1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tranh vẽ cảm xúc tức giận của người trưởng thành tại thành phố hồ chí minh sự khác biệt giữa nhóm có nét tức giận cao và thấp

114 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tranh vẽ cảm xúc tức giận của người trưởng thành tại thành phố Hồ Chí Minh: Sự khác biệt giữa nhóm có nét tức giận cao và thấp
Tác giả Huỳnh Minh Thư
Người hướng dẫn TS. Trì Thị Minh Thúy
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại Luận văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 3,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu về các yếu tố hình thức trong tranh tức giận giúp bổ sung vào lý thuyết lâm sàng trong trị liệu nghệ thuật và các hình thức trải nghiệm sử dụng hình ảnh tại Việt Nam nhằm

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HUỲNH MINH THƯ

TRANH VẼ CẢM XÚC TỨC GIẬN CỦA NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH:

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NHÓM CÓ NÉT TỨC GIẬN CAO VÀ THẤP

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Tâm lý học Lâm sàng

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2022

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HUỲNH MINH THƯ

TRANH VẼ CẢM XÚC TỨC GIẬN CỦA NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH:

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NHÓM CÓ NÉT TỨC GIẬN CAO VÀ THẤP

Chuyên ngành: Tâm lý học Lâm sàng

Trang 3

Tranh vẽ cảm xúc tức giận của người trưởng thành tại thành phố Hồ Chí Minh:

Sự khác biệt giữa nhóm có nét tức giận cao và thấp

Huỳnh Minh Thư

Khoa Tâm lý học

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh

Luận văn Thạc Sĩ

Chuyên ngành Tâm lý học Lâm sàng

Giảng viên hướng dẫn: TS Trì Thị Minh Thuý

Tháng 4-2022

Trang 4

Mục lục

Lời cám ơn i

Tóm tắt ii

Danh mục bảng iii

Danh mục hình ảnh iv

Danh mục viết tắt v

Mở đầu 1

Chương I: Tổng quan nghiên cứu 5

Cảm xúc tức giận – Nét tức giận 5

Bộc lộ cảm xúc qua trải nghiệm nghệ thuật và yếu tố hình thức trong sản phẩm nghệ thuật 7

Tranh vẽ cảm xúc tức giận 10

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 11

Chương II: Phương pháp và tổ chức nghiên cứu 12

Thiết kế nghiên cứu 12

Khách thể nghiên cứu 13

Các yếu tố cần kiểm soát 13

Công cụ 15

Quy trình 22

Đạo đức nghiên cứu 24

Phân tích dữ liệu 26

Chương III: Kết quả và bàn luận 27

Trang 5

Kết quả nghiên cứu 27

Đặc điểm mẫu 27

Thống kê mô tả các biến độc lập và biến phụ thuộc 29

Mô tả mức độ tức giận chủ quan ở các giai đoạn khác nhau trong buổi trải nghiệm 31

Phân tích kiểm định giả thuyết về sự khác biệt của các yếu tố hình thức trong tranh vẽ của nhóm có nét tức giận cao và thấp 32

Phân tích khám phá các yếu tố khác có liên quan đến nét tức giận và tranh vẽ cảm xúc tức giận 35

Bàn luận 38

Chưa đủ bằng chứng để chứng minh sự khác biệt giữa các yếu tố hình thức trong tranh vẽ cảm xúc tức giận của người có nét tức giận cao và thấp 38

Những khám phá mới trong nghiên cứu 47

Hạn chế 51

Đóng góp lâm sàng 54

Kết luận 60

Tài liệu tham khảo 63

Phụ lục 80

Phụ lục 1 Bảng hỏi và các thang đo 80

Phụ lục 2 Hướng dẫn đánh giá tranh sử dụng 85

thang Các yếu tố hình thức trị liệu nghệ thuật (FEAST) 85

Phụ lục 3 Kiểm tra giả định Independent Samples t-test 101

Trang 6

LỜI CÁM ƠN

Trước tiên, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc nhất đến giảng viên hướng dẫn của tôi là TS Trì Thị Minh Thuý đã dành nhiều công sức và thời gian quý báu của mình cho nghiên cứu này Luận văn của tôi sẽ khó có thể hoàn thiện nếu không có sự hướng dẫn, hỗ trợ và những phản biện mang tính xây dựng của Cô trong suốt chặng đường vừa qua Tôi cũng hết sức trân trọng sự nhiệt tình của tất cả những người tham gia đã vào nghiên cứu, nếu không có sự góp sức to lớn này thì nghiên cứu không thể nào hoàn thành

Hơn nữa, tôi rất biết ơn tất cả những giảng viên của Khoa Tâm lý, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM đã giúp tôi nâng cao kiến thức học thuật cũng như sắc bén hơn trong thực hành Không chỉ vậy, sự cởi mở và khuyến khích của các Thầy

Cô cũng là động lực giúp tôi tiến về phía trước, tin vào những thế mạnh cũng như can đảm nhìn nhận hạn chế của mình Một lời cám ơn chân thành xin gửi đến tất cả các anh chị, các bạn đồng môn lớp Cao học Tâm lý Lâm sàng khoá 1 đã luôn hỗ trợ nhau và góp phần lớn vào ý nghĩa của các buổi học để giúp tôi học hỏi nhiều hơn và có thêm được những góc nhìn mới

Cuối cùng, sẽ thiếu sót nếu tôi không gửi lời cám ơn đến gia đình và những người bạn đã luôn bên cạnh tôi vào những ngày tháng khó khăn trong quá trình chập chững làm nghiên cứu, đã dung chứa cảm xúc thất thường của tôi vào những lúc căng thẳng Sự nâng đỡ tinh thần này là sức mạnh giúp tôi vượt qua những lo lắng, thất vọng để cố gắng hoàn thành luận văn

Mặc dù đã rất nỗ lực nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến từ các nhà nghiên cứu, các Quý Thầy Cô và đồng nghiệp để nghiên cứu này có thể được hoàn thiện hơn nữa

Một lần nữa, từ tận đáy lòng, tôi xin chân thành cám ơn

Trang 7

và quy trình tổ chức nghiên cứu được bàn luận là có liên quan đến kết quả này Bên cạnh việc đi tìm câu trả lời cho giả thuyết nghiên cứu đã được đặt ra, kết quả nghiên cứu cũng khám phá ra mối tượng quan của nét tức giận và trầm cảm, lo âu cũng như khả năng dự báo của năng lực hội hoạ của người vẽ đến yếu tố Sự nổi bật của màu sắc và Năng lượng ngầm ẩn trong tranh vẽ Những gợi ý lâm sàng có liên quan đến tranh vẽ và cảm xúc tức giận cũng được thảo luận

Từ khoá: cảm xúc tức giận, nét tức giận, tranh vẽ, yếu tố hình thức nghệ thuật

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Hệ số tương quan nội hàm của thang đo FEATS 19

Bảng 2 Thống kê mô tả đặc điểm mẫu tham gia nghiên cứu 28

Bảng 3 Số lượng và tỉ lệ hoạ cụ mà khách thể có 29

Bảng 4 Giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của các biến chính 30

Bảng 5 Kết quả phân tích sự khác biệt của các yếu tố hình thức trong tranh vẽ của nhóm có nét

tức giận cao và thấp bằng Independent Samples Mann-Whitney U test 33

Bảng 6 Kết quả phân tích tự khác biệt của các yếu tố hình thức trong tranh vẽ của nhóm có nét tức giận cao và thấp bằng Independent Samples t-test 34

Bảng 7 Kết quả phân tích tương quan giữa nét tức giận và mức độ trầm cảm, lo âu 35

Bảng 8 Hồi quy dự báo cho sự nổi bật của màu sắc và năng lượng ngầm ẩn 37

Trang 9

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1 Sơ đồ tóm tắt khung nghiên cứu của đề tài 12

Hình 2 Biểu đồ mô tả màu sắc được sử dụng trong tranh vẽ cảm xúc tức giận 31

Hình 3 Biểu đồ mô tả sự thay đổi về giá trị trung bình của mức độ tức giận chủ quan ở các giai đoạn khác nhau trong buổi trải nghiệm 31

Hình 4 Tranh vẽ của khách thể có PHQ = 1 và PHQ = 24 41

Hình 5 Tranh vẽ sử dụng màu nước và màu lông 43

Hình 6 Tranh vẽ của hai khách thể có cùng khả năng hội hoạ ở mức 4 50

Hình 7 Tranh vẽ của khách thể có khả năng hội hoạ ở mức 2 50

Trang 10

DANH MỤC VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt Chữ viết đầy đủ Nguyên bản tiếng Anh

TLNT Trị liệu nghệ thuật

FEATS Thang đo các yếu tố hình thức

trị liệu nghệ thuật

Formal Elements Art Therapy Scale

PPAT (Tranh vẽ) người hái táo từ một

cái cây

Person Picking an Apple from a Tree

ETC Liệu pháp bộc lộ tiếp diễn Expressive Therapy Continuum

DSM Sổ tay chẩn đoán và thống kê

các rối loạn tâm thần

Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders

Trang 11

Mở đầu

Cảm xúc là một thành phần quan trọng trong đời sống con người Những căng thẳng và xung đột nội tâm được thể hiện trong cảm xúc, và ngược lại, xung đột và các rối loạn tinh thần cũng làm thay đổi cảm xúc Cùng với vui, buồn, kinh tởm, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận là một trong sáu cảm xúc cơ bản của con người, được trải qua trong tất cả nền văn hoá (Ekman, 1992) Tuy là một cảm xúc hiện diện ở tất cả mọi người nhưng theo khảo sát ngắn của Kaplan (1994), 63% sinh viên được hỏi đánh giá tức giận ở mức độ tiêu cực nhất và phần nhiều trong số họ có những hình ảnh liên quan đến tức giận không mang tính xây dựng Tuy nhiên, thực tế là tức giận không đồng nghĩa với gây hấn hay bạo lực Tức giận là một cảm xúc tạo ra năng lượng để chúng

ta giải quyết vấn đề, có vai trò quan trọng giúp đưa ra sự lựa chọn hành động trước những vấn đề liên quan đến hệ giá trị, đạo đức và nguyên tắc của chúng ta Do đó, việc nghiên cứu về cảm xúc tức giận và cách bộc lộ nó qua các hình thức khác nhau là một chủ đề cần thiết không chỉ trong lâm sàng mà còn trong thấu hiểu về vận hành tâm trí bình thường của con người vì đó là một cảm xúc thường được che giấu hay kiềm nén, ít được chấp nhận nhất trong hệ thống các cảm xúc (Rotewell, 2008) Ở khuôn khổ của nghiên cứu này, việc biểu đạt cảm xúc tức giận qua tranh vẽ được quan tâm Đây là chủ đề cấp thiết cần được nghiên cứu ở hiện tại để làm phong phú thêm cho dữ liệu khoa học trong lĩnh vực can thiệp về mặt cảm xúc thông qua công cụ nghệ thuật

Tính mới

Bên cạnh quan điểm của Ekman về tính toàn cầu của cảm xúc đã đề cập ở trên, cũng có nhiều nghiên cứu cho rằng cảm xúc những quốc gia khác nhau tuy có điểm tương đồng nhưng không đồng nhất (Gendron & cs., 2015) Nói đến cảm xúc tức giận của trong văn hoá Việt Nam,

có một vài nghiên cứu trong lĩnh vực ngôn ngữ cho thấy có sự khác biệt trong việc sử dụng từ ngữ, cấu trúc ngữ pháp cũng như các ẩn dụ, hoán dụ và thành ngữ khi so sánh những câu nói liên

Trang 12

quan đến sự tức giận trong tiếng Việt và tiếng Anh (Nguyen, 2013; Bui, 2012) Hơn nữa, như hầu hết các nước châu Á, Việt Nam là một đất nước có văn hoá tập thể nên cá nhân thường gắn mình với những giá trị bền chặt của xã hội và gia đình; trong khi đó, gia đình châu Á nói chung lại thường gặp khó khăn trong việc nhìn nhận và đối thoại về các cảm xúc (Le & cs., 2002) Gia đình châu Á cũng thường gán việc con cái bộc lộc cảm xúc tiêu cực với việc không nghe lời hoặc không tôn trọng người lớn (Argyle & cs., 1986) do vậy người châu Á nói chung thường tránh né cảm xúc tiêu cực Nghiên cứu của Trần Thị Hiền (2018) phân tích sự khác nhau ở việc nỗ lực kiểm soát sự tức giận trong ngôn ngữ cho thấy sự tự kiểm soát tức giận được nói đến một cách

cụ thể hơn trong tiếng Việt (so với tiếng Anh và tiếng Hoa) và dường như là điều được yêu cầu như một quy định chung của xã hội, thể hiện dưới một số câu tục ngữ điển hình như : “Một sự nhịn chín sự lành”, “Chín bỏ làm mười”, “Dĩ hoà vi quý”, “Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”

Danner-Weinberger và cs (2019) cho rằng yếu tố văn hoá, cách xử lý cảm xúc trong những xã hội khác nhau, ý nghĩa của màu sắc khác nhau, kinh nghiệm trong việc đối diện với sáng tạo nghệ thuật và sự sẵn sàng thể hiện cảm xúc cũng có thể là những nguyên nhân dẫn đến cách thức bộc lộ bản thân khác nhau trong bối cảnh trải nghiệm nghệ thuật Những nghiên cứu trước đây so sánh tranh vẽ ở những nền văn hoá khác nhau đều cho thấy sự khác nhau (Betts, 2013; Ou & cs., 2003) Ngoài ra, trải nghiệm trong hoạt động nghệ thuật mà cụ thể hơn là trong hoạt động vẽ tranh có nhiều kết nối với cơ thể qua việc sử dụng hoạ cụ để tạo nên sản phẩm Trong khi đó, cảm xúc tức giận lại liên quan nhiều đến các cảm giác trong cơ thể mà quan niệm

về sự vận hành cơ thể trong Đông Y và Tây Y rõ ràng có sự khác nhau Nghiên cứu của Bui (2012) về mặt ngôn ngữ đã thấy rằng các bộ phận thường được sử dụng để nói về cảm xúc tức giận ở hai nền văn hoá này cũng khác nhau Do vậy nghiên cứu về cảm xúc tức giận và cách biểu đạt cảm xúc này qua tranh vẽ ở Việt Nam có nhiều khả năng khác biệt so với các nghiên cứu

Trang 13

trước đây ở những quốc gia khác

Ý nghĩa khoa học

Trong bối cảnh sáng tạo nghệ thuật, cảm xúc của người tạo sản phẩm không nhất thiết phải giống với cảm xúc dự định được cảm nhận hoặc cảm xúc mà một người quan sát thực sự cảm thấy (Cooney & Menezes, 2018) Do đó, cảm xúc của người đánh giá khi tiếp xúc với bức tranh chưa chắc là cảm xúc của người vẽ tranh Trong nghiên cứu của Kaplan (1994), việc cho rằng bức tranh nào là “tức giận nhất” phụ thuộc phần lớn vào cách nhìn nhận của người xem hoặc người đánh giá tranh Ở đề tài này, thang đánh giá định lượng được sử dụng dựa hoàn toàn trên các yếu tố hình thức (formal elements of art) của bức tranh để có thể đưa ra kết quả không diễn giải Hiện nay, việc xem xét sản phẩm nghệ thuật qua các yếu tố hình thức đang nhận được

sự quan tâm lớn, phản ánh qua một số lượng lớn các nghiên cứu (ví dụ như Betts, 2006; Mattson, 2009; Kim & cs., 2012; Eytan và Elkis-Abuhoff, 2013) Các nhà nghiên cứu và nhà trị liệu nghệ thuật dường như đặt ra một giả định cơ bản rằng các yếu tố hình thức như đường nét, màu sắc, hình dạng…có thể phản ánh các vấn đề sức khỏe tâm thần của thân chủ (Cohen & cs., 1988; Conrad & cs., 2011; Schoch & cs., 2017), tạo nên cái nhìn về điểm mạnh và khó khăn của thân chủ, góp phần hỗ trợ vào chẩn đoán mô tả Tuy nhiên, cách quan sát này ở những nhà trị liệu khác nhau vẫn đang khác nhau, mỗi người có cách riêng của họ và phát triển phương pháp đánh giá của riêng mình (Pénzes & cs., 2018) Mặc dù nghệ thuật đã là đối tượng của nghiên cứu tâm

lý trong một thời gian, nhưng bản thân sản phẩm nghệ thuật lại ít được chú ý trong nghiên cứu định lượng Vì vậy, cần thiết để có thêm nhiều nghiên cứu về các yếu tố này trong mối liên hệ với các vấn đề sức khoẻ tâm thần ở đa dạng các nền văn hoá, các bối cảnh khác nhau để phát triển một mô thức chung liên quan đến các yếu tố hình thức nghệ thuật Betts (2006) đã xác định rằng một trong những cách để có thể làm điều đó là hình thành những nghiên cứu liên kết giữa

Trang 14

nét tính cách và sự biểu đạt nghệ thuật Trong nghiên cứu này đó chính là nét tức giận và các yếu

tố hình thức trong tranh vẽ

Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu của Danner-Weinberger & cs (2019) cho rằng khách thể Việt Nam rất hào hứng với ý tưởng thể hiện cảm xúc qua một bức tranh và coi đây là cơ hội tốt để thực hiện công việc trị liệu với các thân chủ và bệnh nhân người Việt Dường như những đặc tính văn hoá khiến cho người Việt Nam có thể dễ dàng thể hiện cảm xúc trong một bức tranh hơn là nói về chúng Việc nghiên cứu về các yếu tố hình thức trong tranh tức giận giúp bổ sung vào lý thuyết lâm sàng trong trị liệu nghệ thuật và các hình thức trải nghiệm sử dụng hình ảnh tại Việt Nam nhằm đưa đến một phương tiện giúp điều chỉnh hình ảnh cơn giận Cách tiếp cận này có thể được kết hợp để tạo nên chương trình giải quyết xung đột và quản lý cơn giận Khi sử dụng liệu pháp nghệ thuật theo cách này, nhà trị liệu nghệ thuật không chỉ hỗ trợ cá nhân gặp khó khăn mà còn có thể góp phần làm giảm các vấn đề của xã hội vì bạo lực – một trong những hành vi bộc lộ ra ngoài của cảm xúc tức giận – là một vấn đề đáng quan tâm

Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 diễn ra dai dẳng trong suốt hơn hai năm vừa qua, việc thay đổi bối cảnh làm việc từ trực tiếp sang trực tuyến đang là xu hướng diễn ra trên toàn cầu Những năm qua có rất nhiều nghiên cứu về tham vấn – trị liệu trực tuyến đã ra đời và chứng minh rằng nó có hiệu quả và có thể áp dụng để giải quyết nhu cầu trị liệu của thân chủ (Barker & Barker, 2021; Hass-Cohen & cs., 2021; Braus & Morton, 2020) Vì vậy những nhà lâm sàng theo các tiếp cận trị liệu khác nhau, kể cả trị liệu nhóm hay trị liệu nghệ thuật cũng cần thích ứng với công nghệ như một nền tảng chính và thiết yếu trong giai đoạn khủng hoảng này Do đó, việc báo cáo kinh nghiệm ở một quy trình nghiên cứu trên tranh vẽ thu thập dữ liệu trực tuyến là một điểm khác biệt so với những nghiên cứu trước đây, đồng thời giúp cung cấp cái nhìn có giá trị về

Trang 15

các thực hành trực tuyến hiện tại, không chỉ ứng dụng trong đại dịch này mà còn khai mở những

cơ hội làm việc trên nền tảng công nghệ trong thời đại 4.0 như hiện nay

Chương I: Tổng quan nghiên cứu Cảm xúc tức giận – Nét tức giận

Các triết gia và nhà tư tưởng vĩ đại như Aristotle, Seneca và Darwin đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu về cơn giận, nó vừa là điều kiện cần để tồn tại vừa tiềm ẩn nhiều vấn đề nguy cơ (Power & Dalgleish, 2016)

Tức giận được xem như một cảm xúc cơ bản khơi gợi lên khi phản ứng với sự đau khổ, khó chịu về thể chất hoặc nỗi thất vọng (Panksep & Biven, 2012) Mặc dù có tính phổ quát trong đời sống và thường gặp trong các vấn đề lâm sàng nhưng tức giận vẫn là một phạm trù phức tạp

và khó để định nghĩa (DiGiuseppe & Tafrate, 2007) Do đó, hiện tại vẫn còn khá nhiều mâu thuẫn trong các lý thuyết hay tài liệu về sự tức giận, về nguồn gốc và biểu hiện của cơn giận

Những yếu tố liên quan đến tức giận cũng hiện diện trong các tiêu chuẩn chẩn đoán như Rối loạn chống đối chống đối (ODD), Rối loạn bùng phát gián đoạn (IED) hay Rối loạn mất điều chỉnh tâm trạng muốn gây rối (DMDD) Mặc dù sự tức giận được xem xét trong các chẩn đoán trên nhưng DiGuiseppe và Tafrate (2007) vẫn thấy rằng tức giận là một “cảm xúc bị bỏ quên” vì trọng tâm của những tiêu chí này thường là hành vi bạo lực theo sau cơn tức giận, hơn là chính cảm xúc tức giận

Trong đời sống thường ngày, tức giận, thù địch hay bạo lực cũng là những khái niệm hay

bị nhầm lẫn và chồng chéo lẫn nhau Vì vậy, nhiều người lầm tưởng rằng tức giận luôn là một cảm xúc xấu và thể hiện sự tức giận là không ổn Trên thực tế, tức giận là một phản ứng bình thường đối với các sự kiện hàng ngày có khả năng trở thành mối đe dọa thực sự Sự tức giận có thể là động lực tích cực thúc đẩy hành động Trong khi sự thù địch là trạng thái luôn sẵn sàng

Trang 16

chiến đấu bất cứ lúc nào Người thù địch thường bướng bỉnh, nóng nảy, muốn đánh ai đó hoặc phá huỷ vật gì đó Cuối cùng, bạo lực là sự đe doạ cả bằng lời nói và những tổn hại về tinh thần, chẳng hạn như lạm dụng thể chất, lời nói hay tình dục, bạo lực gia đình, lạm dụng trẻ em hoặc người già (Healthwise, 2020)

Nói về các lý thuyết liên quan đến cảm xúc tức giận, Paul Ekman là người tiên phong trong việc nghiên cứu về cảm xúc và nổi bật là lý thuyết về các cảm xúc cơ bản phổ quát, trong

đó có cảm xúc tức giận Theo Ekman (2011), tức giận là phản ứng đối với sự can thiệp vào việc theo đuổi mục tiêu của chúng ta hoặc khi ai đó cố gắng làm hại chúng ta hoặc làm hại đến đến người mà chúng ta quan tâm về mặt thể chất và tinh thần Một cộng sự của Ekman, Izard (2007)

đã cho rằng tức giận là một cảm xúc tiêu cực mà con người trải nghiệm trong cuộc sống hàng ngày Để đối phó tức thời với các mối đe doạ và trở ngại, tức giận giúp điều chỉnh quá trình nhận thức để phát hiện nguy hiểm một cách nhanh chóng và phản ứng với nó Tuy nhiên, khác với những cảm xúc tiêu cực khác đặc trưng bởi mức kích thích thấp và khoái cảm thấp, tức giận lại

có mức kích thích cao và khoái cảm thấp (Russell & Barrett, 1999)

Theo trường phái trị liệu Nhận thức – Hành vi, Beck (2015) mô tả sự tức giận là một phản ứng phóng đại đối với những suy nghĩ tự động về việc bị đe dọa hoặc bị hạ thấp giá trị, vốn bắt nguồn từ những niềm tin phóng đại sâu xa Cotterell (2017) cũng cho rằng cảm xúc tức giận được xây dựng trên những mong đợi Mỗi khi có khoảng cách giữa kỳ vọng và thực tế, tức giận chen vào để lấp đầy nó

Trong nỗ lực thấu hiểu và làm rõ hơn các khía cạnh khác nhau của sự tức giận,

Spielberger (1988) đã đưa ra lý thuyết về trạng thái-nét tức giận (state-trait anger) Trong đó, trạng thái tức giận được xem là một trạng thái hoặc tình trạng cảm xúc xác định bởi những cảm giác chủ quan với cường độ khác nhau, từ kích thích nhẹ hoặc khó chịu đến sự giận dữ và cơn

Trang 17

thịnh nộ dữ dội Nét tức giận được định nghĩa theo sự khác biệt của từng cá nhân trong cách nhìn nhận những tình huống gặp phải là gây khó chịu hoặc bực bội cũng như xu hướng phản ứng với những tình huống đó ở mức độ cao hay thấp trong trạng thái tức giận Những người có nét tức giận cao trải qua trạng thái tức giận thường xuyên hơn và với cường độ mãnh liệt hơn những cá nhân có nét tức giận thấp, họ thường nhanh chóng tức giận, đặc biệt khi hành động của họ không được đánh giá cao hoặc bị chỉ trích công khai Họ dễ bùng nổ hơn, dễ nổi nóng và lên cơn thịnh

nộ hơn Họ không cố gắng ngăn cản hoặc kiểm soát biểu hiện của sự tức giận và do đó xác suất nổi giận của họ trong một tình huống nào đó cao hơn người bình thường Bởi vì nó là một nét của tính cách, nét tức giận phản ánh phong cách phản ứng chung của cá nhân trong thời gian dài

và ổn định trong các tình huống khác nhau (Deffenbacher, 1996)

Nét tức giận là yếu tố nền tảng để đánh giá xu hướng tức giận và cách bộc lộ cảm xúc của một người có dễ dàng hay không (Spielberger & cs., 1983), từ đó có thể dự đoán được trạng thái tức giận và hành vi gây hấn trong cuộc sống hàng ngày (Veenstral & cs., 2017) Các nghiên cứu cũng đưa ra dự báo của nét tức giận với các tình huống gây nguy hiểm trong cuộc sống như người có nét tức giận cao liên quan nhiều đến các vụ tai nạn xe cộ hơn (Deffenbacher & cs., 2016) và có xu hướng bạo hành thể chất với người phối ngẫu hơn (Stith & cs., 2014) Nói đến việc bộc lộ cảm xúc tức giận, Green & Murray (1975) cho rằng bộc lộ sự giận dữ bằng lời nói không có hiệu quả trong việc cải thiện sự kích động - trừ khi nó được kết hợp với việc diễn giải lại sự kiện kích thích Sau đó, nghiên cứu về hình ảnh (Means & cs., 1987) nhận thấy rằng hình ảnh tâm trí giúp nâng cao hiệu quả của nhận thức bằng lời nói trong việc thay đổi tâm trạng khó chịu Như vậy có thể thấy rằng, hình ảnh của cảm xúc tức giận là một chủ đề đáng được xem xét

Bộc lộ cảm xúc qua trải nghiệm nghệ thuật và yếu tố hình thức trong sản phẩm nghệ thuật

Rothschild (2000) cho rằng trải nghiệm cảm xúc ngày càng được tin rằng không được xử

Trang 18

lý thông qua ngôn ngữ và logic đơn thuần mà cần sử dụng các hoạt động thúc đẩy sự linh hoạt của bán cầu não phải, các hoạt động liên quan đến hình ảnh, chú ý đến các giác quan, mở ra các

ký ức và tăng cường kết nối với các động lực cảm xúc Do vậy, dù là hình ảnh trong tâm trí hay hình ảnh được vẽ trên giấy thì hình ảnh và sự hình thành hình ảnh đều quan trọng Thông qua việc tạo nên hình ảnh, chủ thể được mời gọi điều chỉnh lại cách họ cảm thấy, phản ứng với một

sự kiện hoặc trải nghiệm, đồng thời nỗ lực thay đổi cảm xúc và hành vi Tuy nhiên, khác với hình ảnh tinh thần, hình ảnh trong nghệ thuật cho phép cá nhân chủ động thử nghiệm hoặc diễn tập một sự thay đổi mà mình mong muốn thông qua các hoạ cụ; nó liên quan đến một đối tượng hữu hình có thể thay đổi về mặt vật lý (Malchiodi, 2012) Qua đó mở rộng phạm vi trải nghiệm của con người bằng cách tạo ra những trải nghiệm tương đương với những trải nghiệm đó Đó là một lĩnh vực mà trải nghiệm đa dạng mà chủ thể có thể được lựa chọn và lặp lại theo ý muốn Nhờ vậy, cá nhân cũng có thể giảm bớt sự gây hấn bởi vì có thể thay thế hoặc thăng hoa những thôi thúc này thông qua nghệ thuật (Kramer, 2000)

Sản phẩm nghệ thuật là cơ sở quan trọng trong quá trình trải nghiệm, nó phản ánh đời sống tinh thần của chủ thể Nó cũng được xem là một công cụ hữu dụng cho nghiên cứu về bộc

lộ cảm xúc vì những kỹ thuật vẽ trong việc tạo sản phẩm tự bản thân nó đã có tính bộc lộ (King

& Kaimal, 2019) và tiến trình vẽ cho phép người tạo sản phẩm thể hiện cảm xúc của chính mình (Guseva, 2018; Reyna-Martinez & cs., 2019) Cảm xúc ý thức và vô thức đều có thể được hiểu, được thể hiện, được giao tiếp và được giải phóng thông qua nghệ thuật tạo hình (Kramer, 1975; Naumburg, 1966; Malchiodi, 2011)

Trong sản phẩm nghệ thuật, bên cạnh nội dung, các yếu tố hình thức nghệ thuật như màu sắc, hình dáng, đường nét, bố cục cũng gợi lên nhiều ý nghĩa liên quan, thúc đẩy một tiếp cận toàn diện hơn bằng việc xem xét các mối quan hệ qua lại giữa sản phẩm nghệ thuật, nhìn xem

Trang 19

chúng và tạo ra chúng như thế nào Dưới góc nhìn nghệ thuật, các yếu tố hình thức là các bộ phận được sử dụng để tạo ra một sản phẩm nghệ thuật Các yếu tố hình thức nghệ thuật bao gồm đường nét, hình dạng, không gian, hình thể, tông màu, kết cấu, hoa văn/khuôn mẫu, màu sắc và

bố cục Chúng được sử dụng phối hợp và cách chúng được sắp xếp trong một sản phẩm nghệ thuật sẽ quyết định sản phẩm đó được hoàn chỉnh như thế nào Các nghệ sĩ thường xem xét từng yếu tố nghệ thuật một cách cẩn thận khi thức hiện tác phẩm nghệ thuật của họ (Ionescu, 2014) Trong lĩnh vực tâm lý, có hai học thuyết nổi bật đề cập đến các yếu tố hình thức nghệ thuật đó là Liệu pháp bộc lộ tiếp diễn (Expressive Therapy Continuum – ETC) và Liệu pháp Gestalt Trong

đó ETC nhấn mạnh đến các yếu tố riêng biệt của TLNT, cung cấp một cách tiếp cận TLNT dựa trên các đặc điểm đa chiều của việc bộc lộ bằng hình ảnh Đặc trưng của ETC là ba cấp độ xử lý thông tin hình ảnh trong việc sử dụng các phương tiện và kỹ thuật nghệ thuật để bộc lộ Trình tự của ba cấp độ bao gồm: Cử động – Cảm giác, Suy nghĩ – Cảm xúc, Nhận thức – Biểu tượng, chúng phản ánh sự phát triển về mặt tinh thần cũng như các thể hiện qua hình ảnh trong quá trình

xử lý thông tin từ đơn giản đến phức tạp hơn (Lusebrink, 2015) Nói về lý thuyết Gestalt, từ

“gestalt” trong tiếng Đức đã có nghĩa là “hình dạng” và lý thuyết này cũng tập trung vào tính năng động của hình dạng Arnheim (1974) cho rằng yếu tố nền tảng nhất của tranh là đường nét Đường nét tự bản thân nó cấu thành một vật thể/đối tượng Những đối tượng này tương tác với nhau và với nền tạo thành một sự biểu đạt Trong tư duy hình ảnh, có 10 yếu tố cần được xem xét bao gồm sự cân bằng, hình dạng, hình thể, sự phát triển, không gian, ánh sáng, màu sắc, chuyển động, tính năng động và tính biểu đạt

Nhìn chung, các yếu tố hình thức nghệ thuật là những khía cạnh hình ảnh có thể quan sát được và được coi là cách khách quan nhất để phân tích các sản phẩm nghệ thuật (Acton, 2008) Khi đánh giá sản phẩm nghệ thuật, các nhà trị liệu nghệ thuật thường “quét” sản phẩm nghệ thuật

Trang 20

để tìm các dấu hiệu liên quan đến nội dung của cảm xúc cũng như cường độ biểu đạt, trích xuất các tín hiệu về cảm giác và cảm xúc từ các sản phẩm này (Penzes & cs., 2018) Chính mối quan

hệ giữa các yếu tố hình thức và quá trình thực hiện sản phẩm có thể cung cấp thông tin có ý nghĩa về mặt lâm sàng liên quan đến cảm xúc và hành vi của thân chủ (Conrad & cs., 2011) Mặt khác, nhiều nghiên cứu đã làm rõ mối liên hệ giữa các nét tính cách và hình ảnh tâm trí cũng như việc sử dụng các yếu tố hình thức trong tranh vẽ hoặc các kiểu nghệ thuật khác nhau được yêu thích (McDougall & Pfeifer, 2012; Pietras & Czernecka, 2018; Jankowsi & cs., 2018) Như vậy, sản phẩm nghệ thuật, hay cụ thể hơn là các yếu tố hình thức trong sản phẩm đó, có liên quan mật thiết đến xu hướng trải nghiệm và bộc lộ cảm xúc, cụ thể trong nghiên cứu này là cảm xúc tức giận được phản ánh qua nét tức giận

Tranh vẽ cảm xúc tức giận

Trên thực tế, có khá ít nghiên cứu về tranh vẽ cảm xúc tức giận và các khía cạnh khác nhau của cảm xúc này Nổi bật có thể thấy là chuỗi các nghiên cứu của Kaplan (1994, 1998) về mối tương quan giữa sự tức giận của người vẽ và việc biểu hiện cảm xúc tức giận qua tranh trên

46 sinh viên tại Mỹ Qua phân tích định lượng, kết quả chỉ ra rằng mức độ mãnh liệt của hình ảnh phản ánh trạng thái tức giận Mặt khác, phân tích định tính cho thấy những yếu tố hình thức

có liên quan hơn đến nét tức giận Cụ thể, về mặt nội dung, các cá nhân ở các cực điểm của thang

đo tức giận thường vẽ chân dung hơn, trong khi những người ở ngưỡng bình có nhiều khả năng

sẽ mô tả thảm họa (như hỏa hoạn, vụ nổ hay giông bão) Kaplan cũng đã làm rõ mối liên hệ chặt chẽ giữa các màu đen, đỏ, cam với cảm xúc tức giận Các tranh vẽ được đánh giá là "tức giận nhất" sử dụng không gian của tờ giấy nhiều hơn, có màu đậm hơn, nhiều năng lượng hơn và các đường nét đè mạnh hơn Theo nghiên cứu này, tranh vẽ sự tức giận đóng vai trò như một phương tiện đánh giá các vấn đề liên quan đến cảm xúc tức giận và là một phương tiện hỗ trợ thúc đẩy sự

Trang 21

thay đổi thông qua việc điều chỉnh hình ảnh cơn giận (anger imagery) Vì thế, bà cho rằng đề tài

về nét tức giận và các yếu tố hình thức trong tranh vẽ là hướng nghiên cứu đầy tiềm năng và cần được phát triển thêm

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Từ những kết quả nghiên cứu trên, có thể thấy sự kết nối giữa các yếu tố hình thức trong tranh vẽ cảm xúc tức giận và sự tức giận của cá nhân đó là một chủ đề đáng được quan tâm Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là: Liệu rằng có sự khác biệt có ý nghĩa trong các yếu tố hình thức giữa tranh vẽ cảm xúc tức giận của những người mang nét tức giận cao và người mang nét tức giận thấp không?

Để trả lời cho câu hỏi này, đề tài đưa ra giả thuyết như sau:

H1: Có sự khác biệt đáng kể về các yếu tố hình thức trong tranh vẽ cảm xúc tức giận của nhóm người có nét tức giận cao và nhóm người có nét tức giận thấp

Nhằm phục vụ cho việc chứng minh giả thuyết nghiên cứu, đề tài xây dựng khung nghiên cứu được minh hoạ qua sơ đồ trong Hình 1 sau đây

Trang 22

Hình 1

Sơ đồ tóm tắt khung nghiên cứu của đề tài

Chương II: Phương pháp và tổ chức nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu mô tả, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, cắt ngang tại một thời điểm qua việc trả lời bảng hỏi và đánh giá tranh vẽ của khách thể Thang đo Nét tức giận (TAS) được sử dụng để phân loại khách thể thành hai nhóm nét tức giận cao và thấp Tranh vẽ thu thập từ hai nhóm này được đánh giá và tính điểm dựa trên thang đo Các yếu tố hình thức nghệ thuật (FEATS) So sánh điểm trung bình của các yếu tố trong thang FEATS ở hai nhóm đã được phân loại nhằm xác định sự khác biệt về các yếu tố hình thức trong tranh vẽ cảm xúc tức giận của người có nét tức giận cao và nét tức giận thấp Đồng thời, nghiên cứu cũng khám phá thêm mối tương quan nét tức giận và các yếu tố hình thức trong sản phẩm nghệ thuật với các yếu

tố được kiểm soát

Trang 23

Khách thể nghiên cứu

Tổng cộng số người tham gia trả lời bảng hỏi trực tuyến trong suốt quá trình nghiên cứu

là 311 theo cách chọn mẫu tự đề xuất (self-selected sampling), có nghĩa là những người trong tổng thể tình nguyện tham gia vào nghiên cứu khi đọc được thông tin nghiên cứu được đăng tải trên mạng xã hội và tự đăng ký thông qua mẫu trực tuyến (Sterba & Foster, 2008)

Nghiên cứu bắt đầu tiến hành thu thập dữ liệu vào tháng 04/2021 với 230 người điền bảng hỏi trực tuyến; trong đó, có 70 người phù hợp tiêu chí nghiên cứu và xác nhận tham gia buổi thu thập dữ liệu tranh vẽ trực tiếp theo nhóm Tuy nhiên, chỉ thị hạn chế tập trung đông người vì tình hình dịch bệnh nghiêm trọng ở thành phố Hồ Chí Minh được đưa ra ngay ngày tổ chức nhóm đầu tiên Vì vậy, nghiên cứu không được tổ chức như dự kiến

Vào tháng 10/2021, đợt thu thập dữ liệu được tiến hành lại một lần nữa, những người tham gia cũ được mời gọi trả lời lại bảng hỏi trực tuyến một cách tự nguyện và có thêm một số người mới tham gia nghiên cứu; với tổng số khách thể ở đợt này là 81 người trong độ tuổi từ 18 đến 40 tuổi Các yếu tố hình thức trong tranh vẽ cảm xúc tức giận được đánh giá dựa trên tranh

vẽ của 40 người thoả mãn tiêu chí có nét tức giận cao hoặc thấp và đồng ý tham gia vào buổi trải nghiệm theo nhóm trực tuyến

Các yếu tố cần kiểm soát

Giới tính

Nghiên cứu của Manickam (2016) trên tranh vẽ của vị thành niên trầm cảm ở Nam Ấn

Độ tìm thấy sự ảnh hưởng của giới tính lên một số yếu tố hình thức như Chất lượng đường nét và Hướng xoay trong thang FEATS Ngoài ra, tranh vẽ cảm xúc tức giận có liên quan mật thiết đến hình dung và cách bộc lộ cảm xúc tức giận; trong khi đó, đã có nhiều nghiên cứu về sự khác biệt giới tính giữa các yếu tố khác nhau của sự tức giận Thomas (1989) cho rằng có sự khác biệt

Trang 24

đáng kể giữa nam và nữ trong khả năng thảo luận về cơn giận và thể hiện sự tức giận thông qua các triệu chứng cơ thể Doster & cs (2009) lại chứng minh rằng sự tức giận hướng vào bên trong

và khả năng kiểm soát cơn tức giận có ý nghĩa quan trọng đối với nam giới chứ không phải phụ

nữ Một số nghiên cứu trên vị thành niên cũng cho thấy sự khác biệt trong việc trải nghiệm cơn tức giận và cách bộc lộ nó ở hai giới (Burt, 2014; Sadeh & cs., 2011; Fischer & Evers, 2011) Vì vậy, giới tính là một yếu tố tiềm năng có thể ảnh hưởng đến sự bộc lộ cảm xúc tức giận qua tranh

vẽ ở nghiên cứu này

Các rối loạn tâm thần

Thang đo các yếu tố hình thức trị liệu nghệ thuật (FEATS), sẽ giới thiệu cụ thể ở bên dưới, được sử dụng để phân biệt các biểu đạt qua hình ảnh của nhóm ổn định với nhóm có rối loạn (Gantt & Tabone, 1998) Vì khuôn khổ nghiên cứu không thể kiểm soát hết tất cả các rối loạn nên hai rối loạn phổ biến nhất là trầm cảm và lo âu được lựa chọn để xem xét Cụ thể như, một người trầm cảm sẽ có ít năng lượng, khó tập trung và có cái nhìn ảm đạm về thế giới xung quanh Tương ứng với những đặc điểm đó, những nhà TLNT (Gantt & Tabone, 1998; Wadeson, 2010) thấy rằng những người trầm cảm thường vẽ những bức tranh ít chi tiết, ít màu sắc và hình ảnh tĩnh Do đó, các rối loạn tâm thần, điển hình là trầm cảm, lo âu có thể tạo nên sự khác biệt về

các yếu tố hình thức trong tranh vẽ

Khả năng hội hoạ

Một biến số có thể điều tiết hoặc làm nhiễu điểm số trên tranh vẽ được nhiều nhà nghiên cứu cũng như nhà TLNT nhắc đến chính là năng lực hay khả năng hội hoạ Gantt và Tabone (1998) nhấn mạnh ảnh hưởng của khả năng hội hoạ và kinh nghiệm nghệ thuật trước đó, tương đồng với mối quan tâm của Suinn & Oskamp (1969) trước đó cho rằng: "Khả năng hội hoạ có thể ảnh hưởng đến tranh vẽ làm nó khác đi" Mặt khác, khả năng hội hoạ cũng giúp cho các cá

Trang 25

nhân thể hiện chính xác hơn các khía cạnh cốt lõi trong tâm trí của họ qua các kỹ thuật mà họ đã

thành thạo (Rostan, 1997)

Khả năng hội hoạ ở nghiên cứu này được người tham gia tự đánh giá trên thang từ 1 đến

5, với 1 là “hoàn toàn mới, không có kinh nghiệm” và 5 là “thành thạo chuyên nghiệp” Tuy

nghiên cứu không có một cơ sở thực chứng hay bảng câu hỏi hay bài kiểm tra nào để xác định chính xác khả năng hội hoạ của người tham gia nhưng như McManus & cs (2010) nghiên cứu thấy rằng những người tự thấy bản thân mình vẽ tốt thật sự có khả năng hội hoạ tốt hơn những người tự cho là mình vẽ không tốt Từ đó có thể thấy câu trả lời tự đánh giá này là thông tin đáng

tin cậy để trở thành một yếu tố kiểm soát

Mức độ tức giận chủ quan ngay trước khi vẽ tranh

Mức độ tức giận chủ quan được dựa trên Nhiệt kế tức giận (Basem, 2018), gồm từ 1 đến

10, thường được sử dụng trong thực hành quản lý cơn tức giận Nó giúp phản ánh mức độ mãnh

liệt của cảm xúc tức giận ngay lúc tự đánh giá, với 1 là “hoàn toàn bình tĩnh” và 10 là “mức độ tức giận nhất mà tôi có thể có” Vì đây là tranh vẽ cảm xúc tức giận trong một nghiên cứu không

làm thực nghiệm, không có kích thích cảm xúc tức giận ở người tham gia nên mức độ tức giận vào lúc tham gia nghiên cứu có thể khác nhau và cần được ghi nhận để xem xét sự ảnh hưởng đến các yếu tố hình thức trong tranh Điều này cũng đã được Kaplan (1994) làm rõ trong nghiên cứu của mình, bà cho rằng mức độ mãnh liệt của hình ảnh phản ánh cảm nhận về sự tức giận ngay lúc đó của người vẽ

Công cụ

Thang đo nét tức giận (Trait Anger Scale - TAS)

Thang đo nét tức giận (Spielberger, 1988) gồm 10 mục, với câu trả lời theo thang Likert

Trang 26

4 mức độ (1 = hầu như không bao giờ đến, 4 = hầu như mọi khi) tương ứng với những câu khẳng định để những người tham gia đánh giá xem họ cảm thấy tức giận như thế nào Thang đo TAS có hai thang đo nhỏ là T (Angry Temperament) - Tính khí tức giận và R (Angry Reaction) - Phản ứng tức giận Thang T đo lường khả năng trải qua cơn giận dữ mà không có hành động hay tình huống khiêu khích cụ thể (ví dụ như “Tôi rất dễ giận dữ”) Thang R đo lường tần suất trải qua cảm giác tức giận trong các tình huống liên quan đến sự thất vọng và/hoặc đánh giá tiêu cực (ví

dụ như “Tôi cáu giận khi tôi bị chỉ trích trước mặt người khác”)

TAS có độ tin cậy nhất quán bên trong nằm trong khoảng từ 0.81 đến 0.91 Độ tin cậy nhất quán theo thời gian là 0.71 Thang đo này tương quan thuận với nhiều công cụ đo lường về

sự tức giận và thù địch như Thang đánh giá sự thù địch Buss-Durkee (Spielberger, 1988)

Một loạt nghiên cứu của Deffenbacher & cs (1996) đã so sánh thang đo TAS với rất nhiều thang đo khác và cho thấy khái niệm về nét tức giận có độ hiệu lực khái niệm (construct validity) cũng như độ hiệu lực hội tụ (convergent validity) và độ độ hiệu lực phân biệt

(discriminant validity) đáng kể Các nghiên cứu chứng minh được rằng những người có nét tức giận cao trải qua cơn giận dữ dội và thường xuyên hơn, sự thể hiện tức giận của họ ít mang tính xây dựng hơn và có những hậu quả nghiêm trọng hơn Ngoài ra, nét tức giận là một dự báo tốt hơn về tần suất trạng thái tức giận, so với tần suất của các cảm xúc thường gặp khác như lo lắng hay trầm cảm và các hành vi như trở nên say xỉn Thang đo TAS là một công cụ đáng tin cậy để

đo lường về tức giận nói chung

Với tổng số 311 dữ liệu thu thập được trong suốt quá trình nghiên cứu, độ tin cậy này càng được xác nhận với sự nhất quán bên trọng mạnh, α = 0.83 và các tiểu mục có tương quan chặt chẽ với nhau với hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0.30 (Cristobal & cs., 2007), từ

Trang 27

0.40 đến 0.72

Thang đo các yếu tố hình thức trị liệu nghệ thuật (The Formal Elements Art Therapy Scale – FEATS)

Thang đo này ban đầu được sử dụng đi kèm với tranh Người hái táo (PPAT) nhưng sau

đó được chứng minh có thể áp dụng cho đa dạng các tranh khác nhau, với các đối tượng khác nhau, cả lâm sàng và phi lâm sàng (Gantt & Tabone, 2012) nhờ việc tập trung vào hình thức, cấu trúc tranh hơn là nội dung Thang đo FEATS bao gồm 14 thang đo để đo lường các yếu tố hình thức của một tranh vẽ (ví dụ như chất lượng đường nét, cách sử dụng không gian và màu sắc), được xếp hạng trên thang Likert với điểm từ 0 đến 5 Mặc dù viết ra dựa trên Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần (DSM) nhưng việc sử dụng không ràng buộc với các phân loại này

Các nghiên cứu về tính xác thực và độ tin cậy (Gantt & Tabone, 1998; Gantt, 2001; Munley, 2002) đã chứng minh thang đo FEATS là một công cụ đáng tin cậy để đo lường các các yếu tố hình thức Tính nhất quán bên trong của 14 thang điểm đã được kiểm tra với ba nhóm người đánh giá tranh vẽ từ các chuyên môn khác nhau và cho ra kết quả cao (Gantt, 1990; Gantt

& Tabone, 1998) Với hầu hết các mục, độ tin cậy trên hệ số đồng thuận là 0.90 hoặc lớn hơn, trừ thang đo Góc xoay và Hành động lặp lại Nan và Hinz (2012) đã thực hiện một nghiên cứu về ứng dụng thang đo này ở châu Á có kết quả về độ Cronbach’s alpha là 0.87, cho thấy cả mối tương quan giữa các thang điểm và tính nhất quán bên trong đều cao

Nghiên cứu trong đề tài này không sử dụng tất cả các mục trong FEATS vì một số tiểu thang đo được thiết kế đặc trưng cho việc đánh giá tranh Người hái táo và không phù hợp với mục đích nghiên cứu (ví dụ như thang giải quyết vấn đề, mức độ phát triển) Trong khuôn khổ đề

Trang 28

tài, 8 tiểu thang đo được sử dụng, bao gồm: sự nổi bật của màu sắc (prominence of color), các màu sắc được sử dụng (colors used in the whole picture), năng lượng ngầm ẩn (implied energy), không gian (space), tính thống nhất (integration), tính hiện thực (realism), chất lượng đường nét (line quality), hành động lặp lại (perseveration) Cụ thể như sau:

Sự nổi bật của màu sắc đánh giá mức độ sử dụng màu sắc,bao nhiêu màu được sử dụng

để bao phủ tờ giấy trong toàn bộ bức tranh, chỉ sử dụng một màu

để phác thảo hình dáng hay tô màu cho cả các hình tượng và nền trong tranh

Các màu sắc được sử dụng liệt kê các màu có trong toàn bộ bức tranh

Năng lượng ngầm ẩn đo lường mức năng lượng được sử dụng để vẽ nên bức tranh

Không gian đo lường khoảng không gian trên tờ giấy được sử dụng để vẽ

Tính thống nhất mức độ cân bằng của các chi tiết trong việc hình thành một tổng

thể gắn kết, được mô tả ở các kiểu khác nhau như là "phân mảnh", "tổ chức không gian bị xáo trộn" và "tan rã"…

Tính hiện thực mức độ mà các chi tiết trong tranh được vẽ theo cách thực tế, có

thể nhận ra chi tiết đó là gì ở trong thực tế hay không

Chất lượng đường nét mô tả mức độ kiểm soát của một người lên các đường nét mà họ

vẽ, cách họ kiểm soát các hoạ cụ và bàn tay để tạo nên đường nét

Trang 29

khác nhau về độ dài và độ dày

Sự dai dẳng mô tả sự lặp lại của một yếu tố hình ảnh riêng lẻ hoặc một vận

động thô

Số liệu thu thập được sau quá trình đánh giá 40 tranh vẽ cho thấy hệ số nhất quán bên trong Cronbach’s alpha của thang FEATS trong nghiên cứu này là 0.65, ở mức chấp nhận được Tuy nhiên, hệ số tương quan biến tổng ở tiểu mục Không gian cho giá trị âm, không đáp ứng được khả năng phân biệt với các tiểu mục khác Do vậy, loại bỏ tiểu mục “Không gian” khỏi

những biến cần đo lường Khi đó, độ nhất quán bên trong của FEATS tốt hơn, với α = 0.73

Dữ liệu thu thập được từ hai người chấm tranh cho thấy độ tin cậy tốt giữa những người chấm qua hệ số tương quan nội hàm (Intraclass Correlation Coefficient - ICC) dao động từ 0.81 đến 0.92, chỉ riêng Chất lượng đường nét có ICC = 0.71, đạt sự đồng thuận ở mức trung bình (Koo & Li, 2016) Hệ số tương quan nội hàm của từng tiểu mục được trình bày ở bảng bên dưới:

Bảng 1

Hệ số tương quan nội hàm của các tiểu mục trong thang đo FEATS

Sự nổi bật của màu sắc

Năng lượng ngầm ẩn

Tính thống nhất

Tính hiện thực

Chất lượng đường nét

Sự dai dẳng

Trang 30

Thang điểm Patient Health Questionaire (PHQ-9) và Generalized Anxiety Disorder (GAD-7)

PHQ-9 (Patient Health Questionnaire 9-item) được xây dựng bởi Kroenke, Spitzer, & Williams (2001) Thang đo bao gồ m 9 mục mô tả triệu chứng của trầm cảm chẳng ha ̣n như

“Không hứng thú với việc gì cả” hay“Cảm thấy buồn bã, chán nản, hay vô vọng” Khách thể

được yêu cầu đánh giá mức độ thường xuyên của các câu mô tả trong vòng 2 tuần vừa qua theo

thang Likert 4 điểm với 1 là “Không chút nào” và 4 là “Gần như mọi ngày” Hệ số Cronbach’s

alpha củ a PHQ-9 là 0.89 cho thấy thang có sự nhất quán giữa các mục rất tốt với điểm cắt là 10.14 (Kroenke, Spitzer, & Williams, 2001)

PHQ-9 đã được dịch và chuẩn hoá ở Việt Nam, được công bố trong 3 nghiên cứu đã áp dụng thành công phiên bản chuẩn hoá tiếng Việt này (Nguyen và cs., 2016; Nguyen & Vo, 2009; Tuan & Nguyen, 2011) Phương pháp chuẩn hoá cho kết quả độ nhạy là 73.1% và độ chuyên là 86.6% Những nghiên cứu trên sử dụng điểm cắt là 10 để phân biệt giữa khách thể có và không

có triệu chứng trầm cảm Do vậy, điểm cắt 10 cũng được sử dụng trong đề tài này

GAD-7 (Generalized Anxiety Disorder 7) có hệ số nhất quán bên trong cao với α = 0.92,

độ tin cậy nhất quán theo thời gian là 0.83 (Spitzer & cs., 2006) GAD-7 được sử dụng để đánh giá các triệu chứng lo âu nói chung ở những bối cảnh và cộng đồng dân cư khác nhau (Johnson

& cs., 2019) GAD-7 bao gồm 7 câu hỏi, khách thể được yêu cầu đánh giá mức độ thường xuyên của các câu mô tả có trong bảng hỏi theo thang Likert 4 điểm vớ i 0 là “Không chút nào” và 3 là

“Gần như mọi ngày” Nghiên cứu của Kroenke và cs (2007) cho thấy ở điểm cắt là 10, cả độ

nhạy và độ chuyên đều lớn hơn 80% Điểm cắt 10 cũng được sử dụng trong đề tài này để phân biệt giữa khách thể có và không có triệu chứng lo âu

GAD-7 phiên bản tiếng Việt chưa được chuẩn hoá chính thức nhưng cũng đã được sử

Trang 31

dụng rộng rãi ở các cơ sở thực hành và trong nhiều nghiên cứu khác nhau, ở những độ tuổi và vùng miền khác nhau (Dung & cs., 2021; Pollack, Weiss & cs., 2018; Nguyen & cs., 2016) Điển hình trong nghiên cứu gần đây của Collier & cs (2019) trên 970 người trưởng thành tại Việt Nam cho thấy hệ số nhất quán bên trong của GAD-7 được thích nghi trong tiếng Việt đáng tin

Thang đo Nét tức giận (TAS) được trả lời thí điểm trên 44 khách thể Kết quả của quá trình thí điểm này cho hệ số Cronbach’s alpha là 0.73, được cho là đủ tốt để sử dụng (Taber, 2017) Vì tính chất phức tạp của quá trình đánh giá tranh nên thang đo các yếu tố hình thức nghệ thuật (FEATS) không được thí điểm trước khi sử dụng

Trang 32

Hoạ cụ

Vì bối cảnh làm việc trực tuyến, khách thể được yêu cầu tự chuẩn bị hoạ cụ tại nhà, bao gồm giấy A4 trắng và màu vẽ tuỳ chọn như sáp màu, chì màu, màu lông, sáp dầu Không sử dụng những vật liệu nổi hay cắt dán tranh vì không nằm trong phạm vi nghiên cứu

Vào đầu buổi trải nghiệm, một bảng hỏi ngắn được gửi đến người tham gia, trong đó có phần liệt kê những hoạ cụ mà khách thể sẵn có để sử dụng trong hoạt động vẽ tranh cảm xúc tức giận Dữ liệu này được ghi nhận để xem xét về sự không đồng nhất hoạ cụ trong thiết kế nghiên cứu này

Quy trình

Khách thể tự nguyện tham gia trả lời bảng câu hỏi trực tuyến Việc có tham gia vào buổi trải nghiệm nghệ thuật cũng được thông báo ở đầu của bảng hỏi trực tuyến này Sau đó, số liệu thu thập được từ bảng câu hỏi trực tuyến được tính toán để chọn ra những khách thể thoả mãn tiêu chí nghiên cứu bao gồm có điểm số từ thang TAS <16 hoặc > 22

Vì tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian thu thập dữ liệu, các khách thể này đã tham gia một buổi trải nghiệm nghệ thuật trực tuyến với việc

tổ chức và nội dung như sau:

- Người tham gia được chia vào các nhóm một cách ngẫu nhiên với 8-10 người trong một nhóm Tất cả các nhóm là nhóm đóng và được hướng dẫn bởi một người điều phối đã được đào tạo về trị liệu nghệ thuật Người tham gia có quyền ngừng tiến trình và sự hợp tác nghiên cứu bất cứ khi nào mà không phải chịu trách nhiệm gì thêm

- Tất cả khách thể được gửi một bảng “Hướng dẫn tham gia hoạt động nhóm trực tuyến” trước buổi làm việc Trong đó đề cập về các nguyên tắc làm việc (như bảo mật, chuẩn bị không

Trang 33

gian yên tĩnh, riêng tư…), cách thức tham gia vào nhóm qua nền tảng Google Meet, chuẩn bị hoạ cụ, hướng dẫn chụp hình tranh và tải tranh lên Google Drive, hướng dẫn ban đầu cho hoạt động thư giãn Sự chuẩn bị này không chỉ giúp quá trình làm việc nhóm diễn ra suôn sẻ hơn mà còn giúp người tham gia hình dung rõ nét về tiến trình và cách thức làm việc để tự do quyết định rằng mình có phù hợp để tham gia vào nghiên cứu hay không

- Buổi trải nghiệm được diễn ra trong hai tiếng bao gồm các phần diễn tiến theo thứ tự lần lượt như phần trình bày dưới đây Trước khi vẽ tranh và sau mỗi phần trên, khách thể được gửi một đường truy cập để tự đánh giá về mức độ tức giận chủ quan ở mỗi giai đoạn khác nhau

1 Phần vẽ tranh: khách thể có 20 phút để hoàn thành tranh với các hoạ cụ sẵn có, kèm lời

hướng dẫn: “Nếu tức giận là một thứ bạn có thể thấy thì nó sẽ trông như thế nào? Hãy

vẽ một bức tranh về cảm xúc tức giận.” Tranh vẽ khi hoàn thành được khách thể tải lên

thư mục Google Drive, tên tập tin là mã số nghiên cứu Thư mục này được cài đặt ở chế

độ không thể tải tranh về máy cá nhân và được xoá ngay sau khi buổi làm việc kết thúc

2 Phần chia sẻ về tranh: dùng phương pháp tâm trí hoá giúp khách thể hiểu biết về bản thân một cách sâu sắc hơn qua hình ảnh mình tạo ra; cũng nhờ đó, những mâu thuẫn và khó chịu có thể được bộc lộ ra bên ngoài Fulde (1988) tin rằng điều này có thể giúp cái tôi được bảo vệ khỏi sự lo lắng quá tải, giúp giải toả căng thẳng Tâm trí hoá được xem

là khả năng riêng biệt của con người để nắm bắt trạng thái tinh thần (ví dụ như nhu cầu, mong muốn, cảm giác, niềm tin, mục đích và động cơ) của chính mình và của người khác qua việc nhận thức và diễn giải hành vi được bộc lộ ra bên ngoài (Bateman & Fonagy, 2016) Kỹ thuật tâm trí hoá được sử dụng trong trị liệu tập trung vào việc khám phá rõ ràng các trạng thái tinh thần, cảm xúc bằng các kỹ thuật đặt câu hỏi đặc biệt

(Schultz-Venrath & Felsberger 2016), chẳng hạn: “Bây giờ bạn cảm thấy như thế nào?”,

Trang 34

“Theo bạn, người khác/tôi sẽ cảm thấy như thế nào khi nhìn vào bức tranh này?”,

“Theo nhóm, người vẽ cảm thấy như thế nào khi vẽ bức tranh này?”

3 Phần thư giãn có hướng dẫn: Vì tức giận là một cảm xúc khó chịu nên các kỹ thuật thư giãn hít thở ngắt quãng và căng giãn cơ được sử dụng nhằm giúp người tham gia điều hoà cảm xúc, giảm căng thẳng và được xoa dịu

Sau khi thu thập đủ dữ liệu, tranh vẽ được gửi đến hai người đánh giá để chấm tranh theo thang FEATS Hai người đánh giá đọc sổ tay hướng dẫn đánh giá và cùng bàn luận thống nhất về cách chấm tranh và những điều có thể gây trở ngại, sau đó mỗi người đánh giá tranh độc lập Người chấm tranh là người đã được đào tạo về trị liệu nghệ thuật và cách xem xét tranh nói chung Điểm chấm tranh giữa những người đánh giá được tính hệ số tương quan nội hàm

(Intraclass Correlation Coefficient - ICC) để đảm bảo độ tin cậy Dữ liệu này tiếp tục được sử dụng trong việc kiểm định sự khác biệt về các yếu tố hình thức nghệ thuật trong tranh vẽ cảm xúc tức giận giữa hai nhóm người có nét tức giận cao và thấp, đồng thời xem xét mối tương quan giữa các biến

Kết quả từ các phương pháp thống kê được phân tích, so sánh với những nghiên cứu và lý thuyết đã có để bàn luận sâu hơn về các yếu tố hình thức có thể có khả năng giúp phân biệt giữa nhóm nét tức giận thấp và nét tức giận cao trong bối cảnh Việt Nam

Đạo đức nghiên cứu

Với quan điểm sản phẩm nghệ thuật phản ánh đời sống tinh thần của chủ thể, cần thiết để đảm bảo tính bảo mật về danh tính của khách thể và ẩn danh của dữ liệu từ bảng hỏi và tranh vẽ Thông tin bảng hỏi và tranh vẽ của khách thể được nhận diện và lưu trữ bằng mã số

Khách thể được thông tin về mục đích của nghiên cứu, cách dữ liệu được sử dụng và

Trang 35

quyền rút khỏi nghiên cứu bất cứ lúc nào Sau khi đã hiểu biết về vấn đề trên, 100% khách thể xác nhận vào bản đồng thuận tham gia nghiên cứu cũng như phiếu chấp thuận cho phép sử dụng tranh vẽ và câu trả lời từ bảng hỏi để làm dữ liệu cho nghiên cứu

Một số nguyên tắc trong nhóm được trao đổi và thống nhất ngay khi bắt đầu cũng như nhắc lại nhiều lần trong suốt tiến trình làm việc, bao gồm: Tôn trọng chính mình và những người khác, không đánh giá, phán xét người khác và sản phẩm của người khác; Giữ bảo mật Khách thể cũng được làm rõ rằng tiến trình trải nghiệm sẽ không đi quá sâu với các khó khăn của bản thân cũng như không thể giải quyết hết mọi vấn đề Sau tiến trình, những khách thể có nhu cầu được chuyển gửi đến những dịch vụ chăm sóc sức khỏe tinh thần phù hợp hơn Thông tin liên hệ của những nhà tham vấn – trị liệu đáng tin cậy luôn sẵn sàng để có thể chuyển gửi khách thể khi cần thiết Người điều phối luôn hiện diện đến cuối cùng để hỗ trợ ngắn và ngay tức thời một cách cá nhân khi có lời đề nghị

Ngoài ra, vì tức giận là một cảm xúc không dễ chịu nên sau khi vẽ tranh, khách thể có cơ hội chia sẻ cảm xúc, tâm trí hoá trong nhóm, được nâng đỡ, hỗ trợ bởi người điều phối cũng như các thành viên khác trong nhóm và tham gia hoạt động thư giãn có hướng dẫn vào cuối buổi

Bảo vệ, chăm sóc người điều phối cũng là một trong những vấn đề đạo đức cần quan tâm Người điều phối được hỗ trợ và giám sát trong quá trình thu thập dữ liệu Ngoài ra, người điều phối cũng được khuyến khích vệ sinh tâm trí (mental hygiene) bằng việc vẽ vào nhật ký sau mỗi buổi làm việc Các cộng tác có mặt để hỗ trợ cho một số vấn đề về mặt kỹ thuật để quá trình làm việc trực tuyến diễn ra suôn sẻ và đảm bảo sự ổn định giúp người điều phối chính có thể tập trung vào nhóm

Để đảm bảo an toàn cho dữ liệu, tranh vẽ được khách thể tự tải lên thư mục Google Drive

Trang 36

đã hạn chế quyền truy cập Người làm nghiên cứu tải tranh về máy tính cá nhân và xoá khỏi thư mục Drive ngay sau khi kết thúc buổi làm việc Tất cả người tham gia và cộng tác viên cũng ngay lập tức được đưa ra khỏi danh sách có thể truy cập vào thư mục Tên của tệp là mã số nghiên cứu của khách thể để đảm bảo danh tính không bị rò rỉ

Tranh vẽ cảm xúc tức giận của khách thể gửi đến cho hai người đánh giá để chấm tranh độc lập theo Thang đo các yếu tố hình thức trị liệu nghệ thuật (FEATS) Hệ số tương quan nội hàm (ICC) được tính toán để phản ánh sự khác biệt giữa hai người đánh giá đo lường cùng một nhóm đối tượng ICC > 0.75 (Koo & Li, 2016) được cho là có thể chấp nhận được và gợi ý rằng những người đánh giá thực sự đang xếp hạng các yếu tố giống nhau Điểm số của hai người đánh giá là thang đo khoảng nên sau khi thoả mãn điều kiện đồng thuận trên, kết quả thu được từ hai người chấm tranh sẽ được lấy điểm trung bình và tiếp tục sử dụng Independent Sample t-test để kiểm định giả thuyết chính (Ross & cs., 2017) về sự khác biệt giữa điểm trung bình của các yếu

tố hình thức nghệ thuật trong tranh vẽ cảm xúc tức giận trong hai nhóm người độc lập - nhóm có nét tức giận cao và nhóm có nét tức giận thấp

Trang 37

Chương III: Kết quả và bàn luận Kết quả nghiên cứu

hơn một nửa tổng khách thể hiện đang là sinh viên (65%) Các khách thể trong nhóm này báo cáo

mức triệu chứng trầm cảm trên thang PHQ-9 trung bình (M = 11.10, SD = 5.72), triệu chứng lo

âu lan toả trên thang GAD-7 nhẹ (M = 8.23, SD = 5.46), chỉ số này cho thấy bình quân về sức

khoẻ tâm thần trong mẫu là tương đối bình thường, có thể đại diện cho nhóm dân số không có rối

loạn Ngoài ra, các yếu tố khác được trình bày cụ thể qua Bảng 2

Trang 38

Bảng 2

Thống kê mô tả đặc điểm mẫu tham gia nghiên cứu (N=40)

5 – thành thạo, chuyên nghiệp 1 2.5

Việc thu thập dữ liệu tranh vẽ được diễn ra trực tuyến nên khách thể được đề nghị tự chuẩn

bị hoạ cụ cho hoạt động vẽ tranh của mình Phần lớn khách thể có một loại hoạ cụ (60%) và hai loại màu có sẵn nhiều nhất là sáp màu và chì màu với lần lượt là 40% và 35%

Trang 39

Thống kê mô tả các biến độc lập và biến phụ thuộc

Bảng dưới đây cung cấp các mô tả về dữ liệu ghi nhận được của Nét tức giận và Các yếu

tố hình thức nghệ thuật trong tranh vẽ, lần lượt theo hai thang đo là TAS và FEATS Mô tả số liệu ban đầu cho thấy không có sự chênh lệch đáng kể về điểm trung bình giữa nhóm có nét tức giận cao và thấp ở tất cả các yếu tố hình thức được đo lường Ngoài ra, điểm trung bình nét tức giận của tổng mẫu nằm ở ngay dưới ngưỡng mức cao, các tiểu thang đo Tính khí và Phản ứng ở mức trung bình

Trang 40

Bảng 4

Giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của các biến chính

Tổng Nhóm cao Nhóm thấp Tổng Nhóm cao Nhóm thấp Các yếu tố hình thức

Sự nổi bật của màu sắc

3.16 3.05 2.41 2.25 3.43 3.27

3.19 3.17 2.67 2.47 3.53 3.33

1.25 83 1.31 1.46 1.02 1.33

1.37 77 1.27 1.42 1.09 1.42

1.14 92 1.38 1.55 95 1.25

Nét tức giận

Tính khí

Phản ứng

21.33 8.05 9.23

27.50 10.5 11.8

13.8 5.06 6.11

7.46 3.27 3.32

3.86 2.26 2.07

1.15 1.00 1.20

Ngoài ra, màu sắc sử dụng trong tranh vẽ cảm xúc tức giận cũng được ghi nhận trong 40

dữ liệu thu thập được Trong đó, màu đỏ là màu được sử dụng nhiều nhất, với 82.5%, kế theo đó

là màu đen với 65% và màu xanh dương, màu vàng với cùng 50% số lượng tranh vẽ có xuất hiện Như vậy, màu đỏ là màu sắc chủ đạo trong tranh vẽ cảm xúc tức giận ở nghiên cứu này

Ngày đăng: 29/06/2023, 23:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w