Với sự phát triển còn non trẻ của hệ thống đào tạo và hành nghề tâm lý tại Việt Nam, môi trường làm việc còn thiếu các hệ thống giám sát, hỗ trợ chuyên nghiệp, những thắc mắc về việc liệ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
Khoa Tâm lý học
LUẬN VĂN THẠC SĨ Ngành đào tạo: Tâm Lý Lâm Sàng
Nhân tố dự báo tình trạng kiệt sức của người thực hành tâm lý tại
Việt Nam: sự cô đơn và việc chăm sóc bản thân
Giảng viên hướng dẫn: Ts Trì Thị Minh Thúy
Học viên: Võ Huỳnh Yến Nhi _ MSHV: 19831040224
TP HCM - 2022
Trang 2Lời cảm ơn
Tôi xin gửi đến Ts Trì Thị Minh Thúy những kết quả tìm tòi nghiên cứu với lòng biết
ơn sâu sắc và sự kính trọng Cô đã dành thời gian hướng dẫn, giúp tôi hoàn thiện những ý tưởng cho luận văn của mình và hơn hết cô đã đồng hành, động viên tôi từ đó giúp tôi có đủ nghị lực để hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, cảm ơn các thầy cô Khoa Tâm lý học đã tạo điều kiện thuận lợi, cho tôi những lời góp ý hữu ích nhằm thúc đẩy quá trình học tập và tiến độ thực hiện luận văn của mình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến những người đồng nghiệp đã góp ý cho từng ý tưởng của tôi, đã hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu, đã giúp tôi đưa những khảo sát của mình đến những khu vực ngoài Thành Phố Hồ Chí Minh như Hà Nội và Đà Nẵng Đồng thời, xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp và những người bạn đã luôn bên cạnh tôi, chia sẻ, động viên tôi và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi để tôi có thể hoàn thiện quá trình này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2022
Tác giả
Võ Huỳnh Yến Nhi
Trang 3Tóm tắt luận văn Thạc sĩ
Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm hiểu về khả năng dự báo của sự cô đơn và việc chăm sóc bản thân lên tình trạng kiệt sức của người thực hành tâm lý tại Việt Nam Mẫu nghiên cứu là mẫu thuận tiện bao gồm 82 người thực hành tâm lý tại Việt Nam Các khách thể tham gia nghiên cứu bằng cách trả lời bảng hỏi online bao gồm biểu mẫu nhân khẩu học, thang đo chăm sóc bản thân đã được tinh chỉnh, thang đo cô đơn và thang đo kiệt sức nghề nghiệp Nghiên cứu kiểm tra độ tin cậy Cronbach's alpha cho tất cả các thang đo: thang đo tự chăm
sóc bản thân (α = 0.93), thang đo kiệt sức (α = 0.91 EE, 0.79 DP, 0.92 PA), thang đo cô đơn (α = 0.91) Kết quả phân tích mối tương quan cho thấy cô đơn có tương quan tỉ lệ thuận đáng
kể tới tình trạng kiệt sức Các yếu tố chăm sóc bản thân có tương quan tỉ lệ nghịch đáng kể
tới tính trạng kiệt sức và trong đó mối tương quan giữa chăm sóc thể chất và chăm sóc tinh
thần có mối tương quan tỉ lệ nghịch với kiệt sức là cao nhất Kết quả phân tích hồi quy
stepwise cho thấy yếu tố chăm sóc tinh thần, chăm sóc thể chất, cô đơn giải thích được 46%
sự biến thiên trong tình trạng kiệt sức ở người thực hành tâm lý (R = 0.7, Adjusted R 2 = 0.46,
p <.001) Nghiên cứu bước đầu tìm ra các yếu tố chăm sóc tinh thần, chăm sóc thể chất, cô
đơn dự báo đáng kể cho tình trạng kiệt sức, đưa ra các kiến nghị hỗ trợ phòng ngừa kiệt sức cho người thực hành tâm lý và làm tiền đề cho các nghiên cứu chuyên sâu hơn trong tương lai
Từ khóa: kiệt sức, người thực hành tâm lý, sự cô đơn, việc chăm sóc bản thân
Trang 4Mục lục
GIỚI THIỆU 9
Tính cấp thiết, ý nghĩa của nghiên cứu về mặt thực tiễn, xã hội 11
Ý nghĩa của nghiên cứu về mặt khoa học 12
CHƯƠNG I 13
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 13
Kiệt sức và người thực hành tâm lý 13
Khái niệm kiệt sức 14
Khái niệm người thực hành tâm lý 15
Thực trạng nghiên cứu kiệt sức 16
Nghiên cứu kiệt sức trên thế giới 16
Nghiên cứu kiệt sức tại Việt Nam 19
Các quan điểm lý thuyết về kiệt sức 20
Yếu tố ngoại cảnh và kiệt sức 22
Yếu tố cá nhân và kiệt sức 23
Cô đơn và kiệt sức 24
Khái niệm cô đơn 24
Tình trạng cô đơn của người thực hành tâm lý 26
Mối quan hệ giữa cô đơn và kiệt sức 27
Chăm sóc bản thân và kiệt sức 28
Khái niệm chăm sóc bản thân 28
Tầm quan trọng của chăm sóc bản thân ở người thực hành tâm lý 29
Mối quan hệ giữa chăm sóc bản thân và kiệt sức 30
Khung khái niệm 31
Tuyên bố lý do xác lập đề tài 34
Trang 5Câu hỏi nghiên cứu 35
Giả thuyết nghiên cứu 35
Chương II 36
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
Khách thể nghiên cứu 36
Công cụ nghiên cứu 37
Thang đo cô đơn 37
Thang đo kiệt sức nghề nghiệp 39
Thang đo việc chăm sóc bản thân 41
Quy trình chuyển ngữ công cụ 44
Nghiên cứu sơ bộ 45
Quy trình thu thập dữ liệu 46
Kế hoạch phân tích dữ liệu 46
CHƯƠNG III 48
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 48
Đặc điểm mẫu nghiên cứu 48
Tình trạng kiệt sức ở người thực hành tâm lý tại Việt Nam 54
Mối tương quan giữa cô đơn, việc chăm sóc bản thân và tình trạng kiệt sức ở người thực hành tâm lý tại Việt Nam 55
Khả năng ảnh hưởng của các biến nhân khẩu học tới tình trạng kiệt sức ở người thực hành tâm lý tại Việt Nam 59
Khả năng dự báo của cô đơn và việc chăm sóc bản thân tới tình trạng kiệt sức ở người thực hành tâm lý tại Việt Nam 64
Bàn luận về kết quả nghiên cứu 70
TÓM TẮT, KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80
Trang 6Tóm tắt và kết luận 80
Khuyến nghị 83
Về hướng phòng ngừa và can thiệp kiệt sức 84
Về hướng nghiên cứu trong tương lai 85
Tài liệu tham khảo 87
Phụ lục 101
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Điểm phân loại mức độ kiệt sức của thang đo Maslach 40
Bảng 2 Độ tin cậy thang đo kiệt sức nghề nghiệp 41
Bảng 3 Cơ cấu nhân khẩu học 48
Bảng 4 Điểm trung bình, tỷ lệ phần trăm điểm số trong ba lĩnh vực kiệt sức 54
Bảng 5 Trung bình và độ lệch chuẩn của các biến nghiên cứu 56
Bảng 6 Tương quan giữa các biến nghiên cứu 57
Bảng 7 Kết quả phân tích hồi quy kiểm tra khả năng ảnh của các biến kiểm soát nhân khẩu học đến tình trạng kiệt sức ở người thực hành tâm lý tại Việt Nam 59
Bảng 8 Kết quả phân tích hồi quy stepwise ba mô hình dự báo tình trạng kiệt sức ở người thực hành tâm lý tại Việt Nam 65
Bảng 9 Kết quả phân tích hồi quy stepwise ba mô hình dự báo tình trạng kiệt sức ở lĩnh vực cạn kiệt cảm xúc của người thực hành tâm lý tại Việt Nam 67
Bảng 10 Kết quả phân tích hồi quy stepwise ba mô hình dự báo tình trạng kiệt sức ở lĩnh vực phi nhân hóa của người thực hành tâm lý tại Việt Nam 68
Bảng 11 Kết quả phân tích hồi quy stepwise ba mô hình dự báo tình trạng kiệt sức ở lĩnh vực thành tích cá nhâncủa người thực hành tâm lý tại Việt Nam 69
Trang 8
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH
Sơ đồ 1 Khung khái niệm của nghiên cứu 32
Sơ đồ 2 Khung khái niệm sau nghiên cứu của kiệt sức nghề nghiệp 77
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 10GIỚI THIỆU
Tham vấn trị liệu là một hoạt động chăm sóc sức khỏe tinh thần cho con người, dẫu vậy nhà tham vấn trị liệu cũng thường xuyên đối diện với những căng thẳng và có nguy cơ kiệt sức trong công việc Những thắc mắc về việc khi người chăm sóc sức khỏe cho người khác bị kiệt sức thì họ sẽ được hỗ trợ và chăm sóc như thế nào đã trở thành chủ đề đáng quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Họ bắt đầu nghiên cứu các chủ đề liên quan đến kiệt sức
và các yếu tố ảnh hưởng đến kiệt sức ở các chuyên gia chăm sóc sức khỏe tâm thần nói chung
và người thực hành tâm lý nói riêng
Trong tham vấn trị liệu, nhà tâm lý chính là công cụ quan trọng nhất, họ sử dụng bản thân như một công cụ, cùng với những kiến thức, kỹ thuật nền tảng về nhân cách, tâm bệnh,
kỹ năng tham vấn để hỗ trợ cho những người có khó khăn tâm lý hoặc rối nhiễu tâm trí (Kwiatkowski & Dryden, 1989) Trong khi cung cấp các can thiệp trị liệu cho thân chủ có rối loạn tâm thần, nhà thực hành tâm lý cũng thường đối diện với nhiều cảm xúc mãnh liệt, chứng kiến nhiều câu chuyện đau khổ, sang chấn và mất mát (Rabu và các tác giả khác, 2015) Những căng thẳng sẽ gia tăng khi họ đối diện với những trường hợp khẩn cấp, phức tạp, rủi ro cao như tự tử, các thân chủ là tội phạm giết người, rối loạn tâm thần nặng hoặc kháng thuốc, nhà trị liệu sẽ dễ dàng rơi vào cảm giác bất lực khi những nỗ lực của họ là vô ích hoặc chỉ đạt được thành công tối thiểu (Farber & Louis, 1982) Ngoài ra nhà tâm lý còn luôn đối diện với những căng thẳng đến từ phía môi trường làm việc, bạn bè, đồng nghiệp, cuộc sống cá nhân và khi những căng thẳng kéo dài sẽ dẫn đến tình trạng kiệt sức (Zur, 2019)
Theo Rupert và Kent (2007), tình trạng kiệt sức trong công việc ở những người thực hành tâm lý có tỷ lệ phổ biến được báo cáo là gần 44,1% và ảnh hưởng đến khả năng thực hiện vai trò chuyên môn và giảm chất lượng làm việc với thân chủ (Baker, 2003; Barnett & Hillard, 2001; Maslach, 1982; Morse và các tác giả khác, 2012) Các nhà trị liệu bị kiệt sức
Trang 11thể hiện bản thân cứng nhắc, thiếu khoan dung, thiếu linh hoạt, trở nên khép kín với những trải nghiệm mới và suy giảm khả năng chịu đựng sự mơ hồ trong cuộc sống Họ có thể trở nên cô lập hơn, buồn chán, phòng thủ, hoài nghi, tiêu cực hoặc có thể cảm thấy bất lực và hay chỉ trích (Watkins, 1983) Một vài nhà trị liệu sẽ cảm thấy chán nản và tuyệt vọng càng nhiều nếu họ tiếp tục duy trì việc thực hành cho nên đã thay đổi nghề nghiệp, giảm số giờ trị liệu hoặc tạm thời nghỉ việc vì những khủng hoảng cá nhân (Owen, 1993)
Trước những hệ quả nghiêm trọng trên, thế giới đã bắt đầu tập trung nghiên cứu các yếu tố liên quan đến tình trạng kiệt sức của người thực hành tâm lý để từ đó có biện pháp
phòng ngừa và can thiệp thích hợp Kiệt sức bị ảnh hưởng bởi 2 nhóm yếu tố (1) yếu tố ngoại
cảnh, như đặc điểm công việc, đặc điểm tổ chức, vấn đề của thân chủ, v.v và (2) yếu tố cá nhân, như tính cách, cảm xúc, tuổi tác, giới tính, cơ chế ứng phó, v.v (Maslach, 2001)
Trong việc can thiệp dựa trên các yếu tố ngoại cảnh, các nhà tham vấn trị liệu sẽ nhận được hỗ trợ bằng giám sát hoặc những người đồng nghiệp Tuy nhiên, phần lớn thời gian nhà trị liệu vẫn phải làm việc một mình cùng với thân chủ trong không gian riêng tư và phải tự đưa ra những quyết định quan trọng, tức thì trong tiến trình làm việc của mình (Melamed, 2001) Cho nên, các nghiên cứu mới gần đây đã tập trung nhiều hơn vào các yếu tố cá nhân
và cho rằng nó có hiệu quả can thiệp hơn so với yếu tố ngoại cảnh (Ledingham, 2015;
Routsalainen và các tác giả khác, 2015; Zapf và các tác giả khác, 2001) Ngoài ra, trong các yếu tố cá nhân, sự cô đơn và việc chăm sóc bản thân đã được nghiên cứu và chứng minh rằng
có ảnh hưởng quan trọng đến kiệt sức
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng với đặc tính nghề nghiệp, nhà tâm lý thường xuyên đối diện với cảm giác cô đơn (Cogan 1977; Guy & Liaboe, 1986; Rabu và các tác giả khác, 2015; Zur, 2019) và cô đơn là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng kiệt sức ở người thực hành tâm lý (Ami Rokach, 2018; Guy & Liaboe, 1986; Herzog, 2011; Levil và các tác giả khác, 2020)
Trang 12Ngoài ra, trong quá trình thực hành, nhà tham vấn trị liệu tâm lý dành phần lớn thời gian của họ để học tập, nghiên cứu, tập trung hoàn toàn vào việc chăm sóc sức khỏe cho người khác, lắng nghe và đối diện với những khổ đau của con người mà đôi khi quên lãng việc chăm sóc hay đáp ứng nhu cầu của chính mình (Zur, 2019) Việc thiếu khả năng chăm sóc bản thân đã làm gia tăng nguy cơ kiệt sức của người thực hành tâm lý (Alkema & cộng
sự, 2008; Brady, Guy, & Norcross, 1994; Miner, 2010)
Hiện tượng kiệt sức trở thành vấn đề phổ biến không chỉ ở các nước phương Tây mà còn xuất hiện ở các quốc gia phương Đông Các nghiên cứu cho rằng, các quốc gia phương Đông với hệ giá trị, niềm tin và văn hóa khác với phương Tây như văn hóa Nho giáo, chủ nghĩa tập thể có thể làm gia tăng mức độ căng thẳng và tăng nặng tình trạng kiệt sức
(Iwamoto & Liu, 2010; Jia & cộng sự, 2009; Kim & Omizo, 2005; See & cộng sự, 2018) Ngoài ra, các nghiên cứu trên thế giới cũng chỉ ra rằng các nhà tâm lý thường cô đơn và sao lãng việc chăm sóc bản thân và đó là những yếu tố nguy cơ dẫn đến kiệt sức Với sự phát triển còn non trẻ của hệ thống đào tạo và hành nghề tâm lý tại Việt Nam, môi trường làm việc còn thiếu các hệ thống giám sát, hỗ trợ chuyên nghiệp, những thắc mắc về việc liệu người thực hành tâm lý có cô đơn, thiếu việc chăm sóc bản thân và những yếu tố này có ảnh hưởng đến kiệt sức được hình thành
Từ các vấn đề trên, người nghiên cứu quyết định thực hiện nghiên cứu điều tra khả năng dự báo của sự cô đơn, việc chăm sóc bản thân đến kiệt sức của người thực hành tâm lý tại Việt Nam Việc biết được những yếu tố góp phần dự báo cho tình trạng kiệt sức có ý nghĩa quan trọng trong việc phòng ngừa, can thiệp và nâng cao chất lượng sức khỏe của người thực hành tham vấn trị liệu tâm lý từ đó mang lại hiệu quả điều trị cho thân chủ
Tính cấp thiết, ý nghĩa của nghiên cứu về mặt thực tiễn, xã hội
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về cô đơn, chăm sóc bản thân và tình trạng kiệt sức nghề nghiệp còn hạn chế Những người thực hành tâm lý tập trung vào quá trình học tập, nghiên
Trang 13cứu và chăm sóc sức khỏe người khác đôi khi quên lãng việc chăm sóc hay đáp ứng nhu cầu của chính mình Dẫu vậy, việc nâng cao nhận thức về bản thân (hiểu về cảm giác cô đơn và tình trạng kiệt sức) và thúc đẩy chăm sóc bản thân lại có liên quan trực tiếp đến hành vi đạo đức trong quá trình thực hành tâm lý và ảnh hưởng đến hoạt động chăm sóc sức khỏe tinh thần cho thân chủ Vì vậy đề tài mở ra hướng nghiên cứu mới giúp các nhà tâm lý nhận diện,
ý thức hơn về cảm giác cô đơn, những mối quan hệ, sự ảnh hưởng của cô đơn, chăm sóc bản thân với tình trạng kiệt sức và từ đó có biện pháp cải thiện, chăm sóc bản thân để tránh kiệt sức Nghiên cứu còn hướng đến việc giúp các tổ chức, nhà quản lý nhìn thấy được những yếu
tố nguy cơ từ đó cải thiện mạng lưới hỗ trợ, nâng cao chất lượng đời sống và công việc cho người thực hành tâm lý
Ý nghĩa của nghiên cứu về mặt khoa học
Đề tài mở ra hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng kiệt sức như: sự
cô đơn và việc chăm sóc bản thân ở người thực hành tâm lý Từ đó nghiên cứu này cung cấp bước đầu giúp các nghiên cứu trong tương lai tiếp tục tìm hiểu tình trạng cô đơn, kiệt sức, việc chăm sóc bản thân ở nhà tham vấn trị liệu tâm lý từ góc độ chuyên sâu hơn
Trang 14CHƯƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Kiệt sức từ lâu đã được công nhận là một hiện tượng quan trọng của xã hội và có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe thể chất và hiệu quả làm việc của người lao động Mục tiêu của phần này là cung cấp các tài liệu nghiên cứu trên thế giới về kiệt sức, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý học
Kiệt sức và người thực hành tâm lý
Kiệt sức nghề nghiệp đã được chứng minh có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả thực hành tâm lý lâm sàng (Maslach, 2001) Nhà tham vấn trị liệu sẽ xuất hiện cảm giác còn rất ít năng lượng, gần như cạn kiệt về mặt cảm xúc khi làm việc với thân chủ Họ có ít lòng trắc ẩn hơn, trở nên thờ ơ và có thể đổ lỗi cho thân chủ về những vấn đề trong trị liệu Ngoài ra kiệt sức còn khiến nhà trị liệu cảm thấy bất lực trong việc hỗ trợ thân chủ và từ đó ảnh hưởng đến chất lượng liệu pháp mà thân chủ nhận được (Brice, 2001)
Tuy nhiên kiệt sức thường bị nhầm lẫn với căng thẳng hay trầm cảm bởi vì kiệt sức là một tình trạng mãn tính, phát triển chậm và thường khó nhận biết trong giai đoạn đầu Storlie (1979) đã phát biểu rằng: “Kiệt sức là một quá trình ngấm ngầm đến mức khó tìm ra căn nguyên chính xác” (tr.2108) Trong đó, những dấu hiệu cảnh báo sớm thường bị bỏ qua, chỉ khi người lao động không còn khả năng quản lý căng thẳng, trở nên kiệt quệ và nghỉ việc thì người khác mới chú ý đến (Maslach, 2001)
Để hiểu rõ hơn về bản chất của kiệt sức, người nghiên cứu cung cấp những định nghĩa trong các nghiên cứu về “kiệt sức” và đồng thời làm rõ cụm từ “người thực hành tâm lý” mà nghiên cứu đang sử dụng trong phần trình bày dưới đây
Trang 15Khái niệm kiệt sức
Hầu hết các nhà nghiên cứu đều đồng ý với định nghĩa kiệt sức (tiếng anh là Burnout) là một hội chứng tâm lý để phản ứng lại với các tác nhân gây căng thẳng mãn tính trong công
việc (Simpson, 2018)
Meir (1983) cho rằng kiệt sức là một trạng thái cạn kiệt năng lượng khi các cá nhân nhận được ít phần thưởng, thiếu sự củng cố có giá trị so với những nỗ lực mà họ đã bỏ ra Định nghĩa của Meir cũng có phần tương đồng với khái niệm mà Freudenberger (1977) đã đề cập về việc kiệt sức là trạng thái mệt mỏi, thất vọng khi người lao động nhận được ít thành quả hơn những gì họ đã mong đợi và nỗ lực thực hiện
Theo Maslach và Jackson (1981), kiệt sức là một hiện tượng tâm lý, xuất hiện khi có một căng thẳng kéo dài trong công việc Koolhaas (2011) cũng đồng quan điểm, cho rằng mức độ căng thẳng trong công việc vượt quá khả năng đối phó của một cá nhân trong một thời gian dài có thể dẫn đến kiệt sức
