đề Đài Loan dưới lăng kính của Chủ nghĩa Hiện thực tấn công sẽ góp phần làm rõ cuộc cạnh tranh Trung - Mỹ cũng như mối quan hệ giữa các quốc gia và vấn đề xung đột - hợp tác trong nền ch
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành Luận văn Thạc sĩ này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, Học viên
đã nhận được sự quan tâm sâu sắc, sự giúp đỡ chân thành, sự hướng dẫn tận tình của
nhiều thầy giáo, cô giáo, lãnh đạo, cán bộ quản lý giáo dục, bạn bè và người thân
Đặc biệt, Học viên xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành nhất đến người hướng dẫn
khoa học Tiến sĩ Nguyễn Minh Mẫn đã tận tâm hướng dẫn, luôn ủng hộ và động viên
Học viên vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành công trình này
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐÀI LOAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH MỸ - TRUNG DƯỚI GÓC NHÌN HIỆN THỰC 25
1.1 Vị trí địa lý 25
1.2 Lược sử Đài Loan 26
1.2.1 Nội chiến Quốc - Cộng 26
1.2.2 Hậu Thiết quân luật 30
1.3 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về cạnh tranh Mỹ - Trung 31
1.3.1 Quan điểm của chủ nghĩa hiện thực về cạnh tranh giữa các cường quốc 31
1.3.2 Khái quát quan hệ cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung từ sau nội chiến Quốc - Cộng đến năm 2012 34
1.3.3 Tiếp cận vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mỹ - Trung từ góc nhìn hiện thực tấn công 36
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI ĐÀI LOAN 40
2.1 Chính sách “Một nước Trung Quốc”: Nền tảng then chốt trong quan hệ Mỹ - Trung 40
2.1.1 Bối cảnh và nội dung chính sách “Một quốc gia, Hai chế độ” 40
2.1.2 Nguyên tắc “Một nước Trung Quốc” trong giải quyết vấn đề Đài Loan 44
2.2 Chính sách của Trung Quốc đối với Đài Loan dưới thời Tập Cận Bình 47
2.3 Luật chống li khai 50
2.3.1 Bối cảnh 50
2.3.2 Ý nghĩa “Luật Chống li khai” của Trung Quốc 53
CHƯƠNG 3: CHÍNH SÁCH CỦA MỸ ĐỐI VỚI ĐÀI LOAN 57
3.1 Lợi ích của Mỹ ở Đài Loan 57
3.2 Thay đổi chính sách của Mỹ đối với Đài Loan 59
Trang 43.3 Đặc trưng chính sách của Mỹ đối với Đài Loan 68
3.3.1 Tính mơ hồ chiến lược 68
3.3.2 Nguyên tắc quan hệ 71
CHƯƠNG 4: NHÂN TỐ ĐÀI LOAN TRONG QUAN HỆ TRUNG – MỸ 77
4.1 Quan điểm cứng rắn của Đài Loan đối với Nhận thức chung 1992 77
4.2 Vấn đề Đài Loan trong quan hệ giữa hai cường quốc Trung Quốc và Hoa Kỳ 82
4.3 Viễn cảnh hai bờ eo biển Đài Loan 85
4.3.1 Viễn cảnh 1: Duy trì hiện trạng eo biển Đài Loan 85
4.3.2 Viễn cảnh 2: Đài Loan trở về với Trung Quốc bằng phương thức hòa bình 92
4.3.3 Viễn cảnh 3: Vấn đề Đài Loan diễn biến căng thẳng và bạo lực 93
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 ADB Asian Development Bank Ngân hàng Phát triển châu Á
2 ADMM+ ASEAN Defence Ministerial
Meeting Plus
Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng
3 AIIB The Asian Infrastructure
Investment Bank
Ngân hàng Phát triển hạ tầng châu Á
5 ARIA The Asia Reassurance Initiative
Act
Đạo luật sáng kiến tái đảm bảo châu Á
6 ARF Asian Regional Forum Diễn đàn Khu vực Châu Á
7 ASEAN Association of Southeast Asian
Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
8 ASEM The Asia-Europe Meeting Hội nghị thượng đỉnh Á – Âu
11 CA - TBD Asia Pacific Châu Á - Thái Bình Dương
14 CPTPP Comprehensive and Progressive
Agreement for Trans - Pacific Partnership
Hiệp định Đối tác toàn diện
và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
Trang 619 EAS East Asia Summit Hội nghị Cấp cao Đông Á
21 FTA Free Trade Agreement Hiệp định Thương mại tự do
23 IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
24 INF Intermediate-Range Nuclear
Forces Treaty
Hiệp ước Lực lượng hạt nhân tầm trung
36 TPP Trans - Pacific Partnership
Agreenment
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương
37 UNESCO United Nations Educational
Scientific and Cultural Organization
Tổ chức Văn hóa, Giáo dục và Khoa học Liên hợp quốc
38 UNSC United Nations Security Council Hội đồng Bảo an Liên hợp
Trang 7quốc
41 WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quan hệ Trung - Mỹ là một trong những cặp quan hệ đóng vai trò quan trọng trong các vấn đề quốc tế và định hình trật tự thế giới Hai quốc gia đều có khả năng ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu trên nhiều lĩnh vực khác nhau từ chính trị, kinh tế
và văn hóa Sự mở rộng ảnh hưởng của nước này, trong cách tiếp cận của bên còn lại, sẽ thu hẹp lợi ích của bên kia Hoa Kỳ có mục tiêu chiến lược không đổi là duy trì vai trò lãnh đạo toàn cầu và một trật tự quốc tế có lợi cho họ, kiềm chế và không cho Trung Quốc nổi lên thách thức vị thế của cường quốc hàng đầu thế giới Trong khi đó, Trung Quốc luôn tìm cách vươn lên trở thành một trung tâm quyền lực quan trọng, xây dựng một trật tự thế giới đa cực mới, đối trọng và cạnh tranh trực diện với Hoa Kỳ
Vùng lãnh thổ Đài Loan là nhân tố quan trọng chi phối quan hệ Trung – Mỹ từ sau năm 1949 đến nay Trong thời hiện đại, Đài Loan về địa lý vẫn nằm trên đường giao cắt của hầu hết các điểm nguy hiểm của vùng Đông Á Thậm chí một xung đột trên bán đảo Triều Tiên cũng có thể bị ảnh hưởng bởi các hoạt động có thể được phát động từ Đài Loan Kiểm soát được Đài Loan sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông và cho phép nước này khẳng định các tuyên bố đơn phương về cái gọi là chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải của mình chống lại Philippines, Việt Nam, Malaysia và Brunei Trong khi đó, Mỹ lại cố gắng duy trì hiện trạng của Đài Loan, xem Đài Loan như một mắc xích quan trọng trong chiến lược ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Trong một bản ghi nhớ năm 1982, Tổng thống Ronald Reagan đã nhấn mạnh rằng “số lượng và chất lượng vũ khí cung cấp cho Đài Loan hoàn toàn dựa trên mối đe dọa từ Trung Quốc” Năm 2019, Hoa Kỳ đã phê duyệt hơn 10 t đô la doanh số bán vũ khí cho Đài Loan
Mối quan hệ giữa hai cường quốc thế giới Trung - Mỹ sẽ tiếp tục có những ảnh hưởng, chi phối lớn đến hệ thống QHQT, tác động không nhỏ đến quá trình hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại của nhiều quốc gia trên thế giới, trong
đó có Việt Nam Việc phân tích và nghiên cứu quan hệ Trung - Mỹ, đặc biệt là vấn
Trang 9đề Đài Loan dưới lăng kính của Chủ nghĩa Hiện thực tấn công sẽ góp phần làm rõ cuộc cạnh tranh Trung - Mỹ cũng như mối quan hệ giữa các quốc gia và vấn đề xung đột - hợp tác trong nền chính trị quốc tế… đồng thời là cơ sở để dự báo xu thế vận động của vấn đề Đài Loan trong cạnh tranh Trung - Mỹ trong tương lai Do vai trò, vị trí quan trọng cũng như năng lực, biểu hiện rất năng động của nền kinh tế vùng lãnh thổ Đài Loan, cần thiết xem xét vùng lãnh thổ này như một bên để tiến hành phân tích các cặp quan hệ Hoa Kỳ - Đài Loan và Đài Loan - Trung Quốc Nghiên cứu cũng góp phần phục vụ cho công tác tham mưu và định hướng cho quá trình hoạch định chính sách của Việt Nam phù hợp với những xu thế chung của thế giới và điều kiện, hoàn cảnh riêng biệt của nước ta
Đó là lý do học viên chọn đề tài “Nhân tố Đài Loan trong quan hệ Trung - Mỹ
từ năm 2012 đến nay” làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ Quốc tế Thông qua việc đánh giá vị trí địa chiến lược của Đài Loan trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trên cơ sở nghiên cứu lập trường của trung Quốc và Chính sách của
Mỹ đối với Đài Loan, học viên hy vọng sẽ đánh giá nhân tố Đài Loan trong quan hệ Trung - Mỹ, góp phần hiểu rõ cục diện thế giới và quan hệ quốc tế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
2.1 Tài liệu trong nước
Ở trong nước, trong các công trình chuyên khảo liên quan đến lý thuyết QHQT,
trước hết phải kể đến cuốn “Lý thuyết Quan hệ quốc tế” do tác giả Hoàng Khắc
Nam chủ biên được NXB Thế giới phát hành năm 2017 Cuốn sách đã tập hợp, hệ thống lại các lý thuyết cơ bản cũng như những vấn đề lý luận chủ yếu của QHQT hiện nay Cuốn sách thực sự là một tài liệu chuyên khảo hữu ích đối với công tác
Trang 10nghiên cứu, học tập trên lĩnh vực QHQT và đối ngoại, đặc biệt nghiên cứu về nền tảng lý luận khi giải thích các sự kiện quốc tế
Trong cuốn “Ba mô hình lý thuyết và quan điểm của Đảng ta hiện nay về Quan
hệ quốc tế” (NXB Chính trị quốc gia, 2013), tác giả Vũ Thế Hiệp đã giới thiệu một
cách khái quát ba mô hình lý thuyết nền tảng trong đó có CNHT, sau đó đi sâu phân tích những nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng
và Nhà nước ta hiện nay về QHQT Cuốn sách không chỉ cung cấp những nhận thức cơ bản về QHQT mà còn giúp nghiên cứu sinh có thêm những cơ sở quan trọng trong quá trình nghiên cứu, xây dựng các đề xuất, kiến nghị về CSĐN của Việt Nam trước tác động của cạnh tranh giữa các nước lớn
Liên quan đến CNHT để giải thích vấn đề cạnh tranh quyền lực trong QHQT
phải kể đến cuốn sách chuyên khảo “Quyền lực trong Quan hệ quốc tế: Lịch sử và vấn đề” của tác giả GS.TS Hoàng Khắc Nam được NXB Văn hóa – Thông tin xuất
bản năm 2011 Thông qua cuốn sách này, tác giả có thêm cách tiếp cận từ nguồn gốc của vấn đề cạnh tranh, trong đó liên kết giữa vấn đề cạnh tranh địa chiến lược
và cạnh tranh quyền lực giữa các nước lớn để đạt được mục tiêu chiến lược dưới góc nhìn của CNHT Bên cạnh đó, đối với Việt Nam, cả trên phương diện vĩ mô lẫn
vi mô, cuốn sách là rất cần thiết bởi giúp nó giúp người đọc có cái nhìn tổng thể khi tham gia hoạch định chiến lược bởi quyền lực gắn bó chặt chẽ với lợi ích chính trị
và an ninh của đất nước
Quan hệ Trung – Mỹ là đề tài thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu,
Tác phẩm “Quan hệ Trung – Mỹ có gì mới” của nhà xuất bản Thông tấn năm 2001
đã đề cập tổng thể đến quan hệ Trung – Mỹ Phần I của tác phẩm đã phân tích khá
rõ quan hệ Trung – Mỹ trong những năm đầu thế kỉ XXI Đặc biệt trong phần III của sách có đề cập khá rõ đến vấn đề Đài Loan trong quan hệ Trung – Mỹ
Tác phẩm “Trung Quốc những chiến lược lớn” của tác giả Hồ An Cương chủ
biên, nhà xuất bản Thông tấn năm 2003 đề cập đến các chiến lược của Trung Quốc trong đó có đề cập đến chiến lược đối với Đài Loan trong chiến lược an ninh của Trung Quốc Tác giả đã nhận định: “giải quyết vấn đề Đài Loan là phản ánh trình
Trang 11độ năng lực tổng hợp của Trung Quốc, đặc biệt sử dụng năng lực ấy để bảo vệ an ninh quốc gia”
Tác phẩm “Trung Quốc trước thách thức thế kỉ XXI” Nhà xuất bản Văn hóa
thông tin năm 2003 đã phân tích khá rõ nhân tố Đài Loan trong quan hệ Trung – Mỹ
và bước đầu nhận định Mỹ xem Đài Loan là hàng không mẫu hạm không chìm và chiến hạm cung cấp cho tàu ngầm
Trong tác phẩm “Bàn về Trung Quốc trỗi dậy”, tác giả Lê Vĩnh Trương đã cung
cấp một lượng thông tin lớn, giúp người đọc phần nào nhìn nhận và lý giải sự trỗi dậy của Trung Quốc một cách rõ ràng và đầy đủ hơn
Tác giả Vương Bác Dương trong bài nghiên cứu “Lịch sử diễn tiến chuẩn bị đấu tranh quân sự của quân đội ta đối với Đài Loan từ sau cải cách mở cửa” đã
cung cấp thông tin về diễn tiến trong công tác chuẩn bị về mặt năng lực và tư tưởng của lãnh đạo và quân đội Trung Quốc đối với sự thay đổi của lực lượng chấp chính của vùng lãnh thổ Đài Loan Công tác chuẩn bị đấu tranh quân sự đối với vùng lãnh thổ Đài Loan trước nay vẫn liên tục, hình thức, quy mô không ngừng phát sinh biến hóa, đồng thời bản thân Trung Quốc trong công tác này tích lũy nhiều kinh nghiệm lịch sử quý báu
Tác giả Đặng Cẩm Tú trong bài nghiên cứu “Chiến lược an ninh quốc gia Mỹ
2017 và chiều hướng quan hệ Mỹ - Trung thời gian tới” cung cấp góc nhìn, đánh
giá của tác giả rằng Chiến lược an ninh quốc gia Mỹ (NSS 2017) báo hiệu một giai đoạn cạnh tranh và bất ổn mới trong quan hệ Mỹ - Trung Quốc Bài viết giúp làm rõ những điểm giống và khác biệt ở nội dung liên quan đến Trung Quốc trong Chiến lược an ninh quốc gia Mỹ của chính quyền Tổng thống Donald Trump
Tác giả Mỹ Châu trong bài viết “Một số suy nghĩ về tập hợp lực lượng của Mỹ tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” chỉ ra tập hợp lực lượng là một
trong những nhân tố quan trọng hàng đầu giúp Mỹ trở thành cường quốc thống trị
vũ đài chính trị quốc tế từ sau Chiến tranh thế giới thứ II cho đến ngày nay, trong các bối cảnh khác nhau, Mỹ luôn có sự điều chỉnh cách thức tập hợp lực lượng hiểu quả cho từng thời kỳ; từ đó tác giả rút ra kết luận cách thức tập hợp tại Châu Á -
Trang 12Thái Bình Dương của Mỹ từ sau chiến tranh thế giới thứ II đến nay luôn gắn liền với đánh giá về các thách thức đối với lợi ích quốc gia của Mỹ
Tác giả Bùi Khánh Nam và Bùi Thị Thu Huế trong bài viết “Điều chỉnh chính sách đối ngoại của Trung Quốc sau đại hội 19 và tác động đối với khu vực Đông Nam Á” đã cung cấp những hiểu biết cần thiết về đường lối phát triển và đối ngoại
mới, chính sách đối ngoại của Trung Quốc sau Đại hội 19 Đảng Cộng Sản Trung Quốc và những tác động lâu dài, sâu xa tới cục diện khu vực và thế giới trên các mặt chính trị, an ninh, kinh tế trong các cấu trúc khu vực và toàn cầu
Trong bài nghiên cứu “Trung Quốc kiếm tìm vị trí bá quyền khu vực – Một tương lai không xa” của tác giả Nguyễn Thành Trung và Nguyễn Cao Hùng, các tác
giả đã chứng minh sự phù hợp của lý thuyết Hiện thực tấn công và sử dụng lý thuyết này của John J.Mearsheimer thông qua một số dẫn chứng sự kiện, để rút ra kết luận về mục tiêu tìm kiếm vị trí bá quyền khu vực của Trung Quốc; trong quá trình này, Trung Quốc sẽ phải thách thức, cạnh tranh với Mỹ-quốc gia đang nắm giữ vị trí đứng đầu bảo trợ cho trật tự ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, dù rằng hai quốc gia này có sự tương thuộc kinh tế sâu sắc
Trong bài nghiên cứu “Tranh chấp Biển Đông và eo biển Đài Loan – Địa vị độc tôn và những thách thức của Hoa Kỳ”, tác giả Đoàn Ngọc Anh Khoa trình bày các
chính sách của Mỹ trong nỗ lực duy trì địa vị cường quốc thống trị; trước sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, xuất hiện những nghi vấn về trật tự thế giới và tính bền vững các liên minh do Mỹ đứng đầu, bài viết cho rằng Mỹ phải kịp thời có các cách thức phù hợp để duy trì vị thế thay vì từ bỏ, bỏ rơi các đồng minh
2.2 Tài liệu nước ngoài
Đầu tiên phải kể đến cuốn “Handbook of International Relations” (Cẩm nang
về QHQT) của các tác giả Walter Carlsnaes, Thomas Risse, Beth A Simmons do NXB SAGE xuất bản năm 2002, tái bản năm 2013, tập hợp 33 bài viết chất lượng của những học giả uy tín hàng đầu trên lĩnh vực QHQT đã giúp người đọc có một định hướng tương đối toàn diện và đa chiều khi tiếp cận các nội dung cơ bản của lý
Trang 13thuyết QHQT nói chung và đặc biệt là CNHT nói riêng để làm khung phân tích cho vấn đề cạnh tranh địa chiến lược trong QHQT
Cuốn “Introduction to International Relations: Theories and Approaches”
(Nhập môn QHQT: Lý thuyết và cách tiếp cận) là công trình nghiên cứu tiêu biểu của Robert Jackson và George Sorensen đã được NXB Đại học Oxford tái bản lần thứ 6 vào cuối năm 2015 Cuốn sách đã giới thiệu đến độc giả các lý thuyết quan trọng nhất về QHQT đặt dưới nhiều góc nhìn và cách tiếp cận khác nhau, từ đó cho phép người đọc có thể hình dung ra được thế mạnh và hạn chế của từng trường phái Đây là một tài liệu tham khảo rất hữu ích đối với học viên trong quá trình nghiên cứu, làm cơ sở để giải thích các vấn đề về xung đột, cạnh tranh quyền lực trong QHQT
Bàn về cách tiếp cận chiến lược của Hoa Kỳ đối với Cộng hoà nhân dân Trung
Hoa, báo cáo mang tên “US Strategic Approach to The Peoples Republic of China Report” của Hoa Kỳ đã nêu rõ Hoa Kỳ sẽ tiếp tục duy trì mối quan hệ không chính
thức mạnh mẽ với Đài Loan theo chính sách “Một Trung Quốc”, dựa trên Đạo luật
về Quan hệ Đài Loan và ba Thông cáo chung Hoa Kỳ Trung Quốc Hoa Kỳ duy trì quan điểm rằng việc giải quyết mọi bất đồng giữa các eo biển phải bằng phương thức hòa bình và phù hợp với mong muốn của người dân hai bên, mà không cần dùng đến cách thức đe dọa hoặc ép buộc Trong một bản ghi nhớ năm 1982, Tổng thống Ronald Reagan đã nhấn mạnh rằng “số lượng và chất lượng vũ khí cung cấp cho Đài Loan hoàn toàn dựa trên mối đe dọa từ Trung Quốc” Năm 2019, Hoa Kỳ
đã phê duyệt hơn 10 t đô la doanh số bán vũ khí cho Đài Loan
Các học giả Trung Quốc cũng có những nghiên cứu về vấn đề Đài Loan
trong quan hệ Trung – Mỹ, tác giả Lô Hiểu Hành với tác phẩm “Vấn đề Đài Loan trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc” đã đề cập khá rõ lập trường của Trung
Quốc trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan Ở góc độ nghiên cứu về “quyền lực mềm” các tác giả Viện nghiên cứu chính trị và kinh tế thế giới thuộc Viện Khoa học
Xã hội Thượng Hải đã đóng góp tác phẩm “Hệ thống quốc tế và quyền lực mềm của Trung Quốc” (国际体系与中国的软力量) Yếu tố địa chính trị được tác phẩm đề
Trang 14cập khá rõ, đối tượng phân tích của tác phẩm vẫn là chạy đua chiến lược Hoa Kỳ - Trung, trong đó có vấn đề Đài Loan, cũng như tác động của nó đến tình hình thế giới thập kỉ đầu thế kỉ XXI Ngoài ra còn có “Báo cáo sức mạnh quốc gia – 中国国力报告” của Chính phủ Trung Quốc là cơ sở để xác định cho các nhu cầu tiêu dùng
và phát triển hàng năm của xã hội Trên cơ sở các báo cáo, chính phủ Trung Quốc mới dự kiến cho chỉ tiêu phát triển kinh tế năm kế tiếp Các số liệu trong các báo cáo sẽ là nguồn tư liệu đáng tin cậy khi đánh giá về sức mạnh quân sự của Trung Quốc, một nhân tố Trung Quốc thường đề cập để thu hồi Đài Loan
Tác giả Trần Bái Siêu, Tôn Vân, Ôn Lương Khiêm trong bài nghiên cứu
“Phân tích lựa chọn sách lược và lợi ích của Đài Loan trong khuôn khổ Chiến lược
Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Mỹ” tập trung phân tích những điều chỉnh
chính sách của Mỹ đối với Châu Á từ khi Donald Trump nắm giữ vị trí Tổng thống
Mỹ Mỹ thay thế “Chiến lược Tái Cân Bằng” dưới thời Chính quyền Obama bằng
“Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương”, chính quyền của Tổng thống Donald Trump công bố Chiến lược an ninh quốc gia Mỹ (National Securitty Strategy – NSS 2017) cho rằng: chính sách can dự 40 năm qua của Mỹ đối với Trung Quốc đã không đạt hiệu quả thay đổi Trung Quốc như kỳ vọng, ngược lại còn là gia tăng năng lực thách thức Mỹ của Trung Quốc, Trung Quốc đang thách thức quyền lợi của Mỹ trên các mặt từ ý thức hệ, chính trị, kinh tế, quân sự,…Định
vị chiến lược của Trung Quốc đã thay đổi, Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh chiến lược của Mỹ, là quốc gia xét lại Trong bối cảnh cạnh tranh đối kháng của mối quan
hệ Trung - Mỹ, chính sách của người đứng đầu vùng lãnh thổ Đài Loan Thái Anh Văn là lợi dụng thế cục để chống đối Trung Quốc, trong đó đối tượng mượn thế là
Mỹ, mục tiêu lợi ích bao gồm an ninh, phát triển và mối quan hệ thực chất với Mỹ
Trong tác phẩm “Định mệnh chiến tranh: Mỹ và Trung Quốc có thể thoát bẫy Thucydides”, tác giả Graham Allison tiến hành phân tích tình thế của mối quan hệ
song phương Mỹ-Trung, làm rõ động cơ, thực lực, toan tính chiến lược, các điều kiện thúc đẩy, tính ngẫu nhiên dẫn đến đối đầu vũ trang trong cuộc tranh chấp quyền lực giữa một cường quốc thống trị và một cường quốc trỗi dậy Từ những phân tích và số liệu tác giả cung cấp trong tác phẩm, ông đưa ra những gợi ý về các
Trang 15khả năng và điều kiện để xử lý các vấn đề của mối quan hệ song phương quan trọng hàng đầu này theo phương hướng chiến tranh Mỹ - Trung không trở thành định mệnh
Sự gia tăng quyền lực của ông Tập Cận Bình đã đưa ra một chính sách đối ngoại mới quyết đoán và không khoan nhượng hơn đối với các nước láng giềng của Trung Quốc, Hoa Kỳ và cả phần còn lại của thế giới Sự thay đổi này đặt ra những thách thức lớn và cấp bách đối với Hoa Kỳ và Đài Loan nói trước các mục tiêu đầy tham vọng của ông Tập Cận Bình và các đòn bẩy làm tăng quyền lực của Đảng Cộng sản và Chính phủ Trung Quốc Sự thay đổi chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong k nguyên Tập Cận Bình và việc hiện đại hóa PLA theo thời gian đã làm tăng mối đe dọa đối với Đài Loan và tạo ra những rủi ro đồng thời đối với cả Hoa Kỳ Đài Loan và Hoa Kỳ có thể giải quyết thách thức do Trung Quốc đưa ra bằng cách củng cố mối quan hệ để thích nghi với k nguyên mới dưới sự lãnh đạo của Tập Cận Bình là những nhìn nhận của tác giả Drew Thompson (2020) trong bài
nghiên cứu “The Rise of Xi Jinping and China’s New Era: Implications for the United States and Taiwan”
Trong bài nghiên cứu “The One - China Policy: Adapting to Tensions in the Taiwan Strait” của nhà nghiên cứu James Lee (2021) cho rằng nhiều nhà quan sát
Hoa Kỳ ngày càng lo ngại về sự quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc trên diện rộng, mà cụ thể là với vấn đề Đài Loan Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ cho biết trong một báo cáo năm 2020 rằng quân đội Trung Quốc “có khả năng chuẩn bị cho một tình huống bất ngờ để thống nhất Đài Loan với Đại lục bằng vũ lực” Một chỉ huy quân sự hàng đầu của Hoa Kỳ ở Ấn Độ - Thái Bình Dương cảnh báo rằng Trung Quốc có thể cố gắng xâm lược Đài Loan trong vòng một thập k tới Các chuyên gia khác cho rằng thời gian “xâm lược” có thể xa hơn nhưng trong thời gian gần đây, tổng thống Biden đã nhắc lại rằng Hoa Kỳ sẽ ra tay bảo vệ Đài Loan nếu bị tấn công Tuy nhiên, theo nhận xét của tác giả, Trung Quốc sẽ tham chiến nếu họ cảm thấy mình bị lùi vào một góc và không còn lựa chọn nào khác, nhưng Trung Quốc
sẽ không tham chiến trừ khi hoàn toàn chắc chắn rằng họ sẽ thắng Vẫn còn một yếu
tố không chắc chắn về việc liệu Trung Quốc có thể thực sự thành công trong một
Trang 16cuộc xâm lược Đài Loan hay không, vì vậy tác giả nghĩ rằng Trung Quốc có thể sẽ thận trọng Chính phủ Đài Loan tỏ ra rất ôn hòa và thận trọng trong cách tiếp cận các mối quan hệ qua eo biển, vì vậy tác giả lạc quan về triển vọng ổn định ở eo biển Đài Loan Đối với vai trò của Hoa Kỳ, một phần là do không chắc liệu Hoa Kỳ có can thiệp vào cuộc xung đột xuyên eo biển hay không Hoa Kỳ không có cam kết nào sẽ đứng ra bảo vệ Đài Loan nếu Đài Loan bị tấn công Hoa Kỳ duy trì cái được gọi là tư thế “mơ hồ chiến lược” Hoa Kỳ chưa bao giờ nói liệu họ có can thiệp hay không và đó có nghĩa là một cách để giữ hòa bình ở eo biển Đài Loan Cho đến nay Bắc Kinh đã không thành công trong việc phá hoại nền dân chủ của Đài Loan Đài Loan rất nhạy cảm với thông tin sai lệch và họ đã cố gắng hạn chế sự lan truyền của thông tin sai lệch và tác giả không nghĩ rằng Bắc Kinh cảm thấy bị đe dọa bởi Đài Loan vì có vẻ như nền dân chủ của Đài Loan không ảnh hưởng đến sự phát triển ở Trung Quốc Đại lục Trong một thời gian dài, Trung Quốc coi Hồng Kông là hình mẫu cho việc Đài Loan sẽ trông như thế nào nếu Đài Loan được thống nhất với Trung Quốc Đại lục Người dân Đài Loan luôn hoài nghi về công thức đó và họ không nghĩ rằng Trung Quốc sẽ cai trị Đài Loan bằng một cách tiếp cận nhẹ nhàng Cuộc đàn áp gần đây đối với Hồng Kông đã khiến người dân Đài Loan chống lại ý tưởng Một quốc gia, Hai chế độ một cách khá dứt khoát
Theo nhà nghiên cứu Lee Dong Gyu (2021) trong bài phân tích “Prospects for the Taiwan Issue in the Era of U.S.-China Strategic Competition” thì cho rằng
Trung Quốc sẽ tăng cường gây áp lực lên Đài Loan để đảm bảo sự ủng hộ chính trị
trong nước và đáp trả chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Hoa Kỳ Vì
chính quyền bà Thái Anh Văn không thừa nhận “Nhận thức chung 1992” và bắt đầu đòi độc lập cho Đài Loan, chính quyền ông Tập Cận Bình đã đưa ra biện pháp ngoại
giao, áp lực kinh tế và quân sự đối với Đài Loan với ba mục đích: (1) chính quyền
ông Tập Cận Bình đang gửi một thông điệp cảnh báo tới chính quyền bà Thái Anh Văn và Hoa Kỳ Trung Quốc cho rằng chính sách ủng hộ độc lập của DPP và việc Hoa Kỳ ủng hộ Đài Loan là nỗ lực phủ nhận nguyên tắc Một Trung Quốc và tách Đài Loan ra khỏi Trung Quốc Do đó, Trung Quốc đang cố gắng làm suy yếu mong muốn độc lập của Đài Loan và làm gián đoạn sự can dự của Hoa Kỳ trong khu vực bằng cách tăng cường lo ngại về an ninh với Đài Loan thông qua áp lực ngoại giao,
Trang 17kinh tế và quân sự (2) chính quyền Tập Cận Bình đang tìm cách tăng cường hỗ trợ
chính trị trong nước Chính quyền Trung Quốc đã đảm bảo tính hợp pháp của Đảng cầm quyền bằng cách vận động cho “Sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Quốc”
và khuyến khích chủ nghĩa dân tộc ở quê nhà Các hành động khiêu khích quân sự liên tục của Trung Quốc đối với Đài Loan rất hữu ích trong việc truyền bá nhận thức rằng chính quyền Tập Cận Bình đang đấu tranh vì lợi ích của đất nước Trung
Quốc và tập hợp sự ủng hộ chính trị của người dân Trung Quốc (3) Trung Quốc
đang phản ứng chiến lược với chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Hoa Kỳ Nếu Trung Quốc bỏ qua chính sách ủng hộ độc lập của Đài Loan và sự hỗ trợ của Hoa Kỳ đối với Đài Loan, thì điều đó sẽ làm tăng nguy cơ Hoa Kỳ kiềm chế Trung Quốc thông qua Đài Loan, lãnh thổ nằm gần Trung Quốc Theo nghĩa đó, Trung Quốc đang cố gắng làm gián đoạn sự hợp tác giữa Hoa Kỳ và Đài Loan và
giảm phạm vi chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Hoa Kỳ
Các học giả được đề cập bên trên như đã đưa ra nhiều phân tích cụ thể và cùng cho rằng Trung Quốc sẵn sàng thực thi các chính sách mạnh mẽ để có thể thay đổi chính phủ hiện hành của Đài Loan hoặc ít nhất là thay đổi những quan điểm mà Trung Quốc xem là “lệch lạc” Tuy nhiên các tác giả chưa đưa ra được những nguyên nhân sâu xa đằng sau những chính sách cứng rắn đó và cách tiếp cận của Trung Quốc, đồng thời chưa nhấn mạnh và làm nổi bật được vai trò của Hoa Kỳ - đồng minh thân cận của Đài Loan và giữ vai trò quan trọng trong mối quan hệ giữa hai bờ eo biển Thực tế đã chứng minh cho thấy, dù Trung Quốc đã sử dụng quyền lực hiện có của mình để gây sức ép dữ dội lên Đài Loan suốt nhiệm kỳ một của bà Thái Anh Văn nhưng kết quả vẫn không được như mong muốn của Bắc Kinh, người dân Đài Loan cuối cùng vẫn chọn bà Thái Anh Văn và Đảng của bà thông qua việc bà chiến thắng cuộc bầu cử đầu năm 2020 với 57.1% số phiếu ủng hộ
Bàn về tương lai eo biển Đài Loan, bài nghiên cứu “One China, One Taiwan: An Analysis of the Democratic Progressive Party’s China Policy” của học
giả T.Y Wang (2000) đã chỉ ra ảnh hưởng của DPP đối với cách tiếp cận trong tương lai của Đài Bắc đối với các mối quan hệ xuyên eo biển Nghiên cứu nhằm kiểm tra một cách có hệ thống chính sách đối với Trung Quốc của DPP và ý nghĩa
Trang 18của việc này đối với các mối quan hệ xuyên eo biển trong tương lai Tác phẩm kết luận rằng không có sự thay đổi nguyên tắc cơ bản “Một Trung Quốc, Một Đài Loan” Sự hiểu biết và đồng thuận đạt được giữa KMT và DPP về vấn đề bản chất của Đài Loan cơ bản phủ nhận cả lựa chọn “thống nhất ngay lập tức” với Trung Quốc và lựa chọn “độc lập ngay lập tức” đối với Đài Loan Nó ngụ ý rằng trong tương lai gần, chính sách xuyên eo biển hiện tại của Đài Loan khó có thể thay đổi nếu không có sự cải tổ mạnh mẽ từ bối cảnh chính trị trong nước
Trong tác phẩm: “Leadership, regime security, and China's policy toward Taiwan: prospect theory and Taiwan crises” của hai tác giả Kai He và Huiyun Feng
(2009) đã đưa ra các phân tích truyền thống về các cuộc khủng hoảng của Đài Loan chủ yếu dựa vào lý thuyết răn đe để giải thích Tác giả cho rằng các nhà lãnh đạo Trung Quốc có nhiều khả năng sử dụng sức ép quân sự có nhiều rủi ro hơn đối với các phong trào đòi độc lập của Đài Loan trong phạm vi tổn thất nhất định, tức là khi chế độ của họ đối mặt với những thách thức nghiêm trọng trong nước và quốc tế về mặt an ninh Ngược lại, các nhà lãnh đạo Trung Quốc có nhiều khả năng sử dụng áp lực chính trị ít rủi ro hơn để chống lại các lực lượng đòi độc lập của Đài Loan nếu việc ra quyết định của họ diễn ra trong một phạm vi lợi ích xác định, tức là khi an ninh của chế độ Trung Quốc không bị thách thức Tác giả kết luận rằng duy trì mối quan hệ tốt đẹp giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc là chiến lược tốt nhất để Hoa Kỳ giúp ngăn chặn khủng hoảng quân sự ở eo biển Đài Loan
Theo Wen Cheng Lin (2016) trình bày trong bài nghiên cứu “Taiwan enters the Tsai Ing‐ Wen Era and the Impact on Cross‐ Strait Relations”, tác giả cho rằng
Bắc Kinh không vui khi thấy sự thay đổi quyền lực xảy ra ở Đài Loan Phản ứng của Bắc Kinh đối với chính phủ của DPP có thể là vừa phải hoặc triệt để Cho dù cách tiếp cận là vừa phải hay triệt để thì mối quan hệ xuyên eo biển sẽ là nạn nhân Bắc Kinh có thể đình chỉ các cuộc đàm phán xuyên eo biển và yêu cầu chính phủ mới chấp nhận Đồng thuận 1992 như một điều kiện tiên quyết cho các cuộc trao đổi qua eo biển Nếu bà Thái Anh Văn không chịu khuất phục trước sức ép của Trung Quốc, Bắc Kinh có thể sẽ dùng đến hành động cực đoan hơn Nếu căng thẳng gia tăng ở eo biển Đài Loan, Washington sẽ đóng vai trò quan trọng để ổn định mối
Trang 19quan hệ xuyên eo biển Mặc dù các liên hệ qua eo biển chính thức hoặc bán chính thức có thể bị Bắc Kinh đơn phương đình chỉ nhưng các cuộc gặp gỡ ở cấp thấp hơn vẫn có thể xảy ra Trung Quốc luôn áp dụng hai chính sách được gọi là “đặt hy vọng” - một là đặt hy vọng vào chính quyền Đài Loan và hai là đặt hy vọng vào người dân Đài Loan Khi Bắc Kinh mất hy vọng vào chính quyền Đài Loan (chính quyền bà Thái Anh Văn) thì họ sẽ nó đặt hy vọng lớn hơn vào người dân Đài Loan Trung Quốc sẽ tiếp tục dành sự quan tâm đặc biệt cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tầng lớp trung lưu và thấp hơn, cư dân ở miền trung và miền nam Đài Loan cũng như là giới trẻ để có được sự ủng hộ của người dân Đài Loan Tóm lại, bà Thái Anh Văn sẽ gặp khó khăn lớn trong việc đối phó với Bắc Kinh nhưng căng thẳng sẽ không leo thang đến mức độ quốc tế ở eo biển Đài Loan vì chính sách của bà Thái Anh Văn là duy trì hiện trạng và bà hứa sẽ không khiêu khích Trung Quốc
Các tác giả trên đều cho rằng với các chính sách của Trung Quốc mặc dù cũng tạo áp lực lớn đến chính quyền Đài Loan nhưng chưa đến mức ảnh hưởng đến
an ninh, hòa bình khu vực cũng như xác định vai trò then chốt của Hoa Kỳ trong việc xử lý mối quan hệ giữa hai bên Tuy nhiên bài viết chưa làm sâu sắc được vai trò của Hoa Kỳ ảnh hưởng cụ thể như thế nào cũng như chưa nói lên được bản chất thật sự của các chính sách của Trung Quốc nhằm “điều chỉnh” mối quan hệ với Đài Loan Và cũng như cách tiếp cận thứ nhất, Bắc Kinh cũng đã không thành công trong việc “điều chỉnh” Đài Loan như mình mong muốn khi thái độ của chính phủ
bà Thái Anh Văn hầu như không thay đổi cũng như Bắc Kinh cũng không thuyết phục được người dân Đài Loan khi họ vẫn bầu cho bà Thái Anh Văn trong đợt bầu
Trang 20in Asia” (các quan điểm lý thuyết của QHQT ở Châu Á) của tác giả David Shambaugh và Michael Yahuda được Nguyễn Hoàng Như Thanh biên dịch và hiệu đính (27/5/2013); …
Nhìn chung, các tác phẩm trong và ngoài nước đầy đủ để thực hiện đề tài nghiên cứu của luận văn thạc sĩ quan hệ quốc tế
3 Mục tiêu nghiên cứu
Trong những năm gần đây, xu thế đối thoại và đa cực hóa trong cấu trúc an ninh toàn cầu nói chung và châu Á – Thái Bình Dương đang được định hình và chuyển hướng đa dạng, phức tạp Mỹ luôn thể hiện vai trò nước lớn trong các vấn đề mang tính khu vực và toàn cầu – trong đó có vấn đề Đài Loan Xét về mặt cấu trúc, vấn đề Đài Loan trong quan hệ Trung – Mỹ là vấn đề tiềm tàng và có nguy cơ tạo ra một
cơ chế an ninh mới cho khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Đài Loan vẫn là một nhân tố lớn chi phối quan hệ Trung – Mỹ trong hiện tại cũng như tương lai Sự vươn lên của Trung Quốc về kinh tế và quân sự là nhân tố thúc đẩy sự chuyển động
và thay đổi của cấu trúc an ninh khu vực châu Á – Thái Bình Dương Còn với Mỹ, việc duy trì hiện diện và can dự vào các vấn đề khu vực – trong đó có vấn đề Đài Loan – sẽ là một nhân tố chi phối cấu trúc an ninh khu vực khi quốc gia này theo đuổi mục tiêu duy trì vị trí cường quốc số một thế giới và lợi ích chiến lược trên phạm vi toàn cầu Quan hệ Trung - Mỹ vì vậy là mối quan hệ song phương quan trọng hàng đầu trên thế giới, trong đó Mỹ là cường quốc thống trị và Trung Quốc là cường quốc đang trỗi dậy; Trung Quốc trỗi dậy đầy ấn tượng với quyền lực, sức ảnh hưởng không ngừng tăng lên, thách thức trật tự tự do mà Mỹ là cường quốc đứng đầu bảo trợ, thiết lập luật chơi cho trật tự này (Allison, 2019) Trong bối cảnh này, từ năm 2017 trở đi, mối quan hệ Trung-Mỹ xuất hiện xu hướng cạnh tranh tăng lên nhanh chóng cả về quy mô và lĩnh vực, trong khi đó phương diện hợp tác, đồng thuận ngày càng thu hẹp
Trong mối quan hệ song phương Trung - Mỹ, nhân tố Đài Loan được Trung Quốc xem là “nền tảng chính trị trong quan hệ Trung - Mỹ” Trung Quốc nhất quán khẳng định “Đài Loan là một bộ phận không thể tách rời của Trung Quốc”, thể hiện
Trang 21quyết tâm “hoàn thành thống nhất Tổ quốc” Dưới góc nhìn từ Trung Quốc, việc
Mỹ cố gắng duy trì hiện trạng của Đài Loan thể hiện ý đồ lợi dụng vị trí chiến lược của Đài Loan để khống chế Châu Á, nhằm thực hiện mục tiêu lãnh đạo thế giới, điều này có tác động tiêu cực nghiêm trọng đối với sự nghiệp thống nhất Tổ quốc của Trung Quốc
Do tầm quan trọng của nhân tố Đài Loan trong mối quan hệ song phương Trung – Mỹ, cả Trung Quốc và Mỹ trước đây đều có cách tiếp cận hết sức thận trọng, tránh gây căng thẳng, đối đầu trực tiếp nhằm duy trì hòa bình, ổn định tại khu vực
và trên thế giới Tuy nhiên, thế giới đang chứng kiến sự điều chỉnh chiến lược và tầm nhìn của cả Trung Quốc và Mỹ về mối quan hệ song phương Trung - Mỹ Sự điều chỉnh chiến lược của Mỹ trong mối quan hệ Trung - Mỹ đến lượt nó tác động trực tiếp đến mối quan hệ giữa Mỹ - Đài Loan, bởi Mỹ là bên nắm quyền chủ động trong việc phát triển, điều hướng mối quan hệ Mỹ-Đài Loan, chính sách đối với eo biển Đài Loan của Mỹ do đó chịu tác động của tổng thể chính sách đối với Trung Quốc của Mỹ Triển vọng Trung - Mỹ xử lý vấn đề Đài Loan trong thời gian sắp tới phụ thuộc rất nhiều vào chính sách và biện pháp của hai siêu cường Mỹ - Trung, nhất là trong giai đoạn “ngã rẽ lịch sử” hiện nay như đánh giá của giới học giả Trung Quốc: “…cục diện thế giới đang diễn ra những thay đổi lớn lao chưa từng có trong 100 năm qua; bản thân Trung Quốc cũng đang từng bước tiến vào thời đại mới, có những thay đổi mạnh mẽ kể từ Đại hội 18 đến nay…”
Nghiên cứu nhân tố Đài Loan trong quan hệ Trung – Mỹ từ năm 2012 đến nay nhằm giải đáp một số câu hỏi đặt ra như sau:
1 Vị trí địa chiến lược của Đài Loan trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
2 Lập trường của Trung Quốc về vấn đề Đài Loan
3 Chính sách của Mỹ đối với Đài Loan
4 Đánh giá nhân tố Đài Loan trong quan hệ Trung – Mỹ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Trang 22Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phân tích nhân tố Đài Loan trong mối quan
hệ song phương Trung – Mỹ từ năm 2012 đến nay
Bên cạnh đó, do vai trò, vị trí quan trọng cũng như năng lực, biểu hiện rất năng động của nền kinh tế vùng lãnh thổ Đài Loan, cần thiết xem xét vùng lãnh thổ này như một bên để tiến hành phân các cặp quan hệ Hoa Kỳ - Đài Loan và Đài Loan - Trung Quốc
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
4.2.1 Không gian:
Phân tích tầm quan trọng vị trí địa chiến lược của vùng lãnh thổ Đài Loan đối với chiến lược an ninh của Trung Quốc và Mỹ
Phân tích chính sách của Mỹ đối với vùng lãnh thổ Đài Loan
Lập trường của Trung Quốc đối với vùng lãnh thổ Đài Loan
4.2.2 Thời gian:
Giai đoạn từ 2012 đến nay: từ khi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình lên nắm quyền đến nay, đây cũng là thời kỳ mà Hoa Kỳ được đánh giá là suy yếu trong tương quan lực lượng so với một Trung Quốc tăng mạnh về quốc lực
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, học viên sử dụng hai phương pháp chính là phương pháp lịch sử và phương pháp logic để giải quyết các vấn đề do đề tài đặt ra Bắt đầu với việc sàng lọc thông tin, phân tích và so sánh các sử liệu liên quan đến vị trí địa
lý và lịch sử của vùng lãnh thổ Đài Loan Trên cơ sở đối chiếu mối liên hệ giữa các
sự kiện lịch sử như sự thay đổi trong chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc và sự thay đổi chính sách của Trung Quốc đối với Đài Loan, đề tài cố gắng trình bày các luận điểm trên cơ sở bám sát các sự kiện lịch sử theo đúng tinh thần của phương pháp là trình bày lại một cách chân thật những gì đã xảy ra Phương pháp lịch sử và phương pháp logic là hai phương pháp khác nhau, nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình nghiên cứu khoa học Theo Ăng Ghen, phương pháp logic
“không khác với phương pháp lịch sử về bản chất, chỉ có điều là nó thoát khỏi
Trang 23những hình thức lịch sử và những ngẫu nhiên pha trộn” Sự vận động tiếp tục của lịch sử chẳng qua chỉ là sự phản ánh quá trình lịch sử dưới một hình thức trừu tượng
và khi cùng với tính logic, lịch sử sẽ nhất quán về mặt lý luận (Liên, 2011)
1.2.1 Nội chiến Quốc - Cộng
1.2.2 Hậu Thiết quân luật
1.3 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về cạnh tranh Mỹ - Trung
1.3.1 Quan điểm của chủ nghĩa hiện thực về cạnh tranh giữa các cường quốc
1.3.2 Khái quát quan hệ cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung từ sau nội chiến Quốc - Cộng đến năm 2012
1.3.3 Tiếp cận vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mỹ - Trung từ góc nhìn hiện thực tấn công
CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI ĐÀI LOAN
2.1 Chính sách “Một nước Trung Quốc”: Nền tảng then chốt trong quan hệ Mỹ - Trung
2.1.1 Bối cảnh và nội dung chính sách “Một nước, Hai chế độ”
2.1.2 Nguyên tắc “Một nước Trung Quốc” trong giải quyết vấn đề Đài Loan 2.2 Chính sách của Trung Quốc đối với Đài Loan dưới thời Tập Cận Bình
2.3 Luật chống li khai
2.3.1 Bối cảnh
2.3.2 Ý nghĩa “Luật Chống li khai” của Trung Quốc
Trang 24CHƯƠNG 3: CHÍNH SÁCH CỦA MỸ ĐỐI VỚI ĐÀI LOAN
3.1 Lợi ích của Mỹ ở Đài Loan
3.2 Thay đổi chính sách của Mỹ đối với Đài Loan
3.3 Đặc trưng chính sách của Mỹ đối với Đài Loan
3.3.1 Tính mơ hồ chiến lược
3.3.2 Nguyên tắc quan hệ
CHƯƠNG 4: NHÂN TỐ ĐÀI LOAN TRONG QUAN HỆ MỸ - TRUNG
4.1 Quan điểm cứng rắn của Đài Loan đối với Nhận thức chung 1992
4.2 Vấn đề Đài Loan trong quan hệ giữa hai cường quốc Trung Quốc và Hoa Kỳ 4.3 Viễn cảnh hai bờ eo biển Đài Loan
4.3.1 Viễn cảnh 1: Duy trì hiện trạng eo biển Đài Loan
4.3.2 Viễn cảnh 2: Đài Loan trở về với Trung Quốc bằng phương thức hòa
bình 4.3.3 Viễn cảnh 3: Vấn đề Đài Loan diễn biến căng thẳng và bạo lực
Trang 25CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐÀI LOAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ CẠNH TRANH MỸ - TRUNG DƯỚI GÓC NHÌN HIỆN THỰC 1.1 Vị trí địa lý
Các đặc điểm địa lý, chẳng hạn như vị trí, tài nguyên thiên nhiên, khí tượng
và địa hình, là những hằng số tương đối ổn định trong quá trình hoạch định chiến lược Tuy nhiên, giá trị địa chiến lược thực tế của một địa điểm sẽ thay đổi theo sự phát triển xã hội, chính trị và công nghệ Đảo Đài Loan có diện tích nhỏ: 35.883 km2 (không bao gồm các đảo được cải tạo về mặt địa hình như Penghu và các đảo liên quan đến tranh chấp chính trị như Kinmen, Matsu, Dongsha và Taiping Đảo dài 394 km và rộng 144 km tại điểm rộng nhất Núi cao trên 1.000 m, đồi thấp hơn
và ruộng bậc thang chiếm 69% diện tích đảo Đài Loan Một ngọn núi Trung tâm dài
270 km cắt hòn đảo thành hai phần phía Tây và phía Đông Trong khi các ngọn núi chiếm ưu thế ở trung tâm Đài Loan và bờ biển phía Đông gồ ghề, thì phía Tây của hòn đảo chủ yếu là đồng bằng phù sa, nơi tập trung phần lớn dân cư, các hoạt động canh tác, thương mại hàng hải và các ngành công nghiệp
Từ triều đại nhà Thanh, vị trí địa lý của Đài Loan được Hoàng đế Khang Hy bình luận rằng "chỉ là một hòn đảo nhỏ bé Đế quốc chẳng kiếm được gì và chẳng mất gì nếu không có nó" (Chow, 2014) Sau chiến tranh Trung - Pháp (1884 - 1885), nhà Thanh bắt đầu nhận thấy tầm quan trọng chiến lược của Đài Loan Sau Chiến tranh Trung - Nhật lần thứ nhất năm 1894 - 1895, nhà Thanh nhường chủ quyền Đài Loan cho Nhật Bản theo Hiệp ước Shimonoseki Đài Loan từ một hòn đảo tự nhiên
bị triều đại nhà Thanh ngó lơ trở thành đầu cầu mở rộng của Nhật Bản sau khi Nhật Bản mua lại quần đảo Ryukyu
Trong phạm vi của bức tranh địa chiến lược lớn hơn, Đài Loan còn có tên gọi Formosa, cũng nằm trong vành đai của vùng biển Đông Á, hay được ví von là Địa Trung Hải Châu Á, được miêu tả trong cuốn sách The Geography of the Peace (1944) của Nicholas John Spykman Spykman đã đưa ra quan điểm rằng Đài loan là mục tiêu chiến lược quan trọng trong các cuộc hải chiến tại vùng biển Đông
Á trong Thế chiến thứ hai Halford John Mackinder cũng đã sửa đổi thuyết địa
Trang 26chính trị Vùng đất trung tâm trước đó của mình và xuất bản một bài báo The round world and the winning of the peace vào năm 1943 để nhấn mạnh tầm quan trọng của vành đai và biển cận biên (Auslin, 2016)
Đài Loan đứng ở trung tâm của chuỗi đảo đầu tiên - chuỗi các đảo từ Nhật Bản, Ryukyus và Đài Loan, đến Philippines, gần tương đương với đường bờ biển lục địa của Trung Quốc Eo biển Đài Loan ngăn cách Đài Loan với Trung Quốc Biển Hoa Đông nằm ở phía bắc, Thái Bình Dương ở phía đông, kênh Bashi (rộng
250 km) ở phía nam và Biển Đông ở phía tây nam Eo biển Đài Loan là một trong những tuyến giao thông đường biển quan trọng trong khu vực Vào thời điểm hiện tại, khoảng 400 tàu thuyền (không bao gồm tàu đánh cá) đi qua eo biển này mỗi ngày Do đó, Đài Loan nằm ở ngã ba của các động lực hoạt động Về mặt lịch sử, một mặt Đài Loan nối liền lục địa Châu Á và Thái Bình Dương, là nơi giao thoa giữa các cường quốc trên bộ và trên biển Mặt khác, ở phía bắc là các quốc gia phát triển và ở phía nam là khu vực tài nguyên nhất ở Đông Á Do đó, Đài Loan trở thành tuyến đường cần thiết cho tất cả các loại liên hệ kinh tế - xã hội chính trị (thậm chí kể cả chiến tranh) trong khu vực (Toshi, 2012)
Cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ ba năm 1996 và cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 cho thấy sự an toàn, an ninh và ổn định của Đài Loan có ảnh hưởng đến sự ổn định của khu vực Đông Á (Wu, 2017) Trong đó, (Wachman, 2008) cho rằng thái độ của Trung Quốc đối với Đài Loan cũng phản ánh nhu cầu an ninh để Trung Quốc đại lục có thể cạnh tranh với Hoa Kỳ Sau khi chuyển đổi chính trị từ độc đảng sang dân chủ hiện đại, hiện có nhiều đảng từ các chiến dịch cạnh tranh trong các cuộc bầu cử địa phương ở Đài Loan, bao gồm các thị trưởng thành phố và lãnh đạo Đài Loan Nền kinh tế của Đài Loan phụ thuộc nhiều vào hoạt động ngoại thương sử dụng đường biển
1.2 Lược sử Đài Loan
1.2.1 Nội chiến Quốc - Cộng
Tháng 8 năm 1945, lực lượng phát xít liên tục thất bại ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương Được sự hỗ trợ của lực lượng quân Đồng minh, ngày 02 tháng 9
Trang 27năm 1945, trước sự chứng kiến của viên Tư lệnh Mặt trận Tây Nam Thái Bình Dương MacAthur, trên tuần dương hạm Missouri phái đoàn của Nhật đã kí hiệp ước đầu hàng vô điều kiện lực lượng Đồng minh Sự kiện này cũng kết thúc cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc bắt đầu từ năm 1937
Cuộc kháng chiến chống Nhật kết thúc, Quốc dân Đảng do Tưởng Giới Thạch đứng đầu đã có những hoạt động quy mô lớn phát động cuộc nội chiến chống lại nhân dân Trung Quốc Trung Quốc bước vào cuộc nội chiến giữa hai thế lực, Đảng Cộng sản và Quốc dân Đảng Tương quan lực lượng giữa hai bên khá tương đồng Mỹ đã trang bị cơ sở vật chất kĩ thuật cho Quốc dân Đảng với số quân hơn 4,6 triệu người, mặc dù trang thiết bị hiện đại hơn lực lượng của Đảng Cộng sản, nhưng tinh thần chiến đấu của lực lượng Quốc dân Đảng không cao Các khu vực
mà Quốc dân Đảng chiếm đóng thường ở sâu trong lục địa, khu vực phía tây và tây nam Trung Quốc Khi cuộc kháng chiến chống Nhật gần kết thúc, Tưởng Giới Thạch đã kêu gọi Mỹ giúp chuyển quân đến các khu vực phía đông như Thượng Hải, Nam Kinh, Bắc Bình, Thiên Tân, Quảng Châu và Triết Giang
Trong khi đó, lực lượng Quân giải phóng Trung Quốc không ngừng lớn mạnh sau cuộc kháng chiến chống Nhật Đến cuối năm 1945, Quân giải phóng Trung Quốc có 90 vạn quân chính quy (bao gồm hai bộ phận Bát Lộ quân và Tân
Từ quân) và hơn 2,2 triệu dân quân Địa bàn của lực lượng Quân giải phóng Trung Quốc là khu vực Hoa Bắc và Hoa Trung Từ ngày 11 tháng 8 năm 1945, tướng Chu Đức đã ra lệnh tấn công giải phóng các thành phố nhỏ và vừa, hướng đến giải phóng các thành phố lớn Trong đợt tấn công lần thứ nhất, lực lượng Quân giải phóng Trung Quốc đã giành quyền kiểm soát các thành phố ở khu vực phía bắc sông Dương Tử, đẩy lực lượng của Quốc dân Đảng về khu vực phía nam và các vùng ven biển đông nam Trung Quốc
Ngày 26 tháng 6 năm 1946, lực lượng Quốc dân Đảng tấn công vào khu vực Trung Nguyên do Đảng Cộng sản kiểm soát, mở đầu cho giai đoạn hai nội chiến Quốc – Cộng
Trang 28Giai đoạn từ tháng 6 năm 1946 đến tháng 6 năm 1947, sau thất bại ở trận Tứ Bình (Cát Lâm, Trung Quốc), lực lượng Quân giải phóng Trung Quốc đã thay đổi chiến thuật, đó là không giữ quyền kiểm soát các đô thị mà chuyển sang tập trung lực lượng lớn, thực hiện vận động chiến để tiêu diệt lực lượng của Quốc dân Đảng
Sau thất bại ở trận Tư Bình, Mao vạch ra một chiến lược mới là tạm thời bỏ mọi đô thị - là nơi chỉ có thể bảo vệ bằng cách tập trung một lực lượng lớn Thay vào đó, họ dồn tất cả lực lượng vào những cuộc vận động chiến nhằm tiêu diệt sinh lực của đối phương Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã đánh giá lực lượng Quốc dân Đảng sẽ tập trung vào việc chiếm lại các thành phố, điều đó đồng nghĩa với việc phải phân tán lực lượng, mặc dù họ được Mỹ hỗ trợ khí giới hiện đại Việc thay đổi chiến lược của lực lượng Quân giải phóng Trung Quốc đã dẫn đến những thay đổi trong chiến cuộc giai đoạn sau
Giai đoạn từ tháng 6 năm 1947 đến tháng 10 năm 1949, Tưởng Giới Thạch
và lực lượng Quốc dân Đảng đã nhanh chóng chiếm lại các thành phố mà lực lượng Đảng Cộng sản rời đi Lực lượng được xem là tinh nhuệ của Quốc dân Đảng bị phân tán, dàn mỏng Tướng Bành Đức Hoài nhanh chóng tiêu diệt các sư đoàn của Quốc dân Đảng ở Tây An Đến tháng 6 năm 1948, các tướng Trần Nghị và Lưu Bá Thừa cùng 200 nghìn quân nhanh chóng tấn công và chiếm được Trịnh Châu trong vòng 3 tuần lễ Sang đầu tháng 9, cũng với chiến lược phân tán lực lượng Quốc dân Đảng, lực lượng Quân giải phóng Trung Quốc đã chiếm được thành phố Tế Nam từ tay Quốc dân Đảng
Bước sang tháng 10 năm 1948, Quân giải phóng Trung Quốc lần lượt mở các chiến dịch Liêu Thẩm (Liêu Ninh Thẩm Dương), Bình Tân và Hoài Hải nhằm tiến tới kết thúc nội chiến cách mạng Tưởng Giới Thạch đích thân chỉ huy các chiến dịch ở khu vực Mãn Châu, các sự đoàn của Quốc dân đảng liên tục nhận thất bại trước các đợt tấn công của Quân giải phóng Trung Quốc Đầu tháng 11, dưới sự chỉ huy của các tướng lĩnh Nhiêu Thấu Thạch và Trần Nghị, chiến dịch Hoài Hải (Hoài
Hà Hải Châu) đã tiêu diệt hơn nửa triệu quân Tưởng Giới Thạch ở khu vực Hoa Trung, lực lượng Quốc dân Đảng co cụm lại vào các cứ điểm cuối cùng
Trang 29Đầu năm 1949, Tưởng Giới Thạch bày tỏ ý định muốn có một giải pháp hòa bình với lực lượng Quân giải phóng Trung Quốc, nhưng ý định này bị các lãnh đạo Quân giải phóng từ chối Ngày 21 tháng 4 năm 1949, Quân giải phóng Trung Quốc vượt sông Trường Giang, tấn công vào hai cứ điểm của Quốc dân Đảng là Nam Kinh và Thượng Hải, sau đó là giành quyền kiểm soát toàn vùng Hoa Nam trù phú Cuối năm 1949, chính phủ Quốc dân Đảng sau khi di chuyển liên tục giữa các thành thị Quảng Châu, Trùng Khánh, Thành Đô đã di chuyển ra đảo Đài Loan
Ngày 15 tháng 3 năm 1949, Tân Hoa Xã đã phát thanh bài xã luận với tiêu
đề “Nhân dân Trung Quốc nhất định sẽ giải phóng Đài Loan”, nội dung như sau:
“Nhân dân Trung Quốc bao gồm nhân dân Đài Loan tuyệt đối không chấp nhận lực lượng phản động Quốc dân Đảng xây dựng căn cứ chống phá cách mạng tại đảo Đài Loan Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc với nhiệm vụ giải phòng toàn Trung Quốc, nhất định sẽ giải phóng đảo Đài Loan, đảo Hải Nam và những tấc đất cuối cùng thuộc chủ quyền của Trung Quốc” (Hằng, 2002)
Ngày 1 tháng 10 năm 1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời đã
mở ra một chương mới cho lịch sử Trung Quốc Nhưng cũng thời điểm này, Quốc dân Đảng chạy ra đảo Đài Loan, vấn đề Đài Loan đòi li khai và độc lập trở thành một vấn đề nan giải của chính quyền và nhân dân Trung Quốc Về mặt pháp lí quốc
tế, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là đại diện hợp pháp và duy nhất cho nhân dân Trung Quốc Tuy nhiên, do nhiều lí do, đặc biệt sự tác động của nhân tố Hoa
Kỳ đã làm vấn đề Đài Loan từ năm 1949 đến nay trở nên phức tạp, khó giải quyết Mối quan hệ giữa Trung Quốc – Đài Loan – Hoa Kỳ trở thành điểm nóng trong QHQT khu vực Đông Bắc Á nói riêng và châu Á – Thái Bình Dương nói chung
Trước bối cảnh lịch sử mới giữa hai bờ eo biển Đài Loan, đặc biệt Tưởng Giới Thạch là người đứng đầu chính phủ lưu vong Trung Hoa Dân Quốc muốn đối đầu với chính quyền của chính phủ nhân dân Trung Quốc vừa thành lập, Hoa Kỳ lập tức nắm bắt cơ hội tham dự vào quan hệ giữa hai bờ eo biển Đài Loan Ngày 2 tháng 12 năm 1954, đại diện của Hoa Kỳ đã kí với Tưởng Giới Thạch “Hiệp ước phòng thủ chung giữa Hoa Kỳ và Đài Loan Hiệp ước này chính thức đưa đảo Đài Loan và Bành Hồ nằm dưới trướng ô bảo hộ của Hoa Kỳ ở khu vực Đông Á
Trang 30Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sau khi thành lập, người đứng đầu Quốc vụ viện kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Chu Ân Lai nhanh chóng thúc đẩy quá trình thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước Hành động này được xem như quá trình tạo hành lang pháp lí quan trọng để củng cố vị trí hợp pháp của chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tuy nhiên, nỗ lực này chỉ nhận được sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa và một số nước tư bản chủ nghĩa (nước Anh
và vài nước Bắc Âu) Đến năm 1972, Liên Hiệp Quốc thông qua nghị quyết số 2758 công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là đại diện hợp pháp và duy nhất của cộng đồng người Hoa trên thế giới Nghị quyết số 2758 của Liên Hiệp Quốc đã làm thay đổi căn bản tình hình vấn đề Đài Loan Nguyên tắc Một nước Trung Quốc” bước đầu được quốc tế thừa nhận
1.2.2 Hậu Thiết quân luật
Sau khi Tưởng Kinh Quốc lên thay thế Tưởng Giới Thạch, nền chính trị Đài Loan bắt đầu có sự thay đổi rõ rệt theo hướng tự do hơn Năm 1984, Lý Đăng Huy, một nhà kỹ trị người Đài Loan được Tưởng Kinh Quốc lựa chọn làm phó tổng thống Hai năm sau đó, Đảng Dân Tiến (DPP) được thành lập và được coi là đảng đối lập đầu tiên ở Đài Loan Năm 1987, thiết quân luật dần được nới lỏng
Dưới thời Lý Đăng Huy là người đứng đầu chính quyền Đài Loan, Đài Loan tiếp tục tiến trình dân chủ Nhờ chính sách địa phương hoá, văn hóa và lịch sử Đài Loan được coi trọng, trong khi tính đồng nhất với văn hoá Trung Hoa đại lục dần
mờ nhạt Trong những năm sau đó, mặc dù Lý Đăng Huy vướng vào một vụ rắc rối
về vấn đề tham nhũng về đất đai và mua bán vũ khí, ông đã tái cử trong lần bầu cứ phổ thông đầu tiên được tổ chức vào năm 1996 Năm 2000, Trung Hoa Dân Quốc
có tổng thống đầu tiên không phải là thành viên Quốc Dân đảng khi Trần Thủy Biển thuộc Đảng Dân Tiến (DPP) đắc cử Đài Loan rơi vào tình trạng phân cực chính trị khi là Quốc Dân đảng, dẫn đầu các đảng trong Liên Hiệp Lam (Phiếm Lam) chủ trương thống nhất Trung Quốc và Đảng Dân Tiến, lãnh đạo các đảng thuộc Liên Hiệp Lục (Phiếm Lục) chủ trương Đài Loan độc lập
Trang 31Vào ngày 30 tháng 12 năm 2007, Đảng Dân Tiến đã xúc tiến nghị quyết yêu cầu tiến tới xoá bỏ tính tương đồng với Trung Quốc đại lục và kêu gọi ban hành một hiến pháp mới như một quốc gia độc lập Nghị quyết này cũng yêu cầu thay thế
từ tên gọi Trung Hoa Dân Quốc thành Đài Loan Sau cuộc bầu cử Nghị viện năm
2008, ông Mã Anh Cửu đã đắc cử tổng thống khi Quốc Dân Đảng chiếm đa số ghế, ông chủ trương chấn hưng kinh tế và thiết lập mối quan hệ gần gũi hơn với Trung Quốc để tận dụng sức mạnh cho phát triển kinh tế
1.3 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về cạnh tranh Mỹ - Trung
1.3.1 Quan điểm của chủ nghĩa hiện thực về cạnh tranh giữa các cường quốc
Chủ nghĩa hiện thực là trường phái tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất trong nghiên cứu về QHQT, có tiến trình lịch sử phát triển lâu đời xuất phát từ các tài liệu của Thucydides về cuộc chiến tranh Peloponese thời Hy Lạp cổ đại Lịch sử hình thành và tiến trình phát triển của CNHT có thể được chia thành ba giai đoạn chính Giai đoạn phát triển đầu tiên kéo dài từ thời cổ đại đến trước Chiến tranh thế giới thứ Hai, đây là thời kỳ xuất hiện những quan điểm đầu tiên và đặt nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ của lý thuyết Hiện thực trong các giai đoạn sau này Đại diện cho giai đoạn này là các nhà tư tưởng quan trọng như Thucydides, Nicollo Machiavelli và Thomas Hobbes Giai đoạn thứ hai từ Chiến tranh thế giới thứ Hai đến cuối những năm 1970, là giai đoạn CNHT phát triển và trở thành một lý thuyết
về QHQT Nổi bật trong số các học giả trong giai đoạn này là Hans Morgenthau và Edward Carr, với nhiều công trình nghiên cứu quan trọng và được biết đến rộng rãi Với công trình “Lý thuyết về Chính trị quốc tế” năm 1979, Kenneth Waltz đã đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của lý thuyết Hiện thực với sự ra đời của CNHT mới Chiến tranh lạnh kết thúc, thuyết Hiện thực mới tiếp tục được bổ sung thêm nhiều luận điểm quan trọng, và xuất hiện nhiều biến thể mới như CNHT tấn công, CNHT phòng thủ và CNHT tân cổ điển
CNHT cho rằng thế giới được đặc trưng bởi tình trạng vô chính phủ Để tồn tại được trong một môi trường vô chính phủ, các quốc gia phải có quyền lực và luôn theo đuổi quyền lực, điều đó sẽ giúp quốc gia đảm bảo được an ninh và sự tồn
Trang 32tại của mình, giữ vững được chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia, và thực hiện được lợi ích quốc gia trong QHQT Quyền lực trở thành mục đích cơ bản của CSĐN, đồng thời là động cơ chi phối mọi hành vi đối ngoại của quốc gia Các nhà Hiện thực mô tả cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa các quốc gia có mô hình giống với trò chơi có tổng bằng không Theo đó, một quốc gia cố gắng tăng cường quyền lực của mình đồng nghĩa với sự suy giảm quyền lực của những quốc gia khác Việc cố gắng theo đuổi quyền lực khiến các quốc gia rơi vào thế lưỡng nan
về an ninh Các quốc gia muốn tăng cường quyền lực để đảm bảo an ninh thì nguy
cơ đe dọa đến an ninh của chính họ càng gia tăng Tình trạng lưỡng nan về an ninh buộc các quốc gia phải luôn tìm cách tăng cường quyền lực của mình hơn nữa
Chính trị quốc tế là cuộc đấu tranh giành quyền lực liên tục và không có điểm dừng giữa các quốc gia Quyền lực vừa là mục tiêu vừa là phương tiện để triển khai và đạt được lợi ích quốc gia Tình trạng vô chính phủ khiến cho các quốc gia mất lòng tin, nghi kỵ lẫn nhau, luôn cảm thấy bất an với toan tính và ý định của các quốc gia khác Để đảm bảo an ninh cho mình, các quốc gia không ngừng tăng cường tiềm lực quân sự và thiết lập quan hệ liên minh với các nước khác để cân bằng lại các mối đe dọa tiềm tàng Các nhà Hiện thực không loại trừ khả năng các cường quốc đối địch hợp tác với nhau trong những vấn đề an ninh mang đến lợi ích chung, nhưng họ cho rằng sự hợp tác rất khó có thể đạt được Bởi thứ mà các quốc gia quan tâm trong hợp tác là lợi ích tương đối tức ai sẽ được hưởng lợi nhiều hơn,
và cũng không có gì để đảm bảo rằng bên còn lại sẽ không bội ước
Hệ thống quốc tế là yếu tố khách quan tác động từ bên ngoài đến QHQT, được cấu thành từ các quốc gia có chủ quyền và sự tương tác lẫn nhau giữa các chủ thể này Hành vi của các quốc gia trong QHQT cũng như mối quan hệ giữa các quốc gia chịu sự tác động và chi phối rất lớn từ hệ thống quốc tế Trong hệ thống quốc tế, cấu trúc của hệ thống hay sự phân bổ quyền lực giữa các quốc gia trong hệ thống là yếu tố quan trọng nhất Các nhà Hiện thực cấu trúc cho rằng, hệ thống quốc tế được đặc trưng bởi tình trạng vô chính phủ, do đó lợi ích quốc gia là tối đa hóa quyền lực nhằm đảm bảo sự tồn tại của mình Vì hệ thống quốc tế là vô chính
Trang 33phủ nên các quốc gia có xu hướng hành động giống nhau trong QHQT, đều tìm cách đảm bảo ANQG thông qua việc tối đa hóa quyền lực của mình
Có thể tóm lược nội dung cơ bản của CNHT như sau: Sống trong môi trường vô chính phủ, các quốc gia buộc phải mưu tìm quyền lực để cạnh tranh nhằm đảm bảo an ninh cho mình Vì thế, xung đột sẽ là thường xuyên trong QHQT Kết hợp cả CNHT mới, thì công thức đầy đủ đúc kết được tóm lược sẽ là Quốc gia – Quyền lực – Hệ thống – Xung đột (Nam, 2017:33)
Nội dung chính của CNHT đó là: lợi ích là yếu tố căn bản trong QHQT và đảm bảo bằng quyền lực QHQT được mô tả như một cuộc cạnh tranh giành quyền lực giữa các nước theo đuổi lợi ích quốc gia, xung đột là bản chất của QHQT, đấu tranh giành quyền lực là không tránh khỏi do quyền lực nằm trong trò chơi tổng số bằng 0 (Zero Sum Game) và sự tồn tại của tình trạng lưỡng nan về an ninh (Security Dilemma) (Nam, 2017:38) Trong đời sống CTQT, không phải tất cả các quốc gia đều bình đẳng như nhau, mà các nước lớn thường nắm vai trò chi phối, định đoạt Nước lớn luôn có thiên hướng chi phối không gian chiến lược xung quanh họ, trong khi nước nhỏ luôn tìm cách thích nghi và trong nhiều trường hợp phải chấp nhận, cam chịu (Tĩnh, 2012:108) Trong các cuộc xung đột, các quốc gia
có thể có lợi ích nhất định nhưng tất cả sẽ thay đổi một khi tương quan so sánh lực lượng thay đổi và xung đột chấm dứt theo hướng có lợi cho họ Liên minh của các quốc gia không bền vững, hôm nay có thể là bạn bè nhưng ngày mai có thể trở thành đối thủ, thậm chí là kẻ thù và ngược lại chỉ vì lợi ích khác biệt Những khác biệt về lợi ích chính là nguyên nhân dẫn đến xung đột, cạnh tranh giữa các nước nhất là các nước lớn
Lý thuyết Hiện thực đã đưa ra những lý giải về cạnh tranh, va chạm, xung đột giữa các nước lớn, ảnh hưởng của nó đến quyền tự quyết dân tộc của các nước nhỏ Trong môi trường cạnh tranh của các nước lớn vẫn có thể tìm thấy cơ hội hợp tác nếu như có điểm tương đồng về lợi ích và đạt được sự tin tưởng lẫn nhau (Nga, 2010:14)
Trang 341.3.2 Khái quát quan hệ cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung từ sau nội chiến Quốc -
Cộng đến năm 2012
Quan hệ Mỹ - Trung giai đoạn 1949-1971 là quan hệ thù địch, với các cuộc tấn công tuyên truyền thường xuyên ở cả hai hướng Quan hệ xấu đi dưới thời Tổng thống John F Kennedy (1961-1963) Trước cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba, các nhà hoạch định chính sách ở Washington không chắc chắn liệu Trung Quốc có chia tay Liên Xô hay không trên cơ sở tư tưởng, tham vọng quốc gia và sẵn sàng cho vai trò hướng dẫn các hoạt động cộng sản ở nhiều nước Cái nhìn sâu sắc mới đến với cuộc chiến tranh biên giới Trung-Ấn vào tháng 11 năm 1962 và phản ứng của Bắc Kinh đối với cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba Các quan chức chính quyền của Kennedy kết luận rằng Trung Quốc có nhiều chiến binh và nguy hiểm hơn Liên Xô, khiến mối quan hệ tốt hơn với Moscow được mong muốn, với cả hai quốc gia đang
cố gắng kiềm chế tham vọng của Trung Quốc Sự công nhận ngoại giao của Trung Quốc vẫn nằm ngoài câu hỏi, vì một quyền phủ quyết quan trọng đối với Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đã được đồng minh của Mỹ nắm giữ tại Đài Loan Hoa Kỳ tiếp tục làm việc để ngăn chặn Trung Quốc chiếm ghế của Trung Hoa Dân Quốc tại Liên Hợp Quốc và khuyến khích các đồng minh của họ không đối phó với Trung Quốc Hoa Kỳ đã cấm vận giao dịch với Trung Quốc và khuyến khích các đồng minh tuân theo (Autiello, 2019)
Năm 1972, sau khi kết thúc chuyến thăm lịch sử đến Trung Quốc của Tổng thống Nixon, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã ban hành Thông cáo Thượng Hải, một tuyên bố về quan điểm chính sách đối ngoại tương ứng của họ Trong Thông cáo, cả hai quốc gia cam kết sẽ làm việc để bình thường hóa hoàn toàn các quan hệ ngoại giao Điều này không dẫn đến sự công nhận ngay lập tức của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nhưng "văn phòng liên lạc" đã được thành lập tại Bắc Kinh và Washington (Dunbabin, 1996) Hoa Kỳ thừa nhận lập trường của Trung Quốc rằng tất cả người Trung Quốc ở hai bên eo biển Đài Loan đều cho rằng chỉ có một Trung Quốc và Đài Loan là một phần của Trung Quốc Trong Thông cáo chung về việc thiết lập quan hệ ngoại giao, ngày 1 tháng 1 năm 1979, Hoa Kỳ đã chuyển giao công nhận ngoại giao từ Đài Bắc sang Bắc Kinh Hoa Kỳ nhắc lại sự thừa nhận của
Trang 35Thông cáo Thượng Hải về lập trường của Trung Quốc rằng chỉ có một Trung Quốc và Đài Loan là một phần của Trung Quốc; Bắc Kinh thừa nhận rằng người dân Mỹ sẽ tiếp tục thực hiện các liên hệ thương mại, văn hóa và liên hệ không chính thức khác với người dân Đài Loan
Kể từ khi đổi mới quan hệ Mỹ-Trung vào đầu năm 1979, vấn đề Đài Loan vẫn là một trung tâm tranh cãi lớn Sau khi công bố ý định thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc đại lục (PRC) vào ngày 15 tháng 12 năm 1978, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) đã ngay lập tức lên án Hoa Kỳ, dẫn đến các cuộc biểu tình tràn lan ở cả Đài Loan và Hoa Kỳ (Goldstein & Schriver, 2001:147) Vào tháng 4 năm 1979, Quốc hội Hoa Kỳ đã ký thành luật Đạo luật Quan hệ Đài Loan, cho phép quan hệ không chính thức với Đài Loan phát triển, và duy trì quyền của Hoa Kỳ cung cấp cho Đài Loan vũ khí phòng thủ Mối quan hệ mở rộng sau khi bình thường hóa đã bị đe dọa vào năm 1981 bởi sự phản đối của PRC đối với mức độ bán vũ khí của Hoa Kỳ cho Trung Hoa Dân Quốc tại Đài Loan Ngoại trưởng Alexander Haig
đã đến thăm Trung Quốc vào tháng 6 năm 1981 trong nỗ lực giải quyết những lo ngại của Trung Quốc về mối quan hệ không chính thức của Mỹ với Đài Loan Phó Tổng thống Bush đã đến thăm Trung Quốc vào tháng 5 năm 1982 Tám tháng đàm phán đã tạo ra Thông cáo chung Hoa Kỳ-PRC ngày 17 tháng 8 năm 1982 Trong thông cáo thứ ba này, Hoa Kỳ tuyên bố ý định giảm dần mức độ bán vũ khí cho Trung Hoa Dân Quốc, và PRC được mô tả là một chính sách cơ bản để họ cố gắng giải quyết vấn đề hòa bình cho vị thế của Đài Loan Đại sứ Trung Quốc tại Washington, trong một cuộc phỏng vấn với CGTN vào tháng 4 năm 2018, được trích dẫn khi nói rằng mối quan hệ Trung-Mỹ chủ yếu dựa trên Thông cáo chung giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đã ký kết giữa hai bên và Hoa Kỳ đã đồng ý không thách thức chủ quyền của Trung Quốc đảo Đài Loan, nhưng để tôn trọng "luật chống ly khai" của Trung Quốc, cho đến thời điểm đó Đài Loan sẽ được thống nhất với Đại lục Khi chính quyền Trump lên nắm quyền, sự tranh chấp về vấn đề Đài Loan đã tăng lên đáng kể; Tổng thống Trump trở thành tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên
kể từ Jimmy Carter năm 1979 có bất kỳ liên hệ chính trị hoặc ngoại giao chính thức nào với Đài Loan khi ông quyết định nhận được một cuộc điện thoại từ tổng thống Thái Anh Văn Trump đã mở rộng nhiệm vụ của Đại sứ quán thực tế Hoa Kỳ
Trang 36tại Đài Bắc - Học viện Hoa Kỳ tại Đài Loan - bằng cách bổ sung thêm nhân viên an ninh, và đã giám sát các chuyến thăm phi ngoại giao của Thái Anh Văn và Dân biểu tới các quốc gia / khu vực của nhau Ngoài ra, các tàu chiến Mỹ đã thông báo vượt qua eo biển Đài Loan và tăng cường các cuộc tập trận quân sự với Đài Loan, nơi Trung Quốc đại lục coi là mối đe dọa trực tiếp đến chủ quyền của nước này Chính phủ Đài Loan cũng cảnh báo Quần đảo Solomon không được chuyển sang công nhận PRC như một phần của nỗ lực bảo tồn số lượng đồng minh bị thu hẹp trên toàn thế giới
1.3.3 Tiếp cận vấn đề Đài Loan trong quan hệ Mỹ - Trung từ góc nhìn hiện thực
tấn công
CNHT tấn công là cơ sở lý thuyết quan trọng của luận văn để giải thích cho
sự cạnh tranh Mỹ - Trung, trong đó nhân tố Đài Loan giữ vai trò mắt xích quan trọng trong cục diện an ninh châu Á - Thái Bình Dương và QHQT
Bổ sung mô hình chính trị quốc tế của CNHT vào phân tích cách hành xử của một quốc gia độc lập, CNHT tấn công cho rằng tình trạng vô chính phủ nhìn chung là mang tính chất hỗn mang, ngoài những tình trạng như hệ thống hai cực hay răn đe hạt nhân thì an ninh là khan hiếm và các quốc gia phải cố gắng để đạt được bằng cách tối đa hóa những lợi thế tương đối của họ Hoạt động đối ngoại của chủ nghĩa này là câu chuyện về những quốc gia tìm mọi cách để đạt được một vị thế nào đó trong khuôn khổ một mô hình quyền lực mang tính hệ thống Trong khi CNHT phòng thủ cho rằng tình trạng vô chính phủ mang tính ôn hòa hơn, tức an ninh không phải là khan hiếm mà luôn sẵn có và các quốc gia bình thường có thể hiểu và học được điều đó cùng với thời gian, muốn theo đuổi an ninh các quốc gia
có thể bình tĩnh và chỉ cần trỗi dậy khi cần đối phó với các mối đe dọa hiếm hoi từ bên ngoài Vì vậy, hoạt động đối ngoại của CNHT tấn công là câu chuyện về các quốc gia có lý trí đang phản ứng một cách thích hợp trước những kích thích hệ thống, và đi đến xung đột trong những trường hợp đặc biệt như khi tình trạng lưỡng nan an ninh đạt đến đỉnh điểm
Trang 37CNHT tấn công đã mô tả cuộc đối đầu không thể tránh khỏi giữa một cường quốc nguyên trạng là Hoa Kỳ và một kẻ thách thức đang gia tăng sức mạnh là Trung Quốc Trường phái này nhấn mạnh một cường quốc trỗi dậy có xu hướng bành trướng khu vực là không thể tránh khỏi (Mearsheimer, 2001) đã ví sự trỗi dậy của Trung Quốc với sự nổi lên của Hoa Kỳ trong thế k 19, giai đoạn mà nước này tham vọng bá quyền nhắm đến việc bành trướng lãnh thổ sang các nước lân cận và
áp đặt phạm vi ảnh hưởng theo học thuyết Monroe lên các quốc gia xa hơn Chủ nghĩa bành trướng không bắt nguồn từ bản chất bá quyền của các cường quốc mà vì tình trạng vô chính phủ gây ra mối lo ngại về sự tồn vong của bản thân ngay cả cho những quốc gia mạnh nhất Nói cách khác, những nước lớn như Hoa Kỳ và Trung Quốc lo lắng cho sự sống còn không kém hơn so với các quốc gia yếu, và chính mối bận tâm này đã khiến các cường quốc hướng đến bá quyền khu vực Kết quả hóa ra lại là logic nghịch lý “bành trướng để tồn tại” Ở Trung Quốc, CNHT là lý thuyết QHQT phương Tây duy nhất phá vỡ được thế độc quyền của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Mao Trạch Đông Điều này về sau đã mở đường cho những trường phái khác về QHQT, bao gồm cả chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa kiến tạo CNHT cũng cung cấp một mức độ thống nhất lý thuyết nhất định cho rất nhiều bài viết phi lý thuyết hoặc thực tiễn chính sách QHQT ở châu Á
Về Đài Loan, đứng trước cuộc cạnh tranh giữa hai cường quốc, có vị trí nằm gần Trung Quốc thì sự bất cân xứng về kích thước quốc gia, cộng với mức độ gần gũi về mặt địa lý cũng như các va chạm lịch sử trước đó là nguyên nhân làm gia tăng tâm lý và hành vi nước lớn - nhỏ (Womack, 2010) cho rằng trong mối quan hệ nước lớn - nước nhỏ, nước lớn thường làm chủ và có ảnh hưởng chi phối Khi định hình chính sách đối ngoại, nước nhỏ bị nước lớn tạo ra nhiều ràng buộc, tác động,
vì vậy, Đài Loan chú trọng đến lập trường, ý kiến và lợi ích của bản thân họ cũng như giữ vững hòa khí hai bên, hợp tác lâu dài Ngoài ra, Đài Loan phải ứng xử đúng mực để có thể hợp tác ở một hoặc nhiều mặt với các chủ thể khác có ưu thế địa lý,
để không bị cô lập, bị “tẩy chay”, “cấm vận” hoặc không được hợp tác, từ đó khiến kinh tế - chính trị trong nước bị tổn thương
Trang 38Sự ổn định của Đài Loan còn phụ thuộc nhiều vào mức độ căng thẳng giữa các cường quốc Dù có vẻ không liên quan lắm nhưng sự thật thì nếu giữa hai hoặc nhiều nước lớn có quan hệ tốt, họ sẽ có các hợp tác kinh tế tốt đẹp, các nước nhỏ sẽ được “hưởng lợi” nếu có các chính sách đối ngoại đúng đắn, kịp thời; ngược lại, nếu hai hoặc nhiều nước lớn có mâu thuẫn, căng thẳng, và đưa ra các chính sách để đối đầu lẫn nhau, các nước nhỏ không tránh khỏi bị ảnh hưởng, từ đó cần chỉnh sửa nhiều trong chính sách đối ngoại để hợp tác với nước lớn trong cuộc hoặc nước khác ngoài căng thẳng Từ đầu năm 2018 đến nay, thương chiến Mỹ - Trung trải qua nhiều giai đoạn căng thẳng, khiến nền kinh tế toàn cầu cũng “lao đao” “Nhà phân tích Anna Ho của UBS dự báo các nền kinh tế độ mở cao như Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan sẽ bị ảnh hưởng Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế nhận định, GDP toàn cầu sẽ giảm xuống còn 3,2% năm 2019, từ con số 3,5% năm 2018
và 3,8% năm 2017 Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cảnh báo, cuộc chiến tranh thương mại có nguy cơ làm kinh tế thế giới không thể khởi sắc trở lại như kỳ vọng Morgan Stanley cảnh báo nguy cơ suy thoái kinh tế toàn cầu với tăng trưởng kinh tế thế giới giảm dưới 2,5% trong thời gian đến hết 2020, nếu hai bên tiếp tục mâu thuẫn” Nhìn chung, đối với các căng thẳng của các cường quốc dù ở góc độ, phương diện nào cũng khiến Đài Loan phải kịp thời đưa ra hoặc chỉnh sửa chính sách đối ngoại để không bị ảnh hưởng tiêu cực, có những giải pháp để ổn định và phát triển (Hảo, 2019)
Tiểu kết Chương 1
Đứng từ góc độ của Mỹ, sự trỗi dậy của Trung Quốc không chỉ là thách thức
về lợi ích và vị thế quốc tế đối với Mỹ, mà còn là sự đe dọa đối với ổn định chế độ cùng các giá trị do Mỹ tạo dựng Còn từ góc độ của Trung Quốc, nước này cho rằng
Mỹ chưa từng từ bỏ âm mưu lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo Rõ ràng nhất là trong những phát ngôn của chính quyền Mỹ gần đây càng thể hiện rõ âm mưu chia rẽ Đảng Cộng sản với nhân dân Trung Quốc, đồng thời thách thức tính hợp pháp của Đảng Cộng sản và chế độ chính trị của nước này Cuộc cạnh tranh chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ là sự cạnh tranh giữa hai cường quốc hàng đầu thế giới hiện nay không chỉ cạnh tranh về ngôi vị, thứ bậc mà
Trang 39còn ở hệ giá trị và mô hình dẫn dắt thế giới phát triển Mâu thuẫn này đặt ra một vấn đề lớn trong cạnh tranh là sự cần thiết hợp tác, chia sẻ trách nhiệm, dẫn dắt và điều phối các nguồn lực trên phạm vi toàn cầu của hai cường quốc này Một khuôn khổ chiến lược thông minh cho các mối QHQT đòi hỏi sự tính toán cân nhắc và phân tích nghiêm túc Vai trò dẫn dắt thế giới hiện nay được thể hiện thông qua việc quốc gia đó có xây dựng được những chiến lược có thể giải quyết không chỉ thách thức hiện tại mà cả trong tương lai, bởi đây không phải là thách thức cuối cùng mà thế giới phải đối mặt
Trang 40CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH CỦA TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI ĐÀI LOAN 2.1 Chính sách “Một nước Trung Quốc”: Nền tảng then chốt trong quan hệ
Mỹ - Trung
2.1.1 Bối cảnh và nội dung chính sách “Một quốc gia, Hai chế độ”
Thập niên 50 của thế k XX, thế hệ lãnh đạo đầu tiên của Trung Quốc là Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai đã quyết tâm thu hồi Đài Loan về với Đại Lục, thực hiện thống nhất đất nước Đây cũng là một nhu cầu thiết tha và chính đáng của toàn thể nhân dân Trung Quốc Nhưng do nhiều yếu tố khách quan, vấn đề thu hồi Đài Loan, thống nhất tổ quốc chưa thể hoàn thành, chính sách giải quyết vấn đề Đài Loan bằng vũ trang và lực lượng quân sự của chính quyền Trung Quốc không thể thực hiện Do đó, quá trình đàm phán hòa bình giữa hai bờ eo biển và tìm kiếm các
cơ chế, hình thức sau khi Đài Loan trở về với Đại Lục được lãnh đạo Trung Quốc
đề xuất để phù hợp với tình hình mới
Bước sang thập niên 80 của thế kỉ XX, Trung Quốc bước đầu thực hiện cải cách mở cửa, đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản và nhà nước Trung Quốc cũng thay đổi theo bối cảnh quốc tế mới Năm 1982, trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc khóa 12 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Tổng bí thư Hồ Diệu Bang đã nêu rõ: “Chúng ta kiên trì chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, đồng thời chúng ta ủng hộ thế giới hòa bình, đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ quốc
tế Sau 33 năm xây dựng đất nước, chúng ta đã thực hiện các nhiệm vụ to lớn để thế giới thấy, chúng ta kiên quyết không dựa vào bất kì cường quốc nào, hệ thống chính trị nào, tuyệt đối không khuất phục bất kì áp lực nào do các nước đế quốc gây ra Chính sách đối ngoại của Trung Quốc dựa trên nền tảng khoa học là chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Mao Trạch Đông, dựa trên lợi ích căn bản và hợp lí của nhân dân thế giới và nhân dân Trung Quốc; nó là chiến lược mang tính lâu dài và toàn diện, không chịu ảnh hưởng của thời cuộc và thách thức của thời đại” (Long & Uy, 2008:100)
Chính sách đối ngoại hòa bình trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động đối ngoại của Trung Quốc – trong đó có việc giải quyết vấn đề Đài Loan Nguyên soái