ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN MINH QUÂN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỚI CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ GIAI ĐOẠN 2011 – 2021[.]
Trang 1-
NGUYỄN MINH QUÂN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỚI CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG HỆ THỐNG
CHÍNH TRỊ GIAI ĐOẠN 2011 – 2021
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 8229015
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN ĐÌNH THỐNG
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2022
Trang 2-
NGUYỄN MINH QUÂN
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỚI CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG HỆ THỐNG
CHÍNH TRỊ GIAI ĐOẠN 2011 – 2021
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 8229015
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN ĐÌNH THỐNG
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2022
Trang 3sự hướng dẫn của TS Nguyễn Đình Thống Các số liệu, sự kiện được trình bày trong Luận văn là trung thực, chính xác Những kết luận khoa học của Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận văn
Nguyễn Minh Quân
Trang 4đỡ, hỗ trợ to lớn từ quý thầy cô, gia đình và bạn bè
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến TS Nguyễn Đình Thống, người Thầy đáng kính đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ dạy, dìu dắt, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau Đại học và Khoa Lịch sử (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) đã tạo mọi điều kiện để học viên hoàn thành Luận văn này Cảm ơn đến Thư viện Trường Đại học Khoa Học Xã hội và Nhân Văn, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh và Viện Thông tin Khoa học Xã hội đã hỗ trợ, cung cấp tài liệu để tôi hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân và bạn bè đã luôn tin tưởng, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện Luận văn
Trân trọng cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 7 năm 2022
Tác giả Luận văn
Nguyễn Minh Quân
Trang 51 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 7
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 8
7 Kết cấu của đề tài 8
B NỘI DUNG 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ GIAI ĐOẠN 2011 – 2021 10
1.1 Cơ sở lý luận 10
1.1.1 Khái niệm quyền lực, cơ chế kiểm soát và quyền lực nhà nước 10
1.1.2 Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin về kiểm soát quyền lực nhà nước 15
1.1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực 19
1.2 Cơ sở thực tiễn 21
1.2.1 Cấu trúc quyền lực của hệ thống chính trị Việt Nam và cơ chế kiểm soát quyền lực của hệ thống chính trị 21
1.2.2 Thực tiễn kiểm soát quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam trước năm 2011 22
Tiểu kết Chương 1 36
CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO, THỰC HIỆN CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 – 2021 38
Trang 62.1.2 Giai đoạn 2016 – 2021 40
2.2 Thực tiễn chỉ đạo thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam 45
2.2.1 Xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực 45
2.2.2 Đảng lãnh đạo kiểm soát quyền lực của các cơ quan nhà nước 57
2.2.3 Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể tham gia kiểm soát quyền lực nhà nước 65
2.2.4 Phát huy quyền làm chủ của nhân dân và vai trò của báo chí, truyền thông, thực hiện dân chủ, minh bạch hoạt động của hệ thống chính trị 69
2.2.5 Tích cực, chủ động và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, nhất là tham nhũng quyền lực 76
Tiểu kết Chương 2 81
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ, BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP TRONG QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO, THỰC HIỆN CƠ CHẾ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC CỦA ĐẢNG GIAI ĐOẠN 2011 – 2021 83
3.1 Thành tựu và hạn chế 83
3.1.1 Thành tựu và nguyên nhân 83
3.1.2 Hạn chế và nguyên nhân 90
3.2 Bài học kinh nghiệm 97
3.3 Một số kiến nghị, giải pháp 102
Tiểu kết chương 3 114
C KẾT LUẬN 116
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
E PHỤ LỤC 132
Trang 7A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thời phong kiến, tất cả quyền lực nhà nước đều tập trung trong tay vua Khi chế độ cộng hòa xuất hiện, quyền lực chính trị được hiểu là quyền lực của nhân dân, được công dân ủy quyền cho các đại biểu để tổ chức thành nhà nước Tuy nhiên, khi quyền lực tập trung vào bộ máy nhà nước thì sẽ dẫn đến nguy cơ tha hóa, lạm dụng quyền lực nếu như không có những cơ chế, biện pháp kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước
Vấn đề kiểm soát quyền lực luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Tất cả quyền lực
Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.85)
Từ Đại hội lần thứ XI năm 2011 cho đến Đại hội lần thứ XIII năm 2021, Đảng Cộng sản Việt Nam đãban hành nhiều chủ trương về thể chế hóa cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, hoàn thiện các quy định của pháp luật về kiểm soát quyền lực; đấu tranh phòng, chống tiêu cực, tham nhũng, tha hóa quyền lực, củng cố niềm tin của nhân dân đối vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản
lý của Nhà nước Tuy nhiên, quá trình lãnh đạo thực hiện kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị của Đảng vẫn còn rất nhiều hạn chế, khuyết điểm: Lý luận về quyền lực và cơ chế kiểm soát quyền lực chưa được xác định, làm rõ; hiện tượng tham nhũng, tha hóa quyền lực, chạy chức, chạy quyền,… xuất hiện với mức độ, tính chất ngày càng tinh vi Quyền làm chủ của nhân dân
Trang 8chưa được phát huy, xem trọng; nguyên tắc dân chủ trong đời sống xã hội, hoạt động công quyền bị xâm phạm
Thực trạng trên đã đặt ra yêu cầu bức thiết cần phải nghiên cứu, làm sáng
tỏ những quan điểm, nhận thức và quá trình lãnh đạo xây dựng, thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị của Đảng Chính vì vậy tác
giả chọn đề tài “Đảng Cộng sản Việt Nam với cơ chế kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị giai đoạn 2011-2021” làm đề tài luận văn thạc sĩ,
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Kiểm soát quyền lực là vấn đề luôn nhận được sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu, đã có nhiều những công trình tiếp cận vấn đề này dưới các góc độ:
Thứ nhất, nhóm công trình nghiên cứu về kiểm soát quyền lực:
Thái Hồng Phúc, Nguyễn Phương An, “Quá trình phát triển nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền lực và kiểm soát quyền lực trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Khoa học chính trị số 7/2018 Bài viết trình bày quá
trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề quyền lực và kiểm soát quyền lực từ Đại hội VI đến Đại hội XII của Đảng;
Nguyễn Trọng Phúc, Lê Thị Liễu, “Quan điểm, chủ trương và chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị”,
Tạp chí Khoa học chính trị số 9/2018 Bài viết đã làm rõ những chủ trương, đường lối của Đảng về phát huy dân chủ, kiểm soát quyền lực và kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị;
Nguyễn Minh Đoan, “Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2018 Cuốn sách đã nghiên cứu, trình
Trang 9bày những vấn đề lý luận, thực tiễn về cấu trúc của quyền lực nhà nước và đề xuất những giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước;
Mai Trực, “Kiểm soát quyền lực ở nước ta qua công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2019 Công trình đã
cung cấp những cơ sở lý luận, thực tiễn về kiểm soát quyền lực qua công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và những kết quả đã đạt được trong việc kiểm soát quyền lực
Ngoài ra, còn có các công trình, tài liệu khác nghiên cứu về kiểm soát
quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam như: “Các cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước trên thế giới và ở Việt Nam” do Đặng Minh Tuấn,
Vũ Công Giao, Đoàn Đức Lương và Lê Thị Nga (đồng chủ biên), Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2019; “Cơ chế kiểm soát quyền lực giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị ở Việt Nam” của Nguyễn Minh Tuấn, Tạp chí Khoa học chính trị số 9/2018; “Xây dựng cơ chế nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước” của Lê
Thị Minh Hà, Tạp chí giáo dục lý luận số 288 (2/2019)…
Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị Việt Nam:
Nguyễn Phú Trọng, “Xây dựng và chỉnh đốn Đảng một số vấn đề lý luận
và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012 Cuốn sách tập hợp các
bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về công tác xây dựng Đảng trên các lĩnh vực: Xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng; về tổ chức, cán bộ; về rèn luyện đạo đức trong Đảng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng;
Lê Quốc Lý, “Đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta”, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014 Công trình tập hợp các bài viết nghiên cứu
về đặc điểm, quá trình hình thành, xây dựng, phát triển của hệ thống chính trị
Trang 10Việt Nam và trình bày một số giải pháp về đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị Việt Nam;