Demerouti và cộng sự (2010) cho rằng khái niệm kiệt sức bao gồm hai khía cạnh: (1)
kiệt sức, trạng thái căng thẳng về thể chất, nhận thức, tình cảm trong một khoảng thời gian
dài và (2) từ bỏ công việc, đề cập đến sự rút lui khỏi công việc hiện tại của một người
Khái niệm “kiệt sức” sử dụng trong nghiên cứu này dựa trên khung lý thuyết của
Maslach Đây là khung lý thuyết đa chiều về mô hình ba yếu tố của kiệt sức và được xem là khung lý thuyết chiếm ưu thế trong các lĩnh vực nghiên cứu về kiệt sức (Maslach, 2001) Kiệt sức được Maslach (2001) định nghĩa là “một hội chứng tâm lý liên quan đến những phản ứng kéo dài với các yếu tố căng thẳng trong môi trường làm việc” (tr 189) Kiệt sức bao gồm ba
yếu tố: (1) kiệt sức về mặt cảm xúc (emotinal exhaustion), cảm giác cạn kiệt năng lượng, (2) phi cá nhân hóa (depersonalization), một phản ứng hoài nghi, vô cảm trước những khó khăn của thân chủ và (3) thành tích cá nhân(personal accomplishment), một xu hướng đánh giá bản
Trang 16thân tiêu cực và tin rằng mình không có đủ khả năng trong các tình huống liên quan đến công việc (Maslach, 1986)
Khái niệm người thực hành tâm lý
Trên thế giới, ngành tâm lý học có thể được ứng dụng vào việc nghiên cứu hoặc thực hành với nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau như giáo dục, truyền thông, nhân sự, sức khỏe tâm thần, v.v Trong lĩnh vực thực hành trợ giúp sức khỏe tinh thần cho con người, các nhà tâm
lý học có những chức danh khác nhau tùy thuộc vào bằng cấp đào tạo, chứng chỉ hành nghề như: nhà tâm lý lâm sàng, nhà tham vấn tâm lý, nhà trị liệu tâm lý, nhà tâm lý học đường và nhà phân tâm học Tất cả các chức danh này đều có thể làm công việc tham vấn hay trị liệu tâm
lý (Neukrug, 2021)
Trong những năm qua, đã có rất nhiều quan điểm so sánh giữa tham vấn (counseling)
và trị liệu tâm lý (psychotherapy), tuy nhiên cả 2 thuật ngữ này không có sự khác biệt nhiều,
đều được dùng để mô tả cách thức tiếp cận hỗ trợ cho các cá nhân có rối nhiễu tâm trí
(Williamson, 1950) Theo Patterson (1986), hai thuật ngữ này đều sử dụng cùng mô hình lý thuyết, chỉ khác nhau về mức độ và đều nhấn mạnh vào quá trình đồng hành, lắng nghe chú tâm, thấu cảm và nuôi dưỡng khả năng tự giúp và tự chịu trách nhiệm của thân chủ Yếu tố dùng để phân biệt 2 thuật ngữ này là mức độ can thiệp, trong đó tham vấn tâm lý can thiệp ít chuyên sâu hơn so với trị liệu tâm lý (Neukrug, 2021) Tuy nhiên, nhìn chung các thuật ngữ tham vấn và trị liệu tâm lý có thể được chọn sử dụng các từ thay thế cho nhau (Corey, 2009) Tại Việt Nam hiện nay các cử nhân tâm lý học có thể làm việc tại các trung tâm tham vấn, bệnh viện, trường học, hoặc hành nghề tâm lý độc lập tại văn phòng cá nhân (Trần Thị Minh Đức, 2009) Theo Quyết Định số 34/2020/QĐ -TTg Ban hành Danh mục nghề nghiệp Việt Nam, Nhà tâm lý học là danh xưng chung để chỉ những người nghiên cứu các hiện tượng tinh thần và hành vi của con người với các phân loại nhỏ hơn như Nhà tâm lý học lâm sàng, Nhà trị liệu tâm lý, Nhà tâm lý học đường, Nhà tâm lý học tổ chức, Nhà tâm lý học thể thao,
Trang 17v.v Các nhà tâm lý có thể tham gia vào quá trình giảng dạy, nghiên cứu hoặc thực hành lâm sàng
Từ đó cho thấy thuật ngữ “nhà tâm lý” vẫn còn khá rộng để mô tả chính xác nhóm khách thể của nghiên cứu Do đó, trong bài nghiên cứu này, cụm từ “người thực hành tâm lý” được sử dụng để để mô tả những người đang thực hành công việc tham vấn tâm lý hoặc trị liệu tâm lý cho những người có khó khăn tâm lý, rối nhiễu tâm trí và có bằng cấp cử nhân tâm lý trở lên hoặc có các chứng chỉ trị liệu tâm lý hoặc các cá nhân thuộc Hội Tâm lý, Chi hội Tâm lý Ngoài ra cụm từ này nhằm phân biệt với những nhà tâm lý chỉ làm các công việc nghiên cứu và giảng dạy Trong nghiên cứu, các cụm từ “ nhà tham vấn trị liệu”, “người thực hành tâm lý” có thể dùng thay thế cho nhau
Thực trạng nghiên cứu kiệt sức
Từ lâu trên thế giới đã công nhận kiệt sức là một hiện tượng quan trọng của thời đại, kiệt sức như một vấn đề xã hội và trở thành trọng tâm nghiên cứu có hệ thống của các nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực và đặc biệt phổ biến trong lĩnh vực y học, tâm lý học Các nghiên cứu về kiệt sức trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng sẽ được trình bày trong phần sau
Nghiên cứu kiệt sức trên thế giới
Từ những năm 1970 ở Hoa Kỳ, thuật ngữ kiệt sức nghề nghiệp đã bắt đầu được dùng phổ biến ở những đối tượng làm việc trong ngành dịch vụ chăm sóc con người Thuật ngữ này mô tả hiện tượng một người có khó khăn dẫn đến đứt gãy trong công việc của họ
(Maslach, 2001) Các bài báo, bài tiểu luận và các nghiên cứu bắt đầu được triển khai, điển hình là nghiên cứu của bác sĩ tâm thần – nhà phân tâm học Mỹ J.Freudenberger trên đối tượng tình nguyện viên tại phòng khám sức khỏe tâm thần và nhân viên y tế chăm sóc cho bệnh nhân nghiện Kiệt sức được định nghĩa trong một từ điển là “thất bại, hao mòn hoặc trở nên kiệt quệ do đòi hỏi quá mức về năng lượng, sức mạnh và nguồn lực” (Freudenberger,
Trang 181977, tr.90) Freudenberger cho rằng tín hiệu cảnh báo quan trọng nhất của kiệt sức là việc người lao động có ít thành quả hơn những gì họ đã nỗ lực bỏ công thực hiện (Freudenberger, 1977b) Trong giai đoạn này, nhà tâm lý học xã hội Maslach cũng đã thực hiện các cuộc phỏng vấn nhân viên trong ngành chăm sóc sức khỏe, các chuyên gia y tế về những căng thẳng trong công việc của họ và thấy rằng những người bị kiệt sức có xu hướng mất đi sự quan tâm, tình cảm, lòng trắc ẩn với thân chủ của họ (Maslach, 1976) Maslach gọi “hội chứng kiệt sức về cảm xúc” (emotional exhaustion syndrome) là hiện tượng suy giảm mức độ hài lòng trong công việc và hiệu suất thấp trong công việc (Reiner & Hartshorne, 1982) Trong những năm 1980, các công trình nghiên cứu về kiệt sức mang tính thực nghiệm
và hệ thống hơn so với giai đoạn đầu (Maslach và các tác giả khác, 2001) Maslach và
Jackson (1981) đã nói rằng căng thẳng lâu dài sẽ dẫn đến kiệt sức và phát triển thang đo Maslach Burount Inventory (MBI) để đo lường, đánh giá tình trạng kiệt sức Thang đo này ban đầu được sử dụng trong các ngành dịch vụ con người sau đó được tạo ra các phiên bản sử dụng cho môi trường giáo dục
Đến những năm 1990, khái niệm kiệt sức được mở rộng cho nhiều ngành nghề khác như xã hội học, công tác xã hội, nhân sự, quản lý, văn thư, v.v Các công cụ thống kê và phương pháp nghiên cứu ngày càng được cải tiến cho phép kiểm tra các mối quan hệ phức tạp liên quan đến kiệt sức (Maslach, 2001)
Hiện tượng kiệt sức trong các ngành nghề phục vụ con người đã trở thành một chủ đề đáng quan tâm trong những năm 1990 (Leiter & Harvie, 1996) Có nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng tình trạng kiệt sức tồn tại đáng kể trong nghề giúp đỡ (Maslach & Jackson, 1984)
Trong một nghiên cứu của Webster và Hackett (1999) trên 151 nhân viên sức khỏe tâm thần ở phía Bắc California, đã báo cáo có khoảng 54% nhân viên bị kiệt sức Trong nghiên cứu của Morse và cộng sực (2012) cũng báo cáo rằng có khoảng 21-67% chuyên gia trong
Trang 19lĩnh vực sức khỏe tâm thần có mức độ kiệt sức cao Acker (2012), trong cuộc khảo sát của cô
ấy với 460 nhân viên sức khỏe tâm thần ở bang New York, báo cáo rằng 56% nhân viên đã trải qua mức độ kiệt sức về cảm xúc từ trung bình đến cao
Hiện tượng kiệt sức không chỉ xuất hiện ở các nước phương Tây Ở các quốc gia
phương Đông, đây cũng được xem là một vấn đề quan trọng cần được xem xét và nghiên cứu Các giá trị niềm tin và thế giới quan theo văn hóa châu Á ảnh hưởng lớn đến cách cá nhân biểu hiện các vấn đề tâm lý (Kim & Omizo, 2005) Với các quốc gia có nền văn hóa ảnh hưởng bởi Nho giáo có thể làm gia tăng mức độ căng thẳng và tăng nặng tình trạng kiệt sức (See & cộng sự, 2018) Nghiên cứu ở Trung Quốc chỉ ra rằng chủ nghĩa tập thể có thể làm lu
mờ lợi ích cá nhân và gia tăng tình trạng kiệt sức (Jia & cộng sự, 2009; Iwamoto & Liu, 2010)
Trong một nghiên cứu của Lee (2014) trên các y tá tại Đài Loan đã báo cáo rằng tình trạng kiệt sức ở các nhân viên y tế phổ biến hơn nhiều so với các nhóm chuyên môn khác, đặc biệt là các y tá Tình trạng kiệt sức của y tá dẫn đến việc họ nghỉ việc và gia tăng tình trạng thiếu nhân lực Tại Đài Loan, gần 40% y tá của quốc gia này không hành nghề, 89% bệnh viện được khảo sát báo cáo rằng rất khó khăn trong việc tuyển dụng y tá
Theo nghiên cứu của Yang (2015) với 220 chuyên gia chăm sóc sức khỏe tâm thần tại Singapore báo cáo rằng những chuyên gia có số năm kinh nghiệm ít, thu nhập thấp có mức độ kiệt sức cao nhất
Khoảng năm 1940, Freud cũng đã từng nhắc đến “mối nguy hiểm của việc phân tâm”
để mô tả những rủi ro có thể xuất hiện đối với những phân tâm gia khi họ sử dụng việc phân tích nội tâm cá nhân trong mối quan hệ điều trị (Farber & Louis, 1982) Những căng thẳng này là do công việc đòi hỏi mức độ dự phần của tính cá nhân một cách đáng kể, chẳng hạn như nhà tâm lý học, phân tâm gia, v.v (Cushway, 1996)
Trang 20Có nhiều nghiên cứu về kiệt sức ở các nhà thực hành tâm lý như nghiên cứu của
Ackerley và cộng sự (1988) đã báo cáo rằng gần 39,9% tiến sĩ tâm lý học có tình trạng kiệt sức ở mức độ cao Ngoài ra còn có nhiều nghiên cứu trên các đối tượng khác nhau như nhà tâm lý học đường ở Mỹ (Huebner, 1993); nhà trị liệu làm việc với bệnh nhân lạm dụng chất (Elman & Dowd, 1997); các tiến sĩ tâm lý trong Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ (Vredenburgh, 1999); các nhà tâm lý lâm sàng và tham vấn tâm lý (Simpson và các tác giả khác, 2018) đều cho thấy mức độ kiệt sức từ trung bình đến cao
Nghiên cứu kiệt sức tại Việt Nam
Tại Việt Nam, theo Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 báo cáo vào năm 2014 có 14,2% dân số mắc các rối loạn tâm thần mà trong đó trầm cảm chiếm tỉ lệ 2,45% Trước thực trạng gia tăng những vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần, trước sức ép quá lớn của công việc
có thể khiến nhân viên y tế có tỉ lệ căng thẳng khá cao Từ đó các nghiên cứu về sức khỏe tâm thần ở các nhân viên y tế ngày càng được quan tâm
Theo khảo sát của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường tại một khoa hồi sức cấp cứu, gần 23% nhân viên có điểm stress ở mức cao, 42% có điểm stress ở mức trung bình (Tăng Thị Hảo, Tăng Thị Hải & Đỗ Minh Sinh, 2019) Theo nghiên cứu của Trương Đình Chính, Cao Ngọc Nga, Nguyễn Đỗ Nguyên và Ngô Tích Linh (2009), có gần 59% nữ hộ sinh tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu có khả năng mắc rối loạn tâm thần Ngoài ra mức độ căng thẳng trong làm việc còn được nghiên cứu trên nhiều đối tượng khác như: nhân viên y tế bệnh viện tâm thần Tiền Giang (Nguyễn Trung Tần, 2012) và điều dưỡng tại bệnh viện Nhi Thái Bình (Tăng Thị Hảo và các tác giả khác, 2019) Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh, Bùi Nguyễn Thành Long và Nguyễn Thành Luân (2019) báo cáo rằng tỉ lệ kiệt sức của điều dưỡng khoa hồi sức cấp cứu tại một số bệnh viện quận huyện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh lên đến 78,3% Các ảnh hưởng của kiệt sức trong quá trình làm việc tại bệnh viện cũng được nghiên cứu Theo nghiên cứu của Nguyển Tiến Hoàng, Biện Huỳnh San Đan, Phạm Văn An, Bùi
Trang 21Nguyễn Thành Long và Nguyễn Thành Long (2019), có 15% bác sĩ và 13% điều dưỡng ở bệnh viện đa khoa khu vực Củ Chi có tình trạng kiệt sức, trong đó những cá nhân có điểm thành tích cá nhân giảm làm tăng nguy cơ gây sai sót trong sử dụng thuốc lên 2,44 lần và gây nhiễm khuẩn bệnh viện lên 1,45 lần Nghiên cứu về tình trạng kiệt sức ở nhân viên chẩn đoán hình ảnh tại bệnh viện hữu nghị Việt Tiệp – Hải Phòng chỉ ra rằng có 20% tỷ lệ nhân viên chẩn đoán hình ảnh có mức độ kiệt sức cao (Nguyễn Bảo Trân, Nguyễn Thị Thu Hương, Phạm Minh Khuê và Vũ Hải Vinh, 2021) Ngoài ra, trong giai đoạn dịch Covid căng thẳng vừa qua, các nghiên cứu về kiệt sức nghề nghiệp ở nhân viên y tế tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng được nghiên cứu Trong đó có nghiên cứu chỉ ra rằng có khoảng 27,4% nhân viên y tế thuộc Trung tâm Y tế quận Gò Vấp có mức độ kiệt sức cao (Trương Bình Minh, Nguyễn Trung Hòa, Vũ Thanh Mai và Hà Thị Lệ Hằng, 2022)
Bên cạnh lĩnh vực y tế, kiệt sức nghề nghiệp tại Việt Nam còn được nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục Trong kết quả luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Hoàng Anh Vũ (2021) cho thấy rằng có 48,9% giảng viên đại học ở thành phố Hồ Chí Minh có mức độ kiệt sức trung bình và 4,8% giảng viên có mức độ kiệt sức cao Theo nghiên cứu của tác giả Trì Thị Minh Đức (2021), có 12% giáo viên tại Việt Nam có tình trạng kiệt sức cao
Tuy nhiên, tại thời điểm này người nghiên cứu chưa tìm thấy có nghiên cứu nào được tiến hành xem xét cụ thể tình trạng kiệt sức trong các nhà tham vấn trị liệu tại Việt Nam
Các quan điểm lý thuyết về kiệt sức
Có nhiều tranh luận khác nhau về những lý thuyết hình thành nên kiệt sức, đa phần sẽ
tập trung vào hai phương diện (1) yếu tố ngoại cảnh như tổ chức, công việc, môi trường làm việc, v.v và (2) yếu tố cá nhân như tuổi tác, giới tính, đặc điểm tính cách niềm tin, cơ chế
ứng phó, v.v
Trang 22Theo Karasek (1979), kiệt sức được thể hiện qua mô hình kiểm soát nhu cầu công việc gồm 2 yếu tố (1) nhu cầu của công việc, đây là những yêu cầu đặt ra trong công việc và buộc nhân viên phải đáp ứng và (2) quyền kiểm soát của nhân viên, yếu tố này liên quan đến khả năng tự chủ của nhân viên trong công việc Mô hình cho rằng những căng thẳng cao xuất hiện khi nhân viên đồng thời vừa phải đáp ứng những nhu cầu rất cao từ phía công việc và không
có quyền kiểm soát, họ phải làm theo những gì mà người quản lý ra lệnh Theo Bakker và Demerouti (2007), mô hình nhu cầu công việc – nguồn lực đã chỉ ra rằng kiệt sức được hình thành do sự mất cân bằng giữa nhu cầu công việc và khả năng đáp ứng của cá nhân Siegrist (1996) cho rằng kiệt sức xảy ra do mất cân bằng giữa nỗ lực cá nhân của người lao động và đãi ngộ từ phía tổ chức Điều đó có nghĩa khi nỗ lực của một cá nhân không được ghi nhận hoặc đền đáp xứng đáng sẽ dẫn đến tình trạng kiệt sức
Những mô hình trên nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố ngoại cảnh lên tình trạng kiệt sức như đặc điểm tổ chức, môi trường làm việc, sự ghi nhận và phần thưởng Tuy nhiên các yếu tố ngoại cảnh dường như chỉ giải thích một phần tình trạng kiệt sức và thiếu sự thừa nhận về vai trò của các yếu tố cá nhân đối với căng thẳng trong công việc (Van der Deof & Maes, 1999)
Mô hình lý thuyết kiệt sức sau này được Maslach nghiên cứu mở rộng hơn khi đặt kiệt sức trong mối quan hệ giữa con người và bối cảnh công việc Khoảng cách, sự không phù hợp giữa con người và bối cảnh càng lớn thì nguy cơ kiệt sức càng cao (Maslach & Leiter, 1997) Maslach và cộng sự (2001) cho rằng có hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng kiệt
sức là (1) các yếu tố ngoại cảnh, như nhu cầu làm việc, đặc điểm nghề nghiệp, đặc điểm tổ chức và (2) các yếu tố cá nhân, như đặc điểm nhân khẩu học, nét tính cách, thái độ trong
công việc
Trang 23Yếu tố ngoại cảnh và kiệt sức
Các yếu tố ngoại cảnh gồm 3 thành tố: nhu cầu công việc, đặc điểm nghề nghiệp và đặc điểm tổ chức
Nhu cầu công việc được nhắc đến với các tiêu chí trong công việc mà người lao động
phải thực hiện như: khối lượng công việc cần làm trong thời gian có sẵn, số giờ làm việc, số lượng thân chủ tiếp cận, sự mơ hồ về vai trò làm việc, mức độ nghiêm trọng trong vấn đề của thân chủ và sự hỗ trợ xã hội như: giám sát và đồng nghiệp Các nghiên cứu cho thấy, khi cá nhân đối diện với khối lượng công việc quá khả năng thực hiện sẽ làm gia tăng sự căng thẳng (Farber & Heifetz, 1982; Karasek, 1979), đồng thời việc có quá nhiều nhiệm vụ chồng chéo nhau và cá nhân không có đủ thông tin về cách thực hiện các nhiệm vụ trong công việc sẽ dẫn đến những mơ hồ trong việc xác định vai trò của bản thân từ đó dẫn đến tình trạng mệt mỏi
và những cái nhìn tiêu cực về bản thân trong quá trình làm việc (Maslach, 2001) Ngoài ra việc tiếp nhận quá nhiều các vấn đề nghiêm trọng của thân chủ và thiếu sự hỗ trợ từ người giám sát và đồng nghiệp cũng dự báo tình trạng kiệt sức cao (Farber & Heifetz, 1982;
Maslach, 2001)
Đặc điểm nghề nghiệp nhấn mạnh những thách thức về cảm xúc khi làm việc chuyên
sâu với những người khác trong vai trò chăm sóc hoặc dạy dỗ, khi đó họ phải thể hiện hoặc kìm nén cảm xúc trong công việc hoặc trở nên đồng cảm về mặt cảm xúc với đối tượng làm việc của họ và từ đó gia tăng căng thẳng (Maslach, 2001) Trong nghiên cứu kiệt sức, các lĩnh vực nghề nghiệp mang tính thách thức cảm xúc cao được nhắc đến như: giáo dục, dịch vụ xã hội, y học, sức khỏe tâm thần, pháp luật (Schaufeli & Enzmann, 1998)
Đặc điểm tổ chức đề cập đến các khía cạnh về quy trình hoạt động và không gian làm
việc của tổ chức có đáp ứng được niềm tin, sự kỳ vọng và mang lại giá trị làm việc cho nhân viên hay không Khi những giá trị của cá nhân đi ngược lại giá trị của tổ chức tình trạng kiệt sức sẽ xuất hiện (Maslach, 2001)
Trang 24Yếu tố cá nhân và kiệt sức
Các yếu tố cá nhân bao gồm thành tố: các yếu tố nhân khẩu học, đặc điểm tính cách và thái độ trong công việc
Trong đó các yếu tố nhân khẩu học như tuổi tác, giới tính, tình trạng hôn nhân và trình
độ học vấn được xem xét có ảnh hưởng đến tình trạng kiệt sức Tuy nhiên các nghiên cứu về
sự ảnh hưởng của yếu tố nhân khẩu học lên kiệt sức cho ra những kết quả khác nhau và hiện vẫn còn nhiều tranh cãi Maslach và Jackson (1981) nhận thấy rằng phụ nữ đạt điểm cao hơn trong các phép đo về cạn kiệt cảm xúc so với nam giới, trong khi đó nghiên cứu của Ackerley
và cộng sự (1988) cho thấy không có mối quan hệ đáng kể nào giữa giới tính và kiệt sức Theo Vredenburgh (1999), trong các yếu tố nhân khẩu học, chỉ có tuổi tác có mối quan hệ đáng kể đến kiệt sức
Với đặc điểm tính cách như “cảm nhận giá trị bản thân” (self-esteem) thấp và cơ chế
ứng phó tránh né thường có mức độ kiệt sức cao Các nghiên cứu mô tả, những cá nhân thiếu linh hoạt, ít tham gia vào các hoạt động xã hội hằng ngày hoặc phụ thuộc vào các tiêu điểm kiểm soát bên ngoài thường có nguy cơ bị kiệt sức (Maslach, 2001)
Thái độ trong công việc đề cập đến những niềm tin và kỳ vọng của cá nhân trong công
việc, nếu nó thiếu thực tế sẽ gia tăng nguy cơ bị kiệt sức Trong đó, kỳ vọng quá cao khiến cá nhân đó làm việc quá sức và làm quá nhiều tuy nhiên kết quả không như mong đợi và từ đó như một vòng lặp khiến cá nhân rơi vào tình trạng kiệt sức (Maslach, 2001)
Theo Routsalainen và cộng sự (2015), các can thiệp kiệt sức chỉ dựa vào các yếu tố thay đổi của ngoại cảnh chứ không dựa vào yếu tố cá nhân tương đối kém hiệu quả Các nghiên cứu mới gần đây đã tập trung nhiều hơn vào các yếu tố cảm xúc của cá nhân và đã phát hiện ra rằng những yếu tố cảm xúc này tạo ra sự khác biệt trong điểm số kiệt sức so với các yếu tố ngoại cảnh (Zapf & cộng sự, 2001)
Trang 25Từ các mô hình lý thuyết, ta thấy rằng kiệt sức chịu sự ảnh hưởng bởi cả hai nhóm yếu
tố ngoại cảnh và cá nhân mà trong đó các đặc điểm nghề nghiệp và cá nhân trong bối cảnh công việc sẽ rất khác nhau trong các ngành nghề Với tính đặc thù của nghề thực hành tâm lý, những thắc mắc về việc có những yếu tố đặc trưng nào ảnh hưởng đến tình trạng kiệt sức của các nhà tâm lý được hình thành
Để trả lời cho câu hỏi này, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã tìm hiểu những yếu tố
ảnh hưởng đến kiệt sức ở người thực hành tâm lý và trong đó 2 yếu tố cô đơn và việc chăm
sóc bản thân được đề cập và triển khai trong nghiên cứu này bởi các lý do sau: (1) Với nét
văn hóa cộng đồng, những ảnh hưởng trong văn hóa Nho giáo ở Việt Nam, các giá trị đạo đức ưu tiên lợi ích tập thể hơn lợi ích cá nhân có thể dẫn đến việc quan tâm chăm sóc bản thân bị phớt lờ hoặc xem nhẹ Ngoài ra với sự phát triển non trẻ của nghề tâm lý tại Việt Nam, những thắc mắc về việc liệu các nhà tâm lý có cô đơn, việc tự chăm sóc bản thân của
họ như thế nào và các yếu tố này có ảnh hưởng, dự báo đáng kể đến kiệt sức của người thực hành tâm lý được hình thành (2) Cô đơn là vấn đề nghiêm trọng nhất trong số các yếu tố nguy cơ liên quan đến tình trạng căng thẳng của những người thực hành lâm sàng, trong đó
có nhà tham vấn tâm lý (Rokach, 2018), và (3) việc thúc đẩy tự chăm sóc bản thân có liên quan trực tiếp đến hành vi đạo đức
Cô đơn và kiệt sức
Khái niệm cô đơn
Có nhiều cách tiếp cận lý thuyết khác nhau về cô đơn, trong triết học xem cô đơn như là một hiện tượng tự nhiên diễn ra trong cuộc đời con người, trong xã hội học thì cho rằng cô đơn xuất phát từ mong mong được kết nối của con người với cộng đồng và phụ thuộc vào các giá trị văn hóa, xã hội (Peplau & Caldwel, 1978)
Trong tâm lý, cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau về cô đơn Từ nửa sau thế kỷ 20, với sự phát triển thuyết gắn bó của Jonh Bowlby về mối quan hệ gắn bó giữa người chăm sóc
Trang 26và trẻ sơ sinh, những khái niệm, lý luận về sự cô đơn được hình thành Bowlby cho rằng, những đứa trẻ có kiểu gắn bó không an toàn thường trực cảm giác sợ bị bỏ rơi, khó kết nối với người khác và xuất hiện cảm giác gọi là cô đơn (Hawkley, 2018) Theo cách tiếp cận hiện sinh, cô đơn được xem là cảm giác tách biệt khỏi những người khác và đó chỉ đơn giản là một phần của cuộc sống và có thể là trải nghiệm tích cực (Vaarala và các tác giả khác, 2013) Tuy nhiên, Peplau và Caldwel (1978) cho rằng các cách tiếp cận trên thiếu sự kiểm chứng, có nền tảng lý thuyết khá yếu trong nghiên cứu và từ đó phát triển nên hệ thống lý thuyết về nhận thức xã hội để định nghĩa và nghiên cứu về cô đơn Trọng tâm của lý thuyết nhấn mạnh về việc cô đơn xuất phát từ mong muốn của một người về các mối quan hệ xã hội chứ không phải từ nhu cầu được tiếp xúc của người đó
Dựa trên lý thuyết về nhận thức xã hội, cô đơn được định nghĩa là sự thay đổi trạng thái cảm xúc, một sự khó chịu phát sinh từ sự mong muốn trong mối quan hệ giữa các cá nhân nhưng không được thỏa mãn (Peplau & Perlman, 1982) Theo lý thuyết của Peplau và
Perlman, khi một cá nhân cảm thấy cô đơn trong một tình huống nhất định, mà hầu hết những người khác không cảm thấy cô đơn thì có khả năng là sự cô đơn được quy vào các yếu tố bên trong của cá nhân đó Russell, Peplau và Ferguson (1978) nghĩ rằng cô đơn là một vấn đề phổ biến và nghiêm trọng nên đã phát triển thang đo mức độ cô đơn University of California Los Angeles Loneliness Scale (UCLA)
Cô đơn không thể được giải thích là trạng thái ở một mình về thể chất ở một nơi; một người vẫn có thể cảm thấy cô đơn ngay cả khi họ có mặt trong một số mối quan hệ xã hội (Koçak, 2003) Ngoài ra, một người có thể không muốn tham gia vào bất cứ quan hệ xã hội nào theo lựa chọn của riêng mình và điều này không nên được đánh giá là sự cô đơn (McKay, Konowalczyk, Andretta, & Cole, 2017) Cô đơn được định nghĩa là một cảm giác khó khăn dựa trên trải nghiệm chủ quan của một người với các mối quan hệ xã hội của người đó Một
số người sống ẩn dật mà không cảm thấy cô đơn, một số người có thể cảm thấy cô đơn ngay
Trang 27cả khi họ có nhiều mối quan hệ (Hawkley và các tác giả khác, 2008) Ngoài ra, cô đơn phản ánh cảm giác chán nản với các kết nối xã hội và mất đi sự hài lòng đối với những người khác (Margalit, 2012)
Tình trạng cô đơn của người thực hành tâm lý
Cô đơn là một trong những vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con người (Eriş & Barut, 2020) Những thắc mắc về việc liệu nhà tham vấn có trải qua cảm giác cô đơn và nó ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe tâm thần cũng như hiệu quả làm việc của họ đã trở thành chủ đề hấp dẫn của các nhà nghiên cứu
Với đặc thù của nghề về nguyên tắc bảo mật, mối quan hệ kép các nhà tham vấn trị liệu tâm lý đối mặt với việc cuộc sống cá nhân dần bị thu hẹp và họ phải tiết giảm những nhu cầu thân mật trong tương quan với người khác Họ dần xa cách, cạn kiệt cảm xúc trong các mối quan hệ với gia đình và bạn bè (Guy & Liaboe, 1986), dần cô lập và trở thành “người ngoài cuộc” (Rabu và các tác giả khác, 2015) Theo Cogan (1977), các nhà tâm lý được ghi nhận là những người cô đơn, họ rất ít bạn Guy và Liaboe (1985) cho rằng các nhà trị liệu tâm lý thường bị cô lập cả về thể chất và tinh thần khỏi cộng đồng mà họ đang phục vụ và họ dần trở nên thu mình, tách biệt khỏi các mối quan hệ Quá trình làm việc của một nhà tham vấn được
mô tả khá khép kín, trong đó họ thường xuyên làm việc trong căn phòng riêng tư với thân chủ, đa phần phải tự đưa ra những quyết định trong quá trình can thiệp và chỉ thỉnh thoảng gặp gỡ các đồng nghiệp để thảo luận nhóm và trao đổi (Rokach, 2018) Các nhà tham vấn hạn chế đề cập đến các khó khăn của bản thân vì việc chia sẻ khó khăn của mình với các đồng nghiệp khác có thể khiến các nhà tham vấn cảm thấy xấu hổ, lo sợ đồng nghiệp có cái nhìn tiêu cực, xem họ là người có vấn đề về năng lực chuyên môn (Coaston, 2017; Rust, Raskin,
& Hill, 2013) Việc đối diện với các khó khăn một mình khiến các nhà tham vấn trở nên nghi hoặc bản thân, thất vọng và cô đơn (Melamed và các tác giả khác, 2001) Tuy nhiên đối phó với cảm giác cô đơn về cơ bản là một quá trình trưởng thành trong đó nhà tham vấn học cách
Trang 28chứa đựng thân chủ và cảm giác cô đơn của chính mình, quá trình này cần nhà tham vấn nhận diện được mình đang cô đơn và đồng hành cùng người giám sát (Yerushalmi, 1992)
Khi phân tích các phần tài liệu riêng lẻ về cô đơn và kiệt sức, mặc dù có một số nghiên cứu về mối tương quan nhưng rất ít nghiên cứu cho thấy khả năng dự báo của cô đơn đối với mức độ kiệt sức trên đối tượng người thực hành tâm lý
Mối quan hệ giữa cô đơn và kiệt sức
Mối liên hệ giữa cô đơn và kiệt sức được nghiên cứu trên nhiều nhóm đối tượng khác nhau như: học sinh, sinh viên, nhân viên văn phòng, mục sư, nhân viên y tế, người thực hành tâm lý Các nghiên cứu sau đây sẽ làm rõ mối quan hệ này
Trong nghiên cứu trên sinh viên đại học năm nhất do O’Donovan và Hughes (2007) thực hiện chỉ ra rằng sự cô đơn có ảnh hưởng đến căng thẳng và cần có những can thiệp tâm
lý xã hội để ngăn chặn căng thẳng Trong nghiên cứu của Lin và Huang (2012), người ta phát hiện ra rằng có mối tương quan cao giữa sự cô đơn và kiệt sức của học sinh, mức độ kiệt sức của học sinh tăng lên khi mức độ cô đơn của họ tăng lên Nghiên cứu hồi quy của Ujang Wartoyo (2019) trên đối tượng học sinh lớp 11 ở Indonesia cho kết quả cô đơn dự đoán đáng
kể tình trạng kiệt sức với chỉ số p < 001
Trong nghiên cứu Seppälä và King (2017) chỉ ra rằng sự kiệt sức ở nơi làm việc không xuất phát từ sự cô đơn hoặc cô lập xã hội mà là sự kiệt quệ về mặt tinh thần Họ nhấn mạnh rằng một người càng kiệt sức thì càng cảm thấy cô đơn
Nghiên cứu trước đó của Guy và Liaboe (1986) trên các nhà trị liệu tâm lý của giáo phái cơ đốc kết luận rằng sự cô đơn làm cho các nhà trị liệu trở nên tách mình khỏi mối quan
hệ và dẫn đến tình trạng căng thẳng Theo kết quả nghiên cứu của Rokach (2018), cô đơn là vấn đề nghiêm trọng nhất trong số các yếu tố nguy cơ liên quan đến tình trạng căng thẳng của những người thực hành lâm sàng: bác sĩ tâm thần, y tá, phân tâm gia và các nhà tâm lý Có bằng chứng cho thấy đôi khi cô đơn không dẫn đến việc mất kết nối xã hội, nhưng nó có liên
Trang 29quan đến tình trạng kiệt sức trong quá trình làm việc (Levil và các tác giả khác, 2020) Theo Herzog (2011), sự cô đơn có thể là yếu tố nguy cơ dẫn đến kiệt sức nghề nghiệp Những nhân viên y tế gặp phải tình trạng cô đơn cũng báo cáo mức độ kiệt sức cao hơn (Shapiroet và các tác giả khác, 2015) Tuy nhiên đây chỉ là nghiên cứu cắt ngang với nhóm đối tượng làm trong ngành sức khỏe tâm thần, chưa đủ để kết luận liệu trong nhóm những người thực hành tham vấn trị liệu tâm lý sẽ như thế nào
Chăm sóc bản thân và kiệt sức
Khái niệm chăm sóc bản thân
Theo Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ (American Psychological Association được viết tắt là APA) chăm sóc bản thân được xem là một phần trong nguyên tắc lợi ích của đạo đức hành nghề: “Các nhà tâm lý học cố gắng nhận thức được ảnh hưởng có thể có của sức khỏe thể chất, tinh thần của họ đối với khả năng giúp đỡ những người mà họ làm việc cùng” (APA
2017, tr.3) Nhà tham vấn có thể gây hại cho thân chủ và chính bản thân nếu như họ không nhận thức được khó khăn và nhu cầu của họ
Thực hành chăm sóc bản thân bao gồm sáu lĩnh vực chính: (1) chăm sóc bản thân về
thể chất, thường xuyên được chăm sóc y tế và có các hoạt động phòng ngừa, bảo vệ sức khỏe
thể chất; (2) chăm sóc bản thân về tâm lý, dành thời gian tự suy ngẫm, quan sát những điều đang diễn ra bên trong tâm trí; (3) chăm sóc bản thân về tình cảm, tìm và thực hiện những điều khiến bản thân vui vẻ, thoải mái; (4) chăm sóc bản thân về tinh thần, xác định điều có ý nghĩa và vị trí của nó trong cuộc sống của bản thân; (5) chăm sóc bản thân trong tính chuyên
nghiệp ở môi trường làm việc, dành khoảng thời gian trong ngày để nghỉ ngơi và tìm kiếm sự
hỗ trợ khi gặp khó khăn trong chuyên môn và (6) chăm sóc bản thân trong sự cân bằng, cố
gắng cân bằng giữa công việc, gia đình, các mối quan hệ, làm việc, vui chơi và nghỉ ngơi (Saakvitne & Pearlman, 1996) Saakvitne và cộng sự (1996) đã phát triển bảng đo lường chăm sóc bản thân (Self-Care Assessment Worksheet được viết tắt là SCAW) để đánh giá
Trang 30khả năng chăm sóc bản thân của các chuyên gia trải qua sang chấn Bảng lượng giá này trở thành công cụ đo lường phổ biến trên thế giới (Alkema, Linton & Davies, 2008; Canjuga, Železnik, Neuberg, Božicevic & Božicevic, 2018; Catlin-Rakoski, 2012) Đây cũng là khung khái niệm chính được sử dụng trong nghiên cứu này
Ngoài ra, theo Williams (2010), chăm sóc bản thân có thể được định nghĩa là các hành
vi mà một người thực hiện để giảm mức độ căng thẳng, lo lắng mà họ trải qua khi làm việc với thân chủ Việc nhà lâm sàng tham gia vào liệu pháp trị liệu cá nhân của chính họ được xem là một phần của quá trình đào tạo để tự chăm sóc bản thân (Miner, 2010) Chăm sóc bản thân là một nỗ lực không ngừng để duy trì khả năng thực hành mà không dẫn đến tình trạng kiệt sức (Santana, 2017) Kiệt sức là một quá trình kéo dài, không phải một sự kiện, nó ảnh hưởng đến sức khỏe của một người trên nhiều khía cạnh bao gồm thể chất, cảm xúc, hành vi, tính chuyên nghiệp và mối liên hệ giữa các cá nhân (Salston & Figley, 2003)
Tầm quan trọng của chăm sóc bản thân ở người thực hành tâm lý
Các chuyên gia trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe bên cạnh việc đáp ứng các nhu cầu của bệnh nhân họ cần đáp ứng tất cả các nhu cầu của bản thân trong cuộc sống bao gồm nhu cầu cá nhân, gia đình, tình cảm và tinh thần (Figley, 2002) Đối mặt với quá nhiều nhiệm vụ, quá tải trong công việc, người chăm sóc cần phải khám phá các thành phần cơ bản của tự chăm sóc và có cách thức hành động để duy trì thực hành lâm sàng đầy đủ và an toàn
(Sharifian, 2019)
Hiệp hội Tham vấn Hoa Kỳ (American Counseling Association được viết tắt là ACA) khẳng định rằng “Các nhà tham vấn không được cung cấp các dịch vụ chuyên nghiệp khi các vấn đề về thể chất, tinh thần hoặc cảm xúc của họ có thể gây hại cho thân chủ hoặc những người khác Họ cần cảnh giác với các dấu hiệu của sự suy yếu, thông báo cho người giám sát
và tìm kiếm sự hỗ trợ để giải quyết các vấn đề, và nếu cần, hạn chế, đình chỉ hoặc chấm dứt trách nhiệm nghề nghiệp cho đế khi họ có thể tiếp tục công việc một cách an toàn” (ACA,
Trang 312014, tr.13) Từ đó cho thấy việc có khả năng nhận biết tình trạng kiệt sức và thực hiện hành động thích hợp trở thành trách nhiệm và hành vi đạo đức của người thực hành lâm tâm lý Việc thực hành trị liệu có thể cực kỳ khó khăn đối với ngay cả những chuyên gia giàu kinh nghiệm nhất Trong suốt phiên làm việc kéo dài gần 50 phút, nhà trị liệu phải đối diện với cả sự mệt mỏi về tinh thần lẫn trí tuệ Những năng lượng bị tiêu hao này cần được phục hồi bằng những cách thức tự chăm sóc bản thân (Owen, 1993) Trầm cảm, tự tử, lạm dụng chất kích thích, kiệt sức là những hệ quả nghiêm trọng đối với những người thực hành tâm lý không chăm sóc hiệu quả cho bản thân (Brady, Guy, & Norcross, 1994)
Smith và Moss (2009) kết luận rằng chăm sóc bản thân là động lực mạnh mẽ nhất để ngăn chặn sự suy giảm chuyên môn Tuy nhiên, việc chăm sóc bản thân ít được các chuyên gia chăm sóc sức khỏe tâm thần chú ý (Dorociak & cộng sự, 2017)
Các nhà tham vấn cần nhận thức được tầm quan trọng của việc chăm sóc bản thân để duy trì sức khỏe cá nhân và hiệu quả nghề nghiệp (Miner, 2010) Ý nghĩa của việc chăm sóc bản thân có thể khác nhau đối với mỗi cá nhân và mỗi ngành nghề, tuy nhiên, về cơ bản, nó là chăm sóc sức khỏe và hạnh phúc của bản thân ở cả khía cạnh cá nhân và năng lực chuyên môn (Pakenham & Stafford- Brown, 2012)
Mối quan hệ giữa chăm sóc bản thân và kiệt sức
Lợi ích của việc chăm sóc bản thân có thể ảnh hưởng đến việc ngăn ngừa kiệt sức ở các chuyên gia sức khỏe tâm thần (Carroll, Gilroy, & Murra, 1999; Norcross, 2000) Trong nghiên cứu của Alkema và cộng sự (2008), với đối tượng là các nhân viên điều dưỡng trong trung tâm chăm sóc bệnh nhân cuối đời tại Trung Tây Hoa Kỳ, kết quả cho thấy rằng có một mối tương quan nghịch đáng kể giữa tất cả các khái cạnh của chăm sóc bản thân và tình trạng kiệt sức Ngoài ra, trong nghiên cứu Alexander, Rollins, Walker, Wong và Pennings (2015), những y tá tham gia yoga trong chương trình chăm sóc bản thân báo cáo ít kiệt sức về cảm xúc hơn là những y tá không tham gia Theo nghiên cứu của Miner (2010) trên 149 đối tượng
Trang 32thực hành tâm lý chuyên nghiệp, kết quả cho thấy có mối tương quan nghịch đáng kể, chăm
sóc bản thân càng thấp thì kiệt sức càng cao (r = -.26, p = 001) Tuy nhiên các kết quả
nghiên cứu này chưa cho thấy được liệu chăm sóc bản thân có là yếu tố dự báo cho kiệt sức
Khung khái niệm
Từ tổng quan tài liệu cho thấy kiệt sức đã được nghiên cứu trải dài suốt các năm qua trên nhiều lĩnh vực nghề nghiệp như giáo dục, sức khỏe tâm thần và tâm lý, trong đó khung lý thuyết của Maslach dần trở thành trọng tâm của các nghiên cứu trên thế giới bởi tính hệ thống
và có thể đo lường bằng công cụ Kiệt sức chịu ảnh hưởng bởi hai nhóm yếu tố ngoại cảnh và yếu tố cá nhân, Maslach cho rằng không thể phân tích kiệt sức nếu không đặt con người trong bối cảnh làm việc (Maslach, 2001) Từ đó cho thấy với tính chất đặc thù của mỗi ngành nghề
sẽ có những yếu tố đặc trưng ảnh hưởng đến tình trạng kiệt sức của người lao động ở ngành nghề đó
Tham vấn trị liệu tâm lý là một trong những nghề chăm sóc có tính thử thách cao, các nhà tham vấn bên cạnh việc phải đối diện với những khó khăn, cảm xúc nặng nề của thân chủ, họ còn phải xử lý những căng thẳng liên quan đến môi trường làm việc và đáp ứng như cầu trong cuộc sống cá nhân của chính họ Dường như quá tải công việc và căng thẳng là điều không thể tránh khỏi đối với nhà tâm lý Những thắc mắc về đặc thù của nghề thực hành tâm
lý, yếu tố nào sẽ là yếu tố ảnh hưởng đến kiệt sức đã trở thành chủ đề quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thế giới
Các nghiên cứu cho thấy rằng cô đơn và chăm sóc bản thân có ảnh hưởng đến tình trạng kiệt sức, trong đó cô đơn được xem là một trong những yếu tố có nguy cơ cao dẫn đến kiệt sức và chăm sóc bản thân được xem là hành vi mang tính đạo đức trong quá trình hành nghề giúp làm giảm nguy cơ kiệt sức của nhà tham vấn trị liệu
Trang 33Cùng với những nghiên cứu trước đây, trong nghiên cứu này, người nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa cô đơn, chăm sóc bản thân và kiệt sức Mối quan hệ này được trình bày trong sơ đồ 1
Trong sơ đồ 1, phía bên trái là hai yếu tố dự báo sự cô đơn và việc chăm sóc bản thân, trong đó sự cô đơn được định nghĩa là sự thay đổi trạng thái cảm xúc, một sự khó chịu phát sinh từ sự mong muốn trong mối quan hệ giữa các cá nhân nhưng không được thỏa mãn (Peplau & Perlman, 1982) và việc chăm sóc bản thân là các hoạt động được thực hiện để chăm sóc bản thân trong sáu lĩnh vực: (1) thể chất, (2) tâm lý, (3) tình cảm, (4) tinh thần, (5) tính chuyên nghiệp trong môi trường làm việc và (6) sự cân bằng (Saakvitne & Pearlman, 1996) Phía bên phải là yếu tố kiệt sức, kiệt sức được Maslach (2001) định nghĩa là “một hội chứng tâm lý liên quan đến những phản ứng kéo dài với các yếu tố căng thẳng trong môi
trường làm việc” (tr 189) Kiệt sức bao gồm ba yếu tố: (1) cạn kiệt cảm xúc (emotinal
exhaustion), (2) phi cá nhân hóa (depersonalization) và (3) thành tích cá nhân (personal
Sơ đồ 1
Trang 34accomplishment) Các mũi tên biểu thị mối quan hệ giữa các biến được mong đợi là có ý
nghĩa trong nghiên cứu này
Trong quá trình thực hành lâm sàng, các nhà tham vấn trị liệu bên cạnh việc thường xuyên đối diện, lắng nghe những câu chuyện đau khổ từ phía thân chủ; xử lý những tình huống rủi ro và cấp bách; họ còn phải đáp ứng nhu cầu công việc, gia đình và nỗ lực cân bằng cuộc sống cá nhân Do đó, những nhà tham vấn trị liệu cần ý thức rất rõ những dấu hiệu cảnh báo tình trạng kiệt sức và lên kế hoạch hành động thích hợp để duy trì một trạng thái sức khỏe tâm thần ổn định và an toàn trong quá trình làm việc
Tuy nhiên các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các nhà tham vấn thường cảm thấy xấu hổ khi trình bày khó khăn của bản thân, điều này có thể giúp họ gia tăng tính tự chủ khi giải quyết vấn đề nhưng cũng đồng thời khiến họ dần trở nên cô lập trong các mối quan hệ và xuất hiện cảm giác cô đơn Đồng thời các nhà tham vấn rất dễ dàng nhận ra những nhu cầu của thân chủ nhưng lại phớt lờ hoặc bỏ qua nhu cầu của chính bản thân mình Ngoài ra, với
sự phát triển ngành nghề Tâm lý còn khá non trẻ ở Việt Nam, thiếu hệ thống đào tạo và giám sát chuyên nghiệp, việc đối diện với cảm giác cô đơn và thiếu khả năng chăm sóc bản thân là điều hoàn toàn có thể xảy ra và người nghiên cứu cảm thấy hợp lý khi đưa hai yếu tố này vào nghiên cứu trong mối quan hệ dự báo với kiệt sức Các lý do để lựa chọn hai yếu tố dự báo này sẽ được thảo luận như sau:
Yếu tố dự báo đầu tiên về kiệt sức có thể là cô đơn Như đã trình bày, tại Việt Nam,
các cơ sở đào tạo và hành nghề tâm lý vẫn còn khá non trẻ và thiếu các hệ thống hỗ trợ quyền lợi, giám sát chuyên nghiệp cho người thực hành tâm lý (Trần Thị Minh Đức, 2009) Làm việc cô lập có thể là trải nghiệm chung của nhiều nhà tâm lý học tại Việt Nam Các nhà tâm
lý học có thể đối diện với việc họ là thành viên thực hành tâm lý duy nhất trong một nhóm đa ngành tại cơ sở làm việc như trường học, bệnh viện Ngoài ra thiếu các hệ thống giám sát chuyên nghiệp sẽ dễ khiến các nhà tâm lý hoang mang khi họ gặp khó khăn trong công việc
Trang 35Sự vắng mặt của các kết nối tích cực của con người làm tăng nguy cơ bị căng thẳng trong công việc tại nơi làm việc của họ (Soler-Gonzalez, San-Martín, Delgado-Bolton & Vivanco, 2017) Những mong muốn được hỗ trợ trong mạng lưới xã hội bị hạn chế góp phần gia tăng cảm giác cô đơn, việc liên tục tự xoay sở giải quyết các khó khăn khiến họ nhanh chóng rơi vào trạng thái cạn kiệt năng lượng và kiệt sức Do đó, cô đơn có thể là yếu tố dự báo quan trọng với kiệt sức trong bối cảnh làm việc tại Việt Nam
Yếu tố dự báo thứ hai về kiệt sức có thể là chăm sóc bản thân Trong quá trình đào
tạo sau đại học, tự chăm sóc bản thân được xem là học phần đặc biệt quan trọng trong quá trình học tập của học viên (Zahniser, Rupert & Dorociak, 2017) Hơn nữa, khi chính thức làm việc với các vấn đề sức khỏe tâm thần trong thực hành lâm sàng có thể tạo ra căng thẳng và đau khổ cho nhà tham vấn Đồng thời, các hiệp hội tham vấn và hiệp hội tâm lý Hoa Kỳ đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhà tham vấn cần có hành động thích hợp để duy trì trạng thái tinh thần ổn định và an toàn trong quá trình cung cấp dịch vụ cho thân chủ Việc thực hiện một chương trình tự chăm sóc là được xem yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy sự thỏa mãn lòng trắc ẩn và giảm nguy cơ kiệt sức của nhà tham vấn trị liệu (Payne, 2001) Với tầm quan trọng của tự chăm sóc bản thân trong quá trình thực hành, yếu tố này có thể là yếu tố dự báo đáng với kiệt sức
Tuyên bố lý do xác lập đề tài
Từ những công trình nghiên cứu trên cho thấy rằng tình trạng kiệt sức là một vấn đề toàn cầu, cô đơn là một cảm giác khó thể tránh khỏi với nhà tham vấn trị liệu và việc thực hành chăm sóc bản thân là một trong những yếu tố đạo đức quan trọng của quá trình hành nghề Tuy nhiên nghiên cứu về kiệt sức, cô đơn, chăm sóc bản thân vẫn còn là một lĩnh vực khá mới ở nước ta và chủ yếu nó được nghiên cứu trên nhóm đối tượng là nhân viên y tế hoặc các chuyên gia trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần Đối với những người thực hành tham vấn – trị liệu tại Việt Nam, người nghiên cứu chưa tìm thấy một nghiên cứu nào về vấn đề kiệt sức
Trang 36nghề nghiệp cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến kiệt sức như cô đơn và chăm sóc bản thân Ngoài ra, theo Quyết Định số 34/2020/QĐ -TTg Ban hành Danh mục nghề nghiệp Việt Nam, tâm lý đã chính thức được cấp mã nghề, từ đó cho thấy tầm quan trọng của việc phát triển nghề nghiệp này trong tương lai Với những vấn đề trên, đề tài: “Nhân tố dự báo tình trạng kiệt sức của người thực hành tâm lý tại Việt Nam: sự cô đơn và việc chăm sóc bản thân” được xác lập
Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm xác định yếu tố nào trong các yếu tố sự cô đơn và việc chăm sóc bản thân dự báo đáng kể cho tình trạng kiệt sức nghề nghiệp của người thực hành tham vấn – trị liệu tâm lý tại Việt Nam Cụ thể nghiên cứu được thiết kế để tìm câu trả lời cho các câu hỏi sau:
(1) Mức độ kiệt sức của người thực hành tham vấn – trị liệu tâm lý tại Việt Nam?
(2) Liệu sự cô đơn, việc chăm sóc bản thân có mối tương quan đáng kể với tình trạng kiệt sức nghề nghiệp của những người làm công việc tâm lý tại Việt Nam?
(3) Liệu sự cô đơn có là yếu tố dự báo đáng kể cho tình trạng kiệt sức nghề nghiệp? (4) Liệu việc chăm sóc bản thân có là yếu tố dự báo đáng kể cho tình trạng kiệt sức nghề nghiệp?
(5) Trong 2 yếu tố này, yếu tố nào có dự báo mạnh nhất cho tình trạng kiệt sức của người thực hành tham vấn – trị liệu tâm lý tại Việt Nam?
Giả thuyết nghiên cứu
(1) Cô đơn có một mối tương quan tỉ lệ thuận đáng kể với tình trạng kiệt sức, việc chăm
sóc bản thân có một mối tương quan tỉ lệ nghich đáng kể với tình trạng kiệt sức
(2) Sự cô đơn là yếu tố dự báo đáng kể tình trạng kiệt sức nghề nghiệp
(3) Việc chăm sóc bản thân là yếu tố dự báo đáng kể tình trạng kiệt sức nghề nghiệp
Trang 37Chương II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương II tập trung mô tả các phương pháp nghiên cứu, các quy trình nghiên cứu đã sử dụng, mô tả cách thức lựa chọn những người tham gia, những công cụ được sử dụng và cách
dữ liệu được thu thập và phân tích Người nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, nghiên cứu dự đoán, cắt ngang một thời điểm Phương pháp nghiên cứu này giúp nhà nghiên cứu xác định mối tương quan giữa các biến (1) sự cô đơn; (2) sáu lĩnh vực chăm sóc bản thân, cụ thể là chăm sóc thể chất, chăm sóc tâm lý, chăm sóc cảm xúc, chăm sóc tinh thần, nơi làm việc chuyên nghiệp và cân bằng và đồng thời xác định yếu tố nào dự báo đáng
kể cho tình trạng kiệt sức nghề nghiệp của người thực hành tham vấn – trị liệu tâm lý tại Việt Nam
Nghiên cứu dựa trên cách chọn mẫu thuận tiện Kích thước mẫu tối thiểu là 110, được tính bằng phần mềm G-power 3.1, dựa trên 2 yếu tố dự đoán, độ nhạy power là 0,95 (Faul, Erdfelder, Buchner, & Lang, 2009), hệ số effect size là 0.15 (Cohen, 1988) và mức ý nghĩa alpha là 0.05 Thời gian tiến hành khảo sát từ tháng 01/2022 đến tháng 4/2022 Trong giai đoạn phát bảng hỏi và tiến hành khảo sát, với các hạn chế về tình hình dịch bệnh Covid, hạn
Trang 38chế về mặt thời gian, ngân sách, nguồn lực, việc khảo sát trực tiếp không được thực hiện Đồng thời, một số lượng người thực hành tâm lý thời điểm đó đang trong quá trình hỗ trợ công tác chống dịch nên không có điều kiện và thời gian để thực hiện khảo sát Nghiên cứu phát bảng hỏi khảo sát online dựa trên cách chọn mẫu thuận tiện và sau 3 tháng thực hiện khảo sát, nghiên cứu thu về 82 mẫu đảm bảo ý nghĩa thống kê theo cách tính của G*Power, dựa trên 2 yếu tố dự đoán, độ nhạy power là 0,87 (Faul, Erdfelder, Buchner, & Lang, 2009),
hệ số effect size là 0.15 (Cohen, 1988) và mức ý nghĩa alpha là 0.05
Thống kê mô tả được thực hiện để đảm bảo rằng dữ liệu được phân phối bình thường, thể hiện mối quan hệ tuyến tính Các đặc điểm mẫu của nghiên cứu đã được kiểm tra (N
=82) Những người tham gia nghiên cứu được xác định là nữ (78%), độc thân (62.2%), đã hoàn thành bằng cử nhân (53.67%), hoàn thành bậc thạc sĩ (35.37%), có số năm kinh nghiệm
từ 1 đến 3 năm (61%), có tham gia giám sát nhóm (42%) và làm việc tại khu vực Thành phố
Hồ Chí Minh (74.4%) Các số liệu thống kê mô tả về đặc điểm của mẫu khảo sát sẽ được trình bày cụ thể và chi tiết trong chương III
Công cụ nghiên cứu
Công cụ nghiên cứu chính bao gồm 3 thang đo là thang đo cô đơn University of
California Los Angeles Loneliness Scale (UCLA) phiên bản 3 (Russell, 1996); thang đo tình trạng kiệt sức nghề nghiệp Maslach Burnout Inventory (MBI) được thiết kể bởi Maslach và Jackson (1996) và thang đo việc chăm sóc bản thân Self-Care Assessment Worksheet
(SCAW) được thiết kể bởi Saakvitne và Pearlman (1996)
Thang đo cô đơn
Để đo mức độ cảm nhận cô đơn trên nhà tham vấn, nghiên cứu sử dụng thang đo cô
đơn University of California Los Angeles Loneliness Scale (UCLA) phiên bản 3 (Russell,
1996) Thang đo được thiết kế và xây dựng dựa trên lý thuyết nhận thức về sự cô đơn, nhấn mạnh đến cảm nhận chủ quan của khách thể và bỏ qua các cảm nhận cô đơn liên quan đến
Trang 39bệnh lý (Peplau & Perlman, 1982; Solano, 1980) Thang đo bao gồm 20 mục, trong đó 11
mục được viết theo hướng tiêu cực, ví dụ mục 2 “Bạn có thường xuyên cảm thấy thiếu vắng
tình bạn?”, mục 4 “Bạn có thường xuyên cảm thấy cô đơn?”, và 9 mục được viết theo hướng
tích cực (được tính điểm ngược lại), ví dụ mục 5 “Bạn có thường xuyên cảm thấy mình là
một phần trong nhóm bạn bè?”, mục 6 “Bạn có thường xuyên cảm thấy mình có rất nhiều điểm chung với những người xung quanh?” Mỗi mục có 4 mức độ trả lời theo thứ tự: 1 –
Không bao giờ; 2 – Hiếm khi; 3 – Thỉnh thoảng và 4 – Thường xuyên
Cách tính điểm của thang đo theo thứ tự tăng dần và theo số của câu trả lời, 1 – 1 điểm;
2 – 2 điểm; 3 – 3 điểm và 4 – 4 điểm, riêng các câu viết theo hướng tích cực như câu 1, 5, 6,
9, 10, 15, 16, 19, 20 sẽ tính điểm ngược lại (1 – 4 điểm; 2 – 3 điểm; 3 – 3 điểm và 4 – 1 điểm) Tổng điểm sẽ dao động trong khoảng từ 20 điểm tới 80 điểm Kết quả được tính bằng cách lấy tổng điểm, điểm số càng cao cho thấy mức độ cô đơn càng cao
Đánh giá độ tin cậy của thang đo
Thang đo UCLA được đánh giá là thang đo lường sự cô đơn phổ biến trên thế giới với
độ tin cậy cao và được sử dụng ở nhiều nghiên cứu tại Việt Nam Thang đo này được Việt hóa và sử dụng trên đối tượng sinh viên bởi tác giả Trần Thị Minh Đức (2018) với hệ số Cronbach alpha là 0.85 Thang đo có hệ số Cronbach’s Alpha là 0.92 khi được sử dụng để đo lường cảm nhận cô đơn ở người trưởng thành trong luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Minh Lan (2019) Trong nghiên cứu của tác giả Trì Thị Minh Thúy (2019) về mối liên hệ giữa nguy cơ nghiện smartphone với mức độ trầm cảm, sự cô đơn và ý thức giá trị bản thân của sinh viên đại học tại thành phố hồ chí minh, thang đo có hệ số Cronbach’s Alpha là 0.88 Trong nghiên cứu này, thang đo đã được kiểm định độ tin cậy với hệ số Cronbach’s Alpha là 0.91
Trang 40Thang đo kiệt sức nghề nghiệp
Để đo mức độ kiệt sức nghề nghiệp trên nhà tham vấn, nghiên cứu sử dụng thang đo
kiệt sức nghề nghiệp Maslach Burnout Inventory (MBI) được thiết kể bởi Maslach và Jackson
(1996) Thang đo gồm 22 mục với 3 lĩnh vực: lĩnh vực cạn kiệt cảm xúc Emotional
Exhaustion (EE), lĩnh vực phi nhân hóa Depersonalisation or loss of empathy (DP), và lĩnh vực thành tích cá nhân Personal Accomplishment (PA)
Lĩnh vực cạn kiệt cảm xúc Emotional exhaustion (EE): được mô tả là cảm giác khó
khăn, mệt mỏi, căng thẳng và cạn kiệt năng lượng khi làm việc, v.v Maslach coi điều này khác với trầm cảm, vì có khả năng các triệu chứng kiệt sức về mặt cảm xúc này sẽ giảm trong
các kỳ nghỉ Gồm 9 câu: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 Ví dụ câu 2 “Làm việc với nhiều người trong
một ngày dài đòi hỏi rất nhiều sự cố gắng, nỗ lực” và câu 3 “Cảm thấy công việc dường như đang làm suy sụp tinh thần bản thân.”
Lĩnh vực phi nhân hóa trong mối quan hệ Depersonalisation or loss of empathy (DP):
được mô tả là một phản ứng hoài nghi, vô cảm trước những khó khăn của thân chủ; mất sự quan tâm, đồng cảm đến người khác hoặc những nhận xét giễu cợt, phán xét đến thân chủ/
khách hàng, đồng nghiệp,v.v Gồm 5 câu: 10, 11, 12, 13, 14 Ví dụ câu 12 “Không quan tâm
với những gì xảy ra tới những bệnh nhân/khách hàng” và câu 13 “Đã trở nên vô cảm với mọi người khi làm việc.”
Lĩnh vực thành tích cá nhân Personal accomplishment (PA): bao gồm các câu mô tả
việc đánh giá thành tích cá nhân là một cảm giác đảm bảo sự hoàn thành ở nơi làm việc và một cái nhìn tích cực về những thành tựu nghề nghiệp của bản thân Gồm 8 câu: 15, 16, 17,
18, 19, 20, 21, 22 Các câu này được viết theo hướng tích cực nên tính điểm đảo ngược Ví dụ
câu 15 “Trong công việc hiện tại, bản thân đã làm được nhiều việc quan trọng, xứng đáng”
và câu 16 “Cảm nhận mình có đầy đủ năng lượng để thực hiện công việc”