Những công trình nghiên cứu như trên đã giới thiệu văn hóa phong tục, tín ngưỡng của người Việt chủ thể về sự khác biệt giữa các vùng văn hóa không gian và các thời kỳ văn hóa thời gian
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TẠ ĐỨC TÚ
PHONG TỤC VÀ TÍN NGƯỠNG VIỆT NAM QUA
TƯ LIỆU HÁN NÔM THỜI TRUNG ĐẠI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TẠ ĐỨC TÚ
PHONG TỤC VÀ TÍN NGƯỠNG VIỆT NAM QUA
TƯ LIỆU HÁN NÔM THỜI TRUNG ĐẠI
Ngành: Văn hóa học
Mã số: 9229040
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN KIM CHÂU
TS NGUYỄN NGỌC QUẬN
Người phản biện độc lập: PGS.TS PHAN THỊ HỒNG
PGS.TS NGUYỄN TUẤN CƯỜNG
Người phản biện 1: TS NGUYỄN VĂN HIỆU
Người phản biện 2: PGS.TS NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP
Người phản biện 3: TS NGUYỄN THỊ NGUYỆT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận án Phong tục và tín ngưỡng Việt Nam qua tư liệu
Hán Nôm thời trung đại là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không có sự trùng
lặp, sao chép từ bất cứ công trình nghiên cứu nào
Tác giả luận án
Tạ Đức Tú
Trang 4DẪN NHẬP 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Mục đích nghiên cứu 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 13
4.1 Đối tượng nghiên cứu 13
4.2 Phạm vi nghiên cứu 15
5 Phương pháp nghiên cứu 16
6 Đóng góp của luận án 19
7 Bố cục của luận án 20
CHƯƠNG 1 PHONG TỤC, TÍN NGƯỠNG VÀ NGUỒN TƯ LIỆU HÁN NÔM NGHIÊN CỨU PHONG TỤC, TÍN NGƯỠNG 21
1.1 Khái niệm và nội dung của phong tục, tín ngưỡng 21
1.1.1 Khái niệm và nội dung của phong tục 21
1.1.1.1 Khái niệm phong tục 21
1.1.1.2 Nội dung phong tục 26
1.1.2 Khái niệm và nội dung của tín ngưỡng 30
1.1.2.1 Khái niệm tín ngưỡng 30
1.1.2.2 Nội dung tín ngưỡng 36
1.2 Nguồn tư liệu nghiên cứu phong tục, tín ngưỡng 42
1.2.1 Tổng quan nguồn tư liệu Hán Nôm về phong tục, tín ngưỡng 42
1.2.2 Địa chí và phạm vi nguồn tư liệu nghiên cứu 47
1.2.3 Hương ước và phạm vi nguồn tư liệu nghiên cứu 52
Tiểu kết Chương 1 63
Trang 5CHƯƠNG 2 NỘI DUNG PHONG TỤC QUA TƯ LIỆU ĐỊA CHÍ VÀ HƯƠNG
ƯỚC HÁN NÔM 65
2.1 Phong tục lễ tết qua tư liệu địa chí và hương ước Hán Nôm 65
2.1.1 Phong tục lễ tết Nguyên đán qua tư liệu địa chí Hán Nôm 65
2.1.2 Các tết khác trong năm qua tư liệu địa chí Hán Nôm 71
2.1.3 Phong tục tết Nguyên đán và các tết khác qua tư liệu hương ước Hán Nôm 76
2.2 Phong tục hôn nhân qua tư liệu địa chí và hương ước Hán Nôm 82
2.2.1 Khái quát về phong tục hôn nhân 82
2.2.2 Phong tục hôn nhân qua tư liệu địa chí Hán Nôm 83
2.2.3 Phong tục hôn nhân qua tư liệu hương ước Hán Nôm 84
2.3 Phong tục tang ma qua tư liệu địa chí và hương ước Hán Nôm 88
2.3.1 Khái quát về phong tục tang ma 88
2.3.2 Phong tục tang ma qua tư liệu địa chí Hán Nôm 90
2.3.3 Phong tục tang ma qua tư liệu hương ước Hán Nôm 92
2.4 Phong tục hương ẩm qua tư liệu hương ước Hán Nôm 101
2.4.1 Khái quát về phong tục hương ẩm 101
2.4.2 Nội dung phong tục hương ẩm qua tư liệu hương ước 106
2.4.2.1 Khao vọng khoa bảng 109
2.4.2.2 Khao vọng hương chức, quan viên 111
2.4.2.3 Khao vọng hương lão, nhập hương 114
Tiểu kết Chương 2 117
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG TÍN NGƯỠNG QUA TƯ LIỆU ĐỊA CHÍ VÀ HƯƠNG ƯỚC HÁN NÔM 119
3.1 Thờ cúng thần, Phật qua qua tư liệu địa chí và hương ước Hán Nôm 119
3.1.1 Khái quát về việc thờ cúng thần, Phật trong văn hóa Việt Nam 119
3.1.2 Thờ cúng thần, Phật qua tư liệu địa chí Hán Nôm 120
Trang 63.1.3 Thờ cúng thần, Phật qua tư liệu hương ước Hán Nôm 127
3.2.2 Thờ cúng tổ tiên qua tư liệu địa chí Hán Nôm 133
3.2.1 Khái quát việc thờ cúng tổ tiên trong văn hóa Việt Nam 133
3.2.2 Việc thờ cúng tổ tiên qua tư liệu địa chí Hán Nôm 135
3.3 Một số lễ cúng khác qua tư liệu địa chí và hương ước Hán Nôm 139
3.3.1 Cúng giỗ Hậu thần 139
3.3.2 Cúng lễ cầu mưa và cúng lễ Thường tân 142
3.4 Sự phong phú của tín ngưỡng dân gian qua địa chí và hương ước Hán Nôm 148
3.4.1 Sự phong phú của tín ngưỡng dân gian qua tư liệu địa chí Hán Nôm 148
3.4.2 sư phong phú của tín ngưỡng dân gian qua tư liệu hương ước Hán Nôm 153
Tiểu kết Chương 3 156
KẾT LUẬN 158
TÀI LIỆU THAM KHẢO 163
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Các ngày vía Phật trong năm……….…143 Bảng 3.2 Vị trí kỳ mục, hương chức tham gia cúng đình ……… 150 Bảng 3.3 Lễ tiết trong năm theo tín ngưỡng Việt Nam được phản ánh qua tư liệu
địa chí……….…165
DANH MỤC VIẾT TẮT
ĐNNTC: Đại Nam nhất thống chí GĐTTC: Gia Định thành thông chí
Trang 8DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Trong văn hóa, phong tục và tín ngưỡng là một bộ phận quan trọng không tách rời nhau Hai nội dung này thuộc nền tảng văn hóa tinh thần, là thực tiễn trong tổ chức đời sống của con người trước môi trường tự nhiên và xã hội Do vậy, từ trước tới nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu bàn về các khía cạnh của phong tục và tín ngưỡng Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu trong nước về phong tục cũng như tín ngưỡng chủ yếu là mô tả nhân loại học Những công trình viết về văn hóa phong tục, tín ngưỡng đã phản ánh cơ bản đời sống văn hóa tinh thần phong phú của người Việt Qua những công trình ấy, chúng ta thấy
được bức tranh đa diện của từng vùng quê, từng tập tục, như Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, Văn minh Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên, Đất lề quê thói của Nhất Thanh hay Nếp cũ của Toan Ánh Những công trình nghiên cứu như
trên đã giới thiệu văn hóa phong tục, tín ngưỡng của người Việt (chủ thể) về sự khác biệt giữa các vùng văn hóa (không gian) và các thời kỳ văn hóa (thời gian) Đồng thời, các tác giả ấy đã nêu lên những nhận xét, đánh giá của mình đối với những phong tục, tín ngưỡng ấy Nhưng việc đánh giá ấy mới chỉ theo hướng tiếp cận xưa và nay Các tác giả xem nếp xưa được biểu hiện bởi việc con người còn giữ những nét truyền thống, đời sống tinh thần chủ yếu dựa vào phong tục, đồng thời thực hiện hành vi tín ngưỡng phổ biến Và ngược lại, các tác giả này xem biểu hiện của đời sống văn hóa tinh thần ngày nay1 thì những nét truyền thống kia không còn được thể hiện một cách trọn vẹn Có nghĩa là con người Việt Nam càng ở giai đoạn hiện đại hơn thì nhạt hơn về phong tục, tín ngưỡng Cách tiếp cận như vậy có hoàn toàn chính xác trong một cộng đồng người có đời sống tinh thần phong phú và đời sống tâm lý giàu bản sắc như người Việt chúng ta?
1 Tại thời điểm soạn sách
Trang 9Vấn đề chúng tôi quan tâm ở chỗ cái xưa ấy là những cái xưa nào, không gian nào, thời gian nào; cơ chế vận hành hay duy trì cái xưa ấy là gì? Những cái xưa ấy đến lúc nào thì bị vỡ cấu trúc, buộc phải thay đổi; nguyên nhân và quá trình thay đổi ấy diễn ra như thế nào?
Qua quá trình khảo cứu tư liệu Hán Nôm Việt Nam, dưới sự chấp bút của các nhà Nho phần đông theo đường khoa bảng, các tác phẩm của họ mang đậm dấu ấn của cuộc sống đương thời Chúng tôi thấy rằng, tuy ở các lĩnh vực khác nhau nhưng người viết đều chú trọng phản ánh thực tiễn xã hội Kể cả những tác phẩm chí quái, truyền kỳ… thì bối cảnh, chi tiết của nó cũng là xuất phát từ một thực tiễn nào đó Đặc biệt, các mảng đề tài về địa lý và lịch sử thì yếu tố thực tiễn
xã hội và đời sống con người không thể không được nói tới
Khi chúng tôi chú ý đến mảng phong tục, tín ngưỡng được ghi chép, phản ánh như thế nào trong tư liệu Hán Nôm thì phát hiện hầu hết các nhà biên soạn sách Hán Nôm đều có sự quan tâm đến phong tục cũng như tín ngưỡng Trong sách Hán Nôm, chúng ta cần phân biệt biên soạn với sáng tác Biên soạn sách bao giờ cũng gắn với những mục tiêu và phương pháp cụ thể, kết quả của nó sẽ là một thành quả khoa học về một lĩnh vực khoa học hoặc thực tiễn nào đó Trong khi sáng tác là thiên hướng cá nhân, sáng tác của các tác giả Hán Nôm ở thời trung đại chủ yếu là thi ca, từ phú
Kết nối với tư liệu viết về phong tục, tín ngưỡng hiện nay được viết bằng chữ Quốc ngữ, chúng tôi thấy rằng chưa có công trình nào nghiên cứu có hệ thống về giá trị văn hóa của phong tục và tín ngưỡng được phản ánh qua tư liệu Hán Nôm Trong khi thực tế mảng tư liệu Hán Nôm hiện tồn phản ánh rất phong phú và “thâm nhập” mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của người Việt trong khoảng mười thế kỉ sử dụng chữ Hán và chữ Nôm Trong đó, những giá trị về văn học, lịch sử, văn hóa, xã hội là đặc biệt phong phú Sự phong phú của phong tục, tín ngưỡng mà tư liệu Hán Nôm phản ánh bắt nguồn từ quan điểm tiếp cận của
Trang 10người xưa Do mỗi vùng miền có không gian địa lý, có lịch sử và lối sinh hoạt khác nhau khiến cho đời sống tinh thần và vật chất của họ cũng khác hẳn Các phản ánh phong tục, tín ngưỡng trong tư liệu Hán Nôm bao giờ cũng cụ thể, cả về không gian lẫn thời gian Nhiều tác giả còn chú trọng về tổng kết, so sánh giữa vùng này với vùng khác2 Những biên chép như thế, trong cùng đề tài về phong tục và tín ngưỡng lại rất ít xuất hiện ở các tác giả hiện đại Tuy nhiên, do mục đích biên soạn và quan niệm sáng tác của thời trung đại mà các tác giả Hán Nôm Việt Nam rất ít có sự kết nối, kế thừa nhau trong phản ánh Việc này một phần do
trong tổ chức đời sống cộng đồng, người Việt quan niệm Trống làng nào làng ấy
đánh, thánh làng nào làng ấy thờ 3
Mặt khác, quan trọng hơn, chính là do điều kiện về lưu hành sách vở và mục đích biên soạn của từng tác giả hoặc tập thể tác giả khác nhau Chính mục đích biên soạn đã dẫn tới việc phản ánh và đánh giá về phong tục, tín ngưỡng trong tác phẩm của họ khác đi, mặc dù cũng là nói đến những con người đó, xã hội đó Đây là một hạn chế mà chúng tôi muốn khai thác, kết nối lại, làm rõ thêm để có những đánh giá khách quan trong luận án này
Việc nghiên cứu phong tục và tín ngưỡng qua tư liệu Hán Nôm sẽ cho chúng ta cái nhìn khách quan, cụ thể theo chiều lịch đại về những giá trị của phong tục và tín ngưỡng người Việt Giá trị là những thứ (điều) có ý nghĩa trong cuộc sống, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và chúng sẽ được gìn giữ, phát huy trong những điều kiện mới Các giá trị văn hóa phong tục, tín ngưỡng trong tư liệu Hán Nôm được phản ánh chính là khẳng định giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của người Việt Từ đó, góp phần định hướng bảo tồn và phát huy giá trị của chúng trong điều kiện mới Bởi những giá trị văn hóa phong tục và tín ngưỡng được miêu tả (phản ánh) qua tư liệu Hán Nôm chính là minh chứng sống động, là thực tiễn của đời sống tinh thần người Việt truyền thống được định
2 Chi tiết xin xem Phụ lục 1 của luận án
3
Những chỗ in nghiêng mà không phải tên tác phẩm được trích dẫn hay nhắc đến (có kèm tác giả) là các thành ngữ, tục ngữ, ca dao hay câu chữ thường dùng trong tư liệu Đối với những chỗ dùng âm Hán Việt không phổ thông thì chúng tôi sẽ giải thích bằng Footnote
Trang 11hình và cố định lâu bền trong quá khứ Văn hóa nhìn chung là một sự nối tiếp, đúng như nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu (1996) đã kết luận: Đến hiện đại từ
truyền thống Lựa chọn thực hiện luận án với đề tài Phong tục và tín ngưỡng trong tư liệu Hán Nôm Việt Nam thời trung đại, chúng tôi cố gắng trả lời các giả
thuyết nêu trên
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ cuối thế kỉ XVIII, tư liệu Hán Nôm đã được sự chú ý nghiên cứu với
các công trình của Lê Quý Đôn như Toàn Việt thi lục, Vân đài loại ngữ, Quần thư
khảo biện, sau đó là Phan Huy Chú với Lịch triều hiến chương loại chí Những
công trình này công phu và sâu sắc nhưng chưa thực sự hoàn bị trên phương diện đánh giá khảo cứu văn hiến Những công trình ấy mới chú tâm vào một vài lĩnh vực nhất định, trong đó trọng tâm là văn học Đầu thế kỉ XX, Viện Viễn Đông Bác Cổ đã tiến hành tổng điều tra, thu thập, biên sao về tư liệu Hán Nôm tại Việt Nam Việc làm này có hệ thống và quy mô, bước đầu tập hợp một số lượng khá lớn tư liệu Hán Nôm tại Việt Nam Từ đây, tư liệu Hán Nôm được tiến hành phân loại sơ bộ và đưa vào lưu trữ Tuy nhiên, do những điều kiện khách quan, tình hình đất nước gặp chiến tranh, chia cắt, nên quá trình nghiên cứu mảng tư liệu văn hiến này hầu như bị bỏ ngỏ sau đó Khi Viện Nghiên cứu Hán Nôm (VNCHN) được thành lập (1977) trên cơ sở của Ban Hán Nôm (1970) đến nay đã
có nhiều nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau và có hệ thống về mảng tư liệu đồ
sộ này Dẫu vậy, do nhân sự làm việc chuyên môn về văn bản và lưu trữ Hán Nôm thực tế còn khá mỏng, kinh phí có giới hạn nên các công trình nghiên cứu chủ yếu là văn học và sử học
Năm 1970, nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp với công trình Tìm hiểu kho
sách Hán Nôm đã hệ thống hóa một phần, bao gồm giới thiệu nội dung những tư
liệu Hán Nôm quan trọng về lịch sử, văn học, y học, địa lý, phong tục, tôn giáo, triết học Tuy không khảo cứu toàn bộ tư liệu Hán Nôm hiện tồn được lưu trữ,
Trang 12nhưng bằng kinh nghiệm nghiên cứu Hán Nôm sở trường4, ông đã chọn lọc hầu hết những tư liệu có giá trị trên các lĩnh vực để giới thiệu Thông qua phần mục lục của văn bản Hán Nôm, tác giả Trần Văn Giáp đã khái quát lên nội dung từng
tư liệu được giới thiệu Đồng thời, công trình cũng miêu tả sơ lược về tình trạng văn bản, kí hiệu lưu trữ Điểm đặc biệt của công trình, hơn cả công việc biên soạn thư mục, là tác giả đã bình luận và gợi mở hướng nghiên cứu, cách tiếp cận những tư liệu này cho các thế hệ tiếp theo nghiên cứu văn bản được thuận lợi, nhất là đỡ nhọc sức khảo lại những công trình một cách không cần thiết, vì tư liệu Hán Nôm vốn rất đồ sộ trên tất cả các lĩnh vực, chưa kể có nhiều dị bản khác của
một quyển sách Chẳng hạn, nhận xét văn bản Ô Châu cận lục, tác giả viết: “Hiện nay, ta còn hai bản Ô Châu cận lục, nhưng đều bị biên chép sai lầm, sửa chữa tứ
tung, và do đó, bản chất đúng đắn mất hẳn Tuy vậy, trong điều kiện hiếm tài liệu
cổ, nó vẫn là sách có ích cho sự tra cứu, nhất là khảo cứu về các tỉnh miền Nam” (Trần Văn Giáp, 1970, tr.651) Còn ở từng quyển sách, tác giả giới thiệu sơ bộ
theo cách diễn đạt của mình, như ở sách An Nam chí lược: “Xem quyển 1 có thể
biết được các tên địa lý cổ, sinh hoạt của nhân dân ta đời Trần và trước đời Trần Những nét sinh hoạt ấy cho ta biết nhiều hiện tượng về bối cảnh Việt Nam các thế
kỉ ấy Quyển 2, 3, 4, 5 giúp ta nhiều tài liệu về lịch sử ngoại giao giữa Việt Nam
và các triều đại phong kiến Trung Quốc về đời Trần và trước kia” (Trần Văn Giáp, 1970, tr.588) Tác giả cũng thường hay dùng biện pháp liệt kê theo mục lục
văn bản giúp người đọc dễ hình dung nội dung văn bản, như trong Đại Nam nhất
thống chí (ĐNNTC): “Quyển 1: Kinh sư, Quyển 2-4: Thừa Thiên phủ; quyển 5:
Quảng Nam (…) Mỗi tỉnh đại thể chép về: 1 phân dã, 2 diên cách, 3 hình thế, 4 khí hậu, 5 phong tục, 6 thành trì5…” (Trần Văn Giáp, 1970, tr.588)
Trang 13Năm 1992, Trần Nghĩa (Nguyên Viện trưởng VNCHN) và các cộng sự sau
nhiều năm nghiên cứu, xử lí tư liệu mới cũ đã cho ra đời quyển Di sản Hán Nôm
thư mục đề yếu, đây là bộ sách tra cứu đầy đủ nhất về tư liệu Hán Nôm Việt Nam
(tổng mục lục cập nhật đến năm 1992), sách gồm 3 tập với hơn 3.000 trang Do đây là sách công cụ tra cứu tư liệu Hán Nôm trên các lĩnh vực nên, tuy có giới
thiệu nhưng không cụ thể như công trình Tìm hiểu kho sách Hán Nôm
Đó là tình hình nghiên cứu tư liệu Hán Nôm ở mức khái quát nhất Hai công trình kể trên thuộc nhóm biên soạn thư mục nhưng đã giúp ích rất nhiều cho chúng tôi trong việc xác định tư liệu nghiên cứu Riêng tư liệu ở lĩnh vực liên quan đến đề tài là địa chí và hương ước thì có các công trình như sau:
Về địa chí, có thể kể đến Địa phương chí tỉnh Bắc Ninh qua tư liệu Hán
Nôm và Địa phương chí tỉnh Hải Dương qua tư liệu Hán Nôm Hai công trình này
đều do Đinh Khắc Thuân làm chủ biên cùng các cộng sự tại VNCHN thực hiện và
xuất bản năm 2009 Địa phương chí tỉnh Bắc Ninh qua tư liệu Hán Nôm đã giới thiệu một số văn bản địa chí viết về tỉnh Bắc Ninh bằng chữ Hán, đó là Bắc Ninh
phong thổ ký (A.425), Bắc Ninh toàn tỉnh địa dư chí (A.2889), Bắc Ninh tỉnh địa
dư (A.590) và Bắc Ninh tỉnh khảo dị (SA.HM.2167) Công trình dừng lại ở mức
dịch thuật văn hiến chứ không phân tích, nhận định nội dung tư liệu Đọc nội dung các văn bản trên, chúng tôi nhận thấy sự miêu tả của tư liệu địa chí thiên về núi sông, thổ chất và nhân vật là chủ yếu Những miêu tả về phong tục, tín ngưỡng cũng lác đác xuất hiện nhưng rất sơ lược Ví dụ như ghi chép về phong
tục tỉnh Bắc Ninh trong Bắc Ninh toàn tỉnh địa dư chí như sau:
Các bậc tiền bối có câu nói về phong thổ đất Bắc Ninh rằng: “Đất Bắc Ninh
là trung tâm, khí tinh tú của nó là sĩ phu, phần nhiều cương trực không hoa mỹ; khí thô ác của nó là đạo tặc, cũng hung hăng không chế ngự được” cứ theo đó mà bàn Còn như hội hè cầu cúng hàng năm cũng chỉ có một hai cái đáng xem Việc lấy vợ, lấy chồng thì tương xứng theo nhà giàu, nhà
Trang 14nghèo Việc tang tế thì nhà đại gia theo lễ của Văn Công, nhà nghèo theo
Thọ Mai gia lễ Trong ấp ngoài làng đại để như thế (Đinh Khắc Thuân,
2009a, tr.264)
Những ghi chép như vậy về phong tục nhìn chung là rất giản lược, xét tại địa phương nào cũng có thể có những việc như thế, không có sự khác biệt, cụ thể Song, những ghi chép về tín ngưỡng thì cụ thể hơn, nói rõ được những đối tượng
thờ phụng và những hoạt động tín ngưỡng khác trong tỉnh Đặc biệt, văn bản Bắc
Ninh tỉnh khảo dị ghi chép cặn kẽ về việc tế tự dị đoan và những tục lạ chỉ xuất
hiện ở Bắc Ninh như: giả bộ đuổi đánh thần khi tế tự6 ở xã Bất Lự (Tiên Du), treo
ngược con gà sống ở hậu cung và giả làm Thành hoàng chạy trốn ở xã Thiêm
Xuyên (Yên Phong), nam nữ đốt pháo ném nhau, hỗn dâm ngoài đồng vào ngày
tế thần ở xã Phù Lưu (Yên Phong), đêm cúng thần úp đèn cho kỳ mục điểm ngực đào nương, đàn ông cũng điểm ngực đàn bà ở xã Niệm Thượng (Võ Giàng), dựng cây chày ở cửa đình và các ngõ trong làng đêm 30 tháng Chạp ở xã Hữu
Chấp (Võ Giàng) hay chủ tế giả Thành hoàng đi ăn trộm ở xã Trang Liệt (Từ
Sơn)
Địa phương chí tỉnh Hải Dương qua tư liệu Hán Nôm cũng tương tự kết
cấu Địa phương chí tỉnh Bắc Ninh qua tư liệu Hán Nôm Các sách địa chí Hán
Nôm viết về tỉnh Hải Dương cũng chú trọng biên khảo về thổ nhưỡng và nhân vật Phong tục, tín ngưỡng có phản ánh nhưng rất manh mún (thiếu hệ thống ở các văn bản) và không có sự phân biệt nào về phong tục cũng như tín ngưỡng
Chẳng hạn sách Hải Dương phong vật chí (A.882) viết về phong tục như sau:
Dân xã Du Lễ huyện Nghi Dương (nay thuộc Hải Phòng)7 ăn ở với nhau rất hoà thuận Mỗi năm cứ đến hai vụ hè và đông, họ đong thóc dự trữ vào kho nghĩa thương của xã, rồi đến tháng Hai hoặc tháng Tám, ai thiếu thì cho vay, gặp năm mất mùa thì đem chia đều cho mọi người Đó cũng là biện
6
Chữ in nghiêng của đoạn này là đề mục trong sách Bắc Ninh tỉnh khảo dị
7 Những chỗ dùng dấu ngoặc đơn () trong trích dẫn là phần chúng tôi giải thích thêm cho tường tận
Trang 15pháp hay mà nghĩa thương còn để lại vậy Các xã Trương Xá, An Dương, Hoàng Lũ huyện Đường Hào hàng năm lấy xương lợn xem đen hay trắng
để chiêm nghiệm thời tiết sớm hay muộn, được mùa hay mất mùa, rồi lấy
đó làm cữ để gieo trồng, thường không sai lệch (Đinh Khắc Thuân, 2009b, tr.181)
Những tư liệu tập hợp văn hiến như vậy hiện nay có khá nhiều, như bộ
Tổng tập dư địa chí Việt Nam (4 tập) do Bùi Văn Vượng chủ biên, xuất bản năm
2012 Hay các bộ Tư liệu văn hiến Thăng Long - Hà Nội: tuyển tập địa chí (4 tập) của nhóm Nguyễn Thúy Nga & Nguyễn Kim Sơn và Tư liệu văn hiến Thăng
Long - Hà Nội: Thư mục tư liệu trước 1945 (3 tập) của Vũ Văn Quân, đều xuất
bản năm 2010 nhân đại lễ kỉ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội Những bộ sách này là một bộ phận tư liệu tham khảo và trích dẫn của chúng tôi trong luận
án Những chỗ cần khảo cứu thì chúng tôi đã đối chiếu với nguyên văn8 được lưu trữ tại VNCHN hoặc Thư viện Quốc gia Việt Nam
Về nghiên cứu tư liệu địa chí Hán Nôm trong các tài liệu hiện đại bằng chữ
Quốc ngữ, bao gồm giới thiệu tư liệu Hán Nôm là: Địa chí Bắc Giang - Di sản
Hán Nôm (2003) của Lâm Giang & Nguyễn Đình Bưu, Địa chí Hà Tây (2011)
của Đặng Văn Tu & Nguyễn Tá Nhí, Địa chí Thái Bình (2011) của Phạm Quang
Ân & Bùi Minh Đức, Nghệ An toàn chí (2013) của Lê Tài Hòe, Địa chí xã Thủy
Phù (2013) của Lê Đình Phúc
Về nghiên cứu tư liệu hương ước thì phong phú hơn hẳn, tiêu biểu có thể
kể các công trình sau: Hương ước cổ Hà Tây (1993) của Nguyễn Tá Nhí, Về
hương ước lệ làng (1998) của Lê Đức Tiết, Hương ước và quản lý làng xã (1998)
của Bùi Xuân Đính, Hương ước Nghệ An (1998) của Ninh Viết Giao, Lệ làng Việt
Nam (1999) của Hồ Đức Thọ, Tục lệ cổ truyền làng xã Việt Nam (2006) của Đinh
Khắc Thuân, Lệ làng Thăng Long - Hà Nội (2010) của Đỗ Thị Hảo, Nghiên cứu
8
Tác giả luận án (TGLA) đã thực hiện đề tài cấp cơ sở được nghiệm thu 2016 liên quan trực tiếp tới luận án là
Khảo sát tư liệu Hán Nôm về lĩnh vực phong tục và tín ngưỡng
Trang 16văn bản hương ước chữ Hán thế kỉ XVII-XVIII của Choson và so sánh văn bản hương ước Việt Nam cùng thời kỳ (2014) của Đỗ Thị Hà Thơ, Hương ước Thăng Long - Hà Nội trước 1945 (2017) của Đinh Thị Thùy Hiên hay Hương ước cổ làng xã Đồng bằng Bắc Bộ (2018) của Vũ Duy Mền Đây là những công trình đã
giới thiệu khái quát được các vấn đề quan trọng của hương ước, trong đó có những phản ánh liên quan đến phong tục và tín ngưỡng Việt Nam truyền thống
Chẳng hạn như công trình Hương ước cổ làng xã Đồng bằng Bắc Bộ của Vũ Duy
Mền (2018) đã khẳng định: “Từ việc thờ Thành hoàng làng, thờ Phật, thờ Hậu thần, Hậu hiền với vô số các lễ tiết, lễ vật liên quan đến nông nghiệp diễn ra trong năm; khách quan đã tạo nên đời sống tâm linh đa dạng, phong phú; tăng thêm mối liên kết vốn bền chặt của đời sống cộng đồng” (tr.225)
Hay như Đỗ Thị Hảo (2010) nói rõ vấn đề phép vua thua lệ làng trong văn
hóa làng xã Việt Nam như sau:
Sở dĩ “lệ làng” có sức mạnh hơn cả “phép vua” bởi lẽ nó gắn chặt với cộng đồng mà tối lửa tắt đèn có nhau Mọi người đều có chung quyền lợi và nghĩa vụ Ai cũng tự hào vì mình là một thành viên của cộng đồng và thấy
“sợ”, “xấu hổ” khi làm những việc sai trái ảnh hưởng đến mọi người Ngược lại, cộng đồng cũng đặt ra những biện pháp về kinh tế (phạt), đánh vào lòng tự trọng khi bị loại ra khỏi cộng đồng để ràng buộc và chế ngự lẫn nhau (tr.16)
Tác giả Đinh Thị Thùy Hiên nghiên cứu hương ước trên một phạm vi cụ thể đã dựa vào giai đoạn hình thành văn bản để phân loại hương ước thành ba loại: hương ước cổ (trước 1906), hương ước giai đoạn chuyển tiếp (từ 1906 đến trước 12/8/1921) và hương ước cải lương (từ 12/8/1921 đến trước tháng 8 năm 1945) Trong nghiên cứu của mình, tác giả khẳng định: “Một hương ước chính thức thành văn có thể mang các tên gọi khác nhau là hương ước, khóan ước, tục
lệ, hương lệ, khóan lệ, hương tục… nhưng vẫn luôn đảm bảo đầy đủ cả hai yếu
Trang 17tố: luật nước và lệ làng, trong đó lệ làng dù được khai thác đến mức tối đa, dù được trình bày hết sức cụ thể, chi tiết vẫn phải phục tùng luật nước” (Đinh Thị Thùy Hiên, 2017, tr.39)
Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu về cải lương hương ước cũng như quá trình biến đổi nội dung, hình thức, tác dụng hay ý nghĩa từ hương ước cổ sang hương ước cải lương9 Đó là các công trình: Kho hương ước cải lương
hương chính ở Bắc kỳ (1998) của Cao Văn Biền trên Tạp chí nghiên cứu lịch sử, Bước đầu tìm hiểu về cải lương hương tục thí điểm ở Bắc kỳ qua một số văn bản tục lệ bằng chữ Nôm (2013) và Thay đổi về tế tự tại một số tỉnh Bắc kỳ qua cải lương hương tục thí điểm: nhìn từ văn bản tục lệ (2013) của Đào Phương Chi trên
Tạp chí Hán Nôm
Văn hóa phong tục và tín ngưỡng nói chung cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu, bước đầu đã giới thiệu và đánh giá từ làng văn hóa cổ truyền đến những phong tục và tín ngưỡng Việt Nam, từ truyền thống đến hiện đại Tiêu biểu
có thể kể các công trình như sau: Việt Nam phong tục (in lần đầu năm 1915) của Phan Kế Bính, Việt Nam văn hóa sử cương (in lần đầu năm 1938) của Đào Duy Anh, Văn minh Việt Nam (in lần đầu năm 1939) của Nguyễn Văn Huyên, Xã hội
Việt Nam từ sơ sử đến cận đại (in lần đầu năm 1944) của Lương Đức Thiệp, Đất
lề quê thói (in lần đầu năm 1968) của Nhất Thanh Đặc biệt, quyển Xã hội Việt Nam từ thế kỉ XVII (2016) của Nguyễn Trọng Phấn đã tập hợp được 7 tư liệu của
các giáo sĩ phương Tây viết về xã hội Việt Nam ở thế kỉ XVII Mỗi tác giả viết về nhiều vấn đề khác, nhưng trong đó có nói về phong tục, nghi lễ của người Việt
Chẳng hạn, Alexandre de Rhodes viết về Đất Kinh Kỳ đầu thế kỉ XVII; Cristoforo Borri viết về Tính tình người Trung Kỳ; Giovanni Filippo de Marini viết Phong
tục và tính người Bắc Kỳ, Tết Nguyên đán của người Bắc Kỳ, Tang lễ của Đô
9
Thay đổi nội dung hương ước, tục lệ được gọi là “cải lương”, tức là thay đổi những điều ước cũ theo hướng tiến
