1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nội dung cơ bản của một số bản gia huấn trong lịch sử việt nam và bài học lịch sử của nó đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh việt nam hiện nay

210 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nội dung cơ bản của một số bản gia huấn trong lịch sử Việt Nam và bài học lịch sử của nó đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh Việt Nam hiện nay
Tác giả Trần Phan Ngọc Bích
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Nguyên Việt
Trường học Ngọc Bích Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Luận án tiến sĩ triết học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 210
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ quan điểm “ôn cố tri tân” của Nho giáo, từ quan điểm của triết học chủ nghĩa Mác – Lê nin về kế thừa biện chứng các giá trị truyền thống và quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ

Trang 1

1.PGS.TS Nguyễn Hồng Dương 2.PGS.TS Vũ Đức Khiển

CHO HỌC SINH VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi, thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Nguyên Việt Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực theo thực tế nghiên cứu, chưa từng được bất kỳ tác giả nào khác nghiên cứu và công bố Tài liệu sử dụng trong luận

án có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

Tác giả luận án

Trần Phan Ngọc Bích

Trang 3

Trang

MỞ ĐẦU……… 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CHO HÌNH THÀNH CÁC GIA HUẤN VIỆT NAM TRONG LỊCH SỬ……… 25

1.1 Bối cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XX………

1.1.1 Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XX………

1.1.2 Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội………

25 25 29 1.2 Tiền đề lý luận………

1.2.1 Ảnh hưởng của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) đến sự hình thành các bản gia huấn………

1.2.2 Văn hóa truyền thống của dân tộc………

37 37 51 1.3.Vài nét khái quát về gia huấn và hai tác phẩm “Bùi gia huấn hài” và “Gia huấn diễn ca”………

1.3.1 Về khái niệm “Gia huấn”………

1.3.2 Bùi Dương Lịch và tác phẩm “Bùi gia huấn hài”………

1.3.3 Về tác phẩm khuyết danh “Gia huấn diễn ca”………

56 56 61 64 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1……… 67

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA NÓ TRONG “BÙI GIA HUẤN HÀI” VÀ “GIA HUẤN DIỄN CA” 69

2.1 Một số nội dung cơ bản trong “Bùi gia huấn hài” và “Gia huấn diễn ca”……… 69

2.1.1 Thế giới quan………

2.1.1.1 Quan niệm về vũ trụ………

2.1.1.2 Quan niệm về con người và sự vật………

69 69 82 2.1.2 Nhân sinh quan từ góc độ đạo làm người……… 86

Trang 4

đường………

2.1.2.2 Quan điểm giáo dục cách ứng xử trong gia đình và xã hội………

86 96 2.1.3 Giáo dục “Thực học” và các kiến thức cơ bản trong “Bùi gia huấn hài” và “Gia huấn diễn ca”………

2.1.3.1.Về khái niệm “thực học” và biểu hiện của nó trong “Bùi gia huấn hài” và “Gia huấn diễn ca”………

2.1.3.2 Giáo dục kiến thức địa lý và thiên văn………

2.1.3.3 Giáo dục kiến thức Nam – Bắc sử………

2.1.3.4 Giáo dục kiến thức lịch sử Nho học………

108 108 110 116 119 2.2 Một số đặc điểm chủ yếu trong nội dung của “Bùi gia huấn hài” và “Gia huấn diễn ca”………

2.2.1 “Bùi gia huấn hài” và “Gia huấn diễn ca” là hình thức giáo dục đạo đức trong gia đình nhằm góp phần củng cố chế độ phong kiến tập quyền Việt Nam………

2.2.2 Tính quy luật trong quá trình giáo huấn các đối tượng con cái trong gia đình………

2.2.3 Nội dung giáo huấn lấy Nho giáo làm cơ sở trong sự kết hợp với văn hóa dân tộc………

2.2.4 Phương pháp tùy thuộc độ tuổi của đối tượng giáo huấn trong suốt quá trình hình thành và hoàn thiện nhân cách………

129 129 133 136 142 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2……… 143

CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ CỦA “BÙI GIA HUẤN HÀI” VÀ “GIA HUẤN DIỄN CA” ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH VIỆT NAM HIỆN NAY……… 146

3.1 Về giá trị và hạn chế của “Bùi gia huấn hài” và “Gia huấn diễn ca”… 3.1.1.Về giá trị………

146 146 3.1.2 Về một số hạn chế……… 149

Trang 5

giáo dục đạo đức cho học sinh Việt Nam hiện nay………

3.2.1 Giáo dục đạo đức cho học sinh nước ta hiện nay: một số vấn đề lý

luận………

3.2.1.1 Về khái niệm đạo đức và vai trò của đạo đức trong đời sống tinh thần

xã hội………

3.2.1.2 Giáo dục đạo đức cho học sinh và vấn đề xây dựng triết lý giáo dục ở

Việt Nam hiện nay………

3.3.2.3 Đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục cho phù hợp với lứa tuổi và năng lực của người học; việc dạy và học phải đi từ thấp lên cao, tránh nhồi nhét kiến thức không phù hợp với độ tuổi và năng lực tiếp thu của người học……… 3.3.2.4 Tiếp tục hoàn thiện Luật giáo dục nhằm hạn chế các hiện tượng tiêu cực, phản văn hóa trong nhà trường và xã hội………

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN………

192

204

Trang 6

ĐÀO TẠO

1.Quyết định thành lập hội đồng đánh giá luận án cấp cơ sở đào tạo

2.Các bản nhận xét của các thành viên hội đồng

3 Biên bản buổi bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp trường

4 Quyết nghị của hội đồng chấm luận án Tiến sĩ cấp trường

5 Bản giải trình các điểm bổ sung và sửa chữa luận án theo góp ý của hội đồng đánh giá luận án cơ sở đào tạo

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giáo dục đạo đức cho con người nói chung, cho các đối tượng là học sinh nói riêng, là vấn đề vừa mang tính cấp bách, vừa lâu dài nhằm tạo ra những con người “vừa hồng vừa chuyên” mà sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh thường đề cập tới Chữ “hồng” ở đây chỉ đạo đức của con người luôn đặt lợi ích cộng đồng, dân tộc lên trên hết, Người gọi đó là đạo đức cách mạng Theo Người: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống Nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày

mà phát triển củng cố Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 5, tr.612) Trong cuộc đấu tranh đó, cái khó nhất là đấu tranh với chính bản thân mỗi con người, là quá trình tự tu, tự hoàn thiện đòi hỏi tính tự giác của mỗi người rất cao

Tuy nhiên, trong quá trình vận động hoàn thiện nhân cách con người, chúng

ta đều biết một điều chắc chắn rằng, không thể thiếu sự giáo dục, tức là sự xã hội hóa từ bên ngoài để nhân cách được hình thành một cách đầy đủ hơn Với lẽ đó, việc giáo dục đạo đức luôn đòi hỏi sự thống nhất hữu cơ giữa nhà trường, gia đình

và xã hội vì những mục tiêu được xác định theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể của đất nước Về vấn đề này, Bác Hồ cũng từng khẳng định: “Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường

dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn (Hồ Chí Minh, 2011, tập 10, tr.591) Người còn nhấn mạnh rằng: “Trường đại học, gia đình và đoàn thể thanh niên phải liên hệ chặt chẽ trong việc giáo dục thanh niên” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 9, tr.266)

Trong thời gian qua, đặc biệt là từ khi Đảng ta chủ trương hội nhập quốc tế

và phát triển đất nước, vấn đề giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu nhằm đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong

Trang 8

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi

mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học” (Đảng Cộng sản Việt Nam,

2016, tr.115) Điều đáng tiếc là, dù quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước ta rất cao, song thành tựu đạt được trong lĩnh vực giáo dục lại không được như mong muốn Thực trạng nền giáo dục từ khi đổi mới đến nay vẫn loay hoay với việc tìm kiếm triết lý giáo dục mới và trên thực tế chưa có đáp án nào thỏa mãn yêu cầu về nội dung và phương pháp dạy và học

Một quan điểm được thừa nhận phổ biến hiện nay cho rằng, về phương diện giảng dạy, chúng ta chỉ chú trọng “dạy chữ” mà ít “dạy người” Ngay cả việc “dạy chữ” cũng không đáp ứng được yêu cầu, nặng về lý thuyết và thiếu suy lý, thiếu thực tiễn Việc “dạy người” lại để xảy ra các hiện tượng phản nhân văn, đạo đức ngay trong học đường chứ chưa nói đến ngoài xã hội Với thực tế yếu kém như vậy của nền giáo dục nước nhà thì việc tìm triết lý giáo dục mới cho đất nước ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Và, trong cuộc tìm kiếm đó, theo chúng tôi, phải nhất thiết đứng trên lập trường của triết học chủ nghĩa Mác – Lênin về kế thừa

và phát triển các giá trị truyền thống trong giáo dục của đất nước qua hàng trăm năm

Là một nước nằm trong khu vực Đông Nam Á vốn chịu ảnh hưởng khá sâu đậm học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo, cho nên hệ thống giáo dục truyền thống và đi kèm với nó là khoa cử nước ta từ thời Bắc thuộc đều mang đậm dấu ấn của Nho giáo Đặc biệt từ thời Lý, với những sự kiện “Tu Văn Miếu” (1070), mở khoa thi đầu tiên (1075) và dựng Quốc Tử Giám (1076) đã tạo đà cho nền giáo dục – khoa cử của đất nước dần đi vào khuôn khổ và nhờ đó mà nhà nước phong kiến trải qua hàng thế kỷ đã đào tạo và lựa chọn nhân tài cho bộ máy cai trị của mình Các hình thức tổ chức giáo dục dần phát triển và ngày càng qui củ hơn, kéo theo đó

là những nội dung và hình thức giáo dục lấy Nho học làm nền tảng được định hình

Trang 9

Tuy nhiên, ngoài các hình thức tổ chức trường lớp ở trung ương và địa phương, chúng ta còn biết đến một hình thức giáo huấn hết sức quan trọng, nó góp phần củng cố chế độ phong kiến hiện hữu và được coi là hình thức giáo dục đầu tiên, đầu

đời cho con trẻ, đó chính là gia huấn với nhiều thể loại khác nhau như gia huấn ca,

gia huấn diễn ca, cư gia khuyến giới tắc, v.v…

Gia huấn Việt Nam trong lịch sử được hình thành khá sớm do nhu cầu về giáo dục của đất nước qua các giai đoạn lịch sử cụ thể Tuy lấy tư tưởng giáo dục Nho giáo làm cơ sở, lấy các thành viên trong gia đình, đặc biệt là trẻ em làm đối tượng cơ bản, song ở đó chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy những nội dung và phương pháp của Nho học được Việt hóa, phù hợp với đối tượng giáo dục và mục tiêu giáo dục của nhà nước phong kiến Đặc biệt, với trẻ em, những người nhận được sự quan tâm giáo dục đầu đời, thì việc uốn nắn những hành vi đạo đức, điều chỉnh cách ứng xử cho phù hợp với các mối quan hệ xã hội, là nhân tố giáo dục hết sức có ý nghĩa, nó góp phần hình thành nên ý thức chính trị - đạo đức, thông qua đó phát triển nhân cách con người một cách hiệu quả

Xuất phát từ quan điểm “ôn cố tri tân” của Nho giáo, từ quan điểm của triết học chủ nghĩa Mác – Lê nin về kế thừa biện chứng các giá trị truyền thống và quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển nền giáo dục đất nước trong

điều kiện hiện nay, chúng tôi chọn “Nội dung cơ bản của một số gia huấn Việt Nam trong lịch sử và bài học lịch sử của nó đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh nước ta hiện nay” qua hai bản “Bùi gia huấn hài” và “Gia huấn diễn ca” làm đề tài

luận án tiến sĩ triết học của mình với hy vọng tìm lại và nghiên cứu một loại hình

tư liệu dường như đang bị mai một là các bản gia huấn để góp phần xây dựng một triết lý giáo dục của đất nước phù hợp và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước ta hiện nay

Trang 10

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung, lịch sử tư tưởng giáo dục Việt Nam nói riêng, là lĩnh vực được nhiều học giả quan tâm Tuy nhiên, trong lịch

sử tư tưởng giáo dục, mảng giáo huấn mà cụ thể là gia huấn ít được quan tâm bởi nhiều người cho rằng, gia huấn là hình thức giáo dục trong lịch sử phong kiến ít nhiều đã được đề cập tới trong các công trình đã được công bố Trên thực tế, gia huấn là nguồn tư liệu khá phong phú nhưng nó chưa được xuất bản nhiều, do đó trong luận án này, chúng tôi tạm phân định thành ba hướng nghiên cứu cơ bản có liên quan tới đề tài của mình như sau:

1.1 Những nghiên cứu về điều kiện, tiền đề cơ bản cho sự hình thành các bản gia huấn Việt Nam trong lịch sử

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về bối cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XX

Nghiên cứu bối cảnh lịch sử Việt Nam thời kỳ này phải kể đến công trình Đại cương lịch sử Việt Nam do Đinh Xuân Lâm chủ biên, Nxb Giáo dục ấn hành, tập 1

năm 1998 và tập 2, năm 2003 Tuy là công trình đại cương, song có thể nói, các tác giả đã trình bày khá cô đọng những sự kiện lịch sử, tình hình kinh tế - xã hội, văn hóa giáo dục, v.v Đây là công trình được chúng tôi quan tâm sử dụng vào việc phân tích bối cảnh lịch sử và những tiền đề cơ bản cho sự ra đời các gia huấn, cụ

thể là Bùi gia huấn hài (cuối thế kỷ XVIII) và Gia huấn diễn ca (đầu thế kỷ XX) Công trình của Văn Tạo về, Phương thức sản xuất châu Á Lý luận Mác – Lê nin và thực tiễn Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội 1996, đề cập đến các quan điểm

của C.Mác về phương thức sản xuất châu Á trong sự liên quan đến các yếu tố truyền thống của phương Đông Chúng tôi nhận thấy ở công trình này có một số vấn đề liên quan giữa phương thức sản xuất mà C.Mác đề cập có thể suy luận được

về nguyên nhân ra đời của các gia huấn mà ở đó, tư tưởng giáo dục Nho giáo được

Trang 11

coi là chủ đạo, chi phối lối sống, phong cách tư duy của con người Việt Nam trong lịch sử

Một trong những nội dung cơ bản của các gia huấn đề cập đến “lịch sử nước

Nam ta” và Trung Quốc, do đó cuốn Lịch sử Trung Quốc của Nguyễn Gia Phu và

Nguyễn Huy Quý, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003, là công trình có liên quan đến nghiên cứu của luận án Tuy được trình bày với dung lượng trang sách khá khiêm tốn, song những nội dung của cuốn sách đã cung cấp cho chúng ta bức tranh chung

về lịch sử đất nước Trung Quốc từ Cổ đại đến Cận hiện đại; làm cơ sở để đối chiếu

với nội dung sử học được trình bày vắn tắt trong hai bản gia huấn mà luận án này

đề cập tới

1.1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến tiền đề lý luận cho sự hình thành các gia huấn trong lịch sử

a Về văn hóa và tư tưởng truyền thống

Trong nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước về cơ

sở văn hóa Việt Nam, có thể kể đến cuốn sách do Trần Quốc Vượng chủ biên nhan đề: “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000 Trong đó, các tác giả

đề cập đến khái niệm văn hóa và diễn trình lịch sử của văn hóa Việt Nam; các vùng văn hóa và vai trò của văn hóa trong điều kiện hội nhập và phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay Đây là công trình khoa học cơ bản giúp người đọc nắm bắt được những kiến thức cơ bản của văn hóa và những đặc điểm của văn hóa dân tộc Tuy không trực tiếp đề cập đến vai trò của gia huấn, song hình thức giáo dục con trẻ trong gia đình được các tác giả phân tích khá rõ: “Đứa trẻ vừa sinh ra đã được sống

và cảm thụ, hội nhập văn hóa trước hết là ở gia đình, rồi sau đó ở gia đình mở rộng, làng xóm… Vì vậy tổ tiên ông bà người Việt rất coi trọng việc giáo dục văn hóa Dạy con từ thuở còn thơ” Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách và việc truyền đạt các giá trị văn hóa… Như vậy bối cảnh môi sinh gia

Trang 12

đình – tộc họ - xóm làng là nơi con người nhập thân văn hóa xã hội hóa cá nhân đầu tiên” (Trần Quốc Vượng (chủ biên), sdd, tr.41)

Tác giả Nguyễn Nghĩa Dân với cuốn sách “Đạo làm người trong tục ngữ ca dao Việt Nam” gồm 2 phần: phần thứ nhất đề cập đến đặc điểm của tục ngữ ca dao Việt Nam về đạo làm người; phần thứ hai sưu tập, lựa chọn giải thích tục ngữ ca dao Việt Nam về đạo làm người Theo tác giả, “Tục ngữ ca dao Việt Nam về đạo làm người là toàn bộ kinh nghiệm xây dựng nhân cách chính trị đạo đức và nhân cách sáng tạo nhằm duy trì và phát triển dân tộc Việt Nam trong quá trình dựng nước, giữ nước, thực hiện tốt đẹp và có hiệu quả mối quan hệ của con người Việt Nam với chính mình, với xã hội và với tự nhiên” (Nguyễn Nghĩa Dân, sdd, tr.37)

Tác giả Trần Thị Kim Xuyến, "Gia đình và những vấn đề của gia đình hiện đại", Nhà xuất bản Thống kê, (11-2001), đã chỉ rõ vai trò, vị trí của gia đình trong

xã hội và đối với mỗi cá nhân, đặc biệt là mặt đạo đức Trong công trình này tác giả

đã đi sâu phân tích sự biến đổi của gia đình cùng với sự biến đổi của xã hội đương đại

Cuốn sách do Lê Thi chủ biên về "Vai trò của gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam" Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002, là công trình

nghiên cứu liên ngành, ở đó từ việc phân tích giá trị to lớn của gia đình các tác giả

đã đi đến khẳng định vai trò của gia đình trong việc hình thành nhân cách đạo đức

của con người Đây là công trình tham khảo tốt đối với việc thực hiện đề tài của luận án này

Luận án Tiến sĩ triết học của tác giả Nghiêm Sĩ Liêm, năm 2001, "Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ" (Nguyễn Sĩ Liêm, 2001) đã làm rõ các khái

niệm, đặc điểm, nội dung, của việc giáo dục gia đình cho thế hệ trẻ hiện nay, đồng thời xác định những yếu tố ảnh hưởng đến đạo đức gia đình và nêu lên thực trạng của giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ hiện nay Theo chúng tôi, luận án cần phải

Trang 13

đề cập nhiều hơn đến mô hình gia đình truyền thống, ở đó các yếu tố đạo đức chịu ảnh hưởng khá đậm nét của Nho giáo

Công trình nghiên cứu của tác giả Lê Thi về "Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới", Nhà xuất bản Hà Nội năm 2002, đã nghiên cứu vấn đề gia

đình và sự biến đổi của nó theo các xu hướng khác nhau, cả những mặt tích cực cũng như tiêu cực Khẳng định gia đình là tế bào của xã hội, nơi ươm mầm của một đời người, cho nên theo tác giả công trình, dù bất luận trong trường hợp nào thì việc phát huy những mặt tích cực và hạn chế tiêu cực là hết sức cần thiết đối với việc giáo dục thế hệ trẻ ngay từ trong môi trường gia đình Đó là nhận định hết sức đúng đắn, bởi lẽ Nho giáo lấy việc giáo dục đạo đức từ tế bào xã hội là gia đình, sau đó mới mở rộng ra ngoài xã hội với tư cách là gia đình lớn

Công trình nghiên cứu: "Gia đình học" của hai tác giả: Đặng Cảnh Khanh và

Lê Thị Quý, do nhà xuất bản Lý luận chính trị xuất bản năm 2007 Cuốn sách là một công trình khoa học được biên soạn công phu có hệ thống gồm 5 phần và 22 chương dưới dạng giáo trình giảng dạy Các tác giả đã làm rõ khái niệm gia đình, vị trí vai trò và chức năng của gia đình, gia đình truyền thống, gia đình Việt Nam trước những thách thức của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước

Từ đó các tác giả cũng đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của gia đình trong xã hội hiện đại Đây là công trình tham khảo có giá trị đối với đề tài chúng tôi khi đề cập đến những vấn đề lý luận cơ bản về gia đình

Cuốn “Việt Nam phong tục” của Phan Kế Bính, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2005 gồm 3 thiên: Thiên thứ nhất “Nói về phong tục trong gia tộc” đề cập đến những vấn đề về mối quan hệ cha mẹ với con cái, quan hệ vợ chồng quan hệ giữa anh chị em, về đạo làm con, về các tục lễ tang ma, cầu tự, v.v.’ Thiên thứ hai “Nói

về phong tục hương đảng” gồm các việc tế thần, chùa chiền, hương ẩm, hương học, khoán ước, việc hiếu, hỷ, v.v.; Thiên thứ ba “Nói về phong tục xã hội” gồm các vấn

Trang 14

đề về mối quan hệ vua – tôi, thầy – trò, bầu bạn, về tam giáo, Gia tô giáo, khoa cử,

võ nghệ, địa lý, toán số, tướng thuật, v.v

Công trình nghiên cứu "Văn hóa gia đình Việt Nam" của tác giả Vũ Ngọc

Khánh, do NXB Thanh niên xuất bản năm 2007, khẳng định gia đình là vấn đề lớn, phạm vi nghiên cứu rộng: Đạo đức luân lý, hôn nhân, giáo dục trẻ em, giới tính, tâm lý tình cảm của từng thành viên, quan hệ cha con, chồng vợ Từ các tập tục của gia đình Việt Nam như: gia lễ, gia pháp, gia phong tác giả đã chỉ rõ sự ảnh hưởng của Nho giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo đối với đạo đức gia đình ở nước ta

từ xưa đến nay

Công trình nghiên cứu "Đạo đức gia đình trong nền kinh tế thị trường" của tác

giả Nguyễn Thị Khoa, Tạp chí Triết học số 4 năm 2002, đã đưa ra khái niệm đạo đức gia đình và sự biến đổi của đạo đức gia đình trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay Từ đó tác giả làm rõ nguyên nhân của một số lệch chuẩn

về đạo đức và việc xây dựng đạo đức gia đình tiến bộ, lành mạnh trong điều kiện mới

b Về tư tưởng giáo huấn trong tam giáo (Nho, Phật, Đạo)

Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đến đời sống tinh thần nói chung, đến lĩnh vực giáo dục đạo đức nói riêng của con người Việt Nam trong lịch sử Trong số đó có cuốn: “Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay” do Nguyễn Tài Thư làm chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia ấn hành năm 1997 Cuốn sách đã trình bày khái quát các học thuyết triết học, chính trị - đạo đức và tôn giáo hiện diện ở nước ta trong lịch sử, phân tích về mặt nội dung và kết cấu cũng như sự tác động của các học thuyết đó đối với xã hội hiện thực, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp thích hợp nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực để góp phần thúc đẩy sự phát triển đất nước ta hiện nay (Nguyễn Tài Thư, 1997) Tuy nhiên, vấn đề về ảnh hưởng của các học thuyết đó đến lĩnh vực giáo dục đạo đức

Trang 15

trong gia đình chưa được công trình này dành sự quan tâm cần thiết Do đó, việc khảo cứu các công trình liên quan đến lĩnh vực giáo huấn, cụ thể là ảnh hưởng của các học thuyết đó đến sự hình thành các gia huấn là việc làm cần thiết

Một là, các công trình nghiên cứu tư tưởng giáo huấn trong Nho giáo

Công trình nghiên cứu "Gia đình Việt Nam và ảnh hưởng của Nho giáo" của tác giả Trần Đình Hượu, đăng trong cuốn Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam do nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 1991, đã chỉ ra Gia đình

là một tổ chức rất xa xưa, bắt nguồn từ quan hệ nam nữ, từ việc sinh đẻ con cái rất

tự nhiên, về sau trong lịch sử mới thay đổi thích ứng với phương thức sản xuất, với

cơ chế chính trị-xã hội, với nền văn hóa… Trên cơ sở đó, tác giả phân tích nguồn

gốc ảnh hưởng của Nho giáo đối với Việt Nam và khẳng định Nho giáo tuy đến sau

nhưng sớm thành nền tảng của hệ tư tưởng chính thống: Nho giáo gây ảnh hưởng theo cách toàn bộ từ trên xuống tức là bằng con đường Nhà nước đi vào xã hội mà

đi vào từng gia đình Ảnh hưởng rất sâu sắc vì không chỉ thông qua việc du nhập một thể chế chính trị, những hình thức văn hóa mà qua cả một cơ chế kinh tế, một quan hệ sản xuất Tác giả cho rằng, với việc cai trị của phương Bắc hơn mười thế

kỷ, Nho giáo được truyền bá liên tục, ngày càng thấm sâu vào cuộc sống càng ảnh hưởng nhiều đến tổ chức gia đình Việt Nam, từ nguyên tắc chuẩn mực đạo đức quy định mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình cho đến cách ứng xử đạo đức của con người khi bước vào môi trường xã hội Công trình cho chúng ta một cách nhìn tương đối đầy đủ về vấn đề giáo dục đạo đức gia đình với tư cách là một đối tượng nghiên cứu của văn hóa gia đình

Công trình nghiên cứu "Nho giáo và gia đình" do nhà xuất bản Khoa học xã

hội xuất bản năm 1995 của tác giả Vũ Khiêu đã làm rõ các vấn đề về gia đình, đặc biệt là gia đình truyền thống ở Việt Nam Trong công trình đó, tác giả đã phân tích các quy phạm đạo đức Nho giáo, giáo dục đạo đức trong gia đình thông qua ba mối quan hệ cơ bản quan hệ cha - con, quan hệ anh - em, quan hệ vợ - chồng…, tác giả

Trang 16

cũng chỉ rõ, với quan niệm đạo đức Nho giáo có hạn chế kìm nén con người, nhất

là người phụ nữ là người chịu những ảnh hưởng thiệt thòi nhất, đau khổ nhất do chế

độ hà khắc đem lại Tác giả cũng chỉ ra vấn đề kế thừa giá trị đạo đức Nho giáo của những người con đối với cha mẹ, em đối với anh, vợ đối với chồng

Tác phẩm "Nho giáo và phát triển ở Việt Nam", Nhà xuất bản khoa học xã hội xuất bản năm 1997 của tác giả Vũ Khiêu đã bàn đến sự ra đời và các bước thăng trầm của Nho giáo cũng như sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam Đặc biệt ở tác phẩm này tác giả dành hẳn một chương bàn về vấn đề Nho giáo trong gia đình ở Việt Nam ngày nay Từ những giáo lý đạo đức Nho giáo về gia đình, tác giả khẳng định Nho giáo sẽ đem lại cho chúng ta những điều bổ ích Tuy nhiên, tác giả cũng cho rằng, chúng ta không thể bê nguyên xi mô hình của nước này hay nước khác về gia đình mà phải có sự thay đổi để phù hợp với hoàn cảnh của đất nước và con người Việt Nam

Tác phẩm “Khổng học đăng” của Phan Bội Châu trình bày về sự hình thành

và phát triển Nho giáo từ Khổng Tử đến Khổng học thời Minh Thanh, tác phẩm đề cập sâu rộng một số phạm trù trong học thuyết của Khổng Tử như Nhân, Trí, Dũng và bàn về Khổng học thời Lưỡng Hán Lục triều, thời Tống và Minh Thanh

(Phan Bội Châu, Khổng học đăng , Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1998)

Các tác giả của Nho giáo và Khổng học đăng đều có điểm chung là: thông qua

cách trình bày một số phạm trù, nguyên lý cơ bản của Nho giáo Trong tiến trình lịch sử của nó, nhìn nhận Nho giáo từ góc độ giá trị, cho rằng Nho giáo không chỉ

là một học thuyết triết học, mà còn là học thuyết chính trị xã hội, đạo đức, ở đó dường như thông thái đầy đủ những nội dung triết học của toàn thế giới Trong điều kiện thực dân Pháp bãi bỏ nền cổ học trên toàn cõi An Nam (1919), sự bành trướng của văn hóa phương Tây vào Việt Nam đương thời đã làm xuất hiện các quan điểm coi thường giá trị của các học thuyết truyền thống, trong đó có Nho giáo Hai ông

đã trình bày khá hệ thống nội dung tư tưởng của học thuyết này nhằm chứng minh

Trang 17

sức sống trường tồn của Nho giáo, đặc biệt là lĩnh vực đạo đức Tuy nhiên có nhiều đánh giá, nhiều ý kiến mang yếu tố chủ quan, cá nhân

Tác giả Trần Trọng Kim trong tác phẩm Nho giáo, được NXB Thông tin, Hà Nội xuất bản năm 2003, đã trình bày và phân tích những tư tưởng cơ bản của Nho

giáo trong quá trình hình thành và phát triển Đặc biệt nêu cao những giá trị tích cực của Nho giáo trong việc đào tạo con người và ổn định trật tự xã hội Khi nói về

cuốn Luận ngữ của Khổng Tử, ông đã viết: “Trong sách ấy, cùng một chữ nhân,

chữ hiếu, chữ chính mà mỗi nơi nói một khác, là vì cách lập giáo của Khổng Tử cứ tùy tư cách, hoặc tùy sở đắc, sở thất của từng người mà dạy bảo, cho nên nghĩa không đồng Tuy hình thức thì không có trật tự, phân minh, nhưng văn từ thì thật rõ, thật đúng, ý tứ rất sáng, rất gọn, mà câu nào cũng hàm súc ung dung, đích đáng là lời dạy của thánh nhân”

Công trình “Nho giáo Trung Quốc” của Nguyễn Tôn Nhan, NXB Văn hóa

Thông tin, năm 2005, là bộ sách nghiên cứu lịch sử Nho giáo một cách chi tiết, độ dày của cuốn sách lên đến hơn 1600 trang Đây là tác phẩm mà tác giả đã dành tâm huyết và có cách nhìn mới mẻ, hệ thống về Nho giáo Trên cơ sở trình bày lịch sử phát triển của Nho giáo, tác giả đã phân chia sự hình thành phát triển Nho giáo thành sáu giai đoạn từ Nho giáo sơ kỳ (hay còn gọi là Nho gia để phân biệt với các phái ("gia") khác cho đến Nho giáo thời Minh Thanh Đây là cách tiếp cận về phân chia Nho giáo theo nghĩa phân biệt nó với Nho gia, một trong những học thuyết chính trị - xã hội ra đời ở Trung Quốc thời cổ đại Tuy nhiên, tác giả không nói rõ Nho giáo là một tôn giáo trong sự phân biệt với Nho gia Đây là vấn đề được tranh luận từ lâu, song theo chúng tôi, Nho giáo với Nho gia về thực chất là một, và nghĩa chữ "giáo" ở đây chỉ chủ yếu mang nội dung giáo huấn, dù sau này Đổng Trọng Thư có đưa một số yếu tố tôn giáo thần bí vào học thuyết Nho gia, rốt cục Nho giáo vẫn chưa đủ những tiếu chí cấu thành tôn giáo

Trang 18

Tác giả Tào Thượng Bân với cuốn Tư tưởng nhân bản của Nho học Tiên Tần,

NXB Đại học quốc gia, Hà Nội 2005 đã làm rõ một số nội dung tư tưởng Nho giáo liên quan đến giáo dục giáo huấn con người như đạo Hiếu, thân giáo, v.v Trong công trình này, tác giả đã tập trung phân tích vai trò của đạo Hiếu từ vị thế là gốc của đức nhân, đã vượt ra ngoài quan hệ gia đình để trở thành phạm trù đạo đức trong đường lối trị nước của các triều đại phong kiến; thân giáo được coi là phương pháp hữu hiệu về tinh thần làm gương của người lớn đối với trẻ em, của nhà cầm quyền đối với dân, v.v

Một số tác giả khác đã làm rõ những ảnh hưởng của Nho giáo trên các mặt:

Chính trị, xã hội, tư tưởng, văn hóa Cao Xuân Huy với cuốn “Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu” do NXB Văn học Hà Nội xuất bản năm

1995, đã luận giải khá sâu sắc về chữ Nhân của Khổng Tử; cuốn “Khổng Tử và Luận ngữ” của Nguyễn Hiến Lê; Nho giáo và đạo đức của Vũ Khiêu, Nho học và Nho học Việt Nam của Nguyễn Tài Thư, Khổng giáo phê bình tiểu luận của Đào

Duy Anh là những tác phẩm đã chỉ ra những yếu tố tiêu cực trong Nho giáo cần phải khắc phục, cũng như những ảnh hưởng tích cực của Nho giáo cần được tiếp thu góp phần xây dựng đất nước trong giai đoạn hiện nay Các tác giả đi sâu vào việc luận giải nguồn gốc của Nho giáo và những chuẩn mực đạo đức của Nho giáo,

từ đó làm rõ những ảnh hưởng của Nho giáo ở nước ta trong lịch sử cũng như hiện tại

Bên cạnh các tác giả bàn về những ảnh hưởng có tính chất tích cực, cũng có những tác giả có quan điểm ngược lại, nhấn mạnh mặt tiêu cực của đạo đức Nho

giáo, chẳng hạn cuốn Nho giáo xưa và nay của Quang Đạm, Nho giáo tại Việt Nam của Lê Sĩ Thắng Mặc dù có những kiến giải mới về đạo đức Nho giáo như Tam cương, Ngũ thường, Ngũ luân nhưng các tác giả nặng về phê phán đạo đức Nho

giáo, cho nó là khắt khe, một chiều, coi khinh phụ nữ, phân biệt đẳng cấp, v.v

Trang 19

Hội thảo "Nho học ở Việt Nam" của Viện nghiên cứu Hán Nôm và Viện Harvard - Yenching (Mỹ) đồng phối hợp tổ chức năm 2004 đã bàn thảo nhiều vấn

đề như: Ảnh hưởng của Nho giáo trong đời sống hiện đại, quy trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam; tư tưởng Nho giáo trong thời phong kiến và ảnh hưởng của nó trong xã hội đương đại, v.v Trong Hội thảo này, các bản tham luận tập trung vào việc làm rõ giá trị của Nho giáo và ảnh hưởng của nó trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay (Viện nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo

khoa học về Nho học ở Việt Nam, 2004)

Bên cạnh đó, một số luận án cũng đề cập đến đạo đức Nho giáo, vấn đề con

người trong Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với Việt Nam như: Ảnh hưởng của Nho giáo đối với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam truyền thống của Trần Thị Hồng Thúy; luận án Vấn đề con người trong Nho học sơ kỳ của Nguyễn Tài Thư; luận án Quan niệm của Nho giáo nguyên thủy về con người và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của

Nguyễn Thị Nga, v.v Các luận án này đều tập trung bàn về vấn đề con người với

tư cách là đối tượng của một học thuyết với mục đích làm rõ cách thức thực hiện mục tiêu chính trị bằng đạo đức, tức là lấy đạo đức để cảm hóa con người trong việc thiết lập và duy trì trật tự xã hội

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thanh Bình Học thuyết chính trị xã hội của Nho giáo và sự thể hiện của nó ở Việt Nam (từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX) đã

phân tích về các phạm trù nhân, lễ, chính danh, đến xã hội lý tưởng, đến chuẩn mực đạo đức Từ đó tác giả đề cập những chuẩn mực đạo đức đó của chế độ phong kiến ở Việt Nam (Nguyễn Thanh Bình, 2005)

Luận án tiến sĩ Triết học về “Đạo đức trung hiếu trong Nho giáo và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục ý thức trách nhiệm ở Việt Nam hiện nay” (2014) của

Trần Thị Lan Hương đã nêu nguồn gốc hình thành tư tưởng đạo đức trung hiếu, sự phát triển của trung hiếu trong tiến trình lịch sử phát triển của Nho giáo để từ đó tác

Trang 20

giả nêu lên ý nghĩa của nó đến việc giáo dục ý thức trách nhiệm ở Việt Nam hiện nay (Trần Thị Lan Hương, 2014)

Ngoài ra có rất nhiều các bài viết, bài báo đăng tải trên các tạp chí, sách, đã

đề cập sâu và rộng về Nho giáo chủ yếu trên bình diện chính trị, đạo đức, xã hội, triết lý

Bộ sách 2 tập về “Đại cương triết học Trung Quốc” của Giản Chi - Nguyễn

Hiến Lê, NXB Thanh niên, Hà Nội, 2004 đã đề cập đến các phạm trù đạo đức cơ bản của Nho giáo qua một số phạm trù đạo đức như: nhân, trí, dũng, lễ, nghĩa, v.v Đây là công trình với dung lượng trang lớn, các tác giả đã tập trung phân tích các phạm trù đó ở phương diện hệ thống để làm rõ mối quan hệ đạo đức gia đình – làng – nước (Giản Chi – Nguyễn Hiến Lê, 1994)

Công trình Lịch sử triết học phương Đông do Trịnh Doãn Chính chủ biên,

NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012, với gần 1400 trang đã trình bày một cách khá hệ thống nội dung tư tưởng của các học thuyết triết học Ấn Độ và Trung Quốc

cổ đại, Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, trong đó phần giới thiệu Nho giáo chiếm một dung lượng đáng kể Tuy nhiên, dù số lượng trang viết khá lớn, song với nội dung vô cùng phong phú của triết học phương Đông, cuốn sách này cũng chỉ mang tính lược khảo những vấn đề cơ bản của nền triết học này (Trịnh Doãn Chính chủ biên, 2012)

Về vấn đề đạo đức Nho giáo đã có một số công trình nghiên cứu như: Đạo Hiếu trong Nho gia của tác giả Cao Vọng Chi được Nhà xuất bản Chính trị Quốc

gia - Sự thật xuất bản năm 2014, đã có những khảo cứu, so sánh khá chi tiết về nội

dung của Hiếu Kinh với đạo Hiếu trong Nho gia, từ đó chỉ ra cơ sở xác lập, hoàn

cảnh lịch sử và sự kế thừa tư tưởng đó trong quá trình hình thành tư tưởng đạo Hiếu

của Nho giáo Đặc biệt trong chương 8 về Đạo Hiếu trong Nho gia, tác giả đã nêu

lên tầm ảnh hưởng của Nho giáo và đạo đức Nho giáo đối với các nước láng giềng như Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam Đối với Việt Nam, tác giả đã có sự hiểu

Trang 21

biết rất sâu sắc về lịch sử và phân tích những ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với Việt Nam như: các sắc lệnh của vua ban về đạo Hiếu, về sự bắt buộc phải tuân thủ tục để tang ba năm do Khổng Tử đề xuất, v.v Phần cuối của cuốn sách, tác giả

đã có những nghiên cứu và so sánh đạo Hiếu trong Nho gia với Phật giáo, Đạo giáo

và Thiên Chúa giáo Đây là công trình giúp chúng tôi tham khảo nhiều vấn đề liên quan đến quá trình thực hiện đề tài, đặc biệt ở cách lý giải đạo Hiếu trong Nho gia (Cao Vọng Chi, 2014)

Để làm rõ khái niệm gia huấn và đặc điểm của các gia huấn, chúng tôi tham khảo các công trình liên quan đến vấn đề gia đình, về giới và đặc biệt là các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình

1.2 Những nghiên cứu liên quan đến nội dung cơ bản của các bản gia huấn Việt Nam trong lịch sử

Tác phẩm “Nho giáo với văn hóa Việt Nam”, của tác giả Nguyễn Đăng Duy,

NXB Hà Nội, năm 1998 là công trình nghiên cứu về Nho giáo từ tiếp cận văn hóa học nhằm làm rõ ảnh hưởng của Nho giáo với văn hóa Việt Nam, cả những tích cực, tiêu cực trong đó có văn hóa gia đình Tác giả khẳng định: “Ảnh hưởng đến gia đình Việt Nam là quan niệm gia đình Nho giáo, đó là gia đình phụ quyền gia trưởng, nhằm củng cố chế độ phong kiến Trong gia đình Nho giáo, người đàn ông được đề cao, còn người phụ nữ chỉ là cái bóng, “tam tòng” (tại gia tòng phụ, xuất gía tòng phu, phu tử tòng tử) tức là người con gái khi ở nhà phải nghe theo lời cha, làm theo lời cha, khi về nhà chồng phải kính nhường, giữ mình cho khéo, không được trái ý chồng Còn chuẩn mực “tứ đức” (công, dung, ngôn, hạnh) thì đòi hỏi ở người con gái lúc nào cũng phải có Trong đạo đức gia đình Nho giáo thì trinh tiết của người phụ nữ luôn được đề cao, còn người đàn ông có thể lấy năm thê bảy thiếp, nhưng người đàn bà thì không thể Đây cũng là những nội dung chủ yếu của

“Gia huấn diễn ca” (Nguyễn Đăng Huy, 1998)

Trang 22

Cuốn sách “Việt Nam văn hóa sử cương” của học giả Đào Duy Anh, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002 gồm 5 thiên bàn về khái niệm văn hóa, kinh tế sinh hoạt, tri thức sinh hoạt, v.v Trong thiên thứ 4: Tri thức sinh hoạt, tác giả đề cập đến Nho giáo và lĩnh vực giáo dục đạo đức, trong đó có giáo dục đạo đức gia đình Theo tác giả, “hiếu là đứng đầu trăm nết, tứ là cái nghĩa vụ chủ yếu của con người… Đạo hiếu ấy, phụ huynh cũng thường đem khuyên dạy con em, nhưng phần nhiều là do kinh nghiệm hàng ngày, do những điều nói tai nghe mắt thấy ở xung quanh mà tạo thành cho nó một cái quan niệm về gia đình luân lý” Tác giả cũng đề cập đến hạn chế của giáo dục đạo đức gia đình theo Nho giáo là “thói trọng nam khinh nữ” Tuy nhiên, khi đề cập đến loại hình gia huấn thì học giả Đào Duy Anh chỉ viện dẫn sách “Gia huấn Nữ tắc” tương truyền là của Nguyễn Trãi về sự phân định nội dung và cách thức giáo dục cho con trai và con gái, theo đó “đối với con trai thì dạy những nghĩa vụ với cha mẹ, họ hàng, làng nước và đạo kính thầy trung vua, đối với con gái thì dạy tứ đức… tam tòng” (Đào Duy Anh, 2000)

Luận án Tiến sĩ của tác giả Lê Thị Thủy năm 2001 về "Vai trò đạo đức đối với nhân cách con người Việt Nam trong điều kiện đổi mới hiện nay" đã phân tích vai

trò to lớn của đạo đức đối với sự hình thành nhân cách con người Việt Nam Tuy nhiên, sự tác động của đạo đức tới sự hình thành nhân cách theo cơ chế nào, cần phải vận dụng những phương pháp nào, đạo đức học hay tâm lý học thì chưa thấy tác giả đề cập (Lê Thị thủy, 2001)

Tác giả Nguyễn Duy Quý (chủ biên) công trình "Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay-vấn đề và giải pháp" Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hồ Chí Minh xuất

bản năm 2006, ở nội dung này tác giả nghiên cứu về vấn đề đạo đức xã hội, đức trị

và pháp trị Đặc biệt, tác giả dành hẳn một chương bàn về đạo đức trong gia đình,

về những biến đổi của đạo đức gia đình trong điều kiện kinh tế thị trường và đưa ra giải pháp xây dựng đạo đức hiện nay Trong công trình này, theo chúng tôi vấn đề

Trang 23

biện chứng giữa đạo đức và cơ chế của nền kinh tế thị trường cần được quan tâm phân tích sâu hơn (Nguyễn Duy Quý, 2006)

Công trình của Phạm Côn Sơn: "Đạo nghĩa trong gia đình", do Nhà xuất bản

Đà Nẵng ấn hành năm 2003 và "Nề nếp gia phong" Nhà xuất bản Thanh niên ấn

hành năm 2006, đã chỉ ra các yếu tố cơ bản của đạo đức gia đình truyền thống Việt Nam: gia phong, gia giáo, gia lễ, gia huấn, các quan điểm về hiếu nghĩa, gia tộc, kỷ cương nề nếp Các tác giả đã phân tích làm rõ các chuẩn mực đạo đức trong các mỗi quan hệ gia đình và chỉ ra vai trò quan trọng của đạo đức gia đình trong việc hình thành nhân cách của con người Từ đó khẳng định gia đình là cái nôi đầu tiên nuôi dưỡng, ươm mầm về mặt đạo đức của con người (Phan Côn Sơn, 2003)

Công trình nghiên cứu "Đạo trị gia" của tác giả Trí Tuệ, do nhà xuất bản Cà

Mau ấn hành năm 2003 Trong công trình này, tác giả khẳng định sự phát triển, tiến

bộ xã hội cũng như sự hòa hợp của toàn xã hội đều bắt nguồn từ sự hòa hợp của các gia đình Từ sự nhìn nhận cuộc đời của con người phần lớn gắn bó với gia đình, chịu ảnh hưởng của văn hóa, đạo đức gia đình Vì vậy, theo tác giả, đạo đức gia đình vô cùng quan trọng và cần thiết đến sự trưởng thành của mỗi con người (Trí Tuệ, 2003)

Luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thọ, năm 2010, "Đạo đức gia đình trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay" Trên cơ sở lý luận về gia

đình, tác giả đã phân tích tác động của kinh tế thị trường đối với đạo đức gia đình,

từ đó đề xuất một số giải pháp định hướng trong việc xây dựng đạo đức gia đình ở

nước ta hiện nay Luận án đã được xuất bản thành sách dưới nhan đề Xây dựng đạo đức gia đình ở nước ta hiện nay, (Nguyễn Thị Thọ, 2010)

Công trình nghiên cứu của tác giả Hà Văn Tác về “Vai trò của gia đình đối với sự phát triển nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở

TP Hồ Chí Minh”, được NXB Thanh niên xuất bản năm 2011 đã làm rõ khái niệm

Trang 24

gia đình và vai trò của gia đình trong việc phát triển nguồn lực của đất nước nói chung, ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng (Hà Văn Tác, 2011)

1.3 Những công trình nghiên cứu liên quan đến bài học lịch sử từ các bản gia huấn đối với lĩnh vực giáo dục đạo đức cho học sinh nước ta hiện nay

Mặc dù nhiều công trình nghiên cứu ở trên từ những góc cạnh nông sâu khác nhau liên quan đến giáo dục đạo đức trong gia đình ở Việt Nam, song việc làm rõ ý nghĩa của các gia huấn đến giáo dục đạo đức cho học sinh nước ta vẫn còn khiêm tốn, chưa nói đến thực tế là rất hiếm Đặc biệt là những vấn đề thực học truyền thống với những yêu cầu học để có hiểu biết sâu rộng về thế giới xung quanh, về những môn học giúp ích cho con người trong hoạt động sống để vừa nuôi bản thân

và những người ruột thịt mà nó phải đảm nhiệm lại càng thiếu vắng

Công trình nghiên cứu "Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam" do Phan Đại

Doãn chủ biên được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 1998 Bên cạnh việc phác thảo lịch sử Nho giáo Việt Nam từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX, tác giả dành hẳn một phần bàn về Nho giáo và gia đình truyền thống Việt Nam Ở phần này tác giả làm rõ ảnh hưởng Nho giáo đối với gia đình truyền thống Việt Nam trên các vấn đề: Nhà nước và gia đình; Làng xã với gia đình và Dòng họ với gia đình Ở phương diện Nhà nước và gia đình tác giả cho rằng, Nhà nước pháp luật hóa những quan niệm hiếu nghĩa Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XX các nhà nước phong kiến Lê, Nguyễn đều lấy Nho giáo làm công cụ, tư tưởng chi phối xã hội nói chung và gia đình nói riêng Sự chi phối của Nho giáo được thể hiện khá rõ nét trong mối quan

hệ giữa hương ước và gia đình, bởi lẽ làng Việt Nam là một thực thể liên kết các gia đình khá chặt chẽ qua nhiều sợi dây ràng buộc mà trước hết là phong tục, tập quán vốn chưa được hệ thống hóa thành văn, thì hương ước là bước tiến quan trọng của một cộng đồng xác định trong việc qui định và điều chỉnh hành vi của cá nhân, gia đình và gia tộc trong đời sống hiện thực Làng xã cũng góp phần xây dựng kỷ

Trang 25

cương gia đình theo quan niệm hiếu và quy định nhiều điều liên đới trách nhiệm để củng cố dòng họ

Trong công trình này, việc đề cập đến hình thức giáo dục khá điển hình mà ít

công trình khoa học từ trước tới nay quan tâm, đó là gia huấn với nhiều hình thức

và nội dung khác nhau nhưng đều hướng tới mục đích chung là giáo dục con em trong gia đình về mặt đạo đức, về nữ công gia chánh và đặc biệt là một số lĩnh vực thuộc “bát điều mục” của Nho giáo là “cách vật, trí tri”, “chính tâm thành ý”, “tu thân, tề gia”, “trị quốc, bình thiên hạ” (Phan Đại Doãn , 1998) Công trình này đã gợi mở nhiều hướng tiếp cận đến gia đình, đặc biệt là đạo đức ứng xử vốn mang đậm dấu ấn tự nhiên, được nâng lên tầm văn hóa ứng xử

Trong công trình tập thể về “Một số vấn đề lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị

xã hội” do Huỳnh Khái Vinh chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, các tác giả cho rằng, “lối sống, đạo đức và chuẩn giá trị xã hội là những yếu tố cơ bản trong đời sống của mỗi con người, gắn liền với các cơ sở kinh tế, chính trị, tư tưởng

và mọi mặt của đời sống xã hội” Từ thực trạng tác động của các yếu tố đó, các tác giả đưa ra giải pháp về xây dựng lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội Những kết quả nghiên cứu của công trình này là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích để chúng tôi

đi sâu nghiên cứu vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông nước

ta hiện nay (Huỳnh Khái Vinh chủ biên, 2001)

Luận án tiến sĩ Giáo dục học về “Giáo dục lòng nhân nghĩa cho học sinh trung học phổ thông trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Xuân Thanh, Viện khoa học Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2009 đã đề cập đến cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giáo dục lòng nhân nghĩa cho học sinh trung học phổ thông ở nước ta hiện nay Trong luận án tiến sĩ Tâm lý học về “Định hướng giá trị nhân cách của học sinh trung học phổ thông” tác giả Nguyễn Thị Mai Lan, 2009, tác giả đã đề cập đến cơ

sở lý luận về định hướng phát triển nhân cách của học sinh THPT, đồng thời phân tích các yếu tố tác động đến định hướng giá trị nhân cách của học sinh THPT, từ đó

Trang 26

đề xuất một số kiến nghị góp phần vào việc giáo dục nhân cách cho học sinh Việt Nam hiện nay

Bàn về thực học, chúng tôi nhận thấy bài viết của Dương Ngọc Dũng đăng trên “Tuổi trẻ chủ nhật” ngày 28/5/2015 đã đề cập đến những tấm gương điển hình của một số nhà thực học trong khu vực như Kaibara Ekken (Nhật Bản); Dasan Jong Y.J (Hàn Quốc); Nguyễn Trường Tộ (Việt Nam) đều là những người muốn vượt ra khỏi khuôn khổ của sự học truyền thống với lối học từ chương, không liên hệ giữa

lý thuyết và thực tiễn Đồng thời chỉ ra thực học hiện nay là nhu cầu thời đại, đó là

“học hành theo phương pháp khoa học hiện đại” (Dương Ngọc Dũng, 2015)

Cũng bàn về thực học, tác giả Thái Huy Phong trong bài viết về “Ý nghĩa của vấn đề thực học” đăng trên trang điện tử Đại tạng kinh Việt Nam ngày 02/3/2010 cho rằng, thực học là học thật Bên cạnh những ngành khoa học kỹ thuật hay chuyên môn, cũng lại phân ra ý nghĩa về tự nhiên và ý nghĩa về con người và xã hội Vậy nói cho cùng, thực học là cái học về nội dung mà không phải về cái học về hình thức Đó là sự học vì nhu cầu hiểu biết, kiến thức, tri thức, yêu cầu giá trị khoa học và chân lý khoa học Do đó, ý nghĩa của giáo dục không phải chỉ là của học đường mà của toàn xã hội Chính xã hội, lịch sử, cuộc đời, và cả vũ trụ tự nhiên là cuốn sách lớn nhất, vĩ đại nhất cho mọi thời, mọi nơi, mà bất kỳ ai vào bất kỳ lúc nào, trong điều kiện hoàn cảnh ra sao cũng đều hoàn toàn tự do và thoải mái giở ra

để học được (Thái Huy Phong, 2010)

Trong cuốn “Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển xã hội kinh tế”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996, tác giả Phạm Minh Hạc luận giải khái niệm giáo dục, xác định vị trí và vai trò của giáo dục đối với phát triển kinh tế - xã hội Theo tác giả, để phát triển nhân tố con người thì cần chú trọng việc giáo dục đào tạo con người có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu của đất nước (Phạm Minh Hạc, 1996)

Trang 27

Trong bài viết “Nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức trong trường phổ thông hiện nay” của Phạm Nguyên Nhung đăng trên tạp chí Lý Luận chính trị số 3/2013, đã khẳng định một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục trong trường phổ thông hiện nay là phải tăng cường có hiêụ quả việc giảng dạy môn Giáo dục công dân - một môn học có ảnh hưởng trực tiếp đến việc cung cấp tri thức đạo đức cũng như điều chỉnh hành vi đạo đức của học sinh (Phạm Nguyên Nhung, 2013)

Ngoài những công trình nêu trên, chúng ta có thể tìm thấy một số bài viết công bố trên các trang báo điện tử về giáo dục đạo đức nói chung, đạo làm người nói riêng Chẳng hạn, trên trang Thông tin điện tử của Hội đồng Lý luận Trung Ương phát hành ngày 09/6/2019 có bài viết của Nguyên chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan nhan đề “Những vấn đề đặt ra và giải pháp phát triển giáo dục và đào tạo ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng 4.0” Trong bài này tác giả chỉ ra thực trạng nền giáo dục nước ta biểu hiện ở tâm lý “khoa cử” quá nặng nề: Học để thi, thi đỗ đại học để có bằng cấp tiến thân, để được tuyển vào các cơ quan nhà nước nên chọn ngành dễ để học… Do đó các trường coi trọng dạy chữ hơn dạy người, coi nhẹ môn giáo dục đạo đức, giáo dục công dân, dẫn đến một bộ phận không nhỏ trong xã hội xuống cấp là tất yếu” (Nguyễn Thị Doan, 2019)

Tóm lại, các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến thực trạng nền giáo dục nước ta thời gian qua đã tập trung phân tích những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu và yêu cầu cần tiếp tục đổi mới giáo dục một cách căn bản và toàn diện Tuy nhiên, những kết quả đạt được không như

kỳ vọng của xã hội, thậm chí còn nhiều bất cập như loay hoay tìm kiếm triết lý giáo dục mới cho nền giáo dục Việt Nam; chưa chú trọng đến một số giá trị cơ bản của

giáo dục truyền thống, cụ thể là hình thức giáo dục bằng gia huấn Đó cũng là

những vấn đề còn bỏ ngỏ mà luận án chúng tôi tiếp tục nghiên cứu về hình thức,

Trang 28

đối tượng, nội dung và phương pháp giáo huấn được thể hiện qua hai bản gia huấn

là “Bùi gia huấn hài” của Bùi Dương Lịch và “Gia huấn diễn ca” (khuyết danh)

với mục đích và nhiệm vụ dưới đây

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận án cần thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:

Thứ nhất, phân tích, trình bày những điều kiện, tiền đề cơ bản cho sự ra đời

các bản gia huấn Việt Nam trong lịch sử

Thứ hai, phân tích hệ thống hóa những nội dung giáo huấn cơ bản trong “Bùi gia huấn hài” và “Gia huấn diễn ca”, từ đó chỉ ra những đặc điểm chủ yếu của hai

bản gia huấn này

Thứ ba, từ việc phân tích các nội dung giáo huấn cơ bản và đặc điểm chủ yếu của “Bùi gia huấn hài” và “Gia huấn diễn ca”, luận án nêu những giá trị, hạn chế

và bài học lịch sử của của hai bản gia huấn này đối với việc giáo dục đạo đức cho học sinh nước ta hiện nay

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những nội dung giáo huấn cơ bản trong

“Bùi gia huấn hài” của Bùi Dương Lịch và “Gia huấn diễn ca (Khuyết danh)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 29

Do các bản gia huấn Việt Nam trong lịch sử có số lượng khá nhiều và phong phú về mặt nội dung, trong luận án này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu hai bản

gia huấn được xem là điển hình về nội dung và hình thức, cụ thể là Bùi gia huấn hài của Bùi Dương Lịch và Gia huấn diễn ca (khuyết danh) cũng như các công

trình nghiên cứu về gia huấn nói chung, về hai bản gia huấn này nói riêng

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận án dựa trên cơ sở các quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức và giáo dục đạo đức cho học sinh nước ta hiện nay Ngoài ra luận án tiếp thu, kế thừa những thành tựu đạt được của một số công trình khoa học đã được công bố liên quan đến đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp với việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học, cụ thể: phân tích – tổng hợp, logic – lịch sử cụ thể, quy nạp và diễn dịch, khái quát hóa, đối chiếu so sánh; tham khảo và sử dụng các phương pháp liên ngành như

Sử học, Địa lý, Giáo dục học, v.v

6 Những đóng góp mới về khoa học

- Từ việc phân tích, chỉ ra nguồn gốc tư tưởng giáo dục đạo đức của Nho giáo, những thành tựu của các khoa học đương thời như Sử học, Địa lý, Thiên văn,

thực học, v.v trong Bùi gia huấn hài và Gia huấn diễn ca, luận án làm rõ giá trị và

hạn chế của hai bản gia huấn này từ góc độ giáo dục đạo đức

- Làm rõ khái niệm đạo đức và giáo dục đạo đức, thực học và bồi dưỡng tinh thần thực học trong lĩnh vực giáo dục đạo đức cho học sinh Việt Nam hiện nay

- Phân tích thực trạng nền giáo dục nước ta từ thời kỳ đổi mới đến nay, đồng

thời tham khảo một số giá trị về giáo dục đạo đức và thực học của Bùi gia huấn hài

Trang 30

và Gia huấn diễn ca để từ đó rút ra bài học lịch sử từ hai bản gia huấn này cho lĩnh

vực giáo dục đạo đức cho học sinh nước ta hiện nay

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Luận án góp phần tìm hiểu những tư tưởng cơ bản trong nội dung Bùi gia huấn hài và Gia huấn diễn ca, làm rõ những giá trị và hạn chế của hai bản gia huấn

này để trên cơ sở đó rút ra bài học lịch sử cho lĩnh vực giáo dục đạo đức cho học sinh nước ta hiện nay

- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, giảng dạy và học tập môn lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam nói riêng, lịch sử triết học phương Đông nói chung Luận án cũng là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến đạo đức, giáo dục đạo đức của gia huấn Việt Nam trong lịch sử

8 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận

án gồm 3 chương 7 tiết

Trang 31

là một trong những loại hình giáo dục, gia huấn đương nhiên phải phản ánh triết lý, hay nói cách khác, phản ánh tâm thế của thời đại về giáo dục và đào tạo con người

lẽ sống vì bản thân, gia đình và cộng đồng, góp phần vào ổn định trật tự xã hội bằng các hành vi đạo đức từ mức độ phổ biến trong giao tiếp thường nhật cho đến trình độ cao hơn là trở thành nhân cách có khả năng “kinh bang tế thế” (giúp vua trị nước an dân) Chính vì vậy, việc trình bày một số lĩnh vực cơ bản với tư cách cơ sở

xã hội cho sự hình thành các gia huấn là cần thiết Đó là bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XX, điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội và những

tiền đề lý luận đương thời cho sự hình thành “Bùi gia huấn hài” và “Gia huấn diễn ca”

1.1.1 Bối cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII

Trang 32

Như đã trình bày trong phần mở đầu về phạm vi nghiên cứu của luận án, chúng tôi chọn hai tác phẩm gia huấn để nghiên cứu với lý do sau đây:

Thứ nhất, tác phẩm “Bùi gia huấn hài” của Bùi Dương Lịch, một nho gia có

trình độ Nho học xuất sắc, xuất thân từ dòng họ khoa bảng và đồng thời cũng là người tham gia hoạt động nhà nước, được ông viết vào cuối thế kỷ XVIII trong điều kiện lịch sử đất nước hết sức phức tạp Đại Việt thời kỳ này bị chia cắt bởi các thế lực phong kiến đối lập nhau, thành hai vùng đất là Đàng Trong và Đàng Ngoài, lấy sông Gianh (Quảng Bình) làm giới tuyến Sau nhiều lần nội chiến xảy ra giữa một bên là vua Lê – chúa Trịnh cai quản Đàng Ngoài và bên kia là chúa Nguyễn cai quản Đàng Trong nhưng không phân thắng bại Sự cát cứ là nguyên nhân căn bản làm cho vị thế vua Lê rơi vào tình trạng hữu danh vô thực, mọi quyền hành đều nằm trong tay chúa Trịnh vốn đã được xác lập từ thời Trịnh Kiểm Do đó, trên thực

tế sự đối đầu đó xuất phát từ mâu thuẫn nội bộ nhà chúa sau khi Nguyễn Kim mất, Trịnh Kiểm nắm toàn quyền và dùng mọi thủ đoạn triệt hạ hậu duệ của họ Nguyễn Trước tình thế đó, Nguyễn Hoàng là con thứ của Nguyễn Kim đã tìm cách xin Trịnh Kiểm vào trấn thủ vùng đất Thuận Hóa Chúa Nguyễn Hoàng kể từ đó không ngừng nuôi chí chống lại họ Trịnh và phát triển vùng đất cai quản của mình như một quốc gia riêng Các đời chúa như Phúc Chu, Phúc Khoát đều tiến hành các bước hiện thực hóa chủ trương xưng vương để đối trọng với Đàng Ngoài

Tình hình Đàng Ngoài cũng có những diễn biến hết sức phức tạp Với thể chế “lưỡng đầu” của triều đại Lê Trung Hưng, vua Lê chỉ là bù nhìn, mọi quyền hành đều tập trung vào tay chúa Trịnh, đặc biệt là từ sau việc xóa sổ nhà Mạc ở Cao Bằng, “Trịnh Tùng ép vua phải phong mình làm Đô nguyên soái Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An Vương Trịnh Tùng cũng đặt lệ chọn thế tử để nối nghiệp ngang với nhà vua Từ đó về sau, con cháu Trịnh Tùng lên nắm quyền chính

đều theo lệ xưng vương” (Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Đại cương lịch sử Việt Nam,

sdd, tr.345-346)

Trang 33

Cuối thế kỷ XVIII còn là thời kỳ chứng kiến các cuộc khởi nghĩa của chống lại triều đình Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài mà về thực chất là chống lại họ Trịnh với lý

do tính chính danh của vua Lê bị xâm phạm, bản thân vua bị chèn ép Đó là cuộc khởi nghĩa của Hoàng Công Chất và đặc biệt là cuộc khởi nghĩa do “ông hoàng áo đỏ” Lê Duy Mật cầm đầu, lấy vùng đất Thanh Hóa làm căn cứ để chống lại chúa Trịnh Năm 1771, tại vùng đất Bình Định – Kon tum đã xuất hiện cuộc khởi nghĩa nông dân do ba anh em nhà Tây sơn là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ lãnh đạo Chính cuộc khởi nghĩa này đã xóa sổ sự tồn tại hơn 200 năm của các chúa Trịnh Nguyễn và do sự phản bội của vua Lê đương thời là Lê Chiêu Thống, triều đại Lê Trung Hưng vì thế cũng chấm dứt sự tồn tại của mình

Bối cảnh lịch sử Việt Nam thế kỷ XVIII, có thể nói đã chứa đựng rất nhiều dấu ấn bất lợi cho sự kiểm chứng các luận điểm chính trị - xã hội và đạo đức của Nho giáo Bởi lẽ, Nho giáo luôn đề cao tư tưởng chính thống, coi sự tôn quân quyền là hành vi đạo đức và trách nhiệm của mọi thần dân và đặc biệt, gắn quyền

uy của vua với sự toàn vẹn lãnh thổ và với mọi thần dân mà mệnh trời ban cho vua

là không thay đổi Điều đó ít nhiều đã làm dao động tư tưởng của các nhà nho quan phương lẫn nhà nho tài tử, dẫn họ đến tâm thế vãn hồi Nho giáo bằng việc củng cố các nguyên tắc đạo đức Nho giáo trên cơ sở biên soạn gia huấn để dạy con em trong gia đình mình cũng như cho các gia đình khác trong thiên hạ

Thứ hai, bản “Gia huấn diễn ca” (khuyết danh) ra đời ở vùng đất Nam Bộ

vào đầu thế kỷ XX, tức là vào thời kỳ đất nước bị thực dân Pháp đô hộ và bắt đầu tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ hai Sự nỗ lực của hai ông vua đầu triều là Gia Long và Minh Mạng (1802 – 1841) trong việc thiết lập bộ máy cai trị theo mô hình nhà nước phong kiến thống nhất trên cả nước đã bị sụp đổ sau hai Hòa ước năm

1883 và năm 1884 Mặt khác, sự thất bại của phong trào Cần vương (1897) đã hoàn toàn chấm dứt hy vọng khôi phục chế độ phong kiến Việt Nam độc lập, và điều không thể khác, đó là triều Nguyễn buộc phải làm một chính phủ bù nhìn lệ thuộc

Trang 34

vào sự cai trị thuộc địa của nước Pháp Nhân dân ta từ đó phải chịu cuộc sống khắc nghiệt “một cổ hai tròng” Triều Nguyễn là triều đại phong kiến lấy Nho giáo làm

bệ đỡ hệ tư tưởng, cho nên trong nửa đầu thế kỷ XIX, tức là trước khi xảy ra cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, triều đại này đã dần thu phục được lòng dân, đồng thời thiết lập được bộ máy cai trị khá hoàn chỉnh theo mô hình nhà nước phong kiến phương Đông Trung Hoa bằng những nỗ lực cải cách hành chính dưới thời vua Minh Mạng Tuy nhiên, những nỗ lực đó đến đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp thiết lập bộ máy cai trị thuộc địa trên toàn lãnh thổ nước ta thì vai trò của nền giáo dục cổ học vốn dựa trên những nội dung và nguyên tắc đạo đức Nho giáo ngày càng trở nên suy thoái Những vị vua bù nhìn của triều Nguyễn không thể vớt vát được gì về tư tưởng trung quân, tôn quân quyền trong lòng dân; các cuộc khởi nghĩa chống sự xâm lược và đô hộ của nhân dân mà chủ yếu do các chí sĩ, nhà nho phát động không được sự ủng hộ của triều đình bù nhìn, lại mang tính tự phát, nhỏ

lẻ nên luôn bị thất bại

GS Trần Văn Giàu cho rằng, “Ở Nam Kỳ nói chung, ở miền đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, hệ ý thức Nho giáo suy yếu, mà ý thức ấy ở Nam Kỳ thì chưa bao giờ mạnh như ở Bắc và ở Trung, thì các tư tưởng tôn giáo và tín ngưỡng dị đoan phát lên dường như cỏ mọc từ đất Tháp Mười và như dớn mọc từ đất U Minh”

(Trần Văn Giàu, Tác phẩm được giải thưởng Hồ Chí Minh, tr.498-499) Trong tình

trạng suy sụp như vậy của Nho giáo thì cái tư tưởng tôn giáo, ở đây ý nói đến Phật

và Đạo có thay thế được Nho giáo hay không? Có tham gia vào sự hình thành các gia huấn để giáo dục con người để bù đắp sự thiếu hụt của Nho giáo hay không?

Chắc chắn là không bởi trong Gia huấn diễn ca, chúng ta hiếm thấy sự xuất hiện

của hai học thuyết này, mặc dù trong đời sống thường nhật, các bản kinh Phật giáo như Kinh Thiện sanh, Kinh Phúc đức, v.v, đều có những nội dung khuyến thiện, đề cập đến mối quan hệ người rất với tư tưởng nhân văn rất sâu sắc

Trong bối cảnh đất nước cuối thế kỷ XVIII

Trang 35

đầu thế kỷ XX như vậy, sự xuất hiện của “Gia huấn diễn ca” về cơ bản, vẫn

dựa vào tư tưởng giáo huấn Nho giáo, song dù có đề cập đến những nguyên tắc đạo đức Nho giáo về tinh thần trung quân, song trên thực tế cũng chỉ mang tính hình thức và những nội dung cốt lõi khác của nó chủ yếu vẫn là làm thế nào để dạy con

em mình những thế ứng xử cho hợp đạo lý làm người theo tinh thần nhân bản của Nho giáo

1.1.2 Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội

độ chiếm hữu của địa chủ phong kiến đối với đất đai, đối với các tư liệu sản xuất khác và chiếm đoạt một phần sức lao động của nông dân Nền kinh tế phong kiến là nền kinh tế tự cung tự cấp, hoạt động bao trùm là sản xuất nông nghiệp Do vậy, đất đai, quyền sở hữu đất đai, quyền thu thuế trên những vùng đất nhất định là những yếu tố quan trọng bậc nhất trong kinh tế cũng như trong đời sống xã hội phong kiến Trong xã hội phong kiến, về nguyên tắc địa chủ không có quyền sở

Trang 36

hữu đối với người sản xuất là nông dân, mà chỉ có quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất Nhưng vì không có đất không có tư liệu sản xuất nên nông dân rơi vào tình trạng lệ thuộc vào địa chủ phong kiến về mặt kinh tế, họ buộc phải làm thuê và làm nhiều nghĩa vụ nặng nề của địa chủ phong kiến Hình thức bóc lột phổ biến của địa chủ đối với nông dân là địa tô Địa vị của nông dân phần nào đã tốt hơn so với địa

vị của nô lệ, bởi nông dân đã có kinh tế riêng, có một số quyền công dân, có thể thành lập gia đình riêng

Việt Nam trong lịch sử không trải qua các hình thái kinh tế - xã hội như phương Tây, cụ thể là không trải qua giai đoạn chiếm hữu nô lệ, nhưng dưới chế độ phong kiến, cũng như các nước châu Á khác, đã duy trì một phương thức sản xuất

cổ đại nào đó mang tính độc đáo nhưng không phải hoàn toàn riêng có của nó, phương thức đó được C.Mác biểu thị bằng khái niệm “phương thức sản xuất châu Á” Trong thời kỳ độc lập và phát triển chế độ phong kiến trung ương tập quyền, phương thức này tuy có sự thay đổi do sự giao lưu, giao thương với các nước khác, song về cơ bản, định nghĩa của C.Mác về “phương thức sản xuất châu Á” cho đến nay vẫn được các nhà nghiên cứu công nhận một cách phổ biến

Trong lời tựa cuốn “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” (1858) và qua một số thư trao đổi với Ph.Ăngghen, C.Mác khái quát phương thức sản xuất châu Á gồm 4 đặc trưng cơ bản sau đây:

Thứ nhất, là chế độ sở hữu công cộng về ruộng đất, theo đó nhà vua là kẻ duy nhất nắm quyền sở hữu ruộng đất, điều mà Kinh Thư ghi rằng: Dưới vòm trời

này, tất cả đất đai và thần dân đều là của vua” Nhà vua có quyền ban phát ruộng đất dưới các hình thức như “công điền”, “vương điền”, “quan điền”, “quân điền”,

“đao điền”, từ thời Lý – Trần nhà chùa cũng được cấp đất để xây dựng chùa và canh tác

Thứ hai, chủ thể vận hành phương thức sản xuất châu Á, đồng thời phản ánh

đặc trưng của phương thức này là nhà nước chuyên chế phương Đông

Trang 37

Thứ ba, sự tồn tại của chế độ công xã nông thôn với nền kinh tế tự nhiên, tự

cung, tự cấp khép kín; kinh tế hàng hóa chậm ra đời và kém phát triển Sự xuất hiện

và phát triển kinh tế hàng hóa theo thời gian đều có mối liên hệ chặt chẽ với sự tan

rã của chế độ công xã nông thôn từng là cơ sở bền vững của chế độ chuyên chế cổ đại phương Đông Mặt trái của chế độ này, theo C.Mác, “đã hạn chế lý trí của con người trong những khuôn khổ chật hẹp nhất, làm cho nó trở thành một công cụ ngoan ngoãn của mê tín, trói buộc nó bằng những xiềng xích nô lệ của các qui tắc

cổ truyền, làm cho nó mất hết mọi sự vĩ đại, mọi tính chủ động lịch sử” (Văn Tạo,

1996, tr.41)

Thứ tư, là tính trì trệ, bảo thủ và tồn tại dai dẳng của những xã hội châu Á

Nó được tích hợp từ ba đặc trưng nêu trên, ở mức độ đáng kể, là sự đảm bảo cho sự tồn tại dai dẳng của “hình thức châu Á”, đúng như C.Mác nhận định: “Hình thức châu Á sẽ tồn tại vững bền nhất và lâu nhất Sở dĩ như vậy là do những tiền đề của hình thức ấy Cá nhân không trở thành độc lập đối với công xã được, qui mô sản xuất chỉ nhằm đảm bảo sự tồn tại của bản thân, nông nghiệp và nghề thủ công hòa làm một” (Văn Tạo,1996, tr.47) Từ những đặc trưng của phương thức sản xuất châu Á mà C.Mác đã chỉ ra ở trên, chúng ta có thể dễ dàng rút ra nhận xét về mối liên hệ giữa phương thức sản xuất đó với tư tưởng phương Đông được thể hiện trong các hình thái ý thức xã hội mà chức năng cơ bản của nó là phản ánh tồn tại xã hội, ở đó phương thức sản xuất đóng vai trò quyết định mọi phương diện đời sống

xã hội

Mặc dù bị qui định bởi “phương thức sản xuất châu Á” như C.Mác đã nêu lên những đặc trưng cơ bản của nó, trong thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XX các ngành thủ công nghiệp, kéo theo đó là thương nghiệp cũng bắt đầu có những chuyển biến tích cực Đặc biệt là sự phát triển của quan hệ tiền tệ đã thay thế một phần hay toàn

bộ thuế ruộng bằng tiền, các hình thức thuế khác cũng vậy Sự phát triển của thương nghiệp và các quan hệ tiền tệ “không chỉ mở rộng tầm mắt và sự hiểu biết

Trang 38

của giai cấp thống trị, mà còn góp phần mở các làng xã lâu nay đóng kín Tuy nhiên, quan hệ tiền tệ cũng do đó, ngày càng chi phối con người” (Đinh Xuân Lâm chủ biên, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh, 2003, tr.2, tr.383)

Nền kinh tế tiểu nông - sản xuất nhỏ làng xã đã được duy trì và khuyến khích, với sự can thiệp và bảo hộ của một Nhà nước thu tô với chính sách trọng nông Chính sách này là nguyên nhân làm cho nhà nước luôn dè dặt, không khuyến khích nền kinh tế công thương nghiệp hàng hóa phát triển, hạn chế việc giao thương với nước ngoài Quan điểm trọng nông là một chính sách truyền thống của các vương triều phong kiến Việt Nam, vừa mang tính phù hợp với điều kiện tự nhiên, vừa thắt chặt mối quan hệ giữa người với người trong một đơn vị cư dân nhất định bằng nền kinh tế tự cung, tự cấp Nhà nước với quyền thu tô theo đơn vị ruộng đất

để một mặt, nuôi bộ máy quan lại và triều đình, mặt khác để chi cho việc hà đê và dẫn thủy nhập điền Chính vì vậy, vấn đề giáo dục và giáo huấn đạo đức sẽ giúp cho con người nhận thức được trách nhiệm của bản thân trước nhà, làng, nước

và thần dân) vào tay nhà vua, mà còn cột chặt cá nhân, cộng đồng làng xã vào triều đình Để đảm bảo cho sự tồn tại lâu dài (vạn tuế, vạn vạn tuế) của một triều đại, người đứng đầu triều đại đó và những nhà tư tưởng trung thành với triều đình, đặc biệt là những nhà tư tưởng tham gia chính sự, luôn chú trọng đến vấn đề giáo huấn dân theo tinh thần Nho giáo để mỗi cá nhân, cộng đồng tuân thủ triều đình một cách vô điều kiện Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, chúng ta từng biết đến “Nhị thập tứ điều” trong giáo huấn của vua Lê Thánh Tông (1460-1497)

Trang 39

Mục đích thắt chặt sự lệ thuộc từng cá nhân, cộng đồng vào bộ máy trung ương tập quyền trên cơ sở thiết lập nền giáo dục, giáo huấn được xem là khả dĩ nhất, bởi lẽ khi nhà nước lấy Nho giáo làm bệ đỡ hệ tư tưởng thì tất thảy những gì

mà thánh nhân đời xưa đặt ra đều trở nên mặc định đối với toàn bộ hệ thống chính trị, nghĩa là tính bảo thủ trở nên rất nặng nề mà chính người sáng lập Nho giáo là Khổng Tử (551 – 479 TCN) luôn khẳng định là chỉ “thuật lại tư tưởng của các thánh hiền đời xưa mà không sáng tác gì thêm” (thuật nhi bất tác) Về vấn đề này

trong cuốn Tư bản, t.1 C.Mác cũng chỉ rõ: “Các cơ cấu sản xuất đơn giản của các

cộng đồng tự cung tự cấp ấy – những cộng đồng không ngừng được tái sản xuất ra dưới dùng một hình thức ấy, và nếu ngẫu nhiên bị phá hủy thì cũng lại xuất hiện trên địa điểm cũ với một tên cũ - cái cơ cấu ấy cho chúng ta cái chìa khóa để hiểu được sự bí ẩn của tính chất bất di bất dịch của những xã hội châu Á Nó trái ngược một cách lạ thường với hiện tượng các nhà nước châu Á không ngừng bị phá hủy rồi lại được lập lại với những sự biến đổi không ngừng của các triều vua” (Văn Tạo,

1996, tr.54) Chính vì vậy, các triều đại phong kiến Việt Nam từ sau thời kỳ độc lập (938 – 1945) đã thay thế nhau nắm quyền thống trị, mặc dù có những biến cố lịch

sử dẫn đến sự thay thế đó, song bản chất của chế độ phong kiến không thay đổi Ngay cả thời kỳ, khi Phật giáo nắm quyền thống trị về mặt tư tưởng, song cách thức quản lý xã hội và cơ cấu tổ chức nhà nước vẫn theo tinh thần của Nho giáo

Mô hình tổ chức nhà nước phong kiến theo cấu trúc truyền thống cao nhất là hình tháp, trên cùng là vua, dưới là các phẩm hạng quan lại và dưới cùng là thứ dân Cấu trúc này vừa theo trục đứng, vừa theo chiều ngang với những quan hệ hẹp dần

từ dưới lên, nghĩa là cơ cấu gia đình là nền tảng của xã hội mà ở đó Nho giáo về cơ

bản, chi phối mạnh mẽ lối sống đạo đức của con người “Một nhà nhân hậu thì cả nước nhân hậu Một nhà lễ nhượng thì cả nước ăn ở đều có lễ nhượng Một người tham lam thì cả nước bị rối loạn” (Đại học, chương IX) Nho giáo quan niệm gia đình là tế bào của xã hội, còn xã hội là một gia đình lớn, ở đó vua quan là phụ mẫu

Trang 40

của dân, có trách nhiệm giáo dưỡng dân, còn dân phải lao lực để “nuôi những kẻ động khẩu” Việc giáo dưỡng dân không chỉ bằng pháp luật, mà dùng cả những qui phạm đạo đức bất di bất dịch của Nho giáo Về thực chất, pháp luật mà các triều đại phong kiến sử dụng là sự luật pháp hóa các chuẩn mực đạo đức, ở mức độ nhất định có sự song trùng

Đất nước Đại Việt cuối thế kỷ XVIII đã có những biến đổi sâu sắc về đời

sống chính trị - xã hội Ở Đàng ngoài chính quyền phong kiến Lê – Trịnh với thể chế “lưỡng đầu” vốn dĩ là nguyên nhân cơ bản không chỉ gây ra sự xung đột về quyền lực chính trị trong triều đình, mà ở ngoài xã hội, các tầng lớp nhân dân đều bất bình với sự lấn át của chúa Trịnh đối với vua Lê Một trong những nguyên cớ

để các thủ lĩnh chống đối thể chế đó kêu gọi sự hưởng ứng của nhân dân nổi dậy là

“vua ta bị lấn át”, thuyết “chính danh” mà Nho giáo quan niệm như một nguyên tắc chính trị căn bản để thiết lập trật tự xã hội đã bị vi phạm nghiêm trọng vào thế kỷ XVIII

Tình hình ở Đàng Trong “cho đến giữa thế kỷ XVIII, họ Nguyễn đã làm chủ một vùng đất rộng lớn từ nam dãy Hoành Sơn cho đến mũi Cà Mau Hình thành 12 đơn vị hành chính gọi là dinh… Buổi đầu mặc dù nhân dân quen gọi những người đứng đầu dòng họ thống trị là chúa, các chúa Nguyễn vẫn chỉ xưng quốc công Năm 1692 chúa Phúc Chu dự định tách Đàng Trong thành một nước riêng, tự xưng Đại Việt quốc vương, nhưng việc không thành Nối tiếp ý đồ đó, năm 1744 cháu Phúc Khoát xưng vương, thành lập triều đình, đổi các chức ký lục, nha úy, đô tri, cai bạ làm Lại bộ, Lễ bộ, Hình bộ, Hộ bộ và đặt thêm 2 bộ Binh và Công, đặt Hàn lâm viện Các dinh trấn đều có trấn thủ, cai bạ, ký lục cai quản; Ở các huyện có tri huyện, đề lại, huấn đạo, lễ sinh”(Đinh Xuân Lâm chủ biên, Phan Đại Doãn,Nguyễn Cảnh Minh, 1998, tr.350-351)

Tình hình kinh tế, chính trị - xã hội của Đại Việt nửa cuối thế kỷ XVIII rơi vào khủng hoảng Nạn đói kéo dài trầm trọng không chỉ bởi thiên tai, mà nguyên

Ngày đăng: 29/06/2023, 23:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w