1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghề Thủ Công Truyền Thống Làm Lồng Đèn Ở Thành Phố Hồ Chí Minh .Pdf

144 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghề Thủ Công Truyền Thống Làm Lồng Đèn Ở Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Lê Thị Tuyết Ngân
Người hướng dẫn TS. Trương Hoàng Trương
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Việt Nam Học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 5,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. L Ý DO CHỌN ĐỀ TÀI (9)
  • 2. T ỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU (10)
  • 3. M ỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU (14)
  • 4. Đ ỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU (0)
  • 5. C ÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU (15)
  • 6. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN (16)
  • 7. P HƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (0)
  • 8. B Ố CỤC LUẬN VĂN (17)
  • ƢƠ 1 (19)
    • 1.1. C Ơ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI (0)
      • 1.1.1. Các khái niệm (19)
      • 1.1.2. Cách tiếp cận (21)
      • 1.1.3. Lý thuyết tiếp cận (22)
    • 1.2. C Ơ SỞ THỰC TIỄN (0)
      • 1.2.1. Tổng quan về Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh (25)
      • 1.2.2. Làng nghề, nghề thủ công truyền thống tại TP. Hồ Chí Minh (31)
      • 1.2.3. Nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn ở Việt Nam (33)
  • ƢƠ 2 (37)
    • 2.1. Q UY TRÌNH CHẾ TÁC SẢN PHẨM LỒNG ĐÈN Ở TP. H Ồ C HÍ M INH (37)
      • 2.1.1. Nguyên vật liệu, công cụ và kỹ thuật chế tác (37)
      • 2.1.2. Ý nghĩa biểu tƣợng của một số sản phẩm lồng đèn (40)
    • 2.2. T HỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ VÀ THỊ HIẾU CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG SẢN PHẨM LỒNG ĐÈN Ở TP. H Ồ C HÍ M INH (48)
      • 2.2.1. Thị trường tiêu thụ sản phẩm (48)
      • 2.2.2. Thị hiếu của người tiêu dùng (49)
    • 2.3. Đ ÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG LÀM LỒNG ĐÈN Ở TP. H Ồ (0)
      • 2.3.1. Những mặt thuận lợi để phát triển nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn ở TP. Hồ Chí Minh (51)
      • 2.3.2. Những mặt khó khăn trong quá trình phát triển nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn ở TP. Hồ Chí Minh (51)
    • 2.4. N GUỒN NHÂN LỰC HOẠT ĐỘNG NGHỀ (53)
  • ƢƠ 3 (58)
    • 3.2. N GHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG LÀM LỒNG ĐÈN TRONG ĐỜI SỐNG KINH TẾ , VĂN HÓA , XÃ HỘI CỦA NGƯỜI DÂN TẠI TP. H Ồ C HÍ M INH (62)
      • 3.2.1. Nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn trong đời sống kinh tế (62)
      • 3.2.2. Nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn trong đời sống văn hóa (64)
      • 3.2.3. Nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn trong đời sống xã hội (65)
    • 3.3. N HỮNG CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG LÀM LỒNG ĐÈN TẠI TP. H Ồ C HÍ M INH (66)
      • 3.3.1. Chính sách của Nhà nước và TP. Hồ Chí Minh về nghề truyền thống (0)
      • 3.3.2. Giải pháp phát triển nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn (69)
    • 3.4. K INH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NGHỀ , LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG (75)
      • 3.4.1. Kinh nghiệm quốc tế (75)
      • 3.4.2. Kinh nghiệm trong nước (80)
  • KẾT LUẬN (89)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (92)

Nội dung

Ọ Ố Ố Ồ ƢỜ Ọ Ọ KHOA VIỆT NAM HỌC ********** LÊ THỊ TUYẾT NGÂN NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG LÀM LỒNG È Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬ Ệ Ọ Mã số 8310630 Thành phố Hồ Chí Minh 2022 Ọ Ố Ố Ồ ƢỜ Ọ Ọ KHOA VIỆT[.]

Trang 1

È Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬ Ệ Ọ

Mã số: 8310630

Thành phố Hồ Chí Minh- 2022

Trang 2

È Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: VIỆT NAM HỌC

Mã số:8310630

LUẬ Ệ Ọ ƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS Trương oàng rương

Thành phố Hồ Chí Minh- 2022

Trang 3

Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu, Phòng Sau đại học, Khoa Việt Nam học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia

TP Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa học, làm nền tảng giúp tôi thực hiện đề tài này

Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cô chú, những người dân khu vực Phú Bình đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát và phỏng vấn điền dã, khảo sát thực tế Kính chúc mọi người nhiều sức khỏe và luôn giữ ngọn lửa nghề

Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và các anh chị trong lớp Việt Nam học K18 đã cổ vũ, động viên và tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thiện luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

TP Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 05 năm 2022

Học viên

Lê Thị Tuyết Ngân

Trang 4

LỜ

Tôi cam đoan đề tài “Nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn ở TP Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là chân thực Tất cả những trích dẫn đưuọc ghi rõ ràng, trung thực và đều được ghi rõ nguồn gốc Kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào

TP Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 05 năm 2022

gười cam đoan

Lê Thị Tuyết Ngân

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ẦU 1

1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2

3.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 6

4.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 6

5.CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 7

6.Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 8

7.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

8.BỐ CỤC LUẬN VĂN 9

ƯƠ 1 11

Ơ Ở LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11

1.1.CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 11

1.1.1 Các khái niệm 11

1.1.2 Cách tiếp cận 13

1.1.3 Lý thuyết tiếp cận 14

1.2.CƠ SỞ THỰC TIỄN 17

1.2.1 Tổng quan về Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh 17

1.2.2 Làng nghề, nghề thủ công truyền thống tại TP Hồ Chí Minh 23

1.2.3 Nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn ở Việt Nam 25

TIỂU KẾ ƯƠ 1 28

Trang 7

ƯƠ 2 29

THỰC TR NG HO NG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG LÀM LỒ È Ở TP HỒ CHÍ MINH 29

2.1.QUY TRÌNH CHẾ TÁC SẢN PHẨM LỒNG ĐÈN Ở TP.HỒ CHÍ MINH 29

2.1.1 Nguyên vật liệu, công cụ và kỹ thuật chế tác 29

2.1.2 Ý nghĩa biểu tượng của một số sản phẩm lồng đèn 32

2.2.THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ VÀ THỊ HIẾU CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG SẢN PHẨM LỒNG ĐÈN Ở TP.HỒ CHÍ MINH 40

2.2.1 Thị trường tiêu thụ sản phẩm 40

2.2.2 Thị hiếu của người tiêu dùng 41

2.3.ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG LÀM LỒNG ĐÈN Ở TP.HỒ CHÍ MINH 43

2.3.1 Những mặt thuận lợi để phát triển nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn ở TP Hồ Chí Minh 43

2.3.2 Những mặt khó khăn trong quá trình phát triển nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn ở TP Hồ Chí Minh 43

2.4.NGUỒN NHÂN LỰC HOẠT ĐỘNG NGHỀ 45

TIỂU KẾ ƯƠ 2 48

ƯƠ 3 50

Ị ƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG LÀM LỒ È Ở TP.HỒ CHÍ MINH 50

Trang 8

3.1.ĐẶC TRƯNG CỦA NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG LÀM LỒNG ĐÈN Ở TP.HỒ CHÍ

MINH 50

3.2.NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG LÀM LỒNG ĐÈN TRONG ĐỜI SỐNG KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI CỦA NGƯỜI DÂN TẠI TP.HỒ CHÍ MINH 54

3.2.1 Nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn trong đời sống kinh tế 54

3.2.2 Nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn trong đời sống văn hóa 56

3.2.3 Nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn trong đời sống xã hội 57

3.3.NHỮNG CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG LÀM LỒNG ĐÈN TẠI TP.HỒ CHÍ MINH 58

3.3.1 Chính sách của Nhà nước và TP Hồ Chí Minh về nghề truyền thống 58

3.3.2 Giải pháp phát triển nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn 61

3.4.KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NGHỀ, LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 67

3.4.1 Kinh nghiệm quốc tế 67

3.4.2 Kinh nghiệm trong nước 72

TIỂU KẾ ƯƠ 3 79

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

PHỤC LỤC 1 BIÊN BẢN PHỎNG VẤN 88

PHỤ LỤC 2 HÌNH ẢNH 109

Trang 9

MỞ ẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ xưa đến nay, khi nhắc đến Việt Nam, nhiều người sẽ nghĩ đến một đất nước

đi lên từ nền nông nghiệp, dấu ấn của nền nông nghiệp ấy lưu giữ trong những làng nghề, ngành nghề truyền thống Nghề và làng nghề không chỉ mang đến giá trị về kinh

tế mà còn mang trong mình bản sắc văn hóa gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng dân cư Có thể nói, nghề và làng nghề như bảo tàng bảo tồn sống – nơi lưu giữ những nét đẹp truyền thống, giá trị văn hóa, lịch sử, những di sản văn hóa của dân tộc Đồng thời là điểm đến đầy thú vị không chỉ cho những du khách trong nước mà còn cho cả những du khách quốc tế Cùng với quá trình dựng nước và giữ nước, nghề và làng nghề thủ công truyền thống đã song hành qua biết bao nhiêu thăng trầm, biến cố của lịch sử Thế mà những giá trị văn hóa truyền thống ấy đang đối mặt với thách thức có nguy cơ mai một và biến mất giữa sự phát triển mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hóa và những chuyển biến của đời sống xã hội

TP Hồ Chí Minh là một thành phố năng động và là trung tâm kinh tế lớn nhất

ở miền Nam Việt Nam, là nơi thu hút nguồn nhân lực từ khắp các tỉnh thành trong cả nước So với những thành phố lớn thì TP Hồ Chí Minh có nền kinh tế vượt bậc, tuy nhiên bề dày về lịch sử - văn hóa thì vẫn còn khá trẻ Do vậy khi nhắc đến những nghề, làng nghề truyền thống ở Việt Nam, người ta thường hay nghĩ đến những địa danh đã có lịch sử ngàn năm văn hiến Thăng Long – Hà Nội hay phố cổ Hội An,… với các làng nghề nổi tiếng cả trong và ngoài nước như làng mộc Kim Bồng, làng gốm Thanh Hà, làng lụa Vạn Phúc, làng gốm Bát Tràng, làng tranh Đông Hồ, … Tuy nhiên

TP Hồ Chí Minh hiện đại cũng có những hoạt động kinh tế thủ công của riêng Tuy

Trang 10

rằng so với trước đây số lượng đã không còn nhiều nhưng đi từ nội thành ra đến ngoại thành không biết bao nhiêu nghề, làng nghề thủ công truyền thống hiện diện Có thể kể đến như nghề dệt chiếu Đa Phước (Bình Chánh), làng nghề mây tre lá Thái Mỹ (Củ Chi), nghề làm đàn (quận 4), nghề chổi dừa nước (quận 2), …

Thực tế hiện nay tại TP Hồ Chí Minh, theo Trương Hoàng Trương (2012), hiện tượng lụi tàn của các làng nghề xuất hiện rõ rệt, nhiều làng nghề trước đây phát triển tốt cũng có dấu hiệu chững lại, một số có nguy cơ biến mất, có thể kể đến như làng đúc lư đồng An Hội ( Gò Vấp), làng dệt chiếu Bình An (quận 8), …

Từ thực tại tình trạng nghề, làng nghề như vậy nên việc nghiên cứu làng nghề trong bối cảnh hiện nay ở TP Hồ Chí Minh có ý nghĩa thực tiễn và khoa học

Giữa những nghề, làng nghề còn tồn tại ở TP Hồ Chí Minh có nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn Mặc dù có nhiều khó khăn, thử thách những người làm nghề vẫn đang cố gắng giữ lại nét đẹp truyền thống của cha ông để lại

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn ở TP Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học, góp một phần nhỏ vào việc bảo tồn và phát huy một giá trị văn hóa quan trọng của Việt Nam

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Qua quá trình tổng hợp, tra cứu lịch sử nghiên cứu vấn đề tác giả đã tiếp cận được một số công trình nghiên cứu sau:

Công trình nghiên cứu làng nghề ở Việt Nam

Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa của

Dương Bá Phương (2001), cuốn sách gồm 7 chương chia thành 2 tập - Tập 1 giới thiệu

Trang 11

về các vấn đề như: các đặc điểm và điều kiện hình thành nên các làng nghề, những nhân tố nào ảnh hưởng và tác động đến sự phát triển của các làng nghề,….; Tập 2 đề cập đến những tiềm năng, hạn chế, xu hướng vận động của các làng nghề từ đó đưa ra các quan điểm và phương hướng để bảo tồn và phát triển các làng nghề, đồng thời có các giải pháp về cơ chế chính sách nhằm bảo tồn các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa,…

Bùi Văn Vượng (2002) với Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam, trong

cuốn sách này, tác giả đưa ra những khái niệm và đặc điểm chung về nghề, làng nghề thủ công truyền thống, cũng như đưa ra những nhận định và đánh giá về các nhân tố tác động đến các làng nghề để đưa ra những kiến nghị góp phần vào công tác bảo tồn

và phát triển nghề và làng nghề thủ công truyền thống

Xóm nghề và nghề thủ công truyền thống Nam Bộ do Phan Thị Yến Tuyết chủ

biên (2003), cuốn sách giới thiệu về xóm nghề cũng như một số nghề thủ công truyền thống, trong đó có nghề hiện nay chỉ còn hoạt động rất mờ nhạt hoặc có nghề không còn hoạt động nữa Cuốn sách là tập hợp của 23 bài viết, chủ yếu dưới dạng hệ thống tài liệu điền dã, giới thiệu một số xóm nghề và nghề thủ công trên địa bàn Nam Bộ

Làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của

Trần Minh Yến (2004), nội dung cuốn sách nhằm nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản của làng nghề truyền thống, đánh giá thực trạng hoạt động cũng như phân tích xu hướng vận động của các làng nghề truyền thống ở các vùng nông thôn nước ta, từ đó

có những đề xuất trong quan điểm về định hướng và các giải pháp phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đưa ra những vấn đề lý luận và kinh nghiệm quốc tế trong việc nâng cao làng nghề

Trang 12

truyền thống, nghiên cứu thực trạng phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn

Đặng Kim Chi (2005), Làng nghề Việt Nam và môi trường - cuốn sách nghiên

cứu tổng hợp về hiện trạng sản xuất và môi trường các làng nghề từ đó đề xuất các chính sách và giải pháp cụ thể góp phần phát triển bền vững các làng nghề Việt Nam

Hoàng Văn Châu, Lê Thị Thu Hà, Phạm Thị Hồng Yến (2007), Làng nghề du

lịch Việt Nam, với 5 chương, các tác giả cũng khái quát chung những vấn đề xoay

quanh làng nghề như các khái niệm, đặc điểm, lịch sử và những vấn đề của phát triển

du lịch làng nghề ở Việt Nam để xây dựng mô hình làng nghề du lịch

Tổng hợp nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam của Viện Khoa học Xã hội

và Nhân văn, Viện Nghiên cứu Văn hóa (2012), đây là tập 1 trong 6 tập của tổng tập nghề làng nghề truyền thống Việt Nam của Viện nghiên cứu Văn hóa, cuốn sách đưa

ra những vấn đề lý luận chung về nghề và làng nghề truyền thống, những vấn đề xoay quanh nghề truyền thống như tổ nghề, nghệ nhân dân gian, các vùng nghề, địa danh, địa chí làng nghề,… và cuốn sách cũng đề cập đến sự biến đổi nghề và làng nghề trong bối cảnh hôm nay

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Phương Thảo, Nghề làm lồng đèn ở Hội An

với sự phát triển du lịch của địa phương, bên cạnh khai thác sâu vào nghề làm lồng

đèn ở Hội An thì luận văn cũng đề cập đến nghề làm lồng đèn của Việt Nam với

những nét chung nhất, làm cơ sở tham khảo gần nhất với đề tài “Nghề thủ công truyền

thống làm lồng đèn TP Hồ Chí Minh”

Công trình nghiên cứu về nghề và làng nghề tại TP Hồ Chí Minh

Tôn Nữ Quỳnh Trân chủ biên (2002), Làng nghề thủ công truyền thống tại TP

Hồ Chí Minh, các tác giả với những tâm huyết của mình hoàn thành nên cuốn sách,

Trang 13

khắc họa nên bức tranh về làng nghề thủ công truyền thống tại TP Hồ Chí Minh, với những cái chung, cái riêng về làng nghề; bên cạnh đó, trong chương 2 cuốn sách có bài

viết về Xóm lồng đèn Phú Bình với những nét phác thảo chân dung về nghề làm lồng

đèn ở nơi đây

Trương Hoàng Trương chủ nhiệm đề tài Điều tra nghề và làng nghề truyền

thống trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh (2012) đây là một công trình tổng hợp, thống kê,

cập nhật tình hình của các làng nghề truyền thống tại TP Hồ Chí Minh, và đề ra những giải pháp chính sách hỗ trợ để bảo tồn và phát huy các làng nghề truyền thống đang gặp khó khăn, cũng như kết hợp phát triển làng nghề với phục vụ du lịch

Luận văn thạc sĩ của Cao Hoàng Ân (2016), Làng nghề truyền thống sản xuất

hàng xuất khẩu tại TP Hồ Chí Minh đã đưa ra những giá trị kinh tế, văn hóa của làng

nghề truyền thống sản xuất hàng xuất khẩu đã đem đến cho người dân TP Hồ Chí Minh và sự biến đổi của một số làng nghề truyền thống sản xuất hàng xuất khẩu ở nơi

đây

Những bài báo như Thăm làng nghề lồng đèn Phú Bình (21/9/2015), Làng nghề lồng đèn Phú Bình: “Hơn nửa thế kỷ” có nguy cơ dẹp bỏ (22/9/2015), Xóm lồng đèn truyền thống lớn nhất Sài Gòn nhộn nhịp đón Tết Trung thu (7/9/2016), Làng nghề lồng đèn Phú Bình hồi sinh (27/9/2017), Phố lồng đèn lớn nhất Sài Gòn vào vụ duy nhất trong năm (20/9/2018), …

Nhìn chung các công trình nghiên cứu kể trên đã có những đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu nghề, làng nghề Việt Nam, làm phong phú thêm nguồn tài liệu tham khảo về lĩnh vực này; đồng thời đã có những kết quả nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau từ đó đưa ra những giải pháp bảo tồn, duy trì hoạt động và phát

Trang 14

triển cho các nghề, làng nghề cho từng địa phương trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay, bên cạnh đó cho người đọc cái nhìn bao quát và đa dạng hơn

Tuy nhiên trong phạm vi tổng hợp của tác giả có thể thấy rằng chưa có công trình nào nghiên cứu tập trung về nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn tại TP Hồ Chí Minh

Do đó có thể thấy việc tìm hiểu, nghiên cứu về “Nghề thủ công truyền thống

làm lồng đèn tại TP Hồ Chí Minh” là một đề tài hấp dẫn, thu hút không chỉ riêng tác

giả mà cả những nhà nghiên cứu và những người quan tâm đến nghề, làng nghề nói riêng và sự phát triển của đất nước nói chung

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài “Nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn ở TP Hồ Chí Minh” là một mảnh ghép trong nghiên cứu nghề và làng nghề ở TP Hồ Chí Minh nói riêng và ở Việt Nam nói chung

Thông qua quá trình khảo sát đề tài này mục đích của tác giả nhằm tìm hiểu lịch sử và quá trình hình thành nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn Bên cạnh đó tác giả tìm hiểu thực trạng phát triển của nghề để tìm ra những định hướng nhằm phát triển nghề bền vững hơn trong tương lai với những đề tài được đặt ra đối với nghề - làng nghề thủ công truyền thống như môi trường, du lịch,…

4 ối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn ở TP Hồ Chí Minh và những người làm nghề này

Đặc biệt chú ý đến khía cạnh văn hóa, những giá trị truyền thống mà ngành

Trang 15

nghề mang lại, đồng thời cũng lưu ý giá trị kinh tế - xã hội của sản phẩm đèn lồng đem lại trong bối cảnh kinh tế, xã hội hiện nay tại TP Hồ Chí Minh Bên cạnh đó tác giả cũng xem xét một nhân tố không thể thiếu đó chính là những người làm nghề này, xem xét mối quan hệ giữa những người làm nghề lồng đèn với nhau và mối quan hệ với bên ngoài

* Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Tác giả tập trung nghiên cứu nghề làm lồng đèn ở Phú Bình, vì lý do tại TP Hồ Chí Minh, địa điểm làm lồng đèn nhiều nhất

là ở Phú Bình (phường 5, quận 11 và phường Phú Tân, quận Tân Phú)

* Phạm vi nghiên cứu về thời gian

Tác giả tập trung nghiên cứu tìm hiểu nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn

từ năm 2019 cho đến nay

5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

* Câu hỏi nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi đưa ra những câu hỏi nghiên cứu sau:

- Thực trạng hoạt động nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn ở TP Hồ Chí Minh hiện nay như thế nào?

- Nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn có vai trò như thế nào đối với đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân làm nghề tại TP Hồ Chí Minh?

* Giả thuyết nghiên cứu

- Nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn tại TP Hồ Chí Minh đã và đang tồn tại, phát triển và cũng có nhiều biến động trong quan trọng phát triển kinh tế thị trường và sự phát triển của công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trang 16

- Sự tồn tại và phát triển của nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn tại TP

Hồ Chí Minh từ những năm 1950 đến nay đã có những đóng góp quan trọng không chỉ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của TP Hồ Chí Minh mà còn đối với đời sống của những người liên quan đến nghề trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

* Ý nghĩa khoa học

Dựa vào những tài liệu của những nhà nghiên cứu đi trước, thông qua điền dã, công trình phát thảo tổng quát về nghề, làng nghề thủ công truyền thống, cũng góp một phần tư liệu mới về nghề thủ công truyền thống ở TP Hồ Chí Minh nói riêng và ở Việt Nam nói chung Luận văn cung cấp những thông tin và số liệu khoa học nhằm góp phần làm cơ sở cho nghiên cứu khoa học và những định hướng phát triển cho nghề thủ công truyền thống hiện tại và trong tương lai

* Ý nghĩa thực tiễn

Công trình nghiên cứu này đóng góp một phần nhỏ vào việc giới thiệu, quảng

bá hình ảnh nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn ở TP Hồ Chí Minh, đồng thời lưu giữ những giá trị xã hội truyền thống

Bổ sung tư liệu tham khảo và phục vụ cho việc nghiên cứu các làng nghề ở TP

Hồ Chí Minh nói riêng và các làng nghề thủ công truyền thống trong cả nước nói chung

7 hương pháp nghiên cứu

Trước hết là chúng tôi sử dụng Tiếp cận nghiên cứu liên ngành (Interdisciplinary research)

Tiếp cận liên ngành là tìm cách liên kết, thiết lập những mối quan hệ qua lại,

Trang 17

quy định và ảnh hưởng lẫn nhau giữa những hệ phương pháp và quy trình của nhiều chuyên ngành khác nhau Trong đó, ngành Việt Nam học là chính, liên ngành với dân tộc học, nhân học, văn hóa dân gian, sử học,…

Thông qua điền dã, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

Phương pháp quan sát tham dự (Participant and observation method):

Đây là một phương pháp đặc trưng chuyên biệt tất yếu của ngành dân tộc học / nhân học Người nghiên cứu tham gia trực tiếp vào làng nghề làm lồng đèn ở TP Hồ Chí Minh Từ đó thu thập dữ liệu từ việc quan sát, giao tiếp, phỏng vấn, trải nghiệm cùng làm việc với cộng đồng người dân trong làng nghề, mới có thể hiểu và phân tích vấn đề nghiên cứu

Phương pháp phỏng vấn sâu (in-depth interview method):

Người nghiên cứu sau khi đã thiết lập mối quan hệ với cộng đồng người dân làng nghề thì thực hiện phỏng vấn sâu, bằng cách chuẩn bị bản câu hỏi, ghi âm, nghiên cứu thu thập được dữ liệu để làm rõ bản chất của vấn đề

Phương pháp phân tích tổng hợp

Kết quả thông tin thu thập được từ điền dã qua những phương pháp trên sẽ được sử dụng để phân tích trong nội dung của đề tài cũng như làm dẫn chứng cho các quan điểm, nhận định được trình bày trong luận văn

8 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương này trình bày các khái niệm, lý

thuyết, tổng quan về địa bàn nghiên cứu, tổng quan về nghề và làng nghề tại TP Hồ Chí Minh

Trang 18

Chương 2: Thực trạng hoạt động nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn ở

TP Hồ Chí Minh Chương này trình bày nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn ở

Việt Nam, quá trình chế tác một sản phẩm đèn lồng ở TP Hồ Chí Minh như nguyên vật liệu, công cụ, kỹ thuật chế tác, ý nghĩa các loại đèn lồng, thị trường tiêu thụ, thị hiếu của người tiêu dùng, những thuận lợi và khó khăn mà những người lồng đèn tại

TP Hồ Chí Minh đã và đang gặp phải,…

Chương 3: Định hướng cho nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn ở TP Hồ Chí Minh Chương này nêu ra những đặc trưng, vai trò của nghề thủ công truyền thống

làm lồng đèn ở TP Hồ Chí Minh trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, những giải pháp giúp nghề có thể phát triển hơn tương lai cũng như vấn đề bảo vệ di sản văn hóa nói chung ở Việt Nam và kinh nghiệm phát triển nghề, làng nghề thủ công truyền thống ở một số quốc gia trên thế giới cũng như một số địa phương nổi bật ở Việt Nam

Trang 19

ƯƠ 1

Ơ Ở LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 ơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Các khái niệm

Liên quan đến nghề và làng nghề, tác giả tìm hiểu một số khái niệm sau:

Theo quy định của Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, làng nghề được công nhận phải đạt 3 tiêu chí: có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn, hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính từ thời điểm đề nghị công nhận và chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước Tuy nhiên, việc đạt tiêu chí đầu tiên rất khó thực hiện tại TP Hồ Chí Minh, vì các hộ, cơ sở ngành nghề của thành phố sản xuất phân tán, không tập trung trên một địa bàn

Theo Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ban hành ngày 12/4/2018 của Chính phủ

về Phát triển ngành nghề nông thôn có quy định như sau:

1 Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền

2 Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự tham gia vào hoạt động ngành nghề nông thôn quy định tại Điều 4 Nghị định này.1

1 Các hoạt động ngành nghề nông thôn quy định trong Nghị định này bao gồm: 1.Chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản; 2.Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; 3 Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn; 4 Sản xuất đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, sợi, thêu ren, đan lát, cơ khí nhỏ; 5 Sản xuất và kinh doanh sinh vật cảnh; 6 Sản xuất muối; 7 Các dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống dân cư nông thôn

Trang 20

Theo Tôn Nữ Quỳnh Trân (2002), nghề thủ công (handicrafts) là nghề sản xuất hoàn toàn hay một phần bằng tay những vật dụng trang trí hay tiêu dùng, việc sản xuất đòi hỏi kỹ năng tay chân và cả kỹ năng nghệ thuật

Đối với mỗi nghề được xếp vào các nghề thủ công truyền thống, nhất thiết phải

có các yếu tố sau đây: 1.Đã hoàn thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta; 2.Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề; 3.Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa

và đội ngũ thợ lành nghề; 4.Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt Nam; 5.Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước hoàn toàn, hoặc chủ yếu nhất; 6.Sản phẩm tiêu biểu và độc đáo của Việt Nam, có chất lượng rất cao, vừa là hàng hóa vừa là sản phẩm văn hóa nghệ thuật, mỹ thuật, tiêu chí trở thành các di sản văn hóa của dân tộc

Trang 21

mang bản sắc văn hóa Việt Nam; 7.Là nghề nghiệp nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng đồng có đóng góp đáng kể về kinh tế vào ngân sách nhà nước (Theo Bùi Văn Vượng, 2002, tr 12-13)

“Nghề thủ công truyền thống” là để chỉ các hoạt động sản xuất chủ yếu bằng tay với công cụ giản đơn, đã được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời tại Việt Nam, đã từng có nhiều thế hệ nghệ nhân hay đội ngũ thợ lành nghề với kỹ thuật khá ổn định và nguyên liệu chủ yếu tại chỗ.” (Theo Tôn Nữ Quỳnh Trân, 2002, tr.7)

*Lồng đèn

Theo Từ điển tiếng Việt của nhóm biên soạn Đăng Khoa – Thùy Uyên: Lồng

đèn là “đèn xếp hoặc đèn có chụp bọc như cái lồng”

Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng dành cho học sinh của Phạm Lê Liên (Chủ

biên): đèn lồng là “đèn có khung bọc ngoài như một cái lồng, có dán giấy hoặc lụa màu, dùng để trang trí”

1.1.2 Cách tiếp cận

Luận văn này được thực hiện dựa trên các quan điểm tiếp cận sau:

- Tiếp cận dưới góc độ Việt Nam học:

Do luận văn thuộc chuyên ngành Việt Nam học nên quan điểm tiếp cận chính

là Việt Nam học Tiếp cận dưới quan điểm này, đề tài của luận văn được nhìn tổng thể trong bối cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội ở Việt Nam nói chung và TP Hồ Chí Minh nói

riêng

- Tiếp cận liên ngành:

Do đề tài nghiên cứu về nghề thủ công truyền thống trong bối cảnh phát triển kinh tế- xã hội nên luận văn được thực hiện bằng tiếp cận của của nhiều ngành như

Trang 22

Lịch sử, Văn hóa học, Nhân học,…

1.1.3 Lý thuyết tiếp cận

* Lý thuyết về nhân học nghệ thuật và biểu tượng

Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (Chủ biên): Biểu tượng là “hình ảnh

tượng trưng, là hình ảnh của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác dụng của sự vật vào giác quan đã chấm dứt”

Văn hóa của bất cứ dân tộc nào cũng đều bao hàm những loại hình nghệ thuật Những loại hình này thể hiện một hệ thống biểu tượng phản ánh khá rõ nét tâm lý, sắc thái văn hóa cội nguồn, truyền thống của dân tộc đó Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng, là loại hình ký hiệu đặc biệt, thể hiện nội dung thực tế của một điều gì đó Biểu tượng văn hóa khác với những ký hiệu thông thường ở chỗ nó chứa đựng mối quan hệ tâm lý với tồn tại mà nó biểu tượng “Biểu tượng văn hóa đã hòa nhập cùng những tín hiệu dân gian, hiển hiện trong các phong tục, lễ hội, tập quán của con người hoặc có khi chúng được ký thác ở thế giới tâm linh, ẩn chứa trong các hoạt động văn hóa dân gian và nghệ thuật truyền thống” (Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2013, tr.7)

Nhân học biểu tượng (Symbolic Anthropology) liên quan đến những nghiên cứu về văn hóa như là một thực thể tương đối độc lập, một hệ thống ý nghĩa mà nhân học cố gắng để sáng tỏ thông qua việc giải mã những biểu tượng và nghi lễ (ritual) cốt lõi

Vận dụng lý thuyết này này trong luận văn chúng tôi muốn giải thích ý nghĩa độc đáo mà mỗi loại sản phẩm lồng đèn mang đến Qua hình dáng của chúng có thể hiểu được những thông điệp mà những người làm lồng đèn muốn truyền đạt Do vậy mỗi sản phẩm lồng đèn đều có giá trị riêng, cụ thể thông qua hình thức bên ngoài

Trang 23

* Thuyết lựa chọn duy lý (Rational choice theory)

Vào thế kỷ XVIII – XIX thuyết lựa chọn duy lý có nguồn gốc từ xã hội học, phổ biến trong các lĩnh vực triết học, kinh tế học và nhân học Một số nhà triết học nhận định bản chất con người là vị kỷ, luôn tìm đến sự hài lòng, sự thỏa mãn và lảng tránh nỗi khổ đau Lý thuyết lựa chọn duy lý nhấn mạnh đến việc phải cân nhắc, tính toán nhằm đạt được những tối đa trong lựa chọn Những tối ưu này không chỉ là yếu tố vật chất mà còn cả yếu tố tinh thần và lợi ích xã hội (Huỳnh Ngọc Thu, 2014, tr.128)

Thuyết lựa chọn duy lý chỉ ra rằng các cá nhân dựa trên các cân nhắc lý trí để đạt được kết quả phù hợp với mục tiêu cá nhân của họ Những quyết định này cung cấp cho mọi người lợi ích hoặc sự hài lòng lớn nhất dựa trên các lựa chọn có sẵn và cũng vì lợi ích cá nhân cao nhất của họ

Thuyết lựa chọn duy lý giả định rằng tất cả mọi người cố gắng chủ động tối đa hóa lợi thế của họ trong mọi tình huống và do đó luôn cố gắng giảm thiểu tổn thất Nói cách khác, đây là khái niệm cho rằng vì cách tính toán hợp lý quyết định hành vi của con người, lý trí sẽ là động lực khi đưa ra lựa chọn để kết quả đạt được tối đa hóa sự thỏa mãn hoặc lợi nhuận của mỗi cá nhân

Thuyết lựa chọn duy lý cũng cho rằng tất cả các hiện tượng xã hội phức tạp đều được điều khiển bởi các hành động của con người Do đó một nhà kinh tế có thể hiểu hơn về hành vi của toàn xã hội bằng cách nghiên cứu các quyết định hợp lý của

cá nhân

Một quan niệm sai lầm phổ biến là quy kết tính ích kỷ cho lý thuyết này Mặc dù ý tưởng cho rằng mỗi người chỉ hành động vì lợi ích cá nhân của mình giống với cái tôi ích kỷ, tính duy lý cũng có thể mang đến lòng vị tha Một cá nhân có thể

Trang 24

chọn lựa làm từ thiện vì điều đó có thể khiến họ cảm thấy tốt hơn về bản thân

Vận dụng lý thuyết này để chúng tôi xem xét sự lựa chọn của những người làm lồng đèn khi có một số người gắn bó và một số người không còn gắn bó với nghề này nữa Đồng thời giải thích sự phát triển của nghề theo cách lựa chọn của người thợ

để đạt được hiệu quả lợi nhuận cao nhất

* Học thuyết hình thái kinh tế xã hội

Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử (hay còn gọi là chủ nghĩa duy vật biện chứng về xã hội) dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất đó Nó chính là các xã hội cụ thể được tạo thành từ sự thống nhất biện chứng giữa các mặt trong đời sống xã hội và tồn tại trong từng giai đoạn lịch sử nhất định (Theo Triết học Mác-Lênin, 1997, tr.50)

Hình thái kinh tế xã hội là một hệ thống trong đó, các mặt của nó không ngừng tác động qua lại lẫn nhau tạo thành hệ thống các quy luật vận động, phát triển khách quan của xã hội Đó là các quy luật: quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; Quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng; và các quy luật xã hội khác Chính sự tác động của các quy luật khách quan đó đã làm các hình thái kinh tế xã hội phát triển từ thấp đến cao

Nguồn gốc sâu xa của sự vận động phát triển của xã hội là ở sự vận động phát triển của lực lượng sản xuất Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất đã quyết định làm thay đổi quan hệ sản xuất Đến lượt mình, các quan hệ sản xuất thay đổi làm cho kiến trúc thượng tầng tương ứng thay đổi theo Khi đó kiến trúc thượng tầng xã hội cũ

Trang 25

được thay thế bằng kiến trúc thượng tầng mới cao hơn, hình thành hình thái kinh tế xã hội mới tiến bộ hơn Quá trình này diễn ra một cách khách quan, không phụ thuộc ý muốn chủ quan của con người

Sự vận động của các quy luật làm cho các hình thái kinh tế xã hội phát triển từ thấp đến cao là quy luật chung phổ biến của nhân loại Tuy nhiên mỗi quốc gia dân tộc lại có sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế - chính trị - xã hội – văn hóa… nên sự biểu hiện các quy luật khách quan ở các nước khác nhau cũng khác nhau Chính vì vậy, lịch sử phát triển của nhân loại hết sức phong phú đa dạng, mỗi dân tộc có nét độc đáo riêng theo dòng lịch sử của riêng mình Có những dân tộc tuần tự trải qua đầy đủ các hình thái kinh tế xã hội; nhưng cũng có những dân tộc bỏ qua một hình thái nào đó theo một cách thức rất khách quan, tuân thủ quy luật tự nhiên của xã hội đất nước đó

Vận dụng học thuyết này chúng tôi xem xét mối quan hệ, sự tác động qua lại giữa nghề làm lồng đèn với những quy định, chính sách của Nhà nước Việt Nam, cũng như sự tác động của hoạt động nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn đến các khía cạnh khác trong đời sống xã hội

1.2 ơ sở thực tiễn

1.2.1 Tổng quan về Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh là một trong năm thành phố trực thuộc trung ương và là thành phố có sự phát triển bậc nhất cả nước Có diện tích 2.061,4 km2 Dân số khoảng 9.038,6 nghìn người Mật độ dân số trung bình của Thành phố là 4.385 người/km2, cao nhất cả nước (Niên giám thống kê TP Hồ Chí Minh, 2019) Tính đến TP Hồ Chí Minh bao gồm 22 đơn vị hành chính (trong đó bao gồm: 16 quận, 5 huyện và 01 thành phố), là đô thị lớn thứ nhì Việt Nam sau Thành phố Hà Nội - và là đô thị đông dân

Trang 26

nhất Việt Nam hiện nay

“Thành phố Hồ Chí Minh là 1 trung tâm kinh tế lớn, 1 trung tâm giao dịch quốc tế và du lịch của nước ta… Với những điều kiện khách quan thuận lợi mà không

1 thành phố nào khác ở nước ta quy tụ được nhiều ưu thế như vậy, Thành phố Hồ Chí Minh có triển vọng rất tốt đẹp về phát triển công nghiệp, phát triển xuất khẩu, du lịch

và dịch vụ quốc tế…” (Đoàn Thanh Hương, 1999, tr.8)

Từ những thế kỷ trước, người Pháp cũng có những nhận định về Sài Gòn – TP

Hồ Chí Minh khi họ muốn chiếm đóng nơi này Người Pháp biết rằng có 1 thành phố quan trọng ở miền Nam Vương quốc vốn là nguồn dự trữ lương thực cho cả nước và cũng là trung tâm buôn bán ngay trung tâm 1 vùng phì nhiêu nhất Đó là Sài Gòn, thủ phủ của Nam Kỳ (Dương Trọng Dật,1998, tr.52)

* Khái quát lịch sử hình thành

Ban đầu vùng đất TP Hồ Chí Minh có tên là Prey Nokor theo tiếng Khmer Từ sau cuộc hôn nhân giữa công nữ Ngọc Vạn và vua Chân Lạp Chey Checta II vào năm

1620 thì khu vực này bắt đầu có người Việt định cư Giai đoạn từ năm 1623 đến năm

1698 được xem là thời kỳ hình thành Sài Gòn sau này qua các dấu mốc lịch sử: năm

1623 chúa Nguyễn cho lập đồn thu thuế tại Prey Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé); năm 1679 một số nhóm người Hoa được chúa Nguyễn cho lánh nạn ở Sài Gòn cũng như Mỹ Tho và Biên Hòa; năm 1698, theo lệnh của chúa Nguyễn Phúc Chu thì Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý miền nam và đã lập nên phủ Gia Định, đây là một cột mốc quan trọng, đánh dấu sự ra đời của TP Hồ Chí Minh ngày nay

Từ năm 1859, khi thực dân Pháp vào chiếm đóng miền Nam, thành Gia Định lúc bấy giờ được người Pháp cho quy hoạch thành một đô thị lớn làm nơi cư trú cho

Trang 27

các quan chức Pháp phục vụ cho mục đích khai thác thuộc địa Thời kỳ này nơi đây có tên là Sài Gòn và nhanh chóng phát triển trở thành đô thị sầm uất bậc nhất lúc ấy Sài Gòn lúc bấy giờ tuy diện tích nhỏ nhưng lại là một trong những vùng đất quan trọng của Đông Dương thuộc Pháp cả về hành chính lẫn kinh tế, văn hóa và giáo dục

Từ năm 1946 Sài Gòn là thành phố lớn nhất tại miền Nam Việt Nam, trở thành trung tâm đầu não của chính quyền Việt Nam Cộng hòa Đặc biệt văn hóa Sài Gòn lúc bấy giờ chịu nhiều ảnh hưởng từ phương Tây được binh lính Mỹ và sách báo Mỹ du nhập vào Sau khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, đất nước Việt Nam thống nhất hai miền, vào ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Việt Nam Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa thống nhất quyết định đổi tên Sài Gòn thành TP Hồ Chí Minh, và cái tên này được sử dụng cho đến ngày hôm nay

* Điều kiện tự nhiên

TP Hồ Chí Minh nằm ở miền nam Việt Nam, cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, từ trung tâm thành phố cách bờ Biển Đông 50km theo đường chim bay Với

vị trí trung tâm của khu vực Đông Nam Á, TP Hồ Chí Minh là đầu mối giao thông trọng điểm về cả đường bộ, đường thủy và đường hàng không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế quan trọng

TP Hồ Chí Minh nằm trong vùng chuyển tiếp vùng giữa miền Đông Nam bộ

và Đồng bằng sông Cửu Long Phía Bắc giáp Bình Dương, Tây Bắc giáp Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp Đồng Nai, Tây và Tây Nam giáp Long An và Tiền Giang, Đông Nam giáp Bà Rịa – Vũng Tàu Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông Vùng cao nằm ở phía Bắc – Đông Bắc và một phần Tây Bắc Xen kẽ có một số gò đồi Vùng trũng nằm ở phía Nam – Tây Nam và Đông Nam thành phố Nhìn

Trang 28

chung địa hình TP Hồ Chí Minh không phức tạp, song cũng khá đa dạng, tạo điều kiện để phát triển nhiều mặt

Địa chất TP Hồ Chí Minh bao gồm chủ yếu là hai loại trầm tích Pleistocen và Holocen Đặc biệt nhờ trầm tích Pleistocen mà khu vực phía bắc TP Hồ Chí Minh có được lượng nước ngầm khá phong phú

Khí hậu, thời tiết: nằm trong vùng nhiệt đới xavan, nhiệt độ cao đều Khí hậu

TP Hồ Chí Minh cũng được phân ra hai mùa rõ rệt như các địa phương ở miền Nam: mùa mưa – nóng ẩm mưa nhiều, mùa khô – nắng nóng Nhiệt độ tăng cao, đặc biệt đây

là đô thị đông dân nên nhiệt độ thường cao hơn những khu vực khác trong vùng Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố không đều, các quận nội thành và các huyện phía bắc có lượng mưa cao hơn khu vực còn lại Độ ẩm không khí ở thành phố lên cao vào mùa mưa và xuống thấp vào mùa khô

* Điều kiện kinh tế

TP Hồ Chí Minh nằm ở phía Nam Việt Nam, được đánh giá là vùng đất chứa nhiều tiềm năng phát triển: “Thành phố Hồ Chí Minh có một vị trí đặc biệt quan trọng đối với cả nước, đặc biệt là đối với các tỉnh Nam Bộ Quá trình lịch sử đã tạo ở đây một khả năng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, với một lực lượng lao động có tay nghề khá, có thể sản xuất những sản phẩm đa dạng rất cần cho việc mở rộng quan hệ hàng hóa giữa thành thị và nông thôn, có thể làm ra những sản phẩm gần với thị hiếu quốc tế Không có nơi nào ở trong nước ta có khả năng như vậy, mà muốn tạo ra được khả năng đó không phải dễ và không phải là thời gian ngắn.” (Trần Văn Giàu, 1998, tr 526)

Theo số liệu được đưa ra trong Báo cáo về tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội

Trang 29

TP Hồ Chí Minh năm 2019, tình hình kinh tế TP Hồ Chí Minh trong 2019 tiếp tục tăng trưởng khá, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) đạt 1.347.369 tỷ đồng, tăng 8,32%, cao hơn so với năm 2018 (8,3%) Hoạt động đầu tư đạt kết quả khá, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước đạt 35% GDRP, có 44.004 doanh nghiệp được cấp phép thành lập mới với tổng số vốn đăng ký hơn 640 ngàn tỷ đồng, tăng 2,01% so với lượng doanh nghiệp và 10,35% về vốn đăng ký so với cùng kỳ Đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) tính chung cả vốn thu hút được dưới hình thức cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và qua hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong các doanh nghiệp trong nước đã thu hút 8 tỷ USD (bằng 101% so cùng kỳ).2

TP Hồ Chí Minh giữ vai trò đi đầu trong nền kinh tế của cả nước, chiếm 22% tổng sản phẩm GDP.3 Để được như vậy thì nền kinh tế của TP Hồ Chí Minh phải phát triển đa dạng về nhiều lĩnh vực từ khai thác mỏ, thủy hải sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến đến du lịch, tài chính, …Thành phố cũng đứng đầu Việt Nam tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

* Khái quát về dân cư

Từ sau năm 1976, dân số gia tăng nhanh, nhất là dân nhập cư không kiểm soát được Dân số của TP Hồ Chí Minh ngày 01/4/2019 là 8.993.082 người Tuy nhiên, nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của thành phố là gần 14 triệu người (2018) Điều này đã đúng với nhận định “Thành phố Hồ Chí Minh đã và

Trang 30

đang có sức thu hút rất mạnh đối với lao động từ mọi vùng trên đất nước” (Hồ Đức Hùng, 2005, tr.33) Đến hiện tại Hồ Chí Minh được xem là Thành phố đông dân nhất

cả nước, chiếm 9,35% dân số cả nước Mật độ dân số trung bình của Thành phố là 4.292 người/km2, tăng 25,55% so với mật độ dân số Thành phố năm 2009 (3.418 người/km2) và cũng là thành phố có mật độ dân số cao nhất cả nước

TP Hồ Chí Minh là nơi hội tụ đầy đủ các thành phần dân tộc sinh sống và làm việc Trong đó: người Kinh chiếm đa số, sau đó là các dân tộc Hoa, Khmer, Chăm,… Hiện nay, TP Hồ Chí Minh có 89,91% là người Việt; 9,8% là người Hoa; 0,09% là người Chăm; 0,07% là người Khmer; 0,13% là các tộc người khác (gồm người Tày: 0,02%, người Mường: 0,01% …) – ( Cục Thống kê vào năm 2019) Trong tất cả các hoạt động kinh tế văn hóa, xã hội, giáo dục… tại TP Hồ Chí Minh, người Việt luôn giữ vai trò chủ thể Họ thể hiện sự chủ thể qua các hoạt động, nghề nghiệp

Cùng với người Việt thì người Hoa cũng góp phần to lớn trong công cuộc xây dựng thành phố: “… - Người Hoa đã có mặt ở miền nam Việt Nam vào cuối thế kỷ XVII Đó là những nông dân nghèo khổ, binh lính và một số quan lại của triều Minh rời bỏ Trung Quốc vượt biển tìm đất mưu sinh Nguyên nhân của sự ra đi đó là do nghèo đói, loạn lạc bất an, do chiến tranh và những cuộc thanh trừng sau khi triều Thanh cai trị ở lục địa Trung Hoa hồi bấy giờ Tập thể người Hoa đầu tiên đó đã sát cánh cùng người Việt góp phần khai phá vùng đất mới và đã là một thành phần cư dân đáng kể khi Thành phố mới tạo lập hồi 300 năm trước - (Trần Văn Giàu, 1998, tr 573)

Trong tác phẩm “Sài Gòn bao giờ cũng thế”, Nguyễn Thị Hậu đã viết về con người – xã hội ở Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh như sau: “Sự hình thành đô thị

Trang 31

Sài Gòn là quá trình tụ cư và hội nhập văn hóa nhanh chóng của người Việt, người Hoa với những tộc người bản địa So với Hà Nội hay Huế thì di tích lịch sử ở Sài Gòn không nhiều, niên đại muộn, đặc trưng kiến trúc – trang trí thể hiện sự giao lưu văn hóa đậm nét Sài Gòn đã dung nạp, tiếp nhận tất cả các yếu tố văn hóa khác nhau: phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, tiếng nói, ẩm thực, trang phục… Và quan trọng là Sài Gòn không làm thay đổi những nét văn hóa riêng của từng cộng đồng người, vẫn nuôi dưỡng tất cả để tạo nên sự phong phú đa dạng của văn hóa Sài Gòn.” (Nguyễn Thị Hậu, 2017) Điều này cho thấy những con người nơi đây đã tạo nên sự đa dạng, phong phú cho văn hóa của TP Hồ Chí Minh Và nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn cũng là một nét đẹp truyền thống góp phần vào tạo nên sự đa dạng, phong phú ấy

1.2.2 Làng nghề, nghề thủ công truyền thống tại TP Hồ Chí Minh

Năm 2000 theo khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Đô thị và Phát triển (CEFURDS) thì ở TP Hồ Chí Minh có khoảng 65 làng nghề thủ công truyền thống đang hoạt động (Tôn Nữ Quỳnh Trân, 2002)

Theo thống kê của nhóm nghiên cứu đề tài Điều tra về nghề và làng nghề truyền thống trên địa bàn TP Hồ Chí Minh do Trương Hoàng Trương chủ nhiệm thực hiện vào cuối năm 2011 cho thấy số làng nghề truyền thống đã giảm đi đáng kể Hiện tại chỉ còn khoảng 16 làng nghề đang còn hoạt động Các số liệu điều tra của nhóm nghiên cứu cho thấy (01/2012), hiện tượng tàn lụi của các làng nghề xuất hiện rõ rệt

Hiện tại, Thành phố còn khoảng 60 ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, tập trung

ở 19 làng nghề Do tác động của quá trình công nghiệp hóa và tốc độ thị hóa nhanh, nhiều làng nghề truyền thống của thành phố đang đối mặt với nguy cơ mai một

Trang 32

Trong 19 làng nghề đang hoạt động tại thành phố, có 8 làng nghề được bảo tồn theo Quyết định số 3891 về phê duyệt đề án bảo tồn và phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố giai đoạn 2013-2015, định hướng đến năm 2020

Trong đó, có 4 làng nghề mang đậm nét văn hóa truyền thống nhưng không có khả năng phát triển độc lập, gồm: Làng nghề đan lát Thái Mỹ (huyện Củ Chi) làng nghề đan giỏ trạc Xuân Thới Sơn (huyện Hóc Môn), làng nghề se nhang Lê Minh Xuân (huyện Bình Chánh), làng nghề muối Lý Nhơn (huyện Cần Giờ) Và 4 làng nghề, làng nghề truyền thống đang phát triển và có khả năng phát triển độc lập, bền vững trong tương lai, gồm: Làng nghề hoa kiểng Xuân An Lộc (quận 12), làng nghề hoa kiểng Thủ Đức (quận Thủ Đức), làng nghề mành trúc Tân Thông Hội (huyện Củ Chi), làng nghề bánh tráng Phú Hòa Đông (huyện Củ Chi).4

Nghề và làng nghề truyền thống ở TP Hồ Chí Minh rất đa dạng và phong phú,

từ các quận nội thành đến các huyện ngoại thành đều có sự hiện diện của nghề và làng nghề truyền thống Ở mỗi nơi, mỗi địa phương nghề và làng nghề hình thành gắn liền với điều kiện tự nhiên, nguồn nguyên liệu, thổ nhưỡng và con người nơi đó Mỗi nghề mang một sắc thái khác nhau từ những nghề và làng nghề mang dấu ấn tinh thần như nghề làm đàn (quận 4), lồng đèn Phú Bình (quận 11), làng cây kiểng Gò Vấp, làng mai quận 12 hay Hiệp Bình Chánh (Thủ Đức)… đến các nghề và làng nghề sản xuất hàng tiêu dùng, vật dụng trong gia đình như làng giày dép (quận 4), gỗ mỹ nghệ Tân Bình,

gỗ Trung Mỹ Tây (quận 12) và đặc biệt là những làng nghề sản xuất rổ, rá, mành trúc, đệm… ở Hóc Môn và Củ Chi… (Trương Hoàng Trương, 2012, tr.5)

4

Bài viết này được đăng trên trang web

https://danviet.vn/tphcm-cuu-nhung-lang-nghe-tram-tuoi-202105301111134.htm (Truy cập ngày 01/06/2021)

Trang 33

Những làng nghề thủ công tồn tại trước đây ở TP Hồ Chí Minh cũng tập trung trong 1 khu vực nhất định như làng đúc đồng An Hội, tập trung trong khuôn viên của đường Phạm Văn Chiêu và đường Quang Trung thuộc phường 12, quận Gò Vấp, làng lồng đèn Phú Bình, tập trung quanh khu vực nhà thờ Phú Bình thuộc phường 5 quận 10; hay làng dệt Bảy Hiền, tập trung chủ yếu trong khu vực Bảy Hiền thuộc phường

11, quận Tân Bình; hoặc làng đan rỗ rá Mũi Lớn, tập trung tại 2 ấp Mũi Lớn 1 và Mũi Lớn 2 của xã Tân An Hội, huyện Củ Chi… Sự tập trung ấy đã tạo thành những khu làng riêng biệt so với những khu vực khác trong thành phố (Huỳnh Ngọc Thu, 2002, tr.397)

1.2.3 Nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn ở Việt Nam

* Ở miền Bắc

Ngày xưa ở miền Bắc có nhiều nơi làm đèn lồng vào mỗi dịp trung thu Nổi bật nhất là làng Báo Đáp với hình thức và quy mô hơn những nơi khác Làng Báo Đáp thuộc xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, là làng làm lồng đèn ông sao lâu đời ở Việt Nam Họ làm lồng đèn từ những năm 50-60 của thế kỷ trước, khi đó làng đèn lồng Báo Đáp có thể sánh bằng làng gốm Bát Tràng, làng lụa Vạn Phúc Tuy nhiên nghề làm lồng đèn cũng chỉ là nghề phụ bên cạnh nghề nhuộm và nghề trồng lúa nước Đây cũng là nguồn gốc của những chiếc lồng đèn giấy bóng kiếng ở Phú Bình

Cuối thế kỷ XIX ở miền Bắc Việt Nam, thú vui chơi lồng đèn Trung thu khá phổ biến, nhất là ở Hà Nội Theo các ảnh chụp cũng như tranh vẽ thì thời điểm đó đèn lồng đã có nhiều mẫu mã đẹp và tinh xảo Có thể kể đến một số nơi làm lồng đèn như: Làng Hậu Ái thuộc xã Vân Canh, huyện Hoài Đức, Hà Nội chuyên làm đèn ông sao; Làng Đàn Viên thuộc xã Cao Viên, huyện Thanh Oai, Hà Nội chuyên làm đèn kéo

Trang 34

quân,…

Ngày nay trên những tuyến phố chính của Hà Nội trong ngày Tết cũng được trang trí những chiếc đèn lồng với nhiều màu sắc và kiểu dáng giữa những hàng cờ hoa rực rỡ Tuy nhiên hiện nay ở miền Bắc cũng còn rất ít nơi làm lồng đèn và không còn quy mô như trước nữa

* Ở miền Trung

Đối với phố cổ Hội An – nơi được biết đến như “thánh địa” của những chiếc lồng đèn Việt Nam Lịch sử chiếc lồng đèn đã có từ vài trăm năm trước, từ lúc các thương gia Trung Hoa đến đây buôn bán đã mang theo lồng đèn Họ treo những chiếc lồng đèn này trước nhà mình Dần dần, lồng đèn trở thành biểu tượng không thể thiếu của phố cổ Hội An

Theo những người dân ở địa phương, người có công trong việc phục chế và cải tiến chiếc lồng đèn truyền thống là nghệ nhân Huỳnh Văn Ba.5 Ông đã thực hiện cũng như biến chiếc lồng đèn thành một sản phẩm văn hóa đặc sắc không chỉ cho Hội An

mà cho cả Việt Nam Năm 2005, sản phẩm lồng đèn Hội An được Cục Sở hữu Trí tuệ Việt Nam bảo hộ nhãn hiệu độc quyền Đây là một cách tôn vinh, bảo vệ giá trị văn hóa Việt Nam

Đèn lồng ở Hội An có hình dạng và màu sắc khá đa dạng và thể hiện sự tinh tế, tinh xảo của người thợ đất Việt Vật liệu chính để làm nên chiếc lồng đèn là tre và vải lụa Tre dùng để tạo khung đèn lồng phải được lựa chọn kỹ, đó là loại tre già Vải lụa

5 Bài viết được đăng trên trang web https://vietnamtourism.gov.vn/index.php/printer/35641/ (Truy cập ngày 18/11/2019)

Trang 35

tơ tằm có độ dai khi căng lên khung đèn mà không bị rách Ở Hội An người ta hay dùng loại lụa Hà Đông để bọc đèn

Đèn lồng đã trở thành biểu tượng văn hóa của Hội An, một hình ảnh độc đáo

để quảng bá cho du lịch của địa phương cũng như du lịch của Việt Nam Bởi vì loại đèn lồng này đẹp, nhẹ mà có thể dễ dàng, tiện lợi xếp khung theo nếp để mang đi làm quà, làm kỷ niệm cho du khách khi bước chân đến phố Hội

* Ở miền Nam

Theo Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh và Thạch Phương (1992), các nghề do nhu cầu nội tại hình thành khi những lưu dân đặt chân đến vùng đất này, ngoài việc làm nông nghiệp để có cái ăn, họ còn sản xuất những vật dụng thiết yếu phục vụ cho cuộc sống hàng ngày Mặt khác, khi lưu dân từ miền Trung Miền Bắc vào Nam khai khẩn, trong hành trang văn hóa của họ, có những nghề thủ công truyền thống Trong số các lưu dân, có nhiều người là thợ thủ công Họ mang bên mình những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của các nghề thủ công cổ truyền từ quê hương bản quán Với vốn tay nghề sẵn có, và nhằm đáp ứng những nhu cầu rất lớn về vật dụng tại nơi ở mới, họ tận dụng những nguyên liệu tại chỗ, vừa tự mình hành nghề, vừa truyền nghề cho con cháu, cho người thân, hàng xóm- những ai thật sự tha thiết học nghề (tr.183-184)

Nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn tại TP Hồ Chí Minh cũng không nằm ngoài dòng chảy đó Làng Báo Đáp (Nam Định) di dân vào miền Nam và đem theo nghề làm lồng đèn Báo Đáp là tên làng, là quê cha đất Tổ; Báo Đáp còn có ý nghĩa như là sự báo đáp công ơn tổ tiên đã truyền nghề cho thế hệ sau để họ có thể duy trì cho đến ngày hôm nay

Trang 36

Hình thành từ giữa thập niên 50, làng nghề lồng đèn Phú Bình hiện tại tọa lạc tại phường 5, quận 11 và phường Phú Tân, quận Tân Phú Về nguồn gốc tên gọi Phú Bình, theo Trương Hoàng Trương, vì nó gắn liền với cộng đồng dân cư Thiên chúa giáo Phú Bình, những gia đình theo đạo công giáo sống tập trung trong giáo xứ Phú Bình, đồng thời khu vực mà cư dân làm lồng đèn sinh sống cũng mang tên cư xá Phú Bình (Trương Hoàng Trương, 2012, tr.29)

Tiểu kết chương 1

Nghề thủ công truyền thống được hình thành và phát triển ở nước ta từ rất lâu đời Một trong số đó có nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn ở TP Hồ Chí Minh Mặc dù số lượng làm nghề đã giảm rất nhiều so với trước đây nhưng nghề vẫn đang được duy trì phát triển và khẳng định giá trị của mình

Căn cứ vào các lý thuyết nhân học nghệ thuật và biểu tượng, thuyết lựa chọn duy lý và hình thái kinh tế - xã hội, luận văn sẽ tập trung làm rõ, phân tích, chứng minh những đặc điểm quan trọng, giá trị của nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn tại TP Hồ Chí Minh

Các ngành nghề truyền thống tại TP Hồ Chí Minh đã được hình thành từ lâu, nhưng hiện nay còn lại khá ít nơi hoạt động và phát triển do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa Bên cạnh đó cũng có nhiều thách thức và cơ hội mới trong nền kinh tế thị trường khiến các ngành nghề thủ công truyền thống có những biến đổi, đòi hỏi cần sự quan tâm để tiếp tục duy trì và phát triển

Riêng đối với nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn thì ở Việt Nam nói chung, TP Hồ Chí Minh nói riêng đều mang những dấu ấn riêng tạo nên những giá trị của mình, làm nền tảng cho sự phát triển cho nghề thủ công truyền thống của đất nước

Trang 37

ƯƠ 2 THỰC TR NG HO NG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG

LÀM LỒ È Ở TP HỒ CHÍ MINH 2.1 Quy trình chế tác sản phẩm lồng đèn ở TP Hồ Chí Minh

2.1.1 Nguyên vật liệu, công cụ và kỹ thuật chế tác

* Nguyên vật liệu của nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn

- Nguyên vật liệu dùng để tạo ra một chiếc lồng đèn khá đơn giản gồm có lồ ô (thuộc dòng tre), giấy bóng kiếng, giấy màu, sơn bột, dây kẽm và bột năng (dùng làm

hồ dán)

- Lồ ô là nguyên liệu quan trọng nhất để tạo ra một chiếc lồng đèn, nó được dùng làm khung của lồng đèn Việc lựa chọn lồ ô cũng phải kỹ càng, lồ ô phải không quá già và không được quá non Nếu già thì quá cứng, dễ gãy khi uốn và rất khó để làm những chi tiết nhỏ trên sản phẩm Nếu non quá thì khi chẻ dễ bị phạm vào và bị teo lại làm cho sản phẩm không chắc chắn và bị biến dạng

- Lồ ô trước đây được bán nhiều ở Bình Hưng Hòa (quận Bình Tân) hay Bà Quẹo (quận Tân Bình) nhưng bây giờ thì những nơi này đã không còn bán nữa Người làm lồng đèn nói chung và ở Phú Bình nói riêng phải đến ngã tư Bình Phước để mua lồ

ô

- Giấy bóng kiếng là loại nguyên liệu dùng để phủ lên trên khung của lồng đèn Giấy rất mỏng có nhiều màu sắc như xanh, đỏ, tím, vàng,… nhưng chủ đạo người ta vẫn dùng màu đỏ, còn những màu khác để trang trí những chi tiết nhỏ tạo nhiều màu sắc để thu hút khách hàng, nhất là các em nhỏ Loại giấy này không quá đắt và có thể tìm mua với số lượng lớn ở các cửa hàng tại khu vực Chợ Lớn

Trang 38

- Giấy màu và sơn bột dùng để trang trí cho lồng đèn thêm phần bắt mắt và sinh động như vẽ mắt rồng, cá, đuôi cá, cánh bướm,…

- Các nguyên liệu khác như dây kẽm, bột năng,… đều có thể mua ngoài chợ hoặc các cửa hàng tạp hóa ở địa phương

* Công cụ của nghề thủ công truyền thống làm lồng đèn

Công cụ dùng để làm lồng đèn rất đơn giản, không cần phải đầu tư nhiều như một số ngành thủ công khác, do vậy công cụ không có sự cải tiến nào đáng kể

Bao gồm những công cụ sau:

- Cưa: dùng để cắt lồ ô thành từng đoạn Trước đây lồ ô được cưa tại nhà khi thợ bắt tay vào làm, tuy nhiên do cồng kềnh và khó khăn trong việc chuyên chở nên lồ

ô được cưa tại nơi bán

Một chiếc lồng đèn hoàn chỉnh cần trải qua bốn công đoạn chính là chọn tre, chẻ tre; làm khung; dán giấy; vẽ và trang trí (Biên bản PVS số 1) Cụ thể như sau:

Đầu tiên là cắt lồ ô thành những khúc với kích cỡ yêu cầu theo từng loại sản phẩm, và chẻ những khúc lồ ô ấy thành nan nhỏ, có thể dày mỏng tùy theo mục đích

Trang 39

sử dụng cho bộ phận nào của lồng đèn Tiếp theo là làm xương lồng đèn, đây là giai đoạn quan trọng nhất vì đây là lúc định hình cho sản phẩm như lồng đèn loại gì, hình

gì, kích cỡ bao nhiêu,… Bước tiếp theo là ráp những chi tiết lại với nhau Lúc này người ta sẽ dùng kiềm và dây kẽm để kết nối những chi tiết rời vào khung lồng đèn Bước cuối cùng là dán giấy và vẽ trang trí Công đoạn này đòi hỏi người làm phải tỉ mỉ

và khéo tay để có thể tạo ra một sản phẩm bắt mắt và đầy tính nghệ thuật

Còn ở Hội A n cũng có cách tạo nên chiếc lồng đèn của riêng mình Để hoàn thành nên chiếc đèn lồng phải qua một quy trình, có phần phức tạp hơn so với cách làm lồng đèn ở Phú Bình Đầu tiên là ngâm tre, lựa chọn những đoạn tre già, chắc và đảm bảo không bị mối mọt hay có thể chống ẩm tốt rồi vót thành nan tre Sau đó làm sạch bằng máy tuốt Hệ thống các vòng gỗ hay chuôi đèn cũng được thiết kế đặc biệt, tinh xảo để khi kết hợp với nan tre có thể dễ dàng gấp lại được nhằm tiết kiệm diện tích và thuận tiện trong di chuyển Nan được gắn vào hai vòng gỗ rồi được giữ bởi hai dây dù, sau đó chỉnh sửa sao cho cân đối Phần khung của lồng đèn như vậy là đã được hoàn thành Ở bất kỳ loại đèn lồng nào thì phần khung cũng quan trọng vì nó định hình, đem lại sự chắc chắn cho lồng đèn, đồng thời thể hiện được tay nghề của các thợ làm nghề Tiếp theo là dán vải vào khung đèn Vải làm đèn được cắt ra làm nhiều mảnh, nhiều kích thước khác nhau tùy theo hình dạng của lồng đèn, sau đó mới dán lên khung đèn bằng keo Nếu khung đèn đòi hỏi trình độ cao, tay nghề vững thì ở công đoạn này cần nhiều sự tỉ mỉ, khéo léo của người thợ Nếu một chiếc lồng đèn đơn giản, bình thường với nhiều màu sắc của vải hay hình dạng như hình tròn, lục giác,… thì đến bước dán vải là hoàn chỉnh Còn nếu muốn nổi bật, cầu kỳ hơn sẽ thêm công đoạn trang trí Có thể vẽ hoặc thêu lên vải những chi tiết như cành mai, cành đào, di tích

Trang 40

lịch sử Việt Nam, danh lam thắng cảnh, những chữ thư pháp,… Đây cũng là cách truyền bá văn hóa Việt đến khách du lịch quốc tế khi du lịch đến Việt Nam hoặc mua làm quà mang về nước cho người thân, bạn bè của họ

Có thể nhận thấy mỗi loại lồng đèn đều có những cách làm khác nhau với những nguyên vật liệu riêng tạo nên đặc trưng ở mỗi nghề, mỗi vùng miền Nhưng lồng đèn ở Phú Bình hay lồng đèn ở Hội An đều cùng tạo nên sự đa dạng và phong phú cho nghề thủ công truyền thống và quảng bá những giá trị văn hóa của Việt Nam cho bạn bè quốc tế

2.1.2 Ý nghĩa biểu tượng của một số sản phẩm lồng đèn

Đèn lồng là sản phẩm mang nhiều ý nghĩa biểu tượng, một trong những nét đặc trưng không chỉ trong trong văn hóa Việt Nam mà còn ở các nước phương Đông Ở mỗi quốc gia, những chiếc đèn lồng rực rỡ sắc màu đều có những ý nghĩa, những thú

vị riêng

Ở Hàn Quốc, lễ hội lồng đèn lần đầu được tổ chức vào năm 2009 Đèn lồng mang đậm tính dân tộc thông qua những hình ảnh đám cưới truyền thống, cảnh người dân lao động sản xuất, những cô gái trong điệu múa truyền thống,… Năm 2010, nhân

sự kiện Hội nghị Thượng đỉnh G20, Hàn Quốc đã cho thắp sáng 27.000 chiếc đèn lồng dọc bờ sông ở Seoul

Ở Trung Quốc quan niệm lồng đèn có thể xua đuổi ma quỷ và mang lại bình yên, hạnh phúc, nó cũng như lời cầu chúc cho cuộc sống êm ấm và tương lai tốt đẹp Thời xưa ở đất nước này, lồng đèn là vật soi đường khi đi ra ngoài vào buổi đêm, treo như biển hiệu cho các hàng quán hoặc làm trang trí nhà cửa Bây giờ, ngoài việc thả lồng đèn cầu nguyện trong các lễ hội Đèn Lồng hoặc tết Trung thu thì đèn lồng được

Ngày đăng: 29/06/2023, 22:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006). Thông tư số 116/2006/TT-BNN về phát triển ngành nghề nông thôn. Ban hành ngày 18/12/2006. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 116/2006/TT-BNN về phát triển ngành nghề nông thôn
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
2. Bùi Văn Vƣợng (2002). Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam. NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam
Tác giả: Bùi Văn Vƣợng
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
3. Chính phủ 2018. Nghị định số 52/2018/ NĐ – CP về phát triển ngành nghề nông thôn. Ban hành ngày 12/04/2018. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 52/2018/ NĐ – CP về phát triển ngành nghề nông thôn
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2018
4. Dương Trọng Dật (1998). 300 câu hỏi năm Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh. NXB Tổng Hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: 300 câu hỏi năm Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Dương Trọng Dật
Nhà XB: NXB Tổng Hợp
Năm: 1998
5. Đăng Khoa & Thùy Uyên (2014). Từ điển tiếng Việt. NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Đăng Khoa, Thùy Uyên
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2014
6. Đoàn Thanh Hương (1999). Lược sử 300 năm Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh. NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử 300 năm Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Đoàn Thanh Hương
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 1999
7. Hoàng Phê (2019). Từ điển Tiếng Việt. NXB Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2019
8. Hồ Đức Hùng (2005). Marketing địa phương của Thành phố Hồ Chí Minh. NXB Văn hóa Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing địa phương của Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Hồ Đức Hùng
Nhà XB: NXB Văn hóa Sài Gòn
Năm: 2005
9. Huỳnh Ngọc Thu (2002). Giá trị văn hóa của làng nghề thủ công truyền thống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hội thảo Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị văn hóa của làng nghề thủ công truyền thống tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Huỳnh Ngọc Thu
Nhà XB: Hội thảo Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2002
10. Huỳnh Ngọc Thu (2014). Chuyển đổi tôn giáo: Sự lựa chọn duy lý của người Mnông. Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 9 (135), tr. 126-136 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển đổi tôn giáo: Sự lựa chọn duy lý của người Mnông
Tác giả: Huỳnh Ngọc Thu
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo
Năm: 2014
11. Mai Thế Hởn (2003). Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa– hiện đại hóa. NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa– hiện đại hóa
Tác giả: Mai Thế Hởn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
12. Nguyễn Thị Hậu (2017). Sài Gòn bao giờ cũng thế. NXB Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sài Gòn bao giờ cũng thế
Tác giả: Nguyễn Thị Hậu
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2017
13. Nguyễn Thị Ngọc Lan (2013). Thế giới biểu tượng trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư. Luận văn thạc sĩ. Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới biểu tượng trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Lan
Nhà XB: Luận văn thạc sĩ
Năm: 2013
14. Phạm Lê Hiên (2018). Từ điển tiếng Việt thông dụng dành cho học sinh. NXB Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt thông dụng dành cho học sinh
Tác giả: Phạm Lê Hiên
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2018
15. Phan Kế Bính (2019). Việt Nam phong tục. NXB Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2019
16. Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa & Nguyễn Quang Vinh (1992). Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ. NXB Khoa học Xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ
Tác giả: Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội Hà Nội
Năm: 1992
17. Tôn Nữ Quỳnh Trân (2002). Làng nghề thủ công truyền thống tại Thành phố Hồ Chí Minh. NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề thủ công truyền thống tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Tôn Nữ Quỳnh Trân
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2002
18. Tổng cục thống kê (2019). Diện tích, dân số và mật độ dân số theo địa phương. Niên giám thống kê tóm tắt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diện tích, dân số và mật độ dân số theo địa phương
Tác giả: Tổng cục thống kê
Nhà XB: Niên giám thống kê tóm tắt
Năm: 2019
19. Trần Văn Giàu (1998). Đại chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh. NXB Tổng Hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: NXB Tổng Hợp
Năm: 1998
20. Trương Hoàng Trương (2012). Điều tra nghề và làng nghề truyền thống trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Sở Văn hóa thể thao và du lịch Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra nghề và làng nghề truyền thống trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Trương Hoàng Trương
Nhà XB: Sở Văn hóa thể thao và du lịch Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm