ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ ĐÌNH LANG GIÁ TRỊ VĂN HOÁ, NGHỆ THUẬT HIỆN VẬT VÀNG TẠI KHU DI TÍCH GÒ THÁP ĐỒNG THÁP (ĐIỂN CỨU CÁC HIỆN VẬT VÀNG V[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ ĐÌNH LANG
GIÁ TRỊ VĂN HOÁ, NGHỆ THUẬT HIỆN VẬT VÀNG
TẠI KHU DI TÍCH GÒ THÁP - ĐỒNG THÁP
(ĐIỂN CỨU CÁC HIỆN VẬT VÀNG VĂN HÓA ÓC EO)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HÓA HỌC
MÃ NGÀNH: 8229040
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ ĐÌNH LANG
GIÁ TRỊ VĂN HOÁ, NGHỆ THUẬT HIỆN VẬT VÀNG
TẠI KHU DI TÍCH GÒ THÁP - ĐỒNG THÁP
(ĐIỂN CỨU CÁC HIỆN VẬT VÀNG VĂN HÓA ÓC EO)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH VĂN HÓA HỌC
MÃ NGÀNH: 8229040
Người hướng dẫn khoa học PGS TS ĐẶNG VĂN THẮNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đặng Văn Thắng
Tác giả
Lê Đình Lang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn thầy PGS.TS Đặng Văn Thắng đã tận tâm hết mình hướng dẫn tôi trong nghiên cứu khoa học và trong hoạt động thực tiễn, trang bị cho tôi có nhiều kiến thức quan trọng và cần thiết để hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn tất cả quý thầy, cô đã giảng dạy cho tôi trong thời gian qua dưới mái trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh; gửi lời cảm ơn đến quý thầy, cô của khoa Văn hóa học, khoa Sau đại học, các Phòng, ban chuyên môn đã tạo điều kiện cho tôi học tốt và hoàn thành luận văn Cảm ơn tất cả bạn bè, anh, chị, em đã động viên, khuyến khích
để giúp tôi trong quá trình học tập; cảm ơn lãnh đạo Ban Quản lý Khu di tích Gò Tháp và Bảo tàng tỉnh Đồng Tháp đã cho phép và tạo tạo điều kiện thuận lợi để tôi tiếp cận được các tài liệu về di tích, di vật có liên quan để sử dụng vào luận văn
Cuối cùng xin chân thành cảm ơn tập thể lớp cao học Văn hóa học Đợt 1 khóa 2019-2021 (K20A) đã giúp đỡ, động viên trong học tập cũng như làm bài luận văn
Tác giả
Lê Đình Lang
Trang 56 Phương pháp nghiên cứu & nguồn tư liệu 7
1.1.4 Mối quan hệ giữa văn hóa và nghệ thuật 13 1.1.5 Mối quan hệ giữa ngành khảo cổ và văn hóa học 15
1.2.1 Quá trình hình thành, phát triển và suy tàn của văn hóa Óc Eo và vương
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT CÁC HIỆN VẬT VÀNG VĂN HOÁ ÓC EO ĐÃ
Trang 62.2 Phân loại các hiện vật vàng 45
3.1 Phản ánh về đời sống văn hóa của cư dân Óc Eo 61
3.2 Giá trị nghệ thuật của các hiện vàng văn hoá Óc Eo tại Khu di tích Gò
BẢNG THỐNG KÊ HIỆN VẬT VÀNG VĂN HÓA ÓC EO
ĐƯỢC PHÁT HIỆN TẠI KHU DI TÍCH GÒ THÁP
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc
BC Trước công nguyên
AD Công nguyên
Trang 8DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Văn hóa Óc Eo là một nền văn hóa thuộc vương quốc Phù Nam, được phân
bố rộng khắp khu vực vùng đất Nam Bộ ngày nay, là một nền văn hóa rất đa dạng, phong phú, phát triển rực rỡ và nổi bật so với các nền văn hóa khác ở Đông Nam Á thời cổ Văn hóa Óc Eo đã hình thành và tồn tại trong một thời gian dài, cách nay hơn
1500 năm Văn hóa Óc Eo đã để lại một tài sản di sản văn hóa vô cùng quý báu nằm rải rác ở khắp vùng đất Nam bộ như: An Giang, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc trăng, Bạc Liêu, Bến Tre, Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh, những giá trị văn hóa lớn lao của văn hóa Óc Eo vẫn đang là đề tài nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Nền văn hóa này có nội hàm vô cùng phong phú, có quan hệ gắn kết tương hỗ giữa hai thành tố văn hóa bản địa (nội sinh) và ngoại nhập (ngoại sinh) Văn hóa Óc Eo được xem là thực thể vật chất của vương quốc Phù Nam – quốc gia cổ đại hình thành sớm nhất ở khu vực Đông Nam Á (Đặng Văn Thắng, 2019, tr.27) Vương quốc Phù Nam trải qua ba giai đoạn phát triển, gồm: giai đoạn hình thành (thế kỷ I-II), giai đoạn phát triển (thế kỷ thứ III-VI) và giai đoạn suy tàn (thế kỷ VI-VII) Riêng văn hóa Óc Eo còn kéo dài đến thế kỷ XII gọi là giai đoạn Hậu Óc Eo (Đặng Văn Thắng, Võ Thị Huỳnh Như, 2012, tr.88)
Từ thế kỷ XX cho đến hiện nay, tại khắp các tỉnh ở Nam bộ, trong đó có Đồng Tháp, các nhà khảo cổ học đã phát hiện số lượng lớn di tích, di vật thuộc nền văn hóa Óc Eo như: kiến trúc đền, di tích cư trú, di tích Ao thần, Giếng thần … và nhiều hiện vật được chế tác từ nhiều chất liệu như: vàng, bạc, đồng, đá, gốm, thủy tinh, gỗ, Các di tích, di vật này đều chứa đựng những giá trị văn hóa rất sâu đậm Trong đó, nổi bật nhất là các hiện vật vàng bởi vì vàng là loại hình hiện vật độc đáo trong văn hóa Óc Eo, đây là loại hiện vật không những có giá trị về kim loại quý mà còn có giá trị đặc biệt về mặt văn hóa, mỹ thuật, lịch sử và khảo cổ Qua các đợt nghiên cứu thăm dò, khai quật và sưu tầm thì cho đến nay, đã thu giữ được khoảng
400 hiện vật vàng các loại tại Khu di tích Gò Tháp, trong đó có 49 hiện vật vàng nguyên vẹn, có chạm khắc hình ảnh, được chế tác tinh xảo, đã được Tổ chức Kỷ lục
Việt Nam xác lập kỷ lục “Bộ sưu tập vàng Văn hóa Óc Eo - Gò Tháp nhiều nhất Việt
Trang 9Nam” Dưới góc nhìn văn hóa học, tác giả nhận thấy cần nên nghiên cứu chuyên sâu
hơn về các hiện vật này, cụ thể là các hiện vật vàng đã được phát hiện tại Khu di tích
Gò Tháp (Đồng Tháp), để góp phần làm rõ thêm giá trị văn hóa, nghệ thuật đặc biệt của nó
Đề tài nghiên cứu không những giúp chúng ta tìm hiểu văn hóa Óc Eo mà còn làm phong phú và làm sâu sắc thêm giá trị của các hiện vật vàng, đồng thời, qua
đó làm cơ sở giúp cho cơ quan chức năng đề ra những giải pháp bảo tồn, phát huy các di vật quý này và cũng góp phần góp thêm tư liệu cho việc xây dựng hồ sơ khoa học đệ trình UNESCO công nhận di sản văn hóa Óc Eo ở An Giang, Kiên Giang và Đồng Tháp là di sản văn hóa thế giới Với những lý do trên nên tác giả chọn đề tài
“Giá trị văn hóa, nghệ thuật hiện vật vàng tại Khu di tích Gò Tháp - Đồng Tháp
(Điển cứu các hiện vật vàng văn hóa Óc Eo)” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Thạc
sĩ chuyên ngành Văn hóa học
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, học viên mong muốn đạt được những mục đích sau: Trên cơ sở phân tích, đánh giá, phân loại các hiện vật bằng kim loại vàng thuộc nền văn hóa Óc Eo đã được các nhà khảo cổ học phát hiện trong quá trình khai quật và sưu tầm tại Khu di tích Gò Tháp (Đồng Tháp) từ những năm qua, qua đó, nhằm làm rõ những giá trị văn hóa, nghệ thuật của các hiện vật vàng đã thể hiện, đồng thời, đề xuất những biện pháp nhằm phát huy tối đa các giá trị của nó
3 Lịch sử nghiên cứu
Trong lịch sử nghiên cứu văn hóa Óc Eo tại Gò Tháp (Đồng Tháp), vào những năm 1869 – 1878, ông Silvestre - một thanh tra người Pháp, đã công bố việc phát hiện được một bánh xe bằng đá và dấu tích phần móng của một ngôi tháp cổ tại Gò Tháp
Từ đó, các nhà Khảo cổ học người Pháp bắt đầu chú ý tới lịch sử, văn hóa vùng đất này qua việc nghiên cứu các minh văn trên bia ký được tìm thấy tại nơi đây
Từ sau 1975 đến nay, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã khởi sự các chương trình điền dã - nghiên cứu lịch sử văn hóa vật chất vùng đất Nam Bộ, trong đó có Khu
di tích Gò Tháp ở Đồng Tháp Qua nhiều đợt thăm dò, khai quật tại Khu di tích Gò Tháp, cho đến nay, đã phát hiện được hàng trăm hiện vật vàng Các hiện vật vàng vừa nhiều về số lượng,vừa phong phú về hình dáng và nội dung nghệ thuật chạm khắc…
Trang 10phản ánh đậm nét về đời sống văn hóa vật chất và tinh thần, tín ngưỡng, tôn giáo của
cư dân Văn hóa Óc Eo thời bấy giờ Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu đầy đủ và toàn diện về giá trị văn hóa, lịch sử và khoa học của các hiện vật này Qua nghiên cứu tư liệu, ấn phẩm, học viên nhận thấy như sau:
Trước tiên là công trình nghiên cứu của Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn, Võ Sĩ
Khải – 1995) “Văn hóa Óc Eo những khám phá mới” Các tác giả đã thu thập và
thống kê các di tích và di vật trong văn hóa Óc Eo từ 1975 – 1993, riêng về hiện vật vàng, tác giả chủ yếu là thống kê và mô tả sơ lược, không đi sâu phân tích các giá trị văn hóa của chúng một cách toàn diện
Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa được công bố như: “Một số vấn đề về khảo cổ học ở miền Nam Việt Nam” (Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ
- 1997, 2004, 2008, 2011), “Khảo cổ học Long An những thế kỷ đầu Công nguyên” (Bảo tàng Long An – 2001), Khảo cổ học lịch sử Việt Nam, tập II (Hà Văn Tấn (chủ biên) – 2002), “Văn hóa đồng bằng Nam bộ – di tích kiến trúc cổ” (Võ Sĩ Khải – 2002), “Vương quốc Phù Nam – lịch sử và văn hóa” (Lương Ninh – 2005), “Nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở đồng bằng sông Cửu Long trước thế kỷ thứ X” (Lê Thị Liên – 2006), “Lịch sử hình thành và phát triển Vùng đất Nam bộ (từ khởi thủy đến năm 1945)” (Trần Đức Cường (chủ biên) – 2016), “Vùng đất Nam Bộ quá trình hình thành và phát triển” (Phan Huy Lê (chủ biên) – 2018); “Vùng đất Nam Bộ (tập
II – Từ cội nguồn đến thế kỷ thứ VII” (Vũ Minh Giang – Nguyễn Việt - 2017)…
Những ấn phẩm này đa phần là cung cấp một cách nhìn khái quát về nền văn hóa Óc
Eo cũng như vương quốc Phù Nam trên cơ sở các kết quả điền dã, khai quật khảo cổ trên thực địa và nghiên cứu thư tịch cổ Trung Quốc,… Những công bố kết quả này là
sự tổng hợp tư liệu đã có dưới dạng trình bày những khám phá mới từ kết quả khảo
cổ học; phục vụ đánh giá về tính chất của các di tích kiến trúc xây bằng gạch trong văn hóa Óc Eo, đồng thời trong các công trình cũng có nêu lên kết luận mới dựa trên nghiên các hiện vật bằng vàng nhưng chưa phản ánh đầy đủ, toàn diện về đời sống của cư dân Óc Eo
Công trình “Các nền văn hóa cổ Việt Nam (từ thời nguyên thủy đến thế kỷ 19”
(Hoàng Xuân Chinh - 2009) Trong phần thứ năm, chương mười tám “Hệ thống văn hóa Óc Eo”, tác giả có thống kê các hiện vật vàng của văn hóa Óc Eo như đồ trang
Trang 11sức, các lá vàng,… đã được phát hiện, trong đó có vàng Óc Eo của Khu di tích Gò Tháp Tác giả không có đề cập đến giá trị văn hóa hay nghệ thuật của từng hiện vật vàng này
Hay các công trình của Đặng Văn Thắng như: “Các tiểu quốc thuộc vương quốc Phù Nam ở Nam bộ” (2017); “Các trung tâm tôn giáo thuộc văn hóa Óc Eo ở Nam Bộ” (2017); “Khảo cổ học Óc Eo và Phù Nam” (2019); tác giả đã đi sâu nghiên
cứu về vương quốc Phù Nam, văn hóa Eo, trong đó có nghiên cứu, phân tích đánh giá phân loại một số các hiện vật vàng Óc Eo Gò Tháp để xác định lại tên gọi các di tích kiến trúc, và cũng để giới thiệu về đời sống cư dân Óc Eo tại các trung tâm tôn giáo thời bấy giờ, nhưng chưa thống kê, miêu tả và nêu rõ giá trị của tất cả các hiện vật vàng Óc Eo tại Gò Tháp
Đối với công trình nghiên cứu chuyên sâu về khảo cổ học như: Luận án Tiến
sĩ “Mộ táng trong văn hóa Óc Eo” (1995) của Đào Linh Côn Tác giả đã giới thiệu
khá chi tiết các hiện vật vàng tìm được trong các đợt khai quật khảo cổ tại Gò Tháp sau năm 1975, để chứng minh và làm rõ tính chất của các kiến trúc xây bằng gạch tìm được tại Gò Tháp, phục vụ cho đề tài nghiên cứu của tác giả mà chưa đi sâu vào nghiên cứu giá trị văn hóa, mỹ thuật vật chất và tinh thần của các hiện vật này đối với đời sống của người dân thời văn hóa Óc Eo;
Luận án Tiến sĩ “Đời sống văn hóa của cư dân Óc Eo ở Tây Nam bộ (qua tư liệu Khảo cổ học)” (2015) của Nguyễn Thị Song Thương đã tập hợp tư liệu một cách
có hệ thống về một vấn đề đặt ra trong nghiên cứu văn hóa Óc Eo, bước đầu cũng đã
có những nỗ lực so sánh tìm kiếm những tiến trình phát triển của nghệ thuật thời văn hóa Óc Eo Tuy vậy, tác giả chỉ mới đề cập đến hiện vật vàng tìm thấy ở Gò Tháp mà chưa có sự gắn kết giữa di vật này với giá trị văn hóa, nghệ thuật của chúng gắn với đời sống tinh thần của cộng đồng người dân Óc Eo
Luận văn Thạc sĩ của Phạm Thị Ngọc Thảo (2009): “Hiện vật vàng trong văn hóa Óc Eo ở miền Tây Nam bộ”, đã giới thiệu, phân loại và trình bày kỹ thuật chế
tác, chức năng sử dụng như làm đồ trang sức, vàng lá gắn với việc sử dụng trong tôn giáo là chính, chứ không nêu đầy đủ các giá trị văn hóa, mỹ thuật của các hiện vật vàng thuộc văn hóa Óc Eo ở Gò Tháp
Trang 12Đề tài nghiên cứu“Giá trị văn hóa Óc Eo ở Miền Tây Nam bộ (qua tư liệu hiện có)” do Đào Linh Côn và Lê Xuân Diệm thực hiện vào năm 2010 Đây là đề tài
khoa học cấp Bộ nhằm hệ thống lại tư liệu và cập nhật tương đối đầy đủ về các kết quả nghiên cứu về văn hóa Óc Eo từ sau ngày thống nhất đất nước năm 1975 Đề tài
đã có những nhận định và đánh giá mới về các di tích và di vật, cung cấp thêm nhiều
tư liệu liên quan đến đời sống vật chất và tinh thần của cư dân cổ Óc Eo, tuy nhiên
đề tài chỉ dừng lại ở việc hệ thống hóa tư liệu khảo cổ trong đó có các hiện vật vàng tìm được tại Gò Tháp Các tác giả chưa đi sâu nghiên cứu giá trị văn hóa, nghệ thuật đặc biệt của các hiện vật này
Đối với các bài chuyên khảo về văn hóa Óc Eo đã được công bố như: “Sự du nhập của tôn giáo, tín ngưỡng Ấn Độ vào văn hóa Óc Eo” của Đặng Văn Thắng;
“Trung tâm tôn giáo Óc Eo – Ba Thê” (Đặng Văn Thắng, Hà Thị Sương – 2013);
“Trung tâm tôn giáo Gò Tháp (Đồng Tháp)” (Đặng Văn Thắng, Võ Thị Huỳnh Như – 2012); “Óc Eo – Ba Thê trong vương quốc Phù Nam” (Đặng Văn Thắng – 2013);
“Thần Vishnu trong văn hóa Óc Eo” của Đặng Văn Thắng và Nguyễn Hữu Lý – 2015); “Đền thần ở Ấn Độ và trong văn hóa Óc Eo” (Đặng Văn Thắng – 2016); “Đền thần ở Gò Tháp (Đồng Tháp)” (Đặng Văn Thắng – 2016); … Các tác giả có đề cập
đến các hiện vật vàng Óc Eo của Gò Tháp, nhưng chỉ một phần, chưa thống kê đầy
đủ, toàn diện, để nói về đời sống văn hóa của cư dân văn hóa Óc Eo
Kỷ yếu hội thảo: “Văn hóa Óc Eo và các văn hóa cổ ở đồng bằng sông Cửu Long” (1984) Ấn phẩm tập hợp nhiều bài chuyên khảo của các nhà quản lý, nhà
chuyên môn về khảo cổ, về bảo tồn - bảo tàng, lịch sử, địa lý, trong đó có bài tham
luận: “Di tích Gò Tháp Mười (Đồng Tháp)” của tác giả Nguyễn Đắc Hiền đã giới
thiệu 187 hiện vật khảo cổ học thu thập được tại Gò Tháp, nhưng chưa có mô tả hay
đề cập đến nguồn gốc cũng như giá trị văn hóa của chúng
Đối với các bài chuyên khảo về văn hóa Óc Eo ở Khu di tích Gò Tháp như:
Bài nghiên cứu “Kiến trúc gạch ở Gò Tháp – Mộ táng hay đền? – The brick structures
of Go Thap – tombs or temple?(Anna Aleksandra Slaczka – Bulletin of the Indo–
Pacific Prehistory Association, vol 31, 2011), tác giả đã đưa ra nhiều bằng chứng (trong đó có sử dụng các hiện vật vàng lá) để bác bỏ nhận định cũ và nêu ra nhận định mới về tính xác thực là các đền thần Hindu mà trước đây được coi là mộ táng (ở Khu
Trang 13di tích Gò Tháp) Tác giả đã cung cấp cho người đọc một tiếp cận mới đối với tín ngưỡng, tôn giáo thời văn hóa Óc Eo ở Gò Tháp từ những hiện vật vàng lá tìm thấy trong các di tích kiến trúc được xây bằng gạch, để từ đó gợi mở ra những nghiên cứu mới về tín ngưỡng và tôn giáo thời văn hóa Óc Eo ở Nam bộ nói chung
Bài báo khoa học:“Hiện vật đặc biệt và bảo vật quốc gia ở di tích quốc gia đặc biệt Gò Tháp” trong sách “Nam bộ Đất và Người, tập XI” – 2016, của tác giả
Nguyễn Hữu Lý và Phùng Quốc Danh Các tác giả đã giới thiệu và phân loại sơ bộ
về bộ sưu tập 49 hiện vật vàng được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục “Bộ sưu tập vàng Văn hóa Óc Eo - Gò Tháp nhiều nhất Việt Nam” đang được gìn giữ tại
bảo tàng Đồng Tháp Tuy nhiên vẫn chưa đi sâu vào nghiên cứu, đánh giá các giá trị văn hóa của các hiện vật vàng này
Bài báo khoa học:“Vàng lá trong văn hóa Óc Eo” (2016), của tác giả Phạm
Thị Ngọc Thảo, đã giới thiệu, phân loại và trình bày kỹ thuật, chức năng của các hiện vật vàng lá, nêu mối quan hệ văn hóa giữa các hiện vật vàng trong văn hóa Óc Eo với các nền văn hóa đồng đại trong khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa thống kê, phân loại và nhận định đầy đủ các giá trị văn hóa của các hiện vật vàng thuộc văn hóa Óc Eo đang bảo quản tại bảo tàng Đồng Tháp
Tóm lại, qua tìm hiểu những nghiên cứu trên đây, các tác giả đã có những giới thiệu, miêu tả các hiện vật bằng vàng trong văn hóa Óc Eo nói chung trong đó
có một số hiện vật vàng ở Gò Tháp Tuy vậy, các nghiên cứu chưa có sự gắn kết giữa hiện vật vàng với nội hàm văn hóa của chúng, để từ đó tiến tới xác định những giá trị văn hóa và chức năng của hiện vật vàng gắn với đời sống tinh thần của cộng đồng người dân Óc Eo ở Khu di tích Gò Tháp nói riêng và cả Nam bộ nói chung
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu làm rõ các giá trị văn hóa, nghệ thuật của các hiện vật văn hóa Óc Eo bằng kim loại vàng đã được phát hiện tại Khu di tích Gò Tháp thông qua việc phân tích, xếp loại, so sánh, đánh giá
- Giới hạn phạm vi:
+ Chủ thể: Cư dân văn hóa Óc Eo – Phù Nam
Trang 14+ Không gian: Các hiện vật vàng văn hóa Óc Eo được phát hiện tại Khu di tích
Gò Tháp (Đồng Tháp)
+ Thời gian: Toàn bộ khoảng thời gian hình thành, vận động, tồn tại và phát triển của nền văn hóa Óc Eo (thế kỷ II BC đến thế kỷ VII), giai đoạn Hậu Óc Eo (thế
kỷ VII - XII)
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần vào sự nhận diện các giá trị chung của văn hóa Óc Eo ở Nam bộ, góp phần nghiên cứu lịch sử Việt Nam vào những thế kỷ đầu Công nguyên Thông qua nghiên cứu này, tác giả hy vọng sẽ góp thêm một phần
tư liệu làm rõ thêm các giá trị về đời sống văn hóa của cư dân Óc Eo và những giá trị nghệ thuật của nó thông qua nghiên cứu các hiện vật vàng
- Ý nghĩa thực tiễn: Đây là công trình có thể giúp cho công tác tuyên truyền, quảng bá những giá trị văn hóa vật chất từng tồn tại và phát triển rực rỡ một thời gian dài ở tỉnh Đồng Tháp; đồng thời làm cơ sở giúp cơ quan chức năng đưa ra những định hướng và giải pháp cụ thể trong việc giữ gìn, bảo tồn, bảo tàng và phát huy tối đa các giá trị của các hiện vật vàng đã được phát hiện tại Khu di tích Gò Tháp Bên cạnh đó, cũng góp thêm tư liệu cho việc xây dựng hồ sơ khoa học đệ trình UNESCO công nhận di sản văn hóa Óc Eo ở An Giang, Kiên Giang và Đồng Tháp là di sản văn hóa thế giới
6 Phương pháp nghiên cứu & nguồn tư liệu
- Về phương pháp nghiên cứu: Sử dụng các phương pháp nghiên cứu trong văn hóa học như phương pháp nghiên cứu so sánh, phương pháp logic, phương pháp định lượng, phương pháp hệ thống,… để tổng hợp, thống kê, phân tích, đối chiếu, kết nối các dữ liệu nhằm tìm ra những giá trị văn hóa mà các hiện vật vàng đã đem lại trong đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng cư dân Óc Eo
- Về lựa chọn các nguồn tư liệu phục vụ cho đề tài: Tham khảo tất cả những nguồn tài liệu đã được công bố trên sách, báo, tạp chí ở Việt Nam và thế giới; cùng với đó là khai thác một số nguồn tư liệu là các bản báo cáo kết quả khai quật ở các di tích văn hóa Óc Eo trong tỉnh Đồng Tháp của các nhà khảo cổ học; nghiên cứu bộ sưu tập hiện vật vàng thuộc văn hóa Óc Eo tìm được ở Gò Tháp
Trang 15- Cách tiếp cận: Tiếp cận bằng phương pháp văn hóa học, sử học, khảo cổ học,
… và một số phương pháp nghiên cứu khoa học có liên quan khác
7 Bố cục của luận văn
- Dẫn nhập
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Chương 2: Khảo sát các hiện vật vàng văn hóa Óc Eo được thu thập tại Khu
Trang 16CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm về giá trị
Thuật ngữ giá trị (value) bắt nguồn từ valere trong tiếng Latinh có nghĩa là khỏe mạnh, tốt, đáng giá Ban đầu thuật ngữ giá trị dùng để chỉ việc một thứ gì đó đáng giá để trao đổi trong kinh tế Dần về sau, thuật ngữ này có nhiều ý nghĩa khác nhau tùy vào góc độ tiếp cận và lĩnh vực nghiên cứu Đến nay, đã có nhiều khái niệm, định nghĩa về giá trị trong các từ điển và của các nhà triết học, xã hội học… trong từng lĩnh vực nghiên cứu của mình Trong từ điển tiếng Việt, thuật ngữ giá trị có các nghĩa như sau:
- Cái mà người ta dùng làm cơ sở để xét xem một vật có lợi ích tới mức nào đối với con người (thịt, trứng là những thức ăn có giá trị; Giá trị của một phát minh khoa học là thúc đẩy kỹ thuật tiến lên; Giá trị của một tác phẩm văn học)
- Cái mà người ta dựa vào để xét xem một người đáng quí đến mức nào về mặt đạo đức, trí tuệ, nghề nghiệp, tài năng (Giá trị của người lao động là năng suất lao động)
- Những quan niệm và thực tại về cái đẹp, sự thật, điều thiện của một xã hội (Ta vẫn duy trì những giá trị đạo đức của con người qua các thời đại)
- Tính chất qui ra được thành tiền của một vật trong quan hệ mua bán, đổi chác (Cái xe đã dùng hai năm, chỉ còn bảy chục phần trăm giá trị ban đầu)
- Độ lớn của một đại lượng, một lượng biến thiên (Giá trị dương; Giá trị âm)
Còn theo từ điển xã hội học Oxford do Gordon Marshall (chủ biên) ấn hành năm 1998, được nhóm tác giả Bùi Thế Cường biên dịch, trong đó, thuật ngữ giá trị (value) được thể hiện như sau: Từ này có vài nghĩa khác nhau:
Trang 17- Trong phân tích thống kê định lượng, giá trị là con số được quan sát trong một biến số cụ thể đối với một trường hợp riêng biệt, hoặc trong một tình trạng đặc thù, nó là một đại lượng bằng số
- Trong kinh tế học lý thuyết lao động về giá trị nói rằng hàng hóa được trao đổi theo lượng lao động kết tinh trong đó, còn lý thuyết Maxist về bóc lột cho rằng người thuê nhân công đã lấy ra một giá trị thặng dư và giữ mức trả công thấp bằng cách tạo ra một đội quân lao động dự trữ
- Trong nghiên cứu thái độ, giá trị là những ý kiến của mọi người về hành vi đạo đức hoặc hành vi phù hợp, về việc cái gì là đúng hoặc sai, là đáng khen hay đáng chê Theo cùng cách đó, các nhà triết học coi giá trị như là một phần của đạo đức học,
mỹ học và triết học chính trị (tr.202)
Còn theo nhà triết học và logic học người Đức Robert S Harman 1973) thì bản chất của giá trị là sự tồn tại có mục đích Toàn bộ các giá trị đều xuất phát từ việc xác định mục đích, thực hiện mục đích và gắn liền với các chuẩn mực do mục đích đặt ra Hay nhà triết học người Anh G Edward Moore (1873-1958) định nghĩa về giá trị như sau: “Nói một loại giá trị của vật thể nào đó là giá trị “nội tại” đơn giản có nghĩa là vật thể ấy có giá trị ấy và có đến mức độ nào là thuộc về bản chất nội tại của sự vật ấy” (Trần Ngọc Thêm, 2013, tr.91)
(1910-Qua đó, cho thấy tùy theo góc độ tiếp cận, trong từng lĩnh vực khác nhau, mà mỗi nhà khoa học có khái niệm hay định nghĩa riêng biệt Tác giả với góc độ tiếp cận văn hóa, Do đó, xem xét giá trị gắn với giá trị văn hóa, là do con người sáng tạo ra, đối lập với giá trị tự nhiên và bao gồm cả giá trị vật chất lẫn giá trị tinh thần Giá trị văn hóa được hình thành từ quá trình lao động sáng tạo trong hoạt động thực tiễn của mỗi cộng đồng; và lao động của cộng đồng đó cũng phải được tương tác với với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nhất định mà cộng đồng đó đang sống, đồng thời giá trị văn hóa cũng phải hướng đến những nhu cầu và khát vọng cuộc sống tốt đẹp của toàn bộ người dân cộng đồng xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định
Trang 181.1.2 Khái niệm về văn hóa
Văn hóa, từ nguyên trong tiếng Latinh là cultura có nghĩa là trồng trọt, chăm sóc đồng ruộng hoặc súc vật Thuật ngữ văn hóa dần được phát triển theo tiến trình lịch sử, không chỉ mang ý nghĩa thuộc về vật chất, mà còn mang ý nghĩa về tinh thần Văn hóa dần trở thành một ngành khoa học chuyên nghiên cứu về các lĩnh vực thuộc phạm trù văn hóa Từ trước đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa
và tùy theo cách tiếp cận của các nhà khoa học ở những lĩnh vực khác nhau để đưa ra khái niệm hay định nghĩa văn hóa như nhà thư viện học Đức Gustav Klemm đề xuất khái niệm khoa học về văn hóa (Kulturwissenschaft), trình bày sự phát triển của loài người như một lịch sử văn hóa Hay Edward Tylor (1832-1917), một nhà nhân chủng học người Anh, đã định nghĩa văn hóa trong tác phẩm Primitive Culture với thuyết tiến hóa luận; hoặc Leslie White (1900-1975), là một nhà nhân chủng học người Mỹ, với các công trình như: The Science of Culture (1949), The Evolution of Culture (1959), The Concept of Culture (1973),… Ở Anh, Bronislaw Malinowsky (1884-1942), nhà nhân học Anh gốc Ba Lan, với A Scientific Theory of Culture and Others Essays (1944): Thuyết nhu cầu văn hóa và chức năng luận,…
Và định nghĩa đầu tiên về văn hóa được cho là của nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor Ông đã định nghĩa về văn trong công trình “Primitive Culture” (năm 1871) như sau: “Văn hóa hay văn minh, hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội"
Từ lúc cho là định nghĩa đầu tiên về văn hóa, đến nay, đã có rất nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau về văn hóa của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học ở Việt Nam cũng như trên thế giới Mỗi khái niệm, định nghĩa đều đề cập đến những lĩnh vực nghiên cứu khác nhau Riêng bản thân tác giả, từ góc độ tiếp cận, mục đích, lĩnh vực và hướng nghiên cứu của mình, tôi nhận thấy định nghĩa về văn hóa của tác giả Trần Ngọc Thêm phù hợp cho việc thực hiện đề tài luận văn này Tác giả Trần Ngọc Thêm (1999) cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.” (tr.10)
Trang 19Con người là chủ thể văn hóa Văn hóa là thành quả của con người đạt được qua quá trình tương tác với môi trường tự nhiên Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người Văn hóa là hoạt động của con người vừa để xây dựng bản thân mình, vừa cải tại tự nhiên xây dựng môi trường sống Văn hóa như một hệ thống thường được phân biệt theo hai dạng: Văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Trong
đó, Văn hóa vật chất gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất vật chất của con người tạo ra như thức ăn, trang phục, nhà cửa, phương tiện di chuyển, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, công cụ sản xuất,… Văn hóa tinh thần bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất tinh thần của con người tạo ra như tín ngưỡng, tôn giáo, nghệ thuật, ngôn ngữ, đạo đức, phong tục, tư tưởng,…
1.1.3 Khái niệm về nghệ thuật
Thuật ngữ “nghệ thuật” trong từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (2004) được định nghĩa như sau:
- Là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt dùng hình tượng sinh động, cụ thể
và gợi cảm để phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng, tình cảm
- Là phương thức, phương pháp giàu tính sáng tạo
Khái niệm nghệ thuật thường không thể hiện trực tiếp ở các định nghĩa riêng
lẻ mà được thể hiện một cách gián tiếp thông qua những phạm trù cơ bản
Thời cổ đại, người ta chia nghệ thuật ra thành hai loại hình cơ bản: văn chương, logic, hùng biện, số học, hình học, âm nhạc, thiên văn liên quan đến hoạt động trí óc được coi là nghệ thuật “khai phóng”, còn các loại hình hoạt động mang tính kỹ thuật liên quan đến hoạt động cơ bắp như kiến trúc, nông nghiệp, hội họa, điêu khắc, và các nghề thủ công được gọi là nghệ thuật “lao dịch”
Cho đến cuối thế kỷ XVIII, khái niệm “nghệ thuật” được sử dụng rất rộng rãi chỉ mọi hình thức kỹ năng của con người và tất cả những gì mà con người tạo ra bằng tài nghệ khéo léo Nhà kinh tế học người Scotland, Adam Smith, đã liệt kê một danh sách dài các nghệ thuật trong đó có nghệ thuật kinh doanh, nghệ thuật sản xuất của cải vật chất v v… Sau đó, thuật ngữ nghệ thuật bắt đầu được dùng chủ yếu để chỉ một số những loại hình hoạt động của con người mà người ta gọi là “nghệ thuật tạo
Trang 20hình” như: kiến trúc, điêu khắc, hội họa, nhiếp ảnh… Nghệ thuật thường gắn với tác phẩm nghệ thuật
Như vậy khái niệm nghệ thuật luôn chỉ sự hoạt động cấp cao của con người
và bao giờ cũng được hiểu theo hai nghĩa:
Nghĩa rộng: Nghệ thuật là những kỹ xảo, kỹ năng, sự tinh tế và tài nghệ, là phương thức, phương pháp giàu tính sáng tạo của con người trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống
Nghĩa hẹp: Là một lĩnh vực hoạt động sáng tạo ra cái đẹp bằng hình tượng sinh động cụ thể và gợi cảm biểu hiện một cách tinh tế các quan hệ thẩm mỹ của con người trong đời sống xã hội
Riêng tác giả nhận thấy quan điểm về nghệ thuật của chủ nghĩa Mác – Lênin
là phù hợp với nội dung nhằm thực hiện tốt đề tài nghiên cứu của mình Đó là, nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội đặc thù phản ánh tồn tại xã hội bằng các hoạt động sáng tạo thẩm mỹ của con người Theo Lênin, tác phẩm văn học, nghệ thuật là hình ảnh chủ quan (của nghệ sĩ) về thế giới khách quan Tác phẩm nghệ thuật là sự phản ánh đời sống thông qua con mắt nhận thức của tác giả (gồm thế giới quan, nhân sinh quan, vốn sống, thái độ đối với đời sống) Đó là sự phản ánh có tính thẩm mỹ nghệ thuật, thể hiện tư tưởng tình cảm, khát vọng và tài năng sáng tạo của nhà nghệ
sĩ
1.1.4 Mối quan hệ giữa văn hóa và nghệ thuật
Nghệ thuật là những kỹ xảo, kỹ năng, sự tinh tế và tài nghệ, là phương thức, phương pháp giàu tính sáng tạo của con người trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống;
là sự phản ánh có tính thẩm mỹ nghệ thuật, thể hiện tư tưởng tình cảm, khát vọng và tài năng sáng tạo của nhà nghệ sĩ Trong cuộc sống thường nghệ thuật được biểu hiện
là cái đẹp, cái thẩm mỹ Bên cạnh đó, nghệ thuật không chỉ gắn liền với cái đẹp, mà còn là nơi con người gửi gắm tâm tư, tình cảm của mình Nghệ thuật cũng phản ánh
sự phát triển và tiến hóa của loài người Nghệ thuật có các đặc trưng cơ bản như tính lịch sử; tính hiện thực và chân thực; tính dân tộc; tính phổ quát
Trang 21Còn văn hóa là thành quả của con người đạt được qua quá trình tương tác với môi trường tự nhiên; là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người; là hoạt động của con người vừa để xây dựng bản thân mình, vừa cải tại tự nhiên xây dựng môi trường sống Văn hóa như một hệ thống bao gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Con người sáng tạo ra văn hóa là do có nhu cầu Theo tháp nhu cầu của Maslow thì có: Nhu cầu cơ bản như: sinh lý + sinh học và an toàn; Nhu cầu nâng cao: Tình cảm + người thân; được quý trọng; tự thể hiện Nhu cầu văn hóa quy định mục đích của văn hóa là duy trì và nâng cao một cách ổn định chất lượng cuộc sống Mục đích cao nhất của văn hóa là đem lại hạnh phúc cho con người, cũng là hướng đến cái chân – thiện – Mỹ
Vì vậy, nghệ thuật và văn hóa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nghệ thuật luôn gắn chặt với các giá trị văn hóa Văn hóa và nghệ thuật cùng tồn tại và tác động lẫn nhau
Văn hóa là thành quả trong mọi hoạt động của con người nên nghệ thuật cũng
sẽ chịu ảnh hưởng của văn hóa và trở thành một bộ phận của văn hóa Nghệ thuật là một trong những thành tố cơ bản, một bộ phận không thể tách rời của văn hóa Nghệ thuật có thể được xem là một công cụ chuyển tải những giá trị về mặt tinh thần của con người Nghệ thuật cũng có tính dân tộc Mỗi dân tộc khác nhau sẽ tạo ra một hệ giá trị khác nhau Do đó, nghệ thuật được xem là cầu nối trong việc giới thiệu, giao lưu văn hóa của các dân tộc khác nhau Văn hóa khác nhau thì nghệ thuật cũng khác nhau Nghệ thuật phản ánh lịch sử cũng như đời sống văn hóa của dân tộc đó Nghệ thuật do con người tạo ra nhằm phục vụ đời sống tinh thần của con người Nghệ thuật tiến bộ giúp cho văn hóa phát triển và làm phong phú cho nền văn hóa tạo nên bản sắc cho mỗi quốc gia, dân tộc
Nghệ thuật vừa là một bộ phận cốt lõi của văn hóa, chịu sự chi phối ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa, vừa là một trong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa văn hoá là nơi cung cấp nguồn cảm hứng bất tận cho nghệ thuật từ những
sự vật, hiện tượng tồn tại trong cuộc sống điều có thể là đề tài để cho nghệ thuật có thể sáng tạo và thể hiện lại dưới cái nhìn hoàn toàn mới, các giá trị văn hoá đều được thể hiện một cách mới lạ hơn và dễ được đón nhận hơn Cũng chính văn hoá là cái nôi để nghệ thuật ra đời và phát triển, đồng thời cũng là công cụ đưa nghệ thuật đến
Trang 22gần với con người hơn Những chủ thể sáng tạo nghệ thuật luôn phải đặt mình trong khuôn khổ văn hóa nơi mình sinh sống để cho ra đời những thành quả phù hợp, không
đi ngược lại với nền văn hóa ấy Họ là những người phải am hiểu văn hóa, nhìn vào bức tranh văn hóa mà hành động Nghệ thuật dù mang tính sáng tạo và cái tôi cá nhân cao vẫn phải tuân thủ theo các giá trị văn hóa cộng đồng nhằm giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc
Nghệ thuật còn được xem là công cụ của văn hóa Mỗi nền văn hóa muốn phát triển thì cần phải có những tiềm năng, những thành tựu mang nét đặc trưng nhất Nghệ thuật bao gồm tất cả những lĩnh vực từ kiến trúc, điêu khắc, hội họa, ca hát và điện ảnh Đó là tất cả những yếu tố mà nền văn hóa nào cũng nhất thiết phải có Để khắc họa một cách thành công đem lại sự chú ý của các nền văn hóa khác thì nghệ thuật chính là một công cụ, một bàn đạp tốt nhất để thể hiện mà những điều văn hóa cần đưa ra bên ngoài để cho mọi người hiểu sâu hơn về một nét văn hóa nào đó của dân tộc mình
Tóm lại, nghệ thuật và văn hóa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại và tác động lẫn nhau
1.1.5 Mối quan hệ giữa ngành khảo cổ và văn hóa học
Khảo cổ học là ngành khoa học lịch sử nghiên cứu các hoạt động của con người trong quá khứ qua các di tích, di vật nhằm làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến lịch sử và văn hóa của con người trong quá khứ Còn văn hóa học là ngành khoa học nghiên cứu các giá trị vật chất và tinh thần của con người
Văn hóa học và khảo cổ học là hai ngành khoa học gắn bó mật thiết với nhau, vừa bổ sung cho nhau để làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến lối sống, hoạt động của con người trong quá khứ và cả hiện tại
Khi nghiên cứu về một nền văn hóa trong quá khứ, ngoài tiếp cận các sử liệu thành văn thì không thể không sử dụng các tài liệu của ngành Khảo cổ học Các tài liệu này chính là di tích hay di vật khảo cổ tìm được trong quá trình thăm dò, khai quật khảo cổ học Từ việc tiếp cận, nghiên cứu di tích, di vật sẽ đem lại những thông tin quý giá, là tiếng nói trực tiếp của quá khứ về đời sống vật chất và tinh thần của cư
Trang 23dân sáng tạo ra nó bao gồm: các hoạt động sống như ăn uống, đi lại, cách khai thác
tự nhiên phục vụ cho đời sống của con người trong quá khứ,… Những nhận thức này cái nhìn cụ thể, chính xác và thuyết phục nhất văn hóa, bổ sung và minh chứng cho những tài liệu chữ viết vốn rất ít ỏi và không thể hiện đầy đủ về văn hóa
Đối với đề tài “giá trị văn hóa, nghệ thuật hiện vật vàng tại khu di tích Gò Tháp – Đồng Tháp (điển cứu các hiện vật vàng văn hóa Óc Eo)” thì nguồn tư liệu từ khảo cổ học là hết sức quan trọng và cần thiết giữ vai trò chủ yếu Thông qua các nghiên cứu đã công bố, cũng như các báo cáo kết quả khai quật, các hiện vật vàng tìm được trong các đợt khai quật khảo cổ tại khu di tích Gò Tháp, chúng tôi sẽ tiếp cận đầy đủ tài liệu về khảo cổ học để làm rõ các giá trị về văn hóa, nghệ thuật của cư dân cổ thời văn hóa Óc Eo ở Gò Tháp – Đồng Tháp
1.1.6 Về văn hóa Óc Eo
Văn hóa Óc Eo là một nền văn hóa cổ được đặt tên theo một địa điểm phát hiện các di tích cứu đầu tiên Địa điểm đó ngày nay là ở cánh đồng Óc Eo - Ba Thê, thuộc thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, do nhà khảo cổ học người Pháp Louis Malleret tìm thấy và công bố rộng rãi vào năm 1944 Văn hóa Óc Eo có phạm vi phân bố rộng khắp vùng Nam Bộ và lan rộng đến phía Nam Tây Nguyên (Cát Tiên - Lâm Đồng) Văn hóa Óc Eo ở Nam Bộ có ba giai đoạn phát triển gồm giai đoạn Óc Eo sớm, giai đoạn Óc Eo phát triển và giai đoạn hậu Óc Eo, có niên đại
từ thế kỷ thứ II B.C đến thế kỷ thứ XII A.D
Văn hóa Óc Eo chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, ảnh hưởng hầu hết các hoạt động đời sống xã hội, trong đó thể hiện rõ ràng nhất là về tín ngưỡng và tôn giáo Đỉnh cao của nền văn hóa này chính sự ra đời, một quốc gia cổ, được tồn tại và phát triển lâu dài trong lịch sử Đông Nam Á, đó là Vương quốc Phù Nam - một quốc gia ven biển (tồn tại từ thế kỷ I đến thế kỷ VII A.D) Vương quốc Phù Nam là một đất nước sùng đạo, phát triển thịnh vượng và đã từng chi phối con đường giao thương trên biển Điều đó đã được ghi chép sớm nhất và nhiều nhất trong các thư tịch cổ của Trung Hoa
Trang 241.1.7 Khái niệm di sản văn hóa
Theo Luật di sản văn hóa số 28/2001/QH10 ngày 29 tháng 6 năm 2001 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2002, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 32/2009/QH12 ngày 18 tháng 6 năm 2009 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật di sản văn hóa, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010, thì Di
sản văn hóa được hiểu như sau: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể
và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Di sản văn hóa vật thể tồn tại dưới dạng công trình, địa điểm, di vật, cổ vật
là kết tinh của trí tuệ, tài năng của những người thợ thủ công qua nhiều thời đại, còn
di sản văn hóa phi vật thể lại là cái vô hình, tiềm ẩn trong trí nhớ và được biểu hiện thông qua hành vi và các kỹ năng, bí quyết do nghệ nhân nắm giữ – chủ thể sáng tạo
di sản, di sản đó được lưu truyền lại bằng hình thức truyền miệng, truyền nghề thông qua thực hành, trình diễn
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Quá trình hình thành, phát triển và suy tàn của văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam ở Nam Bộ
1.2.1.1 Văn hoá Óc Eo ở Nam Bộ
Văn hóa Óc Eo là một nền văn hóa cổ được đặt tên theo một địa điểm phát hiện các di tích cứu đầu tiên Địa điểm đó ngày nay là ở cánh đồng Óc Eo – Ba Thê, thuộc thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, do nhà khảo cổ học người Pháp Louis Malleret tìm thấy và công bố rộng rãi vào năm 1944 Văn hóa Óc Eo và hậu Óc Eo có phạm vi phân bố rộng khắp vùng Nam Bộ và lan rộng đến phía Nam Tây Nguyên (Cát Tiên – Lâm Đồng) có niên đại từ thế kỷ thứ II B.C đến thế kỷ thứ XII A.D
Văn hóa Óc Eo chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, ảnh hưởng hầu hết các hoạt động đời sống xã hội, trong đó thể hiện rõ ràng nhất là về tín ngưỡng và tôn giáo Đỉnh cao của nền văn hóa này chính sự ra đời, một quốc gia cổ, được tồn tại và phát triển lâu dài trong lịch sử Đông Nam Á, đó là Vương quốc Phù Nam – một quốc
Trang 25gia ven biển (tồn tại từ thế kỷ I đến thế kỷ VII A.D) Vương quốc Phù Nam là một đất nước sùng đạo, phát triển thịnh vượng và đã từng chi phối con đường giao thương trên biển Điều đó đã được ghi chép sớm nhất và nhiều nhất trong các thư tịch cổ của Trung Hoa
Việc phát hiện về sự tồn tại của nền văn hóa cổ này đã được người Pháp biết đến từ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX Sau khi đất nước thống nhất (năm 1975), hàng loạt cuộc khai quật khảo cổ được tiến hành bởi các nhà khảo cổ học Việt Nam đã làm sáng tỏ thêm nhiều vấn đề mới mẻ Quá trình nghiên cứu sau này tuy không liên tục về thời gian, nhưng có thể khái quát những giai đoạn chính như trong phần lịch sử nghiên cứu vấn đề chúng tôi đã nêu ở phần trên Đó là một quá trình nghiên cứu nghiêm túc, đầy trách nhiệm của các nhà khoa học cả lý thuyết lẫn thực tiễn Qua quá trình khai quật khảo cổ ở nhiều nơi như: Di tích Nền Chùa (Kiên Giang), Di tích Óc Eo – Ba Thê (An Giang), Khu di tích Gò Tháp (Đồng Tháp), di tích Cây Gáo (Đồng Nai), Khu di tích Lưu Cừ (Trà Vinh), Khu di tích Bình Tả – Gò Xoài (Long An), Khu di tích Gò Thành (Tiền Giang), Khu di tích Cát Tiên (Lâm Đồng),… đã phát hiện được rất nhiều loại hình di tích gồm: Di tích kiến trúc tín ngưỡng, di tích tôn giáo, di tích cư trú, đường đi, ao thần, giếng thần, Cùng với việc phát hiện di tích kiến trúc thì các nhà khảo cổ cũng đã phát hiện hàng chục ngàn hiện vật, trong số đó còn nhiều hiện vật khá nguyên vẹn được làm làm bằng nhiều loại chất liệu khác nhau như: gốm, gỗ, thủy tinh, đá, vàng, bạc chì, thiết, những hiện vật này đang được bảo quản và trưng bày trong các bảo tàng địa phương
ở các tỉnh/thành Nam bộ Những hiện vật này là những chứng tích vô cùng giá trị chứng minh có sự giao lưu, tiếp biến sâu đậm giữa văn hóa Óc Eo và văn hóa Ấn
Độ
Như vậy, hơn một trăm năm phát hiện, ghi nhận và nghiên cứu về văn hóa
Óc Eo, đến nay nền văn hóa này cơ bản đã được nhận diện khá đầy đủ Những đặc trưng của văn hóa Óc Eo đã dần được làm rõ trên nhiều mặt như: bình diện phân bố, loại hình di tích, đặc trưng vật chất, tinh thần các di tích và di vật, qua các đề tài nghiên cứu, công trình khoa học được công bố, cũng như các báo cáo khoa học sau khi khai quật từng Khu di tích cho phép nhiều nhà nghiên cứu, trong đó có Lương Chánh Tòng (2016) nhận định rằng, văn hóa Óc Eo được hình thành từ nhiều
Trang 26cụm/nhóm di tích, từ nhiều tuyến và bước đầu phác họa ra các con đường tiền Óc Eo phát triển thành văn hóa Óc Eo từ cơ sở bản địa như sau:
– Nhóm di tích thuộc lưu vực sông Mê Kông: gồm các di tích phân bố chủ
yếu trên địa bàn tỉnh An Giang như Gò Cây Tung, Gò Tư Trăm, và Giồng Nổi (Bến Tre),
– Nhóm di tích thuộc lưu vực sông Vàm Cỏ: gồm các di tích phân bố ở tỉnh
Long An như Gò Ô Chùa, Gò Cao Su, Lò Gạch, Gò Hàng, Gò Đế,
– Nhóm di tích thuộc ven biển Đông Nam bộ: gồm các di tích Giồng Cá Vồ
Giồng Phệt và Giồng Am ở vùng ngập mặn ven biển huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh (tr.135)
Những nghiên cứu về niên đại học dựa trên các so sánh đối chiếu tư liệu gốm, các phân tích C14, nội dung các minh văn Phù Nam, … cũng chỉ ra được rằng: Văn hóa Óc Eo là một nền văn hóa cổ ở Nam bộ có niên đại kéo dài từ thế kỷ II B.C đến thế kỷ XII A.D Từ đó, Đặng Văn Thắng (2013) cho rằng: “Văn hóa Óc Eo được
các nhà khảo cổ học phân kỳ như sau: giai đoạn sớm (thế kỷ II B.C – II A.D), giai đoạn phát triển (thế kỷ III – VI) và giai đoạn muộn (thế kỷ VII – XII)” (tr.243)
Đây là những thành công lớn của các nhà khảo cổ học Việt Nam được thực hiện từ những kết quả nghiên cứu nghiêm túc, những chuyến đi điền dã khó khăn, thăm dò và khai quật trên diện hẹp lẫn diện rộng Mặt khác việc xác định được khung niên đại và phân kỳ văn hóa Óc Eo là việc làm có ý nghĩa hết sức to lớn, nó cung cấp tương đối đầy đủ những dữ liệu ban đầu cho những nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa Óc Eo, trong đó có việc nghiên cứu quá trình hình thành, tồn tại, phát triển, và biến mất trước nhất là về mặt tín ngưỡng và tôn giáo của văn hóa Óc Eo
1.2.1.2 Quá trình hình thành, phát triển và suy tàn vương quốc Phù Nam
Nước Phù Nam là một quốc gia cổ trong lịch sử Đông Nam Á, tồn tại từ thế
kỷ thứ I đến đầu thế kỷ thứ VII Sự ra đời của nhà nước Phù Nam gắn với huyền thoại lập nước Phù Nam, huyền thoại này được các sách cổ Trung Hoa như Tấn thư, Nam
Tề thư, Lương thư ghi gần giống như nhau (theo các thư tịch đó thì nước Phù Nam được người Trung Hoa ghi chép đầu tiên vào khoảng thế kỷ III, bắt đầu từ chuyến
Trang 27thăm của hai vị sứ thần là Khang Thái và Chu Ứng tới vương quốc họ gọi là Phù Nam) Đại ý huyền thoại nói rằng có một người từ Ấn Độ có tên là Hỗn Điền trong lúc nằm ngủ được một vị đến thần báo mộng, khi tỉnh dậy, ông liền nhặt được cây cung ở dưới gốc cây và lên thuyền lớn hướng ra biển khơi Thuyền của ông đã đi đến vùng biển Phù Nam Lúc này, nước Phù Nam đặt dưới sự cai trị của một nữ hoàng có tên là Liễu Diệp Khi thấy thuyền của Hỗn Điền đến, Liễu Diệp cho quân ra chống lại, Hỗn Điền liền giương cung bắn, mũi tên xuyên qua mạn thuyền của Liễu Diệp, Liễu Diệp sợ quá liền xin hàng Sau đó, Hỗn Điền cưới Liễu Diệp làm vợ Hỗn Điền được tôn làm vua trị vì nước Phù Nam
Trong quyển “Lịch sử và văn hóa Việt Nam – tiếp cận bộ phận” của Phan
Huy Lê (2007), tác giả đã nêu lại phổ hệ các vua Phù Nam như sau:
1 Liễu Diệp (Diệp Liễu)
(Soma = Mặt Trăng)
?–? Bị Hỗn Điền thu phục và cưới làm vợ
2 Hỗn Điền/ Hổn Hội
(Kaundinya)
?–? Có thể từ Ấn Độ hay bán đảo Mã Lai đến
Phân chia cho các con “làm vua/vương 7 ấp”
220–225 Phạm Man tự xưng “Phù Nam Đại vương”,
chiếm được hơn 10 nước, ‘mở rộng đất đai đến năm sáu nghìn dặm”
6 Phạm Kim Sinh ?
7 Phạm Chiên/Phạm
Mộ
225–250 Đoạt ngôi của Phạm Kim Sinh Là vua Phù
Nam đầu tiên thông hiếu với Trung Hoa
Trang 289 Phạm Tầm 250–287 Tiếp Khang Thái và Chu Ứng, nhiều lần sai
sứ sang cống nhà Tấn, mở rộng giao thương trên biển
10 Thiên Trúc Chiên
Đàn (Chandan/
Chandran)
287–? Là người Ấn Độ, thuộc dòng tộc Kushana,
bị Gupta Vasudeva giành ngôi
11 Kiều Trần Như
(Kaundinya II)
?–? Là người Bà La Môn ở Ấn Độ Kiều Trần
Như “thay đổi pháp chế trong nước theo như quy chế của Thiên Trúc”
470–513 Được vua Lương (502–557) phong chức
“An Nam tướng quân Phù Nam vương”
Buôn bán với Quảng Đông, cử nhà sư Nagasena sang Trung Quốc
Lương Ninh (2006) đã dẫn theo Lương thư biên soạn vào thời Trinh Quán
nhà Đường như sau: “Nước Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam, trong vịnh lớn phía Tây của biển, cách Nhật Nam có đến 7000 lí, cách Lâm Ấp ở phía Tây Nam hơn
Trang 293000 lí Thành cách biển 500 lí, có sông lớn rộng 10 lý từ Tây Bắc chảy sang Đông nhập vào biển…” (tr.178)
Bên cạnh các thư tịch cổ của Trung Hoa, công tác nghiên cứu, khai quật các địa điểm di tích liên quan đến văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam từ đầu thế kỷ
XX của các học giả người Pháp cũng làm sáng tỏ vị trí địa lý của Phù Nam Đơn cử một số ý kiến như của E Aymonier cho rằng Phù Nam là một từ gốc Khmer, là Phnôm Pênh và lãnh thổ Fu Nan (Phù Nam) bao gồm Chenla (Chân Lạp) mở rộng ra cả Việt Nam, Thái Lan và vùng chung quanh (Phan Huy Lê 2008: 235) Paul Pelliot thì cho rằng Phù Nam ở phía nam trên hạ lưu sông Mê Kông G Cœdès thì cho rằng trung tâm của Phù Nam là hạ lưu sông Mê Kông, nhưng lãnh thổ bao gồm cả Nam Trung
Bộ, trung lưu sông Mê Kông và phần lớn lưu vực sông Ménam, bán đảo Mã Lai (Phan Huy Lê, 2008, tr.236)
Bên cạnh những ý kiến trên, những nghiên cứu mới về Phù Nam cho thấy vương quốc này là một tập hợp của các tiểu quốc, như Kurumbanagara và Naravarnagara mà địa bàn ban đầu của hai tiểu quốc là miền Tây sông Hậu qua đến một phần đất Campuchia ngày nay Trong thời kỳ thịnh vượng của mình, cương vực của Phù Nam mở rộng hầu khắp vùng hạ lưu và trung lưu sông Mê Kông, trải dài sang vùng hạ lưu sông Ménam, xuống đến một phần bán đảo Mã Lai
Về Kinh tế, tác giả Lương Ninh (2006) cũng trích dẫn các thư tịch cổ Trung
Quốc cho biết như sau:
Tân Đường thư biên soạn vào thời Nhà Tống cho biết: “Phù Nam… Ruộng
gieo cấy 1 năm thì hái gặt 3 năm Nước sản xuất kim cương, giống như loại thạch anh màu tía, sinh ra ở đáy nước và trên tảng đá Người lặn xuống dưới nước để lấy lên Có thể khắc làm ngọc Lấy sừng dê đen để nạm ngọc vào” (tr.187–188)
Lương thư: “Nước Phù Nam…sản xuất vàng bạc, đồng, thiếc, trầm hương, mộc hương, ngà voi, chim công lông biếc, anh vũ năm sắc” (tr.178)
Về Văn hóa – Xã hội, tác giả Lương Ninh (2006) cũng trích dẫn các thư tịch
cổ Trung Quốc cho biết như sau:
Trang 30Theo Lương thư: “Phong tục dân nước Phù Nam xưa vốn ở truồng, bới xõa tóc, không may quần áo, tôn một người con gái lên làm vua hiệu là Liễu Diệp,… Phía Nam nước Phù Nam có người đàn ông thờ quỷ thần tên là Hỗn Điền nằm mộng thấy thần ban cho cây cung, theo thuyền buôn ra biển … Hỗn Điền thức dậy liền đến miếu
và tìm được cây cung dưới gốc cây thần …., cưỡi thuyền ra biển rồi đến ấp ngoại của nước Phù Nam … Liễu Diệp rất sợ hãi, đem dân chúng hàng Hỗn Điền Hỗn Điền liền dạy cho Liễu Diệp khoét vải luồn qua đầu, thân hình không còn trần truồng nữa, rồi cai trị nước Phù Nam, lấy Liễu Diệp làm vợ, sinh con trai, phân cho làm vương 7 ấp… Dân trong nước dùng chuối, mía, rùa, chim làm lễ vật… Người nước đó ở trần, chỉ có phụ nữ mặc áo chui đầu…Phong tục thờ thiên thần Dùng đồ đồng đúc tượng thiên thần, tượng 2 mặt 4 tay, tượng 4 mặt 8 tay Các tay đều cầm đứa bé, hoặc chim, thú, hoặc hình Mặt Trời, Mặt Trăng Vua nước đó khi đi lại đều cưỡi voi, các cung tần thị nữ cũng đều như vậy
Phong tục xứ đó, khi để tang thì cắt tóc, cạo râu Đối với người chết có 4 cách tống táng: thủy táng tức ném thi hài xuống dòng sông Hỏa táng tức thiêu xác
ra tro Thổ táng tức chôn xuống đất Điểu táng tức bỏ xác ngoài đồng (cho chim ăn)…” (tr.178–183)
Theo Tân Đường thư: “Phù Nam… Dùng lá tre để lợp nhà Lúc vua ra ngoài thì cưỡi voi Người nước đó da đen, bới tóc, đi chân đất Phong tục, không có trộm cướp,
Người bản xứ thích chọi gà, đấu lợn, dùng vàng, châu ngọc, hương liệu để nộp thuế (Vua) cai trị ở thành Đặc Mục, bỗng chốc bị Chân Lạp xâm chiếm, lại càng
di chuyển sâu về phía Nam đến thành Na Phất Na
Còn theo Nam Tề thư: “Dân cũng làm nhà gác để ở, làm thuyền dài 8, 9 trượng, đục rộng 6, 7 thước, đầu mũi và đuôi là giống như (đầu đuôi) cá… (Dân) lấy việc chọi gà, đấu lợn làm trò vui Trong nước không có nhà tù ngục” (tr.176)
………
Những ghi chép trên cho chúng ta thấy rằng vương quốc Phù Nam có một hệ thống chính trị văn hóa – xã hội, kinh tế giai đoạn đầu khá phát triển, nhưng từ cuối thế kỷ VI, Phù Nam bị suy yếu dần và bị Châm Lạp một thuộc quốc tấn công rồi xâm
Trang 31chiếm Sau khi rút về phía nam, giữ thành Na Phất Na (Naravaranaraga, có thể là vùng đô thị – cảng Ba Thê – Óc Eo) và cầm cự một thời gian, đến đầu thế kỷ VII thì chấm dứt sự tồn tại của nước Phù Nam (Phan Huy Lê, 2007, tr.195)
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự suy yếu và sụp đổ của nhà nước vương quốc Phù Nam đã được các nhà khoa học đưa ra, trong đó, những nguyên nhân chủ yếu như sau:
- Về Chính trị, mô hình tổ chức của nhà nước Phù Nam chủ yếu dựa trên quan hệ thần phục theo những hình thức và mức độ khác nhau, mối quan hệ này khá lỏng lẻo nên mỗi khi có những nước thành viên phát triển và lớn mạnh thì nảy sinh các mâu thuẫn trong nội bộ Đầu thế kỷ thứ VI, tiềm lực về kinh tế không đủ mạnh
và thiếu sự ổn định về chính trị, trong khi đó thì một số thuộc quốc của nước Phù Nam phát triển mạnh dần lên (Trong đó có nước Chân Lạp) và đánh bại nước Phù Nam dẫn đến sự sụp đổ và diệt vong của nước Phù Nam vào thế kỷ thứ VII A.D
- Về Kinh tế, từ thế kỷ V A.D, bối cảnh mậu dịch khu vực đã có những chuyển biến bất lợi cho hoạt động thương mại của Phù Nam Do sự phát triển của nước Phù Nam là phụ thuộc vào nghề hàng hải nên khi hải trình của các thương thuyền buôn bán từ Ấn Độ sáng trung Hoa không còn đi qua eo biển Kra mà dịch chuyển dần xuống phía Nam đi qua eo biển Malacca (Maleka) và Sunda Từ thế kỷ
VI A.D, hải trình này càng ngày càng đóng vai trò quan trọng chi phối trên con đường biển từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương, từ Trung Quốc xuống Đông Nam Á sang Ấn Độ mà không còn ghé lại cảng thị Óc Eo dẫn đến nền kinh tế của nước Phù Nam bị ảnh hưởng nặng nề, khiến cho nền kinh tế của nước Phù Nam suy yếu nghiêm trọng
- Về thiên nhiên, theo một số nhà địa chất học, trong giai đoạn Holocen muộn,
có một đợt biển tiến quy mô nhỏ ở đồng bằng Nam bộ, gọi là biển tiến Holocen IV khoảng từ thế kỷ IV đến giữa thế kỷ XII mà vào giữa thế kỷ VII mức nước cao trung bình là 0,8m, đây cũng là một nhân tố thiên nhiên ảnh hưởng đến sự tồn vong của nước Phù Nam (Phan Huy Lê, (2007, tr.195–196)
Trang 321.2.2 Tổng quan về Khu di tích Gò Tháp
Khu di tích Gò Tháp có tổng diện tích 290 hécta, nằm trên địa phận huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp thuộc tiểu vùng Đồng Tháp Mười Nơi đây, lưu giữ được nhiều giá trị văn hóa, lịch sử, du lịch và khảo cổ gắn liền, với các giai đoạn lịch sử của vùng Đồng Tháp Mười nói riêng và Nam bộ nói chung
- Về khảo cổ, qua kết quả nhiều đợt khai quật khảo
cổ tại Khu di tích Gò Tháp, các nhà khoa học đã minh chứng nơi đây là một trong những trung tâm chính trị, văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật quan trọng của vương quốc Phù Nam, là địa chỉ khảo cổ học quan trọng của nền văn hóa Óc Eo cách nay khoảng 1500 năm, với rất nhiều di tích kiến trúc có quy
mô lớn nhỏ khác nhau (trên 10 di tích kiến trúc), niên đại khác nhau (trong khoảng thế kỷ I đến thế kỷ XII A.D) như di tích cư trú, di tích kiến trúc đền của Hindu giáo như thần đền Shiva, đền thần Vishnu và đền thần Mặt trời Surya; tháp, ao thần, giếng thần,… Một số di tích đã được làm mái che bảo quản và phục vụ cho nhu cầu tham quan, nghiên cứu khoa học Bên cạnh đó, còn có một số lượng lớn các hiện vật khảo
cổ có giá trị như sưu tập tượng thần Hindu giáo (trong đó có hai tượng thần Vishnu được công nhận là bảo vật quốc gia), bộ sưu tập tượng Phật gỗ, bộ sưu tập hơn 400 hiện vật vàng,
- Về lịch sử, nơi đây đã ghi lại trang sử hào hùng của hai vị anh hùng dân tộc Thiên hộ Võ Duy Dương và Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Hai ông đã có những chiến công hiển hách, nhiều lần làm quân thù phải khiếp sợ Sau khi hai ông hy sinh, người dân đã lập đền thờ tại Gò Tháp để tôn thờ, ghi nhớ công lao và cũng để giáo dục cho thế hệ mai sau học tập và lưu truyền đến ngày hôm nay
Nguồn: BQL Khu Di tích Gò Tháp
Trang 33Gò Tháp còn được mệnh danh là “Thủ đô Kháng chiến Nam bộ” trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đồng Tháp Mười
và Gò Tháp đã trở thành căn cứ địa kháng chiến trong bưng biền của Xứ Ủy - Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam Bộ (1947 -1949), vùng đất này đã in dấu chân hoạt động cách mạng của nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và nhà nước ta như: Đồng chí Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Bạch, Lê Đức Thọ, Trần Văn Trà, Nguyễn Bình, Nguyễn Thị Thập, Phạm Hùng,… Nơi đây còn gắn liền với hoạt động của Trường Quân chính và công binh xưởng Khu Tám đặt tại bưng biền Đồng Tháp Mười Trong kháng chiến chống mỹ cứu nước, một lần nữa, căn cứ Đồng Tháp Mười
và Gò Tháp lại được phát huy vai trò chống giặc cứu nước, nơi đây tiếp tục là căn cứ kháng chiến của các tỉnh Long Châu Sa (Đồng Tháp), Tân An (Long An), Mỹ Tho (Tiền Giang), vùng đất này đã trở thành chiến trường ác liệt đầy cam go của quân giải phóng để dành từng tấc đất
Gò Tháp còn là nơi ghi dấu chiến công vang dội củaTiểu đoàn 502 – những người con ưu tú của quê hương Đồng Tháp trong trận đánh sập “Tháp Mười Tầng”
do chính quyền Ngô Đình Diệm cho xây dựng để quan sát, khống chế lực lượng quân giải phóng của cả vùng Đồng Tháp Mười, đầu năm 1960
- Về tâm linh, tín ngưỡng,Khu Di tích Gò Tháp còn có nhiều thiết chế văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo mang đậm tính huyền bí của những giá trị văn hóa, tâm linh Nổi bật với nhiều di tích tín ngưỡng, tôn giáo như Đền thờ Thiên Hộ Dương, đền thờ Đốc Binh Kiều, Miếu Bà Chúa xứ và Chùa Tháp Linh, miếu Hoàng Cô… Hàng năm,
tại Khu Di tích Gò Tháp diễn
ra hai kỳ lễ hội dân gian truyền thống Đó là Lễ vía Bà Chúa
Xứ vào các ngày 14-15 tháng
3 âm lịch và lễ hội kỷ niệm ngày mất hai vị anh hùng dân tộc Thiên Hộ Võ Duy Dương
và Đốc Binh Nguyễn Tấn Kiều vào các ngày 14-15 tháng 11 âm lịch Hai lễ hội này đã trở thành nét văn hóa
Hình 2: Đền thờ Thiên Hộ Võ Duy Dương
Nguồn: BQL Khu Di tích Gò Tháp
Trang 34truyền thống của cộng đồng, đáp ứng nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng của cư dân trong khu vực Hàng năm, mỗi đợt lễ hội thu hút khoảng 300 đến 500 ngàn lượt khách hành hương trong và ngoài tỉnh đến tham quan, cúng viếng
- Về môi trường sinh thái, Khu di tích Gò Tháp vẫn còn lưu giữ những nét hoang sơ đậm nét của vùng Đồng Tháp Mười với hệ sinh thái phong phú, những cánh rừng tràm, đồng sen bạt ngàn, cùng với sự phong phú của các loài động vật như: rùa, rắn, nhan sen, nhan điển, cò, trích,… và hơn 500 loài thực vật Năm 2015, Khu Di tích Gò Tháp được công nhận là Khu bảo tồn đa dạng sinh học
Bởi những giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, du lịch, tâm linh tín ngưỡng, nhất là về giá trị khảo cổ, Khu di tích Gò Tháp được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là Di tích Quốc gia năm 1989 và được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là Di tích Quốc gia đặc biệt về di tích khảo cổ và kiến trúc nghệ thuật năm 2012
1.2.3 Quá trình phát hiện và nghiên cứu văn hóa Óc Eo tại Gò Tháp
Năm 1881, Đại úy Silvestre - một thanh tra người Pháp làm việc tại Sa Đéc thông báo trên tập san của Hội Địa lý học Roquefort việc ông phát hiện được một bánh xe bằng đá và dấu tích phần móng của một ngôi tháp cổ (Võ Sĩ Khải, 2018 tr.18) Đây là ghi nhận sớm nhất về dấu vết của một nền văn hóa cổ ở Khu di tích Gò Tháp Từ đó đến nay, trải qua hơn 100 năm phát hiện và nghiên cứu, một kho tàng di sản văn hóa cổ có niên đại trên dưới 1500 năm dần phát lộ, đó là di sản văn hóa Óc
Eo
Năm 1903, nhà Bác học người Pháp tên là Paul Pelliot đã công bố công trình
nghiên cứu “Le Founan” (Nước Phù Nam) trên tập san của Trường Viễn Đông Bác
cổ (École Française d'Extrême Orient) dựa trên các tư liệu cổ Trung Quốc liên quan đến Vương quốc Phù Nam Tuy nhiên, ông vẫn chưa tìm được những bằng chứng vật
Hình 3: Bằng xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt
Nguồn: BQL Khu di tích Gò Tháp
Trang 35chất về sự tồn tại của vương quốc Phù Nam Đến khi vùng đất Nam bộ cơ bản đã là thuộc địa của thực dân Pháp, tình hình xã hội dần ổn định, các nhà khoa học người Pháp thuộc các ngành Khoa học xã hội và nhân văn có điều kiện để quan tâm tìm hiểu về lịch sử vùng đất này thì các giáo sĩ, thương gia, sĩ quan và viên chức Pháp đã thu lượm và sưu tầm nhiều cổ vật ở khu vực di tích Gò Tháp (nay thuộc huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp) Từ những cổ vật này, các nhà nghiên cứu bước đầu đã có sự ghi nhận, đánh giá về tiến trình lịch sử lâu đời của Khu di tích Gò Tháp
Sau công bố của ông Silvestre, các nhà Khảo cổ học người Pháp bắt đầu chú
ý tới lịch sử vùng đất này qua việc nghiên cứu các minh văn trên bia ký được tìm thấy
tại nơi đây Trong số tám bản minh văn
đã được phát hiện tại Khu di tích Gò Tháp, dịch và nghiên cứu thì có một bản được xem là quan trọng nhất đã được vận chuyển về trưng bày tại Viện bảo tàng Blanchard de la Brosse (nay là Bảo tàng Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh), đó là bia ký mang ký hiệu K5 Bản minh văn K5 là một bản văn Phạn ngữ khắc trên một tường trụ ở cửa tò vò bằng đá phiến nham tìm thấy trong những khối đá đổ vỡ của ngôi đền Prasat Pram Lovek ở Đồng Tháp Mười Bản văn gồm có 22 dòng chia thành 12 đoạn truy niệm sự cung hiến một hình tượng chạm dấu chân thần Vishnu gọi là Chakratirthasvamin Theo lời văn ghi lại, thái tử Gunavarman được cha, là vua Phù Nam là Jayavarman, người thuộc dòng dõi vua Kuandinya đã giao cho chỉ huy một lãnh thổ “chinh phục từ đầm lầy” nghĩa là cải tạo đất, tháo nước cho khô ráo diệt cỏ, p[hù sa sông Cửu Long bồi đắp hàng năm tạo nên Đồng Tháp Mười ngày nay (Đặng Văn Thắng, 2017, Tr.257)
Năm 1931, H Parmentier và J Y Claeys đã tiến hành nghiên cứu và miêu tả thực địa Bắt đầu đào một vài hố thám sát trong khu vực mà hiện nay thuộc Gò Bà Chúa Xứ, các dấu tích gạch ngói và kết cấu nền móng kiến trúc, ghi nhận sự có mặt
Hình 4: Bia ký K5 (Bia ký Gò Tháp)
Nguồn: Bảo tàng Lịch sử TP.Hồ Chí Minh
Trang 36của một vỉa gạch xây nằm phía Tây của sườn gò (Bảo tàng Đồng Tháp, 2012, tr.6) Sau đó, nhiều cuộc khảo sát và thăm dò khảo cổ, phát hiện nhiều dấu tích kiến trúc cổ: các cấu kiện kiến trúc bằng đá, những tấm đan đá, cọc gỗ hay các loại hình di vật gốm trong các hố thám sát chưa ai nhắc đến (Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn & Võ Sĩ Khải, (1995), tr.130)
Đến năm 1943, L Malleret có tiến hành khảo sát khu di tích trên phạm vi rộng hơn Đặc biệt, đã phát hiện thêm những cấu kiện kiến trúc chèn vào móng của phế tích kiến trúc Một trong số đó có minh văn (K421), được xác định tồn tại vào thế kỷ thứ VIII (Lê Thị Liên, 2006, tr.23), gồm 18 dòng liệt kê một số tô, thuế Bia được xác định có niên đại vào khoảng thế kỷ VIII (Võ Sĩ Khải, 2004, tr.167)
Sau khi miền Nam giải phóng thống nhất đất nước năm 1975, Khu di tích Gò Tháp đã được các nhà khảo cổ học, các cơ quan, đơn vị rất quan tâm, nhiều lần triển khai công tác thăm dò, khai quật khảo cổ, trong đó có Trung tâm Nghiên cứu Khảo
cổ học (Viện Khoa học Xã hội vùng Nam bộ), Viện Khảo cổ học, Trường Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Công tác thăm dò, khai quật có thể chia thành ba giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1: (1983 – 1998)
Bắt đầu từ năm 1983, Bảo tàng Đồng Tháp kết hợp với Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ học – Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh (nay là Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ) thực hiện đợt khảo sát toàn diện tại Khu di tích Gò Tháp và chuẩn bị triển khai thực hiện các cuộc khai quật tập trung trên địa điểm di tích có dạng gò nổi cao, chủ yếu là các kiến trúc gạch Đầu năm 1984, cuộc khai quật khảo cổ đầu tiên được thực hiện tại địa điểm Gò Tháp Mười Đây là gò chính trong toàn bộ khu di tích và có đỉnh cao nhất so với các gò khác, diện tích khoảng 4.500m2 Sau đó đến các địa điểm như: Gò Bà Chúa Xứ, nằm về phía Bắc của khu di tích, diện tích khoảng 3.500m2; kế đến là Gò Minh Sư, nằm ở khoảng giữa của khu di tích, rộng khoảng 1.250m2 Sau đó, các cuộc thăm dò, khai quật khảo cổ được thực hiện vào các năm 1993, 1996 và 1998 ở một số địa điểm như tại khu vực mộ Đốc Binh Kiều
và khu trại cải tạo mạn Đông Miếu Bà Chúa Xứ; tại khu vực Đìa Phật, Đìa Vàng,…
Trang 37Kết quả của những lần thám sát và khai quật trong giai đoạn này, các nhà khảo cổ đã phát hiện Khu Di tích Gò Tháp có các loại hình di tích kiến trúc, cư trú thuộc văn hóa Óc Eo với những yếu tố sinh hoạt sớm – muộn Ngoài ra, cũng đã phát hiện rất nhiều hiện vật như tượng gỗ, tượng đá, các loại vật dụng đồ gốm, đồ trang sức thủy tinh, hiện vật vàng…
Giai đoạn 2: (2000 – 2003)
Trong giai đoạn này, Viện Khảo cổ học Hà Nội chủ trì, cùng với Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ học thuộc Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ và Bảo tàng tỉnh Đồng Tháp tiến hành khai quật tại khu vực quanh di tích chân Gò Minh Sư Trong những khai quật này chủ yếu nghiên cứu những di chỉ cư trú của cư dân văn hóa Óc
Eo Trước đây, di tích Gò Minh Sư đã được khai quật nhiều lần: lần đầu tiên vào năm 2001; lần thứ 2 vào năm 2002; lần thứ 3 năm 2003 Qua những lần thám sát, khai quật tại đây đã phát hiện rất nhiều hiện vật, đặc biệt là tập hợp được bộ sưu tập gốm thuộc văn hóa Óc Eo Bên cạnh đó, các nhà khảo cổ đã xác định khu vực quanh Gò Minh Sư là một di chỉ cư trú thuộc văn hóa Óc Eo có niên đại thế kỷ IV – VI
Giai đoạn 3: Từ năm 2003 đến nay, đào thám sát, khai quật khảo cổ học di tích kiến trúc cổ, di chỉ cư trú và ao thần (Stepped Pond)
Từ năm 2003 – 2009, Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ học thuộc Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ phối hợp với Bảo tàng Đồng Tháp và Viện Khảo cổ học
Hà Nội, tiến hành khảo sát, điền dã và khai quật khảo cổ học nhằm mục đích đi sâu nghiên cứu di tích kiến trúc Gò Minh Sư
Trong hai năm (2010-2011), Trường đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh, cùng với Ban Quản lý Khu di tích Gò Tháp tiến hành đào thám sát và khai quật khu vực phía Tây Gò Tháp Mười và khu vực làm đường D5, gần chân Gò Minh Sư Kết quả cho thấy những nhận thức mới về kiến trúc như tìm được Ao Thần
Gò Tháp, có hình gần chữ nhật với kích thước khá lớn (cạnh Bắc 98m, cạnh Nam 88m, cạnh Đông 113m, cạnh Tây 122m), đền thờ giai đoạn sớm có trụ gạch hình chữ vạn ở trung tâm, và phát hiện nhiều hiện vật như Linga – Yoni, hiện vật vàng, vòi bình, gốm xương động vật,… góp phần hiểu thêm đời sống, tín ngưỡng tôn giáo của
cư dân cổ khu vực này
Trang 38Và từ năm 2011 đến 2016, tiếp tục thực hiện nhiều cuộc thăm dò, khai quật nhiều địa điểm trong Khu Di tích Gò Tháp
Kết quả khai quật trong giai đoạn này cho thấy được nhận thức mới về các loại hình kiến trúc tôn giáo Ngoài ra, còn thể hiện đời sống sinh hoạt tôn giáo phát triển mạnh với những đền thần và ao nước thần gắn liền với đền Đặc biệt, nhận thức mới về loại hình di tích về giai đoạn sớm gắn liền hệ thống các đền sau này của văn hóa Óc Eo, mà các nhà khảo cổ học đi trước cho rằng đó là những ngôi mộ táng Nhưng thực ra, đó là những kiến trúc đền của các vị thần Hindu giáo
Tóm lại, mỗi lần thăm dò, khai quật, các nhà khảo cổ lại phát hiện thêm nhiều
kiến trúc và di vật mà trước đây chưa tìm thấy Qua những “chứng cứ lịch sử” đó,
giúp chúng ta có những “nhận thức mới” và “nhận thức lại” về nền văn hóa Óc Eo ở
Gò Tháp một cách khoa học và chính xác hơn Kết quả của những đợt thăm dò, khai quật này đã phát hiện nhiều di tích kiến trúc còn khá nguyên vẹn (đền thần Vishnu, đền thần Shiva,…), di tích cư trú, cùng với nhiều hiện vật vô cùng độc đáo và quý (bộ sưu tập tượng thần Hindu, bộ sưu tập tượng phật gỗ, bộ sưu tập hiện vật vàng,…) thuộc nền văn hóa Óc Eo của vương quốc Phù Nam
1.2.4 Vai trò, vị trí của văn hóa Óc Eo ở Gò Tháp trong bối cảnh văn hóa
Óc Eo ở Nam bộ
Kết quả quá trình nghiên cứu các hiện vật ở các di chỉ cư trú, di tích kiến trúc; các loại hình kiến trúc tại Khu di tích Gò Tháp của các nhà khoa học trong và ngoài nước từ trước đến nay, qua đó đã khẳng định Gò Tháp có một quá trình hình thành
và phát triển lâu dài từ thế kỷ thứ II trước công nguyên đến thế kỷ thứ XII sau công nguyên Gò Tháp còn là một trung tâm tôn giáo lớn, có vị trí, vai trò rất quan trọng trong mối liên kết giữa các trung tâm tôn giáo thuộc văn hóa Óc EO ở Nam Bộ
Ở Nam Bộ, có thể chia ra năm trung tâm tôn giáo lớn thuộc văn hóa Óc Eo gồm trung tâm tôn giáo Óc Eo – Ba Thê (An Giang), trung tâm tôn giáo Đá Nổ (An Giang), trung tâm tôn giáo Gò Tháp (Đồng Tháp), trung tâm tôn giáo Bình Tả (Long An), trung tâm tôn giáo Gò Thành (Tiền Giang) Trong đó, Gò Tháp là một trong những trung tâm tôn giáo lớn ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, cũng là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội lớn của vương quốc Phù Nam trong những thế kỷ đầu công nguyên
Trang 39Về cư trú, ở Gò Tháp có những di chỉ chứa nhiều hiện vật liên quan đến cảnh sinh hoạt và cư trú của người xưa như vết tích bếp lửa, những mảnh nồi ám khối, đồ phế tích của bếp núc, xương lợn, trâu,… tìm được cột nhà sản, kiến trúc cư trú bằng gạch,… và các hiện vật khác để có thể xác định rằng Gò Tháp là khu sinh tụ của một cộng đồng cư dân lớn, sống trên những ngôi nhà sàn, nhà gạch được gia công trên những nền đất đắp, nhằm cải tạo nơi cư trú thêm cao ráo hơn; là một cộng đồng cư dân thuộc văn hóa Óc Eo và hậu Óc Eo có khung thời gian phát triển khá dài, có thể
từ thế kỷ thứ II trước Công nguyên đến thế kỷ thứ XII (Lê Xuân Diệm, Đào Linh Côn & Võ Sĩ Khải, (1995), tr.162)
Về kinh tế, cư dân văn hóa Óc Eo – Phù Nam có bước khá phát triển về nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp Trong đó, nông nghiệp là chủ yếu Qua những hiện vật, cũng như những bằng chứng cho thấy, cư dân sống trong vùng này
đã có truyền thống làm nông nghiệp lúa nước và cũng cho thấy ngành nông nghiệp trồng lúa nước ở vùng đất này đã khá phát triển với các bằng chứng khảo cổ tại Đìa Phật, Đìa vàng, Gò Minh Sư, Bên cạnh đó, ngành chăn nuôi cũng đã có nhiều tiến
bộ, đã tìm thấy hàng loạt các mảnh răng voi, xương trâu, bò và nhiều loại động vật khác ở Gò Minh Sư, Gò Tháp Mười Ngoài phát triển nông nghiệp trồng trọt, chăn nuôi, cư dân văn hóa Óc Eo nơi đây cũng đã biết sử dụng các công cụ, thiết bị, phương tiện để đánh bắt cá, hải sản, săn bắt động vật hoang dã hay khai thác các nguồn lâm sản địa phương, với những bằng chứng là các nhà khoa học đã tìm thấy chì lưới, vỏ
sò các loại,… quanh khu vực này Ngành nghề thủ công của cư dân Óc Eo cũng được phát triển rất mạnh, nhất là nghề làm đồ trang sức, đặc biệt là gia công đồ trang sức bằng vàng Vàng được chế tác thành các loại trang sức như nhẫn, khuyên tai, mặt dây chuyền, vòng đeo tay… Vàng còn được dát mỏng thành những vàng lá có chạm khắc hoa văn phục vụ cho nhu cầu tôn giáo Tại Khu di tích Gò Tháp đã phát hiện trên 400 hiện vật vàng gồm vàng trang sức, vàng lá có chạm khắc hình ảnh Bên cạnh đó, nghề làm gốm cũng khá phát triển trong cộng đồng cư dân nơi đây Gốm có nhiều loại hình rất phong phú, đa dạng; từ những vật dụng sinh hoạt cho đến dòng gốm ngoại nhập Tại khu vực Gò Tháp đã phát hiện được những chiếc khuôn làm nắp vung lõm, điều
đó có ý nghĩa rất quan trọng trong việc khẳng định đồ gốm đã được sản xuất tại chỗ (Đặng Văn Thắng, 2017, tr.164) Ngành sản xuất vật liệu xây dựng cũng được hình thành và phát triển ở khu vực này, đặc biệt là sản xuất gạch, có rất nhiều loại, nhiều
Trang 40kích cỡ và được sản xuất ở những thời kỳ khác nhau, đồng thời, để phục vụ cho các công trình kiến trúc, đặc biệt là kiến trúc tôn giáo thì nghề chế tác đá cũng có bước phát triển nhất định ở khu vực này, và chủ yếu là đá sa thạch Ngoài sản xuất đá kiến trúc, ở đây người thợ làm đá còn biết chế tác rất nhiều những linh vật bằng đá như Linga, Yoni, Linga – Yoni,… Cùng với nghề chế tác đá, nghề chế tác gỗ được xem
là nghề truyền thống và phát triển nhất vùng Ở Khu Di tích Gò Tháp phát hiện rất nhiều tượng phật gỗ được chế tác hết sức đặc sắc từ các loại gỗ chủ yếu như sao, bằng lăng, mù u,… Ở khu vực này, với hệ thống sông ngòi chằng chịt, đây là điều kiện thuận cho giao thương phát triển thương mại
Về văn hóa – xã hội, theo các tư liệu, thư tịch viết về cư dân vương quốc Phù Nam tương đối nhiều, chẳng hạn như tác giả Lương Ninh (2006) đã trích dẫn các thư
tịch cổ Trung Quốc cho biết như sau: Theo Lương thư: “Phong tục dân nước Phù Nam xưa vốn ở truồng, bới xõa tóc, không may quần áo, … Hỗn Điền liền dạy cho Liễu Diệp khoét vải luồn qua đầu, thân hình không còn trần truồng nữa, rồi cai trị nước Phù Nam, lấy Liễu Diệp làm vợ, sinh con trai, phân cho làm vương 7 ấp… Người nước đó ở trần, chỉ có phụ nữ mặc áo chui đầu… Nay người dân nước đó đều đen đủi, xấu xí, tóc búi, nơi ở không đào giếng, khoảng mười nhà chung nhau một cái ao để múc nước Phong tục thờ thiên thần… Phong tục xứ đó, khi để tang thì cắt tóc, cạo râu Đối với người chết có 4 cách tống táng: thủy táng tức ném thi hài xuống dòng sông Hỏa táng tức thiêu xác ra tro Thổ táng tức chôn xuống đất Điểu táng tức bỏ xác ngoài đồng (cho chim ăn) Người tính tham lam, không có lễ nghĩa, con trai con gái tự do phóng túng theo nhau không cần lễ nghi” (tr.178–183) Theo Tân Đường thư: “Phù Nam… Dùng lá tre để lợp nhà Lúc vua ra ngoài thì cưỡi voi Người nước đó da đen, bới tóc, đi chân đất Phong tục, không có trộm cướp, Người bản
xứ thích chọi gà, đấu lợn, dùng vàng, châu ngọc, hương liệu để nộp thuế,… (tr.187– 188) Hay theo Nam Tề thư: “Dân cũng làm nhà gác để ở, làm thuyền dài 8, 9 trượng, đục rộng 6, 7 thước, đầu mũi và đuôi là giống như (đầu đuôi) cá,… (Dân) lấy việc chọi gà, đấu lợn làm trò vui Trong nước không có nhà tù ngục” (tr.176) Còn tại Khu
di tích Gò Tháp, qua quá trình khai quật đã phát hiện một số lượng lớn di vật nhiều loại hình, từ vật dụng sinh hoạt trong di chỉ cư trú đến vật dâng cúng quý giá trong các đền, vật tuỳ táng linh thiêng trong những ngôi mộ, từ các phế tích kiến trúc đền
và tượng thờ, minh văn đến di tích nhà ở, nền bếp,… Tổng thể di tích và di vật phản