ky yeu he gia tri quoc gia OK VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN TRUNG ƯƠNG BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH HỘI THẢO QUỐC GIA HỆ GIÁ TRỊ QUỐC GIA HỆ GIÁ T[.]
Trang 1KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM TRUNG ƯƠNG
HỘI THẢO QUỐC GIA
HỆ GIÁ TRỊ QUỐC GIA
HỆ GIÁ TRỊ VĂN HÓA
HỆ GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH
VÀ CHUẨN MỰC CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ MỚI
LƯU HÀNH NỘI BỘCÁC BÀI THAM LUẬN PHÁT BIỂU TẠI HỘI THẢO
Trang 2THAM LUẬN TRÌNH BÀY TẠI HỘI THẢO Buổi sáng
Tham luận
1
“Tính cấp thiết và những yêu cầu
đặt ra đối với việc xây dựng, thực hiện hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam
trong thời kỳ mới
GS.TS Đinh Xuân Dũng, nguyên Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương
(Đầu cầu TP Hồ Chí Minh)
GS.TS Nguyễn Hữu Minh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới
59
Tham luận
6 “Xây dựng hệ giá trị gia đình
Việt Nam trong tình hình mới”
Nguyễn Thị Minh Hương, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp
Trang 3THAM LUẬN TRÌNH BÀY TẠI HỘI THẢO
Tham luận
2
“Giải pháp giữ gìn và phát huy
hệ giá trị dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học của nền văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới”
PGS.TS Bùi Hoài Sơn,
Ủy viên thường trực Ủy ban Văn
Tham luận
3
“Xây dựng, bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa, con người Thành phố gắn với xây dựng không gian văn hóa Hồ Chí Minh tại Thành phố mang tên Bác”
Phan Nguyễn Như Khuê, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy TP HCM
Tham luận
7
“Về xây dựng hệ giá trị quốc gia trong tương quan với hệ giá trị con người, giá trị gia đình, giá trị văn hóa, giá trị xã hội”
PGS.TS Trần Quốc Toản, Nguyên ủy viên Hội đồng
Lý luận Trung ương, Nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ
205
Trang 4TÍNH CẤP THIẾT VÀ NHỮNG YÊU CẦU XÂY DỰNG
HỆ GIÁ TRỊ QUỐC GIA, HỆ GIÁ TRỊ VĂN HÓA, HỆ GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH
VÀ CHUẨN MỰC CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ MỚI
GS.TS Đinh Xuân Dũng
I Những đòi hỏi cấp thiết
1 Lịch sử, văn hóa, con người Vị trí của quá khứ trong hiện tại và tương lai:
a Khi bàn về quan hệ giữa lịch sử và con người, người ta thường có hai nhận định tưởng như trái ngược nhau, nhưng thực ra rất biện chứng: con người làm nên lịch sử và tiến trình lịch sử tạo ra sự phát triển của con người Lịch sử bao gồm nhiều lĩnh vực, sự kiện, biến cố… nối tiếp nhau, có những cái bị vượt qua, có những cái chỉ xảy ra một lần, song cái mãi mãi gắn bó, phát triển, tồn tại và đồng hành với con người, đó là văn hóa, là các nền văn hóa, bởi vì con người tạo ra văn
hóa và từ đó, soi vào văn hóa sẽ thấy những dấu ấn đặc trưng nhất, sâu nhất của
con người trong tiến trình phát triển của chính con người Ý kiến trên, thực ra, không mới, nhưng thực sự quan trọng khi gắn chặt văn hóa với con người, con
người với văn hóa Cách đây khoảng 170 năm, K Mác trong “Hệ tư tưởng Đức”
(1844) đã cho rằng, con người có hai phương thức: sản xuất vật chất tạo ra của cải
và “sản xuất tinh thần tạo ra nhân cách” Sản xuất tinh thần đó chính là văn hóa
Mặc dầu đã nhận rõ quy luật đó được thể hiện trong các văn kiện của Đảng, song đến tháng 6/2014, tại Hội nghị lần thứ 9 (khóa XI), khi ban hành Nghị quyết 33- NQ/TW về văn hóa, Đảng mới nhấn mạnh quy luật trên trong tiêu đề của Nghị
quyết “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” Tưởng là đơn giản, nhưng đó là bước tiến về lý luận
được đúc kết từ thực tiễn Trong “Báo cáo tiếp thu và giải trình của Bộ Chính trị”
tại Hội nghị về tên gọi này của Nghị quyết có lý giải như sau: “Một số ý kiến đề nghị tên gọi ở phương án 1 nên bỏ từ “con người” vì sợ trùng với khái niệm “văn hóa” đã ghi ở phía trước… Về vấn đề này, Bộ Chính trị xin báo cáo Trung ương: Nói về văn hóa cũng là nói về con người, vì văn hóa là của con người, do con
người, vì con người Tuy nhiên, trong thực tế, không ít trường hợp đã hiểu sai
lệch, coi văn hóa là những công việc, những hoạt động trên lĩnh vực văn hóa (như
múa hát, biểu diễn, lễ hội…), không tập trung cho mục tiêu trọng tâm, cốt lõi là
xây dựng con người Chính vì vậy, trong Nghị quyết Trung ương lần này có thêm
một quan điểm khẳng định vấn đề trọng tâm, cốt lõi của xây dựng văn hóa là xây
dựng con người Thêm từ “con người” để nhấn mạnh, để khẳng định” Đứng ở góc
độ và tầm nhìn trên, Hội thảo này với chủ đề “Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn
hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới”
mang tính khoa học, phù hợp với quy luật và quan hệ giữa văn hóa và con người,
Trang 5lịch sử rất đặc biệt, nổi bật là những cuộc đấu tranh vĩ đại để dựng nước và giữ nước, là sự lao động kiên cường để trụ vững và phát triển, là những cuộc chiến đấu kiên trì vô song để chống lại âm mưu đồng hóa văn hóa, đồng thời nó tồn tại trong nhiều thế kỷ của chế độ phong kiến từ buổi đầu phát triển cho đến giữa thế kỷ 19
Nền văn hóa ấy đã trực tiếp tạo nên những đặc trưng của con người Việt Nam
trong quá khứ, cả mặt mạnh và mặt yếu của nó Cần phải nhìn một cách khách
quan cả hai mặt này để tìm lời giải đáp cho hiện tại và tương lai, cái gì phải bảo
vệ, giữ gìn và phát triển, cái gì phải khắc phục và vượt qua Chưa bao giờ như thời
điểm lịch sử này, vấn đề trên được đặt ra một cách gay gắt, trực diện khi dân tộc đang ở trong thời kỳ quá độ, vượt qua lạc hậu và muôn vàn thử thách, vươn tới xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc
- “Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam” Đó là một sự thật lịch sử, không thể phủ nhận Vậy những giá trị cao đẹp, bền vững nào trong quá khứ phải được bảo vệ, phát huy để nó không chỉ là di sản
nhằm chiêm ngưỡng mà phải trở thành sức mạnh nội sinh trong phẩm giá, nhân
cách con người Việt Nam đương đại và tương lai Các văn kiện của Đảng đã nhiều lần chỉ ra các giá trị truyền thống đó để gợi mở cho công tác nghiên cứu, tiếp tục trao đổi khoa học đi tới thống nhất, song không phải không có ý định đen tối phủ định các giá trị quá khứ nhằm âm mưu xuyên tạc lịch sử và con người Việt Nam
Câu hỏi, vấn đề đặt ra cấp thiết hiện nay là: những giá trị của con người Việt Nam
thời kỳ mới, hiện đại sẽ và chỉ được định hình trên cơ sở kết hợp nhuần nhuyễn
những giá trị truyền thống với giá trị thời đại Đến nay, hệ giá trị truyền thống cần
được khẳng định là gì, vẫn chưa đi tới kết luận, nhiều khi còn những ý kiến khác
nhau, đôi khi trái ngược nhau (Một ví dụ cụ thể: nhiều ý kiến cho rằng “cần cù” là
một giá trị truyền thống bền vững, song có ý kiến hoàn toàn ngược lại!) Phải
chăng, sau Hội thảo này cần đi tới xác định hệ giá trị truyền thống đó để định
hướng cho việc xây dựng và định hình hệ giá trị con người Việt Nam đương đại trên cơ sở kết hợp nhuần nhuyễn giữa giá trị truyền thống với các giá trị mới đang phát triển trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế
- Vào những năm đầu thế kỷ XX, cùng với phong trào Đông kinh nghĩa thục
và nhu cầu “cách tân, khai dân trí, chấn dân khí”, một số nhà trí thức, nhà báo, nhà văn có xu hướng chỉ ra và phân tích những thói hư, tật xấu của con người Việt Nam trong lịch sử để sửa chữa, tiến bộ, vượt qua sự lạc hậu của chính mình Một
số bài của các trí thức yêu nước nổi tiếng, có uy tín trong xã hội đã có tác dụng tích cực trong giai đoạn lịch sử đặc biệt trên – giai đoạn thức tỉnh, giác ngộ, động viên con người Việt Nam vươn lên tự giải phóng
Trang 6phong kiến Từ đổi mới đến nay, cách nhìn một chiều trên đang dần thay đổi, chỉ ra đồng thời hai mặt (ưu và hạn chế lịch sử) trong tính cách người Việt để phát huy mặt tốt đẹp, khắc phục mặt hạn chế Đó là hướng đi rất cần thiết, tỉnh táo và khoa
học để người Việt tự vượt lên chính mình, kiên quyết khắc phục, đấu tranh với cái
xấu, thói hư… trong thời kỳ đặc biệt hiện nay: từ một xã hội nông nghiệp, tiểu nông, lạc hậu bước vào xã hội công nghiệp, hiện đại Đó là bước ngoặt lịch sử lớn lao chưa từng có với nhiều đòi hỏi rất mới đối với người Việt Trong Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014, trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII (1/2016) và gần đây nhất, trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII (1/2021) đều có một yêu cầu rõ
ràng và dứt khoát: “Có giải pháp khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt
Nam” Vậy, những hạn chế lịch sử này là gì? Có nhà nghiên cứu đã chỉ ra 11 nhóm
hạn chế, thói hư, tật xấu Có công trình kết hợp cả các hạn chế lịch sử (trong quá khứ) với những biểu hiện tiêu cực, xấu xa nảy sinh trong cuộc sống hiện tại để nêu
ra 21 thói hư, tật xấu… Song, đến nay, phải chăng, vấn đề này đang bị bỏ lửng hoặc né tránh, e ngại Rõ ràng, một nhiệm vụ có tính tất yếu, khách quan, có ý nghĩa cấp thiết là chỉ ra một cách khoa học những hạn chế đó để vượt qua, để gột rửa Giai đoạn phát triển mới của đất nước đòi hỏi như vậy, và chỉ làm tốt nhiệm
vụ đó mới có cơ sở hình thành những giá trị mới trong nhân cách con người Việt Nam hiện đại Thực tiễn những năm qua cho ta nhận rõ, đây là một cuộc đấu tranh,
tự vượt chính mình gian nan, lâu dài
2 Hiện tại với những biến đổi, biến động lớn, phức tạp và những công việc xác định các hệ giá trị còn dang dở:
a Hiện nay, Việt Nam đang đứng ở đâu trong sự phát triển của chính mình?
Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, trong một bài phát biểu gần đây: “Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam” đã hơn hai lần nhấn mạnh, chúng ta đang ở “thời kỳ quá độ đi lên
chủ nghĩa xã hội” và khẳng định “nhất thiết phải trải qua thời kỳ đó với đặc điểm
bao trùm là “một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo
ra sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội” Có lẽ,
trong thời gian qua, chúng ta chưa nhận thức đầy đủ đặc điểm này nên trong đời
sống xuất hiện hai xu hướng: một là, cho rằng chủ nghĩa xã hội đã trở thành hiện thực ở nước ta và hai là, đối chiếu với thực tiễn, đặc biệt ở mặt yếu kém, khuyết
điểm, hạn chế của nó, cho rằng, chủ nghĩa xã hội chỉ là một ước vọng, thậm chí là một ảo tưởng! Hiện nay, chúng ta đang trong những năm đầu của thời kỳ quá độ
“lâu dài, vô cùng khó khăn, phức tạp”, có nghĩa là, như nhận định của Tổng Bí thư
“các nhân tố xã hội chủ nghĩa được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh
tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa” Điều đó thể hiện trong tất cả các lĩnh
vực, song, sâu nhất, rõ nhất là trong con người hiện tại Thời kỳ quá độ này đang
Trang 7người trước những thử thách và sự lựa chọn Một sự phân nhánh, phân hóa không
tránh khỏi: những người thủy chung với lý tưởng, khát khao tìm tòi đổi mới, kiên định gắn chặt với năng lực sáng tạo; những người bảo thủ, thủ cựu; những người đuối sức không đi tiếp được chặng đường đã chọn; những kẻ chờ thời, cơ hội, “hai mặt” vội tách ra khỏi đội ngũ, phủ định chính mình và tự coi là đã tìm ra “chân lý mới”; và những kẻ phản bội, thù địch lợi dụng thời cơ để chống phá Tôi thực sự
thấm thía khi Tổng Bí thư phát biểu rằng: “Mất người là mất chế độ” Thực tiễn đó
đặt ra một nhiệm vụ vừa cấp thiết vừa chiến lược là phải khẩn trương, khoa học, từ
tổng kết thực tiễn, xây dựng cho bằng được các giá giá trị văn hóa của quốc gia –
dân tộc, của con người Việt Nam để định hướng đúng đắn cho sự lựa chọn, để đấu
tranh với các khuynh hướng phản giá trị, lúng túng, bi quan, thờ ơ, dẫn tới lệch
chuẩn, loạn chuẩn… đang tồn tại và có nguy cơ lan tràn trong thời kỳ quá độ hiện
nay và những năm sắp tới Đó là một đòi hỏi cấp thiết, khách quan nhằm nuôi
dưỡng, xây dựng và phát triển con người với những giá trị cao đẹp của dân tộc trong thời kỳ quá độ “vô cùng khó khăn và phức tạp” này
b Đòi hỏi khách quan, cấp thiết là như vậy, song trong thực tiễn, chúng ta đã làm được gì? Khoảng hơn 20 năm qua, kể từ Đại hội IX (2001) đến nay, chúng ta
đã có rất nhiều đề xuất và nghiên cứu về Hệ giá trị và đã được những kết quả khả
quan ở hai hướng nghiên cứu: một là, các định hướng có tính chất chỉ đạo, gợi mở hay “kết luận mở” trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng và hai là, kết quả
nghiên cứu của giới khoa học (Trong hệ thống tư liệu chưa đầy đủ của tôi, đến nay, đã có khoảng 40 công trình, báo cáo khoa học công phu, có hệ thống về vấn
đề này, chưa kể các bài báo đăng tải trên các báo và tạp chí, kỷ yếu hội thảo) Tuy vậy, có một đặc điểm chung của các kết quả trên là hầu như tất cả mới chỉ nêu vấn
đề, gợi mở, đề xuất song chưa đi tới một kết luận có ý nghĩa, giá trị “pháp lý” cần
thiết, một sự đồng thuận cao để có thể tạo nên những hoạt động triển khai có tính thống nhất
Từ Đại hội Đảng lần thứ IX (2001) đến Đại hội Đảng lần thứ XIII (2021) đều yêu cầu “đúc kết và xây dựng hệ giá trị” của con người Việt Nam và trong các đại hội, hội nghị gần đây đã nêu ra cụ thể các giá trị đó, song chỉ với hàm ý là gợi mở cho việc tiếp tục nghiên cứu nhằm đạt tới sự đồng thuận đầy đủ và hoàn thiện Tôi
đã được chứng kiến những trao đổi, thảo luận rất sôi nổi trong các Đại hội gần đây
và một số Hội nghị Trung ương về vấn đề này Vì vậy, trong “Báo cáo tiếp thu và giải trình” của Bộ Chính trị trước Hội nghị Trung ương 9 (khóa XI) đã xác định, mặc dầu Nghị quyết đưa ra các giá trị cụ thể, nhưng do có những đề xuất còn khác
nhau, nên “Khi triển khai thực hiện Nghị quyết, sẽ chỉ đạo tổ chức nghiên cứu làm
Trang 8ương 9 khóa XI (2014) nêu 7 “đặc tính cơ bản”, gần đây, Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu lên 8 giá trị…)
Như vậy, từ những định hướng chỉ đạo và gợi mở trên, Đảng yêu cầu cần
“làm rõ và đầy đủ hơn” các giá trị của con người Việt Nam Thực hiện sự chỉ đạo
và gợi mở đó, hàng loạt các công trình nghiên cứu, các hội thảo khoa học đã được thực hiện, song đến nay, có lẽ vấn đề mới “bung” ra mà chưa được “gói lại”, nhiều vấn đề còn ở dạng đề xuất, dù rất khác nhau và còn cả những vấn đề chưa được giải đáp chuẩn xác về mặt khoa học
Chắc chắn rằng, không nên và không thể dừng lại giữa chừng, dở dang này đã kéo dài hàng chục năm qua Đã đến lúc đi tiếp, đi nốt chặng đường còn lại Đó là
đòi hỏi cấp bách, kịp thời của giai đoạn lịch sử đặc biệt này: “Khơi dậy khát vọng
phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc… phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (Văn kiện Đại hội XIII, tập I, trang 57)
Chính vì lẽ trên mà Văn kiện Địa hội XIII của Đảng (2021) đã đặt ra một yêu cầu, nhiệm vụ mới: “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển
hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới” Khác với văn kiện trước đây, lần này, Đảng yêu cầu đồng thời triển khai cả ba khâu để hoàn tất nhiệm vụ và đưa kết
quả vào cuộc sống: một là, “tập trung nghiên cứu”, hai là “xác định”, và ba là
“triển khai xây dựng” trong thực tiễn các hệ giá trị trên
II Bước đầu suy nghĩ về những yêu cầu đặt ra đối với việc xây dựng, thực hiện các Hệ giá trị
Trong khả năng và phạm vi công việc của mình, tôi chỉ xin trình bày một vài yêu cầu, chủ yếu đứng ở góc độ khoa học, mà không có ý định đề cập đến phương diện vĩ mô của vấn đề
1 Nhìn nhận các hệ giá trị theo một thang giá trị có mối quan hệ biện chứng, đồng thời quan tâm tính đặc trưng của mỗi hệ giá trị
Những năm vừa qua, cùng với các kết quả nghiên cứu rất khả quan, đã xuất hiện những quan niệm khác nhau, sử dụng khác nhau các khái niệm giá trị Các thuật ngữ sau đây được sử dụng ở các tài liệu, công trình: giá trị văn hóa, giá trị
chung của con người Việt Nam, giá trị cốt lõi, giá trị xã hội, giá trị của văn hóa
Việt Nam, chuẩn mực, chuẩn mực văn hóa, hệ giá trị định hướng, giá trị cá nhân, đức tính, đặc tính… Điều đó là bình thường trong quá trình nghiên cứu khoa học, ngay cả khi có sự lẫn lộn các khái niệm Ví dụ: giá trị văn hóa của con người Việt
Nam khác hẳn với giá trị của văn hóa Việt Nam
Trang 9khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới”, tôi xin đề
xuất về một thang giá trị cần tập trung nghiên cứu Có ba điều cần quan tâm đến luận đề trên, một là, lần đầu tiên, hệ giá trị quốc gia được đề cập trong văn kiện,
hai là, yêu cầu gắn kết các hệ giá trị và ba là, không tách rời giữa nghiên cứu đi tới xác định và triển khai xây dựng trong thực tiễn
Trong khả năng nhận thức của mình, tôi nghĩ tới một thang giá trị được sắp
xếp thành một hệ thống sau:
1- Hệ giá trị quốc gia là sự tổng hợp có tầm khái quát cao nhất, tiêu biểu và mang ý nghĩa đặc trưng của quốc gia – dân tộc được đúc kết từ lịch sử, truyền thống, từ thực tiễn và có giá trị định hướng tương lai
2- Hệ giá trị con người Việt Nam: Nhấn mạnh và xác định những
phẩm chất, đặc tính bao trùm và căn cốt tạo nên bản sắc và sức mạnh nội sinh của
con người Việt Nam Kết quả nghiên cứu những năm qua đã gợi mở cho các cuộc thảo luận để đi tới sự đồng thuận cao
3 Chuẩn mực văn hóa là sự cụ thể hóa giá trị con người Việt Nam cho các đối tượng khác nhau, phù hợp với đặc trưng của từng đối tượng (giới, lứa
tuổi, nghề nghiệp, vùng miền,…)
4 Hệ giá trị gia đình Việt Nam như một thành tố cơ sở trong thang giá trị
(Xin lưu ý, khi nói giá trị của văn hóa Việt Nam là nghiên cứu giá trị của một
lĩnh vực cụ thể là văn hóa, mà văn kiện của Đảng đã gợi mở 4 giá trị: dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học Điều đó hoàn toàn khác với khái niệm: giá trị văn hóa của con người Việt Nam)
2 Tổ chức thảo luận, troa đổi khoa học, làm việc nhóm theo định hướng để
đi tới đồng thuận nhằm xác định các giá trị cụ thể trong hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị con người Việt Nam, hệ giá trị gia đình Việt Nam, trên cơ sở đó định hướng, hướng dẫn cho việc xác định chuẩn mực văn hóa cụ thể cho các đối tượng
Kết quả nghiên cứu về Hệ giá trị quốc gia chưa đáng kể vì nội dung này mới đưa vào Văn kiện Đại hội XIII năm 2021 Kết quả nghiên cứu về hệ giá trị con người Việt Nam, gia đình Việt Nam rất đáng quý, nhiều đề xuất có sự tổng kết thực tiễn, song chưa có sự thống nhất về các giá trị cụ thể, vì vậy, mới chỉ dừng lại
ở công bố các kết quả đó trên sách, báo, tạp chí… mà chưa hề được công nhận,
Trang 10trong thời gian tới Vì vậy, các hội thảo, thảo luận, làm việc nhóm dân chủ và có mục tiêu, định hướng là rất cần thiết
Để làm được các công việc trên, có lẽ, theo thiển nghĩ của mình, tôi xin kiến nghị có một bộ phận chỉ đạo và điều hành theo một dự án, một kế hoạch có thời hạn và có một nhóm các nhà khoa học, chuyên gia trên lĩnh vực này với chức năng như một Trung tâm nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu các giá trị văn hóa Việt Nam Theo kinh nghiệm của một số quốc gia ở châu Á, châu Âu, các kết quả nghiên
cứu về giá trị quốc gia, giá trị con người, ở các mức độ khác nhau, đều được cơ
quan có thẩm quyền thảo luận và thông qua, trở thành một văn bản có tính định
hướng giúp mọi người và toàn xã hội tự nguyện, tự giác thực hiện Đó là một nhân
tố quan trọng tạo nên một xã hội dân chủ, kỷ cương và văn hóa cao
Những điều trình bày trên đây, có thể đúng hoặc chưa thỏa đáng, song xuất phát từ trách nhiệm, sự trung thực và tâm huyết, mong góp một tiếng nói trong cuộc Hội thảo rất cần thiết và quan trọng này./
Trang 12HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
HỆ GIÁ TRỊ QUỐC GIA, HỆ GIÁ TRỊ VĂN HÓA, HỆ GIÁ TRỊ GIA ĐÌNH
VÀ CHUẨN MỰC CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ MỚI
Hà nội, ngày 29 tháng 11 năm 2022
XÂY DỰNG HỆ GIÁ TRỊ CON NGƯỜI VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 1
PGS.TSKH Lương Đình Hải, Viện Hàn lâm KHXHVN
Việc xây dựng, phát huy và phát triển hệ giá trị và chuẩn mực con người ở nước ta hiện nay diễn ra trong bối cảnh mới cả trên phương diện quốc tế lẫn trong
nước Thứ nhất, nền kinh tế thị trường thế giới đã bước sang giai đoạn phát triển
mới với nhiều đặc điểm, tính chất khác trước, trên nền tảng công nghiệp và các
công nghệ mới Thứ hai, cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đang diễn ra mạnh
mẽ cùng với các cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba và lần thứ tư đang làm thay đổi nhanh chóng các lực lượng sản xuất toàn cầu, các quan hệ xã hội từ cấp vĩ
mô toàn cầu đến cấp vi mô trong từng gia đình Thứ ba, quá trình toàn cầu hóa, dù
vài năm gần đây xu hướng dân tộc chủ nghĩa trỗi dậy, vẫn tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, không thể đảo ngược, đang tác động mạnh đến sự phát triển của các quốc gia, nhất
là các nước đang phát triển, cả về phương diện cơ hội lẫn thách thức Thứ tư, những
vấn đề toàn cầu ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các quốc gia và toàn nhân loại, vừa đang có thêm những nội dung và biểu hiện mới Đại dịch Covid-19 làm đảo lộn
nền kinh tế của nhiều quốc gia và của thế giới chỉ là một ví dụ Thứ năm, hòa bình,
hợp tác, liên kết và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng, cuộc đấu tranh giành quyền ảnh hưởng giữa các cường quốc, các quan hệ quốc tế diễn biến phức tạp, khó lường, cũng có thêm nhiều nội dung và biểu hiện mới Tất cả những quá trình đó đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự nghiệp phát triển con người và xã hội ở nước ta
1 Bài viết dựa trên các nghiên cứu của Chương trình trọng điểm cấp Bộ của Viện hàn lâm KHXHVN: “Xây dựng
hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giũ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt
Trang 13có những bước phát triển nhanh và mạnh với nhiều đặc điểm khác trước Kinh tế vĩ
mô ngày càng ổn định vững chắc hơn, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm, tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức khá cao; lạm phát luôn được kiểm soát ở mức thấp; cơ cấu kinh tế bước đầu chuyển dịch sang chiều sâu; quy mô và tiềm lực nền kinh tế tăng lên, chất lượng tăng trưởng được cải thiện Dịch bệnh và các nhân
tố khác có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế và nhiều mặt của đời sống xã hội Nhưng không thể thay đổi đà phát triển của nó Thế và lực của nước ta vững mạnh chưa từng có, nhưng cũng đang gặp phải nhiều thách thức khó vượt qua Hội nhập kinh tế quốc tế được triển khai chủ động, tích cực, tạo không gian quan hệ rộng mở, tranh thủ được sự hợp tác, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, phát triển sâu, rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, song phương, đa phương thế hệ mới; xuất, nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh
tế và sự phát triển của đất nước Vị thế, uy tín, vai trò của Việt Nam trong khu vực
và trên thế giới ngày càng được nâng cao
Hơn 35 năm vừa qua phát triển xã hội, văn hoá, con người cũng đã đạt nhiều kết quả quan trọng Tầng lớp trung lưu gia tăng nhanh chóng; đội ngũ trí thức đông đảo chưa từng có trong lịch sử Văn hoá phát triển ngày càng đa dạng về các lĩnh vực, loại hình, sản phẩm, đáp ứng nhu cầu mới, nhiều mặt của đời sống xã hội Các giá trị quốc gia, văn hoá, gia đình, con người, cộng đồng tiếp tục được được kế thừa, bảo tồn và phát huy Các giá trị văn hoá và con người trong lĩnh vực chính trị
và kinh tế được coi trọng và bước đầu phát huy hiệu quả tích cực Hoạt động giao lưu, hợp tác và hội nhập quốc tế về kinh tế, văn hoá không ngừng mở rộng và đi vào chiều sâu Công cuộc xây dựng và phát triển con người có nhiều thành tựu vượt bậc Những điển hình, tiên tiến, những tấm gương sáng trên tất cả các lĩnh vực học tập, lao động, chiến đấu, phục vụ tổ quốc, nhân dân, chống dịch bệnh, khắc phục thiên tai, bão, lũ, trên khắp mọi miền đất nước trong những năm qua là những
Trang 14về sự củng cố, phát huy và phát triển các giá trị con người Việt Nam trong thực tiễn
Trong gần 4 thập niên qua phát triển toàn diện con người Việt Nam đã trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; việc xây dựng con người theo các giá trị, tiêu chí và chuẩn mực con người, được nêu ở Nghị quyết TW 5 khóa VIII và Nghị quyết TW 9 khóa XII, đạt được những thành tựu nổi bật Các giá trị, tiêu chí và chuẩn mực xây dựng và phát triển con người Việt Nam được được hiện thực hóa và phát huy tác dụng rất to lớn, quyết định các thành tựu của đất nước Chỉ số HDI và các chỉ số khác về phát triển con người không ngừng gia tăng đạt mức cao hơn so với các quốc gia có cùng mức thu nhập bình quân GDP/người/năm Nhưng, chất lượng của việc xây dựng và phát triển con người Việt Nam cũng đang có vấn đề nên chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay, đang gây nên rất nhiều hệ lụy không mong muốn cho chính con người và xã hội, cản trở công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nhanh
và bền vững đất nước Nhiều biểu hiện phản giá trị, phi văn hóa, thiếu nhân văn, vẫn tồn tại làm giảm sút niềm tin vào công bằng, lẽ phải, vào các cơ quan Đảng và Nhà nước, làm suy giảm khát vọng và động lực phát triển đất nước và con người Nhiều vấn đề nóng bỏng của đất nước, từ kinh tế đến chính trị, văn hóa, xã hội và chính bản thân con người đều trực tiếp hoặc gián tiếp gắn liền những vấn đề về các
hệ giá trị quốc gia, văn hóa, gia đình, con người và cộng đồng Xã hội Việt Nam vẫn đang tiếp tục các quá trình chuyển đổi từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp, từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang kinh tế thị trường,
từ xã hội khép kín, “đóng cửa” sang “mở”, chủ động và tích cực hội nhập Trong bối cảnh đó đòi hỏi xây dựng, phát huy, phát triển các giá trị con người là rất cần thiết, rất có ý nghĩa trên nhiều mặt, nhiều phương diện
Hệ giá trị con người là một cấu thành đặc biệt quan trong trong hệ thống nhiều hệ giá trị Việt Nam khác nhau cùng tồn tại trong giai đoạn lịch sử hiên nay
Trang 15của mình đến nay, dân tộc Việt Nam đã tạo nên một hệ thống nhiều hệ giá trị khác nhau như: hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị xã hội, hệ giá trị gia đình,
hệ giá trị cộng đồng, hệ giá trị tộc người, hệ giá trị đạo đức, hệ giá trị chính trị, v.v Tùy thuộc vào lĩnh vực, đối tượng, chủ thể, góc độ xem xét, mà mỗi một hệ giá trị
đó lại bao hàm những giá trị khác nhau và có những cơ cấu, trình tự thứ bậc khác nhau Nhưng trong hệ thống các hệ giá trị đó thì hệ giá trị con người bao giờ cũng là
hệ giá trị trung tâm Trong mối quan hệ với các hệ giá trị cơ bản như hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, hệ giá trị cộng đồng,… thì hệ giá trị con người còn thể hiện là hệ giá trị cốt lõi với nhiều giá trị xuyên suốt các hệ giá trị khác Hệ giá trị con người ẩn chứa, kết tinh, thấm đẫm, trong nhiều mặt, nhiều nội dung của các hệ giá trị khác
Nếu hiểu theo nghĩa rộng, chung nhất, giá trị là những sự vật, hiện tượng, quá trình hay tất thảy những thứ được con người xem là có ý nghĩa nhất định, ít nhiều, đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của con người, xã hội Nó bao hàm
cả mặt chủ quan lẫn khách quan gắn bó chặt chẽ, không tách rời lẫn nhau Theo
nghĩa đó hệ giá trị con người là những yếu tố tích cực, những phẩm chất, đặc tính,
tính cách người, các nội dung, yêu cầu trong các quan hệ xã hội, thể hiện thực chất những quan hệ người (với tự nhiên, với người khác, với cộng đồng, với xã hội) được hình thành và trao truyền trong quá trình sinh tồn, phát triển có ý nghĩa tích cực, tốt đẹp, hữu ích, thúc đẩy sự phát triển con người và xã hội Hệ giá trị con
người còn là sản phẩm quá trình nhận thức của các chủ thể người khác nhau Không
có sự nhận thức và đánh giá của các chủ thể người thì các quan hệ người vẫn tồn tại
mà không hề có ý nghĩa, vai trò, nghĩa là không có giá trị với con người Nhận thức
và hoạt động thực tiễn của con người càng phát triển thì hệ giá trị con người càng được khai mở, nội dung càng nhiều thêm, phong phú thêm, đa dạng hơn Con người
trong xã hội hiện đại đương nhiên biết đến, hiểu rõ nhiều giá trị hơn con người cổ đại
Trang 16Trong đời sống con người có nhiều loại phẩm chất, yếu tố, đặc tính, quan hệ
xã hội khác nhau, từ quan hệ trong gia đình đến quan hệ ngoài xã hội, từ quan hệ
với quá khứ đến quan hệ với hiện tại và tương lai, v.v Chính vì thế, hệ giá trị con
người có nhiều giá trị cụ thể với nhiều nội dung khác nhau, có trật tự, thứ bậc khác nhau Mỗi giá trị trong hệ giá trị con người, phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể lại là một biến số Có giá trị vĩnh hằng, dù vị trí trong thang bậc cũng không thể
cố định, lại có giá trị chỉ là giá trị trong một giai đoạn lịch sử nào đó của con người Sự thay đổi, khác biệt về vị trí, thang bậc trong hệ giá trị con người càng
khiến cho việc xác định, xây dựng, phát huy và phát triển nó càng không dễ dàng
Hệ giá trị con người gắn liền với các quan hệ xã hội, trong đó có quan hệ lợi ích và những điều kiện, môi trường xã hội mà con người sinh sống hiện thực Vì thế, ở các giai tầng xã hội, các lĩnh vực, các vùng miền, khu vực, các quốc gia khác nhau, hệ giá trị con người cũng có những nét khác biệt nhau, dù rằng vẫn có nhiều giá trị, hoặc nội dung chung, giống nhau cả về nội dung lẫn thứ bậc Trong xã hội
có lợi ích đối lập chắc chắn cũng sẽ có những giá trị con người khác biệt đối lập nhau trong hệ thống giá trị con người, được thể hiện trước tiên và rõ rệt nhất trong
việc đánh giá các quan hệ cụ thể của con người và xã hội Quan hệ lợi ích là một
trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định sự định hình hay vượt bỏ một giá trị
cụ thể nào đó, làm thay đổi trật tự và toàn bộ hệ giá trị nói chung trong những thời
kỳ lịch sử xác định Mặt khác, khi mà những điều kiện, môi trường xã hội có những
thay đổi mạnh mẽ, thí dụ, xẩy ra những thay đổi cách mạng trong từng lĩnh vực xã hội như kinh tế hay chính trị, văn hóa hay khoa học và công nghệ, v.v thì hệ giá trị con người lại được kiểm định lại, được bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với các điều kiện, môi trường thay đổi đó Ở những thời thời kỳ biến đổi như vậy hệ giá trị con người và các hệ giá trị nói chung có những chuyển đổi mạnh mẽ và rõ rệt nhất
vì vậy, việc xây dựng và phát triển hệ giá trị con người nhất thiết phải chú ý đến việc thay đổi các quan hệ lợi ích, các điều kiện và môi trường xã hội
Trang 17lọc, gạt bỏ, bổ sung, tiếp biến và phát triển phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau
Hệ giá trị dù có biến đổi thường xuyên, liên tục, nhưng cũng có độ trễ so với những biến đổi của các điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, có tính ổn định tương đối, có
sự bền vững, bất biến, “trường tồn” ở những mức độ và phạm vi nhất định Hệ giá trị con người được lưu giữ, truyền bá từ thế hệ này qua thế hệ khác, trở thành tài sản, hành trang của các thế hệ, mang suốt cuộc đời Nó trở thành thước đo suy nghĩ, hành vi, hoạt động của mỗi con người, cộng đồng trong xã hội, của từng thời
kỳ lịch sử cụ thể, là “khuôn mẫu”, “chuẩn mực” để mỗi người và cả cộng đồng định hướng cho các suy tư, hành vi và hoạt động của mình Nếu các suy tư, hành
vi, hành động ấy, dù theo đúng khuôn mẫu, chuẩn mực ấy, nhưng mang lại hệ quả không tốt, không đáp ứng lợi ích chung hoặc riêng, không phù hợp với hiện tại hoặc tương lai thì những khuôn mẫu, chuẩn mực cụ thể, những giá trị đơn lẻ, hoặc những nội dung xác định của giá trị đó sẽ bị loại bỏ dần
Hệ giá trị con người gồm nhiều giá trị cấu thành khác nhau Ở mỗi giai đoạn phát triển của con người và xã hội thì hệ giá trị con người có những thay đổi nhất định Điều đó lại dẫn đến sự thay đổi các chuẩn mực cụ thể trong đời sống con người và cộng đồng Điều này không chỉ phụ thuộc vào bối cảnh, điều kiện khách quan, lĩnh vực nghề nghiệp, mà còn phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển của chủ thể, phụ thuộc vào tiến trình chuyển biến của vòng đời con người Vì thế, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nêu tiêu chí, giá trị, chuẩn mực của thiếu niên và nhi đồng (5 điều Bác Hồ dạy), khác với tiêu chí, giá trị, chuẩn mực của anh bộ đội, của lực lượng công an nhân dân Việc xây dựng hệ giá trị con người trong thời kỳ mới hiện nay phải cụ thể hóa thành các tiêu chí, chuẩn mực, cho các từng lớp người, các lĩnh vực
xã hội, các lứa tuổi khác nhau, trên cơ sở phương pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước đây
Trang 18Cho đến nay, cả về phương diện nhận thức lẫn thực tiễn, giới học thuật chúng
ta chưa xác định chính xác được hệ giá trị con người với những chuẩn mực, tiêu chí
cụ thể, được xã hội đồng thuận, để có thể khai thác, phát huy, phát triển trong thời
kỳ mới hiện nay một cách phù hợp, hiệu quả tốt hơn Một số học giả, nhà nghiên cứu, thậm chí cả một vài người nước ngoài đã nêu lên một số nhận định về xã hội, con người Việt Nam như Đào Duy Anh2, Trần Văn Giàu3, và một số học giả khác4,… mà họ xem đó là những giá trị Việt Nhưng nếu xem xét kỹ lưỡng thì thấy đúng ra đó mới chỉ là những đặc tính nhất định của con người hoặc xã hội Việt Nam
ở một giai đoạn lịch sử nào đó chứ chưa phải toàn bộ những nội dung mà họ nêu đều đã là những giá trị Việt hay hệ giá trị con người Việt Nam Một số tài liệu khác cũng đã xác định các đức tính hoặc tiêu chí xây dựng con người Việt Nam5 Nhưng
đó không phải là tất cả giá trị hay hệ giá trị con người Việt Nam dù trong nội dung
có thể hiện các giá trị con người Có những điểm đúng là có những giá trị con người Việt cốt lõi như tinh thần yêu nước, anh hùng, vị nghĩa Nhưng điều quan trọng là phải xác định tính đặc thù của tinh thần yêu nước, anh hùng, vị nghĩa của Việt Nam
và của con người Việt Nam Các ý kiến đó (cả trong nước lẫn nước ngoài) cần được phân tích và tham khảo để xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam với thứ bậc của các giá trị cụ
2 Xem: Đào Duy Anh.- Việt Nam văn hóa sử cương (1938 in lại 1998) với 7 giá trị như là bản sắc văn hoá Việt:
(1) “Sức ký ức” [trí nhớ] tốt, thiên về nghệ thuật và trực giác; (2) Ham học, thích văn chương; (3) “Ít mộng tưởng” [thiết thực]; (4) “Sức làm việc khó nhọc” [cần cù] ở mức độ “ít dân tộc bì kịp”; (5) “Giỏi chịu… khổ và hay nhẫn nhục”; (6) “Chuộng hòa bình, song ngộ sự thì cũng biết hy sinh vì đại nghĩa”; (7) Khả năng “bắt chước, thích ứng và dung hóa rất tài”
3 Xem: Trần Văn Giàu.- “Giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam” (1980) với 7 giá trị của văn hoá Việt: (1)
Yêu nước; (2) cần cù; (3) anh hùng; (4) sáng tạo; (5) lạc quan; (6) thương người; (7) vì nghĩa
4 Xem: http://www.gocnhinalan.com/bai-cua-khach/mot-goc-nhin-tong-ve-ca-tinh-viet.html ngày 3 Jan
2014; Claude Falazzoli (Italia, 1981).- “Việt Nam giữa hai huyền thoại” cho rằng người Việt có 7 giá trị: (1) Ý
thức “giữ phẩm giá, không chịu để mất nó trong bất cứ thử thách nào”; (2) “Nết cần cù có thể lấp biển”; (3)
“Lịch thiệp, tế nhị… khiến cho không khí ở đây không thô lỗ và nặng nề”; (4) “Một sự tinh tế cố tình chẻ sợi tóc làm tư”; (5) “Tính dè dặt, kéo dài sự cân nhắc, xét đoán, quyết định”; (6) “Tính thực dụng… khả năng thích ứng khéo léo và sáng suốt với mọi tình huống”; (7) “Đặc biệt lãng mạn và đa cảm”
5 Thí dụ xem: Nghị quyết Hội nghị TW Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 5 khóa 8 năm 1998 với 5 đức tính như
là 5 tiêu chí xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn đẩy mạnh công nhân, hiện đại hóa; Lương Đình Hải.- Những tiêu chí cơ bản của con người Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay.- Tạp chí Thông tin Khoa học
xã hội, số 10 và 11 năm 2009, với 5 tiêu chí; Lương Đình Hải.- Xây dựng hệ giá trị Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.- Tạp chí Nghiên cứu Con người số 1 (76)- 2015: “chúng tôi tạm nêu lên bảng 10 giá trị Việt sau đây góp phần thảo luận về việc xây dựng hệ giá trị Việt Nam trong giai đoạn
Trang 19đình với hệ giá trị con người Việt Nam
Một số học giả trong khoảng 2 thập niên vừa qua đã khẳng định những phẩm chất, đặc tính của con người Việt Nam được nêu trong Nghị quyết Hội nghị TW lần thứ 5 khóa VIII (1998) là những nội dung chính của hệ giá trị con người Việt Nam:
Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới với những đức tính sau:
- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
- Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung
- Có lối sống lành mạnh, nếp sống vǎn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ
và cải thiện môi trường sinh thái
- Lao động chǎm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, nǎng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội
- Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực6
- Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc ở Hội trường Ba đình ngày 21 tháng 11 năm 2021 Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đúc kết, khái quát các giá trị con
người Việt Nam gồm: Yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực,
trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo
“Xây dựng con người Việt Nam thời kỳ đổi mới, phát triển, hội nhập với những giá trị chuẩn mực phù hợp, gắn với giữ gìn, phát huy giá trị gia đình Việt Nam, hệ giá trị văn hóa, giá trị của quốc gia - dân tộc; kết hợp nhuần nhuyễn những giá trị truyền thống với giá trị thời đại: Yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo Những giá trị ấy được nuôi dưỡng bởi
Trang 20Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,
https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-03- nqtw-ngay-1671998-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-tai-hoi-nghi-trung-uong-5-khoa-viii-ve- xay- dung-va-phat-1692
Trang 21của hệ giá trị quốc gia và cũng là mục tiêu phấn đấu cao cả của dân tộc ta: Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc” 7
Đây có thể xem là những giá trị cơ bản, chủ yếu, cốt lõi trong hệ giá trị con người Việt Nam hiện nay Những giá trị này vừa là kết tinh những truyền thống tốt đẹp hàng ngàn năm xây dựng và bảo vệ đất nước, vừa là yêu cầu, đòi hỏi con người Việt Nam đương đại phải thực hiện, phải tuân thủ, phải xem là khung khổ, khuôn mẫu, tiêu chí để suy nghĩ và hành động Không ai có thể phủ nhận rằng yêu nước là một giá trị của con người Việt Nam, dù đó là con người Việt Nam trong lịch sử hay con người Việt Nam hiện nay Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta”8 Đây là giá
trị cốt lõi nhất, cơ bản nhất trong các giá trị cốt lõi, cơ bản của hệ giá trị con người Đồng thời, nó cũng là giá trị muôn đời của các thế hệ mai sau Cũng tương
tự như vậy, các giá trị đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo, cũng là những giá trị vừa mang tính truyền thống, vừa là chuẩn mực, tiêu chí cho suy nghĩ và hành động của mỗi người, mỗi cộng đồng và cả dân tộc trong cả hiện tại và tương lai Chắc chắn rằng đây chưa phải là toàn bộ các giá trị con người Việt Nam trong giai đoạn đoạn hiện nay Hệ giá trị con người Việt Nam còn nhiều giá trị khác nữa: Nhân ái, khoan dung; Anh hùng, dũng cảm; Hiếu học; Cần cù; Lạc quan; Trọng đạo lý; v.v
Các hệ giá trị Việt Nam nói chung, hệ giá trị con người nói riêng, là một trong những nguồn lực nhân văn vĩ đại của quốc gia – dân tộc, là nguồn lực nội sinh đặc biệt Các nguồn lực khác như tài nguyên, khoáng sản truyền thống, khi
càng khai thác càng bị cạn kiệt; nếu không khai thác thì vẫn nguyên vẹn, không hao mòn, không tàn lụi Các nguồn lực hệ giá trị nói chung, đặc biệt, nguồn lực hệ giá trị con người nếu không sử dụng, không khai thác, không khơi dậy và
7 Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc ở Hà Nội
Trang 22phát huy, nó sẽ không những không phát triển mà còn dần lu mờ, tàn lụi, suy giảm
và mất dần vai trò, sức mạnh Đó là nguồn lực rất đặc biệt, nếu liên tục dùng thì không bao giờ hết, không bao giờ cạn kiệt, nhiều thế hệ, nhiều chủ thể có thể cùng dùng, cùng khai thác Chúng càng được khai thác, càng được khơi dậy, càng được phát huy, thì càng trở nên phát triển, nẩy sinh, phồn thịnh, càng bùng dậy mạnh mẽ Các giá trị, hệ giá trị Việt Nam như là những viên ngọc, thỏi vàng quý giá, “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” Các thế hệ ông, cha, trong lịch
sử đã khai thác, phát huy và phát triển rất hiệu quả các hệ giá trị Việt Nam nói chung, hệ giá trị con người nói riêng Chính vì thế các thế hệ, các chủ thể, cả hôm nay và ngày mai cần biết trân trọng, khơi dậy, khai thác, phát huy và phát triển nguồn lực nội sinh đặc biệt, vô giá này
Hệ giá trị con người Việt Nam là nội dung cấu thành quan trọng nhất, quyết định nhất chất lượng nhân lực và nguồn lực con người trong mọi thời đại Dù nhận
thức và sử dụng có ý thức được vai trò của nó hay không thì đây vẫn là điều tất yếu
Hệ giá trị con người có mặt trong tất cả các cấu phần của nguồn lực con người, của nhân lực: thể lực, trí lực, tâm lực và kỹ lực 9 Hệ giá trị Việt Nam, đặc biệt là hệ
giá trị con người, luôn tồn tại, tác động vào xã hội thông qua hoạt động của mỗi người, mỗi cộng đồng, mỗi chủ thể khác nhau trong toàn bộ hệ thống nhân lực và nguồn nhân lực Nguồn nhân lực chất lượng cao trước hết là nguồn nhân lực có hàm lượng hệ giá trị con người và các hệ giá trị Việt Nam rất cao Nếu muốn đột phá trong phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao thì không thể không có giáo dục, trao truyền, khơi dậy, phát huy, phát triển hệ giá trị con người Việt Nam và các hệ giá trị Việt Nam khác
Chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn 2021-2030 với tầm nhìn đến
2045 trong bối cảnh nói ở phần trên muốn thành công tất yếu phải phát huy cao độ tất cả các nguồn lực có thể có của dân tộc và thời đại Trong số đó có các nguồn lực nhân văn, mà đặc biệt quan trọng và quyết định là nguồn lực con
Trang 23nguồn lực này càng có ý nghĩa quyết định, bởi khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và là yếu tố luôn động, là động lực luôn phát triển của lực lượng sản xuất ở quy mô toàn cầu, đang làm biến đổi toàn bộ nền kinh tế và đời sống xã hội toàn thế giới với tốc độ ngày càng nhanh Xét từ góc độ con người và văn hóa thì, như đã nói, hệ giá trị con người là yếu tố then chốt, cốt lõi và căn bản của nhân lực, của nguồn lực con người nói chung
Khi nói về hệ giá trị con người hay về hệ giá trị Việt Nam theo nghĩa chung, trong tâm thức mọi người theo thói quen và tập quán, khía cạnh đạo đức được nhắc đến trước tiên Trong cách hiểu chung hệ giá trị con người Việt Nam, các nội dung
về đạo đức, về trách nhiệm đối với con người, cộng đồng luôn được chú trọng hơn Trong hệ giá trị con người luôn có các giá trị văn hóa, các giá trị truyền thống, các giá trị đạo đức, các giá trị chung, phổ quát của nhân loại, của khu vực Điều này có
lẽ không chỉ do tập quán và thói quen truyền thống mà trong thực chất, thực tế, các giá trị đạo đức trong hệ giá trị con người Việt Nam có vai trò và có ảnh hưởng to lớn Đứng ngay sau các giá trị đạo đức và rộng hơn nó là các giá trị văn hóa Sức nặng của hệ giá trị văn hóa trong hệ giá trị con người là rất to lớn, bởi ảnh hưởng và tác động của nó đến con người và xã hội luôn hiện hữu, quyết định và chi phối sự biến đổi, phát triển và cả sự tồn vong của dân tộc – quốc gia Đây chính là nét đặc thù để chúng ta xem xét và là điểm chúng ta cần hết súc lưu ý khi xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam, cũng như khi khai thác, sử dụng và phát huy nó để phát triển đất nước, phấn đấu đến giữ thế kỷ XXI nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng XHCN
Trong hiện thực nếu các hệ giá trị nói chung, hệ giá trị con người nói riêng bị biến động, lệch chuẩn, rối loạn thì xã hội đương nhiên là mất phương hướng, suy giảm niềm tin, bất ổn, rối ren Sự xung đột giữa các giá trị cũ sắp bị loại bỏ hoặc bị
Trang 24hướng giá trị; các hành vi, hoạt động của những con người, bộ phận dân cư khác nhau sẽ được đánh giá, định vị, theo những chuẩn mực, khung mẫu khác nhau Tình hình đó dẫn đến sự xung đột trong định hướng, đánh giá và niềm tin, tạo nên sự rối loạn của xã hội Những thang bậc đúng sai, tốt xấu, có lợi, có hại,… đối với cộng đồng, cá nhân, có thể bị đảo lộn Trong những thời đoạn như vậy vai trò của tầng lớp elite của xã hội, của truyền thông là rất quan trọng Nếu họ không đảm đương được trách nhiệm định hình giá trị, xác lập, củng cố vai trò các giá trị và hệ giá trị con người, nhanh chóng điều chỉnh định hướng phù hợp với xu thế phát triển, thì xã hội sẽ rối ren hơn, hệ lụy nặng nề kéo dài hơn
Về thực trạng xây dựng, phát huy và phát triển hệ giá trị con người trong giai
đoạn hiện nay cần lưu ý mấy điểm sau đây Thứ nhất, từ trước đến nay, trong các tài
liệu, kể cả văn kiện Đảng mấy nhiệm kỳ gần đây đều đã nhấn mạnh điểm nghẽn của
sự phát triển đất nước nói chung và của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hóa
là nguồn nhân lực; đột phá của sự phát triển cũng là nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao - hiện đang là điểm nghẽn đối với sự phát triển đất nước “Nghẽn” về khơi dậy, khai thác, phát huy, phát triển hệ giá trị con người và
hệ giá trị Việt Nam, là nội dung rất quyết định trong phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao, lại chưa được nghiên cứu, chưa được nhận thức, và chưa được thể hiện thành chính sách, giải pháp cụ thể Hai nhiệm kỳ Đại hội Đảng gần đây đã chú ý nhiều hơn, nhưng chưa triển khai được bao nhiêu Cần nhận thức rằng đây là khiếm khuyết, thiếu sót chủ quan quan trọng cần được khắc phục sớm Nếu không chú ý đến điểm trọng yếu này thì không thể có đột phá trong phát triển nhân lực và nguồn nhân lực, do vậy đất nước cũng chưa thể có đột phá trong phát triển
Thứ hai, tất cả các chủ trương chính sách về con người và về nguồn nhân lực,
nhân lực cho đến nay vẫn chưa chú ý đến hệ giá trị con người và hệ giá trị Việt Nam, càng chưa chú ý trực tiếp đến khơi dậy, khai thác, phát huy, phát triển các hệ
Trang 25các kỳ gần đây đếu nhấn mạnh vai trò chủ thể của con người, xem con người là mục tiêu, động lực, con người là trung tâm, là mục tiêu của sự phát triển Nhưng vai trò chủ thể, động lực của con người lại bị quy định bởi các hệ giá trị mà con người mang trong mình, lại không được nói đến Xây dựng và phát triển con người mà không nói đến xây dựng và phát huy các hệ giá trị nói chung, hệ giá trị con người nói riêng cũng là thiếu sót quan trọng, rất cần sớm được khắc phục
Thứ ba, hệ giá trị con người và hệ giá trị Việt Nam là một trong những nội
dung cốt lõi nhất của xây dựng phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện nay Các hệ giá trị đó đều trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra các sản phẩm có giá trị và có thể tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu Trong thực tế, giá trị của các sản phẩm không thể không có sự tham gia của các hệ giá trị Việt Nam, nhất
là hệ giá trị con người Công nghiệp điện ảnh, du lịch văn hóa, du lịch tâm linh, lịch sử, sinh thái, v.v là những thí dụ về hệ giá trị Việt Nam tạo nên giá trị của cải vật chất Đã qua thời gian dài chúng ta không chú ý điểm này nên nhiều sản phẩm của công nghiệp, của nền kinh tế nước nhà không có chất lượng tốt, không thể gia nhập chuỗi giá trị toàn cầu Trong điều kiện kinh tế thế giới bước sang giai đoạn phát triển mới với đặc tính mới là hao mòn giá trị, hao mòn vô hình, nhanh hơn hao mòn hữu hình thì sự tham gia của các hệ giá trị con người, hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị quốc gia có vai trò rát đặc biệt đối với việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường hiện đại
Thứ tư, trong hiện thực, chúng ta đang “khủng hoảng” hệ giá trị con người ở
những mức độ khác nhau Suy thoái về tư tưởng, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tư duy, của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong thời gian qua là minh chứng rõ ràng cho điều đó Việc xác định, xây dựng và phát huy các hệ giá trị văn hóa, con người là rất cần kíp, rất quan trọng, rất có ý nghĩa đối với
Trang 26việc phòng chống tham ô, tham nhũng, tiêu cực hiện nay Không xác lập rõ, không củng cố được và không phát huy được các hệ giá trị Việt Nam, nhất là hệ giá trị con người trong thực tế, chúng ta khó có thể đẩy lùi được tình trạng suy thoái nói trên Xác lập và xây dựng, phát huy các hệ giá trị sẽ củng cố sự ổn định xã hội, đảm bảo
an ninh con người, “giảm sốc” cho các biến động kinh tế, xã hội, chính trị, tư tưởng… giúp con người và xã hội “vững vàng”, bản lĩnh hơn, định hướng tốt hơn, hiệu quả hơn trước mọi biến động, khủng hoảng của đời sống
Thứ năm, cá nhân, gia đình, nhà trường, xã hội là những chủ thể xã hội đặc
biệt quan trọng trong việc hình thành hệ giá trị con người Các chủ thể xã hội này
có chứng năng, vai trò đặc biệt, to lớn trong việc khơi dậy, trao truyền, bồi đắp, phát triển, tiếp biến và phát huy, hệ giá trị con người, các hệ giá trị Việt từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ cá nhân, cộng đồng này qua cá nhân, cộng đồng khác Sự kết nối liên hoàn vai trò giáo dục hệ giá trị con người của các chủ thể cá nhân, gia đình, nhà trường, xã hội đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tiếp nhận, hình thành, và phát triển các hệ giá trị Việt Nam nói chung và hệ giá trị con người nói riêng, đặc biệt là giữa các thế hệ trẻ Trong quá trình chuyển đổi của đất nước, đang xuất hiện sự “đứt gãy”, gián đoạn về giáo dục, trao truyền hệ giá trị con người giữa các thế hệ Trước đây công việc này, chủ yếu do gia đình đảm nhận, là vai trò, chức năng căn bản của gia đình, ông bà, bố mẹ Ngày nay, trẻ em, nhất là trẻ em ở các thành phố, khu công nghiệp, thời gian trẻ em ở trường, giao tiếp với cô thầy, bạn
bè, học tập kiến thức nhiều hơn ở nhà với ông bà, bố mẹ, anh chị em Trong khi nhà trường chưa sẵn sàng, chủ động với giáo dục các hệ giá trị thì vai trò, chức năng của gia đình về việc này đang bị rút bỏ Xã hôi chưa sẵn sàng tiếp nhận nhiệm vụ trực tiếp, chủ động trao truyền, giáo dục hệ giá trị con người và các hệ giá trị khác thì gia đình đã bị tước bỏ chức năng này Đây là khuyết khuyết lớn cần phải nhanh chóng được khắc phục càng sớm càng tốt
Trang 27rất đúng, rất trúng vào thực tiễn về nhiều vấn đề của đời sống xã hội trong các thời
kỳ khác nhau, từ khi đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc, xây dựng đất nước Trong giai đoạn Đổi mới, mặc dù Đảng đã xác định con người là mục tiêu, là động lực, là trung tâm của sự phát triển; công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đều phải do con người, vì con người Nhưng, trong thực tế, chủ trương đó vẫn chưa được các chủ thể xã hội khác nhau thực sự xem con người, nhân lực là khâu quyết định; Đảng chưa có nghị quyết riêng về xây dựng và phát triển con người, dù tất cả các nghị quyết đều có nói về con người Đã đến lúc cần có một nghị quyết chuyền đề về xây dựng và phát triển con người với đầy đủ các nội dung phong phú về con người đối với phát triển bền vững đất nước đến 2030 và tầm nhìn đến 2045 Trong đó các hệ giá trị Việt Nam nói chung, hệ giá trị con người Việt Nam nói riêng, là những nội dung cơ bản không thể thiếu
Với nghị quyết đó điểm nghẽn và những bất cập về nguồn lực con người, về nhân lực, cũng như đột phá về nguồn nhân lực trong phát triển đất nước sẽ được giải quyết ở tầm chiến lược chứ không phải là sự chắp vá, ngắn hạn, phiến diện và ít hiệu quả như thời gian qua Động lực, nội dung cốt lõi của xây dựng và phát triển con người trong giai đoạn hiện nay chính là xác lập, khơi dậy và phát huy các hệ giá trị con người, gia đình, cộng đồng, văn hóa, quốc gia trong mỗi con người, mõi chủ thể xã hội khác nhau Mô hình và chiến lược, phương thức, giải pháp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nhanh và bền vững đất nước từ nay cho đến 2030, tầm nhìn đến 2045, phải gắn kết thực sự với chiến lược xây dựng và phát triển con người với những nội dung về các hệ giá trị Việt, nhất là hệ giá trị con người Việt Nam trong nghị quyết đó Sự nghiệp xây dựng, phát triển bền vững đất nước không
thể thành công nếu không có những con người, và nhân lực tương ứng Sẽ là sai
lầm nếu chỉ nhấn mạnh vào khía cạnh kỹ thuật, công nghệ mà xem nhẹ khía cạnh con người, nhân lực, hệ giá trị Nghị quyết chuyên đề về xây dựng và phát triển
Trang 28công nghiệp hóa, hiện đại hóa 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 là rất cần kíp, rất quan trọng, rất có ý nghĩa, cần được ra đời sớm, định hướng cho tất cả các quá trình chuyển đổi, từ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, xây dựng con người và đột phá nguồn nhân lực, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế hiện nay./
E mail: tskhldh@yahoo.com
Phone: 097707 4488
Trang 29VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG CHUẨN MỰC CON NGƯỜI VIỆT NAM
Hồ Sĩ Quý * Xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam là nhiệm vụ không tách rời với xây dựng
hệ giá trị gia đình, hệ giá trị văn hoá và hệ giá trị quốc gia Về thực chất, đó là sự tìm kiếm một tổng thể các giá trị tin cậy với chuẩn mực lý tưởng về con người, nhằm khơi dậy ý chí phát triển, định hướng để từng con người và toàn xã hội phát triển lành mạnh, phát huy được tối đa tiềm năng, thu hút được ngoại lực và tinh hoa văn hoá, văn minh nhân loại, thực hiện thành công mục tiêu kỳ vọng mà Đại hội XIII của Đảng đã đặt ra là, phấn đấu đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập Nước, Việt Nam trở thành một quốc gia phát triển, có thu nhập cao
* * *
1 Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc xây dựng các hệ giá trị cốt lõi, năm 2014, việc xây dựng và hoàn thiện hệ giá trị văn hóa và con người Việt Nam đã được đặt ra tại Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI Tuy nhiên, sau
5 năm thực hiện Nghị quyết này, rất nhiều vấn đề bức xúc về con người và văn hóa đã bộc lộ ra Ngày 4/6/2020 Bộ Chính trị đã ra kết luận đánh giá quá trình thực hiện Nghị quyết này Kết luận chỉ rõ, sự nghiệp phát triển văn hóa và xây dựng con người Việt Nam, bên cạnh những thành tựu đáng kể đã đạt được, vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, trong đó, “Việc xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế chưa đạt được mục tiêu
đề ra Đạo đức, lối sống có mặt xuống cấp đáng lo ngại” 1
Đây cũng chính là lý do khiến vấn đề xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình, trong tương quan với xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, được đặt ra tại Đại hội XIII của Đảng Trong nội dung thứ VII của Báo cáo chính trị “Xây dựng và phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam”, Đảng ta xác định: “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới… Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con
* GS.TS., Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
hosiquy.thongtin@gmail.com.
Trang 30HỆ GIÁ TRỊQUỐC GIA, HỆ GIÁ TRỊVĂN HOÁ, HỆ GIÁ TRỊGIA ĐÌNH & CHUẨN MỰC CON NGƯỜIVIỆT NAM”
bộ, văn minh; được bồi đắp, phát triển bởi nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với hệ giá trị: Dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học; trên nền tảng của hệ giá trị quốc gia và cũng là mục tiêu phấn đấu cao cả của dân tộc ta: Hoà bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc” 3
2 Chuẩn mực con người, thực chất là chuẩn mực xã hội Ngay cả trường hợp những
cá nhân tự xác định chuẩn mực cho riêng mình, chỉ mình anh ta thực hiện, không cần đến
sự can thiệp của người khác, của cộng động, thì trên thực tế, những chuẩn mực mà anh ta
tự xác định cũng vẫn là chuẩn mực xã hội - chuẩn mực theo những quan niệm xã hội nào
đó, mà anh ta thu nhận từ cộng đồng và tự áp dụng cho mình Với những trường hợp này,
cơ chế kiểm tra, đánh giá thường rất nghiệm ngặt, tưởng như chỉ có ý nghĩa cá nhân, nhưng thực tế vẫn là theo những nguyên tắc, quy tắc, luật lệ… xã hội
Về mặt lý thuyết, toàn bộ những nguyên tắc, quy tắc, luật lệ, những quan niệm theo
lẽ phải thông thường về nghĩa vụ và trách nhiệm, về những điều cấm kỵ và những hành vi được phép, thậm chí những hành vi được xem là phản cảm hay cần noi theo… đều là những khuôn thước của xã hội, tức là thuộc phạm vi của những chuẩn mực xã hội
2 ĐCSVN (2021) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII t I Nxb CTQG Hà Nội, tr
143
quốc
Trang 31HỘITHẢOKHOAHỌC BANTUYÊNGIÁO TW 11/2022
3 Đời sống con người xưa nay đều diễn ra trong và thông qua sự kiểm định của thế giới các các chuẩn mực Tất cả những gì con người suy nghĩ, mong muốn, tỏ thái độ hay hành động… đều được mỗi cá nhân tự đặt bản thân mình trước sự “đo đạc” và phán xét” của những chuẩn mực Trên cơ sở đó, con người sẽ lựa chọn thực hiện thái độ và hành vi, tuân thủ nhiều hay ít chuẩn mực cộng đồng
Con người thường khao khát có một cuộc sống có ý nghĩa và hạnh phúc Khi chuẩn mực xã hội được cho là tốt đẹp, hợp lý, thậm chí là thiêng liêng, thì những chuẩn mực ấy trở thành quỹ đạo của những hành vi và thái độ lý tưởng, đến mức đôi khi con người sẵn sàng hy sinh cho những mục đích nào đó mà họ cho là cao cả
Do vậy, chuẩn mực xã hội (Social Standard, Social Norm) là những nguyên tắc, quy tắc, khuôn mẫu hành vi và thái độ, những lề thói đám đông (Crowd Routines), thậm chí định kiến…, được thiết kế hoặc tự hình thành, được thừa nhận ngầm định (Implicit Admission) hoặc công khai… dùng để “đo đạc” và phán xét” (Measurement, Judgment) hành vi và hoạt động, tác phong và thói ứng xử, quan niệm và thái độ… của cá nhân hoặc cộng đồng
Về phương diện khoa học, có những bí ẩn của chuẩn mực xã hội, mà ngay trong các tài liệu khoa học uy tín cũng không thấy được giải đáp thỏa đáng
Chẳng hạn, chuẩn mực xã hội có thành phần gồm những gì? - chủ yếu là lý tính, lý trí gắn liền với logic, hay chủ yếu là thái độ, tình cảm gắn liền với thói quen cảm tính? Tại sao không một quyền lực nào có thể “sai khiến” được chuẩn mực xã hội, mà ngược lại chính nó lại sai khiến con người, từ người có quyền lực đến người bình thường? Bằng sức mạnh nào mà chuẩn mực xã hội có thể lan tỏa trong đời sống một cách tự nhiên và được mọi người tỏ thái độ (chấp nhận hoặc phản đối) như vậy?
Nhiều nhà tâm lý học đã có những công trình nghiên cứu công phu xác định thành phần chủ yếu của chuẩn mực xã hội là cảm tính Người ta căn cứ vào những bất hợp lý của việc thực hiện các chuẩn mực xã hội trong thực tế để xem xét vai trò của yếu tố cảm tính trong các chuẩn mực xã hội Tuy nhiên nhiều ý kiến khác lại tìm ra những bằng chứng cũng không kém phần thuyết phục, để khẳng định thành phần chủ yếu của các chuẩn mực xã hội chính là lý tính Người ta giải thích rằng, đằng sau đang ở sau các hành
vi tuân thủ chuẩn mực xã hội tưởng chừng như nông nổi, cảm tính, hay đằng sau các
Trang 32HỆ GIÁ TRỊQUỐC GIA, HỆ GIÁ TRỊVĂN HOÁ, HỆ GIÁ TRỊGIA ĐÌNH & CHUẨN MỰC CON NGƯỜIVIỆT NAM”
4 Chuẩn mực xã hội nào cũng đều không tách rời quan niệm thông thường về chân thiện mỹ Đây là một trong những bí ẩn của chuẩn mực xã hội và là vấn đề rất nan giải đối với thực tiễn xã hội
Rất nhiều hành vi và hiện tượng xã hội ở Việt Nam hiện nay đang bị coi là lệch chuẩn, không chỉ chuẩn đạo đức, mà còn cả về chuẩn pháp lý Chính vì thế mà vấn đề xây dựng chuẩn mực con người được đặt ra một cách cấp thiết Kỳ vọng được giả định là, nếu xã hội có những hệ chuẩn mực hợp lý, đúng đắn, sáng suốt, phù hợp với mục tiêu của tiến bộ xã hội… thì hành vi và hoạt động của con người sẽ có căn cứ để điều chỉnh và tự điều chỉnh, xã hội sẽ bớt đi những hiện tượng lệch chuẩn
Tuy nhiên, kỳ vọng này vô tình lãng quên một thực tế rằng, chính các “lề thói và quan niệm ứng xử thông thường” tự phát, đang được thực hiện trong đời sống xã hội lại
tự cho mình là những “chuẩn mực xã hội”, tự ngầm định về chân, thiện, mỹ (làm theo lề thói của đám đông, ứng xử như cộng đồng đang ứng xử thông thường, được coi là hợp lý, thậm chí là đúng, là tốt, là đẹp)
Chẳng hạn trong xã hội Việt Nam hiện nay, rất nhiều chuẩn mực được quy định thành văn bản một cách hợp pháp, kể cả những quy định, quy tắc, nội quy của một số đoàn thể, tổ chức xã hội Nhưng trong thực tế, lại không nhiều người tự thấy mình phải căn cứ vào đó để để suy nghĩ và hành động, hoặc thực sự tuân thủ chấp hành Trong khi
đó, có những thói quen giao tiếp, cách thức hoạt động, lề thói ứng xử… phải nói là thói xấu, là tệ nạn, thậm chí là cái đáng lên án, nhưng sau nhiều năm tồn tại trong đời sống, chúng đã trở thành gần như là chuẩn mực xã hội Đến mức, nếu ai đó không tuân thủ, không hành động hay tỏ thái độ theo quan niệm thông thường, thì người đó khó tránh khỏi sẽ cảm thấy “lạc lõng”, thậm chí đôi khi còn tự phán xét mình Hiện nay, không ít người sẵn sàng không tuân thủ những chuẩn mực thành văn hay những chuẩn mực được 4
Trang 33mà người ta không muốn làm
Vấn đề là ở chỗ, chính các “lệch chuẩn” nếu tồn tại quá lâu, nếu được phần lớn cộng đồng xã hội chấp thuận, thì trong thực tế, chúng lại tự ngầm định cho mình những giá trị về chân, thiện, mỹ Nghĩa là, việc thực hiện những hoạt động, hành vi lệch chuẩn theo lề thói của quan niệm thông thường, nếu không được ngăn chặn kịp thời thì sẽ đến lúc có thể được coi là đúng, là tốt, là đẹp
5 Trong việc xác định chuẩn mực con người Việt Nam, vấn đề đầu tiên là phải phân loại: chuẩn mực con người Việt Nam là chuẩn mực về lĩnh vực nào, về mặt nào của đời sống con người, hay về các nhóm người nào thuộc cộng đồng các dân tộc, các tầng lớp cư dân Việt Nam
Chỉ riêng trong các tài liệu khoa học và thống kê hiện có, người ta đã có thể thấy có nhiều cách phân loại và theo đó có quá nhiều chuẩn mực về con người
Theo cách phân loại sơ đẳng nhất của UNDP, thì đối với con người, trước hết, sự phát triển con người cần phải đạt tới những chuẩn mực về mặt sinh thể và những chuẩn mực về mặt tinh thần
Trong các báo cáo phát triển con người mà UNDP công bố hằng năm, hàng trăm loại chỉ số đã được UNDP thiết kế để đo đạc Chẳng hạn, về phương diện sinh thể, những chỉ số về tuổi thọ, về thu nhập và dinh dưỡng, về chăm sóc sức khỏe, về sử dụng nước sạch, về phụ nữ và trẻ em… trên thực tế, là những cụm chỉ số gồm nhiều chỉ số thành phần chi tiết khác Về phương diện tinh thần, các chỉ số như số năm đi học trung bình, số năm đi học kỳ vọng, người lớn từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết, về các dạng bất bình đẳng… thực sự đã là những chuẩn mực có ý nghĩa về con người và đời sống con người
Trang 34HỆ GIÁ TRỊQUỐC GIA, HỆ GIÁ TRỊVĂN HOÁ, HỆ GIÁ TRỊGIA ĐÌNH & CHUẨN MỰC CON NGƯỜIVIỆT NAM”
HỘITHẢOKHOAHỌC BANTUYÊNGIÁO TW 11/2022
Ấy là chưa kể đến các chuẩn mực cụ thể mà các ngành có trách nhiệm trực tiếp đánh giá các mặt cụ thể của đời sống con người như giáo dục, y tế, lao động xã hội, an sinh xã hội, thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông… Đó chính là các chuẩn mực xã hội của con người
Nghiên cứu chuẩn mực con người Việt Nam, chắc chắn không phải là sự thống kê tất cả những thành tựu mà các ngành kinh tế - xã hội cụ thể đã theo dõi, đo đạc, đánh giá
về đời sống con người trong các báo cáo chuyên ngành hằng năm
6 Thực ra về phương diện khoa học, nghiên cứu chuẩn mực con người, quan trọng nhất (và cũng thú vị nhất) là nghiên cứu những chuẩn mực không thành văn - những chuẩn mực ngầm định về đời sống, những lề thói xã hội đã tồn tại thực trong xã hội Phần lớn những chuẩn mực này lại thuộc lĩnh vực chuẩn đạo đức, chuẩn mực văn hóa Tuy nhiên các chuẩn mực thành văn trong các lĩnh vực như pháp lý, kinh tế, chính trị hay y tế, giáo dục… cũng là những chuẩn mực không thể không tính đến khi kết luận về các chuẩn mực con người
Về phương diện pháp lý, vấn đề là ở chỗ khi vi phạm pháp luật hay thậm chí vi phạm các chuẩn mực pháp lý, kể cả các quy tắc, quy định… của nhà nước hay của các đơn vị kinh tế xã hội cụ thể, thì người vi phạm có thể bị xử lý với những chế tài được quy định rõ trong các văn bản quản lý của các cấp chính quyền có trách nhiệm
Do vậy, việc xác định các chuẩn mực xã hội của con người về phương diện pháp lý,
ở đây là không có ý nghĩa
Cũng tương tự như vậy, trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao, quốc phòng, giao thông hay trật tự an toàn xã hội… rất nhiều chuẩn mực thành văn đã được quy định buộc con người phải chấp hành hay tuân thủ Không có lý do gì để những chuẩn mực này
bị coi là nằm ngoài những chuẩn mực con người Nhưng nếu phải xử lý các chuẩn mực
cụ thể này coi chúng như những thành tố trong việc xây dựng mực con người Việt Nam, thì vấn đề trở nên quá phức tạp
7 Với lĩnh vực đạo đức, bản thân đạo đức đã là tổ hợp phức tạp của các chuẩn mực
có chức năng điều khiển hành vi, dẫn dắt thái độ, đánh thức lương tâm của con người Các chuẩn mực đạo đức, bằng một phương thức rất đặc thù là thông qua tâm thức cộng đồng, thái độ cộng đồng, dư luận cộng đồng và xã hội… để điều khiển hành vi con người Đánh thức lương tâm và khơi dậy thái độ biết xấu hổ trước sai phạm, các chuẩn mực đạo
Trang 35HỘITHẢOKHOAHỌC BANTUYÊNGIÁO TW 11/2022
nhau, nhất là ở những con người được giáo dục, có nhân cách, có trách nhiệm xã hội Do vậy, khó có thể bổ sung hay xác định thêm cho lĩnh vực đạo đức những “chuẩn mực con người” nào khác, ngoài những chuẩn mực của chính nó
Gần đây, có ý kiến đề xuất Nhà nước cần phải xây dựng bộ “luật đạo đức” Ý kiến này trong khi cũng nhận được ít ỏi sự ủng hộ, thì đã bị phê phán khá nặng nề Những lý
lẽ phản bác cho rằng, từ rất sớm trong các xã hội phương Tây, đạo đức và pháp luật đã
được giảng dạy như là những hình thái ý thức xã hội mà con người không thể sống được
thành xã hội nếu thiếu chúng Đạo đức và pháp luật, trước hết đều là các chuẩn mực điều chỉnh hành vi của con người - “pháp luật là đạo đức tối thiểu, còn đạo đức là pháp luật tối đa” 5 , nhưng đạo đức điều chỉnh hành vi bằng dư luận xã hội, bằng tâm thức xã hội, còn pháp luật điều chỉnh hành vi bằng các chế tài pháp lý, cưỡng chế công dân vi phạm buộc phải thực hiện Pháp luật trừng trị những hành động phạm pháp căn cứ vào hậu quả của
nó, nhưng thường coi là vô tội đối với những hành vi mới chỉ là ý đồ của thành viên xã hội Ý thức đạo đức cùng với các chuẩn mực của nó đã có sẵn trong con người, nên có khả năng đánh thức hoặc khiến con người phải “tự trừng phạt” mình ngay từ khi người
đó mới chỉ nghĩ đến hành vi lệch chuẩn Khi đạo đức của người nào đó đã đạt đến một trình độ cao, thì pháp luật đối với anh ta sẽ trở thành thừa, bởi đạo đức của cá nhân đó không cho phép họ lệch chuẩn hoặc phạm pháp
Đạo đức và đạo đức học xưa nay vẫn tồn tại độc lập bên cạnh luật pháp như là một phương thức sống của con người trong xã hội Đạo đức không thể “luật hóa” hay trở thành luật, vì chuẩn mực đạo đức không thể là kết quả của sự cưỡng chế Cũng như vậy, luật pháp không thể “đạo đức hóa” mà bỏ qua các công cụ cưỡng chế Lời khuyên đạo đức đối với kẻ vi pháp pháp luật chính là sản phẩm của sự cưỡng chế như tòa án và nhà
tù Việc đề xuất “Luật đạo đức” cho thấy một nhận thức rất có vấn đề về mối quan hệ giữa đạo đức và luật pháp
8 Đành rằng đối với con người nói chung, thậm chí con người ở trình độ toàn nhân loại, vẫn cần có (và đã có) những chuẩn mực xã hội cho những quan niệm, hoạt động và hành vi của họ Tuy nhiên, việc xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam, trên thực tế, lại đòi hỏi phải xây dựng cho được những chuẩn mực cụ thể cho những con người hoạt động trong những lĩnh vực cụ thể, với những nghề nghiệp cụ thể, ở những trình độ lao
Trang 36HỆ GIÁ TRỊQUỐC GIA, HỆ GIÁ TRỊVĂN HOÁ, HỆ GIÁ TRỊGIA ĐÌNH & CHUẨN MỰC CON NGƯỜIVIỆT NAM”
HỘITHẢOKHOAHỌC BANTUYÊNGIÁO TW 11/2022
động cụ thể Chuẩn mực xã hội đối với một bác sĩ chắc chắn phải khác với chuẩn mực của một người thợ trong dây chuyền sản xuất công nghiệp Đây là một đòi hỏi khá phức tạp đặt ra đối với giới nghiên cứu Nếu chuẩn mực con người chỉ được xác định ở những phẩm chất chung nhất, phổ biến nhất, thì ý nghĩa của việc xác định có thể sẽ là không nhiều Còn nếu xác định chuẩn mực con người cho từng tầng lớp xã hội cụ thể, từng nhóm người cụ thể, hay cho từng loại hoạt động người cụ thể, thì khách thể và đối tượng của việc xác định lại quá lớn và quá chi tiết
Chỉ ngay với khái niệm “con người Việt Nam”, từ khá lâu trong giới nghiên cứu cũng đã có những tranh cãi khi phải phân biệt đâu là người Việt Người Ê đê, người Mường hay người các dân tộc thiếu số tại các địa phương khi được gọi là người Việt, thì cũng không có vấn đề gì quá phức tạp Nhưng gọi là người Việt đối với người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh, người Khơmer ở Nam bộ hay người gốc nước ngoài mang quốc tịch Việt Nam, thì những bất hợp lý có thể sẽ xuất hiện
Việc xác định chuẩn mực con người cần thiết phải tính đến điều này
9 Chuẩn mực con người Việt Nam là chuẩn mực của các cư dân trong toàn xã hội Việt Nam, gồm tất cả các nhóm xã hội, các tầng lớp dân tư, các công dân gốc Việt
Theo lý thuyết về chuẩn mực thì chuẩn mực xã hội chỉ thực sự là chuẩn mực khi áp dụng đối với các nhóm nhỏ Còn đối với các nhóm lớn, đặc biệt đối với toàn xã hội, chuẩn mực xã hội không thể vẫn là các thiết chế có tính chất quy tắc, quy phạm, quy ước, hay các chế tài có ý nghĩa cấm kỵ hoặc trừng phạt Ở những phạm vi này, chuẩn mực xã hội dần nhường chỗ cho luật pháp
Như vậy, chuẩn mực con người Việt Nam nếu được xây dựng một cách hợp lý thì cũng mới chỉ là những nguyên tắc kỳ vọng có tính chất lý tưởng, chủ yếu về phương diện đạo đức hay nhân sinh quan Điều đáng suy nghĩ là ở chỗ, nếu chỉ mang tính quy ước, chỉ
là những nguyên tắc lý tưởng, giống như những lời khuyên về phương diện đạo đức, thì tính chuẩn mực của các chuẩn mực xã hội đối với con người sẽ có ý nghĩa như thế nào
Kết luận:
Xây dựng chuẩn mực con người Việt Nam là nhiệm vụ không tách rời với xây dựng
hệ giá trị gia đình, hệ giá trị văn hoá và hệ giá trị quốc gia Về thực chất, đó là sự tìm kiếm một tổng thể các giá trị tin cậy với chuẩn mực lý tưởng về con người, nhằm khơi dậy ý chí phát triển, định hướng để từng con người và toàn xã hội phát triển lành mạnh,
Trang 37HỘITHẢOKHOAHỌC BANTUYÊNGIÁO TW 11/2022
nhân loại, thực hiện thành công mục tiêu kỳ vọng mà Đại hội XIII của Đảng đã đặt ra là, phấn đấu đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập Nước, Việt Nam trở thành một quốc gia phát triển, có thu nhập cao
4 Norms, Values and Human Conditions: An Introduction Journal of Human Values (2018) Volume 25, Issue 1 https://doi.org/10.1177/0971685818806629
5 Mooney, Christopher F (1983) Public Morality and Law Journal of Law and Religion Vol 1, No 1 (Summer, 1983), pp 45-58 (14 pages) Cambridge
University Press https://www.jstor.org/stable/1051072.
6 Social Norms Stanford Encyclopedia of Philosophy.
https://plato.stanford.edu/entries/social-norms/
7 Nguyễn Phú Trọng (2021) Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư tại Hội nghị văn hóa toàn quốc https://moit.gov.vn/tin-tuc/hoat-dong/toan-van-phat-bieu- cua-tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-tai-hoi-nghi-van-hoa-toan-quoc.html
Trang 39XÂY DỰNG HỆ CHUẨN MỰC CON NGƯỜI VIỆT NAM
HIỆN NAY ĐỂ ĐƯA VÀO CUỘC SỐNG
Tư khóa
Xây dựng, cụ thể hóa, hệ chuẩn mực, con người, thực hiện
Ngày nay cùng với sự phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại định hướng XHCN, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế, phát triển bền vững, bao trùm, thì việc xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, hệ giá trị con người Việt Nam cùng với đó là những hệ chuẩn mực cụ thể tương ứng, nhất là hệ chuẩn con người Việt Nam là rất quan trọng và cấp bách Bài viết này xin tập truing vào việc xây dựng cụ thể hóa hệ giá trị thành hệ chuẩn mực con người Việt Nam hiện nay
Trang 401- Những yếu tố ảnh hưởng đến hình thành hệ chuẩn mực con người (HCMCN) và đề ra hệ chuẩn mục
Hệ giá trị con người (HGTCN) là một đại lượng khái quát còn rất chung (tất nhiên có không tách rời hệ giá tri quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình) HGTCN phải được chuyển thành, cụ thể hóa thành HCMCN mới đễ đi vào cuộc sống, hướng dẫn trực tiếp ý thức và hành vi con người, giống như qui phạm pháp luật hay qui ước của các hương ước, gia ước/ gia phong/ nội qui Thực tế
đã có nhiều ví dụ như vậy
Những điều Bác Hồ dạy thanh thiếu niên hay những điều Người nhắc nhở cán bộ chiến sĩ công an nhân dân cũng là những HCM cụ thể
- Năm điều Bác Hồ dạy các cháu thiếu niên, nhi đồng
"Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào
Học tập tốt, lao động tốt
Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt
Giữ gìn vệ sinh thật tốt
Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm"
-“Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân
"Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính
Đối với đồng sự, phải thân ái, giúp đỡ
Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành
Đôi với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép
Đối với công việc, phải tận tụy
Đối với địch, phải kiên quyết, khôn khéo"
- Hoặc Bác nhắc nhở, khuyên cán bộ, dảng viên: