranh rất phong phú của đồng bào ở khắp nơi, phản ánh uy thế ngày càng lớn mạnh của phong trào cách mạng và sự suy sụp của thế lực thống trị miền Nam
Những phát ngôn chính thống về quan điểm của cách mạng miền Nam về các
sự kiện, vấn đề đã thể hiện vai trò, vị trí, tầm vóc và uy tín của TTXGP Có những phát ngôn rất nổi tiếng, tạo tiếng vang lớn ở miền Nam lúc bấy giờ như tuyên bố được Thông tấn xã Giải phóng viết và phát đi “ngay trên đường hành quân” như vào chiều ngày 30/9/1965 sau khi có thông tin Mỹ – Ngụy sẽ hành quyết 5 đồng bào yêu nước ở Sài Gòn, trong đó có sinh viên Lê Hồng Tư
Bản tuyên bố mở đầu dõng dạc: “Tuyên bố của Thông tấn xã Giải phóng:
Thông tấn xã Giải phóng, cơ quan phát ngôn chính thức của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, được phép tuyên bố rằng: Bọn xâm lược Mỹ và tay sai phải đảm bảo tính mạng của anh Lê Hồng Tư và tất cả những người yêu nước bị chúng bắt giữ trái phép, ngay lập tức trả lại tự do cho họ
Nếu quả thật chúng dám cả gan xâm phạm đến tính mạng của họ – dù lén lút hay công khai, dù dưới bất cứ danh nghĩa ngụy trang nào – Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tự giành quyền áp dụng những biện pháp trừng trị thích đáng Bọn xâm lược Mỹ và tay sai phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi hậu quả
do hành động trái phép của chúng gây ra
Cần nhắc lại rằng, ngày nay bọn xâm lược Mỹ và tay sai không thể tự bắn giết bừa bãi nhân dân ta – mà không bị trừng trị” (Ban Liên lạc Thông tấn xã Giải
phóng (2010), tr.43)
Bản tuyên bố này lập tức được nhiều cơ quan thông tấn báo chí trong và ngoài nước dẫn lại Ngay sáng hôm sau, Đài tiếng nói Hoa Kỳ đã thông tin: Việt Nam Cộng hòa (VNCH) đình chỉ vụ hành quyết
Bên cạnh nguồn tin của các phân xã còn có thông báo của Ban quân sự và của lãnh đạo Trung ương Cục và các đoàn thể quần chúng của MTDTGP cung cấp Đây là các tin tức mật, TTXGP phải biên tập lại cho phù hợp để đưa ra công khai Song song với việc biên tập tin để cho Đài phát thanh Giải phóng phát hàng ngày,
Trang 32TTXGP còn được phân công dự thảo các bức điện chào mừng các tổ chức quốc tế hoặc chính phủ có quan hệ với MTDTGP
TTXGP ra đời với hệ thống tổ chức gắn liền trong ban tuyên huấn các cấp Vì thế, TTXGP cũng đảm trách và hoàn thành xuất sắc chức năng, nhiệm vụ tuyên truyền trong hệ thống tuyên huấn suốt trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ Dù địa điểm trú đóng thay đổi rất nhiều, lãnh đạo cũng như lực lượng phóng viên, nhân viên
kỹ thuật thay đổi lớn, nhưng việc tuyên truyền thì không thay đổi
Không chỉ cử phóng viên đi cơ sở để lấy tin tuyên truyền cả miền Nam mà còn đưa tin tuyên truyền về tận cơ sở theo chỉ đạo của Trung ương Cục và Ban tuyên huấn, TTXGP còn chủ động xây dựng các bản tin tuyên truyền, thu thập các văn bản chỉ đạo từ Trung ương Đảng ở Hà Nội cung cấp cho các đồng chí lãnh đạo Ban Tuyên huấn TWC và Ban Tuyên huấn Khu ủy V để tham khảo trong chỉ đạo, điều hành, định hướng tư tưởng, chính trị cho cán bộ, chiến sĩ trên các chiến trường; chú trọng và chủ động tuyên truyền đúng định hướng về các sự kiện, vấn đề lớn
Một trong những đợt tuyên truyền nổi bật, tạo được hiệu quả lớn, góp phần giúp cán bộ, chiến sĩ, người dân yêu nước ở miền Nam “biến đau thương thành hành động cách mạng”, là đợt tuyên truyền về Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người qua đời Thông tin về Bác, hình ảnh Bác, câu chuyện về cuộc đời và sự nghiệp cao cả của Bác… đã được TTXGP tuyên truyền sâu đậm, rộng rãi với nhiều tin, bài chân thực, xúc động đã làm lay động hàng triệu con tim đồng bào miền Nam
TTXGP còn phát các bài bình luận sắc sảo của tác giả Trường Sơn (bút danh của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh – Bí thư Trung ương cục), phân tích cục diện chiến trường miền Nam; tương quan lực lượng giữa ta và địch trên các chiến trường; từ thực tiễn chiến trường khẳng định rằng với chiến tranh nhân dân, bằng sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, với phương châm “nắm thắt lưng địch mà đánh”, ta có thể đánh Mỹ và thắng Mỹ
Để đảm bảo việc cung cấp thông tin liên tục của một cơ quan ngôn luận lớn, TTXGP đã luôn duy trì về số lượng, chất lượng thông tin và việc phát tin dù trong bất
kỳ hoàn cảnh nào Trên đường hành quân, khi đến giờ phát tin, các kỹ thuật viên
Trang 33dừng lại đặt máy thu phát, phát xong bản tin lại thu dọn tiếp tục hành quân Trong nhiều trận đánh, thông tin được làm và phát ngay khi tiếng súng chưa dứt
Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hệ thống Đài Vô tuyến điện của TTXGP ở chiến khu Tây Ninh và mạng lưới, tổ chức Thông tấn – báo chí khắp khu, tỉnh thành miền Nam từ Quảng Trị đến Cà Mau, với Cục Chính trị Quân Giải phóng, các sư đoàn 5, 7, 9 và các chiến dịch trọng điểm của bộ đội ta đã được hình thành và không ngừng phát triển cho đến ngày toàn thắng 30/4/1975
Từ năm 1960 đến khi hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình, TTXGP đã phát triển HÔ HIỆU CÁC ĐÀI VÔ TUYẾN ĐIỆN THÔNG TẤN XÃ GIẢI PHÓNG VÀ KHU, TỈNH THÀNH MIỀN NAM (Từ Quảng Trị đến Cà Mau)
I TẠI CƠ QUAN THÔNG TẤN XÃ GIẢI PHÓNG (R)
1 Đài LPA – Phát CQ (tiếng Việt)
2 Đài LPA – Phát tiếng Anh
3 Đài LPA – Phát tin cho Việt Nam Thông tấn xã và Bộ Tư lệnh miền (RSK)
4 Đài LPA2 – Liên lạc các đài tỉnh: GFY - Kiến Tường, GLF - Mỹ Tho, GFJ - Bến Tre, GFO - Gò Công
5 Đài LPK: Liên lạc khu 6 - GFP, khu 10 - KPX (Bảy Hiếu)
6 Đài LPF
7 Đài LPG
8 Đài mật, không nhớ rõ lô hiệu và nhiều đài khác đi theo các Sư đoàn 5, 7, 9; các chiến dịch lớn
9 02 đài thu tin Việt Nam Thông tấn xã:
- ĐKP thu tin tham khảo phục vụ cán bộ Sơ, Trung cấp (TTK)
- NBC thu tin thời sự
II Ở CÁC KHU
Trang 341 Khu miền Đông Nam bộ (T1, PK1): KIG
2 Khu vực Nam Trung bộ (T6, T10 – khu 6, khu 10): GFP và KPX
3 Khu Nam Trung bộ (khu 8): GFM
4 Khu Tây Nam bộ (khu 9): POF
5 PK2 + PK3 Nam Bắc Long An nhập lại: VNĐ
6 Khu Sài Gòn – Gia Định: VNC hoặc VNF
4 Đài GFO: Gò Công
5 Đài GFQ: Bà Rịa – Long Khánh
6 Đài CVF: Rạch Giá – Kiên Giang
7 Đài GPC: Tây Ninh
Trang 35Tại Tổng xã, TTXGP có các bộ phận: Nghiệp vụ tin (B7), ảnh (B22), kỹ thuật điện báo (B8), đào tạo (B23) Ngoài ra còn có bộ phận chuyên trách theo dõi, tổng hợp nguồn tin của các hãng thông tấn trên thế giới như AP (Mỹ), Reuters (Anh), AFP (Pháp), Kyodo (Nhật)… để làm tin tham khảo, làm báo cáo nội bộ cho lãnh đạo…
Trong từng bộ phận cũng chia thành nhiều đơn vị chuyên sâu như B7 gồm có B7/1 là Ban giám đốc và bộ phận nghiên cứu tổng hợp, B7/2 là văn phòng và tài vụ, B7/3 là thông tin và tư liệu (Trong B7/3 lại xây dựng và mở rộng thêm nhiều đơn vị chuyên sâu như phòng nhiếp ảnh thành lập năm 1965 – thường gọi là Nhiếp ảnh Giải phóng, năm 1966 thành lập các phòng tin thế giới, tin trong nước, tin đối ngoại; năm 1973 thành lập các phòng: tham khảo thế giới, tin quân sự, tin chính trị, tin binh vận, tin đô thị…) Bộ phận kỹ thuật điện báo (B8) gồm B8/1 là kỹ thuật và B8/2 là báo vụ Ngoài ra ở Tổng xã của TTXGP còn có bộ phận điện đàm đặc biệt phục vụ riêng Ban tuyên huấn và Thường vụ TWC
Ngoài Tổng xã tại TWC, TTXGP còn xây dựng các phân xã (gọi là T) ở khắp miền Nam, trong đó lực lượng đông và hoạt động mạnh nhất là ở khu vực Đông Nam bộ, khu Sài Gòn – Gia Định, Tây Nam bộ, Trung Trung bộ… Hệ thống phân
xã này chịu sự quản lý trực tiếp về nhân sự, sinh hoạt đảng – đoàn của ban tuyên
Trung bộ ra đời cuối năm 1960 Ngoài đáp ứng yêu cầu truyền tải tin tức phục vụ lãnh đạo cách mạng ở các tỉnh Liên khu V, đài thường xuyên làm nhiệm vụ truyền
về Tổng xã tin, bài của TTXGP về tình hình chiến trường ở Khu V
Các phân xã được bố trí từ 1– 2 báo vụ là lực lượng trực tiếp truyền tin, ảnh
từ cơ sở, nhất là thông tin nóng từ các chiến trường miền Nam và tin nóng từ trung tâm đô thị Sài Gòn cho Tổng xã phát trên các bản tin hàng ngày của TTXGP và cung cấp trực tiếp cho VNTTX ở Hà Nội cũng như Đài phát thanh Giải phóng…
Cùng đó, TTXGP cũng có bộ phận thông tấn thuộc Cục chính trị Quân giải phóng miền Ở cả Nam bộ và Trung bộ, Thông tấn xã còn có hệ thống các đài Minh
Trang 36ngữ phát hàng ngày nhiều thông tin phục vụ tốt cho công tác thông tin, tuyên truyền
và lãnh đạo
Lãnh đạo TTXGP đầu tiên là nhà báo Tân Đức, Ủy viên Ban tuyên huấn Trung ương cục (đồng chí Nguyễn Văn Linh) phụ trách TTXGP từ năm 1960 đến năm 1965 Tiếp theo là đồng chí Võ Nhân Lý, Phó tổng biên tập Việt Nam Thông tấn xã (VNTTX) được cử vào Nam nhận nhiệm vụ Giám đốc TTXGP từ năm 1965 đến năm 1973 Đồng chí Trần Thanh Xuân, Phó Tổng giám đốc VNTTX tăng cường vào Nam năm 1973 và kiêm nhiệm Giám đốc TTXGP từ năm 1973 đến khi sáp nhập TTXGP với VNTTX thành Thông tấn xã Việt Nam năm 1976 Nói chung thì trong 15 năm lãnh đạo trực tiếp của TTXGP lần lượt là đồng chí Nguyễn Văn Linh, Võ Nhân Lý và Trần Thanh Xuân
Ở Khu V, đồng chí Võ Thế Ái là người đầu tiên phụ trách TTXGP Trung Trung bộ (đến năm 1971) Để mở rộng địa bàn hoạt động của TTXGP ở Nam Trung
bộ và Tây Nguyên, ngày 30/4/1968, đồng chí Vũ Đảo (trưởng đoàn) và 7 phóng viên, kỹ thuật viên được VNTTX tăng cường cho TTXGP vào công tác tại liên tỉnh Phú Yên – Khánh Hòa Qua nhiều lần bổ sung nhân lực, vật lực, đến đầu năm 1973, khi được tăng cường thiết bị kỹ thuật mới từ miền Bắc vào, TTXGP ở khu vực miền Trung có số lượng phóng viên, kỹ thuật viên nhiều và năng lực tác nghiệp tốt gần bằng với khu vực Tổng xã tại miền Nam
Số lượng phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên… của TTXGP biến động mạnh do bị hi sinh và cũng được tăng cường nhiều Lực lượng ban đầu chủ yếu là cán bộ tại chỗ của các đơn vị thuộc XUNK cũ và tiếp đó là của TWC miền Nam Từ năm 1965 trở đi thì nhân lực TTXGP tăng nhanh cả về thông tin cũng như về kỹ thuật nhờ các nguồn: tuyển từ ban tuyên huấn các khu, tỉnh – thành, mở lớp đào tạo
và bồi dưỡng tại chỗ và đặc biệt là nguồn tăng viện từ VNTTX ở miền Bắc đưa vào trong các năm 1965, 1966 và năm 1973
Với khẩu hiệu “Làn sóng điện không bao giờ tắt” từ lúc ra đời chỉ có một số máy phát 15w, TTXGP không ngừng nỗ lực vượt khó, cải tiến phương tiện kỹ thuật
Trang 37tại chỗ và tiếp nhận các phương tiện kỹ thuật mới được tăng cường, hỗ trợ từ nhiều nguồn khác nhau Nhờ vậy mà TTXGP nhanh chóng trở thành cơ quan thông tấn báo chí có phương tiện kỹ thuật tốt và có tính bảo mật cao nhất trong khối thông tin báo chí cách mạng ở miền Nam lúc bấy giờ
Tính tới năm 1965, TTXGP đã chủ động hoàn toàn kỹ thuật làm ảnh trong vùng kháng chiến Năm 1966, hệ thống tín hiệu điện đàm chuyển phát tin, ảnh và nhận tin, ảnh báo chí đã phục vụ tốt công tác thông tin trong toàn miền Nam cũng như nhận – chuyển cho Hà Nội
Đặc biệt năm 1973, TTXGP đã nhận các bộ thiết bị teletype, telephoto hiện đại nhất lúc bấy giờ do Cộng hòa Dân chủ Đức tặng cùng với một đội ngũ kỹ sư, nhân viên kỹ thuật chuyên cơ điện tử sử dụng thành thạo các thiết bị này Nhờ đó, TTXGP đã thu – phát được tin, ảnh nhanh nhất, chất lượng cao nhất trong thông tin báo chí
Trang 38Hình 1: Sơ đồ tổ chức Thông tấn xã Giải phóng
- Đài phát CQ (tiếng Anh)
- Đài phát tin cho CNTTX, đài PTGP
và Bộ Tƣ lệnh miền
- Đài thu VNTTX
Trang 391.4.2 Quá trình phát triển
1.4.2.1 Phòng kỹ thuật – điện báo
Cuối năm 1954 hầu hết cán bộ phòng VNTTX chi nhánh Nam bộ tập kết ra miền Bắc, bản tin Việt Nam Thông tấn tạm ngừng Đầu năm 1955, tại Sài Gòn Ban Tuyên huấn XUNB giao cho đồng chí Nguyễn Văn Hạng và đồng chí Lê Quang Nghĩa nhiệm vụ thu bản tin VNTTX phát hàng ngày cho miền Nam để ra bản tin phục vụ lãnh đạo phát đi các nơi
Năm 1960, tình hình cách mạng miền Nam chuyển sang bước ngoặt Theo yêu cầu công tác thông tin tuyên truyền của Đảng, TTXGP được thành lập và đồng chí Đỗ Văn Ba được giao nhiệm vụ xây dựng bộ phận điện báo và phương tiện kỹ thuật thu phát tin Sau một thời gian bộ phận kỹ thật điện báo ra đời gồm một số cán
bộ điện báo cũ sau Hiệp định Genève còn lại và một số thanh niên nòng cốt từ các địa phương thoát ly tham gia cách mạng được đưa về Cấp trên điều một máy phát sóng 15w và một máy phát điện tay quay (raganot) của Trung Quốc do Trung ương
bí mật đưa vào theo tàu chở quân tập kết Với một số hiểu biết ít ỏi về kỹ thuật vô tuyến điện, các đồng chí điện báo tìm vật liệu linh kiện lắp 2 máy thu morse để làm việc và thu tin VNTTX từ Hà Nội
Ngày 12/10/1960, lúc 19g00 máy phát sóng 15w phát bản tin đầu tiên của Thông tấn xã Giải phóng dưới hô hiệu LPA (Libération Press Agency) được phát chuyển ra VNTTX Hà Nội nhận được tín hiệu tốt Từ Hà Nội, bản tin phát lại bằng máy công suất lớn cho toàn quốc và ra thế giới Ngày 12/10/1960, được chính thức công nhận là ngày thành lập Thông tấn xã Giải phóng (TTXGP)
Khi cơ quan Xứ ủy chuyển căn cứ về vùng Mã Đà, bộ phận kỹ thuật – điện báo đi theo để phục vụ đóng trên đồi cách Ban Tuyên huấn hơn một giờ đường dốc
Về nhân sự lúc ấy chỉ có ba cán bộ cũ từ thời kháng chiến chống Pháp (đồng chí Đỗ Văn Ba, Đặng Công Chính ( hay Chín Chiêu), Lê Quang Nghĩa) cùng một số đồng chí khác từ Campuchia hoặc từ các tỉnh trở về (đồng chí Võ Đức Thành, Tạ Công Thắng, Đoàn Văn Thiều, Phùng Văn Dựng, Võ Văn Khuê, Trần Văn Phia, Trần
Trang 40Văn Ẩn) Phần lớn anh em trình độ văn hóa thấp vừa phải học bổ túc văn hóa vừa học chuyên môn điện báo “trong điều kiện thiếu thốn mọi thứ: giấy viết, khi viết hết đem xuống suối ngâm cho trôi hết mực đem ra nắng phơi khô để viết lại nhiều lần, không có ma-nip học morse, anh em nhìn chiếc ma-nip làm việc đẽo bằng cây cho giống, dùng dây cao su thay lò xo thép đàn hồi, đóng 2 đầu đinh để gõ nghe lạch cạch của tín hiệu Sáu tháng sau, anh em bắt đầu thực tập bằng cách nghe tiếng dội của ragônô khi quay máy phát tin và nghe kèm khi làm việc dần dần đã nhanh chóng trở thành điện báo viên chính thức, sau là cán bộ chuyên môn cốt cán của Thông tấn xã Giải phóng (Ban Liên lạc Thông tấn xã Giải phóng (2010), tr.47)
từ linh kiện chiến lợi phẩm của đơn vị bạn anh em tự lắp một máy phát sóng 15w, 2 máy thu Schnell dựng thêm một đài liên lạc 2 chiều thu tin các địa phương đã móc liên lạc được và lắp thêm 1 hệ thu tin VNTTX Năm 1963 nguồn nhân lực được bổ sung thêm các nhân viên Lê Văn Trinh, Lâm Văn Đức, Trần Văn Minh, Nguyễn Văn Quang… Về cán bộ chuyên môn cũng được Ban Thông tin liên lạc TWC tăng cường thêm như đồng chí Phạm Văn Khoa, Lê Vũ Hoàng, Nguyễn Tri Bửu, Nguyễn Văn Hưởng… đồng thời cấp cho 1 bộ máy thu phát 15w và 1 máy thu để dựng thêm 4 đài Anh em điện báo phát huy kiến thức vừa học được cùng tham gia
tự lắp 2 bộ máy thu phát nhỏ chạy pin gọn nhẹ cung cấp cho 2 mũi đi công tác với các phóng viên tin ảnh theo các đơn vị chủ lực đi các chiện dịch
Về nguồn điện, trong năm 1962 - 1963 do máy Honda 600w từ Mã Đà mang
về không đủ công suất cho công tác, được cấp thêm 1 máy điện 3,5 KVA nhưng không có mô tơ kéo, anh em kỹ thật viên xin được một chiếc xe hơi Citroen 2 mã lực cũ, hư hỏng kéo về tháo lấy máy, sườn giá lắp được tự chế từ sắt của các cây hư
Xe kéo máy điện chạy được nhưng do máy cũ thường hay hư hỏng lại do thiếu phụ tùng thay thế nên có lúc tình trạng nguồn điện rất căng thẳng Các kỹ thuật viên đã tích cực khắc phục khó khăn phát huy sáng kiến, làm việc ngày đêm không nghỉ để
2 Trảng này thời kháng chiến chống Pháp, đoàn cố vấn quân sự của ta giúp quân kháng chiến chống Campuchia (Issarak) đóng ở đây nên sau đó đổi thành tràng Cố Vấn