bộ, tốt lên Cải lương hương ước, tục lệ là quá trình cố gắng dung hoà cũ mới: giữ gìn lề thói cũ của cha ông nhưng phải phù hợp hoàn cảnh hiện tại, còn những điều lạc hậu, càng gỡ thì phải mạnh dạn bỏ đi
Trang 18Thanh Vương Trịnh Tráng; Jean Baptiste Tavernier viết Về hôn lễ của người Đàng Ngoài và cách họ trừng trị sự gian dâm và Tang lễ một ông vua Đàng Ngoài hay Samuel Baron viết về Phong tục, Tế kỳ đảo và Tang lễ chúa Trịnh
Những tư liệu này cho chúng ta cái nhìn khách quan, trung thực nhất về con người Việt Nam, xã hội Việt Nam mà qua khảo cứu tư liệu Hán Nôm về phong tục, tín ngưỡng thời trung đại chúng tôi thấy rất trùng khớp
Bên cạnh đó là một số công trình nghiên cứu văn hóa Việt Nam, trong đó
có văn hóa phong tục, tín ngưỡng Tiêu biểu có: Từ điển Việt Nam - văn hóa
phong tục tín ngưỡng (2004) của Vũ Ngọc Khánh & Phạm Minh Thảo, Truyền thống và hiện đại trong văn hóa (1999) của Lại Văn Toàn, Văn hóa làng ở Việt Nam (2011) của Vũ Ngọc Khánh, Tìm hiểu văn hóa tâm linh của người Việt
(2013) của Cao Ngọc Lân & Cao Vũ Minh, Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở
Việt Nam (2012) của Ngô Đức Thịnh, bộ Nếp cũ của Toan Ánh Những công
trình này phong phú về nội dung, có sử dụng những tư liệu Hán Nôm trong nghiên cứu Tuy nhiên, chủ yếu là miêu thuật (không có hoặc trích dẫn rất ít tư liệu Hán Nôm về phong tục, tín ngưỡng) hoặc diễn giải dưới góc nhìn văn hóa hiện đại Các công trình văn hóa Việt Nam bàn về phong tục, tín ngưỡng Việt Nam ở giai đoạn hiện đại chưa nghiên cứu một cách có hệ thống những tư liệu Hán Nôm mà cha ông ghi chép về lĩnh vực này Do vậy, luận án này của chúng tôi bước đầu khai thác nội dung phong tục và tín ngưỡng được phản ánh trong tư liệu Hán Nôm là hoàn toàn mới Đây cũng là bước đầu nghiên cứu về tư liệu Hán Nôm thời trung đại một cách toàn vẹn một lĩnh vực cụ thể (phong tục và tín ngưỡng) trên bình diện văn hóa học
Trang 19khoa học khác nhau Riêng về văn hóa Việt Nam thì hệ thống tư liệu Hán Nôm cũng nhiều và phức tạp Hiện nay, hệ thống tư liệu này vẫn chưa được khai thác đúng mức, những giá trị của tư liệu phục vụ cho nghiên cứu văn hóa Việt Nam chưa được khẳng định đầy đủ Trong các tư liệu Hán Nôm liên quan đến văn hóa Việt Nam, mảng tư liệu về phong tục và tín ngưỡng có số lượng rất đáng kể Bởi phong tục và tín ngưỡng có vai trò quan trọng và phổ biến trong sinh hoạt và đời sống của cộng đồng Chúng rất được các triều đại phong kiến, cũng như các bậc thức giả10 đương thời quan tâm Chẳng hạn, các tư liệu địa chí Hán Nôm luôn dành một dung lượng đáng kể11 để miêu tả về dân phong12, tục lệ; nơi thờ tự như đình, đền, miếu, quán, tự viện của các địa phương Các tư liệu lịch sử cũng có sự
ưu ái nhất định, dành một phần viết về cuộc sống con người (sinh hoạt), những tục đẹp (mỹ tục), tục lạ (dị tục) hoặc tục xấu (hủ tục) đương thời để lý giải về lẽ thịnh suy của một giai đoạn lịch sử
Từ những nội dung tư liệu Hán Nôm cung cấp về phong tục và tín ngưỡng Việt Nam dưới thời trung đại, luận án làm rõ thêm những ý nghĩa, giá trị, cũng như những hạn chế của phong tục, tín ngưỡng đã tồn tại trong đời sống văn hóa người Việt Cụ thể:
- Luận án khảo sát văn bản để xác lập hệ thống tư liệu Hán Nôm phản ánh
về văn hóa phong tục và tín ngưỡng Việt Nam
- Luận án phân tích nội dung, đặc điểm của những phong tục và tín ngưỡng được phản ánh trong các tư liệu Hán Nôm
Trang 204 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Do mục đích nghiên cứu chính đề tài được xác lập là khẳng định giá trị văn hóa của phong tục và tín ngưỡng qua tư liệu Hán Nôm Việt Nam thời trung đại cho nên đối tượng nghiên cứu của chúng tôi toàn bộ những phong tục, tín ngưỡng được phản ánh qua tư liệu Hán Nôm Nghĩa là đối tượng nghiên cứu chính của chúng tôi là các phong tục và tín ngưỡng của người Việt ở thời trung đại được phản ánh qua thư tịch Hán Nôm Luận án vận dụng phương pháp khảo cứu văn hiến, không thực hiện nghiên cứu điền dã, quan sát như các nghiên cứu hiện đại Chúng ta cần biết là các thức giả đương thời trong công tác biên soạn của mình, không chỉ chú trọng miêu tả phong tục, tín ngưỡng của người Việt, mà còn chú trọng miêu tả phong tục, tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số miền “biên viễn”13 Trong biên chép của họ (chủ yếu ở địa chí) còn có sự so sánh về dân phong, lệ tục giữa các tỉnh, trấn14 Vì vậy, giới hạn đối tượng nghiên cứu theo chủ thể văn hóa của đề tài ở đây là phong tục và tín ngưỡng của người Việt
- Về thời gian nghiên cứu: Như tên đề tài đã giới hạn, thời gian nghiên cứu
mảng phong tục, tín ngưỡng Việt Nam qua tư liệu Hán Nôm của chúng tôi là thời trung đại Thời trung đại Việt Nam là cách dùng trong lĩnh vực văn học và lịch sử với đặc điểm nổi bật là hệ tư tưởng Nho gia và văn tự dùng trong sáng tác là chữ Hán, chữ Nôm Do vậy, thời trung đại Việt Nam kéo dài từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX Nguồn tư liệu nghiên cứu của chúng tôi là các trước tác Hán Nôm, cho nên cách đặt phạm vi thời gian là thời trung đại nhằm để khẳng định hai vấn đề quan trọng sau:
Thứ nhất, sau thời trung đại, chữ Hán, chữ Nôm vẫn được một số nhân sĩ
trí thức Việt Nam sử dụng (nhưng nó đã thuộc phạm trù hiện đại hoặc cận - hiện
13 Biên viễn 邊遠: vùng biên giới, xa kinh đô Ngoài ra còn dùng tên gọi như man tục 蠻俗, thổ tục 土俗, sơn nhân
山人, ý nghĩa là chỉ về những dân tộc vùng biên viễn (biên giới xa xôi)
14 Trấn 鎮: đơn vị hành chính thời phong kiến, là một khu vực rộng lớn, khá tương đồng về đặc điểm tự nhiên và
văn hóa
Trang 21đại) Chúng tôi định danh “Hán Nôm thời trung đại” là để loại trừ nhóm trước tác bằng văn tự Hán Nôm từ đầu thế kỉ XX về sau này
Thứ hai, nội dung phong tục, tín ngưỡng trong tư liệu Hán Nôm của luận
án đã được xác lập là tư liệu địa chí và hương ước Những tư liệu này đến giai đoạn đầu thế kỉ XX vẫn tiếp diễn bằng cả chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ thì
đó cũng không phải là đối tượng tư liệu nghiên cứu của chúng tôi
Tóm lại, đối tượng tư liệu nghiên cứu mà chúng tôi xác lập là các văn bản địa chí, hương ước được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm dưới thời trung đại (về mặt thời gian là hết thế kỉ XIX)
- Về không gian nghiên cứu: Tư liệu Hán Nôm được sử dụng xuyên suốt ở
thời kỳ trung đại tập trung ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ15 Các trước tác trên tất cả các lĩnh vực ở thời trung đại phần lớn là nhân sĩ vùng này, nên tư liệu cũng phản ánh về các vấn đề tự nhiên và xã hội của vùng này là chủ yếu Nhưng, tư liệu địa chí phát triển mạnh trong thế kỉ XIX dưới triều Nguyễn thì đất nước ta đã kéo dài theo trục Bắc - Nam và gần như ngày nay Do vậy, tư liệu địa chí giai đoạn này
đã phản ánh diện mạo văn hóa và xã hội trên phạm vi cả nước Trước đó, tư liệu
địa chí chủ yếu phản ánh theo vùng như Ô Châu cận lục, Phủ biên tạp lục, Hoan
Châu phong thổ ký Riêng tư liệu hương ước, chúng tôi khảo sát chỉ thấy phát
triển ở vùng văn hóa Bắc Bộ, một số tỉnh Bắc Trung Bộ Vùng văn hóa Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ không có văn bản hương ước Hán Nôm nào của thời trung đại Các vùng này được khai phá muộn hơn, lại sớm tiếp xúc với phương Tây, đồng hành với nó là chữ Quốc ngữ Hơn nữa, thiết chế làng ở vùng này cũng nhạt nhoà, nên hương ước, về cơ bản không được chú trọng phản ánh trong các tư liệu Hán Nôm thời trung đại Việt Nam
15
Chúng tôi sử dụng cách phân các vùng văn hóa Việt Nam theo Ngô Đức Thịnh (2009) Bản sắc văn hóa vùng ở
Việt Nam
Trang 224.2 Phạm vi nghiên cứu
Tư liệu Hán Nôm ở Việt Nam hiện tồn phong phú trên nhiều lĩnh vực khác nhau Do đối tượng nghiên cứu của đề tài là phong tục và tín ngưỡng trong tư liệu Hán Nôm nên chúng tôi bước đầu chỉ quan tâm đến phong tục và tín ngưỡng được các tư liệu loại này phản ánh Nhưng như đã nói ở trên, phong tục và tín ngưỡng là hai vấn đề quan trọng, gắn chặt với cuộc sống con người, nên hầu như trên các lĩnh vực khác nhau, các tác giả đều ít nhiều bàn đến chúng Chẳng hạn,
trong tác phẩm Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết:
“Duy ngã Đại Việt chi quốc; thực vi văn hiến chi bang
Sơn xuyên phong vực ký thù; bắc nam chi phong tục diệc dị”
(Nước Đại Việt của ta, đúng là một nước văn hiến; Bờ cõi núi sông đã khác, phong tục bắc nam cũng khác)
Đây là câu văn Nguyễn Trãi nhằm muốn khẳng định sự khác nhau từ núi sông bờ cõi cho tới phong tục của hai nước Đại Việt và Đại Minh Song suy rộng
ra, ta có thể thấy, môi trường khác nhau thì văn hóa hẳn cũng khác nhau
Nhìn chung, phong tục, tín ngưỡng được phản ánh ít nhiều qua các tư liệu văn học (thi ca, từ phú, tản văn chính luận, bi, minh ), cũng như tư liệu lịch sử (sử ký, các bộ chính biên, thực lục ) Tuy nhiên, tính chất miêu tả phong tục, tín ngưỡng ở các mảng tư liệu này không mang tính hệ thống Bởi mục đích của người chấp bút không phải là miêu tả phong tục, tín ngưỡng, mà dùng phong tục, tín ngưỡng để chứng minh, tô điểm cho những điều họ muốn thể hiện hay khẳng định trong tác phẩm của mình Cho nên mức độ đậm, nhạt trong miêu tả phong tục, tín ngưỡng khác nhau là tùy theo mục đích biên soạn của người soạn sách Ở mảng tư liệu lịch sử đòi hỏi tính chính xác cao thì việc viết về phong tục, tín ngưỡng cũng không nhất quán Bởi nhiệm vụ chính của họ là biên chép, bình luận, đánh giá những sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử mà thôi Phong tục, tín ngưỡng có nhắc đến chăng cũng chỉ có tính chất minh hoạ cho những kết luận của
Trang 23họ Mảng tư liệu văn học thì nội dung miêu tả về phong tục, tín ngưỡng càng mơ
hồ, bởi chúng được viết theo cảm nhận và sự hiểu biết chủ quan của tác giả Cho nên, ở hai mảng tư liệu này chúng tôi chỉ khảo sát nhằm so sánh, minh hoạ sinh động thêm những điều mà chúng tôi đúc kết được
Qua khảo sát tư liệu Hán Nôm, chúng tôi đã hệ thống được nguồn tư liệu nghiên cứu chứa nội dung liên quan đến phong tục, tín ngưỡng Đó là các bộ địa
chí và hương ước Điều này chúng tôi sẽ trình bày cụ thể ở mục 1.2 Nguồn tư
liệu Hán Nôm nghiên cứu phong tục, tín ngưỡng của đề tài trong Chương 1
5 Phương pháp nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu như trên của đề tài, để đạt hiệu quả nghiên cứu, chúng tôi thực hiện bằng phương pháp liên ngành Liên ngành là một khái niệm
mở rộng dùng để diễn tả phức hệ các cách tiếp cận khác nhau trong nghiên cứu văn hóa học nói riêng, các lĩnh vực thuộc Khoa học xã hội khác nói chung Phương pháp này đòi hỏi sự tổng hợp của nhiều thao tác, nhiều cách tiếp cận khác nhau Ở luận án này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp cụ thể như sau:
- Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Bất kỳ một hệ thống nào cũng phải
được hình thành trên một cấu trúc nhất định Ngược lại, một cấu trúc sẽ quy định nên một hệ thống hoặc tiểu hệ thống nhất định Vận dụng phương pháp này giúp chúng tôi phân tích những thành tố văn hóa bộ phận và mối quan hệ của chúng trong phong tục và tín ngưỡng của người Việt thời trung đại Cụ thể, ở đây là hai góc nhìn về văn hóa phong tục và văn hóa tín ngưỡng người Việt trong cộng đồng làng xã truyền thống:
Góc nhìn đánh giá từ bên ngoài của triều đình hay những nhà văn hóa lớn
về phong tục và tín ngưỡng của một cộng đồng làng xã cụ thể thông qua các biên chép, nhận định của họ trong những bộ địa chí khác nhau và ở những thời điểm khác nhau Ở góc nhìn này sẽ cho chúng ta cái nhìn khách quan của người biên soạn sách địa chí vốn là những nhà khoa bảng, quan lại vốn có kiến thức rộng,
Trang 24giàu kinh nghiệm thực tiễn do trị nhậm nhiều nơi, lại có nhiều tư liệu khác nhau
để so sánh Những trang viết của họ về phong tục, tín ngưỡng vì vậy mà khách quan, không thể hiện tinh thần tự tôn trong phản ánh văn hóa (tính tự trị làng xã, chỉ biết có làng mình16; đề cao vai trò của làng mình, không quan tâm đến xung quanh17) Tuy nhiên, tư liệu địa chí cũng có mặt hạn chế đó là quan điểm đánh giá của người biên soạn với các biểu hiện cụ thể của phong tục cũng như tín ngưỡng truyền thống
Góc nhìn đánh giá từ bên trong của mỗi làng xã đối với việc duy trì, gìn giữ phong hóa và việc thờ tự, cúng tế trong làng thông qua hương ước Ở góc nhìn này, chúng ta sẽ thấy được sự khác biệt trong những biểu hiện về phong tục của từng làng Từng vấn đề như nhau, nhưng mỗi làng (không gian) hay mỗi thời điểm (thời gian) sẽ có những biểu hiện khác nhau Sự khác biệt ấy là do sự nhận thức khác nhau của từng cộng đồng (chủ thể) đối với vấn đề phong tục hay tín ngưỡng
Phương pháp hệ thống - cấu trúc cho phép phân tích sâu sự đồng nhất và khác biệt này một cách hợp lý đối với những vấn đề về phong tục cũng như tín ngưỡng được biên chép trong các tư liệu Hán Nôm ở thời trung đại
- Phương pháp văn bản học:
Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi thực hiện nghiên cứu trên cơ sở văn bản học Trong nghiên cứu tư liệu Hán Nôm, phương pháp văn bản học là không thể thiếu Phương pháp này được chúng tôi thực hiện dưới hai cấp độ
Thứ nhất, chúng tôi khảo cứu văn bản Hán Nôm có nội dung liên quan đến
phong tục và tín ngưỡng Bước đầu, chúng tôi khảo cứu trên các lĩnh vực khác nhau để so sánh và đánh giá chung những tư liệu Hán Nôm bàn về phong tục, tín ngưỡng Việt Nam Sau khi xem xét, đúc kết lại, chúng tôi nhận thấy chỉ có hai nguồn tư liệu cung cấp xuyên suốt vấn đề liên quan đến đối tượng nghiên cứu của
16
Trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ (Tục ngữ)
17 Ta về ta tắm ao ta/Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn (Ca dao)
Trang 25đề tài, đó là tư liệu địa chí và tư liệu hương ước Do đặc điểm quan trọng của tư liệu địa chí liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội khác nhau nên hầu hết đã được dịch ra tiếng Việt Đây là một thuận lợi bước đầu của chúng tôi trong nghiên cứu đề tài Tuy nhiên, đối với những phần biên chép về phong tục và tín ngưỡng, chúng tôi cũng đã khảo cứu, đối chiếu lại với phần văn bản chữ Hán được lưu giữ tại Thư viện VNCHN và Thư viện Quốc gia Việt Nam (đều ở HN) Công việc này được thực hiện nhằm đảm bảo tính chính xác khách quan trong các dẫn chứng tư liệu của chúng tôi Dù phần lớn mảng này được dẫn
từ bản dịch, nhưng đã có sự đối chiếu cần thiết và khả tín cao Đối với những đoạn văn bản dịch do người dịch bám chữ làm mờ nghĩa (dựa chặt cấu trúc, văn phong của chữ Hán) thì chúng tôi dịch lại cho gần gũi hơn với người đọc Riêng
tư liệu hương ước cũng được dịch một số lượng nhất định, nhưng phần chưa được dịch hiện đang lưu trữ vẫn khá nhiều Nội dung hương ước về đại thể là giống nhau, chỉ khác nhau về tiểu tiết của những điều lệ cụ thể Cho nên, trong khuôn khổ luận án, chúng tôi chỉ chọn sử dụng một số bản dịch hoặc tự dịch một số bản hương ước ở vùng văn hóa Đồng bằng Bắc Bộ ở một số tỉnh Bắc Trung Bộ tại những thời điểm khác nhau phù hợp yêu cầu, nhiệm vụ mà đề tài đặt ra để phân tích Những điều này chúng tôi sẽ tiến hành phân tích và so sánh cụ thể trong luận
án
Thứ hai, chúng tôi tiến hành khảo cứu nội dung văn bản (khảo cứu văn
hiến) Từ văn bản, cụ thể ở đây là văn bản địa chí và hương ước, chúng tôi hệ thống chuỗi nội dung rồi phân tích những giá trị của chúng trong cái nhìn lịch sử theo phương pháp hệ thống - cấu trúc đã nói ở trên Những nhận định, đánh giá
mà chúng tôi nêu ra, đều đặt trong bối cảnh lịch sử - cụ thể của con người và xã hội Việt Nam tại thời điểm văn bản nghiên cứu có hiệu lực
Ngoài các phương pháp nêu trên, trong quá trình triển khai nghiên cứu, chúng tôi còn vận dụng phương pháp thống kê, phương pháp ngữ văn học với các
Trang 26thao tác như so sánh, phân tích, đối chiếu để làm nổi bật vấn đề nghiên cứu Bên cạnh đó chúng tôi cũng thực hiện cách tiếp cận địa văn hóa nhằm xác định cũng như phân tích được không gian của đối tượng nghiên cứu Đồng thời, cách tiếp cận này cũng giúp chúng tôi thấy được môi trường sinh thái - nhân văn đã tác động như thế nào đến các đặc trưng văn hóa Từ đó, giúp chúng tôi đưa ra những nhận định khách quan và chính xác hơn Cụ thể ở đây, môi trường sinh thái - nhân văn là vùng văn hóa Đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, có so sánh với Nam Bộ, đặc trưng văn hóa được nghiên cứu là thành tố phong tục và tín ngưỡng cũng như những nội dung của chúng được phản ánh tại vùng này Từ đó, chúng tôi khái quát lên những nét đặc trưng trong văn hóa phong tục, tín ngưỡng của người Việt
6 Đóng góp của luận án
Trên phương diện khoa học: chỉ ra những giá trị văn hóa của phong tục và tín ngưỡng trong tư liệu Hán Nôm là khẳng định lại những giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của cộng đồng người Việt trong chiều dài lịch sử dân tộc Nhiệm vụ khoa học của đề tài là làm sáng rõ những đặc điểm văn hóa đặc trưng của phong tục và tín ngưỡng Việt Nam đã được ghi chép trong các thư tịch Việt Nam thời trung đại
Trên phương diện thực tiễn: kết quả phân tích những đặc điểm của phong tục, tín ngưỡng trong tư liệu Hán Nôm sẽ góp phần định hình cách nhìn về những nét văn hóa tinh thần truyền thống tốt đẹp mà người Việt từng có trong quá khứ Những điều đó đã được ghi nhận, phản ánh, nên chúng ta cần thấy được những giá trị bất biến qua thời gian ấy để giữ gìn và phát huy Đồng thời luận án cũng chỉ ra sự phong phú của tín ngưỡng dân gian trong đời sống tinh thần trong cộng đồng người Việt được phản ánh trong các tư liệu Hán Nôm
Trang 277 Bố cục của luận án
Ngoài phần Dẫn nhập, Kết luận và Phụ lục, nội dung luận án gồm 3
chương:
Chương 1: Phong tục, tín ngưỡng và nguồn tư liệu Hán Nôm nghiên cứu
phong tục, tín ngưỡng Ở chương này chúng tôi trình bày khái niệm của phong
tục, tín ngưỡng; những nội dung của phong tục, tín ngưỡng Phạm vi nguồn tư liệu Hán Nôm nghiên cứu phong tục, tín ngưỡng, chúng tôi đã hệ thống được hai nguồn tư liệu phản ánh xuyên suốt nội dung phong tục, tín ngưỡng đó là tư liệu địa chí và tư liệu hương ước
Chương 2: Nội dung phong tục qua tư liệu địa chí và hương ước Hán Nôm.
Ở chương này chúng tôi trình bày về phong tục lễ tết, phong tục hôn nhân và phong tục tang ma Trong đó, phong tục lễ tết được phản ánh đầy đủ nhất trong các bộ địa chí Hán Nôm Về phong tục trong tư liệu hương ước chữ Hán: chúng tôi trình bày về phong tục hương ẩm, phong tục lễ tết, phong tục hôn nhân và phong tục tang ma Đây là những phong tục được phản ánh đầy đủ trong hầu hết các bản hương ước chữ Hán
Chương 3: Nội dung tín ngưỡng qua tư liệu địa chí và hương ước Hán
Nôm.Ở chương này chúng tôi trình bày về việc thờ thần, thờ Phật và thờ cúng tổ tiên Trong đó, tín ngưỡng thờ thần, thờ Phật được phản ánh đầy đủ nhất trong các bộ địa chí Hán Nôm Bên cạnh đó là các tín ngưỡng thờ Hậu, cúng lễ cầu mưa
và Thường tân, tuy ít phổ biến hơn việc cúng thần nhưng cũng được quy định rõ ràng và cụ thể trong tư liệu hương ước Hán Nôm
Trang 28CHƯƠNG 1 PHONG TỤC, TÍN NGƯỠNG VÀ NGUỒN TƯ LIỆU HÁN NÔM NGHIÊN CỨU PHONG TỤC, TÍN NGƯỠNG
1.1.1 Khái niệm và nội dung của phong tục
1.1.1.1 Khái niệm phong tục Hiện nay, có khá nhiều nhà nghiên cứu khi bàn về phong tục đã nêu định nghĩa về nó Những định nghĩa này, có những cách diễn đạt khác nhau tùy theo đối tượng nghiên cứu chính của tác giả:
Chẳng hạn, Dương Văn Đảm (2013) trong Tư Thế phong thổ ký cho rằng:
“Phong tục là những thói quen trong đời sống, truyền từ đời này qua đời khác
Mỹ tục thường được lưu giữ, hủ tục thì dần bớt đi Một số phong tục làng xưa, nay vẫn hiện hữu trong đời sống thường nhật, hay còn ghi nhớ trong tâm thức người dân, đang nằm trong luồng biến hóa trên” (tr.129)
Nam Việt (2011) trong Văn hóa phong tục thế giới qua hình ảnh nêu khái
niệm phong tục dưới góc nhìn so sánh:
Phong tục là nét đặc trưng riêng của mỗi dân tộc trên thế giới, trở thành luật tục ăn sâu vào đời sống của nhân dân Môi trường văn hóa là một trong những nhân tố quyết định đến phong tục Văn hóa phong tục là những căn
cứ quan trọng để đánh giá chủ quyền văn hóa của mỗi dân tộc Bởi vì nó phản ánh tâm tư tình cảm, diện mạo tinh thần và những thăng trầm lịch sử của dân tộc ấy, từ đó giúp con người hiểu được quá khứ và hiện tại (tr.3)
Trương Thìn (2010) trong 101 điều cần biết về tín ngưỡng và phong tục thì
phân tích cụ thể các khía cạnh của phong tục Ông cho rằng:
Phong tục là toàn bộ những hoạt động sống của con người được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Phong tục không mang tính cố định, bắt buộc như nghi thức, nghi lễ, nhưng cũng không tùy tiện như hoạt động
Trang 29sống thường ngày Nó trở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững và tương đối thống nhất
Phong tục có thể ở một dân tộc, địa phương, tầng lớp xã hội hay thậm chí một dòng họ, gia tộc Phong tục là một bộ phận của văn hóa và có thể chia thành nhiều loại Hệ thống phong tục liên quan đến vòng đời người, như: phong tục về sinh đẻ, trưởng thành, cưới xin, mừng thọ và lên lão… Hệ thống phong tục liên quan đến hoạt động của con người theo chu
kỳ thời tiết trong năm và hệ thống phong tục liên quan đến chu kỳ lao động của con người
Phong là nề nếp đã lan truyền rộng rãi, tục là thói quen lâu đời Nội dung phong tục bao hàm mọi sinh hoạt xã hội Phong tục có thứ đã trở thành luật tục, ăn sâu, bén rễ trong nhân dân rất bền chặt, có sức mạnh hơn
cả đạo luật Trong truyền thống văn hóa của dân tộc ta, có nhiều thuần phong mỹ tục cho đạo lý làm người, kỷ cương xã hội (tr.5)
Với cách hiểu như trên, chúng ta dễ ngộ nhận rằng tất cả các sinh hoạt của con người được thực hiện trong cộng đồng dù nhỏ hay lớn đều là phong tục Đào
Duy Anh (2014) trong Việt Nam văn hóa sử cương (in lần đầu năm 1938) cũng
cho rằng “văn hóa tức là sinh hoạt” Ông biện luận như sau:
Học thuật tư tưởng cố nhiên là ở trong phạm vi văn hóa nhưng phàm sự sinh hoạt về chính trị, về xã hội cùng hết thảy các phong tục tập quán tầm thường lại không phải là ở trong phạm vi văn hóa hay sao? Hai tiếng văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất cả các phương diện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: văn hóa tức là sinh hoạt (tr.11)
Phần viết về phong tục trong Việt Nam văn hóa sử cương, từ trang 150 đến
trang 187, tác giả Đào Duy Anh đã bàn kĩ nội hàm và những biểu hiện của phong tục theo quan niệm trên, nhưng chủ yếu là mô tả hoặc giải thích những phong tục
Trang 30của người Việt, và tất cả đều là các sinh hoạt trong đời sống cá nhân con người trong xã hội Việt Nam truyền thống
Trần Ngọc Thêm (2004) trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam cho rằng:
“Đời sống mỗi cá nhân trong cộng đồng được tổ chức dưới những tập tục được lan truyền từ đời này sang đời khác” (tr.233) Đây có thể xem là một cách giải thích ngắn gọn về phong tục Trong phần lý giải cụ thể, tác giả viết: “Đó là những thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời, được đại đa số mọi người thừa
nhận và làm theo (phong: gió; tục: thói quen; phong tục: thói quen lan rộng)”
(tr.256) Trần Ngọc Thêm xếp phong tục vào văn hóa tổ chức đời sống cá nhân Đây là cách sắp xếp hợp lý trong cấu trúc văn hóa 3 thành phần: nhận thức, tổ chức và ứng xử với môi trường
Trong khi đó, Từ điển Hán Việt từ nguyên của Bửu Kế (2009) thì giải thích: “風 phong: gió; 俗 tục: lề thói sẵn có từ lâu” (tr.1433) Như vậy, phong tục
là những lề thói được định sẵn từ lâu Có thể thấy, Trần Ngọc Thêm hiểu phong
tục diễn tiến theo cả chiều không gian - lan rộng lẫn chiều thời gian - thói quen, còn Bửu Kế cho rằng phong tục chỉ lan truyền theo chiều thời gian - những lề thói
sẵn có Tuy nhiên, cách hiểu “phong: gió” thì chưa đúng nét nghĩa thành tố của
khái niệm phong tục
Trên phương diện khái niệm, A.A Radughin (1997) đã phân tích các thuộc tính giúp nhận diện một phong tục bất kỳ:
Phong tục - đó là những mẫu hành vi toàn vẹn, quen thuộc, không nhận thức được thật rõ ràng Phong tục bao gồm những truyền thống được duy trì và thực hành thông qua các hành động nghi lễ và tôn giáo, mà trong đó nhất thiết phải có những định hướng đạo đức Xét về mặt lịch sử, phong tục phải được rèn giũa trong một môi trường xã hội nào đó, phải được thực hành và thử thách trong một thời gian dài, tức phong tục là những khuôn mẫu hành vi được xã hội hóa và chuẩn mực hóa, được ghi nhận trong ký ức
Trang 31xã hội và được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác như dạng hành vi trong lao động, sinh hoạt, giao tiếp, giáo dục Cũng như bất kỳ khuôn mẫu nào, phong tục chứa đựng sự cho phép thực hiện những hành động nhất định, và khi ấy, nó đóng vai trò thuật toán thực hiện Nhưng phong tục cũng có thể đóng vai trò cấm đoán, và khi ấy, nó thực hiện chức năng thuật toán ngăn chặn những hành động nhất định của con người (tr.115)
Sau khi điểm qua một số khái niệm về phong tục, chúng tôi cho rằng đây là khái niệm chuẩn mực và đầy đủ nhất của một nhận thức khoa học về phong tục Tất cả các cách hiểu khác nhau của các nhà nghiên cứu Việt Nam khi bàn về phong tục đều không ra khỏi phạm vi của phát ngôn này Trước hết, phong tục là một chuẩn mực hành vi điều chỉnh mọi hoạt động của con người, ở đây được hiểu
là cả tinh thần lẫn vật chất Đó là tuân thủ (cho phép - thuật toán thực hiện) hoặc loại trừ (cấm đoán - thuật toán ngăn chặn); nó như là một “khế ước xã hội”18nhằm đảm bảo sự hợp tác giữa người với người thông qua những “truyền thống được duy trì” và có “định hướng đạo đức” Phong tục mặc nhiên được thừa nhận trong một cộng đồng bởi “khuôn mẫu hành vi được xã hội hóa và chuẩn mực hóa”
Từ những nhận thức khoa học như trên, chúng tôi định nghĩa gọn lại như sau: Phong tục là những thói quen sinh hoạt trong đời sống được cộng đồng thừa nhận và truyền từ đời này qua đời khác, là nét đặc trưng riêng của mỗi cộng đồng, dân tộc19
Định nghĩa này có 3 thành tố quan trọng giúp chỉ ra đặc trưng, bản chất của phong tục mà không lẫn với các đối tượng khác, đó là:
- Những thói quen sinh hoạt trong đời sống;
- Được cộng đồng thừa nhận và noi theo;
Trang 32- Truyền từ đời này qua đời khác
Đặc trưng thứ nhất, phong tục trước hết là những thói quen sinh hoạt trong
đời sống của con người, nghĩa là tất cả những thói quen nào trong cuộc sống, từ đơn giản đến phức tạp, dương tính hay âm tính (xét về mặt giá trị xã hội là tốt hoặc không tốt) đều có thể trở thành phong tục, miễn là phải đáp ứng được thêm hai đặc trưng bên dưới nó
Đặc trưng thứ hai, thói quen ấy phải được cộng đồng thừa nhận, nghĩa là
nó phải có giá trị nhất định trong cộng đồng ấy Như vậy, cũng tức là những thói quen ấy sẽ được duy trì trong một cộng đồng Đây chính là sự “cho phép” hoặc
“cấm đoán” bởi nó quy định “khuôn mẫu hành vi” và được “chuẩn mực hóa” mà theo A.A Radughin đã nói ở trên
Đặc trưng thứ ba, phong tục sẽ cho thấy thói quen ấy đã được “rèn giũa
trong một môi trường xã hội nào đó, được thực hành và thử thách trong một thời gian dài” để trở thành chuẩn hành vi trong lao động, sinh hoạt, giao tiếp, giáo dục Các thế hệ tiếp nhận mặc nhiên thừa nhận chúng, dù cho đôi lúc “không nhận thức được thật rõ ràng” về chúng Có nghĩa là, trong một cộng đồng nhất định, việc thực hiện những hành vi phong tục đôi khi họ không biết được giá trị của hành vi đó Tuy nhiên, khi thực hiện phong tục, người ta rất an tâm về sự đúng đắn và hơn hết là sự chấp nhận của cộng đồng Và điều đó hết sức quan trọng khi con người chưa hoàn toàn nhận thức rõ về cuộc sống của họ
Trên bình diện so sánh giá trị giữa phong tục và pháp luật, Nguyễn Thừa
Hỷ (2015) nhận định:
Buổi đầu dựng nước, các quan hệ xã hội của người Việt được tuân theo những phong tục tập quán cổ truyền, mà chưa có những bộ luật thành văn
Thời Lý - Trần, xuất hiện những bộ luật thành văn như Hình thư, Luật thư
nhưng đến nay đều đã thất truyền Đời Lê và Nguyễn là hai triều đại có hai
bộ luật thành văn hoàn chỉnh nhất: Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long
Trang 33Cơ sở và nội dung hai Bộ luật này một phần kế thừa những bộ luật trước
đó, một phần tham khảo mô phỏng những Bộ luật của Trung Hoa, phần còn lại dựa trên những thực tế của xã hội đương thời phản ánh qua những tục lệ trong dân chúng và hương ước ở các làng xã (tr.234)
Trên thực tế, đời sống pháp lý vẫn kết hợp cả hai thứ luật: tập quán và pháp luật thành văn, phép nước và lệ làng Giới nghiên cứu cho rằng luật pháp Việt Nam phản ánh sự hỗn dung của cả hai tố chất đời sống Đông Nam Á và Đông Á,
nên có phần mềm dẻo hơn và đậm tính nhân văn hơn pháp luật Trung Hoa Quốc
triều hình luật (tức Luật Hồng Đức) gồm 6 quyển, 13 chương, tổng cộng 722 điều
luật Đó là các chương: Danh lệ (thuật ngữ tư pháp), Vệ cấm (canh giữ, bảo vệ),
Vi chế (làm trái pháp luật), Quân chính (điều luật quân đội), Hộ hôn (hôn nhân gia đình), Điền sản (ruộng đất), Thông gian (quan hệ nam nữ bất chính), Đạo tặc (trộm cắp), Đấu tụng (đánh nhau kiện cáo), Trá ngụy (gian dối), Tạp luật (điều khoản linh tinh), Bộ vong (bắt tội phạm chạy trốn), Đoán ngục (xử án)
Điều này xảy ra bởi lẽ dân tình thường không biết nhiều về luật nước, họ chỉ giỏi về lệ của làng mình: “Một nhược điểm khác là pháp luật, dù được soạn thảo rất tỉ mỉ đến từng chi tiết, nhưng vẫn không minh bạch, công khai Dân chúng không có điều kiện hiểu biết luật, người dân thường không được tàng trữ sách luật, khi ra công đường không được quyền tranh cãi” (Nguyễn Thừa Hỷ,
2015, tr.241)
Như vậy, rõ ràng phong tục có tác dụng rất lớn và gần như chi phối mọi hoạt động trong đời sống xã hội người Việt bên cạnh “luật nước nghiêm minh”
1.1.1.2 Nội dung phong tục
Tư liệu địa chí đề cập đến nhiều vấn đề của đời sống, tùy theo quy mô biên soạn, quan điểm biên soạn mà địa chí có kết cấu khác nhau Trong đó, phong tục luôn xuất hiện ở tất cả các bộ địa chí Hán Nôm20 lẫn Quốc ngữ Mục bàn về
20 Chi tiết xin xem thêm ở Phụ lục 3
Trang 34phong tục trong Địa chí xã Thủy Phù, tác giả Lê Đình Phúc (2013) cho rằng:
“Phong tục là nếp sống trong gia đình, gia tộc và ngoài làng xóm” (tr.110) Theo
đó, tác giả triển khai nội dung phong tục tại xã Thủy Phù bao gồm:
- Phong tục hôn nhân;
- Phong tục sinh và nuôi dạy con;
- Phong tục tang lễ;
- Phong tục lễ tết và lễ hội
Tuy rằng chỉ bàn về phong tục trong một xã, nhưng sự phân chia phong tục như trên có thể nói là đầy đủ và hợp lý, có thể đại diện được cho phong tục cả nước nữa Điều này cũng dễ hiểu, bởi thực chất phong tục có xuất phát điểm từ một kết cấu xã hội đặc biệt, đó là làng Những nghiên cứu lớn hơn như tỉnh chí, khu vực chí hay quốc chí thì cũng là sự tổng hợp của rất nhiều kết cấu đặc biệt ấy Cho nên, không gian phản ánh văn hóa càng lớn thì sẽ càng có những dị biệt trong biểu hiện ở lối sống văn hóa nói chung, phong tục nói riêng Cũng chính vì vậy mà phong tục, tín ngưỡng trong các bộ địa chí, cả bằng chữ Hán thời trung đại lẫn chữ Quốc ngữ thời hiện đại, nhìn chung không có gì là cụ thể cả, phải đến hương ước, tục lệ từng làng thì chúng ta mới thấy những phản ánh chính xác, đầy
đủ về phong tục cũng như tín ngưỡng truyền thống của Việt Nam Thử “sang”
một làng khác: Nguyễn Huy Lợi trong Địa chí làng Đại Khối thì như thế nào?
Tác giả chỉ xét nội dung phong tục của làng Đại Khối thuộc thành phố Thanh Hóa bao gồm việc sinh đẻ, việc cưới xin và việc tang ma (Nguyễn Huy Lợi, 2011) thôi thì đã khác lắm rồi Đây là những phong tục liên quan trực tiếp đến vòng đời người Tác giả xem các lễ tết, lễ hội (vòng thời gian) gắn với các hoạt động tín ngưỡng nên không xếp chúng vào hệ thống phong tục
Trong khi đó, ở Địa chí Thái Bình, các tác giả Nguyễn Quang Ân & Phạm
Minh Đức cho rằng nội dung phong tục bao gồm các ngày lễ tết trong năm, phong
Trang 35tục hôn nhân, phong tục sinh đẻ và nuôi con, phong tục mừng thọ và việc tang (Nguyễn Quang Ân & Phạm Minh Đức, 2011)
Đặng Văn Tu & Nguyễn Tá Nhí (2011) trong Địa chí Hà Tây bàn về phong
tục tập quán gồm nhà ở, ẩm thực, việc mặc, tết, lễ hội, việc hôn nhân, việc tang và hương ước Có thể thấy, ở đây chỉ có tết, lễ hội, việc hôn nhân và việc tang là phù hợp với khái niệm phong tục, còn nhà ở, ẩm thực và việc mặc gắn liền với tập quán, vốn là những thói quen cộng đồng chưa phải phong tục hay thuộc văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên như Trần Ngọc Thêm đã phân loại21 Còn hương ước là những quy định cụ thể cả về phong tục, tín ngưỡng, lối sống của làng chứ bản thân nó không phải là phong tục Nói cách khác, hương ước là cơ sở thực hành của phong tục Nói một cách hình tượng thì hương ước là phần xác, còn phong tục là linh hồn Nói theo thể văn thì hương ước là một thể văn chuyên phản ảnh những quy ước trong một làng Lý giải cho việc xếp ăn, mặc, ở vào phong tục tập quán, các tác giả viết: “Phong tục tập quán của một cộng đồng người trong trong một làng, một xã hay một tỉnh, một nước thường biểu hiện rõ nhất ở việc ở, việc ăn; dân gian quen gọi là nếp ăn, nếp ở” (Đặng Văn Tu & Nguyễn Tá Nhí,
2011, tr.653)
Đồng quan điểm này, tác giả Nguyễn Đăng Duy trong Văn hóa Việt Nam -
đỉnh cao Đại Việt xếp phong tục thuộc vào văn hóa nếp sống gồm 9 thành tố như
Trang 36- Nếp sống tang lễ;
- Nếp sống lễ tết;
- Nếp sống lễ hội;
- Nếp sống giao tiếp ứng xử (Nguyễn Đăng Duy, 2004)
Cũng vậy, từ năm 1938 trong công trình Việt Nam văn hóa sử cương, Đào
Duy Anh chia nội dung phong tục Việt Nam gồm 7 thành tố là: ăn uống, trang phục, hôn nhân, bệnh tật, tang chế, thượng thọ và phần hoàng (Đào Duy Anh, 2014)
Cách chia nội dung cấu trúc phong tục phức tạp như trên là do quan niệm
về phong tục, cũng như đối tượng nghiên cứu, thời điểm nghiên cứu của các giả tác khác nhau Nhưng theo chúng tôi, quan niệm đó có nhiều chỗ chưa hợp lý, bởi trong đời sống văn hóa của con người có rất nhiều yếu tố chi phối, đồng thời với
nó sẽ có nhiều cách tổ chức, ứng xử trở lại
Trong công trình Almanach Lịch sử văn hóa truyền thống Việt Nam do Tạ Ngọc Liễn (2008) chủ biên, mục bàn về Tục lệ truyền thống các dân tộc Việt
Nam, các tác giả đã khẳng định: “Tục lệ nhằm để duy trì củng cố ổn định cuộc
sống của cộng đồng, nhằm điều chỉnh và uốn nắn những biến động trong khuôn khổ cộng đồng; tục lệ như là khuôn phép sinh hoạt chung nhất của cộng đồng, bắt mọi thành viên tự nguyện tuân thủ” (tr.787) Theo đó, sách chia tục lệ lớn nhất và bao trùm toàn thể cộng đồng gồm 5 loại là: Tục lệ vòng thời gian, tục lệ vòng đời người, tục lệ tôn thờ, tục lệ thờ cúng bách thần và tục lệ thờ cúng tổ tiên sinh thành Từng nội dung cụ thể, được các tác giả giải thích khá tỉ mỉ Chẳng hạn:
“Tục lệ vòng thời gian là toàn cảnh bức tranh nông nghiệp - nông thôn - miền núi của các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam suốt mấy ngàn năm qua” (tr.788)
Tục lệ vòng đời người có ba mốc quan trọng là sinh nở, cưới gả và tang
ma Sau khi trình bày rất nhiều biểu hiện bên trong của mỗi tục, các tác giả còn
Trang 37cho biết “Ba biểu hiện của tục lệ vòng đời trên là chủ đạo, nhưng trong vòng đời, tùy theo điều kiện cụ thể mà có khá nhiều tục lệ khác nữa” (tr.789)
Đây chính là những phong tục như quan điểm mà phần lớn các nhà nghiên cứu thừa nhận mà chúng tôi phân tích ở chương 1 Còn các tục lệ tôn thờ, nhìn chung thiên về tín ngưỡng Các giả tác cho rằng người Việt tôn thờ “những đế vương, anh hùng dân tộc, những người có công với nước, với dân, những người khai canh lập làng, những người khai sáng các ngành nghề… Đây là những tục lệ rất phổ biến của các dân tộc Việt Nam” (tr.789) thì rõ ràng là những biểu hiện của tín ngưỡng thờ thần của người Việt Riêng tục lệ thờ cúng bách thần chỉ bao gồm
“thổ công, thổ địa, thần tài, sơn thần, thủy thần, thần cây” (tr.789) là chưa thoả đáng với mức độ phong phú thần linh của người Việt Tương tự, tục thờ cúng tổ tiên sinh thành là một nét đẹp truyền thống của hiếu đạo “được thể hiện rất phong phú, từ tang ma, giỗ chạp, mồ mả, nhà thờ, ghi chép gia phả, kiêng huý như là một phức hệ các tục lệ” (tr.789) cũng chưa thoả đáng Có thể thấy, ở đây có sự rối rắm trong cách diễn đạt nội dung cấu trúc giữa phong tục và tín ngưỡng Tuy vậy, việc rối rắm ấy không hoàn toàn vô lý Chẳng hạn, do lòng nhớ ơn tổ tiên sinh mới có tục thờ cúng tổ tiên Các biểu hiện của thờ cúng tổ tiên (tín ngưỡng) được thể hiện ngay từ bước thực hành như tang ma, giỗ chạp, lễ tết hàng năm (phong tục)
Qua các công trình nghiên cứu về phong tục đã phân tích, đối chiếu một cách có hệ thống, chúng tôi cho rằng phong tục Việt Nam nổi bật hai nội dung quan trọng và xuyên suốt đó là phong tục lễ tết (vòng thời gian vũ trụ) và phong tục vòng đời người (vòng thời gian nhân sinh)
1.1.2 Khái niệm và nội dung của tín ngưỡng
1.1.2.1 Khái niệm tín ngưỡng Riêng về khái niệm tín ngưỡng - một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm - cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm mang đủ tính khoa học, giúp
Trang 38nhận diện đối tượng này một cách thống nhất Mỗi nhà nghiên cứu, tùy theo đối tượng và mục đích nghiên cứu của mình mà có các cách hiểu khác nhau về tín ngưỡng
Theo nghĩa Hán Việt, Bửu Kế (2009) trong Từ điển Hán Việt từ nguyên giải thích: “信 tín: tin; 仰 ngưỡng: ngửa mặt nhìn lên (tỏ ý cung kính) Tín
ngưỡng: vừa tin, vừa kính trọng, hâm mộ” (tr.1792) Đây có thể xem là ý niệm cơ
sở về tín ngưỡng
Nhìn chung, các sách luận bàn về tín ngưỡng hiện nay rất nhiều, nhưng nêu một giới thuyết, một cách hiểu về nó thì không nhiều tác giả thực hiện Do vậy, nội dung tín ngưỡng trong các sách loại này rất khác nhau, thậm chí vượt hẳn nội hàm một ý niệm thông thường về tín ngưỡng Tuy nhiên, cũng có những tác giả ý thức rất rõ tầm quan trọng của khái niệm nên cũng nêu một cách hiểu trong công
trình của mình Chẳng hạn, tác giả Đoàn Triệu Long (2013) trong Tín ngưỡng
truyền thống Việt Nam thì cho rằng:
Tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào những điều thiêng liêng, huyền bí vượt ra ngoài thế giới thực tại Tín ngưỡng được hình thành từ sự tưởng tượng ra, rồi gửi gắm niềm tin vào một lực lượng thánh thần mang sức mạnh siêu phàm có thể chi phối mọi hoạt động của con người Từ niềm tin đó, con người - với tư cách của một cá nhân hay một cộng đồng, sẽ có những hành vi, những hoạt động nghi lễ, thờ cúng để biểu lộ tình cảm của mình như kính trọng, sợ hãi, cầu xin đối với thế giới siêu nhiên đó Cũng chính niềm tin vào một thế giới thiêng, một lực lượng siêu nhiên ở bên ngoài đời sống hiện thực là một trong những nhân tố quan trọng để hình thành nên một đời sống tâm linh của con người; rồi từ đó,
theo thời gian để được chế định thành những hành vi tôn sùng, thờ cúng, những nghi lễ, tập tục (TGLA nhấn mạnh) khác nhau tùy theo sự cảm nhận
của mỗi cộng đồng (tr.7)
Trang 39Vũ Ngọc Khánh & Phạm Minh Thảo (2009) trong Từ điển Việt Nam - văn
hóa tín ngưỡng, phong tục không có mục từ “tín ngưỡng”, mà chỉ có mục từ “tín
ngưỡng dân gian” với những giải thích khá chi tiết: “Con người cảm nhận thế giới qua niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên đã hình dung ra thần thánh có sức mạnh kỳ diệu, mặc nhiên thống trị cuộc sống nhân gian Niềm tin đó tạo nên
những hoạt động tương ứng, biểu hiện qua việc thờ cúng, các nghi lễ, tập tục
(TGLA nhấn mạnh)” (tr.890)
Trần Ngọc Thêm (1999) trong Cơ sở văn hóa Việt Nam không nêu lên định
nghĩa về tín ngưỡng Nhưng ở mục viết về nội dung tín ngưỡng, tác giả đi trực tiếp vào các mục là: tín ngưỡng phồn thực (tr.127), tín ngưỡng sùng bái tự nhiên (tr.132) và tín ngưỡng sùng bái con người (tr.136) Tuy không trực tiếp nêu định
nghĩa nhưng trong phần Dẫn nhập của chương Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân
thì tác giả cũng đã giới thuyết khá rõ: “Đời sống mỗi cá nhân trong cộng đồng tuân theo những phong tục lâu đời và, khi trình độ hiểu biết còn thấp, họ tôn sùng những thần thánh do họ nghĩ ra (tín ngưỡng) Từ tự phát lên tự giác, tín ngưỡng
có thể trở thành tôn giáo, song điều đó đã không xảy ra ở xã hội Việt Nam cổ truyền là nơi mạnh về tư duy tổng hợp mà thiếu óc phân tích” (tr.126)
Huỳnh Công Bá (2008) trong Cơ sở văn hóa Việt Nam nêu định nghĩa gọn
gàng, đơn nghĩa, phù hợp lĩnh vực nghiên cứu là “cơ sở văn hóa” nhưng đủ cho chúng ta thấy được các giá trị tồn tại của tín ngưỡng: “Tín ngưỡng là thái độ mang tính xã hội của các cá nhân, đoàn thể đối với một năng lực mà theo ý họ
năng lực này đang ảnh hưởng hoặc đang định đoạt đến cuộc đời, số phận hoặc
lợi ích của họ (TGLA nhấn mạnh)” (tr.427) Tín ngưỡng đúng là thái độ cá nhân,
xuất phát từ cá nhân hoặc một nhóm người nhất định chứ không phải toàn thể Hành vi tín ngưỡng của cá nhân sẽ tác động trực tiếp đến cá nhân đó và cả cộng đồng xung quanh họ (mang tính xã hội) Bởi cá nhân luôn tồn tại và hoạt động trong một hay một số cộng đồng nhất định Đặng Văn Tu & Nguyễn Tá Nhí
Trang 40(2011) trong Địa chí Hà Tây nêu định nghĩa không đi vào hành động cá nhân
nhưng hướng đến sự bao quát nội hàm tín ngưỡng: “Tín ngưỡng là đức tin của
con người vào một sự vật, hiện tượng nào đó mà người ta hi vọng rằng chúng có
tác động trở lại đối với cuộc sống (TGLA nhấn mạnh)” (tr.692) Từ đó cho thấy
rằng, nếu con người không tin thì không hành vi tín ngưỡng nào tồn tại
Qua các định nghĩa nêu trên, từ những chỗ chúng tôi nhấn mạnh, chúng ta nhận thấy tín ngưỡng có mấy đặc trưng như sau:
- Đó là một niềm tin tuyệt đối, có hệ thống, không cần chứng minh bởi khoa học và thực tiễn;
- Có tính chất dân gian, gắn với sinh hoạt văn hóa dân gian22;
- Thế giới siêu nhiên, siêu linh với đặc tính cơ bản là yếu tố thiêng do chính con người tưởng tượng và sáng tạo ra đang ảnh hưởng, tác động, chi phối, thậm chí là định đoạt đến đời sống trần tục của con người
Và điểm chung nhất, nổi bật nhất của tín ngưỡng mà các nhà nghiên cứu đều thừa nhận là:
- “Niềm tin đó tạo nên những hoạt động tương ứng, biểu hiện qua việc thờ cúng, các nghi lễ, tập tục” (Vũ Ngọc Khánh & Phạm Minh Thảo, 2009, tr.890)
- “Được chế định thành những hành vi tôn sùng, thờ cúng, những nghi lễ, tập tục” (Đoàn Triệu Long, 2013, tr.7)
Từ những đặc điểm nội dung trên, chúng tôi đi đến định nghĩa về tín ngưỡng sau đây: Tín ngưỡng là niềm tin có hệ thống gắn với sinh hoạt văn hóa dân gian thể hiện sự tôn sùng lực lượng siêu nhiên thông qua các hoạt động nghi
TGLA (2016) Hệ tín ngưỡng đa thần người Việt miền Tây Nam Bộ Trong Văn hóa - xã hội Đồng bằng Sông
Cửu Long trong tiến trình hội nhập và phát triển Tr 57-67; TGLA (2016) Góp phần xác định khái niệm tín
ngưỡng Tạp chí Khoa học Cần Thơ 04(58)-2016 tr.30-33