TÓM TẮT Sử dụng nguồn nước ngọt trong trồng trọt và chăn nuôi để phát triển sinh kế nông nghiệp là rất phổ biến đối với cư dân vùng ĐBSCL nói chung và Bến Tre nói riêng, đó là kết quả lâ
Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực thích ứng sinh kế của các hộ nông dân trong môi trường có đập
- Nhận diện những biến đổi môi trường ảnh hưởng đến sinh kế khi sống trong môi trường có đập;
- Đánh giá năng lực thích ứng sinh kế của các nông hộ theo sự biến đổi môi trường và các phương án vận hành của cống đập Ba Lai;
- Đề xuất định hướng nâng cao năng lực thích ứng sinh kế cho các nhóm nông hộ phù hợp với môi trường có đập.
Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của đề tài là:
Nội dung 1: Các biến đổi môi trường tại khu vực nghiên cứu từ khi có đập;
Nội dung 2: Nhận thức của nông hộ đối với biến đổi môi trường khi sống trong môi trường có đập;
Nội dung 3: Nhận diện 05 nguồn vốn sinh kế của nông hộ;
Nội dung 4: Đánh giá năng lực thích ứng sinh kế của nông hộ;
Nội dung 5: Đề xuất định hướng nâng cao năng lực thích ứng sinh kế của nông hộ liên quan đến các nguồn vốn sinh kế.
Khái quát về khu vực nghiên cứu
Biến đổi môi trường tự nhiên
Bến Tre, tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích gần 2.360 km², được hình thành từ các cù lao An Hoá, Bảo, Minh nhờ phù sa của bốn nhánh sông Cửu Long: sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên Tỉnh có tọa độ cực bắc 9°48' Bắc, cực nam 10°20' Bắc, cực đông 106°48' Đông và cực tây 105°57' Đông Theo Nghị quyết 856/NQ-BTVQH14 ngày 10 tháng 1 năm 2020, Bến Tre có 09 đơn vị hành chính, bao gồm 01 thành phố Bến Tre và 08 huyện: Châu Thành, Bình Đại, Giồng Trôm, Chợ Lách, Thạnh Phú, Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, Ba Tri, với tổng cộng 157 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 142 xã, 8 phường và 7 thị trấn.
Biến đổi khí hậu tại tỉnh Bến Tre đang gây ra những tác động nghiêm trọng đến con người và các hoạt động kinh tế - xã hội, đặc biệt là sự gia tăng nhiệt độ, lượng mưa, mực nước biển dâng và xâm nhập mặn Mặc dù bão và áp thấp nhiệt đới không ảnh hưởng trực tiếp, nhưng tình trạng nắng nóng và khô hạn ngày càng bất thường, kết hợp với nước biển dâng, đã dẫn đến xâm nhập mặn sâu vào nội đồng, ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của người dân.
Theo báo cáo của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre, hiện tượng xâm nhập mặn chủ yếu xảy ra vào mùa khô từ tháng 12 đến tháng 5, khi dòng chảy sông Cửu Long suy yếu Nước mặn thường xuất hiện nhiều ở các cửa sông như cửa Đại, Hàm Luông, Cổ Chiên và giảm dần khi vào sâu nội địa, đặc biệt trong tháng 3 và 4 Tình trạng này gây khó khăn cho sự phát triển của cây trồng, đặc biệt là lúa trong vụ Đông Xuân, nhưng lại tạo điều kiện thuận lợi cho nuôi thủy sản nước lợ Hậu quả nghiêm trọng của xâm nhập mặn đã làm suy thoái tài nguyên đất, với 7,38% diện tích tự nhiên bị nhiễm mặn thường xuyên và 13% bị nhiễm mặn nhiều Đất đai có thể hồi phục nhờ mưa, nhưng việc ngăn chặn suy thoái đất ở các vùng bị nhiễm mặn là vấn đề cấp bách cần giải quyết để bảo vệ nguồn tài nguyên đất cho sản xuất nông nghiệp.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến xu thế xâm nhập mặn tại tỉnh Bến Tre:
Tỉnh Bến Tre có địa hình dạng hình quạt nan, chủ yếu bằng phẳng và có xu hướng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, nghiêng ra biển Địa hình nơi đây được chia thành ba dạng cơ bản.
Vùng địa hình thấp dưới 1m có nguy cơ ngập nước khi triều lên, bao gồm đất ruộng ở lòng chảo xa sông, bãi triều ven sông, bãi bồi ven biển và khu vực rừng ngập mặn, chiếm 6,7% tổng diện tích tỉnh.
Vùng địa hình trung bình có độ cao từ 1 - 2m là khu vực đất ngập trung bình hoặc ít ngập do triều, thường bị ảnh hưởng bởi triều cường ở những vùng đất thấp ven sông trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 12, chiếm khoảng 87,5% diện tích toàn tỉnh.
+ Vùng có địa hình cao có cao độ từ 2 – 3,5m, có nơi cao trên 5 m, chiếm 5,8% diện tích toàn tỉnh
Chất lượng nước ở các thủy vực mặn, lợ và ngọt biến đổi mạnh mẽ theo thời gian và không gian do sự tương tác giữa sông và biển, với ranh giới phân vùng thay đổi theo mùa và chế độ thủy văn.
Do địa hình thấp và nhiều sông, kênh rạch, mùa khô tại khu vực này thường bị nhiễm mặn nghiêm trọng Gần đây, biến đổi khí hậu toàn cầu và hoạt động kiểm soát lũ ở thượng nguồn đã làm giảm lưu lượng nước về hạ nguồn, dẫn đến ranh giới mặn xâm nhập sâu hơn vào đất liền Cụ thể, ranh giới mặn 4‰ vào cuối mùa khô đã xâm nhập khoảng 50km, vượt qua thị xã Bến Tre, chiếm khoảng 80% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Thời gian xâm nhập mặn kéo dài từ 40 đến 100 ngày trong năm.
Tỉnh Bến Tre có nhiệt độ và số giờ nắng trung bình cao, kết hợp với lượng mưa không nhiều, cùng với gió chướng, đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của nước mặn vào đất liền.
Tác động của điều kiện khí hậu đến sự mặn hóa đất ở tỉnh Bến Tre chủ yếu là do tình trạng bốc thoát hơi nước cao, đặc biệt ở đất cát giồng với hệ số thấm lớn Địa hình cao hứng gió khiến nước bốc hơi nhanh chóng Trong mùa khô, đất phèn và đất mặn mất cân bằng nước, dẫn đến oxy hóa tầng phèn và sự di chuyển muối từ tầng sâu lên bề mặt Ngoài ra, gió chướng cũng góp phần làm nước biển dâng cao, đẩy triều biển vào sâu trong nội đồng.
* Nhân tố thủy văn: tỉnh Bến Tre có hệ thống sông, kênh, rạch chằng chịt
Bến Tre có 45 kênh rạch chính với tổng chiều dài lên đến 383 km, cùng với 4 nhánh sông quan trọng thuộc hệ thống sông Cửu Long.
Tỉnh Bến Tre có 4 con sông chính là sông Mỹ Tho, Ba Lai, Hàm Luông và Cổ Chiên, cùng với một mạng lưới sông, rạch, kênh đào dày đặc Theo thống kê, cứ khoảng 1 đến 2 km lại có một con rạch hay kênh Mật độ cao của hệ thống sông rạch gây khó khăn trong việc kiểm soát xâm nhập mặn nếu không nắm rõ quy luật dòng chảy và không quản lý nước mặt theo các hệ thống lưu vực tự nhiên.
Các sông Mỹ Tho, Ba Lai, Cổ Chiên và Hàm Luông chảy từ nội địa ra biển Đông, tạo thành các tuyến đường chính dẫn nước mặn vào tỉnh Bến Tre trong mùa kiệt (tháng 4-5) Mạng lưới sông rạch nhỏ như sông Bến Tre, Rạch Vàm Thơm, Rạch Mỏ Cày và Rạch Băng Cung cũng góp phần quan trọng trong việc xâm nhập mặn vào đất liền, làm mặn hóa các lớp thủy cấp trong mùa khô với mức độ xâm nhập không đồng đều giữa các sông trong khu vực.
Biến đổi môi trường kinh tế - xã hội
Trong những năm qua, tỉnh Bến Tre đã đầu tư xây dựng nhiều công trình thủy lợi quan trọng, bao gồm dự án Hệ thống thủy lợi Bắc - Nam Bến Tre, cống đập Ba Lai, hồ chứa nước Kênh Lấp tại huyện Ba Tri, cùng với nhiều tuyến đê sông và đê bao cục bộ Những công trình này đã phát huy hiệu quả trong việc ngăn mặn và trữ ngọt, góp phần cải thiện tình hình thủy lợi trên địa bàn tỉnh.
Theo báo cáo từ Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Bến Tre, UBND tỉnh đã phân cấp quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi cho công ty này nhằm đảm bảo cấp và thoát nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và dân sinh Công ty quản lý 1.607 cống, 01 trạm bơm với lưu lượng 4.000 m³/h, 1.592 tuyến kênh với tổng chiều dài 2.575 km và 141 tuyến bờ bao dài 433,3 km Năm 2020, UBND tỉnh phê duyệt việc đặt hàng cung cấp sản phẩm dịch vụ công ích thủy lợi cho diện tích 85.300 ha.
Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Bến Tre chịu trách nhiệm quản lý, khai thác và bảo vệ hệ thống công trình thủy lợi, cống, đê bao trên địa bàn tỉnh.
Hàng năm, Công ty lập kế hoạch vận hành công trình dựa trên sự thống nhất ý kiến của các địa phương Lịch vận hành cống được điều chỉnh linh hoạt theo tình hình diễn biến mặn thực tế tại các khu vực Trong số các cống đập ngăn mặn trên địa bàn tỉnh, cống đập Ba Lai là quan trọng nhất, đóng vai trò then chốt trong việc ngăn chặn xâm nhập mặn vào nội địa.
Vào tháng 9/2002, sau khi cống đập Ba Lai và một số cống nhỏ được đưa vào sử dụng, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi trong vùng dự án đã có sự cải thiện rõ rệt, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân Vùng “lòng hồ - sông” Ba Lai với 90 triệu m³ nước ngọt trở thành nguồn tài nguyên nước lớn, cung cấp cho các nhà máy lọc nước ở An Hóa, Hữu Định, phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân tại TP Bến Tre và khu vực lân cận Trước năm 2002, đất trong vùng dự án thường xuyên bị nhiễm mặn, nhưng sau khi cống đập Ba Lai đi vào hoạt động, diện tích ngọt hóa đã tăng lên, dẫn đến việc mở rộng diện tích đất sử dụng cho sản xuất, phục vụ đời sống người dân (Viện Kỹ thuật Biển, 2011).
Năng suất lúa và các loại cây trồng khác đã tăng lên, góp phần nâng cao hệ số sử dụng đất và phát triển nhiều mô hình sản xuất mới với hiệu quả cao.
Việc ngọt hóa hàng chục nghìn ha đã giúp giảm xâm nhập mặn cho nhiều khu vực xung quanh (Viện Kỹ thuật Biển, 2011) Sự gia tăng diện tích và sản lượng dừa đã tạo ra nhiều ngành nghề mới, mang lại việc làm ổn định cho hàng nghìn người dân Chính quyền tỉnh đã tổ chức các lớp dạy nghề nhằm hỗ trợ người lao động, đặc biệt là lao động nghèo, với các chính sách miễn giảm học phí và chi phí giới thiệu việc làm Những cơ hội việc làm này bao gồm làm việc trong các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu và chế biến sản phẩm từ dừa, ca cao để xuất khẩu ra thị trường quốc tế.
Việc vận hành hệ thống cống đập Bắc Bến Tre đã gây ra tác động tiêu cực do chưa được xây dựng đồng bộ và hoàn chỉnh Kể từ cuối năm 2005, sau ba năm vận hành, cống đập Ba Lai đã xuất hiện dấu hiệu bất ổn về môi trường tại một số khu vực thuộc dự án, và tình hình ngày càng diễn biến phức tạp theo chiều hướng xấu (Bộ Khoa học và Công Nghệ, 2016).
* Sạt lở mạnh bờ sông An Hóa
Trước đây, bờ sông An Hóa chỉ bị sạt lở cục bộ với tốc độ khoảng 0,5 - 1m/năm, chủ yếu vào mùa lũ, đặc biệt trong các năm lũ lớn như năm 2000 Tuy nhiên, từ khi cống đập Ba Lai được đóng lại, tình trạng sạt lở đã gia tăng mạnh mẽ, đặc biệt từ năm 2005 đến nay, với sạt lở diễn ra thường xuyên và trên diện rộng, kéo dài gần 7 km dọc theo hai bên bờ sông Tại ngã tư sông An Hóa - Ba Lai, lòng sông đã mở rộng thêm từ 30 - 40m, và ở một số đoạn, chiều rộng còn tăng từ 60 - 80m (Bộ Khoa học và Công Nghệ, 2016).
Sau khi cống đập Ba Lai được đóng lại để ngăn mặn và trữ ngọt, chất lượng nước trong vùng “lòng hồ - sông” không có sự thay đổi đáng kể trong những năm đầu Tuy nhiên, từ năm 2005 - 2006, nguồn nước bắt đầu có dấu hiệu ô nhiễm, đặc biệt là ở khu vực nội đồng, thị xã và thị trấn vào mùa khô Nguyên nhân chính là do cống đập Ba Lai bị đóng lại trong mùa khô, dẫn đến tình trạng nước không lưu thông Ngược lại, vào mùa mưa, lượng nước mưa và nước nguồn dồi dào, cùng với việc mở cống đập thường xuyên hơn, giúp môi trường nước ít bị ô nhiễm hơn.
* Xâm nhập mặn khu vực thành phố Bến Tre và vùng phụ cận
Sau khi cống đập Ba Lai đi vào hoạt động, nước mặn vẫn tiếp tục xâm nhập vào các sông ở Bến Tre, đặc biệt là trong mùa khô Nước mặn từ biển Đông chảy vào sông Mỹ Tho và sông Hàm Luông, sau đó lan ra sông Bến Tre và sông An Hoá, gây ô nhiễm nguồn nước mặt ở khu vực thượng nguồn cống đập Ba Lai Độ mặn của nước biển Đông tại các cửa sông có sự biến động lớn theo tháng và năm, với khoảng dao động từ 29,0 - 32,7 ‰ Ranh nước mặn 4‰ đã xâm nhập vào các sông chính lên tới 50 km, trong khi ranh mặn 1‰ cũng đã xâm nhập sâu hơn.
70 km trên hầu hết các sông, có khi lên đến Chợ Lách (Ủy ban nhân dân tỉnh Bến, 2016)
* Bồi lắng sông Ba Lai
Từ năm 2002, khi cống đập được đóng lại, sông Ba Lai đã không còn dòng chảy tự nhiên, dẫn đến việc chia sông thành hai vùng nước khác nhau: vùng thượng lưu, gọi là vùng “lòng hồ - sông”, dự kiến sẽ được ngọt hóa, và vùng hạ lưu từ cống đập ra biển, là vùng nước mặn.
Sau khi cống đập Ba Lai đi vào hoạt động, khu vực “lòng hồ - sông” và cửa sông Ba Lai đã bắt đầu quá trình bồi lắng Đặc biệt, đoạn đầu nguồn từ sông Hàm Luông và sông Tiền đã bị thoái hóa nghiêm trọng, với lòng sông chỉ còn rộng khoảng 3 - 5 m Tình trạng bồi lấp diễn ra ngày càng nhanh chóng, dẫn đến việc toàn bộ khu vực từ đầu nguồn sông đến các xã Thành Thiệu, An Khánh, huyện Châu Thành bị bồi lấp, khiến cây cối mọc lên tận lòng sông, làm mất đi sự phân biệt giữa bờ và lòng sông.
Việc xây dựng quá nhiều công trình thủy lợi và thủy điện ở thượng nguồn sông Mêkông đã dẫn đến sự giảm sút lượng nước chảy về hạ lưu, đặc biệt là tại tỉnh Bến Tre (Hội đập lớn và phát triển nguồn nước Việt Nam, 2010) Bên cạnh đó, các biến đổi thời tiết bất thường và mực nước biển dâng do biến đổi khí hậu toàn cầu đang tạo điều kiện cho tình trạng xâm nhập mặn trở nên nghiêm trọng hơn Do đó, cần có những biện pháp chủ động để ứng phó với những tác động tiêu cực ngày càng gia tăng đối với môi trường.
* Giá cả và thị trường
Nông dân tại khu vực nghiên cứu cho rằng giá nông sản đang giảm Kết quả điều tra cho thấy, họ đánh giá thị trường nông sản biến động không ổn định, chủ yếu do phụ thuộc vào thương lái và ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19.
Những yếu tố đầu vào có giá cả được đánh giá là tăng lên, cụ thể: phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn chăn nuôi, nhiên liệu
Ý nghĩa đề tài
Ý nghĩa khoa học
Đề tài này tập trung vào việc lựa chọn công cụ đánh giá năng lực sinh kế của hộ nông dân trong môi trường có đập, nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho các chỉ số đánh giá khả năng thích ứng sinh kế phù hợp với từng loại hình nông nghiệp Ngoài ra, nghiên cứu còn đóng góp vào việc tiếp cận đa ngành, bao gồm địa lý, xã hội và môi trường, để đánh giá năng lực thích ứng của nông hộ sống trong khu vực có đập.
Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở cho các cơ quan quản lý trong việc xây dựng kế hoạch và định hướng chương trình giáo dục, nhằm nâng cao năng lực thích ứng sinh kế cho từng loại hình nông nghiệp của hộ nông dân Ngoài ra, những kết quả này còn có thể được sử dụng làm tư liệu giảng dạy và tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu liên quan.
Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 04 chương, trong đó:
Chương 1: Tổng quan tư liệu
Chương 2: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Năng lực thích ứng sinh kế của hộ nông dân quanh cống đập Ba Lai Chương 4: Định hướng giải pháp nâng cao năng lực thích ứng
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề năng lực thích ứng đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học trong và ngoài nước, với nhiều chủ đề và phương pháp nghiên cứu đa dạng Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và khu vực sinh sống có đập, nông hộ đang phải đối mặt với những thách thức lớn ảnh hưởng đến sinh kế và khả năng thích ứng của họ thông qua nguồn vốn sinh kế.
Vào giữa những năm 80 của thế kỷ XX, khái niệm về sinh kế đã được giới thiệu trong tác phẩm của Robert Chambers (Chambers, 1983) và sau đó được phát triển thêm bởi Chamber, Conway cùng các tác giả khác vào đầu những năm 1990.
Vào năm 1991, nhiều cơ quan tổ chức đã phát triển khái niệm sinh kế và áp dụng vào các dự án nghiên cứu Đến năm 1999, Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID) đã định nghĩa sinh kế bền vững là khả năng đối phó và phục hồi sau các cú sốc hoặc khủng hoảng, đồng thời đảm bảo cho các thế hệ tương lai duy trì hoặc nâng cao sinh kế mà không phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên và sự hỗ trợ bên ngoài.
Vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, thuật ngữ “sinh kế bền vững” lần đầu tiên được sử dụng như một khái niệm về phát triển Chambers và Conway định nghĩa sinh kế bền vững là sự kết hợp giữa con người, năng lực và kế sinh nhai, bao gồm lương thực, thu nhập và tài sản Ba khía cạnh tài sản bao gồm tài nguyên, dự trữ và tài sản vô hình như dư nợ và cơ hội Sinh kế bền vững không chỉ mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà còn tạo ra lợi ích ròng cho các sinh kế khác Nó cũng có tính xã hội khi có khả năng chống chịu và hồi sinh từ những thay đổi lớn, đồng thời đảm bảo nguồn lực cho các thế hệ tương lai.
Sinh kế cộng đồng và hộ gia đình là sự kết hợp giữa nguồn lực, khả năng con người và các quyết định, hoạt động nhằm đạt được nhiều mục tiêu, bao gồm kiếm sống Theo DFID, sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực vật chất và xã hội, cùng các hoạt động cần thiết để duy trì cuộc sống Chambers và Conway định nghĩa sinh kế là năng lực, tài sản và các hoạt động cần thiết để đảm bảo phương tiện sinh sống, với tính bền vững khi có khả năng đối phó và phục hồi sau cú sốc, duy trì và cải thiện tài sản, đồng thời tạo cơ hội sinh kế cho các thế hệ sau và mang lại lợi ích cho sinh kế khác ở cả cấp độ địa phương và toàn cầu.
Chiến lược sinh kế là quá trình ra quyết định liên quan đến các vấn đề của hộ gia đình, bao gồm sự gắn bó giữa các thành viên, cấu trúc hộ, phân bổ chi phí vật chất và phân phối các nguồn lực vật chất (Seppala, 1996).
Trong nghiên cứu phát triển nông thôn và giảm nghèo, hiệu quả kinh tế và tính bền vững là mục tiêu phân tích chính cho mỗi mô hình sinh kế Khung sinh kế bền vững được xem là cách tiếp cận toàn diện để thảo luận về đói nghèo và sinh kế của con người trong các bối cảnh khác nhau Các nhân tố chính ảnh hưởng đến sinh kế và mối quan hệ giữa chúng là cốt lõi của khung này Dựa vào khung sinh kế, có thể lập kế hoạch cho các hoạt động phát triển mới và đánh giá sự đóng góp của chúng vào sự bền vững sinh kế hiện tại.
Sinh kế bền vững là khả năng của con người trong việc đối phó với các bối cảnh dễ bị tổn thương, đồng thời duy trì và nâng cao nguồn lực sinh kế Điều này có nghĩa là sinh kế không được khai thác quá mức, gây hại cho môi trường và các sinh kế khác, cả trong hiện tại lẫn tương lai Hơn nữa, sinh kế bền vững cần góp phần thúc đẩy sự hòa hợp giữa các sinh kế, mang lại lợi ích cho thế hệ mai sau.
Several international organizations have developed theoretical frameworks for sustainable livelihoods, each reflecting their unique perspectives Notable frameworks include the DFID Sustainable Livelihoods Framework, created by the UK Department for International Development; the UNDP Sustainable Livelihoods Framework, developed by the United Nations Development Programme; the IFAD Sustainable Livelihoods Framework, established by the International Fund for Agricultural Development; the CARE Sustainable Livelihoods Framework, designed by the humanitarian organization CARE; and the OXFAM Sustainable Livelihoods Framework, which is based on the DFID model.
Khung sinh kế là một chiến lược nhằm xóa đói giảm nghèo, với các định nghĩa tương tự nhưng mục đích sử dụng khác nhau giữa các tổ chức UNDP và CARE chủ yếu sử dụng khung sinh kế cho lập kế hoạch, trong khi DFID áp dụng khung này trong các dự án cụ thể để phân tích CARE tập trung vào an ninh sinh kế hộ gia đình ở cấp cộng đồng, trong khi UNDP và DFID nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải cách chính sách và pháp luật để giảm nghèo hiệu quả.
Khung DFID là một trong những khung sinh kế phổ biến hiện nay, cung cấp cái nhìn tổng thể về đói nghèo bằng cách xem xét nhiều nguồn lực ngoài thu nhập và năng suất Phương pháp này đặc biệt chú trọng đến tính bền vững môi trường trong mối liên hệ với đói nghèo Các thành phần chính của khung phân tích bao gồm Bối cảnh dễ bị tổn thương, Tài sản sinh kế, Chính sách, Chiến lược sinh kế và Kết quả sinh kế.
Các nghiên cứu về tính bền vững của mô hình sinh kế chủ yếu dựa trên các khung sinh kế bền vững do các tổ chức xây dựng Những nghiên cứu này thường xem xét điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của khu vực để xác định bộ chỉ tiêu đánh giá tính bền vững Phương pháp phổ biến hiện nay là đánh giá đa tiêu chí với trọng số cho từng chỉ tiêu Để xác định các chỉ tiêu này, cần áp dụng phương pháp điều tra thực địa, phỏng vấn chuyên sâu, cùng với các công nghệ viễn thám, GIS và số liệu thống kê để phân tích các yếu tố đầu vào (Liu et al 2016; Li et al 2020; Su et al 2019).
Công cụ theo dõi sinh kế ở các làng nông thôn Lào được phát triển nhằm đánh giá hiện trạng và sự thay đổi sinh kế trong khu vực Các hoạt động bao gồm lập bản đồ quản lý tài nguyên, thảo luận nhóm về xã hội, giới tính và độ tuổi, cũng như đánh giá cảnh quan sinh thái để hiểu giá trị tài nguyên thiên nhiên địa phương Kết quả từ các công tác này cung cấp đầu vào cho công cụ đánh giá sinh kế nông thôn Mặc dù còn một số thiếu sót, công cụ này có chi phí thấp và mang lại cái nhìn rõ ràng về các khía cạnh nguồn vốn, tạo điều kiện cho thảo luận và đàm phán giữa cộng đồng và các bên liên quan.
Chỉ số an ninh sinh kế bền vững (SLS) cung cấp cái nhìn hữu ích để xác định các điều kiện phát triển sinh kế bền vững, bao gồm ba nhóm thành phần: an ninh sinh thái, hiệu quả kinh tế và tính an toàn xã hội Bộ 12 tiêu chí đánh giá được xây dựng từ số liệu thống kê, hiện trạng sử dụng đất và quan trắc chất lượng nước Phương pháp đa tiêu chí có trọng số được áp dụng để xây dựng bản đồ phân vùng không gian, giúp cung cấp cái nhìn tổng thể về khu vực nghiên cứu Tuy nhiên, việc xác lập các chỉ tiêu đánh giá và phương pháp ước tính định lượng vẫn gặp khó khăn trong việc kiểm chứng độ chính xác và tin cậy Do đó, nhóm tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của kiến thức và kinh nghiệm của các chuyên gia, cũng như việc thử nghiệm các tiêu chí và phương pháp tính toán khác nhau để nâng cao kết quả nghiên cứu.
Năm 2017, một nghiên cứu đã sử dụng khung sinh kế bền vững để đánh giá tính dễ bị tổn thương và khả năng thích ứng do biến đổi khí hậu tại cộng đồng vùng núi Himalaya Nghiên cứu tính toán các chỉ số như chỉ số tổn thương khí hậu (CVI) và chỉ số năng lực thích ứng hiện tại (CACI), xem xét năm loại hình vốn: nhân lực, tự nhiên, tài chính, xã hội và vật chất Phỏng vấn được thực hiện với hai nhóm sinh kế, nhóm xa trung tâm huyện và nhóm gần trung tâm Kết quả cho thấy hộ gia đình xa trung tâm có mức vốn nhân lực cao hơn nhưng dễ bị tổn thương về vốn tự nhiên, trong khi hộ gia đình gần trung tâm lại có mức độ tổn thương cao hơn về vốn xã hội và tài chính Nhìn chung, hộ gia đình ở xa trung tâm dễ bị tổn thương hơn, từ đó cải thiện hiểu biết về các thay đổi môi trường và kinh tế xã hội ảnh hưởng đến sinh kế nông thôn và các biện pháp cần thiết để tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Khung nghiên cứu
Biến đổi môi trường, bao gồm cả yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội, ảnh hưởng sâu sắc đến sinh kế của nông dân Để thích ứng với những thay đổi này, nông dân cần phát triển năng lực thích ứng thông qua việc kết hợp năm nguồn vốn sinh kế: vốn con người, vốn xã hội, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn tự nhiên.
Trước bối cảnh biến đổi môi trường phức tạp trong tương lai, cần đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng thích ứng cho hộ nông dân.