Phí Thị Thanh Tuyền, “Pháp luật với việc kiểm soát quyền lực nhà nước
ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 7 (316) năm 2018
Bài viết trình bày những nội dung, hình thức, quy trình kiểm soát quyền lực nhà nước của hệ thống pháp luật Việt Nam;
Hoàng Minh Hội, “Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước – thực trạng và một số kiến nghị”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 21 (373) tháng
11/2018 Bài viết trình bày các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên; đồng thời đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nâng cao vai trò, hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước của thiết chế này
Ngoài ra, còn một số công trình khác có giá trị tham khảo như: “Xây dựng Đảng nhìn từ các vấn đề thực tiễn” của Vũ Trung Kiên, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, 2020; “Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của Vũ Trọng Lâm, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
Trang 11tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay và một số giải pháp tạo điều kiện, cơ chế cho nhân dân tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng;
Nguyễn Ngọc Hà, “Lợi ích nhóm và nhóm lợi ích ở Việt Nam hiện nay”,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015 Công trình đã trình bày, làm sáng tỏ
những vấn đề lý luận, thực tiễn về thực trạng lợi ích nhóm hiện nay và đề xuất những giải pháp, cơ chế để ngăn chặn, phòng ngừa hiện tượng “lợi ích nhóm”
trong hoạt động của hệ thống chính trị
Với nhóm tài liệu này luận văn còn tiếp cận, tham khảo một số công trình
sau: “Phòng, chống “tự diễn biến”; “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay” của Vũ Văn Phúc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, (2013);
“Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp thiết liên quan trực tiếp đến đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước” do
Nguyễn Văn Thạo, Nguyễn Viết Thông chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, (2018); “Xây dựng văn hóa chính trị nhân tố quan trọng để xây dựng
hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh” của Chu Văn Cấp, Tạp chí khoa
học chính trị số 4/2019;…
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên đã trình bày những vấn đề lý luận về quyền lực, kiểm soát quyền lực; quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị và đề xuất một số kiến nghị, giải pháp Tuy nhiên, chưa có công trình, nghiên cứu nào đề cập trực tiếp đến vai trò lãnh đạo thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 2011- 2021 Các công trình trên đây là nguồn tư liệu hữu ích
để luận văn nghiên cứu, tham khảo một cách có chọn lọc, kế thừa và trình bày
rõ quan điểm của người nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tập trung làm sáng tỏ sự lãnh đạo và tổ chức thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị giai đoạn 2011 - 2021 của Đảng Cộng sản
Trang 12Việt Nam Trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất những kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả lãnh đạo thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực của Đảng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cơ chế kiểm soát quyền lực;
- Làm sáng tỏ quá trình chỉ đạo thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong
hệ thống chính trị giai đoạn 2011 - 2021 của Đảng;
- Đánh giá thực trạng, rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình tổ chức, thực thi cơ chế kiểm soát quyền lực của Đảng giai đoạn 2011 - 2021 và
đề xuất một số kiến nghị, giải pháp về xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình lãnh đạo và thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hệ thống
chính trị giai đoạn 2011 - 2021 của Đảng Cộng sản Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn tập trung làm rõ quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và tổ chức thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong tổng thể cấu trúc quyền lực của hệ thống chính trị Việt Nam
- Về thời gian: Năm 2011 là mốc thời gian đánh dấu sự đổi mới căn bản trong tư duy lý luận, quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã bổ sung nội dung kiểm soát vào nguyên tắc, cơ chế thực thi quyền lực nhà nước Đồng thời, Đại hội cũng đã khẳng định vai trò, quyền làm chủ của nhân dân đối hoạt động của Nhà nước, của hệ thống chính trị Việt Nam
Trang 13Năm 2021 là mốc thời gian Đại hội XIII của Đảng xác định kiểm soát quyền lực là một trong những nội dung quan trọng của các đột phá chiến lược nhằm hoàn thiện thể chế phát triển, thúc đẩy đổi mới quản trị quốc gia
- Về không gian: Hệ thống chính trị nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, nguồn tư liệu mà tác giả sử dụng bao gồm:
- Các tác phẩm của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực, xây dựng Đảng và Nhà nước của giai cấp vô sản, nhân dân lao động;
- Hệ thống Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về lãnh đạo, thực hiện kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị;
- Các loại sách tham khảo, công trình nghiên cứu khoa học, báo cáo, tổng kết, chuyên đề, đề tài khoa học, tạp chí khoa học, báo chí truyền thông, các nguồn tài liệu chính thống đã được công bố
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận: Đề tài nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về kiểm soát quyền lực
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp nghiên cứu cơ bản được sử dụng trong luận văn là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Phương pháp lịch sử được sử dụng để trình bày, làm rõ quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị giai đoạn 2011 – 2021, bao gồm việc xây dựng, hoạch định chủ trương và tổ chức thực hiện các chủ trương ấy trong thực tiễn
Phương pháp logic được sử dụng để vạch ra được nội dung, bản chất việc thực hiện kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị của Đảng Cộng sản
Trang 14Việt Nam và rút ra các thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm trong quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị giai đoạn 2011 – 2021
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
và những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan thuộc hệ thống chính trị trong hoạt động thực tiễn
về kiểm soát quyền lực Luận văn còn có thể được giảng viên, học viên chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành quan điểm chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về kiểm soát quyền lực trong hệ thống chính trị giai
đoạn 2011 – 2021;
Chương 2 Quá trình lãnh đạo, thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 2011 - 2021;
Trang 15Chương 3 Đánh giá, bài học kinh nghiệm và một số kiến nghị, giải pháp trong quá trình lãnh đạo, thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực của Đảng giai đoạn 2011 – 2021
Trang 16B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN HÌNH THÀNH QUAN ĐIỂM CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG HỆ THỐNG
CHÍNH TRỊ GIAI ĐOẠN 2011 – 2021
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm quyền lực, cơ chế kiểm soát và quyền lực nhà nước
1.1.1.1 Khái niệm và tính chất của quyền lực
Khái niệm quyền lực đã xuất hiện từ sớm trong lịch sử loài người Trong tác phẩm Chính trị Athens, Aristotle đã trình bày những quan điểm của ông
về khái niệm này Theo Aristotle, quyền lực là cái vốn có của sức mạnh, chi phối con người, gồm cả giới có cảm giác lẫn giới vô cơ Đến thời kỳ cận đại, các nhà triết học đã đưa ra những định nghĩa, khái niệm về quyền lực một cách tương đối hoàn chỉnh, J J Rouseau định nghĩa quyền lực, dựa trên phân
tích khái niệm “quyền” và “lực”, “Lực là một sức mạnh vật lý mà không có
chút đạo đức nào Chịu theo lực thực chất chỉ là một cử chỉ bắt buộc không phải tự nguyện.”, (J.J Rousseau, 2006, tr.56) còn quyền không phải từ lực
sinh ra mà do lực tự đấu tranh mà giành lấy quyền Người ta chỉ phục tùng quyền khi có lực và sẽ không phục tùng nữa khi quyền mất đi lực, Alvin
Toffler thì cho rằng “Quyền lực là cái buộc người khác hành động theo ý ta”
(Nguyễn Văn Huyên, 2009, tr.32 - 33)
Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những khái niệm về quyền
lực, theo Nguyễn Minh Tuấn quyền lực nghĩa là “năng lực hay khả năng một
chủ thể buộc chủ thể khác (đối tượng) phải hành động theo ý chí của mình, bất kể sự kháng cự” (Nguyễn Minh Tuấn, 2018a, tr.79) Nguyễn Minh Đoan
thì cho rằng quyền lực là khả năng của cá nhân, tổ chức buộc các khách thể
phục tùng ý chí của mình, “Quyền lực luôn tồn tại trong những mối quan hệ
cụ thể (quan hệ quyền lực) mà ở đó, chủ thể quyền lực nhờ vào khả năng nào
Trang 17đó của mình buộc đối tượng quyền lực phải phục tùng, chịu sự sai khiến của mình” (Nguyễn Minh Đoan, 2018, tr.11)
Các định nghĩa trên cho thấy đặc trưng nổi bật trong nội hàm của khái niệm quyền lực đó là khả năng của một chủ thể buộc đối tượng phải phục tùng Đồng quan điểm, cách tiếp cận trên, luận văn đưa ra quan niệm về quyền lực
như sau: “Quyền lực là khả năng, mức độ chi phối của chủ thể đối với khách
mình Đồng thời, thể hiện địa vị và sức mạnh được thừa nhận của chủ thể đó đối với cá nhân, tổ chức hoặc cộng đồng nhất định.”
Từ những quan điểm trên, luận văn rút ra những tính chất sau của quyền lực:
Thứ nhất, quyền lực có tính phổ biến, đa dạng: Quyền lực có nguồn gốc từ
các quan hệ xã hội nên không có quyền lực nào là bất biến và tuyệt đối Sự phát triển của xã hội cũng sẽ sản sinh ra những quyền lực mới, đa dạng, phức tạp, đan xen giữa các quan hệ quyền lực
Thứ hai, quyền lực luôn có sự vận động, biến đổi: Tính đa dạng, phổ biến
của quyền lực đã làm cho các dạng quyền lực luôn biến đổi, “có thể trong
quan hệ quyền lực này chủ thể là người có quyền lực nhưng trong quan hệ khác chủ thể là người không có quyền lực” (Nhiều tác giả, 2017, tr.10) Mặt
khác, trong mỗi quan hệ quyền lực, các chủ thể có xu hướng gia tăng quyền lực để phục vụ lợi ích của mình nên quyền lực luôn vận động và thay đổi
Thứ ba, quyền lực luôn có tính hai mặt: Quyền lực là công cụ để quản lý xã
hội Tuy nhiên, quyền lực cũng có mặt trái là làm cho con người trở nên mù quáng, tha hóa, sẵn sàng bất chấp mọi thứ để thao túng quyền lực, phục vụ
“lợi ích nhóm” và lợi ích cá nhân
Thứ tư, quyền lực có tính thứ bậc: Quyền lực là thước đo phản ánh vị thế
của chủ thể nắm quyền lực và đối tượng chịu tác động của quyền lực, vì “Bất
kỳ hoạt động chung nào cũng đòi hỏi cần có người tổ chức; chỉ huy và những
Trang 18kẻ phục tùng” (Hồ Văn Thông, 2000, tr.191) Do đó, luôn xuất hiện những
chủ thể có sức mạnh, khả năng chi phối buộc các khách thể có quyền lực thấp hơn phải thừa nhận, phục tùng
1.1.1.2 Quyền lực nhà nước và cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước
Quyền lực nhà nước là “Khả năng của nhà nước để buộc các cá nhân, tổ
chức trong xã hội phải phục tùng” (Nguyễn Minh Đoan, 2018, tr.11), hình
thành cùng sự ra đời của nhà nước Quyền lực nhà nước được thực hiện thông qua nhà nước, tổ chức đại diện cho toàn xã hội và có đầy đủ công cụ để cưỡng chế mọi cá nhân, tổ chức phải phục tùng
Với quyền lực to lớn, nhà nước có thể huy động, sử dụng sức mạnh của toàn xã hội nhưng cũng chính vì vậy, quyền lực nhà nước rất dễ bị tha hóa, trở thành “công cụ” để các giai cấp, lực lượng trong xã hội tranh giành, lạm dụng, biến quyền lực nhà nước thành quyền lực thống trị, cưỡng chế phục tùng lợi ích giai cấp và nhóm cầm quyền Sự tha hóa quyền lực xuất hiện ngay từ bên
trong bộ máy nhà nước khi những tổ chức, cá nhân được ủy quyền thực thi quyền lực đã sử dụng quyền lực nhà nước không đúng mục đích để vụ lợi Vì
vậy, kiểm soát quyền lực nhà nước đã trở thành một yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng trong quá trình tổ chức, xây dựng bộ máy nhà nước, hệ thống chính trị của mỗi quốc gia
Ở mỗi quốc gia đều có các biện pháp, phương thức riêng nhằm tổ chức, thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước, tạo nên những cơ chế kiểm soát quyền lực khác nhau đối với quyền lực nhà nước Theo từ điển Tiếng Việt,
kiểm soát là việc “xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy
định” (Hoàng Phê, 2003, tr.523) còn cơ chế là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện” (Hoàng Phê, 2003, tr.214) Như vậy, có thể hiểu cơ chế kiểm
soát quyền lực nhà nước là những cách thức, phương thức thực hiện kiểm soát, xem xét, phát hiện, ngăn chặn những hành vi, biểu hiện trái quy định về
sử dụng và thực thi quyền lực nhà nước
Trang 19Vũ Công Giao đã định nghĩa về khái niệm này như sau “Cơ chế kiểm soát
quyền lực nhà nước là cơ cấu tổ chức bộ máy và quy trình, thủ tục pháp lý nhằm ngăn ngừa và xử lý những hành vi vi phạm” (Đặng Minh Tuấn, Vũ
Công Giao, Đoàn Đức Lương & Lê Thị Nga, 2019, tr.117) Hiểu theo nghĩa rộng hơn thì đây là các quy định của pháp luật về quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể nắm giữ, thực thi quyền lực nhà nước và những quy tắc, thủ tục để nhà nước và các chủ thể bên ngoài nhà nước (người dân, báo
chí, các tổ chức chính trị xã hội) “có thể áp dụng để giám sát và ngăn ngừa,
xử lý những hành vi lạm dụng quyền lực nhà nước” (Đặng Minh Tuấn, Vũ
Công Giao, Đoàn Đức Lương & Lê Thị Nga, 2019, tr.117) Trong các cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, có hai cơ chế đang được áp dụng phổ biến đó
là cơ chế kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước với nhau và kiểm soát trong nội bộ mỗi cơ quan (kiểm soát bên trong) và kiểm soát của xã hội với nhà nước (kiểm soát bên ngoài)
Để ngăn chặn những nguy cơ tha hóa, lạm dụng quyền lực nhà nước ngay
từ thời kỳ cổ đại đã có những thể chế chính trị chú trọng việc xây dựng, thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước Nhà nước Athens đã phát huy vai trò của những công dân tự do trong việc tham gia quản lý hoạt động của nhà
nước nhằm kiểm soát quyền lực Dưới thời Clixten ở Athens đã thành lập
“Hội đồng 500” (Hội đồng Bulê) cho phép tất cả công dân tự do nam giới Athen từ 18 tuổi trở lên tham gia quản lý hoạt động nhà nước “Hội đồng 500” là cơ quan hành chính cao nhất và đại diện cho người dân thực hiện các công việc nhà nước trong suốt một năm
Clixten còn tổ chức và phát huy vai trò của Đại hội nhân dân – cơ quan
quyền lực tối cao của nhà nước có chức năng “thảo luận và biểu quyết tất cả
những vấn đề hệ trọng của đất nước, thông qua hay phủ quyết các dự luật, chính sách của Hội đồng Bulê, chọn cử những viên chức của bộ máy nhà nước” (Lương Ninh, 2009, tr.174), do công dân 18 tuổi trên khắp Athens bầu
Trang 20ra Ở Athens còn thực hiện chế độ bỏ phiếu bằng vỏ sò để bãi miễn bất kỳ quan chức nào âm mưu phá hoại dân chủ, an ninh xã hội
Đến thời kỳ trung đại, quyền lực nhà nước trở thành quyền lực chuyên chế trong tay nhà vua và các quý tộc phong kiến theo nguyên tắc cha truyền con nối Quyền lực nhà nước được xem là quyền lực của thần linh, của thượng đế
và chỉ trao cho nhà vua Nhà vua toàn quyền sử dụng quyền lực nhà nước mà không bị chế tài, cưỡng chế bởi pháp luật, biến nhà nước trở thành chế độ chuyên chế, độc tài mà xã hội phải phục tùng vô điều kiện
Từ thế kỷ XIV các cuộc cách mạng tư sản nổ ra đã lật đổ chế độ phong
kiến và hình thành nên các nhà nước cộng hòa, các học giả thời ấy khẳng định
bản chất của nhà nước là dân chủ, bình đẳng với quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và được phân chia thành các nhánh quyền lực khác nhau, kiềm chế đối trọng lẫn nhau để không một cá nhân, tổ chức nào có thể thâu tóm toàn bộ quyền lực nhà nước Montesquieu là người đặt nền móng cho lý thuyết này, ông cho rằng cần phải tổ chức lại quyền lực nhà nước một cách hợp lý, nhằm giải quyết những xung đột giữa chính quyền và nhân dân, thủ tiêu chế độ chuyên chế Theo Montesquieu, quyền lực nhà nước được phân chia thành
các nhánh quyền lực gồm: lập pháp, hành pháp và tư pháp, “Trong mỗi quốc
gia đều có ba thứ quyền lực, quyền lập pháp, quyền thi hành những điều hợp với quốc tế công pháp và quyền thi hành những điều trong luật dân sự”
(Montesquieu, 2006, tr.105)
Tiếp nối tư tưởng của Montesquieu, Jean Jacques Rousseau cho rằng tất cả những quan hệ xã hội phải được xây dựng dựa trên những khế ước xã hội tức
là pháp luật Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và tồn tại qua khế ước xã
hội “…vì quyền lực tối cao được thiết lập từ những cá thể thành viên của xã
hội, cho nên nó không có và không thể có lợi ích nào trái ngược với các thành viên… Quyền lực tối cao chỉ nhờ có tính chất như trên mới tồn tại được”
(Jean - Jacques Rousseau, 2006, tr.71) Rousseau đã khẳng định vai trò của
Trang 21quyền lập pháp là phải tự do và bình đẳng, còn quyền hành pháp là đại diện cho quốc gia, thi hành các luật, giữ gìn quyền tự do dân sự và tự do chính trị,
tư pháp là cơ quan bảo tồn các luật và quyền lập pháp Những quan điểm của Montesquieu và Rosseau chính là nguyên tắc để các nhà nước cộng hòa xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước
Nhận thức rõ nguy cơ tha hóa quyền lực, hiện nay các thể chế chính trị trên
thế giới đều quan tâm, xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền, “một nhà
nước gắn chặt với pháp luật và được hợp pháp hóa bởi pháp luật” (Nguyễn
Minh Đoan, 2018, tr.99) nhằm bảo vệ, phát huy dân chủ và kiểm soát quyền lực nhà nước bằng hệ thống pháp luật Hiến pháp ở các quốc gia dân chủ, tiến
bộ đều công nhận bản chất pháp quyền và vai trò chủ thể quyền lực nhà nước của nhân dân, xem đó là cơ sở để tổ chức, thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước
Như vậy, trong lịch sử nhân loại vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước đã được chú trọng thực hiện từ quá trình phát triển, hoàn thiện các mô hình nhà nước với mục tiêu khẳng định bản chất quyền lực nhà nước là quyền lực của
nhân dân và ngăn chặn nguy cơ tha hóa, lạm dụng quyền lực
1.1.2 Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin về kiểm soát quyền lực nhà nước
Kế thừa quan điểm bản chất của quyền lực nhà nước là thuộc về nhân dân,
Mác và Ăngghen đã khẳng định “Chế độ dân chủ cũng vậy, nó là bản chất
của bất kỳ chế độ nhà nước nào, là con người được xã hội hóa coi là hình thức đặc thù của chế độ nhà nước” (C Mác và Ph Ăngghen, 2002, tr.350)
Tuy nhiên, do sự phân chia, đấu tranh giai cấp trong xã hội mà quyền lực nhà nước đã bị tha hóa thành công cụ của giai cấp thống trị để thực hiện lợi
ích cho giai cấp “Vì nhà nước này nảy sinh ra từ nhu cầu phải kiềm chế
những sự đối lập giai cấp; vì nhà nước cũng đồng thời nảy sinh ra giữa cuộc
Trang 22xung đột của các giai cấp ấy, cho nên theo lệ thường, nhà nước là nhà nước của giai cấp có thế lực nhất” (C Mác và Ph Ăngghen, 1995, tr.255)
Mác đã đề ra học thuyết về xây dựng nhà nước của giai cấp vô sản với quyền lực nhà nước là thống nhất, không có sự phân chia, qua hình mẫu của Nhà nước Công xã Paris với quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và được tập trung vào Công xã - cơ quan do nhân dân bầu ra và có toàn quyền bãi
miễn, “Công xã không phải là một cơ quan đại nghị mà là cơ quan công tác
vừa lập pháp vừa hành pháp… Và cũng như tất cả các viên chức của các ngành cai trị khác, họ phải do Công xã bổ nhiệm và có thể bị Công xã bãi miễn bất cứ lúc nào… Công xã có quyền chủ động trong tất cả các vấn đề của đời sống xã hội Nói tóm lại, tất cả các chức năng xã hội, ngay cả một số ít chức năng lẽ ra là của chính phủ trung ương, đều do các viên chức Công xã thực hiện và do đó đặt dưới sự kiểm tra của Công xã.” (C Mác và Ph
Ăngghen, 1994, tr.790)
Để hiện thực hóa lý tưởng này, giai cấp vô sản phải được tổ chức lại thành một chính đảng nhằm tập hợp, lãnh đạo giai cấp thực hiện cách mạng, xóa bỏ
áp bức bóc lột, xây dựng chế độ mới – chế độ xã hội chủ nghĩa, Tuyên ngôn
của Đảng Cộng sản đã khẳng định “Mục đích trước mắt của những người
cộng sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác: tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền” (C Mác và Ph Ăngghen, 2002a,
tr.615)
V.I Lênin đã kế thừa những quan điểm của Mác, Ăngghen và có những đóng góp quan trọng về lý luận kiểm soát quyền lực của nhà nước chuyên chính vô sản V.I Lênin cho rằng để kiểm soát quyền lực nhà nước thì phải đưa nó trở về với nhân dân, vì khi quyền lực nhà nước nằm trong tay một nhóm người, một giai cấp trong xã hội, nó sẽ trở thành công cụ để đàn áp, áp
bức xã hội “nếu quyền lực chính trị nằm trong tay một giai cấp có quyền lợi
Trang 23khác với quyền lợi của đa số, thì việc điều khiển công việc quốc gia theo nguyện vọng của đa số không khỏi trở thành một sự lừa gạt, hoặc đưa đến chỗ đàn áp đa số ấy” (V.I Lênin, 2006, tr.52)
Theo Lênin, kiểm soát quyền lực nhà nước phải gắn với việc phát huy vai trò, quyền làm chủ của nhân dân để xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
“…cho người nghèo, chế độ dân chủ cho nhân dân chứ không phải cho bọn nhà giàu chuyên chính vô sản còn thực hành một loạt biện pháp hạn chế quyền tự do đối với bọn áp bức, bọn bóc lột, bọn tư bản.” (V.I Lênin, 2005a,
109) Trong nhà nước của giai cấp vô sản, tình trạng quan liêu, tha hóa quyền lực vẫn sẽ xuất hiện nếu như quyền làm chủ của nhân dân bị xâm phạm, do đó phải thực hành triệt để dân chủ trong bộ máy nhà nước nhằm thủ tiêu những
biểu hiện tha hóa, lộng quyền của các đại biểu Xô viết, “Chỉ khi nào toàn thể
nhân dân đều tham gia quản lý thì khi ấy mới có thể đả phá chủ nghĩa quan liêu đến cùng, đến thắng lợi hoàn toàn được” (V.I Lênin, 2005b, tr.205)
Khi nhà nước vô sản được thành lập, Đảng Cộng sản - chính đảng của giai cấp công nhân trở thành đảng cầm quyền, vai trò của Đảng đối với việc lãnh đạo thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước là hết sức quan trọng, Đảng phải
có trách nhiệm kiểm soát quyền lực của cán bộ, đảng viên vì họ rất dễ bị tha hóa bởi quyền lực Trước hết, phải thực hiện phê bình và tự phê bình cùng với kiểm tra, kiểm soát đội ngũ cán bộ, đảng viên để tăng cường giáo dục cho họ
“Tự phê bình là một việc tuyệt đối cần thiết cho hết thảy mọi chính đảng sống
và đầy sức sống Không gì tầm thường bằng chủ nghĩa lạc quan tự mãn” (V.I
Lênin, 2005, tr.395-396) Đồng thời, phát hiện, xử lý, khai trừ khỏi đảng
những cán bộ, đảng viên đã tha hóa, biến chất “Cần phải đuổi ra khỏi đảng
những kẻ gian giảo, những đảng viên cộng sản đã quan liêu hóa, không trung thực, nhu nhược” (V.I Lênin, 2006a, tr.154)
Lênin còn nhấn mạnh việc thực hiện tập trung dân chủ trong đảng và nhà nước Nếu không có chế độ tập trung dân chủ thì hai cơ quan này chỉ là những
Trang 24tổ chức riêng rẽ, mang tính cục bộ; từ đó sinh ra nguy cơ lộng quyền, lạm
quyền, “Mọi sự thái quá về lãnh đạo tập thể, mọi sự lệch lạc đưa đến tình
trạng chậm chạp quan liêu, thiếu tinh thần trách nhiệm, mọi sự chuyển biến các cơ quan lãnh đạo tập thể thành chỗ bàn cãi suông, đều là những tai hại rất lớn” (V.I Lênin, 2005c, tr.52) Thực hiện tập trung dân chủ còn là biện
pháp phòng ngừa tình trạng độc đoán, chuyên quyền của tổ chức đảng và
đảng viên đang làm việc trong bộ máy nhà nước, V.I Lênin chỉ rõ “nếu chế độ
tập thể lãnh đạo là cần thiết trong việc thảo luận các vấn đề cơ bản thì cũng cần có chế độ trách nhiệm cá nhân và cá nhân điều khiển để tránh hiện tượng
lề mề và hiện tượng trốn trách nhiệm” (V.I.Lênin, 2005c, tr.486)
Lý thuyết của chủ nghĩa Mác – Lênin đã được hiện thực hóa bằng sự ra đời của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xô viết Tuy nhiên, do những khiếm khuyết, giáo điều của mô hình Xô viết, đã làm cho quyền lực nhà nước trở thành quyền lực tập trung vào hệ thống lãnh đạo, chỉ huy của
những người có chức, có quyền, “quyền lực cá nhân người đứng đầu trở
thành vô hạn, dễ dẫn đến chuyên quyền, độc đoán” (Hồ Văn Thông, 2000,
tr.379) Quyền lực nhà nước bị tha hóa, bộ máy nhà nước ngày càng trở nên quan liêu, làm xói mòn lòng tin của nhân dân, đây chính là một trong những nguyên nhân chính đã dẫn đến sự suy thoái, sụp đổ của các nhà nước theo mô
hình nhà nước xã hội chủ nghĩa Xô viết vào cuối thế kỷ XX
Những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về kiểm soát quyền lực, cùng bài học từ sự sụp đổ của các nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông
Âu chính là những cơ sở lý luận và thực tiễn quý giá cho Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng, thực hiện cơ kiểm soát quyền lực, nhất là trong bối cảnh Đảng đang lãnh đạo thực hiện xây dựng hệ thống chính trị và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thời kỳ đổi mới
Trang 251.1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực
Là người sáng lập và xây dựng chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức nguy cơ tha hóa quyền lực từ khi Đảng trở thành đảng cầm quyền Theo Người, kiểm soát quyền lực trước hết phải phát huy quyền làm chủ tối cao của nhân dân với nhà nước, tránh để quyền lực bị chiếm đoạt bởi những cán bộ, đảng viên đã biến chất, tiêu cực Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu Chính phủ, các Ủy ban địa phương phải bảo đảm quyền
làm chủ của nhân dân, phải hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân “Việc gì có lợi
cho dân thì làm Việc gì có hại cho dân thì phải tránh.” (Hồ Chí Minh, 2011a,
tr.21); phải phát huy vai trò kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với nhà nước, thực hiện quyền bãi miễn của nhân dân đối với những đại biểu không hoàn
thành chức trách, nhiệm vụ, “Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội
và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.” (Hồ Chí Minh, 2011f, tr.375)
Hồ Chí Minh quan tâm thể chế hóa quyền làm chủ của nhân dân bằng Hiến
pháp, pháp luật và nâng cao sức mạnh của pháp luật để bảo vệ chế độ dân chủ
“Như cái hòm đựng của cải thì phải có cái khóa Nhà thì phải có cửa Khóa
và cửa cốt đề phòng kẻ gian ăn trộm Cho nên có cửa phải có khóa, có nhà phải có cửa Thế thì dân chủ cũng cần phải có chuyên chính để giữ gìn lấy dân chủ” (Hồ Chí Minh, 2011e, tr.457)
Việc kiểm soát quyền lực phải gắn với công tác cán bộ và tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước; làm cho đội ngũ cán bộ, các cơ quan nhà nước
biết tự tu dưỡng, tự kiểm soát quyền lực Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm
việc”, Hồ Chí Minh đã đề cập đến những biện pháp rèn luyện phẩm chất đạo
đức của mỗi người cán bộ, đảng viên mà trước hết là phải thực hiện lối làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ để phát huy được sự tích cực, tự giác
của mọi người, ngăn chặn nguy cơ chuyên quyền, lạm quyền “Lãnh đạo
Trang 26không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan.” (Hồ Chí
Minh, 2011b, tr.620)
Người còn chỉ rõ nguyên nhân của những biểu hiện tha hóa quyền lực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên chính là từ chủ nghĩa cá nhân Vì bị cám dỗ, tha hóa bởi thứ chủ nghĩa này mà một số cán bộ đã lạm dụng quyền lực do nhân dân ủy thác để trục lợi, tham ô, vi phạm kỷ cương của Đảng, pháp luật của
nhà nước, “Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, của chủ nghĩa xã
hội.” (Hồ Chí Minh, 2011g, tr.90) Để loại trừ chủ nghĩa cá nhân, mỗi cán bộ,
đảng viên phải tự giác nâng cao đạo đức cách mạng, nếu không thì dù tài giỏi
mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân, “Trước mặt quần chúng, không
phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước” (Hồ Chí Minh, 2011c,
tr.16) Đồng thời, phải xây dựng những cơ chế, chính sách phù hợp, đúng đắn
để tuyển chọn, đào tạo cán bộ có cả đức và tài, biết đặt lợi ích của nhân dân, của đất nước lên trên lợi ích cá nhân
Bằng tư duy chính trị sắc sảo, Hồ Chí Minh đã nhận ra những nguy cơ từ
sự tha hóa, lạm quyền khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, Người đã khẳng định tầm quan trọng của việc phát huy dân chủ, sự tham gia kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với nhà nước, đồng thời đề cập đến việc phải sửa đổi lối làm việc, thực hiện công tác cán bộ đúng đắn để tẩy trừ chủ nghĩa cá nhân và xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả, chặt chẽ Những quan điểm của
Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực chính là cơ sở, kim chỉ nam cho Đảng, Nhà nước hoàn thiện nhận thức về kiểm soát quyền lực, phát huy quyền làm chủ của nhân dân để ngăn chặn các hành vi tha hóa, lạm dụng quyền lực
Trang 271.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Cấu trúc quyền lực của hệ thống chính trị Việt Nam và cơ chế kiểm soát quyền lực của hệ thống chính trị
Cấu trúc quyền lực là khái niệm “để chỉ các tổ chức, thiết chế cấu thành
quyền lực và mối liên hệ, tác động giữa chúng trong một quan hệ quyền lực nhất định” (Phạm Bính, 2003, tr.15) Cấu trúc quyền lực của hệ thống chính
trị Việt Nam bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị -
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội là cơ sở chính trị, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân Các tổ chức này có vai trò giám sát, phản biện xã hội và tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước; thực hiện dân chủ và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
Về cơ chế kiểm soát quyền lực của hệ thống chính trị, hiện nay Đảng và Nhà nước chưa đưa ra định nghĩa cụ thể cho khái niệm này tuy nhiên trong các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về kiểm soát quyền lực đã đề cập đến việc xây dựng một cơ chế kiểm soát quyền lực trong
Trang 28hệ thống chính trị, phát huy quyền làm chủ của nhân dân bằng hệ thống pháp luật, các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và sự dân chủ, công khai, minh bạch của hệ thống chính trị như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
đã khẳng định là phải “nhốt quyền lực vào trong “lồng” thể chế, công khai,
minh bạch, trách nhiệm giải trình để kiểm soát quyền lực, bảo đảm quyền lực được vận hành đúng đắn, không bị “tha hoá” (Nguyễn Phú Trọng, 2020, tr.3)
và “Quyền lực phải được ràng buộc bằng trách nhiệm, quyền lực đến đâu
trách nhiệm đến đó, quyền lực càng cao trách nhiệm càng lớn; lạm dụng, lợi dụng quyền lực cũng phải bị truy cứu trách nhiệm và xử lý vi phạm Nói phải
“nhốt” quyền lực trong “lồng” cơ chế là với ý nghĩa như vậy.” (Nguyễn Phú
Trọng, 2020, tr.2)
Hiểu theo một cách rộng hơn thì cơ chế kiểm soát quyền lực của hệ thống chính trị Việt Nam đó là các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về kiểm soát quyền lực, phát huy dân chủ, tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm của hệ thống chính trị nhằm bảo đảm quyền lực được sử dụng hiệu quả, đúng mục đích, không bị tha hóa, lạm dụng Cơ chế kiểm soát quyền lực phải bao gồm sự kiểm soát bên trong cấu trúc quyền lực của hệ thống chính trị (kiểm soát lẫn nhau và kiểm soát trong nội bộ mỗi chủ thể của hệ thống chính trị) và kiểm soát bên ngoài với sự tham gia của nhân dân, các tổ chức đoàn thể, các cơ quan báo chí, truyền thông,…
1.2.2 Thực tiễn kiểm soát quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam trước năm 2011
Quan điểm về kiểm soát quyền lực nhà nước đã được hình thành từ khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước, xã hội Trên cương vị Chủ tịch nước, người đứng đầu Chính phủ, Hồ Chí Minh đã sớm quan tâm đến việc phát huy dân chủ, ngăn ngừa sự suy thoái, tha hóa quyền lực trong
hệ thống tổ chức Đảng, Nhà nước mà trước hết là phải sớm xây dựng một
Nhà nước pháp quyền
Trang 29Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị phải tổ chức ngay một cuộc bầu cử để nhân dân thực hiện chủ quyền mình đối với nhà nước và xây dựng Hiến pháp, pháp luật để bảo vệ quyền làm chủ của
nhân dân và quản lý đất nước, Người nói “Trước chúng ta đã bị chế độ quân
chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống.” (Đảng Cộng sản Việt Nam,
2000, tr.2)
Ngày 06/1/1946, Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội lập hiến của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa đã được tổ chức thành công với 333 đại biểu trúng
cử Trước đó, trong vai trò Chủ tịch Chính phủ Lâm thời, Hồ Chí Minh đã
ban hành Sắc lệnh số 63/SL (ngày 22-11-1945) “Về việc tổ chức Hội đồng
nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp” Hội đồng nhân dân là cơ quan
quyền lực nhà nước ở địa phương do nhân dân bầu ra; Ủy ban hành chính do Hội đồng nhân dân bầu ra, đóng vai trò là cơ quan hành chính vừa thay mặt cho dân, vừa đại diện cho Chính phủ
Chú trọng thanh tra, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước, ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 64/SL thiết lập Ban
Thanh tra đặc biệt với nhiệm vụ: “Nhận các đơn khiếu nại của nhân dân;
Điều tra, hỏi chứng, xem xét các tài liệu giấy tờ của các Ủy ban nhân dân hoặc các cơ quan của Chính phủ cần thiết cho công việc giám sát; Đình chức, bắt giam bất cứ nhân viên nào trong Ủy ban nhân dân hay của Chính phủ đã phạm lỗi trước khi mang ra Hội đồng Chính phủ hay Tòa án đặc biệt xét xử; Tịch biên hoặc niêm phong những tang vật và dùng mọi cách điều tra để lập một hồ sơ mang một phạm nhân ra Tòa án đặc biệt…”, (Điều 2)
Trang 30Bản Hiến pháp đầu tiên được Quốc hội thông qua vào năm 1946 đã khẳng
định bản chất, chế độ nhà nước ta là thuộc về nhân dân “Tất cả quyền bính
trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.” (điều 1) Hiến pháp cũng đã thiết lập
cơ chế kiểm soát quyền lực qua tổ chức bộ máy nhà nước với quyền lực lập pháp do Nghị viện nhân dân nắm giữ, quyền hành pháp do Chính phủ và Nội các thực hiện, còn Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp
Xây dựng, giáo dục đội ngũ cán bộ có phẩm chất, đạo đức, hết lòng phụng
sự tổ quốc phụng sự nhân dân là vấn đề mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh
cực kỳ quan tâm Tháng 2 năm 1947, trong Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở phải hết sức lưu ý, phòng, chống tình trạng
“quân phiệt quan liêu”, “óc địa vị”, “tính kiêu ngạo”, thói vô kỷ luật, chuộng hình thức… Đến Hội nghị cán bộ tháng 4 năm 1947, Đảng đã đề ra những chủ trương về kiểm soát quyền lực, chống chủ nghĩa cục bộ, địa phương trong hoạt động của bộ máy chính quyền và đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp Hội
nghị yêu cầu các tổ chức đảng “phải gọt rũa những sự không ăn khớp hay
xích mích, hiểu lầm giữa các cơ quan hành chính và Ủy ban kháng chiến.”
(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, tr.186)
Nhằm củng cố, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng và Nhà nước, ngày 16/10/1948, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã thành lập Ban Kiểm tra Trung ương, với nhiệm vụ: Xem xét, kiểm tra các đường lối chỉ đạo
và thực hiện các chỉ thị Nghị quyết của Trung ương Đảng; tình hình cán bộ và việc thi hành kỷ luật ở các cấp… Ngày 18/12/1949, Chính phủ đã ban hành Sắc lệnh số 138b/SL thành lập Ban Thanh tra Chính phủ thay thế cho Ban Thanh tra đặc biệt, với nhiệm vụ thanh tra, xem xét quá trình thực thi các chính sách, chủ trương của Chính phủ ở các cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban hành chính, viên chức nhà nước và các khiếu nại của quần chúng nhân dân
Trang 31Đại hội lần thứ II của Đảng năm 1951, xác định bản chất của nhà nước ta là nhà nước cộng hòa dân chủ nhân dân đang làm nhiệm vụ lịch sử của công nông chuyên chính Để phát huy dân chủ, đảm bảo nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát, nhà nước phải thực hiện nguyên tắc dân chủ tập trung, phương pháp làm việc dân chủ, đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân, Đảng Lao động Việt Nam phải lãnh đạo, tăng cường liên hệ giữa chính quyền và quần chúng
Đồng thời, sửa chữa những quan điểm sai lầm về bản chất của nhà nước, lối làm việc quan liêu, xa cách quần chúng trong một bộ phận cán bộ, đảng
viên “Không nhận rõ chính sách của Đảng và của Chính phủ, nên nhiều khi
làm ẩu, làm bừa, không những không hành chính hóa chính sách của Đảng
mà nhiều khi còn làm sai chính sách đó Không triệt để dùng chính quyền mà thi hành chính sách của Đảng, lại tiêu cực, bị động hoặc phỉnh dân.” (Đảng
Cộng sản Việt Nam, 2001, tr.117-118)
Như vậy, trong giai đoạn 1945–1954, nước nhà mới giành độc lập, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, nhưng Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những chủ trương, giải pháp phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với bộ máy nhà nước, xác định vai trò kiểm soát quyền lực của các cơ quan nhà nước
từ trung ương đến địa phương
Đại hội lần thứ III của Đảng năm 1960 đã quyết định chuyển chức năng của nhà nước dân chủ nhân dân sang thực hiện nhiệm vụ chuyên chính vô sản
để cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, “Nhà nước không
những chỉ dùng pháp luật cách mạng để trừng trị, mà còn phải dùng đấu tranh chính trị và đấu tranh tư tưởng để đánh bại các thế lực thù địch…”
(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002, tr.600) Đảng phải nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng với các tổ chức khác trong hệ thống chuyên
chính vô sản, “lầm lẫn Đảng với cơ quan chính quyền Nhà nước là một, đem
Trang 32Đảng bao biện làm thay cho các tổ chức chính quyền và tổ chức quần chúng đều là sai lầm.” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002, tr.711)
Trước đó vào năm 1959, Quốc hội cũng đã thông qua bản Hiến pháp mới với những quy định về thể chế chính trị và tổ chức quyền lực nhà nước theo
mô hình tập quyền của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là các cơ quan quyền lực nhà nước đại diện cho nhân dân,
do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân Các cơ quan trong bộ máy nhà nước là cơ quan chấp hành, nhận quyền lực phái sinh từ Quốc hội Quốc hội có quyền lập pháp, bầu, bổ nhiệm hoặc bãi nhiệm các chức danh lãnh đạo nhà nước và quyết định các vấn đề quan trọng về đối nội, đối ngoại Hội nghị lần thứ 22 và 23 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III), đã trình bày những đặc điểm, bản chất của cơ chế kiểm soát quyền lực trong hệ thống chuyên chính vô sản, gồm: Đảng, Nhà nước và quần chúng nhân dân Với vai trò lãnh đạo, đường lối của Đảng phải trở thành chính sách của Nhà nước và thâm nhập vào quần chúng, biến thành ý chí, phong trào cách mạng
Nhà nước là công cụ thực hiện đường lối chính sách của Đảng và quyền làm
chủ của nhân dân lao động, “Do đó, mọi đường lối chính sách của Đảng phải
biến thành đường lối chính sách của bản thân Nhà nước, thành thể lệ, chế độ của Nhà nước.” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2004, tr.385)
Không nên có quan điểm tăng quyền lực cho Nhà nước là giảm nhẹ vai trò
lãnh đạo của Đảng, “Đối lập Nhà nước xã hội chủ nghĩa với Đảng là một sai
lầm lớn, không hiểu rõ thực chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, không hiểu
rõ nội dung của Đảng cầm quyền khác với khi còn hoạt động bí mật, đấu
tranh giành chính quyền.” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2004, tr.385) Đảng
phải tôn trọng các cơ quan nhà nước, chấp hành pháp luật, kiên quyết trừng trị
những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất “không kể là đảng viên hoặc
người ngoài Đảng, nghiêm khắc thi hành kỷ luật của Nhà nước và của Đảng
Trang 33đối với những cán bộ, nhân viên phạm khuyết điểm nặng” (Đảng Cộng sản
Việt Nam, 2004a, tr.237)
Cấp ủy đảng và nhà nước phải ra sức củng cố và phát huy vai trò của các tổ
chức và nhân dân trong việc giám sát hoạt động của Đảng, Nhà nước “Kiên
quyết chống mọi biểu hiện quan liêu hách dịch, độc đoán chuyên quyền, coi thường ý kiến quần chúng, thái độ hẹp hòi, biệt phái đối với người ngoài Đảng, và cũng chống những quan niệm và hành động lệch lạc, dân chủ một chiều, theo đuôi quần chúng.” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2004a, tr.241)
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng năm 1976, đã định ra đường lối quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn quốc Đại hội khẳng định muốn đưa sự nghiệp cách mạng đến toàn thắng, phải tăng cường chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động với Nhà
nước chuyên chính vô sản “một tổ chức thực hiện quyền làm chủ tập thể của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động, một tổ chức thông qua đó Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình đối với tiến trình phát triển của xã hội.”
(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2004b, tr.577)
Nhà nước phải là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, không ngừng nâng cao vai trò của cơ quan quyền lực nhà nước trong việc quyết định những công việc quan trọng và giám sát hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp Đảng phải tăng cường lãnh đạo Nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả
hoạt động của Nhà nước và thực hiện vai trò lãnh đạo xã hội, nhân dân, “Sự
lãnh đạo của Đảng và quyền làm chủ tập thể của nhân dân thể hiện tập trung
ở Nhà nước, được thực hiện chủ yếu thông qua hoạt động của Nhà nước.”
(Đảng Cộng sản Việt Nam, 2004b, tr.592) nhưng phải tôn trọng quyền hạn, pháp luật nhà nước, khắc phục tình trạng bao biện, làm thay Nhà nước
Những quan điểm, chủ trương của Đại hội IV đã được cụ thể thành những nội dung, quy định của Hiến pháp 1980 về những nguyên tắc tổ chức, thực hiện quyền lực của Nhà nước chuyên chính vô sản Hiến pháp khẳng định
Trang 34Nhà nước ta Nhà nước chuyên chính vô sản với người chủ tập thể là nhân dân
lao động, “Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội
đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.” (điều 6) Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước và đại biểu cao nhất
của nhân dân, có quyền lập hiến và lập pháp, quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước Các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước như: Hội đồng Bộ trưởng, Tòa án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội hoặc Hội đồng Nhà nước Quốc hội cũng có quyền bầu và bãi miễn các chức danh lãnh đạo của các cơ quan này
Hiến pháp 1980 lần đầu tiên ghi nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội tại điều 4 Hiến pháp “Đảng Cộng sản
Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác - Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”
Những nội dung của Hiến pháp 1980 về tổ chức, kiểm soát quyền lực đã phản ánh rất rõ việc áp dụng các nguyên tắc của mô hình nhà nước Xô viết vào hệ thống chuyên chính vô sản ở nước ta, việc kiểm soát quyền lực nhà
nước hầu như là thống nhất, tập trung vào các cơ quan dân cử “trách nhiệm cá
nhân phần nhiều trở thành trách nhiệm tập thể Chế định tín nhiệm chuyển thành chế định bãi nhiệm Quốc hội có quyền đặt cho mình hoặc trao cho Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng những nhiệm vụ, quyền hạn mới và như vậy không bị hạn chế bởi Hiến pháp” (Nguyễn Long Hải, 2017, tr.93)
Đại hội V năm 1982 tiếp tục kế thừa những quan điểm của Đại hội IV về
kiểm soát quyền lực nhà nước trong hệ thống chuyên chính vô sản “Nhà nước
ta phải tỏ rõ một cách mạnh mẽ thực chất chuyên chính vô sản, pháp chế hóa
và thể hiện đầy đủ sự lãnh đạo của Đảng và quyền làm chủ tập thể của nhân
Trang 35dân lao động.” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2005, tr.241) Nắm vững vai trò
lãnh đạo của Đảng trên cơ sở phát huy hiệu lực quản lý của nhà nước “bảo
đảm cho Nhà nước không phải là người thừa hành một cách bị động và vụn vặt các công việc do Đảng đề ra.” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2005, tr.302)
Như vậy, từ năm 1976 đến trước thời kỳ đổi mới, cơ chế kiểm soát quyền lực tập quyền trong nhà nước chuyên chính vô sản đã được thể chế hóa bằng các chủ trương, đường lối của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước Tuy nhiên, quá trình lãnh đạo thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước của Đảng cũng đã bộc lộ nhiều hạn chế: Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
nhưng chỉ bao gồm nhân dân lao động với “giai cấp công nhân, giai cấp nông
dân tập thể, tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa và những người lao động khác,…” (Điều 3, Hiến pháp 1980) Vị trí, vai trò và mối quan hệ giữa các cơ
quan nhà nước chưa được xác định rõ Tình trạng bao biện, lạm quyền, nạn
quan liêu, mệnh lệnh đã làm mất dân chủ, biến dạng các quan hệ xã hội “gây
tác hại lớn về kinh tế, chính trị, và đang bị kẻ địch lợi dụng để kích động quần chúng, làm giảm sút lòng tin của quần chúng đối với Đảng” (Đảng Cộng sản
Việt Nam, 2005, tr.263), đòi hỏi Đảng phải có những sự đổi mới về nhận thức
và thực tiễn lãnh đạo thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước
Đại hội lần thứ VI của Đảng năm 1986 đã chỉ rõ một trong những nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ, khủng hoảng của đất nước là do hệ thống chuyên chính vô sản hoạt động kém hiệu quả; cơ chế kiểm soát quyền lực, kỷ cương của Đảng, pháp luật của Nhà nước bị vi phạm Giải pháp được đặt ra là phải
xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, “Chính cơ chế quản lý còn nặng tính chất
tập trung quan liêu, vừa gò bó cấp dưới, vừa làm giảm hiệu lực quản lý tập trung là nguyên nhân trực tiếp làm rối loạn trật tự, kỷ cương Vì vậy, không thể khắc phục sự rối ren bằng cách quay trở lại cơ chế cũ, mà phải kiên quyết thực hiện phân cấp quản lý theo nguyên tắc tập trung dân chủ.” (Đảng Cộng
sản Việt Nam, 2006, tr.400)
Trang 36Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải xuất phát từ lợi ích,
nguyện vọng của nhân dân Thực hiện nghiêm phương châm “Dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra” xem đó là nền nếp của xã hội mới Đồng thời,
khắc phục những quan điểm, tư tưởng xem nhẹ vai trò của Nhà nước Nhà nước không phải chỉ là công cụ thực hiện chủ trương của Đảng, mà là cơ quan thể chế hóa những đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật và chính
sách, với “… sự phân định rành mạch nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm từng
cấp theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phân biệt rõ chức năng quản lý hành chính - kinh tế với quản lý sản xuất - kinh doanh, kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội.” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006, tr.452 - 453)
Tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI năm
1989, lần đầu tiên khái niệm hệ thống chính trị được sử dụng thay thế cho hệ
thống chuyên chính vô sản Đánh dấu bước phát triển trong nhận thức, tư duy
của Đảng về kiểm soát quyền lực nhà nước; về cấu trúc quyền lực, vai trò,
mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc, “khắc phục tính chất
chung, nặng về bản chất giai cấp và mặt chuyên chính của khái niệm hệ thống chuyên chính vô sản” (Tô Huy Rứa, Hoàng Chí Bảo, Trần Khắc Việt & Lê
Ngọc Tòng, 2006, tr.354)
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đã khẳng định nguyên tắc kiểm soát quyền lực của Nhà nước Việt
Nam là “… theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thống nhất quyền lực, có sự
phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của trung ương Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó.” (Đảng Cộng sản Việt Nam,
2007, tr.145 - 146) Đồng thời, chỉ rõ mục tiêu tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị nước ta là nhằm xây dựng, hoàn thiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, với quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, được thể chế trong mọi lĩnh
Trang 37vực của đời sống và hệ thống pháp luật “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ
thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân Dân chủ gắn liền với công bằng xã hội phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua hoạt động của Nhà nước ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2007, tr.145)
Thể chế nhận thức, quan điểm mới của Đảng, Hiến pháp 1992 đã khẳng
định bản chất nhà nước ta là, “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”, (điều 2) Hiến
pháp sửa đổi năm 2001 đã bổ sung thêm tính pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhà nước và xác định nguyên tắc kiểm soát quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Chính phủ đã được thừa nhận sự độc lập trong thực hiện công tác hành chính và tổ chức bộ máy Chính phủ, khoản 2 và 3 điều 114 Hiến
pháp quy định, Thủ tướng có quyền “Đề nghị Quốc hội thành lập hoặc bãi bỏ
các bộ và các cơ quan ngang bộ; trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ; Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các Thứ trưởng và chức vụ tương đương;…” Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân là các
cơ quan có chức năng bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân
Hiến pháp 1992 đã đánh dấu quá trình đổi mới tổ chức hoạt động của hệ thống chính trị nước ta, khẳng định quyền làm chủ của nhân dân đối với nhà nước và bổ sung những nội dung về kiểm soát quyền lực nhà nước Tuy nhiên, Hiến pháp lại chưa quy định rõ sự phân công, mối quan hệ kiểm soát
Trang 38quyền lực giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp và quyền làm chủ của nhân dân đối với nhà nước bằng các hình thức dân chủ trực tiếp
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khóa VII) năm 1994 là lần đầu tiên khái niệm nhà nước pháp quyền được đề cập trong văn kiện Đảng Hội nghị yêu cầu phải tiếp tục thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, xem đó là
“nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và cũng là bản chất tốt đẹp của Nhà nước
ta.” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2007a, tr.225); nâng cao hiệu quả tinh giản và
đổi mới bộ máy nhà nước, “bảo đảm quyền lực thống nhất, phân công rõ và
phát huy hiệu lực của cả ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Đảng
Cộng sản Việt Nam, 2007a, tr.226) Kiên quyết đấu tranh chống tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng,… bảo vệ dân chủ, quyền con người, các quyền cơ bản của công dân
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng năm 1996 khẳng định đổi mới hệ thống chính trị là nhằm phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân Đại hội yêu cầu, trong quan hệ giữa Đảng và
Nhà nước, phải xác định đúng đắn vị trí, cách thức lãnh đạo của Đảng, “Đảng
và mọi đảng viên đều hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật và chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình” (Đảng Cộng sản Việt Nam,
2015, tr.424) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên phải đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động để phát huy vai trò, vị trí và tham gia, phối hợp với Đảng, Nhà nước giám sát việc thực hiện dân chủ, chăm lo và bảo vệ lợi ích của nhân dân
Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) đã ban
hành Nghị quyết về “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh”, để
nâng cao bản chất dân chủ, pháp quyền của nhà nước Nghị quyết yêu cầu phải thực hiện những chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp nhằm phát huy hơn nữa
quyền làm chủ của nhân dân“… qua các hình thức dân chủ đại diện và dân
Trang 39chủ trực tiếp để nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ Nhà nước, nhất là việc giám sát, kiểm tra của nhân dân đối với hoạt động của cơ quan và cán
bộ, công chức nhà nước.” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2015a, tr.310-311)
Những chủ trương của Đại hội VIII và Hội nghị lần thứ ba khóa VIII đã kế thừa, phát triển những nhận thức, quan điểm của Đảng về phát huy dân chủ và
tổ chức thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước Tuy nhiên, trong thực tiễn ở nhiều nơi vẫn còn tình trạng cán bộ, đảng viên lạm dụng quyền lực, làm việc thiếu dân chủ, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, tiêu biểu là vụ việc ở tