ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN ĐẶNG THANH TÂM LIÊN KẾT GIỮA CÁC TIN TRONG CHƢƠNG TRÌNH "60 GIÂY" CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH LUẬ[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN ĐẶNG THANH TÂM
LIÊN KẾT GIỮA CÁC TIN TRONG CHƯƠNG TRÌNH "60 GIÂY"
CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 8229020
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GIÁO SƯ - TIẾN SĨ KHOA HỌC TRẦN NGỌC THÊM
THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH - 2022
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN ĐẶNG THANH TÂM
LIÊN KẾT GIỮA CÁC TIN TRONG CHƯƠNG TRÌNH "60 GIÂY"
CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 8229020
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GIÁO SƯ - TIẾN SĨ KHOA HỌC TRẦN NGỌC THÊM
THÀNH PHỒ HỒ CHÍ MINH - 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả đƣợc trình bày trong luận văn này là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn
Tác giả luận văn
Nguyễn Đặng Thanh Tâm
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
1.1 Lý do khách quan 1
1.2 Lý do chủ quan 2
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4.1 Đối tượng nghiên cứu 8
4.2 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 10
5.1 Phương pháp nghiên cứu 10
5.2 Nguồn ngữ liệu 11
6 Câu hỏi, giả thuyết và nhiệm vụ nghiên cứu 12
6.1 Câu hỏi nghiên cứu 12
6.2 Giả thuyết nghiên cứu 12
6.3 Nhiệm vụ nghiên cứu 12
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 13
7.1 Ý nghĩa lý luận 13
7.2 Ý nghĩa thực tiễn 13
8 Bố cục luận văn 14
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 15
1.1 Cơ sở lý luận 15
Trang 51.1.1 Khái niệm văn bản 15
1.1.2 Một số đặc điểm của văn bản viết và văn bản nói 16
1.1.3 Khái niệm liên kết 18
1.1.4 Các phương tiện liên kết cận ngôn ngữ 24
1.2 Cơ sở thực tiễn 28
1.2.1 Ngôn ngữ báo chí 28
1.2.2 Đôi nét về chương trình "60 Giây" 30
1.2.3 Một số thuật ngữ và quy trình sản xuất chương trình "60 Giây" 32
1.3 Tiểu kết 39
CHƯƠNG 2 LIÊN KẾT CHỦ ĐỀ TRONG CHƯƠNG TRÌNH "60 GIÂY" CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 40
2.1 Liên kết chủ đề và sự thể hiện của nó 40
2.2 Liên kết duy trì chủ đề trong chương trình "60 Giây" 42
2.2.1 Phép lặp từ vựng 42
2.2.2 Phép thế đồng nghĩa 49
2.2.3 Phép thế đại từ 53
2.2.4 Tỉnh lược yếu 58
2.2.5 Tỉnh lược mạnh 59
2.3 Liên kết phát triển chủ đề trong chương trình "60 Giây" 62
2.3.1 Phép đối 62
2.3.2 Phép liên tưởng 67
2.4 Liên kết chủ đề trong chương trình "60 Giây" bằng phương thức cận ngôn ngữ 72
2.4.1 Liên kết chủ đề trong chương trình "60 Giây" bằng kết cấu các cụm tin 72
Trang 62.4.2 Liên kết chủ đề giữa các tin/cụm tin bằng cử chỉ, điệu bộ của người dẫn
chương trình 77
2.5 Tiểu kết 81
CHƯƠNG 3 LIÊN KẾT LOGIC TRONG CHƯƠNG TRÌNH "60 GIÂY" CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 82
3.1 Liên kết logic và sự thể hiện của nó 82
3.2 Liên kết logic theo quan hệ ngữ nghĩa bằng phép tuyến tính và phép nối 83 3.2.1 Phép tuyến tính 83
3.2.2 Phép nối 87
3.3 Liên kết logic trong chương trình "60 Giây" bằng phương thức cận ngôn ngữ 100
3.3.1 Liên kết logic giữa các tin bằng thời lượng "60 Giây" đặc trưng của chương trình 100
3.3.2 Liên kết logic giữa các tin/cụm tin bằng thái độ của người dẫn chương trình 101
3.3.3 Liên kết logic giữa các tin/cụm tin bằng trang phục của người dẫn chương trình 104
3.4 Tiểu kết 106
KẾT LUẬN 108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC 113
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Tổng kết và phân loại hệ thống các phương thức liên kết văn bản 19 Bảng 2 Tóm lược các phương tiện liên kết và khu vực sử dụng chúng 20 Bảng 3 Thống kê tần số sử dụng phép nối lỏng chứa các yếu tố từ vựng làm thành phần chuyển tiếp trong chương trình "60 Giây" 91 Bảng 4 Thống kê tần số xuất hiện các từ làm phụ tố động ngữ trong chương trình
"60 Giây" 93 Bảng 5 Thống kê tần số xuất hiện các từ làm phụ tố danh ngữ trong chương trình "60 Giây" 95 Bảng 6 Thống kê tần số xuất hiện của phương thức liên kết cụm tin bằng phương tiện cụm từ “báo hiệu” 98 Bảng 7 Hệ thống các phương thức liên kết được sử dụng trong chương trình
"60 Giây" 107
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1 Báo cáo tổng quan về rating truyền hình Việt Nam năm 2019-2020-2021 10
Hình 2 Mô hình của Schiffman & Kanuk giới thiệu ba thành phần thái độ 27
Hình 3 Mô hình truyền thông của Harold Lasswell 31
Hình 4 Đạo diễn phim trường và kỹ thuật viên phim trường 34
Hình 5 Trợ lý đạo diễn, stylist và người dẫn chương trình trước giờ lên sóng 35
Hình 6 Cảnh toàn/Toàn cảnh (Long Shot - LS) 35
Hình 7 Cảnh trung rộng/Trung cảnh rộng (Medium Long Shot - MLS) 36
Hình 8 Cảnh trung/Trung cảnh (Medium Shot - MS) 37
Hình 9 Quy trình sản xuất chương trình "60 Giây" của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh 38
Hình 10 Kết cấu các cụm tin trong chương trình "60 Giây" 73
Hình 11 Ví dụ về hành động, cử chỉ, thái độ của người dẫn chương trình 78
Hình 12 Ví dụ về hành động, cử chỉ của người dẫn chương trình 79
Hình 13 Công cụ tính thời lượng trong hệ thống văn bản tin tức Inews của Trung tâm Tin tức Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh 101
Hình 14 Thái độ của người dẫn chương trình 104
Hình 15 Trang phục của người dẫn chương trình ngày Tết Dương lịch 105
Hình 16 Trang phục của người dẫn chương trình trong Lễ Quốc tang 106
Trang 9Việc nghiên cứu liên kết trong văn bản tiếng Việt cũng đã được đặt nền móng
từ hơn 40 năm trước (Trần Ngọc Thêm 1980, 1985) Với những công trình này, Trần Ngọc Thêm đã mở đường cho hàng loạt tác giả trong nước khác nghiên cứu về ngôn ngữ học văn bản, đặc biệt là nghiên cứu về tính mạch lạc và liên kết trong tiếng Việt (Diệp Quang Ban 1998, 2002, 2006, 2009; Trịnh Sâm - Nguyễn Nguyên Trứ 1989, Nguyễn Thị Việt Thanh 2000…)
Trong 15 năm trở lại đây, nhiều nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã bắt đầu nghiên cứu nhiều về ngôn ngữ báo chí, chủ yếu là ngôn ngữ báo in và phát thanh, ít hơn là ngôn ngữ truyền hình Tuy nhiên, việc nghiên cứu về tính liên kết giữa các tin trong một bản tin thời sự phát sóng trên truyền hình vẫn còn là một địa hạt rất mới mẻ Trong khi đó, việc sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả để nâng cao chất lượng chương trình truyền hình, chuyển tải thông tin đến đông đảo đại chúng một cách nhanh chóng, kịp thời, chính xác và hấp dẫn là một trong những sứ mệnh quan trọng hàng đầu của một người làm truyền hình xét từ góc độ ngôn ngữ học
Những kiến thức chuyên môn của ngành ngôn ngữ học nói chung và ngôn ngữ học văn bản nói riêng về mặt lý thuyết lẫn mặt ứng dụng đã đặt nền tảng vững chắc để nghiên cứu nhiều hơn về mạch lạc và liên kết trong ngôn ngữ truyền hình Nghiên cứu
về sự liên kết giữa các tin trong một bản tin thời sự sẽ mang đến những giá trị nhất
Trang 10định về phạm vi ứng dụng của ngôn ngữ trong giao tiếp, làm tăng hiệu quả của ngôn ngữ báo chí – truyền thông
1.2 Lý do chủ quan
Năm 2017, tôi chính thức công tác tại Trung tâm Tin tức, Đài Truyền hình TP.HCM với vai trò là phóng viên - biên tập viên Phòng Chính trị Văn xã Bên cạnh việc trực tiếp sản xuất tin, viết, đọc, dựng, tôi còn tham gia biên tập các văn bản tin Công việc này đã mang đến cho tôi nhiều cơ hội được tiếp cận và nghiên cứu sâu hơn
về ngôn ngữ báo chí nói chung, ngôn ngữ truyền hình nói riêng
Từ năm 2019, tôi được phân công nhiệm vụ biên tập chương trình "60 Giây", được cộng tác cùng các vị tiền bối nhiều kinh nghiệm về cả tuổi đời lẫn tuổi nghề, được quan sát, nghiên cứu kĩ hơn về một chương trình thời sự có rating cao, nhận được rất nhiều phản hồi tích cực của khán giả không chỉ trong phạm vi Thành phố Hồ Chí Minh mà còn của khu vực miền Nam và cả nước Việc nghiên cứu sâu hơn về liên kết giữa các tin trong chương trình "60 Giây" để tìm ra những khuyết điểm và khắc phục chính là phương pháp góp phần hoàn thiện và phát triển chương trình mà tôi đang trực tiếp tham gia, đó không chỉ là trách nhiệm mà còn là cơ hội để tôi trau dồi
về kiến thức lẫn kĩ năng nghề nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Năm 1949, K Boost phát hiện trong văn bản có sự liên hệ chặt chẽ giữa các câu, tựa như những sợi dây liên kết Theo tác giả, những sợi dây này tạo thành một mạng lưới dày đặc kéo dài từ câu nọ sang câu kia, dù mỗi câu là riêng biệt nhưng vẫn gắn bó với các câu còn lại trong văn bản một cách chặt chẽ Hiện tượng này được gọi
là “tính liên kết”
Năm 1976, M.A.K Halliday và R Hasan nghiên cứu về “Liên kết trong tiếng Anh” Trong công trình này, hai tác giả cho rằng mạch lạc, liên kết không xét chủ yếu chỉ ở nội dung, mà còn bao gồm nhiều yếu tố khác nhau như tình thái, các thức, các độ
Trang 11mạnh và các nguồn ý nghĩa của ngôn ngữ Nói cách khác, khi chúng tôi nói về liên kết
và mạch lạc, có rất nhiều thành tố để xét đến
Đến năm 1978, trong công trình “Dạy tiếng theo giao tiếp”, H.G Widdowson
đã bước đầu giới thiệu và phân biệt sự liên kết văn bản với mạch lạc diễn ngôn Theo tác giả, mạch lạc diễn ngôn thể hiện qua cấu trúc theo qui ước của tương tác lời nói
Từ đó, tác giả giải thích được vì sao chúng ta có thể tạo ra một chuỗi lời nói mạch lạc
dù một số phát ngôn rõ ràng là không nối kết với nhau về mặt hình thức (không có liên kết) Ông đưa ra ví dụ như:
A: That's the telephone (Có điện thoại)
B: I'm in the bath (Anh đang tắm)
A: OK (Thôi được)
Trong chuỗi lời nói này, các phát ngôn vừa không có liên kết với nhau về mặt hình thức, các phát ngôn cũng trở nên không có nghĩa nếu thiếu ngữ cảnh, nhưng chúng vẫn có sự liên kết với nhau nhờ ngữ cảnh và sự triển khai mệnh đề một cách logic
Tiếp theo, những bài báo đầu tiên đăng trên tạp chí Ngôn ngữ vào những năm
1980 - 1982, cuốn chuyên khảo “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” xuất bản năm
1985 của Trần Ngọc Thêm là công trình đầu tiên của Việt Nam nghiên cứu về ngôn ngữ học văn bản Tác giả đã có những kiến giải về hệ thống liên kết văn bản trong tiếng Việt, trong đó có ba phần chính là: Vấn đề tính liên kết và đơn vị liên kết văn bản; Những phương thức liên kết giữa các phát ngôn và Hệ thống liên kết ở các cấp
độ và ở mặt nội dung Công trình này đã xây dựng một khung lý thuyết và một hệ thống khái niệm, hệ thống phân loại các bình diện của liên kết nội dung cùng những phương thức, phương tiện hình thức cho việc thể hiện sự liên kết nội dung đó trong các cấp độ của văn bản trên cơ sở ngữ liệu tiếng Việt Sự phân biệt liên kết hình thức với liên kết nội dung là cơ sở trong công trình của Trần Ngọc Thêm Theo tác giả,
“Liên kết nội dung được thể hiện bằng hệ thống các phương thức liên kết hình thức,
và liên kết hình thức chủ yếu dùng để diễn đạt sự liên kết nội dung liên kết (Trần Ngọc Thêm, 1985, tr 24) Và giữa hai mặt này có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ Công
Trang 12trình nghiên cứu này cung cấp hệ thống liên kết hết sức khái quát nhưng cũng cực kỳ chi tiết, khi khảo sát ở những cấp độ từ nhỏ đến lớn, như liên kết giữa các hình vị, liên kết giữa các từ trong một câu, giữa các câu trong một đoạn văn, giữa các đoạn văn trong một văn bản…
Năm 1998, Diệp Quang Ban đã nghiên cứu và phát triển những kết quả của Trần Ngọc Thêm Cuốn “Văn bản và liên kết trong tiếng Việt” gồm các nội dung chính: Văn bản, mạch lạc, liên kết và đoạn văn Trong đó, tác giả dành 25 trang nói về mạch lạc trong văn bản và dành toàn bộ chương 2 để phân tích nội dung liên kết hình thức và liên kết nội dung, liên kết phi cấu trúc tính, trong đó các trang 119-141 đã được dành để tóm tắt khá kỹ “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” cùng các ví dụ của Trần Ngọc Thêm Đến năm 2002, tác giả ra mắt cuốn sách “Giao tiếp - Văn bản - Mạch lạc - Liên kết - Đoạn văn” trong đó dành cả phần thứ tư để nói về liên kết Khái niệm “mạch lạc” của Diệp Quang Ban thực chất chính là cái mà Trần Ngọc Thêm gọi
là “liên kết nội dung”
Phát triển những kết quả của Trần Ngọc Thêm theo một hướng khác, Nguyễn Thị Việt Thanh đi sâu vào nghiên cứu “Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt” năm
2000 Theo tác giả, vai trò của các yếu tố ngôn ngữ trong ngôn ngữ nói sẽ không giống hoàn toàn như trong ngôn ngữ viết, bởi chúng không còn là “phương tiện duy nhất” để truyền đạt thông tin Lời nói có thể tồn tại dưới dạng không hoàn chỉnh cả ba bình diện: hình thức, cấu trúc, nội dung - đó chính là đặc trưng quan trọng nhất cho phép khu biệt lời nói với văn bản Tuy không có sự hoàn chỉnh về ba bình diện nhưng với sự giúp dỡ của các yếu tố phi ngôn ngữ (tình huống, hàm ý, ngữ điệu ), hiệu quả của hành vi giao tiếp bằng lời hoàn toàn không kém gì hành vi giao tiếp bằng văn bản Thật vậy, lời nói không phải được tạo nên bởi phép cộng đơn thuần giữa các phát ngôn, cũng như kết luận của K Boost năm 1949, Nguyễn Thị Việt Thanh khẳng định tồn tại những sợi dây giữa các phát ngôn, liên kết chúng lại với nhau thành một đơn vị
để thực hiện chức năng giao tiếp, được xem là biểu hiện của các phương thức liên kết lời nói Dù tồn tại dưới dạng văn bản hay lời nói, các yếu tố tham gia liên kết chủ đề
Trang 13đều sử dụng chung một số phương thức liên kết Đó là các phương thức: thế đồng nghĩa, thế đại từ, lặp từ vựng, tỉnh lược (yếu, mạnh)
Năm 2005, luận văn “Từ ngữ liên kết phạm vi câu và văn bản trong tiếng Việt” của Lâm Uyên Bá đã chỉ ra các mối liên hệ giữa các đơn vị trong hệ thống ngôn ngữ,
từ đó có ích cho thực tiễn xây dựng văn bản, đồng thời luận văn cũng góp phần nhận diện và phân loại từ ngữ liên kết
Năm 2008, trong luận án tiến sĩ ngữ văn “Ngôn ngữ nói và viết (Qua cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh), Hồ Mỹ Huyền đặt vấn đề về xác định ranh giới giữa ngôn ngữ nói và viết “Rõ ràng rằng ngôn ngữ nói và viết không phải là hai hệ thống ngôn ngữ hoàn toàn tách biệt, có thể được lựa chọn để thay thế cho nhau Do đó, không thể
có hai hệ thống ngôn ngữ hoàn toàn độc lập với nhau theo kiểu “ngôn ngữ nói” dùng
để nói, và “ngôn ngữ viết” dùng để viết, bởi vì trên thực tế, người nói hay viết cũng chỉ sử dụng một thứ chất liệu ngôn ngữ mà thôi” (Hồ Mỹ Huyền, 2008, tr 4) Luận án
đã làm sáng tỏ những khác biệt cơ bản giữa ngôn ngữ nói và viết mà các hướng nghiên cứu khác chưa giải quyết một cách thỏa đáng
Năm 2011, trong luận án tiến sĩ Ngữ văn “Những vấn đề về mạch lạc văn bản trong bài làm văn của học sinh phổ thông”, tác giả Phan Thị Ai nhấn mạnh: Mạch lạc chính là mạng lưới quan hệ nội dung giữa các từ trong một câu, các câu trong một đoạn và các đoạn trong một văn bản tạo nên một chỉnh thể Tác giả khẳng định giữa liên kết và mạch lạc vừa có sự phân biệt, đồng thời vừa có mối quan hệ với nhau Phần lớn các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đều đồng ý rằng có một sự khác biệt giữa liên kết và mạch lạc, tuy nhiên không có bất đồng đáng kể về những khác biệt thực sự giữa hai khái niệm này Theo tác giả, liên kết được thể hiện bởi các yếu tố ngữ pháp
và từ vựng thuộc bề mặt của một văn bản, còn mạch lạc thuộc về tầng sâu, tầng nghĩa ngầm bên dưới của văn bản
Phong cách ngôn ngữ báo chí cũng là một địa hạt được nghiên cứu từ rất sớm Trong cuốn sách đầu tiên về phong cách học là “Giáo trình Việt ngữ tập 3 – Tu từ học” năm 1964, Đinh Trọng Lạc đã đề cập đến phong cách báo chí Giáo trình này được xem như là dấu mốc xuất hiện thực sự của khoa học về phong cách học ở Việt
Trang 14Nam Sau đó, năm 1999, Hữu Đạt xuất bản cuốn “Phong cách học tiếng Việt hiện đại” Trong công trình này, tác giả trình bày khá chi tiết về phong cách ngôn ngữ báo chí ở các phương diện như đặc điểm ngôn ngữ của phong cách báo chí, kết cấu văn bản trong phong cách báo chí, các dạng tồn tại của văn bản báo chí và vấn đề chuẩn hóa của ngôn ngữ báo chí
Năm 2001, Vũ Quang Hào khi công bố công trình “Ngôn ngữ báo chí” đã cung cấp nhiều kiến thức cần thiết và quý giá về chuyên môn nghiệp vụ báo chí như các thuật ngữ, tít báo, tên riêng… Tuy nhiên tác giả chỉ mới khảo sát sơ lược về đặc điểm ngôn ngữ, khả năng liên kết văn bản báo chí Cũng trong năm đó, Trịnh Sâm cung cấp một góc tiếp nhận mới về mối tương quan giữa thời đại và ngôn ngữ trong thời đại thông tin, kinh tế, xã hội như hiện nay được thể hiện tiêu biểu trong phong cách ngôn ngữ báo chí, nhất là ở cách thức tổ chức văn bản, trong “Đặc trưng ngôn ngữ của phong cách báo chí trong thời đại thông tin” (2001, Đi tìm bản sắc tiếng Việt, NXB Trẻ)
Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa cũng công bố công trình nghiên cứu về
“Phong cách học tiếng Việt” năm 2006 Trong đó, phong cách báo chí công luận trên phương diện chức năng và đặc điểm ngôn ngữ được hai tác giả phân tích khá rõ nét trong chương hai Phong cách báo chí được tác giả nhìn nhận như một phong cách ngôn ngữ chức năng tiếng Việt
Năm 2006, Đinh Văn Hường xuất bản cuốn “Các thể loại báo chí thông tấn” trình bày những vấn đề chung của thể loại báo chí và đi sâu phân tích các thể loại: tin, phỏng vấn, tường thuật Ở thể loại tin, tác giả nêu khái niệm, cấu trúc và các dạng tin Đặc biệt, tác giả nêu một số tiêu chí viết tin đúng theo công thức 5W+1H
Năm 2007, Nguyễn Đức Dân công bố công trình “Ngôn ngữ báo chí - Những vấn đề cơ bản” Trong công trình này, ngoài việc giới thiệu những kiến thức cơ bản chuyên ngành báo chí, tác giả còn phân tích khả năng hoạt động của tiếng Việt trên báo chí Bên cạnh đó, Nguyễn Đức Dân cũng trình bày chi tiết về vai trò, nội dung và phân loại tiêu đề báo chí hay
Trang 15Cũng trong năm 2007, Vũ Quang Hào xuất bản quyển “Ngôn ngữ báo chí” Trong quyển sách này, tác giả trình bày chi tiết về vấn đề chuẩn mực của ngôn ngữ báo chí mang tính quy ước xã hội và quy luật phát triển nội tại của ngôn ngữ Đồng thời, tác giả cũng nghiên cứu về vấn đề chệch chuẩn, ngôn ngữ tên riêng trên báo chí, những thuật ngữ khoa học, ngôn ngữ kí hiệu và ngôn ngữ của tít báo
Giới thiệu sơ lược về lịch sử ra đời và những vấn đề liên quan đến truyền hình như nguyên lý, công nghệ, phương thức sản xuất chương trình truyền hình, đồng thời phân tích cụ thể đến thể loại tin truyền hình, năm 2009, Dương Xuân Sơn xuất bản
“Giáo trình báo chí truyền hình” Trong quyển sách này, tác giả dành một chương riêng cho thể loại tin truyền hình Các loại tin truyền hình cũng được tác giả liệt kê và phân loại khá chi tiết
Năm 2012, trong công trình “Phong cách học tiếng Việt”, Nguyễn Văn Nở nêu khái niệm, chức năng, đặc trưng của phong cách ngôn ngữ báo chí Về đặc điểm ngôn ngữ báo chí, tác giả tập trung nghiên cứu trên phương diện ngữ âm, từ ngữ, cú pháp
Về đặc trưng, tác giả phân tích ba bình diện: tính thời sự, tính chiến đấu, tính hấp dẫn
Cung cấp những vấn đề lý thuyết về truyền thông và báo chí, bao gồm chỉnh thể truyền thông, chỉnh thể báo chí, chỉnh thể nhà báo và chỉnh thể công chúng báo chí, quyển “Giáo trình cơ sở lý luận báo chí” của Nguyễn Văn Hà, xuất bản năm 2012 cung cấp những cơ sở hữu ích cho việc nghiên cứu về ngôn ngữ truyền hình Bên cạnh đó, giáo trình còn có hẳn mục “từ ngữ và thuật ngữ báo chí và truyền thông” vô cùng hàm súc, chuẩn xác
Thực tế cho thấy dù lịch sử nghiên cứu về ngữ pháp văn bản và diễn ngôn đã được quan tâm từ rất sớm, song lịch sử nghiên cứu về ngữ pháp văn bản trong ngôn ngữ truyền hình mà đặc biệt là ngôn ngữ truyền hình vẫn còn là một mảng trống, là một địa hạt còn tính mới mẻ và thử thách
Trang 163 Mục đích nghiên cứu
Luận văn này có mục đích để hoàn thiện chương trình bản tin thời sự truyền hình, đặc biệt là chương trình "60 Giây" sao cho nó ngày càng hấp dẫn hơn về mặt hình thức và có tính logic, liên kết hơn ở phần nội dung
Ngay từ cái tên, có thể khẳng định chương trình "60 Giây" là một bản tin bao gồm các tin rất ngắn gọn, lại khá độc lập với nhau, chính vì điều này mà vấn đề làm sao giữ được sự liên kết nội tại của bản tin bằng các phương tiện ngôn ngữ và cận ngôn ngữ là cực kỳ quan trọng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là sự liên kết giữa các tin trong chương trình "60 Giây" "60 Giây" là một chương trình thời sự tổng hợp tin tức của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, mỗi chương trình dài 30 phút bao gồm 20-25 tin
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tuy đối tượng là sự liên kết giữa các tin trong chương trình "60 Giây", nhưng về phạm vi nghiên cứu, luận văn có mở rộng cho cả chương trình "60 Giây" nói chung
để tiện so sánh, chỉ ra sự khác biệt giữa liên kết trong nội bộ tin và giữa các tin
Về mặt thời gian, Luận văn nghiên cứu 304 chương trình "60 Giây", trong đó có
152 chương trình "60 Giây" Sáng và 152 chương trình "60 Giây" Chiều của Đài
Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh phát từ ngày 1/1/2020 đến ngày 31/5/2020
Như đã nói ở trên, mỗi chương trình dao động từ 20 – 25 tin, như vậy việc nghiên cứu
304 chương trình "60 Giây" tương đương với việc nghiên cứu hơn 6.000 tin
Khoảng thời gian từ 1/1/2020 đến 31/5/2020 mà chúng tôi chọn để nghiên cứu này thuộc một giai đoạn đặc biệt và chưa có tiền lệ trong lịch sử báo chí Việt Nam cũng như lịch sử truyền hình trong 30 năm trở lại đây – đó là giai đoạn có sự xuất hiện
Trang 17của Đại dịch COVID-19 Đại dịch bắt đầu bùng phát từ tháng 12/2019 tại thành phố
Vũ Hán thuộc tỉnh Hồ Bắc ở miền Trung Trung Quốc sau đó lây lan ra nhiều quốc gia
và vùng lãnh thổ Ngày 11/2/2020, Ủy ban quốc tế về phân loại virus đã đặt tên chính thức cho chủng virus corona mới này là SARS CoV-2 Ngày 11/3/2020, WHO chính thức tuyên bố dịch COVID-19 là đại dịch toàn cầu Đến nay, thế giới vẫn chao đảo với diễn biến phức tạp, những tác động nghiêm trọng mà đại dịch đưa đến cùng nhiều
ẩn số chưa có lời giải
Với sự xuất hiện của Đại dịch COVID-19, khoảng thời gian khảo sát của Luận văn (từ 1/1/2020 đến 31/5/2020) là giai đoạn mà các chương trình tin tức nhận được
sự quan tâm đặc biệt của công chúng Theo biểu đồ rating1
của khán giả 4 thành phố lớn (Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ) đối với bốn thể loại Thể thao, Tin tức, Phim dài tập, Gameshow phát trên truyền hình (xem hình 1), từ đầu quý 1 năm
2020 (tức ngày 1/1/2020), lượng khán giả tại 4 thành phố lớn theo dõi chương trình tin tức đã tăng vọt
Tương ứng với mỗi đợt bùng phát của dịch bệnh COVID-19, nhóm chương trình tin tức trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Nhu cầu cập nhật tình hình diễn biến dịch bệnh và mọi vấn đề khác xung quanh ảnh hưởng của COVID-19 đến đời sống xã hội được người dân cả nước quan tâm, đặc biệt là tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội Các bản tin thời sự quan trọng của tất cả các kênh truyền hình thiết yếu quốc gia và địa phương luôn có được sự tin tưởng và yêu mến của đông đảo khán giả cả nước, trong đó có chương trình "60 Giây" của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
1 Rating là một đơn vị đo lường khán giả, thể hiện số lượng khán giả bình quân trên 1 phút của một phương tiện truyền
Trang 18Hình 1 Báo cáo rating của khán giả 4 thành phố lớn (Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ) đối với bốn thể loại truyền hình Thể thao, Tin tức, Phim nhiều tập,
Gameshow trong các năm 2019-2021
Nguồn: vietnam-tam, tháng 2/2022
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn áp dụng nhiều phương pháp, thủ pháp nghiên cứu để có thể rút ra những kết luận hữu ích về tính liên kết trong văn bản:
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết (còn gọi là phương pháp nghiên cứu tài
liệu): thu thập và xử lý các cơ sơ sở lý thuyết liên quan đến chủ đề nghiên cứu về liên kết văn bản làm cơ sở cho đề tài
Phương pháp nghiên cứu miêu tả:
Bao gồm miêu tả định lượng và miêu tả định tính
Miêu tả định lượng: Các yếu tố có thể định lượng, đo đếm được: số tin, số chủ đề, số tin liên quan tới một chủ đề cụ thể Thống kê, phân loại, miêu tả đặc điểm các yếu tố dựa trên tần số xuất hiện của nó
Trang 19Miêu tả định tính: Những yếu tố có thể nhận diện được trực tiếp: chủ đề (đối tượng được nói đến), phạm vi đề tài; thời gian (tin phát sóng trước, sau), kênh : Tất cả các yếu tố có thể nhìn thấy trên giao diện Có những yếu tố phải nhận diện gián tiếp như: các quan niệm, thái độ của biên tập viên, của người dẫn chương trình (có thể tường minh, có thể không tường minh)
Phương pháp thống kê: Tập hợp 304 văn bản tin "60 Giây", tương đương
việc thống kê hơn 6.000 nội dung hiện dẫn đạt lẫn không đạt yêu cầu mạch lạc và liên
kết, tạo thành nguồn dữ liệu nghiên cứu phong phú cho luận văn
Phương pháp phân tích: Phân tích về liên kết giữa các câu trong một phát
ngôn, giữa các tin trong một cụm tin, giữa các cụm tin trong chương trình và cả những yếu tố cận ngôn ngữ như cử chỉ, điệu bộ, thái độ, trang phục của người dẫn chương trình
Phân tích trên văn bản và thành phẩm là bản tin truyền hình về tính liên kết giữa các tin trong bản tin, thể hiện ở những từ ngữ liên kết xét về ngữ nghĩa, ngữ pháp, từ loại và chức năng cú pháp của các từ loại liên kết được liệt kê trong phạm vi luận văn này
5.2 Nguồn ngữ liệu
Chúng tôi sử dụng nguồn tài liệu lý thuyết bao gồm sách, báo, tạp chí về ngôn ngữ báo chí, ngôn ngữ truyền hình và các nghiên cứu về tính mạch lạc, liên kết trong văn bản cùng một số tài liệu lý thuyết liên ngành (như văn hóa, văn học); thông tin về các tài liệu này được liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo
Về ngữ liệu, chúng tôi sử dụng 304 văn bản tin tức "60 Giây" từ ngày 1/1/2020 đến ngày 31/5/2020 được lưu trong hệ thống tin tức INEWS của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh và 272 file video đã phát sóng có lưu trên youtube.com và trên website htv.com.vn
Trong phần Phụ lục, chúng tôi dẫn link video các chương trình và 04 văn bản chương trình "60 Giây" (do độ dài các văn bản chương trình lên đến 1.536 trang A4 nên chúng tôi chỉ dẫn 02 văn bản chương trình "60 Giây" Sáng và 02 chương trình
Trang 20"60 Giây" Chiều làm đại diện) Luận văn đính kèm 01 USB nguồn ngữ liệu bao gồm toàn bộ 272 file video đã phát sóng và 1.536 trang A4 văn bản chương trình "60 Giây"
6 Câu hỏi, giả thuyết và nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Câu hỏi nghiên cứu
Như tên gọi, chương trình "60 Giây" tập hợp các tin có độ dài tối đa một phút ("60 Giây") nên nhịp điệu, tốc độ khá dồn dập, dứt khoát - đây vừa là đặc trưng mang tính biểu tượng vừa là yếu tố thu hút khán giả của chương trình "60 Giây"
Câu hỏi đặt ra là có hay không sự liên kết giữa các tin trong một chương trình thời
sự tổng hợp như "60 Giây", và nếu có, sự liên kết này có giống như sự liên kết trong một văn bản thông thường hay không?
6.2 Giả thuyết nghiên cứu
Trả lời câu hỏi nêu trên, giả thuyết nghiên cứu của chúng tôi là: Nội bộ tin và giữa
các tin/cụm tin trong chương trình "60 Giây" có sự liên kết về nội dung và hình thức
về cơ bản theo hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt đã được Trần Ngọc Thêm
(1985/1999) xây dựng Tuy nhiên do đặc thù của ngôn ngữ truyền hình và đặc thù của
chương trình ("60 Giây"), có thể sẽ có một số phương thức và phương tiện liên kết chỉ được sử dụng trong nội bộ tin mà không được quan sát thấy giữa các tin; đồng thời lại
có thể có những phương thức và phương tiện liên kết phát sinh, làm phong phú thêm
hệ thống liên kết tiếng Việt
6.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.3.1 Rà soát những phương thức và phương tiện liên kết nào được sử dụng trong nội bộ tin chương trình "60 Giây" mà không được sử dụng giữa các tin, giải thích lý do
Trang 216.3.2 Tìm kiếm và phát hiện những phương thức, phương tiện phát sinh và miêu tả chúng
6.3.3 Khảo sát và lập hệ thống các phương thức liên kết được sử dụng trong chương trình "60 Giây"
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
7.1 Ý nghĩa lý luận
Những vấn đề rút ra từ thực tế sử dụng các cách thức liên kết trong một bản tin truyền hình góp phần làm rõ một số khía cạnh của lý thuyết ngôn ngữ báo chí nói chung, ngôn ngữ truyền hình nói riêng
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có ý nghĩa thực tiễn trong việc vận dụng những phương pháp, cách thức, phương tiện và sự lựa chọn chuẩn xác, hợp lý về ngôn từ để xây dựng tính mạch lạc và liên kết giữa các tin trong một bản tin truyền hình nói riêng, từ đó mở rộng ra về
hệ thống liên kết và tính mạch lạc trong ngôn ngữ tiếng Việt nói chung
Luận văn cũng nhận xét những thiếu sót, cách dùng từ không chuẩn gây khó hiểu, bất hợp lý trong các bản tin, khiến bản tin thiếu mạch lạc, rời rạc và thiếu sức thuyết phục, từ đó có những gợi ý khắc phục và hạn chế tình trạng này để xây dựng một bản tin chặt chẽ về nội dung, hấp dẫn về hình thức
Luận văn này có tính ứng dụng cao, thiết thực đối với người sử dụng tiếng Việt
và đặc biệt là những người quan tâm đến thể loại tin tức truyền hình, góp phần mở rộng biên độ nghiên cứu ngôn ngữ truyền thông hiện đại, những kết luận của luận văn
sẽ bổ sung vào kho lý luận ngôn ngữ truyền thông
Trang 228 Bố cục luận văn
Bên cạnh các phần như danh mục các bảng biểu và hình, mục lục, phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1 trình bày những CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN của luận văn
Chương 2 đi vào nghiên cứu các phương thức và phương tiện LIÊN KẾT CHỦ
ĐỀ TRONG CHƯƠNG TRÌNH "60 GIÂY" CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chương 3 nghiên cứu về các phương thức và phương tiện LIÊN KẾT LOGIC TRONG CHƯƠNG TRÌNH "60 GIÂY" CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
Trang 23Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm văn bản
Tại Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học đưa ra khá nhiều khái niệm và cách hiểu về text là khái niệm mà ngôn ngữ học thế giới sử dụng Năm 1985, Trần Ngọc Thêm đưa
ra khái niệm và cách hiểu text là văn bản Năm 1991, Cao Xuân Hạo gọi tên là ngôn bản Hiện nay liên quan đến nó còn có thuật ngữ discourse được dịch là diễn ngôn (Đỗ Hữu Châu, 1993) và có khi cũng là ngôn bản (Hoàng Văn Vân, 2001)
Năm 1976 Halliday & Hasan nêu khái niệm: “Một văn bản là một đơn vị ngôn ngữ trong sử dụng Nó không phải là một đơn vị ngữ pháp loại như một mệnh đề hay một câu; mà nó cũng không được xác định bằng kích cỡ của nó [ ], nó là một cái khác với câu về chủng loại Tốt hơn nên xem xét một văn bản như một đơn vị nghĩa: một đơn vị không phải của hình thức mà là của ý nghĩa” (dẫn theo Diệp Quang Ban,
2009, tr 196)
Ở nước ta, “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” của Trần Ngọc Thêm là công trình đầu tiên nghiên cứu về văn bản và liên kết văn bản Theo tác giả, “Văn bản là một hệ thống mà các câu mới chỉ là các phần tử Ngoài các câu phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy” (Trần Ngọc Thêm, 1985, tr 22) Khái niệm “văn bản” được Trần Ngọc Thêm phát triển sâu hơn năm 1989, trong bài “Văn bản như một đơn vị giao tiếp” (Tạp chí Ngôn ngữ, số 1+2,
Trang 24tr 37-42) Bên cạnh văn bản còn có lời nói Văn bản và lời nói được Trần Ngọc Thêm gọi chung là “ngôn phẩm”
Trong khi đó, Diệp Quang Ban cho rằng “Văn bản là một loại đơn vị được làm thành từ một khúc đoạn lời nói hay lời viết, hoặc lớn, hoặc nhỏ, có cấu trúc, có đề tài như một truyện kể, bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường” (2009, tr 193) Theo tác giả, định nghĩa trên có thể dùng chung cho cả thuật ngữ diễn ngôn khi chưa cần phân biệt hai thuật ngữ này Như vậy, các nhà nghiên cứu nói trên có quan niệm rộng về khái niệm văn bản Theo đó có thể nhận ra các yếu tố quan trọng trong văn bản, như:
- Văn bản có thể tồn tại ở dạng viết hoặc dạng nói;
- Văn bản có thể dài, cũng có thể ngắn;
- Về cấu trúc, văn bản có cấu trúc nghĩa và cấu trúc hình thức;
- Văn bản có đề tài (hoặc chủ đề)
Trần Ngọc Thêm đã nhận định, sự ra đời của ngôn ngữ học văn bản là “cuộc cách mạng thứ hai” trong ngôn ngữ học, khi đưa ngôn ngữ học lên tầm một khoa học bao quát hết đối tượng của mình
Đối tượng của ngữ pháp văn bản là những biểu hiện theo quy luật trong quá trình cấu tạo các đơn vị trên câu và các đơn vị cú pháp văn bản khác để tạo nên đơn vị lớn nhất là văn bản Còn văn bản là sự biểu hiện bằng ngôn ngữ để bộc lộ ý đồ giao tiếp Bất kỳ một văn bản nào cũng có những đặc trưng chủ yếu là tính liên kết, tính hoàn chỉnh về nội dung và kết cấu
Từ năm 1968, tên gọi ngữ pháp văn bản ngày càng được nhiều nhà ngôn ngữ học
đề cập Lĩnh vực văn bản - theo cách nói hình tượng của V.A Zvegintsev gần như đã trở thành một “Vũ trụ ngôn ngữ học” (dẫn theo Trần Ngọc Thêm, 1999, tr 12)
1.1.2 Một số đặc điểm của văn bản viết và văn bản nói
Nhiều nhà ngôn ngữ học đã dùng hai thuật ngữ “text” (văn bản) và “discourse" (diễn ngôn) để phân biệt văn bản nói và văn bản viết, nhưng cho đến nay, ranh giới giữa hai khái niệm này vẫn chưa rõ ràng
Trang 25Hướng thứ nhất cho văn bản viết (written text) đối lập văn bản nói (spoken discourse)
Phân biệt như vậy e rằng chưa chính xác vì người ta có thể dùng bài viết để phát biểu trước công chúng Và đặc biệt với phạm vi truyền hình thì người dẫn chương trình sẽ trình bày nội dung dựa trên văn bản (nội dung lời hiện) đã được biên tập sẵn, lúc này, dường như không còn giới hạn và sự phân biệt rõ giữa văn bản nói và văn bản viết, càng không thể đối lập
Hướng thứ hai có hai cách nhìn: cách thứ nhất thì xem văn bản là kiến trúc lý luận trừu tượng còn diễn ngôn là cái hiện thực hóa của văn bản (V Dijk) hay nói cách khác, văn bản với diễn ngôn tương tự như câu với phát ngôn; cách thứ hai, theo Guy Cook, văn bản là một chuỗi ngôn ngữ lý giải được ở mặt hình thức, bên ngoài ngữ cảnh còn diễn ngôn là chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là trọn nghĩa, được hợp nhất lại
và có mục đích
Hướng thứ ba thì xem mọi sự kiện nói đều là diễn ngôn Trong đó, cái nào ở dạng viết thì gọi là văn bản Các văn bản được viết và tạo thành từ câu, trong khi các diễn ngôn được nói và tạo thành từ phát ngôn
Tựu trung, có thể phân biệt đơn giản như sau: Văn bản nói là văn bản thông qua giao tiếp trực tiếp, nhằm trao đổi thông tin và đồng thời thiết lập, duy trì các mối quan
hệ xã hội Loại ngôn ngữ dùng trong văn bản nói thường có tính nhất thời, tính tổ chức thấp hơn văn bản viết, chứa đựng thông tin kém súc tích hơn, nhưng lại nhiều dấu hiệu đưa đẩy và từ đệm Do vậy, văn bản nói thường ngắn gọn, nội dung đơn giản nhưng sống động Một số yếu tố thường được sử dụng như một phương thức cận ngôn ngữ, dùng kèm với văn bản nói như: cử chỉ, điệu bộ, thái độ…
Văn bản viết là văn bản dùng chữ viết để trao đổi gián tiếp giữa người viết và người đọc Văn bản viết phần lớn được kiến tạo để chuyển giao thông tin (liên giao)
và có tính chất trường cửu Dung lượng văn bản này thường dài; nội dung phong phú, phức tạp và cũng có thể sử dụng hình ảnh, sơ đồ, bảng biểu minh họa Ngôn ngữ được dùng trong văn bản viết có chọn lọc, trau chuốt theo một chủ đề thống nhất Goody đã
Trang 26từng nhận định rằng người ta dành nhiều thời gian cho ngôn ngữ viết hơn là ngôn ngữ nói
Tuy nhiên xét trong phạm vi luận văn, vì đặc trưng truyền hình mà văn bản nói của người dẫn chương trình cũng chính là nội dung văn bản viết đã được biên tập từ trước thông qua màn hình chiếu (prompter), có sự khác biệt chăng đó là khả năng sáng tạo và thể hiện của người dẫn chương trình thông qua cử chỉ, điệu bộ, ngữ điệu, thái độ, cách di chuyển trong phim trường… mà chúng tôi sẽ phân tích sâu hơn ở chương sau
1.1.3 Khái niệm liên kết
“Liên kết” (cohesion), một thuật ngữ phổ biến rộng rãi được dùng để chỉ các phương tiện ngôn ngữ khác nhau (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) nhằm tạo nên sự “dính lại với nhau” trong câu, trong đoạn và trong văn bản Liên kết được thực hiện với bốn phương thức: quy chiếu, tỉnh lược, liên hợp và tổ hợp từ vựng
Có quan niệm cho rằng liên kết là mối quan hệ ngữ pháp và từ vựng trong một văn bản hay một câu Liên kết có thể được định nghĩa như là những sự nối kết để tổ chức văn bản và tạo ra ý nghĩa cho văn bản
Theo Trần Ngọc Thêm thì: Liên kết là mạng lưới các mối liên hệ tạo nên sự gắn kết giữa các câu trong một văn bản Liên kết được chia thành hai loại: Liên kết hình thức và liên kết nội dung Thực ra cái gọi là “liên kết hình thức" là tên gọi quy ước để chỉ các yếu tố của ngôn ngữ được dùng để diễn đạt các quan hệ nghĩa, có chức năng liên kết, và theo đó được phân biệt với “liên kết nội dung” (gồm liên kết chủ đề và liên kết logic) Mối quan hệ giữa liên kết hình thức và liên kết nội dung được tác giả bình
luận như sau: Giữa hai mặt liên kết nội dung và liên kết hình thức có mối liên hệ biện chứng chặt chẽ: Liên kết nội dung được thể hiện bằng hệ thống các phương thức liên kết hình thức, và liên kết hình thức chủ yếu dùng để diễn đạt sự liên kết nội dung liên kết (Trần Ngọc Thêm, 1985, tr 24) Xem Bảng 1
Trang 27Bảng 1 Tổng kết và phân loại hệ thống các phương thức liên kết văn bản
Theo cách thể hiện nội dung
Theo đơn vị liên kết Theo quan hệ liên kết
Thể hiện
liên kết
nội dung
Liên kết chủ đề
Duy trì 3- Lặp từ vựng
4- Thế đồng nghĩa
5- Thế đại từ 6- Tỉnh lược yếu
7- Tỉnh lược mạnh
Phát triển 8- Đối
9- Liên tưởng
Liên kết logic 10- Tuyến tính 11- Nối lỏng 12- Nối chặt
Trang 28Bảng 2 Tóm lược các phương thức liên kết và khu vực sử dụng chúng
Diệp Quang Ban quan niệm: Liên kết là thứ quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ mà muốn hiểu nghĩa cụ thể của yếu tố này thì phải tham khảo nghĩa của yếu tố kia, và trên cơ sở đó hai câu chứa chúng liên kết được với nhau Liên kết và mạch lạc cũng là đặc trưng quan trọng góp phần quyết định tính chất văn bản hay phi văn bản
Có quan niệm cho rằng đây là hai mặt hình thức và nội dung; cũng có quan niệm cho rằng tính chất này bao trùm tính chất kia Và vì vậy, các nhà ngôn ngữ học đang cố gắng vạch ra ranh giới giữa hai tính chất này
Theo chúng tôi, “liên kết” là khái niệm có nội hàm rộng hơn “mạch lạc” Khi Diệp Quang Ban trong khi trình bày lại quan điểm của A.K Halliday và Trần Ngọc Thêm về liên kết có viết rằng “Liên kết có thể có mặt trong một văn bản mà cũng có thể có thể có mặt trong một 'phi văn bản' Nói cách khác, liên kết chỉ góp phần tạo ra mạch lạc…, còn trong một chuỗi câu không chứa mạch lạc thì liên kết vẫn không làm
cho chuỗi câu đó thành một văn bản được” (2009, tr 294) và dẫn ví dụ “Cắm bơi một mình trong đêm Đêm tối bưng không nhìn rõ mặt đường…” của Trần Ngọc Thêm thì
chính là ông đã chứng minh cho việc “liên kết” là khái niệm có nội hàm rộng hơn
“mạch lạc” và đồng thời ông đã không để ý rằng khái niệm “liên kết” của Trần Ngọc Thêm bao gồm liên kết hình thức và liên kết nội dung, liên kết nội dung đến lượt mình bao gồm liên kết chủ đề và liên kết logic; một văn bản điển hình phải chứa đủ cả các
bình diện ấy Ví dụ “Cắm bơi một mình trong đêm…” của Trần Ngọc Thêm là để
Trang 29minh họa cho trường hợp chuỗi câu có liên kết hình thức và liên kết chủ đề mà thiếu liên kết logic
Diệp Quang Ban vô tình coi liên kết không đầy đủ là liên kết, nên đã hiểu sai khái niệm “liên kết” của Trần Ngọc Thêm Hiểu đúng thì khái niệm “mạch lạc” mà M.A.K Halliday và Diệp Quang Ban sử dụng thực chất chỉ là cái mà Trần Ngọc Thêm gọi là “liên kết nội dung” Vì vậy trong luận văn này sẽ không sử dụng khái niệm “mạch lạc”
Từ cách hiểu như trên, luận văn xác định khái niệm liên kết như sau:
Liên kết (cohesion) là mạng lưới quan hệ giữa các đơn vị liên kết (cụm từ, phát
ngôn, đoạn văn, thậm chí cả văn bản…) được tạo nên bởi các phương thức và phương tiện liên kết nhằm gắn các đơn vị ngôn ngữ (từ, cụm từ, câu, đoạn văn, văn bản con, văn bản lớn…) lại với nhau để tạo thành một chỉnh thể với mức độ chặt chẽ khác nhau
Các đơn vị ngôn ngữ phải liên kết chặt chẽ với nhau về mặt hình thức và nội dung (xoay quanh một chủ đề chung phù hợp với logic của cuộc sống) Những yếu tố cụ thể (ngôn ngữ và cận ngôn ngữ) dùng để liên kết được gọi là phương tiện liên kết Cách thức sử dụng các phương tiện liên kết cùng loại thì gọi là phép liên kết/ phương thức liên kết
Các phương thức và phương tiện liên kết hình thức dùng để thể hiện liên kết nội dung (liên kết chủ đề và liên kết logic) Liên kết nội dung chỉ có thể được thể hiện ở liên kết hình thức, vì vậy chúng tôi không phân tích liên kết hình thức một cách riêng biệt mà tập trung phân tích liên kết chủ đề và liên kết logic
Công trình nghiên cứu về liên kết (bao gồm khái niệm cùng các vấn đề lý thuyết liên quan) của Trần Ngọc Thêm là chỗ dựa chắc chắn, thuận tiện cho bước đầu nghiên cứu của chúng tôi
a Liên kết chủ đề
Nhìn chung, văn bản có cấu tạo là một hoặc nhiều chuỗi phát ngôn được nối tiếp nhau theo một cấu trúc nhất định (về nội dung và hình thức) Cấu trúc này chịu sự chi
Trang 30phối rất lớn của cơ chế tạo văn bản, của quy luật giao tiếp, của những đặc trưng về thể loại
Trong tài liệu về ngôn ngữ học văn bản, tuy khái niệm “liên kết chủ đề” chưa được đặt ra một cách hoàn chỉnh, song những nét phác thảo của nó đã được đề cập đến, nhất là của các nhà ngôn ngữ học Tiệp Khắc F Danes và B Palek Điều này hoàn toàn dễ hiểu, bởi lẽ liên kết chủ đề có liên quan chặt chẽ đến sự “phân đoạn thực tại câu” là cái mà ngôn ngữ học Tiệp Khắc đã đề xuất
Trong cuốn Dẫn luận Ngữ pháp chức năng, phần cuối chương viết về liên kết và ngôn bản, M.A.K Halliday đã nói sự mạch lạc như sau: “Để cho một ngôn bản được mạch lạc, thì nó phải có liên kết; nhưng liên kết phải nằm nhiều ở ngoài cú Nó phải
sử dụng các nguồn lực liên kết theo các cách được tác động bởi ngữ vực trong đó nó là một trường hợp cụ thể; nó phải phù hợp về mặt ngữ nghĩa, với sự tương ứng về ngữ pháp-từ vựng (nghĩa là nó phải có nghĩa); và nó phải có cấu trúc” (2001, tr.537) Tác giả Diệp Quang Ban thì thống nhất với quan điểm của D.Togeby: “Mạch lạc (coherence), hiểu một cách chung nhất, là cái đặc tính của sự tích hợp văn bản (property of textual integration), tức là cái đặc tính đảm bảo cho các yếu tố khác nhau trong một văn bản khớp được với nhau trong một tổng thể gắn kết" (Ngôn ngữ, 10/2000)
Theo Trần Ngọc Thêm, liên kết chủ đề đòi hỏi toàn văn bản phải xoay quanh một chủ đề Chủ đề toàn văn bản được phân chia ra thành các chủ đề con và thể hiện qua phần chủ đề và phần nêu của các phát ngôn Như thế, liên kết chủ đề của văn bản chính là sự tổ chức những chủ đề và phần nêu của các phát ngôn (1985, tr 228) “Nếu coi nội dung của văn bản cũng cấu tạo từ hai phần chủ đề-thuật đề và nêu-báo thì liên kết chủ đề là một sợi dây xuyên suốt, xâu chuỗi các chủ đề và phần nêu bộ phận lại với nhau, còn liên kết logic là một sợi dây khác xâu chuỗi các phần thuật đề và phần báo bộ phận lại với nhau Những sợi dây ấy làm nên sự thống nhất chặt chẽ và trọn vẹn của nội dung trong toàn văn bản” (tr.285) Tác giả cũng đã trình bày một hệ thống các phương thức liên kết hiện diện trong văn bản
Trang 31Hai phát ngôn có thể được coi là có liên kết chủ đề khi chúng nói đến những đối tượng chung hoặc đối tượng có quan hệ mật thiết với nhau Đơn vị cơ sở tham gia liên kết chủ đề là các đối tượng của hiện thực, trong đó chủ yếu là các sự vật, khái niệm… được thể hiện bằng các tên gọi (danh từ, đại từ)
Có 7 phương thức được dùng để liên kết những tên gọi chỉ cùng một đối tượng hoặc những đối tượng có liên quan mật thiết với nhau, đó là: lặp từ vựng, đối, thế, đồng nghĩa, liên tưởng, thế đại từ, tỉnh lược yếu và tỉnh lược mạnh Đây cũng là 7 phương thức thể hiện liên kết chủ đề mà chúng ta sẽ phân tích trong chương trình "60 Giây" của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
b Liên kết logic
“Khác với trong liên kết chủ đề, trong liên kết logic thì đơn vị liên kết chủ yếu là các hành động, sự việc Các sự vật, khái niệm cũng có thể là đơn vị liên kết logic, song chỉ ở những cấp độ thấp Về mặt ngôn ngữ, các đơn vị liên kết logic được thể hiện bằng các từ, cụm từ, phát ngôn, chuỗi phát ngôn
[…] sự kết hợp của hai đơn vị sẽ được coi là có liên kết logic khi chúng phù hợp với nhau theo những quan hệ ngữ nghĩa nhất định
Quan hệ ngữ nghĩa bậc một bao gồm quan hệ thứ tự, quan hệ bao hàm, quan hệ tương tự, quan hệ đồng nhất, quan hệ mâu thuẫn… Quan hệ ngữ nghĩa bậc hai làm nhiệm vụ cụ thể hóa cho các quan hệ bậc một Chẳng hạn, quan hệ thứ tự được cụ thể hóa thành các quan hệ: định vị thời gian, trình tự diễn đạt, nhân quả… Quan hệ bao hàm được cụ thể hóa thành quan hệ: giống loài, chung riêng, sở hữu, đặc trưng… Quan hệ tương tự được cụ thể hóa thành quan hệ: đồng loại, đẳng lập, tuyển chọn… Quan hệ mâu thuẫn cụ thể hóa thành các quan hệ: tương phản, đối lập… Có ba phương thức được dành riêng để thể hiện các quan hệ ngữ nghĩa vừa nêu Đó là phép tuyến tính, phép nối lỏng và phép nối chặt” (Trần Ngọc Thêm, 1999, tr.266)
Một chuỗi phát ngôn hỗn độn không có liên kết hình thức sẽ được coi là chuỗi phát ngôn hỗn độn chỉ có liên kết nội dung
Trang 321.1.4 Các phương tiện liên kết cận ngôn ngữ
a Khái niệm cận ngôn ngữ
Năm 1993, Fernando Poyatos xuất bản cuốn sách “Paralanguage, A Linguistic and intersisciplinary approach to interactive speech and sounds”, đánh dấu cho việc nghiên cứu giao tiếp bằng ngôn ngữ nói trực tiếp và ngôn ngữ nói không lời Chương
6 dài nhất của cuốn sách đề cập đến các yếu tố cận ngôn ngữ như: cười, khóc, thở dài, ngáp, ho, hắt hơi Theo tác giả, bên cạnh việc xem xét các yếu tố thuộc về ngôn ngữ nói trực tiếp, “có thể có hoạt động được định nghĩa như là cận ngôn ngữ (ví dụ: ngáp trong khi nói), tất cả chúng xảy ra nhằm thể hiện một ý nghĩa, một thông điệp thực sự linh hoạt Chúng mô tả và phân biệt các phản ứng sinh lý cũng như các trạng thái tâm
lý và cảm xúc, thể hiện khả năng biểu đạt thông tin” (Poyatos F., 1993, tr 245) Trong cuốn “Longman Dictionary of Language Teaching and Applied Linguistics”, Jack C Richards Richard W Schmidt định nghĩa “cận ngôn ngữ là sự nghiên cứu hay cách dùng các hiện tượng không thuộc về giọng nói như biểu hiện trên khuôn mặt, các cử động đầu hay mắt, và các cử chỉ mà có thể tăng thêm sự ủng hộ
và nhấn mạnh hoặc mang thêm các sắc thái ý nghĩa nào đó đối với điều mà người ta đang nói Những hiện tượng này được biết đến như là đặc trưng cận ngôn” (1999, tr.262-263)
Ngôn ngữ hiểu theo nghĩa rộng là bất kỳ hệ thống ku1 hiệu nào dùng để trao đổi thông tin, vì vậy mới có những khái niệm về ngôn ngữ cơ thể, ngôn ngữ cử chỉ, ngôn ngữ điệu bộ… Nghiên cứu trong lĩnh vực truyền hình, luận văn xác định các đặc trưng về cử chỉ, điệu bộ, thái độ, trang phục của người dẫn chương trình là những phương tiện liên kết cận ngôn ngữ, bởi chúng không thuộc về giọng nói và cũng mang các sắc thái ý nghĩa nhất định đối với việc thể hiện những thông điệp, ý nghĩa, biểu đạt thông tin
Trang 33b Cử chỉ, điệu bộ
Một đặc điểm nổi bật trong hành vi giao tiếp lời nói là việc truyền đạt thông tin không chỉ được tiến hành bằng các phương tiện ngôn ngữ mà còn được tiến hành bằng các cử chỉ điệu bộ Trong những tình huống giao tiếp lời nói cụ thể, cử chỉ, điệu
bộ, nét mặt mặc dù là những yếu tố bên ngoài, nhưng lại là những yếu tố không thể thiếu được Con người trong khi giao tiếp thường quan sát phản ứng được biểu hiện ra bên ngoài của những đối tượng giao tiếp Qua phản ứng của người nhận tin, người phát tin có thể hiểu được một phần suy nghĩ của đối tượng về lời nói của mình Trên
cơ sở đó có thể thay đổi chiến lược giao tiếp sao cho phù hợp với đối tượng Ngược lại, đối với người nhận tin, cùng với việc tiếp thu nội dung thông báo, việc quan sát cử chỉ, điệu bộ của người phát tin sẽ giúp cho họ hiểu rõ hơn về những điều mà người kia muốn diễn đạt
Những biểu hiện của cử chỉ, điệu bộ rất phong phú và bị quy định bởi nhiều yếu tố, đặc biệt là những yếu tố tâm lí, dân tộc, xã hội… Để tương ứng được với nội dung cần diễn đạt, các dạng biểu hiện của cử chỉ, điệu bộ, nét mặt vô cùng phong phú,
đa dạng Riêng nét mặt có khả năng biểu hiện những sắc thái tình cảm rất khác nhau: đồng ý, phủ nhận, nghi ngờ, ngạc nhiên, phẫn nộ, giận dữ Hoặc ngay cả các cử chỉ rất sơ đẳng như gật đầu, lắc đầu trong những tình huống khác nhau cũng có thể biểu đạt những nội dung khác nhau
Phần lớn các nhà nghiên cứu giao tiếp lời nói đều có nhắc tới các yếu tố cử chỉ, điệu bộ W.Wundt đã viết một công tình có tựa đề “Ngôn ngữ cử chỉ” (The Language
of Gesture Paris - Mouton, 1975) dành riêng để miêu tả và phân tích ngôn ngữ cử chỉ với tư duy “Một khi sự chuyển dịch đạt đến trạng thái hoàn thiện thì một cử chỉ có khả năng thay thế hoàn toàn cho một phát ngôn Không có loại cử chỉ nào chỉ dành riêng cho loại này hoặc loại kia, mà chỉ có vấn đề vai trò, chức năng, hoạt động cụ thể của chúng trong từng tình huống cụ thể mà thôi” (Nguyễn Thị Việt Thanh, 2000, tr.99)
Trang 34Ở Việt Nam, vai trò của cử chỉ, điệu bộ trong quá trình giao tiếp chưa được chú ý thích đáng Vấn đề này mới chỉ được giới thiệu mot cách chưa hệ thống trong khuôn khổ của một bài báo nhỏ (Thục Khánh, 1990) và khảo sát sơ sài trong một vài tiểu luận của sinh viên
Các biểu hiện của cử chỉ của con người thật da dạng, nhưng tựu trung lại có thể chia thành bốn loại chính :
- Cử chỉ mô phỏng (nhại lại, bắt chước cách đi đứng, nói năng của người khác)
- Cử chỉ tượng trưng (được xã hội quy định như vỗ tay khi đồng ý, giơ tay khi biểu quyết, )
- Cử chỉ thuyết minh (đi kèm để giải thích thêm cho lời nói)
- Cử chỉ hàm chỉ (tự thân biểu đạt một thông tin hoàn chỉnh)
Theo Thục Khánh, đối tượng chú ý của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ là loại cử chỉ thuyết minh, và đặc biệt là cử chỉ hàm chỉ Hai loại này tương ứng với hai cách gọi: cử chỉ kèm lời và cử chỉ thay lời ở một số nhà nghiên cứu Tuy nhiên chúng tôi cho rằng cử chỉ tượng trưng, cử chỉ thuyết minh và cử chỉ hàm chỉ là ba loại cần chú ý phân tích, vì khả năng thể hiện liên kết cận ngôn ngữ của chúng mà chúng tôi sẽ phân tích trong chương II
c Thái độ
Thái độ là một phẩm chất của con người được hình thành do tri thức để phản ứng một cách thức thiện cảm hay ác cảm với một vật, sự việc cụ thể Thái độ làm cho con người có thể sẵn sàng thích hoặc không thích một đối tượng nào đó, là sự đánh giá tốt hay xấu của cá thể, cảm thấy gần gũi hay xa lánh
Có nhiều mô hình về thái độ Tuy nhiên ba thành phần của thái độ được đông đảo nhà nghiên cứu chấp nhận là thành phần nhận biết, thành phần cảm xúc và thành phần
xu hướng hành vi (Xem hình 2)
Trang 35Hình 2 Ba thành phần của thái độ (Nguồn: Schiffman & Kanuk)
Theo đó, mô hình của Schiffman & Kanuk giới thiệu ba thành phần thái độ:
- Nhận biết (nhận thức): nói lên sự nhận biết kiến thức của con người về một đối tượng nào đó Nhận biết thể hiện ở dạng niềm tin
- Cảm xúc: thể hiện ở dạng đánh giá, thể hiện cảm nghĩ về một đối tượng ở dạng tốt hay xấu, thân thiện hay ác cảm
- Xu hướng hành vi: nói lên xu hướng của chủ thể thực hiện một hành động đối với đối tượng theo hướng đã nhận thức trước đó (Dương Anh Tú, 2007, tr 35)
Ba thành phần thái độ này là căn cứ lý thuyết phân tích thái độ là một phương thức cận ngôn ngữ mà chúng tôi sẽ phân tích sâu hơn trong chương 3
d Trang phục
Trang phục là kiểu cách quần áo, mũ, khăn, giày dép, đồ trang sức Trang phục
là một nhu cầu thiết yếu trong đồi sống con người Nó quan hệ đến nhiều lĩnh vực trong xã hội như địa lý, lịch sử, kinh tế, lễ giáo, đẳng cấp, phong tục tập quán Nhất
là ở lĩnh vực văn hóa tinh thần, trang phục thể hiện cụ thể rõ nét về trình độ và thị hiếu thẩm mỹ của mỗi con người, mỗi dân tộc, mỗi thời đại
Trang phục là một trong những khía cạnh tinh tế nhất của văn hóa, thể hiện được nhiều mặt của xã hội cũng như bộc lộ những nét cá tính của từng cá nhân Thực tế, có
Trang 36những quy định riêng với trang phục của người dẫn chương trình truyền hình Với người dẫn chương trình truyền hình, việc mặc đẹp thôi chưa đủ Cái đẹp còn đi cùng với sự chuẩn mực, thanh lịch vừa tạo ra sự gần gũi với khán giả Bên cạnh đó, còn có một số lưu ý khác như màu sắc trang phục cần tương ứng với thông tin cung cấp hay giữa hai người dẫn chương trình nên có sự hài hòa về phục trang
Bên cạnh đó, xuất hiện trên sóng truyền hình nghĩa là hình ảnh của người dẫn chương trình sẽ được tất cả mọi người với mọi lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp… biết đến Điều đó có nghĩa, trang phục của người dẫn chương trình phải phù hợp với thuần phong mỹ tục, phải thể hiện sự tôn trọng dành cho khán giả
Một nguyên tắc quan trọng trong khâu chọn trang phục đó là người dẫn chương trình cần tìm hiểu kĩ nội dung chương trình mình sẽ dẫn để ăn mặc phù hợp với bối cảnh
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Ngôn ngữ báo chí
Ngôn ngữ báo chí là kiểu ngôn ngữ phi nghệ thuật tồn tại dưới cả dạng nói và dạng viết trong các thể loại như tin, bình luận, phỏng vấn, ký, phóng sự Để đáp ứng nhu cầu thông tin nhanh nhạy, kịp thời về mọi lĩnh vực, ngôn ngữ báo chí sử dụng hầu hết các lớp từ toàn dân với cách thức diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu và tuân theo chuẩn mực chung của xã hội Trong mối quan hệ với hiện thực, ngôn ngữ báo chí chính là tin tức, sự kiện được thể hiện qua ngôn từ Nhìn từ góc độ giao tiếp, sự kiện tin chính là sự kiện giao tiếp đã được mã hóa trong các thông điệp mà người viết muốn gửi đến người đọc (là đông đảo công chúng) Vì thế ngôn ngữ báo chí có nhiều đặc trưng rất riêng và chịu khá nhiều yếu tố chi phối
Báo chí có hai chức năng chính là thông tin và tác động Báo chí lôi cuốn, hấp dẫn công chúng quan tâm ngay đến những vấn đề thời sự thường ngày; đồng thời tác động đến độc giả/khán giả trên nhiều lĩnh vực như giáo dục, thẩm mỹ, giải trí… Sự phát triển không ngừng của các phương tiện kỹ thuật, sự giao lưu hội nhập toàn cầu trên
Trang 37nhiều lĩnh vực, khả năng cạnh tranh thông tin cũng đem đến cho báo chí nhiều năng lực mới, những yêu cầu mới
“Thời sự là những tin tức chỉ có giá trị nhất thời Những tin đưa muộn (theo những mốc cụ thể: Giờ, ngày, tuần, tháng) sẽ giảm dần giá trị Nhưng bất luận thế nào, mọi sự kiện được mọi người quan tâm đều phải “gói” trong một chương trình Không thể loại những tin tức tối cần thiết (như tin thời tiết thiên tai, tin an toàn giao thông, tin cập nhật về một giải bóng đá đang hoặc vừa diễn ra, tin nhật kí Olympic ) khỏi thời sự” (Phạm Văn Tình, Chương trình thời sự, 2012) Chính những đặc điểm
về chức năng, về thể loại và các yếu tố thời đại đã buộc thông tin báo chí trở thành
thông tin nén Đó là thông tin của sự kiện diễn ra trong một không gian có thể rất rộng
nhưng lại được chuyển tải trong một thời gian rất ngắn Đó cũng có thể là thông tin
mà bằng một hình thức biểu hiện tối thiểu phải chuyển tải được một nội dung thông tin tối đa Trước những yêu cầu đó, ngôn ngữ báo chí phải mang tính chất ngắn gọn Nhiều toà soạn xem đây là tiêu chuẩn đầu tiên, có những quy ước bắt buộc về số câu,
số chữ trong từng kiểu bài Điều này có thể được lý giải từ góc độ của các vai giao tiếp: đối với người viết, “phong cách ngắn gọn này phát sinh từ nhu cầu cần thiết Báo chí phải kể nhiều chuyện trong ngày, và chỉ có bấy nhiêu trang” (Leonard Rayteel-Ron Taylor, 1993, tr.211); còn đối với người đọc “ngày càng bị lôi cuốn bởi cách xử lý ngắn gọn các tin tức thời sự” (Jacques Locquin, 2003, tr.24)
“Mọi bài báo đều phải được viết sao cho thật rõ ràng, chính xác và dễ hiểu Nếu chưa đạt được điều đó, biên tập viên có nhiệm vụ phải sửa lại Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã nói: “Báo chí ta không phải để phục vụ một số ít người xem mà để phục vụ nhân dân”
[ ] Nhà nghiên cứu ngôn ngữ Hoàng Anh cũng cho rằng “Ngôn ngữ báo chí phải
là thứ ngôn ngữ dành cho tất cả và của tất cả, tức là có tính phổ cập rộng rãi” (Hoàng Anh, 2003, Một số vấn đề về sử dụng ngôn từ trên báo chí, tr.23)
Nói chung, đời sống một bài báo rất ngắn Nó cũng không phải tác phẩm văn học Người đọc tìm tới báo trước tiên là để thỏa mãn nhu cầu thông tin, vì vậy nếu bài viết
Trang 38quá rắc rối, khó hiểu, bạn đọc sẽ dễ dàng bỏ qua” (Nguyễn Quang Hòa, 2016, Biên tập báo chí, tr 106-107)
Thuộc phạm vi ngôn ngữ báo chí, ngôn ngữ truyền hình cũng bắt buộc phải đảm các nguyên tắc này Đặc biệt trong một chương trình thời sự với motif "60 Giây" một tin, thì ngôn từ được sử dụng vừa phải đảm bảo tính chính xác, ngắn gọn, vừa đáp ứng yêu cầu lôi cuốn, hấp dẫn khán giả
1.2.2 Đôi nét về chương trình "60 Giây"
Ra mắt từ năm 2012, chương trình "60 Giây" do Trung tâm Tin tức Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh sản xuất đã thu hút được lượng khán giả theo dõi khổng
lồ trên cả nước, đặc biệt là khán giả ở khu vực Đông Nam bộ "60 Giây" ngay từ khi mới ra đời đã đảm nhận sứ mệnh truyền tải lượng thông tin phong phú, cô đọng và phản ánh mọi mặt đời sống xã hội, chú trọng đến những lĩnh vực dân sinh gắn bó mật thiết với nhu cầu và sự quan tâm của đông đảo khán giả Cũng vì lẽ đó, "60 Giây" liên tục nằm trong nhóm đầu danh sách xếp hạng rating - đơn vị đo lường khán giả, dùng
để chỉ số lượng khán giả bình quân trên 1 phút của một phương tiện truyền thông, của một chương trình hay thậm chí một mẫu quảng cáo tính bằng % dân số hoặc nhóm đối tượng mục tiêu cụ thể - không chỉ của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh mà còn xếp hạng cao về rating chương trình tin tức của các kênh truyền hình tại Việt Nam nói chung
Sau thành công của chương trình tin tức "60 Giây" buổi chiều, từ ngày 1/10/2016, Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh khởi động chương trình "60 Giây" buổi sáng, phát vào khung giờ 6g30 đến 7g00 hàng ngày đồng thời trên cả 2 kênh HTV7 và HTV9 Từ đây chúng tôi sẽ gọi là chương trình "60 Giây" Sáng (Phát sóng từ 6g30 đến 7g00) và "60 Giây" Chiều (Phát sóng từ 18g30 đến 19g00) để dễ phân biệt
Không chỉ tập trung chủ yếu vào các vấn đề an sinh xã hội, trật tự an toàn giao thông, văn hóa, giải trí, thể thao , "60 Giây" Sáng còn đặc biệt chú trọng phản ánh các vấn đề thuộc lĩnh vực kinh tế (trong nước và thế giới), khoa học môi trường, đời
Trang 39sống; theo sát các dòng sự kiện quốc tế, những chủ đề được dư luận quan tâm Tiêu chí của chương trình, cũng như "60 Giây" Chiều, đó là tiếp cận và truyền tải thông tin một cách ngắn gọn, dễ hiểu, đầy đủ, nhằm thỏa mãn nhu cầu cập nhật thông tin liên tục của khán giả xem truyền hình Phần lớn các thông tin chương trình "60 Giây" Sáng là những thông tin mới, nóng, được những người thực hiện cập nhật ngay trong đêm và rạng sáng
Về nội dung tin, nhìn chung chương trình "60 Giây" có bố cục tương tự nhiều chương trình tin tức truyền hình, tức là phát sóng cụm tin trong nước trước, phát sóng cụm tin thế giới sau Trong đó, không gian của các tin trong nước thường là các sự kiện xảy ra ở khu vực phía Nam và đặc biệt là ở Thành phố Hồ Chí Minh để đáp ứng nhu cầu thông tin của phần lớn đối tượng khán giả khu vực phía Nam
Chủ thể của chương trình "60 Giây" bao gồm: Biên tập viên truyền hình, người dẫn chương trình, đạo diễn phim trường, khán giả (Theo mô hình truyền thông được
đề xuất vào năm 1948 bởi Harold Lasswell, tại Đại học Yale) Năm 1948, trong tiểu luận The Structure and Function of Communication in Society, ông miêu tả quá trình truyền thông trong một câu súc tích: Ai nói cái gì, bằng kênh nào, cho ai và nhằm mục đích gì Từ đó, ông đưa ra mô hình truyền thông khá mới mẻ cho đến thời điểm đó, được nhiều người chấp nhận vì nó đơn giản, dễ hiểu và thông dụng Xem hình 3
Hình 3 Mô hình truyền thông của Harold Lasswell (Nguồn: Tác giả)
Với mô hình này, Harold Lasswell đã xác định được các đối tượng trọng yếu của ngành nghiên cứu truyền thông Muốn hiểu rõ bản chất, quá trình và hiệu quả của hoạt động truyền thông, nhà nghiên cứu phải chú trọng năm yếu tố trên như những chỉnh thể trong một hệ thống, từ nguồn, thông điệp, kênh truyền, người nhận đến hiệu ứng, hiệu quả của nó Do vậy, bên cạnh nghiên cứu về tính liên kết logic và liên kết
Source
Nguồn
Message Thông điệp
Channel Kênh
Receiver Người nhận Effect Tác động
Trang 40chủ đề, luận văn này cũng sẽ xem xét các yếu tố S - M - C - R - E để có những đóng góp thêm về mặt ngôn ngữ báo chí, ngôn ngữ truyền hình và nghiên cứu truyền thông
1.2.3 Một số thuật ngữ và quy trình sản xuất chương trình "60 Giây"
1.2.3.1 Một số thuật ngữ thường dùng và quy ước
- Người dẫn chương trình: Chúng ta vẫn quen gọi là MC, là thuật ngữ viết tắt
của chữ Master of Ceremonies (Tạm dịch: Bậc thầy của nghệ thuật giao tiếp) “Theo Nguyễn Bá Kỷ, người nói trên truyền hình (Speaker on Television) bao gồm hai đối tượng cụ thể, đó là người dẫn chương trình (Master of Ceremonies) và người nói (Speaker) Nói trên truyền hình có thể là các phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên, bình luận viên, người dẫn chương trình Có nghĩa là người nói trên truyền hình bao gồm tất cả những người đại diện nhà Đài nói trước công chúng Ngày nay, trong lĩnh vực truyền hình ở nhiều nước, thuật ngữ MC cũng được dùng để nói về người dẫn một chương trình trên đài truyền hình Đây là cách gọi phổ biến ở nước ta hiện nay Cách gọi này được hiểu là cách gọi chung, gần như không phân biệt người dẫn ở từng thể loại, chương trình
Ở một số nước có truyền hình phát triển như Mỹ, Anh, cách gọi Speaker on Television rất cụ thể: người dẫn chương trình trong các talk show được gọi là Host, khách được gọi là Guest, có nghĩa là có sự nhìn nhận của Chủ - Khách Hay ở các dạng chương trình khác như thời sự, người dẫn gọi là Anchor, Announcer Đối với các chương trình chuyên đề, tạp chí gọi là Presenter Ở các gameshow, người dẫn được coi là những hoạt náo viên” (Lê Thị Phong Lan, Ngôn ngữ của người dẫn chương trình truyền hình, Luận văn thạc sĩ khoa học báo chí, 2006, tr 24)
Có 3 người dẫn chương trình (2 nam - 1 nữ) trong một bản tin "60 Giây", các cụm tin thời sự, cụm tin văn hóa giải trí trong nước và quốc tế sẽ do người dẫn chương trình nam cùng một người dẫn chương trình nữ hiện dẫn; người dẫn chương trình nam