ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN VŨ KHÁNH NHẬN DIỆN CÁC MÔ HÌNH GIÁO DỤC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TRẺ VỊ THÀNH NIÊN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (Điể[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ KHÁNH
NHẬN DIỆN CÁC MÔ HÌNH GIÁO DỤC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TRẺ VỊ THÀNH NIÊN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(Điển cứu tại phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ KHÁNH
NHẬN DIỆN CÁC MÔ HÌNH GIÁO DỤC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TRẺ VỊ THÀNH NIÊN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(Điển cứu tại phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh)
CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC
MÃ NGÀNH: 60.31.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN PHI PHƯỢNG
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng bản thân tôi và được hướng dẫn khoa học bởi Tiến sĩ Trần Phi Phượng Các nội dung, kết quả trong đề tài này
là trung thực và chưa có người khác công bố trong các công trình khác
Các biên bản phỏng vấn sâu, số liệu tổng hợp từ phiếu khảo sát mà tôi dẫn chứng trong luận văn là kết quả nghiên cứu thực địa của tôi và các cộng tác viên tại phường
Linh Trung, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 10/2020 đến tháng
3/2021
Tp Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 11 năm 2021
Tác giả luận văn
Vũ Khánh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
“Không ai đơn độc đứng trên đỉnh thành công” Quả đúng như vậy, trong bất kể vấn
đề gì trong cuộc sống, bạn sẽ chẳng thể làm tốt nhất nếu như không có sự đồng hành, giúp
đỡ dù nhiều hay ít, trực tiếp hay gián tiếp Nhìn lại quá trình học tập và thực hiện đề tài trong bốn năm, tôi nhận thấy mình đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của quá nhiều từ Bố,
Mẹ, Thầy, Cô, anh, chị, em, bạn bè
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn 150 anh, chị đang trú tại phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức Tôi sẽ không thể nào hoàn tất được luận văn này nếu không có sự hỗ trợ của các anh chị Tôi thật sự biết ơn khi nhiều phụ huynh dù rất bận rộn nhưng đã dành thời gian quý báu để trò chuyện, chia sẻ với tôi
Em kính gửi lời tri ân sâu sắc đến Tiến sĩ Trần Phi Phượng – Người hướng dẫn khoa học cho em trong luận văn này, cảm ơn Cô trong thời gian qua đã quan tâm, giúp đỡ em bằng những kinh nghiệm quý báu và tận tình hướng dẫn em thực hiện luận văn
Em xin chân thành cảm ơn Quý Thầy, Cô là cán bộ, giảng viên Khoa Xã Hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
đã truyền đạt cho em những tri thức, kinh nghiệm quý báu để em mở rộng thêm vốn kiến thức, kinh nghiệm cho bản thân mình
Con xin bày tỏ lòng biết ơn đến Bố, Mẹ, những người thân trong gia đình đã phải vất vả nhiều hơn trong suốt thời gian con vừa học tập, vừa hoạt động, công tác
Xin cảm ơn tập thể các Thầy, Cô, Ban Giám đốc Trung tâm Phát triển Công nghệ Thông tin, Trường Đại học Công nghệ Thông tin, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh đã quan tâm, động viên, tạo điều kiện để tôi an tâm hoàn thành tốt việc học
Đặc biệt cảm ơn Ban lãnh đạo Ủy ban Nhân dân, Công an Nhân dân, Đoàn Thanh niên phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức và các Cô, Chú, Anh, Chị cán bộ tổ dân phố, khu phố của phường đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi được hoàn thành tốt luận văn
Trang 5Tôi đặc biệt gửi lời cảm ơn chị Nhả Phương, em Bảo Trân, chị Mai Phương – những người bạn đã gắn bó, động viên, hỗ trợ tôi trong thời gian thực hiện luận văn này
Cuối cùng, trân trọng biết ơn những Giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ, những nhà khoa học, những người đã thực hiện các công trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí mà tôi đã tham khảo, kế thừa và sử dụng những tri thức đó trong bài nghiên cứu này
Trân trọng
Trang 6MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BẢN ĐỒ 7
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tên đề tài: 1
2 Đặt vấn đề nghiên cứu: 1
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu: 4
3.1 Mục tiêu chung: 4
3.2 Mục tiêu cụ thể: 4
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu: 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu: 4
4.2 Khách thể nghiên cứu: 5
4.3 Phạm vi nghiên cứu: 5
5 Khung lý thuyết 5
6 Phương pháp nghiên cứu: 7
6.1 Phương pháp thu thập thông tin: 7
6.2 Phương pháp xử lý thông tin 8
7 Bố cục của nghiên cứu 9
8 Đóng góp của đề tài nghiên cứu 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 11
1.1 Thao tác hóa các khái niệm cơ bản 11
1.2 Về lý thuyết áp dụng 14
Trang 71.3 Khung phân tích 18
1.4 Tổng quan tình hình nghiên cứu 18
1.5 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu – phường Linh Trung 27
Tiểu kết chương 1 30
CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH GIÁO DỤC CON VỊ THÀNH NIÊN TRONG GIA ĐÌNH HẠT NHÂN 31
2.1 Nội dung giáo dục đối với trẻ vị thành niên 31
2.2 Mô hình giáo dục đối với trẻ vị thành niên 50
2.2.1 Mô hình giáo dục khuyên bảo, thuyết phục 51
2.2.2 Mô hình giải pháp kỷ luật, trừng phạt 54
2.2.3 Mô hình giải pháp khen, thưởng 57
2.3 Thời gian dành cho việc giáo dục con 62
2.4 Hiệu quả trong việc giáo dục con vị thành niên và định hướng tương lai 70
2.5 Thuận lợi và khó khăn trong việc giáo dục con vị thành niên 78
Tiểu kết chương 2: 81
CHƯƠNG 3: NHỮNG TÁC NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN MÔ HÌNH GIÁO DỤC CON VỊ THÀNH NIÊN 83
3.1 Đặc điểm nhân khẩu của cha mẹ có con vị thành niên 83
3.2 Nhận thức và sự quan tâm của cha mẹ trong việc lựa chọn mô hình giáo dục gia đình cho con vị thành niên 85
3.3 Các tác nhân đến bên ngoài ảnh hưởng đến việc lựa chọn mô hình giáo dục gia đình đối với trẻ vị thành niên 96
Trang 83.4 Tác nhân đến từ gia đình ảnh hưởng đến việc lựa chọn mô hình giáo dục gia đình
đối với trẻ vị thành niên 100
Tiểu kết chương 3: 103
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105
1 Kết luận và kiểm chứng giả thuyết 105
2 Hạn chế của đề tài 108
3 Đề xuất hướng nghiên cứu cần phát triển thêm 108
4 Một vài vấn đề đặt ra mang tính khuyến nghị 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
PHẦN PHỤ LỤC 120
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BẢN ĐỒ
Bản đồ 1: Vị trí địa lý phường Linh Trung, Thành phố Thủ Đức 28
Bảng 2.1 Lĩnh vực giáo dục và nội dung dạy dỗ 33
Bảng 2.2 Tương quan giữa mức độ dạy về nội trợ, việc nhà và mức độ tham gia của trẻ 43
Bảng 2.3 Tương quan giữa phương pháp dạy con và tính chất công việc 53
Bảng 2.4 Hình thức phạt con vị thành niên khi mắc lỗi 54
Bảng 2.5 Tương quan giữa độ học vấn và hình thức phạt trẻ vị thanh niên 57
Bảng 2.6 Tương quan giữa độ học vấn và dung lời lẽ xúc phạm con 61
Bảng 2.7 Thời gian trung bình giáo dục con vị thành niên (phút/ ngày) 63
Bảng 2.8 Tương quan giữa nghề nghiệp của cha mẹ và thời gian trung bình dành cho việc giáo dục con vị thành niên (phút/ ngày) 64
Bảng 2.9 Các vấn đề cha mẹ tâm sự với con vị thành niên 70
Bảng 2.10 Các hành vi của trẻ vị thành niên 72
Bảng 2.11 Tần suất định hướng các nội dung giáo dục cho con vị thành niên 77
Bảng 2.12 Thuận lợi trong việc giáo dục con vị thành niên 79
Bảng 2.13 Mức độ khó khăn trong việc giáo dục con vị thành niên 80
Bảng 3.1 Nguyên nhân trẻ vị thành niên không ngoan 87
Bảng 3.2 Yếu tố tác động tới việc giáo dục con vị thành niên 88
Bảng 3.3 Nhận xét về trách nhiệm chính của gia đình trong việc dạy con 89
Bảng 3.4 Đánh giá mức độ các vấn đề quan tâm 90
Bảng 3.5 Mức độ quản lý trẻ vị thành niên 95
Bảng 3.6 Mức độ tiếp cận thông tin liên quan đến trẻ vị thành niên 99
Bảng 3.7 Tương quan giữa tính chất công việc với mức độ tâm sự với con 100
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tên đề tài:
Nhận diện các mô hình giáo dục gia đình đối với trẻ vị thành niên ở thành phố Hồ Chí Minh (điển cứu tại phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh)
2 Đặt vấn đề nghiên cứu:
Gia đình là tế bào của xã hội, là môi trường sống đầu tiên với hầu hết loài người Gia đình có trọng trách quan trọng trong việc duy trì nòi giống, hình thành, dưỡng dục trí lực và thể lực con người Là cái nôi trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống, văn mình nhân loại và cũng là thiết chế hết sức phong phú, phức tạp, mâu thuẫn
và biến động Trải qua nhiều thế hệ, gia đình Việt Nam cũng đã có nhiều sự khác biệt giữa các vùng miền, thành thị và nông thôn Từ gia đình lớn kiểu tam, tứ đại đồng đường,
nó dần chuyển thành gia đình hạt nhân, nhất là trong môi trường gia đình đô thị, gia đình hạt nhân đang dần chiếm số lượng hơn các gia đình truyền thống Nhưng điều đó không phủ nhận sự tồn tại của các chức năng cơ bản của gia đình, nhất là trong việc phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Vấn đề gia đình thường là tâm điểm trong các nghiên cứu xã hội học, bởi sự biến đổi không ngừng các giá trị bên trong và bên ngoài, đặc biệt là trong sự giao thoa của nền văn hoá phương Đông và phương Tây Không riêng gì các nước châu Á, Việt Nam cũng là một nước chịu tác động của cuộc giao thoa đó cùng với sự đi lên của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá Nó đặt ra thách thức trong việc giữ gìn các chức năng, truyền thống của gia đình
Khi đô thị hoá phát triển đến một mức độ nhất định, khả năng thực hiện chức năng gia đình đối với con cái sẽ bị suy giảm Đặc biệt là khi các thành viên gia đình tập trung
Trang 11tham gia hoạt động sản xuất xã hội thì hoạt động duy trì mối quan hệ trong gia đình tất yếu sẽ ảnh hưởng, làm suy yếu các chức năng của gia đình hiện nay, đặc biệt là chức năng giáo dục của gia đình Khi chức năng giáo dục học tập của con cái ngày càng đi lên nhờ các thiết chế khác bổ trợ thì các giá trị truyền thống như kính trên nhường dưới, nhân, lễ, nghĩa đang dần xuống cấp Tình trạng bạo hành gia đình, trẻ em bị xâm hại, vi phạm các nội quy, quy chuẩn pháp luật, bạo lực học đường, nghiện mạng xã hội đang có
xu hướng gia tăng để lại những hậu quả đáng lo ngại trong nhiều mặt đối với gia đình và
xã hội Suy cho cùng, thiết chế gia đình hiện nay đang gặp khó khăn trong việc giữ vai trò chủ đạo trong quá trình xã hội hoá ở trẻ vị thành niên và điều đó đang được thể hiện qua cách phó thác vào nhà trường, xã hội,…
Chúng ta biết rằng vị thành niên là lứa tuổi dậy thì nhạy cảm nên tâm sinh lý, tình cảm có nhiều thay đổi Hiện nay, trẻ vị thành niên được tiếp thu những giá trị mới từ các tác nhân xã hội hóa khác hẳn giai đoạn mà các bậc phụ huynh trải qua Thiếu sự thấu hiểu trẻ em và quan sát tâm lý, hành vi của trẻ là một trong những lý do làm giảm sút vai trò của gia đình được thể hiện trong chức năng giáo dục trẻ em1
Vấn đề nghiên cứu được định hình, xuất phát từ tình hình thực tế sau khi tác giả tham khảo các niên giám thống kê, các cuộc khảo sát và các đề tài khác về tình hình bạo lực học đường, vi phạm pháp luật của trẻ vị thành niên, tình trạng xâm hại đối với trẻ em
và số lượng các học sinh lưu ban, bỏ học phân theo cấp độ học và giới tính tại Thành phố Hồ Chí Minh đang nằm ở con số cao trong những năm 2011- 2015 Cụ thể theo Niên giám thống kê 2015 của Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2011-2012 số lượng học sinh bỏ học là hơn 7.300 học sinh và học sinh lưu ban là hơn 11.400 học sinh tập trung chủ yếu ở khối trung học cơ sở và trung học phổ thông, đến năm học 2014-
2015 số lượng học sinh bỏ học đã giảm dần tuy nhiên vẫn là con số cao với hơn 2.600 học sinh bỏ học và hơn 9.700 học sinh lưu ban vẫn tập trung ở khối trung học cơ sở và
1
Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ, 1994
Trang 12trung học phổ thông Theo Nguyễn Đức Chiện (2013), gia đình hiện nay quá chú trọng vào mưu sinh nên ít cha mẹ nào dành nhiều thời gian để giáo dục con cái về đạo đức và
có nhiều bậc cha mẹ không đủ kiến thức để dạy dỗ con cái, lúng túng trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên Khi tìm kiếm thuật ngữ trẻ vị thành niên trên google ta sẽ thấy hơn 67 triệu kết quả về vấn đề này mà chủ yếu là các nội dung về: khủng hoảng tâm
lý, đề cao vật chất, nạo phá thai, mối quan hệ với cha mẹ gặp khó khăn, nguy cơ vướng vào tội phạm và tệ nạn xã hội, thiếu kỹ năng sống, bạo lực học đường… Trong các chức năng của gia đình, chức năng giáo dục là một trong những chức năng đầu tiên và có vai trò quan trọng trong việc định hình và phát triển nhân cách, đạo đức, bản chất cũng như khả năng độc lập, tư duy sáng tạo của trẻ Trong báo cáo của Coleman (1966) cũng nhấn mạnh về vai trò của gia đình đối với kết quả học tập, phát triển thể lực và tinh thần của trẻ Tuy nhiên tại Việt Nam, các báo cáo, đánh giá thường tập trung vào các cơ sở giáo dục, nhà trường cũng như chức năng của nó mà bỏ qua tiền đề quan trọng trong việc hình thành tư duy, lối sống của trẻ là giáo dục gia đình
Trong giai đoạn công nghiệp hoá 4.0 đi kèm với đô thị hóa và hội nhập quốc tế đang đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự khẳng định mình bằng năng lực, khả năng sáng tạo, tư duy logic và phẩm hạnh của bản thân Xã hội Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng luôn ưu tiên và mong đợi sự góp sức của những nhà khoa học, những chuyên gia, những nhà kinh doanh, nhà quản lý có kinh nghiệm, sức sáng tạo và có trí lực tốt, trong đó không thiếu lực lượng lao động có kỹ năng tay nghề tốt Để hoàn thành nhiệm vụ trên, đòi hỏi giáo dục nói chung và giáo dục gia đình nói riêng phải không ngừng đổi mới, sáng tạo, linh hoạt thích nghi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hoà nhập thế giới nhưng vẫn giữ được hình tượng, bản sắc dân tộc Việt Nam Trên đây
là cơ sở để tác giả chọn đề tài: Nhận diện các mô hình giáo dục gia đình đối với trẻ vị thành niên ở thành phố Hồ Chí Minh (điển cứu tại phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh)
Trang 133 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Mục tiêu chung:
Nhận diện các mô hình giáo dục của gia đình hạt nhân đối với trẻ vị thành niên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (điển cứu tại phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh)
3.2 Mục tiêu cụ thể:
Thứ nhất là tìm hiểu thực trạng về nhận thức, sự quan tâm của cha mẹ gia đình hạt nhân đối với việc giáo dục gia đình con vị thành niên
Thứ hai là nhận diện các mô hình giáo dục gia đình thực hiện chức năng giáo dục gia đình với trẻ vị thành niên hiện nay qua nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, thời gian dành cho việc giáo dục trẻ vị thành niên…
Ba là, phân tích những khó khăn và thuận lợi, định hướng, các nhân tố tác động
cả bên trong và bên ngoài trong việc thực hiện vai trò giáo dục của gia đình đối với trẻ
vị thành niên
Bốn là, đề xuất các phương hướng và khuyến nghị nhằm nâng cao vị thế, vai trò
và thể hiện được sự linh hoạt, thích nghi của chức năng giáo dục gia đình đối với trẻ vị thành niên trong giai đoạn công nghiệp 4.0
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Các mô hình giáo dục gia đình đối với trẻ vị thành niên ở thành phố Hồ Chí Minh
Trang 14là công nhân làm việc xa nhà tại các doanh nghiệp, công ty, do đó thời gian chăm sóc, giáo dục con cái trong độ tuổi vị thành niên có phần eo hẹp hơn so với các địa bàn còn lại
5 Khung lý thuyết
Đề tài sử dụng hướng tiếp cận cấu trúc chức năng khi nghiên cứu về giáo dục gia đình đối với trẻ vị thành niên Với hướng tiếp cận này, gia đình được xem là một thiết chế với những cơ cấu, thành phần hợp thành để có thể thực hiện các chức năng nhiệm
vụ đối với toàn xã hội và đối với các thành viên của nó Quan điểm của Goode về nhận thức của cha mẹ về việc giáo dục trẻ vị thành niên bị tác động bởi bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tiếp thu nội dung của những nhà nghiên cứu như T Parson, W.F Ogburn, hướng về sự xung đột vai trò giữa các bậc phụ huynh khi vừa thực hiện chức năng kinh tế xã hội, vừa thực hiện chức năng giáo dục gia đình Một hướng mới trong
Trang 15tiếp cận cấu trúc chức năng, Robertson (1991) cho rằng gia đình như một tổ chức xã hội của sự tái sinh sản của con người, do đó, không thể nghiên cứu hộ gia đình như một đơn
vị riêng lẻ mà cần thiết phải đặt trong mối tương quan chặt chẽ với môi trường kinh tế chính trị Ngoài ra, quan điểm của thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget còn nhân mạnh việc giáo dục của cha mẹ gia đình hạt nhận dành cho trẻ vị thành niên và yếu tố tự thân, tự nhận thức của trẻ vị thành niên theo từng giao đoạn là những định hướng để tác
giả đặt ra các câu hỏi nghiên cứu và đưa ra giải thuyết của đề tài
Câu hỏi nghiên cứu:
Một là thực trạng lựa chọn các mô hình giáo dục gia đình trẻ vị thành niên trong việc thực hiện chức năng giáo dục trẻ vị thành niên?
Hai là các yếu tố tác động đến việc lựa chọn mô hình giáo dục gia đình đối với trẻ vị thành niên qua các phương diện, hình thức nào và gặp những thuận lợi, khó khăn nào? (về nội dung, mô hình giải pháp, thời gian dành cho con)?
Ba là tác nhân nào ảnh hưởng đến kết quả và định hướng mô hình giáo dục gia đình cho trẻ vị thành niên trong giai đoạn tiếp theo (về nội dung, mô hình giải pháp, thời gian dành cho việc dạy dỗ con vị thành niên)?
Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Các gia đình hạt nhận nhận thức đầy đủ vai trò của giáo dục gia đình đối với con là trẻ vị thành niên tuy nhiên do đặc tính công việc nên chưa có phương
pháp phù hợp và thời gian nhiều cho trẻ nên hiệu quả giáo dục chưa cao (kết quả học tập, xếp loại hạnh kiểm, sự hài lòng của cha mẹ, hành vi vi phạm pháp luật, thái độ tiêu cực của con cái)
Giả thuyết 2: Nội dung giảng dạy và mô hình giáo dục của cha mẹ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tác động như giới tính, trình độ học vấn và nghề nghiệp Trình độ học
vấn và nghề nghiệp của các bậc cha mẹ khác nhau thì nội dung và phương pháp giáo dục đối với trẻ vị thành niên cũng khác nhau
Trang 16Giả thuyết 3: Áp lực công việc, tính chất nghề của các bậc phụ huynh là nhân tố
quan trọng trong việc xác định thời gian dành cho việc thực hiện chức năng giáo dục con cái của gia đình
6 Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính để tìm ra mối quan hệ giữa mô hình giáo dục gia đình về nội dung giáo dục, thời gian giáo dục, phương pháp giáo dục và kết quả học tập, hạnh kiểm và mức độ tham gia việc nhà của trẻ vị thành niên, từ đó kiểm chứng lại giả thuyết đưa ra Bên cạnh
đó đề tài sử dụng công cụ tư liệu sẵn có, công cụ quan sát, công cụ thu thập dữ liệu bằng bảng hỏi, công cụ phân tích thông tin
6.1 Phương pháp thu thập thông tin:
Phương pháp thu thập định tính:
Tác giả thu thập các thông tin định tính bằng hình thức phỏng vấn sâu với công
cụ là bảng hỏi phỏng vấn sâu
Phương pháp thu thập định lượng
Tác giả sử dụng số liệu sẵn có các thông tin về tình hình an ninh, chính trị, kinh
tế, xã hội và trật tự an toàn tại địa bàn do địa phương cung cấp
Bảng hỏi khảo sát các nội dung mô tả thực trạng vấn đề đang nghiên cứu
Phương pháp chọn mẫu
Do thời gian nghiên cứu và kinh phí hạn chế, để hoàn thành các mục tiêu đề ra,
trong phương pháp thu thập định tính và phương pháp thu thập định tính, tác giả lựa chọn phương pháp chọn mẫu phi xác suất trong đó có chọn mẫu định mức (150 bảng hỏi dành cho thu thập định lượng) và chọn mẫu phán đoán (10 hộ gia đình dành cho thu thập định tính)
Trang 17Thu thập thông tin bằng phỏng vấn sâu:
Tác giả chọn lọc và tiến hành phỏng vấn 10 hộ gia đình theo phương pháp chọn mẫu phán đoán , các gia đình này đáp ứng các yếu tố sau:
- Là gia đình hạt nhân có con vị thành niên
- Có con đã hoặc có dấu hiệu vi phạm các chuẩn mực, nội quy, quy định của pháp luật, vướng vào tệ nạn xã hội,…
- Có con ngoan, thực hiện tốt các chuẩn mực gia đình, xã hội, chấp hành tốt các nội quy, quy định của pháp luật, không vi phạm hay vướng vào các tệ nạn xã hội…
Thu thập thông tin bằng bản hỏi định lượng
Mẫu: Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu định mức, chọn chỉ tiêu dựa theo giới tính, trình độ học vấn của cha mẹ, độ tuổi của cha mẹ và con cái, công việc của
cha mẹ
Số lượng mẫu: Tác giả chọn cỡ mẫu nhỏ là 150 bảng hỏi
Phân bố mẫu: Do địa bàn có số lượng công nhân chiếm gần 50% dân số nên tác giả phân bố mẫu như sau:
+ Công nhân (chiếm đa số): 75 bảng hỏi (50% tổng số mẫu)
+ Các ngành nghề khác như nội trợ, buôn bán, làm nghề tự do… (chiếm tỷ lệ tương đối): 55 bảng hỏi (36,67% tổng số mẫu)
+ Cán bộ, viên chức, nhân viên văn phòng (chiếm tỷ lệ nhỏ): 20 bảng hỏi (13,33% tổng số mẫu)
+ Phân bố tỷ lệ mẫu 50% là nam (75 bảng hỏi), 50% là nữ (75 bảng hỏi)
6.2 Phương pháp xử lý thông tin
Đối với phỏng vấn sâu, tác giả phỏng vấn theo bản hỏi đã chuẩn bị sẵn, ghi âm, ghi chép nội dung, gỡ băng ghi âm toàn bộ nội dung cuộc phỏng vấn
Trang 18Đối với bảng hỏi khảo sát, tác giả sử dụng phần mềm ứng dụng SPSS để xử lý thô, tổng hợp số liệu, sử dụng công cụ để mô tả dữ liệu, tìm hệ số tương quan giữa các biến số phù hợp với nội dung nghiên cứu
Hiệu quả thực hiện chức năng giáo dục gia đình đối với trẻ vị thành niên được thể hiện qua các chỉ báo: kết quả học tập, xếp loại hạnh kiểm, sự hài lòng của cha mẹ, tự giác giúp đỡ, phụ giúp việc nhà của vị thành niên và những lo lắng của cha mẹ
Để có đủ cơ sở dữ liệu hoàn thành đề tài nghiên cứu thì cần phải mô tả được tương quan giữa nội dung, mô hình giáo dục và thời gian dành cho việc giáo dục con vị thành niên so với hiệu quả của việc thực hiện chức năng giáo dục gia đình thông qua các đại lượng thống kê và phân tích mối liên hệ giữa các biến Từ kết quả trên, ta có thể so sánh các kết quả thống kê, mô tả (nội dung, mô hình giáo dục và thời gian dành cho việc giáo dục con vị thành niên) theo các nhóm nghề nghiệp, giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn…của cha mẹ
7 Bố cục của nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về tình hình nghiên cứu
Trong chương này, tác giả tập trung khái quát cơ sở về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu như: Thao tác hóa những khái niệm cần thiết, hệ thống lý thuyết định hướng cho nghiên cứu Tiếp cận và kế thừa lý thuyết, quan điểm những nhà khoa học đi trước để xây dựng khung phân tích mang tính chất riêng của đề tài Đồng thời, tổng quan về các công trình liên quan đến đề tài này và địa bàn nghiên cứu cũng được khái quát thông qua đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội hiện tại từ những báo cáo của địa phương
Chương 2: Mô hình giáo dục con vị thành niên trong gia đình hạt nhân
Tác giả tập trung ba vấn đề trong chương này bao gồm nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và thời gian giáo dục của gia đình hạt nhân đối với con vị thành niên Qua
Trang 19đó phân tích thuận lợi, khó khăn để đánh giá hiệu quả giáo dục và định hướng mô hình giáo dục tương lai của gia đình hạt nhân trong việc giáo dục gia đình con vị thành niên
Chương 3: Những tác nhân ảnh hưởng đến mô hình giáo dục con vị thành niên
Chương này tập trung làm rõ nhận thức, sự quan tâm của gia đình hạt nhân về vấn
đề giáo dục gia đình đối với con vị thành niên Phân tích các yếu tố tác động bên trong lẫn bên ngoài đối với gia đình hạt nhân trong việc hình thành nhận thức về giáo dục gia đình, quyết định chọn mô hình giáo dục dành cho trẻ vị thành niên
8 Đóng góp của đề tài nghiên cứu
Các kết quả mô tả thực trạng giáo dục gia đình về các vấn đề chung đối với trẻ vị thành niên và những kết luận, mô hình và giải pháp được đề xuất trong luận văn có thể
sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan địa phương, cơ quan giáo dục trong việc thành lập các chính sách mới, kế hoạch mới nhằm củng cố và phát huy chức năng giáo dục gia đình đối với trẻ vị thành niên ở địa phương trong giai đoạn công nghiệp 4.0
Đề tài còn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các đề tài, các nghiên cứu, nội dung giảng dạy một số chuyên đề của xã hội học, giáo dục học hoặc trẻ em, vị thành niên tại các đơn vị, các trường
Đề tài góp thêm kinh nghiệm, nhận thức mới, suy nghĩ mới để các bậc cha mẹ tham khảo trong việc thực hiện chức năng giáo dục trẻ vị thành niên
Qua việc thu thập dữ liệu, đề tài góp phần thực chứng các lý thuyết về gia đình trong bối cảnh kinh tế xã hội Việt Nam hiện nay
Trang 20CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Trong chương này, tác giả tập trung khái quát cơ sở về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu như: Thao tác hóa những khái niệm cần thiết, hệ thống lý thuyết định hướng cho nghiên cứu Tiếp cận và kế thừa lý thuyết, quan điểm những nhà khoa học đi trước để xây dựng khung phân tích mang tính chất riêng của đề tài Đồng thời, để
có cái nhìn tổng quan về các công trình liên quan đến đề tài này, trong phần tổng quan vấn đề nghiên cứu, tác giả điểm lại các quan điểm nghiên cứu về gia đình, giáo dục gia đình và vị thành niên Mặt khác, tổng quan địa bàn nghiên cứu thông qua đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội theo báo cáo của địa phương Từ đó, có cái nhìn mang tính khoa học và thực tiễn cho những phân tích sau này trong báo cáo
1.1 Thao tác hóa các khái niệm cơ bản
Khái niệm gia đình hạt nhân
Theo các nhà khoa học, khái niệm gia đình được tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau Ngoài sự khác biệt về quan điểm, cách nhìn nhận về định nghĩa gia đình, mà còn phụ thuộc vào các yếu tố về văn hoá, xã hội nhất định
Định nghĩa về gia đình hết sức đa dạng, ở Việt Nam đó là “một nhóm người có quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống với nhau, thường chung sống và hợp tác kinh tế với nhau để thoả mãn những nhu cầu cơ bản trong cuộc sống của họ về sinh đẻ và nuôi dạy con cái, chăm sóc người già và người ốm,…” (Mai Huy Bích, 2010)
Theo Mai Huy Bích, gia đình hạt nhân là đơn vị gia đình nhỏ nhất, bao gồm hai thế hệ là con cái và cha mẹ Gia đình hình thành từ rất sớm và trải qua một quá trình phát triển lâu dài, tạo nên sự đa dạng trong việc phân loại các kiểu gia đình và có sự khác biệt giữa gia đình truyền thống và gia đình hiện đại
Nhà nghiên cứu Dương Tự Đam khái quát gia đình hạt nhân là một gia đình gồm cha mẹ, con cái sống chung một nhà
Trang 21Nhà nghiên cứu Lê Ngọc Hùng cũng nhận định gia đình hạt nhân là gia đình được cấu trúc bởi hai thế hệ cùng chung sống: một thế hệ gồm vợ chồng với quan hệ hôn nhân được thừa nhận và một thế hệ là con cái do họ sinh ra
Tất cả các khái niệm trên đều cùng đề cập đến yếu tố hai thế hệ Tác giả sử dụng khái niệm của Mai Huy Bích, khái niệm này đầy đủ hơn và phù hợp với đề tài luận văn, Mai Huy Bích định nghĩa: “Gia đình cực nhỏ” chỉ gồm hai thế hệ cha mẹ và con cái chưa đến tuổi trưởng thành Trong đề tài này, kiểu gia đình mà tác giả tiếp cận đó là gia đình hạt nhân “được cấu trúc bởi hai thế hệ cùng chung sống với nhau; một thế hệ gồm vợ chồng với quan hệ hôn nhân được thừa nhận và một thế hệ con do bố mẹ sinh ra” (Mai Huy Bích, 2003) Đây là loại hình khá phổ biến ở nước ta, mô hình gia đình này đã và đang có chiều hướng gia tăng trong xã hội công nghiệp, đô thị phát triển như tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
Khái niệm mô hình giáo dục gia đình
Giáo dục là một quá trình tác động có chủ đích, kế hoạch nhằm giúp cho thế hệ trẻ tự tổ chức, tự điều khiển quá trình hình thành và phát triển nhân cách của mình theo yêu cầu của xã hội E Durkhiem cho rằng nó là hành vi truyền đạt mà thế hệ trưởng thành thực hiện đối với những thế hệ chưa sẵn sàng tham gia vào đời sống xã hội Mục đích là khơi dậy và thúc đẩy thế hệ chưa sẵn sàng những trạng thái về thể chất, tinh thần
và chuẩn mực mà xã hội nói chung và môi trường sống của đứa trẻ nói riêng, đòi hỏi phải có
Giáo dục gia đình là một quá trình tác động có chủ đích của cha mẹ và những người thân trong gia đình tới trẻ nhằm giúp trẻ hình thành và phát triển nhân cách của mình phù hợp các chuẩn mực của con người và theo sự kỳ vọng của xã hội
Gia đình với tư cách là một tế bào của xã hội và thực hiện các chức năng cơ bản: Sinh đẻ, giáo dục và kinh tế Giáo dục trong gia đình có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của các thành viên từ khi được sinh ra cho đến khi trưởng thành; trên cơ sở phối hợp giữa giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường và xã hội
Trang 22Trước khi trẻ đến trường, gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên và là nền tảng,
cơ sở để giáo dục nhà trường và xã hội phát huy một cách có hiệu quả vai trò giáo dục Trong đề tài này, tác giả tiếp cận giáo dục gia đình như là “quá trình tác động có chủ đích của cha mẹ, những người thân trong gia đình đến trẻ vị thành niên trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của mình một cách phù hợp với chuẩn mực con người
và theo sự kỳ vọng của xã hội”
Từ những khái niệm trên, trong đề tài tác giả xác định mô hình giáo dục gia đình đối với con vị thành niên có những nội dung sau:
+ Đạo đức, các chuẩn mực, giá trị (đạo đức, chuẩn mực xã hội, giá trị bản thân, tôn giáo), hành vi ứng xử
+ Kiến thức (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, kỹ thuật công nghệ)
+ Kỹ năng sống, giao tiếp xã hội
+ Các nội dung khác: Phụ giúp việc nhà, thượng tôn pháp luật, chăm sóc sức khỏe bản thân, phòng ngừa tệ nạn xã hội, việc nhà,…
Và mô hình giáo dục mà tác giả sẽ tìm hiểu gồm các mô hình sau:
+ Mô hình giáo dục khuyên bảo, thuyết phục
+ Mô hình giáo dục kỷ luật, trừng phạt
+ Mô hình giáo dụckhen thưởng
+ Mô hình giáo dục nghiêm khắc, độc đoán
+ Mô hình giáo dục thờ ơ, không quan tâm
+ Mô hình giáo dục dễ dãi, nuông chiều
+ Mô hình giáo dục dân chủ, nghiêm minh
+ Các mô hình giáo dục khác…
Khái niệm trẻ vị thành niên
Theo Từ điển Xã hội học (2002), trẻ em đó là nhóm ở trong quá trình xã hội hóa (tiếp nhận những kỹ năng và tri thức để có thể tham gia hoạt động xã hội độc lập), nói đúng hơn đó là nhóm ở trong giai đoạn đầu tiên của xã hội hóa Tiếp cận theo cơ cấu xã
Trang 23hội - văn hóa có ý nghĩa rất lớn đối với sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, bởi vì văn hóa vừa là môi trường vừa là nội dung của quá trình xã hội hóa trẻ em
Vị thành niên được hiểu là người sắp đến tuổi trưởng thành Khái niệm này cho đến nay vẫn chưa được thống nhất về độ tuổi giữa các quốc gia trên thế giới Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), vị thành niên là nói trẻ ở lứa tuổi từ 10 – 19 tuổi; một số quốc gia khác như Ấn Độ, Philippines, Colombia, Austrailia, Brazil thì trẻ vị thành niên
là những người dưới tuổi 18 Ngoài ra, tại Nhật Bản, Thái Lan, Đài Loan và Hàn Quốc lại có mức tuổi quy định riêng cho trẻ vị thành niên là người dưới 20 tuổi Tại Việt Nam, trẻ vị thành niên được xác định là trẻ ở lưới tuổi từ 10 – 19 tuổi Trẻ vị thành niên hay còn gọi là người chưa thành niên Theo Bộ luật dân sự năm 2015 của nước ta quy định: Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi và được pháp luật bảo vệ Quy định rõ người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần, do
đó chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý
Trong đề tài này, căn cứ vào khái niệm trên, tác giả xác định trẻ vị thành niên là người từ 10 đến dưới 18 tuổi Vốn dĩ ở độ tuổi này, trẻ đang trong giai đoạn chuyển tiếp giữ trẻ con và người lớn, có sự phát triển mạnh mẽ về tâm sinh lý, sức khoẻ, tinh thần và hình thành các sự tò mò, các suy nghĩ độc lập và tự khẳng định mình
1.2 Về lý thuyết áp dụng
Đề tài được tiếp cận bằng lý thuyết cấu trúc chức năng Theo cách hiểu của cách
tiếp cận này, gia đình cũng được coi là một thành phần trong cấu trúc của xã hội, nó thực hiện những chức năng cơ bản của xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu của các thành viên gia đình và góp phần ổn định xã hội Do đó, quan điểm này thường nhấn mạnh đến sự ổn định và hài hòa của gia đình Sự ổn định của thiết chế gia đình góp phần vào sự ổn định
và phát triển của xã hội Vì thế, sự xung đột, mâu thuẫn và ly hôn đều là điều không mong muốn đối với đời sống gia đình Nhìn chung, trong lĩnh vực nghiên cứu về gia đình, cách tiếp cận chức năng cấu trúc là một trong những cách tiếp cận lý thuyết chủ
Trang 24đạo được dùng để lý giải gia đình hoạt động như thế nào, gia đình liên quan với xã hội bên ngoài và với các thành viên ra sao
Khi xem xét gia đình như là một thiết chế xã hội, nhà nghiên cứu phải chú ý đến mối quan hệ giữa gia đình và xã hội, mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa gia đình với các thiết chế xã hội khác như nhà nước, kinh tế, tôn giáo, giáo dục, văn hóa Nghiên cứu gia đình cũng cần đặt trong sự tác động qua lại giữa gia đình và xã hội thông qua việc thực hiện các chức năng của nó Do đó, gia đình là nơi thực hiện các chức năng thiết yếu cho cả cá nhân và xã hội Vì thế, W Goode (1982) cho rằng nếu gia đình không thực hiện đầy đủ các chức năng của nó thì những mục tiêu rộng lớn của xã hội cũng sẽ không đạt được
Theo Quan điểm của Goode (1982), chức năng của gia đình được xem như là
những hàm số có thể biến thiên gồm: mức sinh; địa vị gia đình, sự phân tầng xã hội, hệ thống phân cấp bên trong quan hệ gia đình; xã hội hoá và kiểm tra xã hội Trong chức năng xã hội hoá, các nhân tố biến thiên chủ yếu là:
+ Cường độ, hiệu quả hay mức độ xã hội hoá mà gia đình có ảnh hưởng tới con cái
+ Số lượng thành viên sống chung và địa vị của người có trách nhiệm xã hội hoá + Thời gian dành để chăm sóc con trong gia đình trong quá trình xã hội hoá
Kế thừa quan điểm trên, tác giả muốn tìm hiểu mức độ thực hiện chức năng giáo dục con của gia đình, mức độ thời gian cha mẹ dành cho việc giáo dục, trách nhiệm chính trong việc giáo dục
Để có các chỉ báo cụ thể và đặt giáo dục gia đình của trẻ vị thành niên trong hoàn cảnh kinh tế xã hội, tác giả tiếp cận theo quan điểm của James Coleman (1995) James Coleman cho rằng gia đình với hoàn cảnh kinh tế - xã hội và quan điểm giáo dục của cha
mẹ là những yếu tố tác động trực tiếp, mạnh mẽ tới động cơ học tập, chất lượng học tập
và khả năng thành đạt của học sinh Coleman nhấn mạnh đến vai trò của gia đình trong
sự thành công (về giáo dục) của con cái Mở rộng ra, quan điểm của Coleman được áp
Trang 25dụng để tìm hiểu xem điều kiện kinh tế và quan điểm, nhận thức, kiến thức, kỹ năng, hành vi giáo dục của cha mẹ ảnh hưởng như thế nào đến việc thực hiện giáo dục gia đình của cha mẹ gia đình hạt nhân đối với trẻ vị thành niên
Quan điểm của T Parson cho rằng do sự chuyển biến xã hội và việc bước sang
xã hội công nghiệp hiện đại, gia đình có thay đổi Theo lý thuyết của ông về tiến hóa xã hội, xã hội biến đổi qua một quá trình "phân hóa về cấu trúc", nghĩa là các thể chế tiến hóa bằng cách chuyên biệt hóa và thực hiện ít chức năng hơn Điều này có nghĩa là, gia đình không còn thực hiện nhiều chức năng như trước nữa, mà có sự chuyển giao bớt các chức năng của gia đình cho các thể chế khác (nhà trường, bệnh viện, nhà thờ, nhà trẻ ) Gia đình mất đi nhiều chức năng và gần như trở thành "không còn chức năng" nữa Cụ thể, trừ một số ngoại lệ, nó không còn tham gia nhiều vào hoạt động kinh tế - sản xuất;
nó không phải một đơn vị quan trọng trong hệ thống quyền lực chính trị Các thành viên riêng lẻ của gia đình tham gia vào tất cả những chức năng trên, nhưng với tư cách
cá nhân chứ không phải với tư cách thành viên gia đình Xung đột vai trò xuất hiện từ góc độ này là các tiếp cận sát với vấn đề mà đề tài hướng tới là giáo dục gia đình với trẻ
vị thành niên mà tác giả đang nghiên cứu, nó góp phần tạo ra các chỉ báo cụ thể hơn để tác giả có thể đo lường
Đồng quan điểm trên, W.F Ogburn (1950), ông quan niệm rằng trong số 7 chức
năng của gia đình cổ truyền thì đến nay chỉ còn lại hai chức năng được kế thừa trong các gia đình hạt nhân hiện đại gồm chức năng sinh sản và liên kết tình cảm Còn các chức năng còn lại dần mất đi theo tiến trình của quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, trong đó có chức năng giáo dục Các thiết chế như trường học đã và đang thay thế thiết chế gia đình trong việc giáo dục trẻ từ sơ sinh cho đến vị thành niên, thanh niên
A.F Robertson (1991) ngoài những khía cạnh trên, ông xem gia đình như là một
tổ chức xã hội của sự tái sinh sản đã mở rộng khái niệm tái sinh sản vào một quá trình (process) và do đó ở trạng thái động (dynamic) hơn là yếu tố tĩnh (static) của ý nghĩa sinh học, đồng thời gắn liền quá trình này trong sự tương tác qua lại với thể chế xã hội kinh tế,
Trang 26do đó, không thể nghiên cứu hộ gia đình như một đơn vị riêng lẻ mà cần thiết phải đặt trong mối tương quan chặt chẽ với môi trường kinh tế chính trị
Như vậy, kế thừa quan điểm của các nhà xã hội học trên, tác giả có thể đặt ra câu hỏi rằng liệu có phải việc tham gia vào hoạt động kinh tế ở bên ngoài của phụ huynh làm cho chức năng giáo dục gia đình được chuyển giao một phần cho đến hoàn toàn cho các thiết chế khác, nó là tiền đề cho việc xuất hiện các hệ luỵ khác nằm ngoài chức năng kiểm soát của gia đình Phương pháp tiếp cận này cung cấp cho đề tại một công cụ hữu hiệu để xem xét mối tương tác giữa hiện tượng vi mô và vĩ mô, giữa hộ gia đình và nền kinh tế
Trang 271.3 Khung phân tích
1.4 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Theo cách tiếp cận Xã hội học, phần lớn thiên về các yếu tố vĩ mô tác động đến
chức năng giáo dục của gia đình Tiêu biểu có cuốn “Gia đình học” của Đặng Cảnh Khanh - Lê Thị Quý (2007) hay của tác giả Nguyễn Minh Hoà (2000) với “Hôn nhân gia đình trong xã hội hiện đại”, cuốn “Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hoá” của
Lê Ngọc Vân (1996), cuốn “Trẻ em gia đình xã hội” của Mai Quỳnh Nam (2004),…
đều là các công trình nghiên cứu khoa học lớn, tuyển tập sách khoa học
Trang 28Tuy nhiên các tác phẩm trên, đa phần có các điểm chung như đều hướng đến khía cạnh tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hoá hay sự thay đổi cấu trúc xã hội sẽ dẫn đến sự thay đổi chức năng giáo dục của gia đình nói chung Nhìn chung đều
có sự kế thừa, giao thoa và phát huy các chức năng xã hội học của gia đình Việt Nam từ truyền thống sang hiện đại Kết quả của các tiếp cận này cho thấy sự biến đổi của các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội sẽ là tiền đề tác động đến sự biến đổi chức năng của gia đình
Các nghiên cứu Tâm lý học lại thiên về các yếu tố vi mô hơn là các yếu tố vĩ mô Hướng tiếp cận này đề cập đến các yếu tố như khả năng nhận thức của trẻ, các biến đổi tâm sinh lý, cách thể hiện tình cảm của cha mẹ và con cái, thói quen trong việc tương tác giữa cha mẹ và con cái Nhiều công trình nghiên cứu cũng được được thực hiện như
cuốn “Tìm hiểu thế giới tâm lý của tuổi vị thành niên” (Trần Thị Lan Hương, 2004) và cuốn “Cách ứng phó của trẻ vị thành niên với hoàn cảnh khó khăn” (Phan Thị Mai
Hương, 2007) Các công trình này đều viện dẫn các trường hợp cụ thể để mô tả các yếu
tố tâm lý chứng minh luận điểm trên
Với nguyên tắc đa số quyết định thiểu số, thì việc dùng các cá nhân nhỏ lẻ để chứng minh luận điểm chỉ mang tính tương đối
Có thể thấy, việc tách bạch các nghiên cứu theo các hướng tiếp cận độc lập là chưa hợp lý, bởi nghiên cứu liên ngành là xu hướng mới, đầy đủ và cho ra được các công trình nghiên cứu có bề rộng và chiều sâu, trong đó các yếu tố xã hội học tương tác qua lại, đan xen vào nhau các yếu tố tâm lý học
Các nghiên cứu về gia đình
Công trình nghiên cứu “Gia đình” (2002), trong 06 chương của công trình, tác
giả Yvonne Castellan đã tóm tắt các đặc điểm cơ bản của các gia đình trên thế giới như gia đình người Nga, các nước Bắc Mỹ, châu Mỹ La Tinh, người Hindu, các khu vực Trung Quốc, Châu Phi và các gia đình Hồi giáo Trong đó, tác giả đã ngoài việc đề ra các đặc điểm cơ bản ra thì đã mô tả rõ đặc thù của gia đình Pháp hiện nay Trong chương
Trang 29về “Di sản của gia đình Sự xã hội hóa của giới trẻ”, Castellan đã nêu và giải quyết câu hỏi “Gia đình chuyển giao cái gì cho cá thể loài người với tất cả các nghĩa của từ này?”
và đó là chuyển giao di truyền học và việc xã hội hoá Công trình nghiên cứu đã chỉ ra, trong quá trình xã hội hoá, đứa bé bắt đầu từ mối quan hệ với chính mình, sau đó là tới mối quan hệ với người mẹ, rồi mới tới xung quanh bằng cách tiếp xúc với những vật làm hài lòng nó và từ những điều đó tạo nên quá trình xã hội học phức tạp Nói cách khác,
đó là quá trình phát triển từ sinh lý đi đến tình cảm và dẫn ra đến xã hội
Nguyễn Minh Hòa (2000), cuốn “Hôn nhân gia đình trong xã hội hiện đại” nhận
định rằng hiện nay, dưới tác động của toàn cầu hoá, đô thị hoá, thì các thiết chế gia đình
đã biến đổi theo xu hướng mới, chức năng xã hội hoá trẻ em dần được giao phó dần cho
xã hội thông qua nhà trường và các phương tiện truyền thông đại chúng
Trong tác phẩm “Gia đình học” (2007) khi nghiên cứu phương pháp, nội dung
giáo dục con vị thành niên cùng đó là các chỉ báo về chi phí giáo dục, thời gian giáo dục dành cho con để tìm hiểu quy chuẩn và phương pháp giáo dục gia đình thời hiện đại Hai tác giả Đặng Cảnh Khanh - Lê Thị Quý đưa ra một số kết quả đáng chú ý là: Đa số các gia đình dành thời gian chăm sóc con trung bình/ ngày từ ít đến rất ít Chủ yếu là các nội dung về lối sống đạo đức, truyền thống gia đình và các giá trị bản thân, các nội dung thiên về nghĩ giàu, làm giàu, phát triển kinh tế chưa được đề cập Các phương pháp giáo dục rất được coi trọng là nhắc đi nhắc lại, giải thích nhiều lần Cuộc nghiên cứu cho thấy các gia đình hiện đang rất ủng hộ các biện pháp giáo dục trẻ vị thành niên nên có sự phối hợp giữa gia đình và cộng đồng thì mới có những kết quả tốt nhất Khuyến nghị tăng cường vai trò của cơ quan chính quyền địa phương trong việc quản lý các quan hệ xã hội
là nội dung chính của phần kết luận của nghiên cứu này
Trong “Gia đình Việt Nam trên con đường công nghiệp hoá và hiện đại hoá”,
nhà nghiên cứu Vũ Khiêu đã chỉ ra những thiếu sót trong việc nhận định các thực trạng, diễn biến, quan điểm, giải pháp về các vấn đề gia đình Ông cho rằng, để đánh giá, nhận định đúng nhất về gia đình Việt Nam trong thời đại hiện nay, khi mà đô thị hoá đã phát
Trang 30triển vượt bậc thì cần phải phân tích, so sánh đặc điểm hình thành và sự phát triển với các gia đình trong các giai đoạn lịch sử phương Tây, phương Đông Khai thác các nội dung truyền thống, tính kế thừa, tiếp nối của gia đình ở các nước phương Đông, phương Tây và những vấn đề của gia đình ở Việt Nam hôm nay và mai sau
Một số cơ sở lý luận quan trọng, cơ bản nhất về gia đình nói chung được tác giả
Trần Thị Kim Xuyến (2002) mô tả cụ thể qua công trình nghiên cứu “Gia đình và những vấn đề của gia đình hiện đại” Nhà nghiên cứu cho rằng những quan điểm, khái niệm về
gia đình hiện nay bị ảnh hưởng bởi chiều lịch đại, từ đó nhận thức ra các vấn đề xung quanh gia đình, bao gồm xã hội học gia đình, các cách tiếp cận các vấn đề trên và việc
áp dụng một cách đúng đắn nhất các phạm trù, lý luận trong nghiên cứu xã hội học gia đình Về mặt thực tiễn, tác gia cho rằng sự tác động qua lại của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa, đô thị hoá mà hơn hết là truyền thông đại chúng đã làm xuất hiện sự biến đổi các hình thái của hôn nhân, gia đình; đặt ra các vấn đề của hôn nhân, gia đình trong thời kỳ hiện nay, như khủng hoảng hôn nhân, gia đình kèm theo hệ luỵ, sự gay gắt vai trò giới trong các mối quan hệ, thực hiện chức năng của gia đình
Các nghiên cứu về trẻ vị thành niên
Đã có những nghiên cứu, công trình về nhóm trẻ vị thành niên, tiêu biểu như tác
phẩm “Cách ứng phó của trẻ vị thành niên với hoàn cảnh khó khăn” (Phan Thị Mai
Hương 2007) Khi nghiên cứu vấn đề này, các câu hỏi về việc ứng phó của trẻ vị thành niên trong các hoàn cảnh khó khăn khác nhau luôn là nội dung chủ đạo của đề tài, nối theo đó là việc ứng phó của trẻ khó khác nhau so với từng nhóm trẻ hay không và những nhân tố nào sẽ tác động đến các ứng phó đó, từ đó hình thành các chỉ báo trong tương lai Với cơ sở lý luận về hành vi ứng phó ở lứa tuổi vị thành niên, tác giả Phan Thị Mai Hương cho rằng trẻ có xu hưởng ứng phó bằng hành động nhiều hơn và hơn hết các cách ứng phó dù trong những tình huống khó khăn khác nhau vẫn giữ được sự cân bằng, ổn định Từ đó, thực tế là cần thêm sự phong phú, đa dạng phương thức trong tuyên truyền
Trang 31kiến thức về giáo dục gia đình nhất là các nội dung về tham vấn tâm lý, trị liệu tâm lý, tập huấn tâm lý cho giáo viên…
Nhà nghiên cứu Mai Quỳnh Nam (2006) đã đặt ra một số vấn đề trong công trình
nghiên cứu “Quan hệ xã hội và tội phạm vị thành niên” Tác giả cho rằng bối cảnh xã
hội và tác động của kinh tế thị trường hiện nay đã có những ảnh hưởng nhất định đến sự cân bằng các giá trị, chuẩn mực của cộng đồng Dẫn chứng cụ thể tác giả đưa ra là tỷ lệ
vi phạm nội dung, các quy chuẩn xã hội và pháp luật ở tuổi vị thành niên ngày càng gia tăng Với cách tiếp cận xã hội học pháp luật, nhà nghiên cứu cho thấy các dữ liệu về thực trạng phụ huynh xem nhẹ việc giáo dục con, nhất là với trẻ vị thành niên, không còn đề cao sự gương mẫu và các hệ luỵ như tỷ lệ trẻ chưa ngoan, bỏ học cao trong các năm gần đây Kết quả đấy được phát hiện khi xem xét giữa các mối tương quan với quan hệ xã hội như quan hệ giữa gia đình và nhà trường, sự tương tác của các mối quan hệ xã hội trong môi trường đô thị Tác giả cũng kiến nghị về việc tăng cường các chức năng kiểm soát và giáo dục trẻ em từ gia đình, nhà trường, trong đó cần đặc biệt quan tâm đến trẻ
vị thành niên, nhất là trẻ em ở môi trường đô thị thì cần có chương trình chăm lo, hỗ trợ
Cùng nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến trẻ vị thành niên như sức khỏe thể chất, ưu thế giáo dục, lao động di cư, tội phạm vị thành niên trong tiến trình đô thị hoá
Trong cuốn “Một số vấn đề xã hội của nhóm vị thành niên đô thị trong quá trình đô thị hóa hiện nay” (Đặng Bích Thuỷ, 2009) Người viết nhận định về các yếu tố tác động đến
trẻ vị thành niên là rất nhiều, chủ yếu là được nảy sinh trong quá trình xã hội hoá của trẻ Điều này chứng minh được vai trò hết sức quan trọng của giáo dục gia đình, nhất là trong định hướng các giá trị mới và kế thừa các giá trị, lối sống văn hoá, văn minh và trong việc kiểm soát hành vi con cái Dẫn chứng hệ quả trên, tác giả nêu ra tỷ lệ con vị thành niên hư hỏng, vi phạm pháp luật, chuẩn mực đạo đức xã hội và vướng vào các tệ nạn xã hội
Kết quả của hai cuộc điều tra Quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam quy mô lớn là SAVY1 (2003) và SAVY2 (2008) Hai cuộc điều tra đã tạo ra một bức
Trang 32tranh khái quát, cụ thể về những vấn đề liên quan đến vị thành niên và thanh niên Việt Nam Cuộc điều tra thu thập thông tin bản hỏi của 7.584 mẫu (2003) và 10.044 mẫu (2008) đều là vị thành niên và thanh niên trong độ tuổi 14-25 đang sống cùng gia đình tại 63 tỉnh/thành phố… Kết quả của SAVY1 và SAVY2 đều nhấn mạnh sự gắn bó mật thiết của vị thành niên và thanh niên đối với gia đình, họ đánh giá cao và tôn trọng gia đình; tuy nhiên về công tác giáo dục thì một số tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nam Bộ, Tây nguyên có trên 50,0% thanh niên lứa tuổi 16 - 19 ở các tỉnh này không tham gia các bậc học cao hơn nữa; tố chất thể lực, đặc biệt là sức bền và sức mạnh của thanh niên Việt Nam được xếp vào mức kém và rất kém so với chuẩn Báo cáo quốc gia về thanh niên Việt Nam trong các nội dung báo cáo quốc tế Các vấn đề trên tạo ra nhiều câu hỏi về chất và lượng của nguồn nhân lực tương lai của Việt Nam
Các nghiên cứu về giáo dục gia đình với trẻ vị thành niên
Là người quan tâm đến các vấn đề giáo dục đối với thế hệ trẻ, Ma-ca-ren-cô chỉ
ra rằng giáo dục thế hệ trẻ phải được bắt đầu ngay từ nhỏ, sơ sinh Nhận định trên được
ông bàn luận trong “Nói chuyện về giáo dục gia đình” (1978) Người viết đặt ra vấn đề
rằng nếu trẻ vị thành niên không được giáo dục ngay từ nhỏ, sơ sinh, thì trong tương lai, việc chỉnh đốn, sửa chữa sẽ khó khăn hơn rất nhiều Tác giả khuyến khích các bậc phụ huynh phải nhận thức rằng việc giáo dục trẻ này là một công việc mang lại niềm vui, hứng khởi chứ không gò bó trong khái niệm trách nhiệm
Đồng quan điểm trên có I.A Pê-sec-ni-cô-va (1980), ông cho rằng, trẻ vị thành niên từ giai đoạn sau sơ sinh phải được giáo dục một cách cơ bản về lao động Tác giả cho rằng thông qua lao động, đầu tiên trẻ vị thành niên sẽ được hình thành các phẩm chất đạo đức, tiếp đến là lớn lên với sức bền và sức mạnh, từ đó tạo ra niềm vui và tình yêu
để cống hiến cho xã hội
Một nghiên cứu khác đã chỉ ra các phương thức giáo dục, nội dung và hình thức giáo dục có thể khác nhau khi có sự khác biệt giữa gia đình truyền thống và gia đình hạt nhân, sự khác nhau trong quan hệ giàu – nghèo Từ đó tạo ra sự khác nhau trong việc thể
Trang 33hiện sự mong muốn của phụ huynh đối với con mình trong kết quả mà đứa trẻ mang lại
Nguyễn Chí Dũng (2006) nhận định trong “Kiểu loại gia đình và giáo dục trẻ em trong gia đình ở Hà Nội hiện nay” Khi đô thị hoá toàn cầu phát triển đến một mức độ nhất
định, nền kinh tế thị trường bao phủ rộng khắp thì gia đình hạt nhân cũng vì thế mà tăng nhanh về số lượng Trình độ học vấn của các bậc cha mẹ được nâng cao, tính chất công việc thay đổi theo chiều hướng tích cực, kéo theo mức thu nhập ổn định sẽ tạo các tác động thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện chức năng giáo dục gia đình Không chỉ dừng lại ở việc phân tích các yếu tố tác động và sự tương quan giữa trình độ, nghề nghiệp của phụ huynh với kỳ vọng, phương thức nuôi dạy con mà tác giả còn đề xuất các kiến nghị giúp đẩy mạnh việc thực hiện giáo dục toàn diện cho trẻ vị thành niên Nhiệm vụ đặt ra là phương pháp truyền dạy các chuẩn mực gia đình, xã hội, lối sống, nhân cách con người phải phù hợp và đặt lên hàng đầu, đề cao tình yêu thương, kính trọng giữa các thành viên trong gia đình hạt nhân và gia đình mở rộng
Trong báo cáo tham luận của mình, tác giả Nguyễn Đức Mạnh phân tích sự biến đổi chức năng sinh sản, các hệ quả khi chưa chú trọng nội dung bảo vệ trẻ em, thiếu kiến thức để đáp ứng việc thoả mãn nhu cầu tâm sinh lý, tình cảm của trẻ em Tham luận
“Một số vấn đề biến đổi chức năng của gia đình và chăm sóc, giáo dục trẻ em tuổi mầm non trong gia đình hiện nay” (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQG-
Hà Nội, 2004) cho rằng việc biến đổi các chức năng xã hội hoá trẻ em là kết quả của xu hướng đề cao tính độc lập của cá nhân và sự phát triển rộng khắp của các gia đình hạt nhân Không những thế nó còn do sự suy giảm ảnh hưởng của các thành viên gia đình
mở rộng đối với quá trình xã hội hoá trẻ cùng với sự phát triển vượt bậc của các dịch vụ
xã hội Từ những nguyên do trên làm cho chức năng xã hội hoá trẻ em ở khu vực đô thị của các gia đình hạt nhân trở nên yếu thế, tạo nên báo động trong việc quan tâm, chăm sóc trẻ em tuổi vị thành niên hiện nay
Cho đến nay, các nhà chuyên môn ở nhiều lĩnh vực ngày càng đồng ý với nhau rằng trẻ vị thành niên cần phải được cha mẹ quan tâm sâu sát để các em được lớn lên
Trang 34một cách an toàn và thành công sau này (Trần Thành Nam, 2015; Lê Minh Nguyệt, 2013a & 2013b; Nguyễn Hữu Minh, 2012 & 2013a) Quan hệ cha mẹ - con cái vị thành niên được đánh giá là quan hệ mang ý nghĩa quan trọng đặc biệt cho sự phát triển của trẻ trong thời kỳ vị thành niên (Lê Minh Nguyệt, 2013a & 2013b; Đinh Hồng Vân, 2014; Nguyễn Thị Anh Thư và Bùi Minh Đức, 2012) Sự gắn bó gia đình thời kỳ vị thành niên giúp các em có lối sống lành mạnh, có nhiều cơ hội phát triển, cũng như bảo vệ các em khỏi những cám dỗ có hại (Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình và các cơ quan khác, 2010) Đặc biệt, các đánh giá này càng rõ nét hơn khi phân tích vai trò của giáo dục gia đình và mối quan hệ cha mẹ và con cái tuổi vị thành niên theo tiến trình lịch sử
Trong quá trình giáo dục trẻ em hiện nay, nhất là các gia đình ở nông thôn đang gặp những khó khăn Thể hiện là nhiều bậc cha mẹ không đủ kiến thức để dạy dỗ con cái Giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên cũng là một vấn đề khá mới nên nhiều gia
đình cảm thấy lúng túng Điều này dẫn đến tình huống là “Khi con còn bé thì họ chưa cần đến giáo dục, đến khi con lớn hơn thì lại thấy khó nói” (Đỗ Thị Bình và cộng sự, 2002) Tác giả Đặng Nguyên Anh (2009) trong “Những chiều cạnh cơ bản của phát triển thanh niên trong thời kỳ đổi mới” cho rằng nội dung của chương trình giáo dục, đặc biệt
là ở các cấp độ học phổ thông hiện nay đang thể hiện quá đầy đủ về mặt trí lực, thậm chí
là quá tải về mặt kiến thức, song các phẩm chất khác thì lại mờ nhạt, thậm chí không có điều kiện để các em thể hiện ở những nội dung như kỹ năng sống, kỹ năng trình bày rất cần thiết cho thế giới hiện đại, nhà trường chỉ chú trọng vào học chữ mà hầu như không dạy kỹ năng này, ngoài xã hội cũng không dạy và hơn hết là giáo dục gia đình lại quá chú ý việc chăm sóc thể lực
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, đề tài, dự án đề cập tới giáo dục gia đình
ở nhiều góc nhìn, mức độ và cấp độ khác nhau nhưng cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách kỹ lưỡng về các mô hình, giải pháp, nội dung giảng dạy cho con vị thành niên một các đầy đủ nhất Các tác giả chủ yếu đứng trên luận điểm của
xã hội học, tâm lý học để khái quát, phân tích, đánh giá, dự báo về các chức năng của
Trang 35gia đình Đây là nguồn tư liệu để tôi có thể kế thừa và gợi mở thêm nhiều khía cạnh khác của gia đình, đặc biệt là giáo dục gia đình Qua các quan điểm và phương pháp của tác giả Dương Tự Đam đã tạo nền tảng trong việc xác định cơ sở lý luận và hướng tiếp cận gia đình của bản thân tôi; cũng như tiếp thúc các quan điểm của tác giả Mai Huy Bích trong lý thuyết xã hội hoá Về lý thuyết chức năng, tôi kế thừa các lý luận và luận điểm của tác giả Lê Ngọc Hùng và để làm rõ hơi tôi tiếp cận gia đình qua mặt chức năng theo chiều lịch đại của tác giả Nguyễn Thị Kim Xuyến Từ các lý luận và hướng tiếp cận trên,
để có một bức tranh tổng thể về chức năng giáo dục gia đình thời đại hiện nay, tôi tiếp thu các ý kiến, quan điểm của các nhà nghiên cứu Nguyễn Minh Hòa, Vũ Khiêu Từ đó
có thể đặt gia đình và chức năng của gia đình nói chung và chức năng giáo dục gia đình nói riêng là một phạm trù lịch sử mang tính xã hội, bị ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp bởi các vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, dân tộc…như quan điểm lý luận của tác giả Lê Ngọc Văn Nhìn chung, bức tranh về giáo dục gia đình và các vấn đề về chức năng gia đình đã có cái nhìn tổng quát nhất nhưng các công trình trên vẫn tồn tại một số vấn đề như sau:
Thứ nhất, rất ít đề tài nào làm rõ đầy đủ các khái niệm, lý luận liên quan đến vấn
đề mà tác giả nghiên cứu
Hai là mặc dù các thành phố phía Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cũng đang trong quá trình đô thị hóa và gặp nhiều thách thức trong nghiên cứu về trẻ vị thành niên và mô hình giáo dục gia đình nhưng các nghiên cứu phần lớn hiện nay đang tập trung tại các địa bàn ở các tỉnh phía Bắc, ở các thành phố lớn như Hà Nội
Ba là phần lớn là công trình nghiên cứu đang được mô tả bằng phương pháp định lượng với số liệu thống kê là chủ yếu, ít có những nghiên cứu bằng phương pháp định tính chuyên sâu hơn
Thứ tư là các mô hình giáo dục gia đình cho trẻ vị thành niên của các công trình nghiên cứu vẫn chưa được đề cập một cách đầy đủ và mang tính liên ngành
Trang 36Tiếp thu các vấn đề trên, tác giả sử dụng kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định lượng và phương pháp nghiên cứu định tính để mở rộng vấn đề cần tìm hiểu theo chiều dọc lẫn tập trung vào chiều sâu Khách thể nghiên cứu mà tác giả lựa chọn là các gia đình hạt nhân và có con đang trong độ tuổi vị thành niên; địa bàn nghiên cứu là nơi chưa tổ chức cuộc nghiên cứu nào về đề tài này cho đến thời điểm tác giả tiến hành
nghiên cứu Đó là cơ sở, là những tài liệu tham khảo cho tác giả để hoàn thành đề tài:
Nhận diện các mô hình giáo dục gia đình đối với trẻ vị thành niên ở thành phố Hồ Chí Minh (điển cứu tại phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh)
1.5 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu – phường Linh Trung
Vị trí địa lý
Thành phố Thủ Đức được Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết nghị thành lập vào cuối năm 2020 trên cơ sở sáp nhập 3 quận cũ là Quận 2, Quận 9 và quận Thủ Đức Ngày 1 tháng 1 năm 2021, Nghị quyết 1111/NQ-UBTVQH14 chính thức có hiệu lực, Thủ Đức trở thành thành phố đầu tiên của Việt Nam thuộc loại hình đơn vị hành chính thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương Thủ Đức nằm ở cửa ngõ phía đông Thành phố Hồ Chí Minh, có vị trí quan trọng trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam, là đầu mối của các tuyến giao thông huyết mạch giữa Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ như: Xa lộ Hà Nội, Đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây, Quốc lộ 1A, Quốc lộ 13, Đại lộ Phạm Văn Đồng – Quốc lộ 1K Ngoài ra, tuyến đường sắt đô thị Bến Thành – Suối Tiên chạy dọc theo Xa lộ Hà Nội trên địa bàn thành phố đang trong quá trình hoàn thiện, dự kiến sẽ được đưa vào vận hành từ năm 2022
Trang 37Bản đồ 1: Vị trí địa lý phường Linh Trung, Thành phố Thủ Đức
(Nguồn:http://hochiminh.ban-do.net/2018/01/phuong-linh-trung-quan-thu-duc.html)
Về dân số, gia đình, trẻ em
Phường Linh Trung có 06 khu phố với 78 tổ dân phố, phường có dân số đông nhất quận Thủ Đức, tổng số nhân khẩu, hộ khẩu thực tế cư trú 17.809 hộ 62.118 nhân khẩu trong đó thường trú 4.334 hộ, 19.961 nhân khẩu chiếm 24,34%, tạm trú 13.475 hộ chiếm 75,66 (tháng 3/2017) Cơ cấu hộ gia đình hạt nhân chiếm tỷ lệ trung bình 4.578
hộ chiếm 25,7%, đa phần là các hộ tạm trú tại địa bàn, toàn phường có người trong độ tuổi đến trường
Tổng số hộ người dân tộc: 132 hộ; 471 nhân khẩu, đa số dân cư sống trên địa bàn Phường là người kinh Ngoài ra, còn có các dân tộc khác như dân tộc Khơme có 48 hộ
Trang 38199 nhân khẩu; dân tộc Chăm có 09 hộ 20 nhân khẩu Trên địa bàn Phường có 09 cơ sở tôn giáo: 02 chùa (Pháp Bảo, Hòa Quang), 01 Thiền viện (Tuệ Quang), 01 Dòng tên Việt Nam, 01 Giáo xứ (Hiển Linh), 01 Thánh thất họ đạo Cao Đài (Long Vân), 01 Tịnh xá (Ngọc Vân) 02 tịnh thất (Ngọc Hạnh, Pháp Tạng)
Tình hình kinh tế xã hội, việc làm
Phường Linh Trung là địa bàn có rất nhiều công ty, doanh nghiệp trú đóng với lượng dân số di cư về có mật độ dày đặc, khiến tình hình lao động, kinh tế, xã hội, việc làm trở nên đa dạng Trong đó phải kể đến khu chế xuất Linh Trung 1 với hơn 800 doanh nghiệp, công ty đang trú đóng, tại địa phương có hơn 1200 hộ kinh doanh vừa và nhỏ
Tỷ lệ số hộ dân, cơ sở kinh doanh tham gia đổ rác dân lập: 5.164, số lượng phòng trọ: 10.868 phòng, cơ sở chăn nuôi: 434 , chợ Linh Trung: 175 sạp
Lao động làm việc trong toàn bộ khu vực đến 31/12/2018 là 28.881 người Theo báo cáo, lao động làm việc trong các doanh nghiệp, công ty có vốn đầu tư nước ngoài là 13.712 người, tăng; lao động làm việc trong các công ty, doanh nghiệp có vốn cổ phần ngoài Nhà nước là 9.255 người; lao động trong các công ty có vốn đầu tư Nhà nước là 5.914 người
Văn hoá, thông tin, nghệ thuật
Hoạt động văn hóa – thể dục thể thao: Phường có 01 Trung tâm thể dục thể thao
tọa lạc trên đường Linh Trung, khu phố 2 và 01 trung tâm hỗ trợ cộng đồng tọa lạc trên đường Kha Vạn Cân, khu phố 4 Các trung tâm có chức năng tổ chức hoạt động vui chơi cho thiếu nhi và hoạt động văn hóa văn nghệ, dạy vi tính, anh văn, võ thuật… cho nhân dân trên địa bàn
Hệ thống giáo dục: trên địa bàn phường có khu đô thị Đại học quốc gia Thành
phố Hồ Chí Minh với nhiều trường đại học đang trú đóng trên địa bàn khu phố 6 Ngoài
ra, phường có 01 trường trung học phổ thông, 01 trường trung học cơ sở, 03 trường tiểu học, 02 trường mầm non công lập và 09 trường mầm non tư thục cùng 10 nhóm trẻ đang hoạt động
Trang 39Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe của nhân dân: Trên địa bàn phường có 01 bệnh
viện đa khoa khu vực Thủ Đức và trạm y tế phường đảm bảo thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia, nhất là triển khai thực hiện tốt các biện pháp phòng chống dịch bệnh gắn với thực hiện nếp sống văn minh đô thị, giữ gìn vệ sinh môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm
Tình hình trật tự, an toàn xã hội
Đây là một trong những phường trọng điểm trong phát huy được vai trò làm chủ của nhân dân trong nhiều hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và trong việc phòng chống tội phạm, trật tự an toàn, an ninh xã hội trong các cộng đồng dân cư Công tác quân sự địa phương được tập trung thực hiện, đảm bảo yêu cầu về công tác quản lý thanh niên trong độ tuổi, xây dựng lực lượng dân quân, dự bị động viên, giáo dục chính trị, tổ chức huấn luyện và tham gia hội thao quốc phòng hàng năm
Tiểu kết chương 1
Thông qua việc phân tích và kế thừa những tiền đề mang tính lý luận, đề tài chọn hướng tiếp cận cấu trúc chức năng, phân tích vai trò để mô tả những tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến các nhận thức và sự quan tâm của cha mẹ đối với giáo dục gia đình đối với con vị thành niên Qua thực tế tìm hiểu của tác giả, các nghiên cứu về
mô hình giáo dục gia đình hiện nay chưa có tính liên ngành cũng như sự kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định lượng và phương pháp nghiên cứu định tính, cùng với đó
là chưa tập trung nhiều tại thành phố Hồ Chí Minh Đó là tiền đề để tác giả bổ sung thêm các khoảng trống của các nghiên cứu trước Bằng các chỉ báo về hiệu quả trong việc giáo dục con, các thuận lợi và khó khăn gặp phải, đề tài sẽ chỉ ra các mô hình giáo dục gia đình đã, đang và sẽ áp dụng trong các gia đình hạt nhân đối với trẻ vị thành niên
Trang 40CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH GIÁO DỤC CON VỊ THÀNH NIÊN TRONG
GIA ĐÌNH HẠT NHÂN
Nhà xã hội học R.E Park đã phát biểu rằng “Người ta sinh ra không phải đã là con người, mà chỉ trở thành con người trong quá trình giáo dục”2 Đồng thuận với ý kiến trên, Goode (1964) nhận định trong mối tương quan giữa gia đình và xã hội, những mục tiêu rộng lớn, kỳ vọng của xã hội cũng sẽ không được hoàn thành nếu chức năng gia đình không được thực hiện đầy đủ Từ đó, Goode đã hình thành được các quan điểm của vai trò quan trọng của giáo dục trong đó có giáo dục gia đình Trong phạm vi giáo dục gia đình, việc xác định nội dung giáo dục, mô hình giáo dục và thời gian dành cho việc giáo dục con chính là ba chiều kích của cha mẹ trong việc thực hiện chức năng giáo dục của mình đối với con vị thành niên
2.1 Nội dung giáo dục đối với trẻ vị thành niên
Theo nội dung phỏng vấn của tác giả, các nội dung, lĩnh vực, vấn đề mà các bậc phụ huynh đang giáo dục con là tất cả những gì các bậc phụ huynh nói, hướng dẫn, chỉ bảo nhằm giúp con mình nhận thức, đạt được sự hiểu biết, để con lắng nghe và làm theo Tác giả Mai Huy Bích phân chia giáo dục chính gồm có 4 lĩnh vực bao gồm: lĩnh vực đạo đức, lĩnh vực văn hóa, hướng nghiệp và giáo dục giới tính Trong công cuộc toàn cầu hoá, phát triển kinh tế thị hường định hướng xã hội chủ nghĩa, hiện đại hoá đất nước đặt ra yêu cầu mỗi cá nhân phải có những phẩm chất, đạo đức tốt đẹp, năng lực công tác, làm việc tốt, hiệu quả Để đạt được các yêu cầu của xã hội, mỗi cá nhân được kỳ vọng
là người có đủ kiến thức, sáng tạo và kinh nghiệm ở các lĩnh vực chuyên môn, có phong cách, tác phong của người lao động trong thời kỳ mới, tức là phải tâm huyết, có trách nhiệm với công việc, trung thực, tuân thủ nội quy, quy định của cơ quan và tinh thần thượng tôn pháp luật Đối với gia đình, mỗi cá nhân đều được kỳ vọng là người có đủ
2 Mai Huy Bích (1987), Lối sống gia đình ngày nay, NXB Phụ nữ, trang 62