1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ giữa đảng cộng sản việt nam và đảng cộng sản trung quốc trong tiến trình lịch sử việt nam (1930 1950)

138 12 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc trong tiến trình lịch sử Việt Nam (1930-1950)
Tác giả Nguyễn Thị Anh
Người hướng dẫn TS. Lưu Văn Quyết
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 2,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, các nguồn tài liệu được phân loại thành ba nhóm: 1 Nhóm công trình nghiên cứu chung về lịch sử Việt Nam, lịch sử Trung Quốc trong giai đoạn nhân dân Việt Nam thực hiện cuộc khá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- NGUYỄN THỊ ANH

QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC

TRONG TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VIỆT NAM

(1930-1950)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2022

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và

Đảng Cộng sản Trung Quốc trong tiến trình lịch sử Việt Nam 1930 - 1950” do

tôi nghiên cứu Các số liệu dẫn chứng của đề tài có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng Nếu không đúng tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 12 năm 2021

Học viên

Nguyễn Thị Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, quý thầy cô Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, đã truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian tôi học tập tại trường Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS Lưu Văn Quyết, người hướng dẫn khoa học trực tiếp, đã hỗ trợ, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu

và hoàn thành luận văn

Tôi xin cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Lịch sử, các thầy - cô trong chuyên

ngành Lịch sử Việt Nam, Thư viện Trường, phòng thông tin và tư liệu lịch sử…

đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi trong quá trình hoàn thành khóa học

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, động viên của gia đình, người thân và bạn bè

đã luôn bên cạnh cỗ vũ, động viên tôi trong suốt khóa học và quá trình viết luận văn

Do hạn chế về khả năng nghiên cứu khoa học của bản thân cũng như điều kiện khách quan không cho phép nên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Chính vì vậy, tôi rất mong nhận được sự nhận xét, góp ý của quý thầy

cô để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn

Trân trọng cảm ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 12 năm 2021

Học viên thực hiện

Nguyễn Thị Anh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 13

6 Đóng góp của đề tài 15

7 Bố cục của luận văn 15

CHƯƠNG 1 16

CƠ SỞ HÌNH THÀNH MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC 16

1.1 Sự gắn kết về địa lý, văn hóa và chính trị - xã hội 16

1.2 Đều chịu ách đô hộ của các thế lực thực dân 18

1.3 Cùng chung ý thức hệ 31

1.4 Sự gắn kết giữa Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh với các nhà lãnh đạo thế hệ đầu của Trung Quốc 33

Tiểu kết 38

CHƯƠNG 2 40

QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC (1930 - 1950) 40

2.1 Quan hệ giữa hai Đảng thời kỳ 1930 - 1945 40

2.1.1 Bối cảnh thế giới, khu vực, Việt Nam và Trung Quốc 40

2.1.2 Sự ủng hộ lẫn nhau giữa hai Đảng 44

2.2 Quan hệ giữa hai Đảng thời kỳ 1945 - 1949 62

Trang 6

2.2.1 Bối cảnh thế giới, khu vực, Việt Nam và Trung Quốc 62

2.2.2 Sự ủng hộ lẫn nhau giữa hai Đảng 69

2.3 Sự nâng cấp trong quan hệ: Từ quan hệ giữa hai Đảng thành quan hệ giữa hai nhà nước 77

Tiểu kết 84

CHƯƠNG 3 86

TÁC ĐỘNG CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC 86

3.1 Tác động đối với thế giới và khu vực 86

3.1.1 Đóng góp vào sự lớn mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa 86

3.1.2 Cổ vũ cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa 88

3.2 Tác động đối với mỗi nước 90

3.2.1 Đối với Trung Quốc 90

3.2.2 Đối với Việt Nam 94

Tiểu kết 100

KẾT LUẬN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

PHỤ LỤC 117

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, đều có lịch sử lâu đời, có nhiều nét tương đồng, gần gũi về lịch sử - văn hoá Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc (Quan hệ Việt - Trung) là vấn đề khoa học đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, tìm hiểu

Xuyên suốt tiến trình lịch sử, Việt Nam và Trung Quốc đã trải qua các cung bậc quan hệ, mặc dù có những lúc thăng trầm, nhưng hữu nghị, hợp tác vẫn là dòng chảy chính Trong đó, quan hệ giữa Đảng Cộng Sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc những năm 1930 - 1950 là một giai đoạn mà hoàn cảnh lịch sử ở mỗi nước có nhiều điểm tương đồng Đó là thời điểm mà ở cả hai nước đều diễn

ra công cuộc đấu tranh giành quyền độc lập, tự chủ cho dân tộc và xác lập vị trí lãnh đạo đất nước của chính đảng cộng sản ở mỗi nước

Quan hệ giữa Đảng Cộng sản hai nước trong giai đoạn này có một vai trò quan trọng tác động không nhỏ đến sự phát triển phong trào cách mạng ở mỗi nước Tuy nhiên, phần lớn thời gian trong giai đoạn này, mối quan hệ trên không mang tính chất chính thống, ở tầm quốc gia Do đó mối quan hệ này sẽ mang nhiều nét riêng biệt, đặc thù rất cần được quan tâm và nghiên cứu kỹ lưỡng

Đồng thời, xét trong tổng thể hoạt động nghiên cứu lịch sử, những hoạt động đối ngoại của nước Việt Nam nói chung, của Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng giai đoạn 1930-1950 còn nhiều “khoảng trống” chưa được nghiên cứu, đề cập một cách có hệ thống Mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn này là một “khoảng trống” như thế Đó là lý do mà học viên chọn

đề tài “Quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc

trong tiến trình lịch sử Việt Nam 1930-1950” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của

mình

Thông qua việc tìm hiểu về mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc trong lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 - 1950, học viên mong muốn trả lời được các câu hỏi: Tại sao mối quan hệ giữa hai Đảng cộng

Trang 8

sản lúc đó đã rất tích cực và tạo tiền đề cho mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp sau này? Đảng Cộng sản Trung Quốc có giúp đỡ gì với Đảng Cộng sản Việt Nam để thực hiện Cách mạng tháng 8/1945 thành công và ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa? Đảng Cộng Sản Việt Nam đã giúp đỡ Đảng cộng sản Trung Quốc và nhân dân Trung Quốc như thế nào trong quá trình nội chiến với Quốc dân đảng và ra đời nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa? Mối quan hệ giữa hai Đảng trong giai đoạn này tạo ra những tác động

gì đối với mỗi nước cũng như đối với khu vực và thế giới?

Cụ thể, luận văn tập trung vào những nhiệm vụ sau: Một là, phân tích những

nhân tố tạo nên tiền đề cho mối quan hệ giữa Đảng Cộng Sản Việt Nam và Đảng

Cộng sản Trung Quốc trước năm 1930 Hai là, nêu ra và đánh giá những nội dung

chủ yếu trong quan hệ giữa hai Đảng Cộng sản trong lịch sử Việt Nam 1930-1950

Ba là, đánh giá những tác động của mối quan hệ giữa hai Đảng Cộng sản Việt

Nam và Trung Quốc đối với Việt Nam, Trung Quốc và thế giới trong giai đoạn

1930 - 1950

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đề tài quan hệ Việt Nam – Trung Quốc đã được quan tâm nghiên cứu trong nhiều công trình của các học giả Việt Nam, Trung Quốc và quốc tế Trong đó, các nguồn tài liệu được phân loại thành ba nhóm: 1) Nhóm công trình nghiên cứu chung

về lịch sử Việt Nam, lịch sử Trung Quốc trong giai đoạn nhân dân Việt Nam thực hiện cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; 2) Nhóm công trình nghiên cứu chung

về lịch sử quan hệ ngoại giao – quan hệ đối ngoại của Việt Nam, trong đó có đề cập đến quan hệ với Trung Quốc; 3) Nhóm công trình nghiên cứu chuyên sâu về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trước năm 1954 Cụ thể:

- Nhóm công trình nghiên cứu chung về lịch sử Việt Nam, lịch sử Trung Quốc trong giai đoạn nhân dân Việt Nam thực hiện cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

Các công trình nghiên cứu về lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đều ít nhiều có đề cập đến quan hệ Việt Nam và Trung Quốc Trong số đó có thể nhắc

đến một số công trình tiêu biểu như: Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

Trang 9

(1945-1954), gồm 07 tập, đã xuất bản 05 tập là Tập 1: Chuẩn bị kháng chiến, (NXB

Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2001), Tập 2: Toàn quốc kháng chiến, (NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005), Tập 3: Kháng chiến toàn diện, (NXB Quân đội Nhân dân,

Hà Nội, 2009), Tập 4: Bước ngoặt của cuộc kháng chiến, (NXB Quân đội nhân dân,

Hà Nội, 2011), Tập 5: Phát triển thế chiến công chiến lược, (NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2014); Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 10: Cuộc kháng chiến chống thực

dân Pháp (1945-1954), (NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2014); Lịch sử Việt Nam,

tập 10 (1945-1950), (NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2007); Lịch sử Việt Nam, tập

11 (1951-1954), (NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2014), …

Các công trình nghiên cứu trên đây do Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Viện

Sử học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nghiên cứu, biên soạn, với nội dung về cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và dựa vào sức mình là chính của quân dân cả nước chống thực dân Pháp xâm lược, trong đó có ít nhiều đề cập đến mối quan hệ Việt Nam và Trung Quốc Tuy nhiên, do đây là những công trình nghiên cứu toàn diện về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nên nội dung

có liên quan đến mối quan hệ hai nước nói chung và hai Đảng Cộng sản nói riêng còn

sơ lược, chủ yếu là một số ví dụ cụ thể, điển hình về việc hỗ trợ của nhân dân Trung Quốc cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam Nội dung chủ yếu của các công trình trên là đường lối cách mạng, các hoạt động quân sự và xây dựng đất nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội… Những vấn đề mang tính hệ thống về mối quan hệ giữa hai nước vẫn chưa được đề cập

Một công trình nghiên cứu cũng liên quan đến lịch sử cuộc kháng chiến chống

Pháp nữa là luận án “Chính sách chính trị, quân sự của Pháp ở Việt Nam trong giai

đoạn 1945-1954 và nguyên nhân thất bại của chúng” của tác giả Nguyễn Mạnh Hà,

(Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Hà Nội, 1996) đã nghiên cứu, dựng lại và làm rõ chính sách chính trị, quân sự của Pháp và nguyên nhân thất bại của họ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954

Dù nói về sau giai đoạn 1950, nhưng công trình “Quan hệ tam giác Việt Nam,

Liên Xô, Trung Quốc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975)” của tác giả

Phạm Quang Minh, (NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2018) đã đi sâu phân tích cơ

Trang 10

sở hình thành quan hệ tam giác Việt Nam - Liên Xô - Trung Quốc, tiến trình vận động cũng như kết quả của các quan hệ này qua các giai đoạn của cuộc chiến tranh Trong

đó, tác giả đánh giá một cách toàn diện tác động của mối quan hệ ba bên này với cục diện chiến tranh, mỗi nước, khu vực và thế giới; bài học kinh nghiệm rút ra từ mối quan hệ trên là Việt Nam phải đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, khôn khéo, chủ động

cân bằng quan hệ giữa các nước lớn

Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: Trong nhóm này, đáng chú ý là một số công trình nghiên

cứu như: Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương của Yves Gras, (NXB Plon, Paris, 1979); Một đế chế cáo chung, Việt Minh địch thủ của tôi của R.Xalăng, (Pari, 1970);

Hai cuộc chiến tranh của Việt Nam từ Va-luy đến Oét-mo-len của G Sáppha, (NXB

Bàn tròn, Pari, 1969); Về cuộc chiến tranh chiếm lại Đông Dương của đế quốc Pháp của C Paya, (Thư viện Quân đội sao lục, 1975); Bí mật đội quân lê dương Pháp (tư

liệu nước ngoài), Đào Ngọc Ninh sưu tầm và tuyển chọn, (NXB Công an nhân dân,

Hà Nội, 2007); … Các công trình trên đã đề cập tới âm mưu xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp, về việc lập chính quyền thân Pháp, xây dựng và phát triển “Quân đội quốc gia”, bắt thanh niên người Việt vào lính, thực hiện âm mưu “dùng người Việt đánh người Việt” Sách cũng phản ánh cuộc đấu tranh của quân và dân Việt Nam; thất bại của âm mưu, thủ đoạn, trong đó có việc sử dụng quân đội và chính quyền thân Pháp của thực dân Pháp; cuộc đấu tranh toàn diện của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đẩy cuộc chiến tranh phi nghĩa của Pháp ngày càng lâm vào thế bế tắc, không lối thoát và thất bại Tuy quan điểm và cách tiếp cận khác nhau, song các tác giả đã cung cấp một số chi tiết như về bối cảnh lịch sử, tình hình và tâm lý quân đội Pháp, một số chính sách của Pháp để đối phó với cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam…

Bên cạnh các công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam giai đoạn kháng chiến chống Pháp, để rõ hơn về bối cảnh và các tiền đề của mối quan hệ giữa hai Đảng,

chúng tôi cũng tìm hiểu thêm các công trình nghiên cứu Lịch sử thế giới cận đại của

các tác giả Vũ Dương Minh và Nguyễn Văn Hồng (NXB Giáo dục Việt Nam, Hà

Nội, 2021) và Lịch sử thế giới hiện đại của tác giả Nguyễn Anh Thái và các cộng sự

(NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2014) Các công trình này đã cho thấy cái nhìn

Trang 11

khái quát về bối cảnh xã hội Việt Nam, Trung Quốc và thế giới lúc bấy giờ, những nguyên nhân khách quan để mối quan hệ này vận động và phát triển

Đồng thời, chúng tôi cũng tìm hiểu thêm về lịch sử của Trung Quốc, quá trình hình thành Đảng Cộng sản Trung Quốc và nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

qua các công trình nghiên cứa của PGS Nguyễn Huy Quý là Lịch sử cận đại Trung

Quốc (NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2004) và Lịch sử hiện đại Trung Quốc

(NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2004) Các công trình này đã giúp chúng tôi hệ thống khái quát được khi trình bày về bối cảnh xã hội Trung Quốc trong giai đoạn

luận văn nghiên cứu và có đề cập rải rác đến một số sự kiện liên quan đến Việt Nam

Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên đã làm rõ bối cảnh mỗi nước và thế giới trong giai đoạn 1930-1950, là những tài liệu liên quan gián tiếp đến đề tài luận văn, giúp học viên có thêm cơ sở để nhìn nhận về cuộc kháng chiến chống Pháp nói chung

và mối quan hệ giữa Việt Nam, Trung Quốc nói riêng Mặt khác, quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn 1930 - 1950 cũng đã được các học giả, nhà nghiên cứu đề cập đến ở một mức độ nhất định

- Nhóm công trình nghiên cứu chung về lịch sử quan hệ ngoại giao của Việt

Nam, trong đó có đề cập đến quan hệ với Trung Quốc

Chính sách quan hệ ngoại giao, đối ngoại của Việt Nam với các quốc gia khác, trong đó có Trung Quốc là vấn đề khoa học đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, tìm hiểu Đó là công trình, các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành, kỷ yếu hội thảo khoa học như Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên cứu Quốc tế, Khoa học xã hội Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử…

Tác phẩm Lịch sử quan hệ đối ngoại Việt Nam 1940 - 2010 của GS.NGND

Vũ Dương Ninh do Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành là một bức tranh toàn cảnh về 70 năm quan hệ đối ngoại của Việt Nam Với nguồn tài liệu phong phú được chọn lọc kỹ lưỡng, tác giả đã trình bày một cách hệ thống về tiến trình lịch sử quan

hệ đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1940 đến năm 2010, tức là từ những ngày chuẩn bị tổng khởi nghĩa và Cách mạng tháng Tám đến hết thập kỷ đầu của thế kỷ XXI Trong chương I “Quan hệ đối ngoại của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn chuẩn bị Tổng khởi nghĩa 1940 – 1945”, tác giả đã thành công khi phân

Trang 12

tích đối sách của Đảng Cộng sản Đông Dương trong bối cảnh vô cùng phức tạp của Chiến tranh thế giới thứ hai Một trong những quyết định kịp thời và sáng suốt của Đảng Cộng sản Đông Dương lúc đó là phải tranh thủ tất cả các lực lượng có thể tranh thủ, trong đó có sự ủng hộ của nhân dân Trung Quốc nói chung và Đảng Cộng sản Trung Quốc nói riêng

Trong cuốn Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc những sự kiện 1945 - 1954 của Viện Nghiên cứu Trung Quốc và cuốn Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc

trong 30 năm qua Trong cuốn Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc những sự kiện 1945 – 1954 đã tổng hợp các sự kiện nổi bật trong quan hệ hai nước khá đầy đủ, rõ ràng

nhưng đó là một cuốn biên niên lịch sử vì thế nội dung cuốn sách chưa có đánh giá, nhận xét và cũng như chưa đề cập đến những nội dung từ 1930 đến 1945 Riêng đối

với cuốn Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năm qua do Vụ Thông

tin Báo chí - Bộ ngoại giao công bố, vì ra đời vào năm 1979 trong bối cảnh quan hệ Việt Nam, Trung Quốc đang có nhiều căng thẳng dẫn đến xung đột biên giới nên chủ yếu lên án âm mưu của Trung Quốc trong quan hệ với Việt Nam

Dù không nói trực tiếp đến quan hệ Việt - Trung, nhưng cũng có thể bóc tách

một số sử liệu từ các công trình như: Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945 – 2000 của tác

giả Đặng Phong nêu lên một số sự kiện về quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước

Việt - Trung trong thời kỳ 1945-1954; Buôn bán qua biên giới Việt - Trung lịch sử,

hiện trạng, triển vọng do Nguyễn Minh Hằng chủ biên đề cập đến quan hệ thương

mại giữa hai nước thời kỳ này, cuốn sách gồm hai phần: Quan hệ thương mại từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 của Việt Nam đến khi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời năm 1949 và giai đoạn 1950 - 1954, cả hai phần đều chủ yếu tập trung vào vấn đề thương mại, các lĩnh vực khác chưa được trình bày cụ bày cụ thể, rõ ràng

Ấn phẩm Ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hai mươi năm đầu thế

kỷ XXI do Lê Văn Mỹ chủ biên (NXB Từ điển Bách khoa, 2011) đề cập đến những

vấn đề nổi bật trong chính sách đối ngoại và quan hệ ngoại giao của Trung Quốc 10 năm đầu thế kỷ XXI, trong đó cũng có nói đến quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc

và Việt Nam, và cũng đề cập đến những nhân tố có thể tác động đến sự điều chỉnh chiến lược và chính sách đối ngoại của Trung Quốc giai đoạn 2011 - 2020 Tác phẩm

Trang 13

Quan hệ kinh tế đối ngoại Trung Quốc thời kỳ mở cửa (NXB Khoa học Xã hội, 1996)

do tác giả Đỗ Tiến Sâm cũng các tác giả khác cùng biên soạn cũng đề cập đến quan

hệ đối ngoại của Trung Quốc trong thời kỳ Trung Quốc bắt đầu cải cách mở cửa

Tác phẩm Quan hệ Việt - Trung trước sự trỗi dậy của Trung Quốc do Nguyễn

Đình Liêm chủ biên (NXB Từ điển Bách khoa, 2013) đã có những đánh giá tổng quát quá trình phát triển của quan hệ Việt - Trung trước tác động của một Trung Quốc trỗi dậy; phân tích thực trạng những vấn đề đặt ra và đề xuất đối sách xử lý quan hệ Việt

- Trung trong mười năm tiếp theo của thế kỷ XXI đặt trong bối cảnh Trung Quốc tiếp tục lớn mạnh

Năm 2015, nhân dịp kỷ niệm 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt - Trung, Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam phối hợp với Hội hữu nghị Việt Nam - Trung

Quốc xuất bản cuốn sách Kỷ niệm 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam -

Trung Quốc (1950 - 2015) (NXB Hồng Đức, 2015), trong đó có tổng hợp nhiều bài

viết của các vị Đại sứ, nguyên Đại sứ Trung Quốc (Đại sứ Hồng Tiểu Dũng, các nguyên Đại sứ Tề Kiến Quốc, Lý Gia Trung,…) và Việt Nam (nguyên Đại sứ Nguyễn Văn Thơ, nguyên Đại sứ Bùi Hồng Phúc,…) viết về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc Các bài viết được chọn lọc để đăng trong quyển sách này đã nêu bật những thăng trầm trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 65 năm qua, nhưng nổi bật hơn là những thành tựu to lớn, những đóng góp của các cá nhân, tập thể vào việc duy trì quan hệ hữu nghị giữa hai nước

Ngoài ra, trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc rất nhiều tác giả đã đóng góp các bài viết liên quan đến quan hệ đối ngoại Việt Nam - Trung Quốc Tác giả Trần Khánh có bài viết “Tư duy và quan niệm truyền thống của Trung Quốc về quan hệ

đối ngoại trong lịch sử cổ trung đại” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 3

năm 2014; Vũ Cao Phan với bài “Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc cần được xây

dựng trên cơ sở nào” trên Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 2 năm 2014; Bài viết

của Nguyên Đại sứ Trung Quốc Khổng Huyễn Hựu nhận định “Trong năm tới quan

hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước sẽ đạt được bước phát triển mới

và lớn hơn” và bài “Quan hệ hai nước sẽ không ngừng củng cố, đi vào chiều sâu và

có những bước phát triển mới” của tác giả Nguyễn Quân trên Tạp chí Nghiên cứu

Trang 14

Trung Quốc số 1 năm 2014; bài viết “Viện trợ của Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam” của Nguyễn Phương Hoa (Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 5 (84)-2008) V.v… Cùng với rất nhiều sách và bài viết của học giả nghiên cứu về quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc ở Việt Nam đã cho ta thấy được sự quan tâm của chuyên gia tới nghiên cứu quan hệ Việt - Trung không chỉ trong một giai đoạn và trong nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau

Trong lĩnh vực nghiên cứu quan hệ ngoại giao hai nước, chúng tôi đã thử tìm trên google cụm từ “Studies on Vietnam - China relations” thì đã có khoảng hơn 9 triệu kết quả liên quan đến lĩnh vực này Còn trên trang baidu.com, trang web tìm kiếm lớn nhất Trung Quốc chúng tôi cũng thử tra tìm kết quả của “越外交关系 (quan

hệ ngoại giao Trung Việt) thì cũng cho ra 104.000 nghìn kết quả Có thể thấy được rằng, nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đều đã có rất nhiều học giả Trung Quốc cũng như trên thế giới nghiên cứu Điểm qua các bài nghiên cứu tìm được chúng tôi thấy đa phần là nghiên cứu về quan hệ ngoại giao Việt – Trung, quan hệ kinh tế,

… nhưng quan hệ giữa hai nước, hai Đảng Cộng sản giai đoạn 1930-1950 thì vẫn chưa có nhiều bài nghiên cứu

Các bài viết, công trình nghiên cứu trên là nguồn tài liệu quý giá, có ý nghĩa

về chính trị, ngoại giao; ý nghĩa khoa học sâu sắc góp phần cung cấp thông tin khoa học về đất nước, con người, tình đoàn kết hữu nghị giữa hai quốc gia, dân tộc Việt Nam và Trung Quốc Tuy nhiên, quan hệ Việt Nam và Trung Quốc chỉ được trình bày khái quát trên nhiều lĩnh vực, giai đoạn khác nhau nên chưa tập trung vào thời gian mà luận văn nghiên cứu

- Nhóm công trình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trước năm

1954

Tính đến nay, số lượng các công trình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam, Trung Quốc, mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn 1930 - 1950 một cách toàn diện, hệ thống còn chưa nhiều Đặc biệt, vấn đề quan hệ giữa hai Đảng trong thời gian trên là lĩnh vực chưa có nhiều công trình nghiên

Trang 15

cứu chuyên sâu, phần lớn chỉ đề cập dưới dạng các bài báo hoặc các bài viết riêng lẻ trong một số cuốn sách với ý nghĩa là phần giới thiệu hay phần mở đầu

Công trình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trước năm 1954 có thể nhắc đến:

Cuốn Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt

Nam (1944 - 2000), NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002, do Tổng cục Chính trị

Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức biên soạn, trình bày toàn bộ nội dung công tác đảng, công tác chính trị Với nhiều tư liệu phong phú, cuốn sách đã phản ánh khá đầy

đủ quá trình hình thành và sự phát triển của công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội Cuốn sách cũng đã nhắc đến hoạt động, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, các nước, trong đó có nhân dân Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống Pháp chống Mỹ của nhân dân ta

Ngoài ra, quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng là một nội dung được các nhà ngoại giao chú ý khi nghiên cứu về lịch sử quan hệ đối ngoại của Việt Nam Vì vậy có thể tìm thấy được nhiều tư liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận văn được trình bày rải rác trong các công trình

này như: “Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam”, Tập 1 (1945 - 1975) (NXB Công

an, 1996) của tác giả Lưu Văn Lợi; “Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000” (NXB Chính trị Quốc gia, 2000) do Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Đình Bin chủ biên; “Lịch

sử Quan hệ đối ngoại Việt Nam 1940 - 2000” (NXB Chính trị Quốc gia, 2014) và

“Cách mạng Việt Nam trên bàn cờ quốc tế: lịch sử và vấn đề” (NXB Chính trị Quốc

gia, 2017) của Giáo sư Vũ Dương Ninh Trong bốn cuốn sách này, các tác giả đã chú trọng và nhấn mạnh sự giúp đỡ của Trung Quốc đối với sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước của Việt Nam, tuy nhiên đây không phải những công trình chuyên khảo về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc nên phần viết về vấn đề này còn khá khiêm tốn

Khi nghiên cứu về quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc, không thể không nhắc đến vai trò rất quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh Vì vậy, những vấn đề liên quan đến đề tài của luận văn này cũng đã được đề

Trang 16

cập rải rác trong các công trình nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh như Hồ Chí

Minh toàn tập (NXB Chính trị Quốc gia), Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao (NXB

Sự thật, 1990 của Viện quan hệ quốc tế; Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử (NXB Chính

trị Quốc gia, 1993) của Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí

Minh; Bác Hồ với bè bạn quốc tế (NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 1990) của tác giả Trần Quân Ngọc, Chủ tịch Hồ Chí mInh với sách lược ngoại giao “Hoa

– Việt thân thiện” thời kỳ 1945-1946 của tác giả Lê Huy Bình (NXB Quân đội Nhân

dân, Tp.Hồ Chí Minh, 2003), OSS và Hồ Chí Minh – Đồng minh bất ngờ trong cuộc

chiến chống phát xít Nhật của tác gải Dixee R.Bartholomew-Feis (NXB Thế giới,

Lương Lê Giang dịch, Hà Nội, 2007), Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh của tác giả

Trần Thị Minh Tuyết (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2016)

Một số bài viết khác như “Chủ tịch Hồ Chí Minh với quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam, Liên Xô và Trung Quốc” của tác giả Lường Thị Lan; “Hoạt động ngoại giao của chủ tịch Hồ Chí Minh với một số nước láng giềng trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954)” của Nguyễn Thị Ngọc Trân, Nguyễn Thị Hương trên Tạp Chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2021; các bài viết nghiên cứu chuyên sâu về quá trình hoạt động của Hồ Chí Minh ở Trung Quốc của Tiến sĩ Lưu Văn Quyết, người hướng dẫn khoa học cho luận văn này Thông qua nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, các tác phẩm trên cũng đã đề cập đến vai trò của Người trong mối quan hệ giữa Đảng cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc và sự phát triển của mối quan hệ này trong giai đoạn 1930 - 1950

Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến quan hệ Trung Quốc và Việt Nam nhưng chủ yếu nói đến việc viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam trong các giai đoạn sau này, ít nói về giai đoạn 1930-1950, đặc biệt là giai đoạn 1930-1945 Chúng

ta có thể dễ dàng tìm thấy những công trình của học giả Trung Quốc liên quan đến giai đoạn từ 1950 trở về sau: cuốn Diễn biến 40 năm quan hệ Trung - Việt của tác giả Quách Minh, cuốn Biên tuyển tư liệu về quan hệ Trung - Việt hiện đại… tập hợp tất

cả những văn kiện, bài báo viết về quan hệ hai nước Ngược lại, các công trình nghiên cứu có liên quan đến quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng cộng sản Trung Quốc giai đoạn 1949 trở về trước dường như vắng bóng và vẫn chưa có công trình

Trang 17

nghiên cứu chuyên khảo về vấn đề này Lúc ấy, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chưa ra đời, hai nước chưa thiết lập quan hệ ngoại giao nên Đảng Cộng sản Trung Quốc và các học giả tập trung nhiều vào việc phản ánh cuộc cách mạng của họ hơn

Ngoài 03 nhóm công trình nghiên cứu kể trên, các công trình như Văn kiện

Đảng toàn tập, Hồ Chí Minh toàn tập, Lê -nin toàn tập và một số công trình nghiên

cứu về lịch sử Đảng cũng là nguồn tài liệu không thể thiếu trong quá trình thực hiện luận văn của chúng tôi Các công trình này mặc dù chủ yếu đề cập đến Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng qua đó chúng tôi cũng có thể góp nhặt được những dữ kiện về đường lối đối ngoại của Đảng và cách nhìn nhận của Đảng trong việc xây dựng mối quan hệ với Đảng Cộng sản Trung Quốc

Như vậy, theo chúng tôi biết, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống, cụ thể về mối quan hệ Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn 1930 - 1950 Nhóm công trình liên quan trực tiếp đến quan hệ Việt Nam, Trung Quốc mà chúng tôi thống kê ở trên cho thấy quan

hệ giữa hai nước đã được nhiều học giả nghiên cứu nhưng chỉ dừng lại ở khía cạnh đơn lẻ, chưa đi sâu phân tích, làm rõ các vấn đề về mối quan hệ Việt Nam, Trung Quốc Do đó, trên cơ sở tiếp cận nguồn tư liệu của những nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi sẽ trình bày một cách hệ thống mối quan hệ này trên các khía cạnh, bổ khuyết cho các thiếu sót mà các công trình trên chưa đề cập

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Luận văn làm rõ đặc điểm nổi bật trong mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc trong tiến trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 - 1950, đặc biệt mối quan hệ này đặt trong bối cảnh chung của thế giới, khu vực và của từng nước Bên cạnh đó, đánh giá về ảnh hưởng, vai trò của mỗi Đảng đối với việc giúp đỡ, hỗ trợ hình thành nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, làm cơ sở để rút ra những bài học nhằm xây dựng mối quan hệ tốt đẹp hơn giữa hai nước trong thời gian tới

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trang 18

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể góp phần cung cấp các luận cứ khoa học về lịch sử quan hệ giữa hai Đảng Cộng sản, qua đó góp phần phục vụ cho việc nhận thức và đánh giá đầy đủ, toàn diện về quá trình triển khai các mục tiêu chính sách đối ngoại của hai nước

Ngoài việc phục vụ cho công tác đối ngoại của Việt Nam và Trung Quốc thì

ý nghĩa có tính thực tiễn gần nhất mà luận văn hướng đến là việc áp dụng những nội dung quan trọng từ kết quả của luận văn cho công tác nghiên cứu và giảng dạy Những thông tin hữu ích từ đề tài có thể trở thành tài liệu nghiên cứu, giảng dạy trong các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp; các cá nhân có nhu cầu nghiên cứu hay cơ quan, ban ngành có liên quan Trong đó, các môn học như Lịch sử ngoại giao Việt Nam, Chính sách đối ngoại Việt Nam, Chính sách đối ngoại Trung Quốc, Lịch sử Quan hệ quốc tế, Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc…là những môn học có thể trực tiếp sử dụng và tham khảo từ kết quả của luận văn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc trong tiến trình lịch sử Việt Nam, mối quan hệ này cũng được đặt trong bối cảnh khu vực và quốc tế, Việt Nam Do hướng tiếp cận xuất phát từ góc

độ lịch sử Việt Nam, nên luận văn không đi sâu vào phân tích mối quan hệ giữa hai Đảng Cộng sản trên các lĩnh vực cụ thể như kinh tế, chính trị, văn hóa… mà tập trung tìm hiểu mối quan hệ này trong sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau nhằm phục vụ cho cuộc cách mạng của mỗi nước và quá trình ra đời của hai nhà nước

xã hội chủ nghĩa Trong giai đoạn này, tên gọi Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ tồn tại từ ngày 3/2/1930 đến tháng 10/1930, từ đó đến năm 1950 là Đảng Cộng sản Đông Dương Thậm chí ngày 11/11/1945, Đảng Cộng sản Đông Dương đã tuyên

bố “tự ý giải tán”1

Mặc dù tuyên bố Tự giải tán, rút vào hoạt động bí mật, Đảng

1 Tuyên bố "Tự ý giải tán", nhưng thực chất Đảng rút vào hoạt động bí mật, tiếp tục lãnh đạo cách mạng Để

công khai tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối, chính sách của Đảng, Đảng lập ra Hội Nghiên cứu

chủ nghĩa Mác ở Đông Dương Ngày 5-11-1945, Đảng ra tờ Sự thật kế tục báo Cờ giải phóng Ngày

25-11-1945, Trung ương Đảng đã ra “Chỉ thị kháng chiến kiến quốc", nêu rõ: "Về Đảng, phải duy trì hệ thống tổ chức

bí mật hay bán công khai của Đảng, tuyển thêm đảng viên thành lập chi bộ trong quân đội, phối hợp sự hoạt

Trang 19

Cộng sản Đông Dương tiếp tục phát triển Đường lối, chính sách của Đảng, chủ nghĩa Mác-Lênin tiếp tục được tuyên truyền Đảng vẫn lãnh đạo toàn diện sự nghiệp kháng chiến kiến quốc Chính vì vậy, mặc dù có sự thay đổi tên gọi, nhưng vẫn giữ nguyên tính chất là chính đảng cộng sản của người Việt Nam, do đó trong quá trình nghiên cứu và phân tích, có những luận điểm học viên vẫn sẽ sử dụng tên gọi Đảng Cộng sản Việt Nam để tương quan trong mối quan hệ với Đảng Cộng sản Trung Quốc

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam

và Đảng Cộng sản Trung Quốc, tác động của mối quan hệ này đến việc thành lập hai nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, những ảnh hưởng đến các giai đoạn lịch sử sau này

Về thời gian: từ năm 1930 đến năm 1950, sở dĩ chúng tôi chọn mốc thời gian

mở đầu luận văn là năm 1930 vì đây là thời gian Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, thời gian kết thúc là năm 1950 - nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

5.1 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ sử học, học viên sử dụng sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic.Ngoài ra, đề làm sáng tỏ thêm những vấn đề mà luận văn đặt ra, học viên còn sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp và so sánh, thống kê, hệ thống…Cụ thể:

Phương pháp lịch sử được sử dụng để phân kì lịch sử (mối quan hệ giữa Việt Nam, Trung Quốc từ trước năm 1930; từ 1930 đến 1950) nhằm hệ thống hóa quan

hệ giữa hai nước theo tiến trình lịch sử, cố gắng dựng lại một cách hệ thống, cụ

động bí mật với hoạt động công khai…" (Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 3, NXB Chính trị Quốc gia, 2008, tr.41-42)

Trang 20

thể, chân thực về mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn 1930 - 1950

Phương pháp logic được sử dụng trong tất cả ba chương của luận văn để xâu chuỗi các sự kiện chủ yếu, khái quát bối cảnh lịch sử (trong và ngoài nước), khái quát tiến trình hỗ trợ, giúp đỡ, những nội dung trọng tâm trong mối quan hệ giữa hai nước, hai Đảng Cộng sản trong giai đoạn nghiên cứu của luận văn

Bên cạnh đó, luận văn cũng sử dụng một số phương pháp cụ thể khác, nhất

là phương pháp phân tích, so sánh, thống kê để nâng cao tình thuyết phục các vấn

đề đặt ra trong luận văn Qua việc nghiên cứu về bối cảnh quan hệ giữa hai nước, thực trạng, các vấn đề giúp đỡ giữa hai Đảng Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc, luận văn mong muốn đi sâu vào xem xét các vấn đề, sự kiện có tác động qua lại trong mối quan hệ này

5.2 Nguồn tài liệu

Để nghiên cứu, thực hiện luận văn này, học viên dựa vào các nguồn tài liệu chính như sau:

Các văn kiện, tài liệu của Đảng, Nhà nước Việt Nam, Chính phủ Trung Quốc có liên quan đến quan hệ giữa hai nước; tư liệu của Bộ Ngoại giao Việt Nam,các Báo cáo thường niên của Bộ Ngoại giao Trung Quốc; Tuyên bố chung, hiệp định, hiệp ước được ký kết giữa Chính phủ, Bộ Ngoại giao Việt Nam với Trung Quốc; các bài phát biểu trả lời phỏng vấn, diễn văn của các nhà lãnh đạo hai nước được công bố trên báo chí Đây là nguồn tài liệu quan trọng Nguồn tài liệu này phong phú, có ý nghĩa rất quan trọng đối với tôi trong việc nghiên cứu đề tài Các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, sách tham khảo, bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành, báo cáo tham luận tại các cuộc hội thảo khoa học liên quan của các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế đã được công bố trong những năm gần đây Nguồn tài liệu này có ý nghĩa quan trọng, không chỉ cung cấp

tư liệu mà còn gợi mở nhiều vấn đề để tôi đi sâu nghiên cứu

Trang 21

Báo chí ở Việt Nam, Trung Quốc và nước ngoài (Bản tin TTXVN, Báo Nhân dân, Quốc tế…), tư liệu trên internet (trang Web Bộ Ngoại giao Việt Nam, Trung Quốc) Nguồn tư liệu này cũng khá phong phú

6 Đóng góp của đề tài

Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước và tư liệu có chọn lọc thu thập được từ nhiều nguồn, đề tài có một số đóng góp chính sau đây:

- Dựng lại một cách hệ thống, cụ thể về mối quan hệ giữa Đảng Cộng Sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn 1930 - 1950

- Luận văn là sự đóng góp của chúng tôi về việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Trung Quốc nói chung và quan hệ giữa hai Đảng Cộng sản nói riêng

- Kết quả nghiên cứu và tư liệu thu thập được có thể dùng làm tài liệu tham khảo về quan hệ giữa Đảng Cộng Sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc nói riêng và quan hệ quốc tế thời kỳ cận đại của Việt Nam nói chung đối với sinh viên, học viên cao học ngành Lịch sử Việt Nam, Quốc tế học cũng như đối với những người hoạt động liên quan đến lĩnh vực ngoại giao

7 Bố cục của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung bao gồm

Trang 22

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ HÌNH THÀNH MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG CỘNG SẢN

VIỆT NAM VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC

1.1 Sự gắn kết về địa lý, văn hóa và chính trị - xã hội

Trung Quốc là một quốc gia có lịch sử văn hóa lâu đời, lãnh thổ rộng lớn với diện tích 9,6 triệu km2

đứng thứ ba thế giới (Trần Vĩnh Bảo, 2005, tr.35) Còn Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, khu vực Đông Nam Á, ven biển Thái Bình Dương Với đường biên giới trên đất liền dài 4.550 km, lãnh thổ Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, ở phía Tây giáp Lào và Campuchia; phía Đông giáp Biển Đông Việt Nam nắm giữ một vị trí quan trọng, là cửa ngõ để tiếp cận khu vực châu Á, là đầu mối quan trọng của các tuyến giao thương hàng hải tại khu vực Đông Nam Á

Việt Nam, Trung Quốc là hai nước láng giềng có chung đường biên giới trên đất liền khoảng 1.350 km chạy qua các 5 tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng,

Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu của Việt Nam và khu tự trị dân tộc Choang ở Quảng Tây, Vân Nam của Trung Quốc; vịnh Bắc Bộ được bao bọc bởi bờ biển của hai nước Việt Nam và Trung Quốc, là một trong những vịnh lớn ở Đông Nam Á và thế giới, có diện tích khoảng 126.250 km2, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 220

km (119 hải lý) (Vũ Khoan, 2000, tr 25) Vì điều kiện núi liền núi sông liền sông như vậy nên hai nước có mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời Đặc biệt là vùng lưỡng Quảng của Trung Quốc (tiếp giáp biên giới đất liền với Việt Nam) có chung nền nông nghiệp trồng lúa nước lâu đời với nhân dân vùng đồng bằng Bắc

Bộ của Việt Nam

Nhìn chung, Việt Nam và Trung Quốc mối quan hệ truyền thống lâu đời Tuy nhiên, nhận thức được Trung Quốc luôn là mối đe dọa thường trực đến sự an nguy của đất nước, nên để tránh chiến tranh, các triều địa phong kiến ở Việt Nam đều sai sứ sang xin các Hoàng đế Trung Hoa phong vương và triều cống Chúng

ta có thể chia lịch sử quan hệ Việt Nam - Trung Quốc từ khi hình thành đến khi

Trang 23

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (năm 1930) thành các giai đoạn với những đặc điểm riêng của từng giai đoạn:

Thời kỳ Bắc thuộc: Năm 179 trước Công nguyên, Triệu Đà đem quân sang

xâm lược Âu Lạc Sau đó, các triều đại phong kiến phương Bắc thay nhau đô hộ nước ta Năm 938, Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng đã

mở ra thời kỳ độc lập, tự chủ cho dân tộc ta

Thời kỳ độc lập tự chủ: Từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX, “Việt Nam dã thiết

lập quan hệ triều cống dưới hình thái nước phiên thuộc của Trung Quốc” (Trong suốt chiều dài lịch sử, các vua Nam ý thức được mình là hoàng đế, ngang hàng với hoàng đế Trung Hoa “trong xưng đế, ngoài xưng vương”, không chấp nhận những đòi hỏi vô lý từ phía vương triều Trung Hoa Có thể kể đến nhiều minh chứng lịch

sử như: vua Quang Trung đã kiên quyết buộc triều đình Trung Hoa bỏ lệ bắt ta dâng người bằng vàng, Hay như năm 1831, một đội quân hơn 600 người của Trung Hoa đã sang đòi vùng Phong Thu (Hưng Hóa) (thuộc Phú Thọ, Hòa Bình, Điện Biên ngày nay) cho họ nhưng Vua Minh Mạng đã nhanh chóng sử dụng con đường ngoại giao, đồng thời lực lượng quân sự đến Hưng Hóa để trấn giữ, do đó, triều Thanh đã chủ động đề nghị với Minh Mạng thỏa thuận bằng phương pháp hòa bình (Phan Thị Thuý Hằng, 2008, tr.25-26) Như vậy, đến nửa đầu thế kỷ XIX, chính sách ngoại giao chủ đạo và xuyên suốt của các triều đại phong kiến Việt Nam là luôn thực hiện duy trì mối quan hệ hoà bình với nhà nước phong kiến Trung Hoa

Trong những năm 1858 - 1884: Từ khi thực dân Pháp đổ quân xâm lược Việt

Nam năm 1858, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và triều đình Trung Hoa bị chi phối bởi các hiệp ước, hiệp định mà nhà Nguyễn đã ký kết với Pháp Người Pháp

đã ngăn cản việc giao thiệp, triều cống của triều đình Huế đối với triều đình Mãn Thanh

Vào cuối thế kỷ XIX - đầu XX, nhà nước Trung Hoa cũng như nhà nước Việt Nam đều rơi vào hoàn cảnh bị thực dân đô hộ, vì vậy, hoạt động ngoại giao cấp nhà nước không còn Tuy nhiên, giữa dân tộc Việt Nam và Trung Quốc vẫn tồn

Trang 24

tại quan hệ ngoại giao nhân dân giữa các nhà trí thức yêu nước Đây là mối quan

hệ cá nhân giữa Phan Bội Châu, Tôn Trung Sơn, Hoàng Hoa Thám… sau là Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông… Năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, thì mối quan hệ với Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc

là sự giúp đỡ lẫn nhau, cùng giành độc lập, thống nhất đất nước và cùng phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa

1.2 Đều chịu ách đô hộ của các thế lực thực dân

Khi các nước phương Tây chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa thì nhu cầu về vốn, nguyên liệu và thị trường ngày càng trở nên cấp thiết Vì vậy, họ đã đẩy mạnh chiến tranh xâm lược khu vực Châu Á và các châu lục khác Do nhiều

lý do khách quan và chủ quan khác nhau, cả Việt Nam và Trung Quốc đều trở thành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân

Đối với các nước phương Tây, thuộc địa không chỉ là nơi cung cấp nguyên liệu, thị trường tiêu thụ hàng hoá và vị trí quan trọng cho việc xuất khẩu tư bản

Vì vậy, các nước đế quốc đua nhau xâu xé những vùng đất mảnh đất “trống” tại châu Á, châu Phi Đúng như Lênin đã từng nói: “chủ nghĩa tư bản nếu không thường xuyên mở rộng phạm vi thống trị của mình, không khai thác những vùng đất mới đồng thời cuốn các quốc gia cổ kính phi tư bản chủ nghĩa vào vòng xoáy của kinh tế thế giới thì sẽ không thể tồn tại và phát triển” (V.I Lênin, 2005, tr.46) Cuối thế kỷ XIX, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển nhanh chóng, giai cấp tư sản trở thành giai cấp thống trị trên thế giới Dưới tác động trực tiếp của cách mạng công nghiệp giai đoạn thứ hai, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở châu Âu

và Bắc Mỹ tăng trưởng với tốc độ chưa từng có Từ năm 1870 đến năm 1900, sản xuất thép tăng từ 250.000 tấn lên tới 28,3 triệu tấn; sắt tăng từ 14 triệu tấn lên 41 triệu tấn Số lượng máy móc năm 1914 so với những năm 70 tăng gấp 5,5 lần (Phan Ngọc Liên, 2008, tr.225)

Song song với việc bành trướng lãnh thổ, thiết lập bộ máy cai trị trực tiếp, chủ nghĩa tư bản không ngừng thâm nhập, thâu tóm kinh tế thuộc địa trên toàn cầu: đầu tư, khai thác, mở cửa buôn bán; qua đó chuyển lợi tức, nguyên liệu, phẩm

Trang 25

vật cần thiết từ hải ngoại về làm giàu chính quốc Các nước thuộc địa Á, Phi, Mỹ Latinh trở thành thị trường rộng lớn của chủ nghĩa thực dân, bị cuốn vào quá trình trao đổi buôn bán giữa hai phần thế giới, hoàn toàn chịu sự chi phối bởi thế lực và mục đích thực dân Cho đến cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, hầu như không quốc gia nào trên thế giới có thể nằm ngoài quy luật này - nếu không thống trị thì sẽ bị trị

Đặc biệt, trong 30 năm cuối cùng của thế kỷ XIX, các nước phương Tây đẩy mạnh mở rộng các cuộc bành trướng xâm lược thuộc địa Ngoại trừ trường hợp của Nhật Bản, tiến hành thành công của cuộc Duy tân Minh Trị giúp Nhật Bản trở thành nước châu Á duy nhất được coi là một cường quốc có vị thế ngang tầm các nước tư bản phương Tây còn các quốc gia khác đều bị xâm lược, biến thành thuộc địa, phụ thuộc (trường hợp của Xiêm)

Trung Quốc là một quốc gia lớn, giàu tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động dồi dào và có nền văn hóa lâu đời Tuy nhiên, đến giữa thế kỷ XIX, chế độ phong kiến ở Trung Quốc bước vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng, chính quyền Mãn Thanh đã tạo ra một xã hội phong kiến lạc hậu, bảo thủ, tha hóa, thấp kém hơn nhiều so với mặt bằng thế giới lúc bấy giờ Nông dân bị áp bức, bóc lột nặng nề

Họ không có ruộng hoặc có rất ít lại còn phải gánh vác tô thuế nặng nề, đời sống cùng cực Chính vì vậy phong trào nông dân nổi dậy liên tục ở khắp nơi, làm cho chính quyền Mãn Thanh càng trở nên kiệt quệ, lực lượng quân đội đã dần dần tha hóa, không còn đủ sức chiến đấu Trung Quốc lúc này giống như “cái bánh ngọt”

bị các nước phương Tây xâu xé

Với khát vọng chiếm được Trung Quốc, các nước phương Tây, trước tiên Anh tìm mọi cách buộc chính quyền Mãn Thanh phải “mở cửa”, đói tự do buôn bán thuốc phiện Các nước đầu tiên bán thuốc phiện đến Trung Quốc là Bồ Đào Nha và Hà Lan, sau đó mạnh nhất là Anh Lúc đầu chỉ có quan lại và bọn ăn chơi hút thuốc phiện, số người hút ngày càng nhiều khiến cho kinh tế Trung Quốc sa sút, bạc trắng bị chảy ra nước ngoài khá nhiều Khi nhà Thanh tìm cách cấm việc buôn bán thuốc phiện, nước Anh đã tuyên chiến với Trung Quốc bằng cuộc chiến tranh Nha phiến năm 1840

Trang 26

Cuộc chiến tranh thuốc phiện diễn ra từ 1840 đến tháng 8/1842, bị thất bại trong cuộc chiến tranh, chính quyền Mãn Thanh buộc phải ký hiệp ước Nam Kinh Theo đó, Trung Quốc phải bồi thường chiến phí chiến tranh cho Anh, mở 5 cửa biển cho thương gia tự do buôn bán và Hồng Kông bị nhượng cho Anh Sau đó, hiệp ước Tân Sửu được ký kết đánh dấu Trung Quốc trở thành nước “nửa thuộc địa, nửa phong kiến” (Wang, 2008)

Cũng giống như Trung Quốc, Việt Nam đã bị thực dân phương Tây xâm lược, thống trị: Đứng trước nguy cơ bị chủ nghĩa thực dân thôn tính, vận mệnh quốc gia dân tộc nằm trong tay triều Nguyễn, dưới triều Nguyễn, vua là “con trời”

có uy quyền tuyệt đối Địa chủ, quan lại, cường hào ra sức chiếm đoạt ruộng đất, đời sống nhân dân đói khổ Mặt khác, nhà Nguyễn thực hiện chính sách “thần phục” nhà Thanh và “bế quan tỏa cảng” mong tránh tư bản phương Tây dòm ngó Việt Nam Gia Long và Minh Mạng đã khước từ tổng cộng 30 đoàn ngoại giao và ngoại thương phương Tây đã đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam (Mai Tấn Phúc,

2009, tr.17) Một chính sách nội trị bảo thủ và lạc hậu không làm cho năng lực nội sinh của đất nước được mạnh thêm thì với chính sách ngoại giao “đóng cửa” làm sao vương triều và quốc gia có đủ sức đương đầu với những thử thách mới của chủ nghĩa tư bản thực dân đang ập tới, mà đặc biệt là chủ nghĩa tư bản Pháp đã dòm ngó Việt Nam từ rất lâu rồi Hệ thống quản lý nhà nước rất quy cũ nhưng cũng rất quan liêu độc đoán, nạn quan tham lam lại ngày càng công nhiên hoành hành Đối với nông nghiệp, thực hiện chính sách khai hoang với các hình thức

“doanh điền” và “đồn điền”, củng cố hệ thống đê điều, kết quả là triều Nguyễn tiếp tục khai hoang hoàn chỉnh vùng đất Gia Định, một sự nghiệp vĩ đại của dân tộc đã khởi đầu từ hơn hai thế kỷ trước Năm 1802 - 1855, triều đình ban hành 25 quyết định về khai hoang, trong đó 16 quyết định áp dụng ở Lục tỉnh, 2 ở Bắc thành, 1 ở vùng kinh kỳ và 6 đối với toàn quốc (Mai Tấn Phúc, 2009, tr.16) Mặc

dù, công việc khai hoang có kết quả, nhưng thành quả khai hoang rơi vào tay địa chủ phong kiến, nạn đói liên miên, người dân phiêu tán khắp nơi

Bên cạnh đó, chính quyền nhà Nguyễn còn tiếp tục thi hành chế độ quân điền nằm đảm bảo cho chế độ quân lính và công làng xã với hình thức công điền, và

Trang 27

thừa nhận sự tồn tại của chế độ tư điền… Do đó, dân nghèo phiêu tán ngày càng tăng, ruộng bỏ hoang ngày càng nhiều, tình hình kinh tế sa sút, song bên cạnh đó nạn mất mùa, đói kém thường xuyên xảy ra triền miên làm cho đời sống của nhân dân vô cùng khổ cực

Đối với công thương nghiệp, ngay từ đầu thế kỷ với một số biện pháp tích cực nền công nghiệp của Việt Nam đã phát triển nhất định và đạt được những thành tựu đáng kể và đã làm xuất hiện các khu trung tâm buôn bán sầm uất Nhưng

từ giữa thế kỷ XIX, chính triều Nguyễn chủ trương “ức thương” dần dần “bế quan tỏa cảng” Triều đình nắm độc quyền ngoại thương, quản lý các hầm mỏ và công xưởng lớn, thi hành chính sách công tượng Trong những thập niên đầu thế kỷ XIX, triều Nguyễn còn cử nhiều quan lại cầm đầu phái đoàn đi các nước lân bang

để mua hàng hóa và giám sát tình hình hoạt động của tư bản nước ngoài Nhưng

sự ràng buộc của chế độ phong kiến chuyên chế lại thêm sự uy hiếp ngày càng tăng của chủ nghĩa tư bản thực dân phương Tây khiến triều Nguyễn không dám vượt lên bằng những cuộc cải cách và giao thương cởi mở đường cho công thương nghiệp phát triển mạnh Và chính sách “đóng cửa” đã khiến cho nước ta bị cô lập với thế giới bên ngoài, làm cho công thương nghiệp trong giai đoạn này bị đình đốn nghiêm trọng

Về nền tảng ý thức hệ, triều Nguyễn dựa trên cơ sở ý thức hệ Nho giáo - Khổng giáo kết hợp với ý thức dân tộc phát triển và vận dụng nó trong các lĩnh vực văn hóa một cách mềm dẻo Về giáo dục, nền giáo dục triều Nguyễn đã tạo điều kiện cho mọi người dân đi thi để có thể tham gia vào quan trường, nội dung học tập, giáo dục chủ yếu gắn bó với “Tứ thư, Ngũ kinh”

Về tôn giáo, nhà nước không khuyến khích phát triển nhưng trong cách cai trị của các vua Nguyễn muốn kết hợp tinh thần của Nho và phật trong giáo dục nhân dân, riêng đối với Kitô giáo về sau (thời Thiệu Trị trở đi) thì tôn giáo này bị cấm và hạn chế phát triển

Về văn hóa, dưới triều Nguyễn có nhiều thành tựu về kiến trúc mang tầm di sản văn hóa thế giới “Công trình cố đô Huế”, “Nhã nhạc cung đình” Các bộ lịch

Trang 28

sử của Quốc sử quán triều Nguyễn như: Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện, v.v Tuy nhiên, triều Nguyễn đã trở lại dùng chữ Hán làm ngôn ngữ nhà nước và phương tiện giáo dục, hủy bỏ cải cách giáo dục của triều Tây Sơn trước đó phát triển tiếng nói, chữ viết dân tộc

Về xã hội, đầu thế kỷ XIX triều Nguyễn đã nhanh chóng khôi phục lại chế

độ phong kiến, và ổn định tình hình đất nước nhưng đến nửa thế kỷ XIX tình hình kinh tế - xã hội trở nên lạc hậu Khi thời đại tư bản chủ nghĩa đã xác lập trên phạm

vi toàn cầu, khi nguy cơ bị xâm lược bởi chủ nghĩa thực dân ngày càng đến gần, triều Nguyễn lúc này không đủ mạnh để ứng phó Nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân chống triều đình liên tiếp nổ ra như Phan Bá Vành (1821 - 1827), Nông Văn Vân (1833 - 1835), …

Từ thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã đẩy mạnh quá trình xâm lược Việt Nam

“Năm 1843 thủ tướng Pháp Ghi-đôt tuyên bố nước Pháp cần có hai đảm bảo ở Viễn Đông là một căn cứ quân sự ở biển Trung Quốc và một thuộc địa ở gần Trung Quốc” (Cao Huy Thuần, 2017, tr.49) Các vua đầu triều Nguyễn không phải không

hay biết về ý đồ xâm lược của Pháp Nhưng họ không có giải pháp chiến lược nào nâng cao năng lực trước họa ngoại xâm Để trả ơn tư bản Pháp, Gia Long tri phong

Bá Đa Lộc là thái tử thái phó Bi nhu quận công, giáo sĩ Pháp được tự do hoạt động, các võ quan Pháp được giữ lại làm quan Những người này hoạt động gián điệp ngay trong lòng chúng ta Cao Huy Thuần (2017) cho biết:

Đa-yo được Gia Long phong tước Tri lược hầu, chức Khâm sai đại thần Hồi còn chỉ huy hải quân của Nguyễn Ánh, y vẽ bản đồ bờ biển và đường thủy Việt Nam, rồi năm 1807 bí mật gửi tài liệu này về Pháp Sen-ho được phong tước toàn hầu, chức Chưởng cơ Sen-ho và Vanie thường liên lạc với hầu tước Ri-sơ-liơ để báo cáo tình hình Việt Nam (tr.45)

Năm 1819 “Sen-ho về Pháp để bày tỏ những phương sách mà ông ta có thể

cống hiến cho xứ sở” (Cao Huy Thuần, 2017, tr.47), rồi trở lại Việt Nam với chức

vụ khâm sai của Pháp hoàng

Trang 29

Các giáo sĩ Pháp còn điều tra tình hình Việt Nam, viết thư về khuyên chính

quyền Pháp xâm lược bởi: “Lãnh thổ Cochinchine màu mỡ có thể trồng trọt mọi

sản phẩm thuộc địa… sau hết là vàng bạc mà các mỏ rất phong phú” (Cao Huy

Thuần, 2017, tr.32) Từ những bước dò thám ban đầu của giáo sĩ, thực dân Pháp dần dần xâm lược Việt Nam qua từng bước như những gọng kìm siết chặt qua các con đường: truyền giáo để kích động một số giáo dân lạc hậu để gây hận thù giữa giáo và lương; tiến hành khiêu khích về quân sự Đến năm 1847, tàu chiến chúng lại tiếp tới khiêu khích Việt Nam Tháng 3/1847, hai tàu chiến Pháp vào Đà Nẵng, thuyền trưởng cùng giáo sĩ Pháp ngang nhiên đi thẳng vào công quán hăm dọa Một tháng sau, tàu chiến Pháp lại vào Đà Nẵng đánh phá chiến thuyền của triều đình Huế Sau khi hay tin Pháp uy hiếp Đà Nẵng, Vua Thiệu Trị tức giận và hạ chỉ

dụ nhằm siết chặt việc “cấm đạo”

Tháng 11/1847, vua Tự Đức lên ngôi tiếp tục thực hiện “cấm đạo” khắt khe hơn, lợi dụng điều này Pháp can thiệp vũ trang vào Việt Nam nhưng do tình hình tài chính và quân sự chưa cho phép nên Chính phủ Pháp chưa tiến hành xâm lược Việt Nam Đến năm 1857, linh mục Huc gửi thư cho Hoàng đế Pháp trình bày các

mối lợi mà Pháp có được khi chiếm Việt Nam: “Đà Nẵng nằm trong tay người

Pháp sẽ là một hải cảng không ai tấn công nổi và là một cứ điểm quan trọng nhất

để chế ngự Bắc Á” (Cao Huy Thuần, 2017, tr.56)

Lấy cớ trả thù việc triều đình Huế không nhận quốc thư, làm nhục quốc thể nước Pháp và bênh vực đạo Thiên Chúa bị khủng bố tại nước ta, Pháp đã kêu gọi triều đình Tây Ban Nha phối hợp hành động, mở cuộc tấn công Việt Nam bằng vũ lực

Ngày 01/09/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha tấn công xâm lược nước ta tại bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng Tại Đà Nẵng, chúng đã vấp phải sự kháng cự quyết liệt của quân và dân ta với kế sách “vườn không nhà trống” do Nguyễn Tri Phương chỉ huy Sau 5 tháng bị cầm chân tại chỗ, kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp bước đầu thất bại, chúng chuyển vào tấn công Gia Định (tháng 02/1859) Ở Gia Định, quân Pháp vấp phải sự kháng cự quyết liệt của các đội dân binh Tháng

Trang 30

3/1860, Nguyễn Tri Phương được cử vào mặt trận Gia Định mộ quân xây dựng phòng tuyến Chí Hòa trong tư thế “thủ hiểm”

Sau khi can thiệp vũ trang vào Trung quốc, tháng 02/1861, Pháp liền đưa quân về Gia Định rồi lần lượt chiếm Định Tường, Biên Hoà và Vĩnh Long Năm

1867, thực dân Pháp chiếm nốt Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên, mở rộng đánh chiếm Bắc Kỳ Ngày 19/5/1883, hơn 500 lính Pháp kéo ra Cầu Giấy đã lọt vào trận địa mai phục của quân ta Quân cờ đen lại phối hợp với quân của Hoàng Tá Viêm đổ ra đánh, nhiều sĩ quan và lính Pháp bị giết trong đó có Ri-vi-e Đến tháng 11/1873, Gác-ni-ê mang quân đánh thành Hà Nội, Tổng đốc Nguyễn Tri Phương

đã chỉ huy quân lính chiến đấu anh dũng đến hơi thở cuối nhưng không bảo vệ được thành Tháng 12/1873, Gác-ni-ê đem quân từ nội thành tiến lên hướng Sơn Tây khi đến Cầu Giấy thì bị quân Cờ đen do Hoàng Tá Viêm, Lưu Vĩnh Phúc chặn đánh, Gác-ni-ê tử trận Chiến thắng Cầu Giấy lần thứ nhất đã đem lại sự động viên lớn cho nhân dân ta trong cuộc chiến đấu chống Pháp nhưng triều đình Huế đã bỏ

lỡ thời cơ tự hãm mình vào thế thương thuyết với Pháp ký hiệp ước Giáp Tuất

1874, chính thức thừa nhận 6 tỉnh Nam Kỳ thuộc Pháp

Ngày 03/04/1882, quân Pháp do đại tá Rivie chỉ huy tấn công thành Hà Nội Quan quân triều đình do Hoàng Diệu lãnh đạo đã kiên quyết chống trả Khi chiếm xong thành Hà Nội, Pháp mở rộng đánh chiếm các tỉnh lân cận Đến tháng 7/1883, lợi dụng thời cơ Tự Đức mất, triều đình Huế rơi vào tình trạng chia rẽ lục đục, Pháp đánh chiếm cửa biển Thuận An Quân ta đã kháng cự quyết liệt nhưng do sức yếu nên đến chiều ngày 20/8/1883 quân ta thất thủ, nhà Nguyễn ký kết hiệp ước Hác-măng (25/08/1883) Không lâu sau đó, Pháp ký với triều đình Huế hiệp ước Pa-tơ-nốt (6/6/1884), Việt Nam chính thức trở thành nước “thuộc địa nửa phong kiến”

Như vậy, có thể thấy Trung Quốc, Việt Nam giai đoạn thế kỷ XIX là những nước đồng văn, đồng bệnh, đồng cảnh, đồng nạn Đứng trước sự phát triển vượt bậc hơn hẳn của thực dân phương Tây, Trung Quốc và Việt Nam đã bị các nước thực dân phương Tây xâm lược, thống trị, biến thành những nước thuộc địa

Trang 31

Trong thời điểm này, các luồng tư tưởng yêu nước, các kiến thức mới lạ từ phương Tây đã truyền bá vào Việt Nam qua Tan thư của Trung Quốc Ảnh hưởng của Tân Thư của Trung Quốc đối với Việt Nam đầu thế kỷ XX rất lớn: Qua Tân Thư, trí thức biết Hán học của Việt Nam hiểu được các trào lưu tư tưởng mới trong giới chính trị và tư tưởng Trung Hoa là muốn cải cách thể chế nhà nước Trung Hoa, đặng chấn hưng đất nước, chống lại phương Tây và Việt Nam cũng cần phải cải cách

Nhờ ảnh hưởng Tân thư, cụ Phan Bội Châu đã tổng kết thực tiễn thành lý luận sắc bén làm kim chỉ nam cho việc tìm đường canh tân cứu nước Phần lớn những ý tưởng của cụ Phan nhờ sự gợi mở của Tân thư mà trở nên minh xác, rõ ràng, có chỗ dựa về lý luận, tư tưởng để phát triển, theo đuổi Riêng với Phan Châu Trinh chủ trương tạm chấp nhận sự bảo hộ của Pháp, nâng cao dân trí, đấu tranh bằng con đường dân chủ, nghị trường để dần buộc Pháp trao trả độc lập

Các sĩ phu nhận ra sự yếu kém của đất nước, thấy được sự giàu mạnh của phương Tây chính là nhờ vào sức mạnh của khoa học kỹ thuật và thương mại, đây

là những vấn đề mà trước nay sự học Nho giáo vẫn coi khinh Và một phong trào dân tộc đã được các sĩ phu tiến bộ phát động phát triển sôi nổi khắp ba miền Bắc

- Trung - Nam ở nước ta những năm đầu thế kỉ XX

Bên cạnh Tân thư, Tân văn, phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX còn chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn và cuộc cách mạng Tân Hợi

1911 Chủ nghĩa Tam dân đã có ảnh hưởng lớn đến nhiều nhà yêu nước ở châu Á, trong đó có Việt Nam Sau khi tiếp xúc với bản cương lĩnh chính trị của tổ chức Trung Quốc Đồng minh hội (Trung Quốc), V.I Lênin (2005) đã viết:

Chủ nghĩa dân chủ trung thực và chiến đấu thấm sâu vào từng dòng chữ trong cương lĩnh của Tôn Dật Tiên… Trước mắt chúng ta là một hệ tư tưởng thực

sự vĩ đại của một dân tộc thực sự vĩ đại, một dân tộc chẳng những biết xót xa

về tình trạng nô lệ lâu đời của mình, chẳng những biết mơ ước đến tự do và bình đẳng, mà còn biết đấu tranh chống lại những kẻ đã áp bức Trung quốc hàng thế kỷ (tr.514)

Trang 32

Với Phan Bội Châu, năm 1905, tại Nhật được Khuyễn Dưỡng Nghị giới thiệu, Phan Bội Châu đã có hai cuộc hội kiến với Tôn Trung Sơn Cụ Phan đã gặp Tôn Văn hai lần tại khách sạn Trí Hoà Đường thuộc Hoành Tân (Yokohama) Qua các cuộc tiếp xúc này, tư tưởng quân chủ ở cụ Phan bắt đầu có sự lung lay, tư tưởng dân chủ của chủ nghĩa Tam dân cũng bắt đầu có sự tác động đến nhận thức của cụ Phan Trong tác phẩm hồi ký “Phan Bội Châu niên biểu”, Cụ đã viết: Ông Tôn vì đọc qua bản “Việt Nam vong quốc sử”, ông biết trong óc tôi chưa thoát khỏi tư tưởng quân chủ nên ông hết sức bài bác đảng quân chủ lập hiến

là hư nguỵ, mà kết thúc nghị luận thì cốt muốn Đảng nhân dân Việt Nam gia nhập Trung Quốc Cách mệnh đảng Hễ đến lúc Trung Quốc Cách mệnh đảng thành công thì đưa cả toàn lực dắt hết các nước bị bảo hộ ở Á châu đồng thời được độc lập mà bước thứ nhất là viện trợ cho Việt Nam trước (Phan Bội Châu, 1971, tr 113-114)

Nhờ Tôn Trung Sơn giới thiệu Phan Bội Châu đã có cuộc gặp gỡ với Cung

Kỳ Thao Thiên - một nhà cách mạng chân chính của Nhật Bản Cung Kỳ Thao Thiên đã chỉ cho Phan Bội Châu thấy bản chất đế quốc của giới cầm quyền tư sản

Nhật Bản lúc bấy giờ Ông nói: “Nhật Bản làm gì giúp cho các ngài được Nhật

Bản chính trị gia tất thảy đều giàu về phần dã tâm mà nghèo về phần nghĩa hiệp Ông nên khuyên các thanh niên học tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Đức để kết giao thế giới cho thiệt nhiều ” (Phan Bội Châu, 1971, tr.186) Nhờ thế mà ngay từ

năm 1908, Phan Bội Châu đã tiếp nhận tư tưởng liên kết cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới Trên cơ sở tiếp cận với các nhà chính trị châu Á lưu vong tại Nhật, Phan Bội Châu đã sáng lập ra Đông Á Đồng Minh hội với mục đích liên lạc giữa các tổ chức cách mạng Đông Á, dìu dắt giúp đỡ nhau nổi dậy lật đổ ách thống trị của thực dân phương Tây

Qua tiếp xúc với Tôn Trung Sơn và các lưu học sinh Trung Quốc thuộc chi

bộ Vân Nam của Trung Quốc Đồng Minh hội và làm biên tập cho tờ Vân Nam tạp chí, Phan Bội Châu đã tiếp thu tư tưởng dân chủ của chủ nghĩa Tam dân Sự chuyển biến này được cụ Phan thừa nhận:

Trang 33

Tôi vì ăn ở, đi lại với người Trung Quốc đã khá lâu mà khiến cho tư tưởng của tôi cũng ngấm ngầm xoay về dân chủ Sở dĩ chưa dám kêu to nói lớn là

vì kế hoạch gốc tự thuở trước chưa thể thay đổi được, nhưng ở trong óc đã chứa sẵn động cơ thế nào cũng một phen thay đổi (Phan Bội Châu, 1971, tr.149)

Tháng 10/1911, cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc bùng nổ, chỉ không đầy

3 tháng, quân cách mạng đã giành thắng lợi lớn, triều đình Mãn Thanh sụp đổ, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc thành lập ở Nam Kinh Tin lành đó mang đến cho Phan Bội Châu và các đồng chí của ông một niềm phấn khởi mới Khắp vùng Đông Nam Á lúc này đều hướng về Trung Quốc cách mạng Phan Bội Châu (1971) phân tích tình hình:

Chính phủ Trung Hoa mới không hủ bại như chính phủ Trung Hoa cũ, Trung Hoa tất nối theo Nhật Bản làm một nước mạnh Nếu hai nước Trung, Nhật thảy đổ toàn lực mà kình với Âu châu thì chẳng những Việt Nam mà cả Ấn

Độ, Phi Luật Tân cùng đồng thời độc lập cả thảy (tr.217)

Ngay sau đó, Phan Bội Châu từ Thái Lan lập tức quyết định lên đường trở lại Trung Quốc hoạt động Cùng lúc đó, một số nhà cách mạng lâu nay náu mình chờ thời trên đất Trung Quốc cũng tập trung nhau lại ở Quảng Đông là trung tâm của cách mạng Trung Quốc lúc đó Đồng thời số thanh niên trong nước cũng bí mật trốn sang Trung Quốc Nguyễn Trọng Thường - một thanh niên yêu nước từ

Hà Nội sang cho biết:

Việc cách mạng Trung Hoa thành công có ảnh hưởng to lớn đến nước ta, nhân dân phấn khởi hơn trước nhiều lắm, nếu bây giờ ở ngoài tạo được thanh thế thì không lo gì khí thế bên trong không sống lại được (Trần Huy Liệu, Văn Tạo & Hướng Tân, 1958, tr.82)

Nhân dân ta phấn khởi tin tưởng đến mức độ nhiều nhà công khai treo ảnh Tôn Trung Sơn Kết quả là trên cơ sở các lực lượng yêu nước, cách mạng được tập hợp đông đảo Đến đầu tháng 6/1912, một cuộc Hội nghị có đông đủ đại biểu

Trang 34

ba xứ Trung - Nam - Bắc tại Quảng Châu đã quyết định thành lập tổ chức cách mạng mới lấy tên là Việt Nam Quang Phục hội

Tôn chỉ và tổ chức Việt Nam Quang phục hội hoàn toàn mô phỏng Trung Quốc Đồng Minh hội Với sự ra đời của Việt Nam Quang phục hội, Phan Bội Châu

và phong trào dân tộc do ông lãnh đạo đã hoàn toàn chuyển hẳn sang lập trường dân chủ cộng hoà - tư tưởng cốt lõi của chủ nghĩa Dân quyền trong chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn

Tháng 02/1912, Phan Bội Châu đến Nam Kinh để gặp Tôn Trung Sơn Vì công việc quá bận rộn, Tôn Trung Sơn chỉ tiếp Phan Bội Châu được vài phút nên

về cơ bản cuộc gặp không mang lại được một thoả thuận đáng kể nào Tôn Trung Sơn đã cử Hoàng Hưng thay mặt tiếp Phan Bội Châu Khi cụ Phan đề nghị Trung Quốc viện trợ giúp Việt Nam thì Hoàng Hưng đã trả lời:

Viện Việt là nghĩa vụ của bọn tôi mà không thể từ được, nhưng lúc này bàn tới còn quá sớm Nay chỉ giúp các ngài được một việc là tuyển phái học sinh Việt Nam vào học đường hay quân dịch Trung Hoa, chứa sẵn nhân tài chờ

cơ hội, dẫu có chậm trễ cũng không quá 10 năm ngoài chuyện ấy, không việc

gì giúp các ngài được (Phan Bội Châu, 1971, tr.69)

Trần Huy Liệu, một cựu đảng viên của Việt Nam Quốc Dân đảng, trong tác

phẩm Tài liệu tham khảo Lịch sử cách mạng cận đại Việt Nam đã viết:

Học thuyết Tôn Văn và chủ nghĩa Tam dân đã mở ra cho các nhà cách mạng cấp tiến Việt Nam một phương trời mới, có người tìm cách biến chủ nghĩa Dân tộc Trung Quốc thành chủ nghĩa Dân tộc Việt Nam bằng cách đem vào nội dung Việt Nam (Trần Huy Liệu, Văn Tạo & Hướng Tân, 1958, tr.78) Chính sự truyền bá chủ nghĩa Tam dân trong những năm đầu thập niên 20 của thế kỷ XX đã đi tới sự hình thành nên các nhóm tín đồ của chủ nghĩa Tam dân

- cơ sở cho sự ra đời của Việt Nam Quốc Dân đảng (24/12/1927) Đó là các nhóm trí thức yêu nước tư sản và tiểu tư sản tập hợp trong Nam đồng thư xã của Phạm Tuấn Tài, Cường Học thư xã của Trần Huy Liệu, Việt Nam Quốc Dân của Nguyễn Khắc Nhu, và nhóm của Hoàng Văn Tùng ở Thanh Hoá Trên cơ sở các tổ chức

Trang 35

kể trên, Nguyễn Thái Học đã cùng với Nam Đồng Thư xã tập hợp, thống nhất lại thành lập ra Việt Nam Quốc Dân đảng năm 1927 Về cơ cấu tổ chức và tư tưởng chính trị Việt Nam Quốc Dân đảng đều có sự ảnh hưởng của Trung Quốc Quốc Dân đảng và chủ nghĩa Tam dân

Trong hoạt động thực tế, các chí sĩ yêu nước Việt Nam cũng nhận được sự gợi mở, giúp đỡ nhiệt tình của những nhà cách mạng Trung Quốc

Khi Phan Bội Châu mới đặt chân đến Nhật Bản chưa có mối liên hệ nào thì Lương Khải Siêu là người giới thiệu ông với các chính khách Nhật Bản, đưa đến gặp những người có uy tín như Bá tước Đại Ôi, Tử tước Khuyển Dưỡng Nghị Lương Khải Siêu còn đọc, đề tựa cuốn Việt Nam vong quốc sử và in giúp cuốn này và cuốn Khuyến quốc tư trợ du học văn Cuộc gặp gỡ của ông với Lương Khải Siêu, Tôn Trung Sơn trên đất Nhật có ảnh hưởng lớn đến những chuyển biến về

tư tưởng, đường lối của ông sau này Lương Khải Siêu khuyên Phan Bội Châu nên viết nhiều bài văn nói lên thảm trạng của đất nước, mưu độc cướp nước diệt chủng của giặc để dư luận thế giới biết và bênh vực mình Mặt khác nên cổ động cho nhiều thanh niên xuất dương du học để chấn hưng dân khí, mở mang dân trí, chờ

thời cơ Cụ Phan tâm sự: “Nghe Lương nói, óc tôi mở rộng, mắt tôi sáng ra, nghĩ

lại những tư tưởng cũng như hoạt động của tôi trước kia thật là lông bông, không

có điều gì khả thủ” (Phan Bội Châu, 2015, tr.58) Sau này, chính Phan Bội Châu

đã thừa nhận, do trao đổi ý kiến với nhiều đảng viên đảng cách mạng Trung Quốc nên ngày càng thấm nhuần tư tưởng dân chủ, tuy chưa mạnh dạn phát biểu nhưng trong lòng đã bắt đầu có ý muốn thay đổi Cách mạng Tân Hợi năm 1911 thắng lợi, Phan Bội Châu yên tâm từ bỏ tư tưởng quân chủ lập hiến, kêu gọi nhân dân gương cao ngọn cờ dân chủ cộng hoà

Phan Chu Trinh, sau khi tiếp xúc với Tân thư, Tân văn từ Trung Quốc đã sang Trung Quốc để tìm hiểu tình hình, tìm kiếm con đường cải cách Năm 1905, Phan Chu Trinh cùng Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng đi vào miền Trung, miền Nam gặp gỡ và hội ý với các sĩ phu tiến bộ, rồi lên căn cứ Đề Thám quan sát tình hình Sau chuyến đi đó, Phan Chu Trinh thấy cần phải đi tìm hướng mới Phan Chu Trinh sang Nhật gặp Phan Bội Châu để tìm kế cứu nước Trong chuyến đi

Trang 36

Nhật này, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu đã gặp gỡ, đàm đạo với Lương Khải Siêu ở Yokohama Phan Bội Châu (1971) đã kể lại chuyến gặp gỡ đó:

Tôi ngày xưa cùng ông vẫn là bạn đồng tâm, từ khi chia rẽ nhau ở Hương Cảng, tuy rằng trời bể xa khơi, mà hồn mơ quanh quẩn hơi tiếng thông nhau, hơi hai mươi năm, lúc nào cũng thế Tôi còn nhớ khi ông sang Nhật tìm tôi, gặp nhau ở nhà Bính Ngọ Hiên tại Hoành Tân, ông bảo tôi rằng: “Cả nước ngủ mê, tiếng thở như sấm mà bác ở ngoài muôn dặm kêu gào hò hét, có được công hiệu bao nhiêu, tất phải có người ở trong gõ trán xách tai người

mà đánh thức dậy, thì họa chăng lòng người không đến nỗi chết hết Nay tôi

về, tôi làm Mã chi ni, còn bác ở ngoài làm Gia lý ba đích, chia ra hai đường

mà cùng đi tới, chúng ta lấy cái chết thề cùng nhau có thủy có chung” Ông nói xong, tôi kính cẩn vâng lời (tr.71)

Năm 1906, Phan Chu Trinh sang Quảng Đông (Trung Quốc) gặp Phan Bội Châu, trao đổi ý kiến rồi cùng Phan Bội Châu sang Nhật Bản, tiếp xúc với nhiều nhà chính trị (trong số đó có Lương Khải Siêu), tìm hiểu về duy tân Tại Quảng Châu, Phan Chu Trinh gặp Phan Bội Châu đang ở nhà của Lưu Vĩnh Phúc Lưu Vĩnh Phúc đã giúp đỡ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh trong thời gian hoạt động tại Trung Quốc Phan Bội Châu ghi lại sự kiện này với sự biết ơn những người Trung Quốc đã giúp đỡ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh Lúc Phan Chu Trinh qua Hong Kong, Phan Bội Châu từ Nhật sang đón và ghi lại cuộc trùng phùng ở đó:

Hạ tuần tháng hai, cụ Tây Hồ tới Hương Cảng, cụ cũng qua ngay thăm ông Lưu (Vĩnh Phúc), ông Nguyễn (Thiện Thuật), áo cụt, giày rách, đầu tóc bồm xồm, trông cụ như phường lao động nước ta, bởi vì cụ thay lốt làm một tên nấu bếp ở dưới tàu, mà cũng nhờ thủ đoạn ông Lý Tuệ chỉ lối Cụ vào nhà Lưu, thấy chúng tôi, chưa chào đã cười, tôi dậy bắt tay cụ, vui không thể nói được (Phan Bội Châu, 1971, tr.62)

Tại nhà Lưu vĩnh Phúc, nơi Tán tương Nguyễn Thiện Thuật tá túc, hai vị lãnh đạo họ Phan - một của Duy tân hội, một của phong trào Duy tân công khai - bàn luận chính trị Phan Tây Hồ đã chỉ trích chế độ quân quyền thậm tệ, cho rằng cái

Trang 37

tệ quân chủ chuyên chế không trừ được thì tuy phục quốc cũng chưa phải là hạnh phúc

Trong cuộc chiến đấu của nhân dân ta chống âm mưu thôn tính toàn bộ nước

ta của thực dân Pháp, quân Cờ đen của tướng Lưu Vĩnh Phúc đã góp phần không nhỏ vào việc ngăn chặn và làm chậm bước tiến xâm lược của thực dân Pháp Ngày 21/12/1873, quân Cờ đen đã phối hợp cùng với nhân dân Bắc Kỳ tiêu diệt đội quân của Gácniê và giết chết tên tướng này Sau đó, năm 1883 đội quân của ông lại cùng nhân dân ta tiêu diệt gần 100 tên Pháp trong đó có tướng Henri Riviere

Trong Niên biểu, Phan Bội Châu đã viết về Lưu Vĩnh Phúc: “Lúc giặc Pháp hai

lần tấn công Hà Nội, nếu không có đám quân ông thì ta không có một giọt máu nào để rửa cổ giặc, xét ra ông cũng là một anh hùng” (Phan Bội Châu, 1971,

tr.61)

Như vậy, sự tương đồng về văn hóa, địa lý, chính trị xã hội và mối liên hệ gắn kết giữa những nhà yêu nước của Việt Nam và Trung Quốc đã tạo tiền đề cho mối quan hệ gắn bó giữa hai Đảng và nhân dân hai nước sau này

1.3 Cùng chung ý thức hệ

Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, ngay từ năm 1922 khi còn hoạt động ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã thường xuyên gặp gỡ trao đổi ý kiến với những người thanh niên tiến bộ của Trung Quốc sang Paris học tập như Chu Ân Lai, Lý Phú Xuân, Thái Sướng Những người cộng sản Việt Nam luôn nêu cao tinh thần quốc tế vô sản với những hoạt động thiết thực kết nối giữa phong trào cộng sản ở Việt Nam và Trung Quốc, trực tiếp tham gia đồng hành cùng các hoạt động, các phong trào cộng sản của Đảng cộng sản Trung Quốc Trong cuộc đấu tranh gian khổ với kẻ thù lớn mạnh, các nhà hoạt động cách mạng Việt Nam trên đất Trung Quốc cũng luôn nêu cao tinh thần quốc tế vô sản Khi cuộc khởi nghĩa Quảng Châu bùng nổ tháng 12/1927, hơn 30 thanh niên Việt Nam đang theo học ở trường

sĩ quan Hoàng Phố đã hăng hái tham gia cuộc khởi nghĩa chống bọn phản động Quốc dân đảng do Trương Thái Lôi, Bí thư tỉnh uỷ Quảng Đông cùng với Diệp

Trang 38

Đĩnh, Diệp Kiếm Anh, Nhiếp Vinh Trăn… lãnh đạo bằng tinh thần vô sản trong sáng

Từ 1924 đến 1927, Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu tích cực hoạt động cách mạng, điều ấy không chỉ có tác động trực tiếp đến phong trào cách mạng Việt Nam

mà còn góp phần quan trọng trong phong trào cách mạng Trung Quốc

Đối với cách mạng Trung Quốc, từ trước đều là mối quan hệ tương hỗ với cách mạng giai cấp vô sản quốc tế Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu, một mặt tiến hành làm công tác tuyên truyền và tổ chức cho phong trào cách mạng Việt Nam, chuẩn bị tốt cho việc thành lập chính đảng của giai cấp vô sản tại Việt Nam Một mặt, Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí của mình trực tiếp tham gia phong trào của Đảng Cộng sản Trung Quốc và đấu tranh cách mạng của nhân dân Trung Quốc Mặt khác, thời gian đó Nguyễn Ái Quốc cũng đặt nền móng vững chắc cho mối quan hệ tương hỗ, tương trợ, cùng đấu tranh giữa nhân dân hai nước Việt Nam

- Trung Quốc qua các thời kỳ

Trên tinh thần đó, đây cũng là cơ sở để mối tình hữu nghị được phát huy trong các cuộc kháng chiến chống Nhật hay cuộc chiến tranh giải phóng của Trung Quốc, hoặc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của Việt Nam

Đối với Quốc tế Cộng sản, những hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Quảng Châu trong giai đoạn 1924 - 1927 đã làm phong phú hơn về mặt lý luận và thực tiễn của Quốc tế Cộng sản trong việc lãnh đạo cách mạng giai cấp vô sản toàn thế giới

Trong vai trò là thành viên của Quốc tế Cộng sản khu vực phương Đông và đại diện của Hội Nông dân quốc tế, một mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh tích cực tham gia hoạt động của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Quảng Châu, liên lạc, tổ chức kết nối các nhà hoạt động cách mạng từ các quốc gia bị áp bức tại Quảng Châu cùng đấu tranh, đưa vào thực tiễn tôn chỉ Quốc tế Cộng sản trong việc liên kết cùng đấu tranh giai cấp vô sản trên toàn thế giới

Trang 39

Mặt khác, ở Quảng Châu, Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể tìm hiểu được tình hình phong trào cách mạng Trung Quốc, tình hình hoạt động của Người và các đồng chí của Người ở Quảng Châu, tình hình của các nhà hoạt động cách mạng đến từ các quốc gia, các dân tộc bị áp bức, tình hình thực tế của bản thân cũng như cách phân tích, đánh giá để báo cáo với Quốc tế Cộng sản hoặc viết thành các bài viết đăng trên tạp chí “Thông tin quốc tế” của Quốc tế Cộng sản

Điều này đã gia tăng ảnh hưởng, tăng cường mối liên hệ giữa Quốc tế Cộng sản và các phong trào cách mạng ở các nước phương Đông, thúc đẩy phát triển phong trào cách mạng giai cấp vô sản trên phạm vi toàn thế giới

1.4 Sự gắn kết giữa Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh với các nhà lãnh đạo thế hệ đầu của Trung Quốc

Hồ Chí Minh là nhà cách mạng, nhà ngoại giao kiệt xuất, là Chủ tịch nước kiêm Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tiên phong xây dựng nền ngoại giao Việt Nam hiện đại Trong những giai đoạn đầu của cách mạng Việt Nam khi đất nước còn nhiều khó khăn, Người đã trực tiếp soạn thảo đường lối đối ngoại, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện các hoạt động đối ngoại, đưa ngoại giao trở thành một mặt trận - một mặt trận quan trọng

mà Việt Nam vẫn còn bỏ lỡ và nhiều thiếu sót Hoạt động ngoại giao của Hồ Chí Minh đã đóng góp to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước - minh chứng rõ nét nhất cho con đường đi đúng đắn mà Người đã vạch ra và thực hiện Quan hệ quốc tế hay quan hệ cá nhân đều là một hình thức ngoại giao, ngoại giao của một cá nhân cũng chính là đại diện cho văn hóa của một dân tộc trong sự giao lưu với văn hóa của các dân tộc khác Điều đó không chỉ thể hiện tư tưởng của Hồ Chí Minh mà nó còn là thể hiện tư tưởng của dân tộc Việt Nam, qua tư tưởng ấy những con người tiến bộ trên thế giới sẽ thấy được tư tưởng, văn hoá và cùng chung tay giúp đỡ cách mạng Việt Nam

Đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước ở Việt Nam lâm vào cuộc khủng hoảng

về đường lối cứu nước và lực lượng lãnh đạo Ngày 05/06/1911, tại bến cảng Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm con đường cứu nước Từ năm 1911 đến 1917,

Trang 40

Người đã đi nhiều nơi trên thế giới, với những chuyến đi ấy, lòng yêu nước của Nguyễn Tất Thành có những chuyển biến mới Người nhận thấy rằng ở đâu bọn

đế quốc, thực dân cũng tàn bạo, độc ác; ở đâu những người lao động cũng bị áp bức và bóc lột dã man

Đầu tháng 12/1917, Nguyễn Tất Thành về Pháp hoạt động, hăng hái tham gia vào phong trào yêu nước và phong trào đấu tranh của công nhân tại đây Lúc

ấy, các phong trào đó đang phát triển mạnh dưới ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười Nga, Người đã nhà chóng trở thành nhân vật lãnh đạo chủ chốt của tổ chức Hội người Việt Nam yêu nước tại Pari Với nhận thức, hoạt động của Nguyễn Ái Quốc tuy mới bước đầu nhưng rất đúng hướng, là điều kiện để Người đến với chủ nghĩa Lênin, tìm con đường cứu nước đúng đắn

Giữa tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I Lênin đăng trên báo Nhân đạo của Pháp Luận cương đã giúp Nguyễn Ái Quốc khẳng định, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc phải đi theo con đường cách mạng vô sản Từ đây, Người đã tìm ra con đường cứu nước, cứu dân đúng đắn: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” (Hồ Chí Minh, Tập 3, 1995, tr.314); xác định những vấn đề cơ bản của đường lối giải phóng dân tộc

Sau một thời gian hoạt động ở châu Âu, Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy muốn phát triển cách mạng trong nước cần xây dựng, phát triển lực lượng Vấn đề quan trọng là chọn địa bàn để tập hợp, giáo dục, phát triển lực lượng Nguyễn Ái Quốc đã chọn địa bàn Quảng Châu, Trung Quốc nhằm gây dựng hạt giống, cơ sở đầu tiên cho cách mạng Việt Nam

Đối với những người yêu nước Việt Nam thì Quảng Châu là “vùng đất thánh” Năm 1923, tổ chức đầu tiên lấy chủ nghĩa Mác làm tư tưởng chỉ đạo của Việt Nam, Tâm tâm xã, đã ra đời ở đây (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1977, tr 319-322) Tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc lựa chọn một số thanh niên tích cực trong Tâm tâm xã để tổ chức thành nhóm Cộng sản đoàn (tháng 2/1925) Đến tháng

Ngày đăng: 29/06/2023, 23:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w