1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo môn phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục đề tài thực trạng về khả năng tập trung trong học tập của sinh viên sư phạm vật lý trường đại học giáo dục

63 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Về Khả Năng Tập Trung Trong Học Tập Của Sinh Viên Sư Phạm Vật Lý Trường Đại Học Giáo Dục
Người hướng dẫn TS. Trần Văn Công, Nguyễn Phương Hồng Ngọc
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Sư phạm Vật lý
Thể loại báo cáo
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 143,25 KB
File đính kèm THUYẾT TRÌNH.zip (458 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo môn phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục đề tài thực trạng về khả năng tập trung trong học tập của sinh viên sư phạm vật lý trường đại học giáo dục Báo cáo môn phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục đề tài thực trạng về khả năng tập trung trong học tập của sinh viên sư phạm vật lý trường đại học giáo dục

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để có được kết quả như hôm nay, nhóm chúng tôi xin gửi đến các quý Thầy, Cô đã tham gia giảng dạy môn Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, phòng 305C0 lời cảm ơn chân thành!

Xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến thầy TS Trần Văn Công, chị Nguyễn Phương Hồng Ngọc đã tận tâm hướng dẫn nhóm chúng tôi hoàn thành đề tài này.

Xin chân thành cảm ơn các sinh viên Sư phạm Vật lý trường Đại học Giáo dục đã đóng góp nhiệt tình và hoàn thành phiếu khảo sát trong quá trình nhóm chúng tôi thực hiện đề tài.

Bài nghiên cứu đã được hoàn thành với sự nỗ lực, cố gắng hết mình của các thành viên trong nhóm nhưng không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Nhóm chúng tôi xin chân thành cảm ơn và tiếp thu những ý kiến đóng góp của quý Thầy, Cô giáo và bạn bè!

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN……… 3

MỤC LỤC……… 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT……… 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU……… 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ……… 8

MỞ ĐẦU……… 9

1 Lý do chọn đề tài……… 9

2 Mục đích nghiên cứu……… 10

3 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 11

4 Câu hỏi nghiên cứu……… 12

5 Giả thuyết nghiên cứu……… 12

6 Đối tượng, khách thể……… 12

7 Phạm vi nghiên cứu……… 12

8 Phương pháp nghiên cứu……… 13

9 Kết cấu của đề tài……… 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN……… 15

1.1 Tổng quan nghiên cứu……… 15

1.1.1 Một số công trình nghiên cứu ngoài nước……… 15

1.1.2 Những công trình nghiên cứu trong nước……… 18

1.2 Những vấn đề lý luận……… 22

1.2.1 Khái niệm tập trung……… 22

1.2.2 Học tập……… 22

1.2.2.1 Khái niệm hoạt động học tập……… 22

1.2.2.2 Đặc điểm của hoạt động học tập……… 23

1.2.3 Tập trung trong học tập……… 23

1.2.3.1 Khái niệm sự tập trung trong học tập……… 23

1.2.3.2 Vai trò của tập trung trong học tập……… 25

1.2.4 Một số ảnh hưởng đến sự tập trung trong học tập của sinh viên sư phạm Vật Lý trường Đại học Giáo dục……… 26

1.2.4.1 Yếu tố khách quan……… 26

1.2.4.2 Yếu tố chủ quan……… 27

CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………… 31

2.1 Tổ chức nghiên cứu……… 31

2.1.1 Đôi nét về trường Đại học Giáo dục……… 31

2.1.2 Đặc điểm của khách thể……… 31

2.2 Quy trình nghiên cứu……… 32

2.3 Phương pháp nghiên cứu……… 32

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận……… 32

2.3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi……… 32

2.3.2 Phương pháp phỏng vấn……… 33

2.3.4 phương pháp thống kê toán học……… 34

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU……… 35

3.1 Đánh giá mức độ tập trung của sinh viên……… 35

3.2 Những điều kiện để sinh viên tập trung trong học tập tốt nhất……… 38

3.2.1 Học ở đâu……… 38

3.2.2 Học với ai……… 39

Trang 4

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……… 43

1 Kết luận……… 43

2 Khuyến nghị……… 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 45

PHỤ LỤC……… 47

DANH MỤC VIẾT TẮT

K57- K60: Khóa 57- Khóa 60 NXB: Nhà xuất bản RI: Research

International

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Thống kê mẫu sinh viên Sư phạm Vật lý được nghiên cứu

Bảng 3.2 Thống kê lượng sinh viên toàn trường với mức độ tập trung khác nhau

Bảng 3.3 Mức độ tập trung của sinh viên các khóa

Bảng 3.4 Địa điểm học tập tốt nhất của sinh viên toàn trường

Bảng 3.5 Địa điểm học tập tốt nhất với sinh viên từng khóa

Bảng 3.6 Đối tượng giúp sinh viên toàn trường tập trung

Bảng 3.7 Đối tượng giúp sinh viên từng khóa tập trung

Bảng 3.8 Thời gian tốt nhất cho việc tập trung học tập của sinh viên

Bảng 3.9 Thời gian tập trung học tập tốt nhất của sinh viên từng khóa

Trang 6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Mức độ tập trung của sinh viên QH.S – Sư phạm Vật lý

Biểu đồ 3.2 Mức độ tập trung của sinh viên các khóa

Biểu đồ 3.3 Không gian tập trung học tập tốt nhất

Biểu đồ 3.4 Không gian học tập của sinh viên từng khóa

Biểu đồ 3.5 Đối tượng ảnh hưởng tới sự tập trung

Biểu đồ 3.6 Đối tượng ảnh hưởng tới sự tập trung của sinh viên từng khóa Biểu đồ 3.7 Thời gian tập trung tốt nhất của sinh viên toàn trường

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Người thầy giáo ở xã hội nào cũng được xã hội tôn vinh, làchỗ dữa vững chắc cho đạo lý, cho công bằng và tiến bộ xã hội.Điều này được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong bài phátbiểu tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội (tháng 10-1964): “Có gì

vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực gópphần xây dựng Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản Ngườithầy giáo tốt, người thầy giáo xứng đáng là người thầy giáo vẻvang nhất dù tên tuổi thầy không đăng lên báo không được huânchương Những người thầy giáo tốt là những anh hung vô danh…

Vì vậy nghề thầy giáo rất quan trọng”

Theo Sở giáo dục và đào tạo thành phố Hồ Chí Minh nhậnđịnh có nhiều yếu tố dấn đến sự thành công của học sinh, trong

đó sự tập trung là một yếu tố hết sức quan trọng Ngoài ra kếtquả nghiên cứu của hội thảo: “ Tập trung trí tuệ, nắm bắt tươnglai” mang đến một kết quả khá bất ngờ, hơn 70% học sinh ViệtNam không tập trung trong giờ học Không tập trung trong giờhọc đồng nghĩa với không tiếp thu được kiến thức, không hiều bài

và hệ quả tất yếu là chất lượng học tập kém Theo nghiên cứucủa công ty Research International (RI) về chỉ số tập trung củathanh thiếu niên lứa tuổi 15- 22 ở một số nước Châu Á ( tháng 5

và 6-2007), sự tập trung thật sự ảnh hưởng đến sự tự tin và mức

độ thành công trong tương lai Nghiên cứu chỉ ra có đến 50% học

Trang 8

sinh- sinh viên mất tập trung và mục tiêu lâu dài để làm ra thànhquả như học mong muốn và phần lớn sự mất tập trung hìnhthành do sự chán nản và thiếu hứng thú trong học tập của họcsinh- sinh viên Số học sinh- sinh viên tập trung trong giờ học chỉchiếm 8% trong khi đó khả năng tập trung trong các hoạt độngthể dục thể thao là 21%, giao tiếp xã hội là 42% và hoạt động giảitrí chiếm đến 53% Chỉ số về sự tập trung trong giờ học này làmột con số đáng lo ngại Thời đại ngày nay, giáo dục đóng vai tròđặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia.Nền kinh tế tri thức xuất hiện đã tạo ra những biến đổi to lớntrong mọi mặt hoạt động của con người và xã hội, khác hẳn nềnkinh tế chủ yếu dựa vào sức người và tài nguyên nên phải đặtcon người vào trung tâm của sự phát triển Từ đó xu thế đổi mớigiáo dục, đặt ra những yêu cầu mới về phẩm chất, năng lực, đòihỏi mỗi người đã và sẽ gánh trên vai trách nhiệm giáo dục phảikhông ngừng nghiêm khắc học tập và rèn luyện bản thân về mọimặt Tuy nhiên một bộ phận không nhỏ sinh viên sư phạm hiệnnay đang mất tập trung, xao nhãng trong quá trình học tập dẫnđến việc không nắm vững kiến thức, bị động và thiếu tự tin Vấn

đề đó sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng giáo dục củatoàn xã hội trong tương lai Là những nhà giáo tương lai chúng tôirất quan tâm đến vấn đề làm thế nào để cải thiện sự mất tậptrung của sinh viên sư phạm nói riêng và sinh viên nói chungtrong học tập Bởi học tập là một trong những hoạt động chínhnhằm tiếp thu tri thức nhân loại, học hỏi những kinh nghiệm vàlịch sử xã hội tích lũy qua các thế hệ Thông qua học tập, người

Trang 9

sinh viên có thể nắm vững kiến thức chuyên môn, kỹ năng thựchành nghề, đủ khả năng giải quyết những vấn đề thuộc chuyênngành đào tạo, khả năng hiểu biết về nhiều ngành, nghề Thực tếcho thấy, việc tiếp thu kiến thức không phải là một quá trình diễn

ra dễ dàng Khi học tập, mỗi sinh viên phải tập trung và điều mìnhlằng nghe được, đọc được, thấy được Có như vậy mới có thểnhanh hiểu bài và ghi nhớ kiến thức mà mình tiếp thu lâu hơn

Nhận thấy trên thực tế chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đềtập trung trong học tập và mối quan hệ giữa sự tập trung và kếtquả học tập Đặc biệt vấn đề này thường hướng tới học sinh ítnói tới sinh viên, cụ thể là sinh viên khối ngành sư phạm Nghiêncứu về vấn đề tập trung nhằm hy vọng tìm được những giải pháphiệu quả để giải quyết vấn đề trên, từ đó nâng cao chất lượnggiáo viên trong tương lai để mỗi giáo viên trong thời đại mới luônxứng đáng với mọi tin yêu, kỳ vọng của toàn xã hội

Chúng tôi quyết định chọn đề tài “ Thực trạng về khả năng

tập trung trong học tập của sinh viên sư phạm Vật lý trường Đại học Giáo Dục”

Trang 10

Nghiên cứu lý luận về sự tập trung và giải pháp giúp cảithiện sự tập trung đối với sinh viên Tình trạng học tập của sinhviên sư phạm, biện pháp cải thiện sự tập trung của sinh viên sưphạm.

4 Câu hỏi nghiên cứu

* Tình trạng mất tập trung của sinh viên Đại học giáo dục:

- Đang diễn ra như thế nào?

- Có ảnh hưởng như thế nào đến kết quả học tập của sinh viên?Chất lượng đào tạo giáo viên tương lai? Nền giáo dục trongtương lai?

- Nguyên nhân là do đâu?

- Giải pháp khắc phục như thế nào?

5 Giả thuyết nghiên cứu

Phần lớn sinh viên Đại học Giáo Dục đang gặp khó khăntrong học tập do sự thiếu tập trung Nguyên nhân có thể do bàigiảng của giảng viên chưa gây hứng thú cho người học, sinh viênchán nản do thấy chương trình học chưa phù hợp hoặc có thể domột số nguyên nhân khác

Trang 11

- Nội dung: Khả năng tập trung của sinh viên.

- Nghiên cứu trên 122 sinh viên Sư phạm Vật lý gồm 4 khóa

- Không gian: Trường Đại học Giáo Dục.

- Thời gian: Từ tháng 9 /2015 đến 12/2015

8 Phương pháp nghiên cứu

* Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Thu thập tài liệu, tham khảo các công trình nghiên cứu,sách, báo, tạp chí khoa học về các vấn đề liên quan như: khảnăng tập trung, hoạt động học tập của sinh viên, tập trung tronghọc tập… Từ đó hệ thống và khái quát hóa các khái niệm công cụlàm cơ sở lý luận cho đề tài

* Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.

+ Điều tra sinh viên để tìm hiểu thực trạng mất tập trung mà sinhviên đang gặp phải

+ Đối tượng điều tra là sinh viên sư phạm Vật lý trường Đại họcGiáo Dục

+ Bảng hỏi là một phiếu hỏi có nhiều câu hỏi nhằm điều tra tìnhtrang tập trung hay mất tập trung trong giờ học của sinh viên sưphạm Vật lý

Điều ta bảng hỏi bắt đầu từ ngày:

Trang 12

Cách chọn mẫu: 120 sinh viên các khóa từ K57- K60 Mỗikhóa chọn ra 30 bạn làm phiếu trả lời bảng hỏi.

* Phương pháp thống kê toán học.

+ Sau khi khảo sát xong, tiến hành xử lý số liệu thu được về địnhlượng, chủ yếu là tính trung bình, tính phần trăm dưới sự trợ giúpcủa một số phần mềm như SPSS, Excel…

9 Kết cấu cửa đề tài

2.2 Phương pháp nghiên cứu

- Chương 3: Kết quả nghiên cứu

3.1 Tổ chức và nghiên cứu thực trạng

3.2 Kết quả

3.3 Phân tích

* Kết luận và khuyến nghị

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan nghiên cứu

Một trong số các tác giả của cuốn sách “Học như thế nào đểhọc tốt” tiến sĩ tâm lý học Przemyslaw Babel, khi trả lời phỏng vấn

đã cho biết lý do xuất bản cuốn sách này: “Tôi nhớ rất rõ rằng hồi

Trang 14

còn nhỏ, khi cắp sách đến trường, tôi không bao giờ được các

thầy cô chỉ dẫn phải học như thế nào Tôi thường xuyên phải

nghe: “Nhắc lại nào, đọc lại lần nữa, học thuộc đi” Trong khi đó,

có biết bao phương pháp để học hiệu quả hơn mà vẫn cảm thấy thoải mái, dễ chịu Học đâu phải chỉ là nhồi nhét cho thật nhiều

vào đầu, như nhiều người vẫn nghĩ Bước đi đầu tiên đến với tri

thức là học cách tập trung đầu óc”

Vì vậy trong cùng một lúc chúng ta luôn phải tiếp nhận nhiềuthông tin khác nhau Chúng ta lựa chọn tiếp nhận thông tin cầnthiết bằng cách để ý những sự việc, quan tâm nhiều hơn sự việckhác xảy ra cùng thời điểm Hay nói cách khác đó là đưa sự tậptrung chú ý của bản thân vào sự vật Nghiên cứu về sự tập trungđược các nhà tâm lý học, giáo viên, nhà sinh lý thần kinh… quantâm Dưới đây là một số nghiên cứu liên quan đến khả năng tậptrung

1.1.1 Một số công trình nghiên cứu ngoài nước

Khi nhắc đến vấn đề tập trung thì không thể bỏ qua côngtrình nghiên cứu của Wilhelm Wundt (1832 – 1920), nhà tâm lýhọc và sinh lý học người Đức, cha đẻ của ngành tâm lý học vàWilliam James (1842 – 1910), nhà tâm lý học và triết học tiênphong người Mỹ Hai người cùng với nhau nghiên cứu về sự chú

ý, phân biệt chú ý và hạn chế trong nhận thức các lĩnh vực rộng

William James đưa ra kết luận thông qua kinh nghiệm củariêng bản thân: khi chúng ta cố gắng chú ý hai sự việc thì chỉthành công nếu một trong hai sự việc trở thành thói quen thuộcđến mức “theo thói quen”, và không chú ý nhiều đến nó nữa

Trang 15

Theo nghiên cứu: Sinh viên có thể tập trung trong lớp họcbao lâu? Việc giảm chú ý của sinh viên trong giờ học được biếtthông qua sử dụng nút ấn.

Nghiên cứu này thực hành bằng cách sau một khoảng thờigian trôi đi, người sinh viên ấn vào một trong ba nút: một nút chỉ

ra sự lơ đãng trong khoảng một phút hoặc ít hơn, một nút chỉ sự

lơ đãng trong khoảng từ 2-3 phút và nút thứ ba cho sự lơ đãng từnăm phút trở lên Họ sử dụng nhiều phương pháp để phân tích

sự mất tập trung và so sánh với những gì xảy ra trong lớp họcvào thời điểm đó Kết quả cho thấy rằng học sinh không tập trungliên tục trong vòng 10-20 phút trong mỗi giờ học Thay vào đó, sựtập trung của họ luân phiên đổi giữa có và không tập trung trongmỗi khoảng thời gian nhất định.Và họ thường chú ý đến cái kháchơn là bài giảng của giáo viên [16]

Theo chỉ số tập trung Wrigley thiết kế để đo lường sự tậptrung của giới trẻ do Research International thực hiện vào tháng

6 năm 2007, nghiên cứu đã khảo sát mức độ tập trung của giớitrẻ châu Á trong những hoạt độngc hủ yếu của cuộc sống (trong

đó có hoạt động học tập)

Nghiên cứu còn tìm hiểu thêm những ảnh hưởng của việcmất tập trung đối với biểu hiện, sự tự tin của giới trẻ trong nhữngmặt khác nhau cả cuộc sống và trong quá trình phấn đấu trởthành con người mà họ mong muốn Nghiên cứu đưa ra 3048cuộc phỏng vấn trên đường phố, tập trung ở những học sinh-sinh viên trong lứa tuổi 15-22, khảo sát trên 8 nước: Thái Lan,Phillipines, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Malaysia, Hong

Trang 16

Kong, Indonesia.Chỉ số tập trung đo lường mức dộ dễ dàng tậptrung của giới trẻ trong năm hoạt động chủ yếu của cuộc sống:Trường học; Thể thao, ngoại khóa; Giao tiếp xã hội; Gia đình;Nghỉ ngơi/giải trí.Chỉ số này giả thuyết rằng mỗi hoạt động trênđều quan trọng đối với giới trẻ trong việc đảm bảo sức khỏe vàcuộc sống cân bằng.

Qua nghiên cứu, trong thời gian một ngày làm việc bìnhthường, số giờ trung bình dành cho việc ở trường học châu Á là7.1 giờ, chiếm 42% Từ đó đưa ra thang điểm của chỉ số tập trungWriley trung bình trong cuộc sống là 29 và trong trường học châu

Á là 6 Điều này chứng tỏ khả năng tập trung của giới trẻ châu Á

ở trường học là thấp mặc dù nó là hoạt động chiếm nhiều thờigian nhất trong ngày.So với các hoạt động trong cuộc sống như:Trường học; thể thao, ngoại khóa; giao tiếp xã hội; gia đình; nghỉngơi, giải trí và ngủ thì hoạt động dễ mất tập trung cao nhất ở 8nước đều là trường học Trong các hoạt động dễ bị phân tâmtrong trường học: Học tại lớp, làm bài tập về nhà, thảo luận lớp,học tại nhà thì sự mất tập trung cao nhất là khi tham dự lớp học.Giới trẻ tập trung chủ yếu trong vòng 20- 30 phút, sau đó là mấttập trung [1]

Trong cuốn tôi tài giỏi bạn cũng thế của Adam khoo chỉ ramột nghiên cứu cho thấy hầu hết tất cả học sinh, sinh viên ở cáctrường trên thế giới đều có chung 16 vấn đề khó khăn trong họctập và khả năng tập trung ngắn hạn là một trong 16 nguyên nhân

đó Cuốn sách có đề cập đến việc đọc sách hiệu quả sẽ tăng tốc

độ đọc, năng lực tập trung và năng lực lĩnh hội khi học “Việc để

Trang 17

tâm trí lang thang nghĩ về những chuyện khác làm cho bộ nãocủa bạn đặc biệt là bán cầu não phải (đầy sự sáng tạo) khôngđược tận dụng triệt để, nó trở nên buồn chán và làm ta mất tậptrung” Adam khoo trực tiếp nói chuyện chuyên đề và tổ chức cáckhóa đào tạo cùng các bài kiểm tra, ông đã chứng minh đượcrằng khi ông cắt giảm thời gian cho học sinh đọc một đoạn văn,khả năng tiếp thu kiến thức của họ tăng lên rõ rệt [19].

Theo nghiên cứu của giáo sư tâm lý học John McDonald vàcộng sự John Gaspar thuộc đại học Simon Fraser đã phát hiện ra

hệ thống chống mất tập trung ở não Nghiên cứu được thực hiệnvới ba thí ngiệm cùng 47 sinh viên khỏe mạnh ở độ tuổi 21 Cácnàh nghiên cứu đưa ra bài kiểm tra với nhiệm vụ tìm kiếm trựcquan đòi hỏi sự chú ý cao ở sinh viên đòng thời tiến hành đo tínhiệu naoc từ cảm biến Để ứng phó với chứng mất tập trung, gốc

tự do almf cho não hoạt động kém, gây rối loạn mạch máu não thìnão sẽ tiết ra chất anthocyanin, Pterostilbene…Các chất này vượtqua hàng rào máu não, trung hòa gốc tự do, tăng truyền dẫn thầnkinh, hạn chế tổn thương và tăng cường hoạt động của các tếbào thần kinh Não dựa trên cơ chế hoạt động riêng để tránhphân tâm bởi thông tin liên quan khi muốn tập trung vào một côngviệc cụ thể [14]

Một nghiên cứu cũng liên quan đó là đánh giá về tỷ lệnhiễm, bệnh kèm theo, ảnh hưởng của chứng rối loạn tăng độnggiảm chú ý trong thanh thiếu niên trẻ ở Porto Alegre, Brazil.Những người thực hiện đã ghiên cứu 1013 học sinh tuổi từ 12đến 14 trên 64 trường công lập, sử dụng chuẩn đoán và phân loại

Trang 18

các rối loạn tâm thần (DSM-IV ADHD) Kết quả cho thấy sự phổbiến của chứng ADHD được ước tính là 5.8% ( 95% khoảng tincậy bằng 3.2- 10.6) Không có sự liên hệ chính xác giữa ADHD

và rượu, cần xa và sử dụng thuốc hít ADHD khá phổ biến ở tuổi

vị thành niên và đầu thanh niên dẫn đến ảnh hưởng về khả nănggiảm và rối loạn chức năng trong nhiều lĩnh vực [17]

Nghiên cứu của nhà tâm lý học Đức S.Fanz về những biểuhiện thái độ học tập tích cực (10 biểu hiện) đã được công nhận và

sử dụng rộng rãi đó là: Trên lớp chú ý nghe giảng; Học bài và làmbài đây đủ; Cố gắng vươn lên trong học tập; Cố gắng đạt hànhtích học tập tốt nâng cao thành tích học tập của mình một cáchtrung thực; Thích độc lập thực hiện nhiệm vụ; Hăng hái nhiệt tìnhtrong giờ chữa bài tập và thảo luận; Hoàn thành nhiệm vụ họctập một cách nghêm túc Từ đó thấy được rằng tập trung chú ýlàm nền cho các hoạt động cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy vàtưởng tượng

Một thí nghiệm của nhóm khoa học gia thuộc Đại họcWisconsin ở Madison do ông Antoine Lutz dẫn đầu nghiên cứu vềmối liên quan giữa thiền và khả năng tập trung của não bộ.Nghiên cứu chia các sinh viên thành 2 nhóm Nhóm 1 luyện tậpthiền, nhóm 2 luyện tập pháp môn khác Sau 5 ngày thực tập, cáckhoa học gia dùng máy đo não và phát hiện hoạt động của não

bộ của sinh viên nhóm 1 khác hẳn với các sinh viên nhóm 2.Nhóm của Lutz dùng máy ghi điện não (EEG) để xác định sóngnão đồ Delta và sóng não đồ Alpha Qua thí nghiệm, họ nhậnthấy sóng não đồ Delta giảm xuống điều này có nghĩa là sự hôn

Trang 19

trầm giảm xuống trong khi đó sóng não đồ Alpha tăng lên chứng

tỏ, thiền giúp hành giả có khả năng tập trung…

1.1.2 Những công trình nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu về tập trung là đề tài không mới mẻ trong tâm lý

học Tuy nhiên, ở Việt Nam đi sâu vào nghiên cứu về tập trungnói chung, cũng như tập trung trong học tập của học sinh, sinhviên nói riêng vẫn còn rất khiêm tốn Có thể kể tên một số côngtrình nghiên cứu, một số tham luận và bài viết khoa học đáng chú

ý về vấn đề này:

Hội thảo “Tập trung trí tuệ, nắm bắt tương lai” do Viện

nghiên cứu giáo dục thuộc Trường đại học sư phạm thành phố

Hồ Chí Minh và công ty Wrigley Việt Nam tổ chức vào ngày 10tháng 10 năm 2007 đã bàn thảo và đưa ra giải pháp đối với thựctrạng đáng lo ngại của thanh thiếu niên hiện nay, đó là sự thiếutập trung trong giờ học làm ảnh hưởng đến kết quả học tập vàtương lai của các em[12] Các tham luận đưa ra thực trạng đángbáo động về tình trạng tập trung chú ý trong cuộc sống của họcsinh, sinh viên đặc biệt là sự thiếu tập trung chú ý và chú ý cao độtrong học tập của các em Chỉ số tập trung của học sinh Việt Namkhá thấp so với chuẩn chung của châu Á Các số liệu nghiên cứuđều chỉ ra rằng hơn 70% học sinh Việt Nam không tập trung tronggiờ học Đây quả là con số đáng lo ngại Không tập trung tronggiờ học đồng nghĩa với việc không tiếp thu được bài, không hiểubài và hệ quả tất yếu là chất lượng học tập kém Ngoài ra, thiếutập trung cũng làm giảm đi sự tự tin của thanh thiếu niên, làm ảnhhưởng đến mức độ thành công trong cuộc sống của họ trong

Trang 20

tương lai Các đại biểu cũng mổ xẻ nhiều nguyên nhân gây nêntình trạng này và đồng ý rằng bên cạnh môi trường học tập thìphương pháp giảng dạy của giáo viên đóng vai trò đáng kể trongviệc này Các nghiên cứu cũng chỉ ra một số giải pháp giúp họcsinh có thể tập trung tốt hơn trong giờ học Đối với học sinh sinhviên, việc ăn uống đầy đủ, ngủ đủ, luyện tập thể thao, tham giacác hoạt động giải trí lành mạnh sẽ giúp đầu óc các em tập trungtốt hơn bên cạnh những giải pháp khác.

Tham luận “Chú ý và vai trò của chú ý trong hoạt động học tập của học sinh phổ thông” của TS Đỗ Hạnh Nga (Trường Đại

học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh) đã đề cập khá đầy đủ vàtoàn diện TS Nga nhấn mạnh ở mỗi giai đoạn lứa tuổi khác nhauphải có những phương pháp tập trung và chú ý cho người họcphù hợp Học sinh, sinh viên phải tiếp cận với nhiều môn học vàkhối lượng kiến thức khá lớn trong một ngày nên giáo viên phải

có phương pháp giảng dạy phong phú, đa dạng giúp các em tậptrung tốt nhất trong mỗi giờ học

Tham luận “Giải pháp giúp cải thiện khả năng tập trung của học sinh, sinh viên” của ThS Lê Nguyễn Trung Nguyên (Trung

tâm Đánh giá và Kiểm định Chất lượng giáo dục – Viện Nghiêncứu Giáo dục) đã đưa ra thực trạng và nguyên nhân học sinhkém tập trung trong học tập Đồng thời tham luận cũng đưa ranhiều giải pháp tức thời và lâu dài để giúp học sinh, sinh viênphát triển khả năng tập trung

Theo ThS Nguyên: môi trường học tập và cấu trúc chươngtrình học nhàm chán là hai yếu tố nằm ngoài khả năng kiểm soát,

Trang 21

là nguyên nhân khách quan gây mất tập trung cho học sinh, sinhviên Nguyên nhân chủ quan khiến học sinh, sinh viên kém tậptrung có thể liệt kê thành bốn yếu tố: thiếu ý thức học tập; thiếuđộng cơ, thấy buồn chán trong học tập; thiếu phương pháp, kỹnăng học; và những nguyên nhân khác như thiếu ngủ, bị stress,mệt mỏi… Việc giúp học sinh, sinh viên phát triển khả năng tậptrung cần có giải pháp lâu dài, cần thời gian rèn luyện và họcsinh, sinh viên nên rèn luyện trí não bằng các hoạt động như tậpthể dục, chế độ ăn uống đầy đủ, các bài tập giữ thăng bằng Cònnhà trường cần trang bị cho học sinh, sinh viên kỹ năng nghegiảng, ghi chép, đọc tài liệu, quản lý thời gian và kỹ năng tiềmkiếm, quản lý và sử dụng thông tin hiệu quả[9].

Nghiên cứu về “Các phẩm chất chú ý của lứa tuổi thanh niên sinh viên” được tác giả Hoàng Mộng Lan tiến hành trên một

số sinh viên của trường Đại học Khoa học xã hội và nhân vănthuộc Đại học Quốc gia Hà Nội (tháng 3/2009) đã bước đầu chothấy có những sự khác biệt nhất định về phẩm chất chú ý ở cáclứa tuổi và giới tình sinh viên[3]

“Nghiên cứu một số biện pháp nhằm tập trung sự chú ý của học sinh vào bài học văn thông qua việc dự giờ của giáo viên trong tổ bộ môn” của tác giả Bùi Túy Phượng [11], đề cập đến

một vấn đề bức thiết trong ngành giáo dục hiện nay đó là thựctrạng dạy và học môn Ngữ văn trong trường phổ thông cũng nhưtình trạng học học sinh “lơ là” trên lớp

Tác giả đã thẳng thắn chỉ ra thực trạng của sự không tậptrung chú ý của học sinh vào bài học Ngữ văn qua một số biểu

Trang 22

hiện như: hiện tượng học sinh gục, hoặc nằm dài trên bàn, ngaongán, uể oải; nhiều học sinh làm việc riêng như giờ học của mônnày nhưng lại mang môn khác ra học, lén lút sử dụng điện thoại

di động nhắn tin, nghe nhạc… tệ hơn nữa là đùa giỡn, nói chuyệnriêng, chơi cờ ca-rô, ăn quà vặt,…; ngoài ra, còn hay mơ màng,nghĩ vẩn vơ chuyện đâu đó, ngó ra bên ngoài hoặc không hiểubài nhưng hay phát biểu lung tung,…

Tìm hiểu nguồn gốc của thực trạng trên xuất phát từ cả hainguyên nhân: chủ quan và khách quan Đồng thời, tác giả nhấnmạnh vai trò rất quan trọng của giáo viên đối với việc thu hút sựtập trung, chú ý tự nguyện của học sinh vào bài học – một phầnquan trọng quyết định chất lượng, hiệu quả giờ dạy của giáo viêngiờ học môn Ngữ văn

Công trình nghiên cứu về “Đặc điểm rối loạn trí nhớ, chú ý ở bệnh nhân nghiện rượu” của hai tác giả Nguyễn Sinh Phúc và

Phạm Quang Lịch được tiến hành trên bệnh nhân nghiện rượumãn tính đang được điều trị Kết quả cho thấy có mối liên hệ mậtthiết giữa mức độ suy giảm trí nhớ, khả năng di chuyển chú ýthấp, khối lượng chú ý ít và sự phân phối chú ý kém với chứngnghiện rượu mãn tính Qua đó, rút ra được mối liên hệ mật thiếtgiữa mức độ nghiện rượu với khả năng, mức độ rối loạn chú ý ởbệnh nhân nghiện rượu và những cảnh báo về tác hại của rượuđối với các quá trình sinh lý và tâm lý trên người

Ngoài ra, một số đề tài nghiên cứu, nhiều bài viết tham luận

đề cập tới tập trung chú ý trên phương diện đó là một trạng tháitâm lý, một mặt biểu hiện của các hoạt động khác ở đối tượng

Trang 23

nghiên cứu như: tính tích cực nhận thức, kiểu loại nhân cách,động cơ, nhu cầu… trong học tập và hoạt động.

ThS Lê Thị Xuân Liên trong bài viết “Phát huy tính tích cực của học – sinh viên trong dạy học toán ở các trường Cao đằng

Sư phạm”, cho rằng: tập trung thể hiện ở việc tập trung chú ý học

tập, lắng nghe, theo dõi mọi hành động của giáo viên là một trongcác biểu hiện quan trọng của tính tích cực trong hoạt động họctập bên cạnh các biểu hiện khác như là: Xúc cảm học tập; Sự nỗlực ý chí; Hành vi và kết quả lĩnh hội

Hiện nay, hiện tượng “lơ đãng” trên lớp, không thể tập trunghọc bài, không hứng thú học tập, học tập thụ động, đối phó… củahọc sinh, sinh viên rất phổ biến Do đó, yêu cầu đặt ra là cần cónhững nghiên cứu về vấn đề tập trung chú ý trên cả phương diệnhọc tập cũng như trong từng hoạt động cụ thể của học sinh, sinhviên

1.2 Những vấn đề lý luận

1.2.1 Khái niệm tập trung

Theo Đại từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1999 do Nguyễn

Như Ý làm chủ biên đã định nghĩa: “Tập trung:

1 Dồn lại, tụ họp ở một chỗ, một nơi.

2 Dồn sức lực, trí tuệ, hướng hoạt động vào việc

gì đó.”

Theo giáo sư Mihaly Csikszentmihalyi, nguyên trưởng khoa

tâm lý học, Đại học Chicago (Mỹ), có thể định nghĩa đơn giản về

Trang 24

sự tập trung đầu óc như sau: tập trung đầu óc là năng lực tậptrung sự chú ý vào chính công việc đang làm (học tập)  

Theo Tâm lý học đại cương, Đinh Thị Kim Thoa (chủ biên):Tập trung là sự tiêu hao năng lượng thần kinh tương đối lớn đểthực hiện một hình thức hoạt động nhất định và chỉ có khả năngchú ý đến một phạm vi đối tượng hẹp cần thiết cho hoạt động lúc

đó Sự tập trung chú ý sẽ giúp con người làm việc hiệu quả hơn

Một cuốn từ điển khác cũng định nghĩa về sự tập trung: tậptrung là tư tưởng, vận dụng mức cao sự chú ý của trí tuệ vào mộthoạt động nào đó (Từ điển tiếng Việt tường gia và liên tưởng,NXB Văn hóa-thông tin, 1999)

1.2.2 Học tập

1.2.2.1 Khái niệm hoạt động học tập

Có nhiều định nghĩa về học tập:

Theo N.V.Cudomina (1986), “Học tập được coi là nhận thức

cơ bản của sinh viên được thực hiện dưới sự hướng dẫn của cán

bộ giảng dạy Trong quá trình đó việc nắm vững những nội dung

cơ bản các thông tin mà thiếu nó thì không thể tiến hành đượchoạt động nghề nghiệp tương lai” (Cudomina 1986 in NguyễnVăn Thạc và Phạm Thành Nghị 1992)

Theo thuyết tâm lý học hoạt động do Lev SemenovichVygotshy, là nhà tâm lý học người Nga tiên phong khởi xướngvào giữa những năm 20 của thế kỷ XX thì: Bất cứ hoạt động nàođược gọi là học khi hiệu quả của nó – những tri thức, kỹ năng vàthái độ mới hay những tri thức, kỹ năng, thái độ cũ có bản chấtmới được hình thành ở người thực hiện hoạt động này

Trang 25

Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người đượcđiều khiển bởi mục đích tự giác để lĩnh hội những tri thức, kỹnăng, kĩ xảo mới, những hình thức hành vi và những hoạt độngnhất định nhằm phát triển nhân cách của chính mình (Tâm lý họcgiáo dục, Nguyễn Thị Mỹ Lộc).

Từ các định nghĩa trên, chúng tôi cho rằng “Học tập” có thểđịnh nghĩa như sau: Học tập là hoạt động tự giác, nhằm tiếp thutri thức của nhân loại, học hỏi những kinh nghiệm và lịch sử xãhội tích lũy qua các thế hệ của người học

1.2.2.2 Đặc điểm của hoạt động học tập

Hầu hết các quan niệm cho rằng khả năng tập trung baogồm một loạt các kỹ năng như: Kỹ năng duy trì sự chú ý trongkhoảng thời gian nhất định, kỹ năng nắm bắt thông tin, dịchchuyển sự tập trung và sàng bỏ các thông tin không cần thiết.Misrky, Anthony và năm cộng sự đã xác định bốn yếu tố của tậptrung đó là: thực hiện tập trung, duy trì, mã hóa và luân chuyển

Hoạt động học tập là hoạt động có:

+ Có đối tượng là tri thức, kỹ năng, kĩ xảo tương ứng;

có ý thức khi vận dụng các chức năng tâm lý như cảm giác,tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng, ngôn ngữ Sự tiếpthu kiến thức có tự giác cao, được chủ thể biến thành nhiệm

vụ và tích cực chiếm lĩnh

+ Kết quả của hoạt động học là làm thay đổi chính bảnthân: người học tiếp thu kiến thức nhân loại, biến nó thànhkiến thức bản thân Từ đó làm thay đổi sức mạnh vật chất,tinh thần và tâm lý trong cuộc sống

Trang 26

+ Hoạt động tâm lý giúp người học tiếp thu cả tri thứcthuộc phạm trù Cái và phạm trù Cách: hoạt động học tậpgiúp người học tiếp thu cách tìm hiểu, khám phá sự vật hiệntượng Nội dung và tính chất của cách học quyết địh chấtlượng của việc học và việc học cũng trở thành cách tiếp thukiến thức mới.

1.2.3 Tập trung trong học tập

1.2.3.1 Khái niệm sự tập trung trong học tập

Trên cơ sở cách hiểu về tập trung nói chung, chúng ta cóthể đưa ra cách hiểu về tập trung trong học tập với những đặcđiểm chung của hoạt động có ý thức của con người diễn ra trongquá trình sư phạm

Như vậy, tập trung trong học tập là sự tập trung có ý thứccủa người học vào một (hay một nhóm) đối tượng, sự vật, hiệntượng của nội dung học tập và tương đối tách khỏi các đối tượngkhác nhằm phản ánh được tốt hơn để hành động, hoạt động cókết quả Mục đích của sự tập trung trong việc học là giúp ngườihọc có thể biết, hiểu được khái niệm rõ ràng và giữ cho tâm tríđược lâu dài cho các hoạt động chế biến chúng

Ở mỗi một lứa tuổi, giới tính, nội dung học tập, phương thứctiếp nhận, hoàn cảnh điều kiện diễn ra các kích thích tác độngtới, mà sự tập trung có sự khác nhau Theo nhiều kết quảnghiên cứu đưa ra:

- Ở lứa tuổi học sinh tiểu học: tập trung không chủ định

chiếm ưu thế Tất cả những gì mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, tự nhiênlôi cuốn sự tập trung của học sinh không cần một sự nỗ lực nào

Trang 27

của trẻ Tuy nhiên học sinh tiểu học rất mẫn cảm, có thể tạo ramột trung khu hưng phấn mạnh ở vỏ não, do đó sẽ kìm hãm mọikhả năng hiểu biết bài giảng, ngăn cản việc phân tích và kháiquát hoá tài liệu; đồng thời, sự tập trung có phẩm chất tương đốibền vững Ở lứa tuổi này tập trung chủ định còn quá yếu, khảnăng điều kiển tập trung còn hạn chế Do đó, đòi hỏi học sinhphải rèn luyện sự tập trung có chủ định, nỗ lực ý chí để tập trung

và sự tập trung này cần được phát triển cùng với động cơ học tậpmang tính xã hội

- Ở lứa tuổi thiếu niên: sự tập trung có chủ định bền vững

được hình thành Tính lựa chọn của tập trung phụ thuộc vào đốitượng và mức độ hưng phấn đối với đối tượng đó Bên cạnh đó,khối lượng tập trung tăng lên và khả năng di chuyển hoạt động từthao tác này đến thao tác khác, từ hoạt động này đến hoạt độngkhác được tăng cường rõ rệt Ở lứa tuổi này đã có sự quan tâmtập trung nhiều đến nghề nghiệp tương lai với nhiều phương thứckhác nhau

- Ở lứa tuôi thanh niên (bao gồm cả sinh viên): tính chất

phân hóa của hứng thú quy định sự tập trung, tập trung có chủđịnh đã ổn định và ngày càng tăng

Theo nghiên cứu của Xtrakhop đã cho thấy học sinh tuổithanh niên không quan tâm trực tiếp tới tài liệu học tập, các embiết tập trung một cách khái quát vào tài liệu và hiểu được ý nghĩaquan trọng của các hiện tượng đang được học Các em đạt đượcnhững phẩm chất tập trung nhất định, từng bước làm chủ nănglực tập trung của bản thân Bên cạnh đó, sự tập trung của tuổi

Trang 28

thanh niên thường tập trung không chủ định vào đối tượng khi màgiáo viên nói tới sự ứng dụng những tri thức nhất định của mộtlĩnh vực nào đó vào thực tiễn

Như vậy, tập trung trong học tập xuất phát từ chính chủ thểtiếp nhận các tác động của ngoại cảnh và của chính bản thân,trong đó đặc điểm về sự phát triển nhân cách, nội dung học tậpcũng như ngoại cảnh giữ vai trò trung tâm chi phối năng lực tậptrung của người học

1.2.3.2 Vai trò của tập trung trong học tập

Tập trung có vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động củacon người đặc biệt là các hoạt động có ý thức, chủ đạo trong hoạtđộng sống của cá nhân, từ những công việc giản đơn, thời gianngắn đến những công việc đòi hỏi sự phối hợp nhiều thao tác, cửđộng, thời gian kéo dài hay là phối hợp nhiều cá nhân với nhau.Trong hoạt động lĩnh hội và chuyển những kiến thức, kinhnghiệm, giá trị xã hội thành kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng vàthói quen của cá nhân đòi hỏi mỗi chủ thể phải có trạng thái tậptrung thường xuyên và cao độ

Xét dưới nhiều góc độ khác nhau, tập trung có vai trò rất lớntrong học tập nói chung và học tập trên lớp của học sinh, sinhviên nói riêng:

- Tập trung có vai trò rất lớn giúp cho học sinh học trên lớp,tập trung là là điều kiện để học sinh nắm vững tài liệu học tập.Tập trung là điều kiện cần thiết để lao động trí óc một cách có tổchức, có kỷ luật và nếu học sinh hiểu sự cần thiết của tập trung

Trang 29

sớm chừng nào thì các em càng nhanh chóng có “trạng thái có ýthức làm việc”.

Tập trung không có đối tượng riêng, đối tượng của nó chính

là đối tượng của hoạt động tâm lý mà nó đi kèm Học tập là mộtloại hình hoạt động đặc biệt đòi hỏi trong quá trình cảm giác trigiác đến các quá trình trí nhớ, tưởng tượng và tư duy cần phải có

sự tập trung thường xuyên và cao độ

- Tập trung được xem như là một trạng thái tâm lý “đi kèm”các hoạt động tâm lý khác, giúp cho các hoạt động tâm lý đó cókết quả

- Tập trung giúp cho người học tiếp nhận kiến thức hệthống, toàn diện, đầy đủ từ đó dễ hiểu, dễ nhớ; đồng thời giúpphát triển trí tưởng tượng, giảm sự mệt mỏi, kích thích hứng thú

và rèn luyện ý chí của bản thân

Môi trường học tập xung quanh có muôn vàn sự vật tácđộng đến người học, con người không thể tiếp nhận và xử lýchính xác tất cả mà chỉ thực hiện được một số quan hệ nào đó

mà thôi Vì vậy, tập trung của con người phải lựa chọn và tậptrung vào quan hệ nào đó để hoạt động có kết quả Tập trung tạođiều kiện cho các hoạt động phản ánh tốt nhất đối tượng và từ đógiúp cho hoạt động có hiệu quả Có thể nói một hoạt động không

có tập trung đi kèm thì không thể tiến hành, thậm chí không thểtiến hành đạt mục đích

- Tập trung học tập của học sinh tạo môi trường cho họcviên hiểu khái niệm một cách rõ ràng và bảo đảm cho học viên xử

lý được thông tin tương ứng với hoạt động của giáo viên Từ đó,

Trang 30

mối quan hệ liên nhân cách trong tập thể sư phạm được củng cố

và phát triển, nề nếp kỷ luật lớp học cũng như nếp sống vănminh, thái độ lịch sự, tôn trọng lẫn nhau giữa học sinh với giáoviên và giữa người học với nhau được tăng cường - Thói quenbiết tập trung không phải chỉ cần thiết cho điều kiện nghề nghiệp

mà còn cần thiết cho tất cả các hoạt động của con người Khôngtập trung dẫn đến việc tri giác tài liệu học tập bị gián đoạn, ngườihọc sẽ phải tốn công sức nối lại chuỗi kiến thức đó và ảnh hưởngđến tiến trình của lớp học và hoạt động của giáo viên Hậu quảcủa thiếu tập trung trong học tập: Học viên khó nắm vững kiếnthức dẫn đến ít chủ động và thiếu tự tin; Khó khăn trong thể hiệnbản thân, gia tăng mức độ stress; Thành tích học tập giảm, dễđánh mất cơ hội thành công trong học tập và cuộc sống; Giáoviên không hài lòng và thất vọng, lòng tự trọng bị tổn thương; Giatăng các sai sót, lỗi trong thực hiện các nhiệm vụ học tập

Như vậy, bất cứ hoạt động nào của con người đều cần có

sự tập trung đi kèm mới có kết quả Tập trung là điều kiện tâm lýcủa các hoạt động có ý thức Theo Ken Wilber – người sáng tạongành tâm lý học hội nhập, cái làm nên giá trị của sự tập trungđầu óc chính là việc chúng ta điều khiển bản thân một cách có ýthức và không tập trung đầu óc chúng ta không thể ý thức đượcvấn đề chúng ta sống bằng cách nào, thiết lập các mối quan hệnhư thế nào với thế giới xung quanh ta, các mối quan hệ vớinhững người khác

1.2.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự tập trung trong học tập của sinh viên Sư phạm Vật lý trường Đại học Giáo dục

Trang 31

1.2.4.1 Yếu tố khách quan

* Nội dung khoa học của môn học

Nội dung môn học chính là đối tượng chiếm lĩnh của ngườihọc Nội dung môn học có ảnh hưởng lớn đến tính sự chú ý củangười học Nếu nội dung môn học phong phú, hấp dẫn, gần gũivới thực tiễn, phù hợp với trình độ nhận thức của người học sẽ lôicuốn, kích thích được sinh viên tích cực học tập và ngược lại.Tuy nhiên, xuất phát từ vị trí, tính đặc thù của môn học, bài học

mà gây được sự chú ý của người học hay là tạo cho người họcnhu cầu tiếp cận và làm chủ Tính vừa sức của môn học, vị trí vaitrò và mối quan hệ của môn học đối với nghề nghiệp, số lượngđơn vị học trình, tính thực tiễn của vấn đề học tập là những đặcđiểm hấp dẫn, thu hút và duy trì sự tập trung có chủ định củangười học

* Phương pháp giảng dạy của giảng viên

Có thể nói rằng sự tập trung học tập của sinh viên chịu ảnhhưởng rất lớn từ phía người dạy, đặc biệt là phương pháp giảngdạy Bởi lẽ, mọi hoạt động của giảng viên đều hướng tới ngườihọc, tạo ra hoàn cảnh và các tác động để từ đó sinh viên có cácquá trình chú ý không chủ định, có chủ định hoặc sau chủ địnhnhư phát biểu của Comenski “không bao giờ nên nói khi người tachưa nghe, không nên giảng khi người ta chưa chú ý” Trong quátrình giảng dạy, nếu giảng viên sử dụng các phương pháp giảngdạy phù hợp, khai thác được lợi thế của phương tiện dạy học, tổchức lớp học phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, đặc điểm nhậnthức, nội dung học tập, tăng cường sử dụng các phương pháp

Ngày đăng: 29/06/2023, 23:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Thống kê mẫu sinh viên Sư phạm Vật lý được nghiên cứu - Báo cáo môn phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục đề tài thực trạng về khả năng tập trung trong học tập của sinh viên sư phạm vật lý trường đại học giáo dục
Bảng 3.1. Thống kê mẫu sinh viên Sư phạm Vật lý được nghiên cứu (Trang 43)
Bảng 3.2. Thống kê lượng sinh viên toàn trường với  mức độ tập  trung khác nhau - Báo cáo môn phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục đề tài thực trạng về khả năng tập trung trong học tập của sinh viên sư phạm vật lý trường đại học giáo dục
Bảng 3.2. Thống kê lượng sinh viên toàn trường với mức độ tập trung khác nhau (Trang 44)
Bảng 3.3. Mức độ tập trung của sinh viên các khóa ( đơn vị: sinh viên) - Báo cáo môn phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục đề tài thực trạng về khả năng tập trung trong học tập của sinh viên sư phạm vật lý trường đại học giáo dục
Bảng 3.3. Mức độ tập trung của sinh viên các khóa ( đơn vị: sinh viên) (Trang 45)
Bảng 3.4. Địa điểm học tập tốt nhất của sinh viên toàn trường - Báo cáo môn phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục đề tài thực trạng về khả năng tập trung trong học tập của sinh viên sư phạm vật lý trường đại học giáo dục
Bảng 3.4. Địa điểm học tập tốt nhất của sinh viên toàn trường (Trang 47)
Bảng 3.5. Địa điểm học tập tốt nhất với sinh viên từng khóa - Báo cáo môn phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục đề tài thực trạng về khả năng tập trung trong học tập của sinh viên sư phạm vật lý trường đại học giáo dục
Bảng 3.5. Địa điểm học tập tốt nhất với sinh viên từng khóa (Trang 48)
Bảng 3.6. Đối tượng giúp sinh viên toàn trường tập trung - Báo cáo môn phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục đề tài thực trạng về khả năng tập trung trong học tập của sinh viên sư phạm vật lý trường đại học giáo dục
Bảng 3.6. Đối tượng giúp sinh viên toàn trường tập trung (Trang 49)
Bảng 3.7. Đối tượng giúp sinh viên từng khóa tập trung - Báo cáo môn phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục đề tài thực trạng về khả năng tập trung trong học tập của sinh viên sư phạm vật lý trường đại học giáo dục
Bảng 3.7. Đối tượng giúp sinh viên từng khóa tập trung (Trang 50)
Bảng 3.8. Thời gian tốt nhất cho việc tập trung học tập của sinh viên - Báo cáo môn phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục đề tài thực trạng về khả năng tập trung trong học tập của sinh viên sư phạm vật lý trường đại học giáo dục
Bảng 3.8. Thời gian tốt nhất cho việc tập trung học tập của sinh viên (Trang 51)
Bảng 3.9. Thời gian tập trung học tập tốt nhất của sinh viên từng khóa - Báo cáo môn phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục đề tài thực trạng về khả năng tập trung trong học tập của sinh viên sư phạm vật lý trường đại học giáo dục
Bảng 3.9. Thời gian tập trung học tập tốt nhất của sinh viên từng khóa (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w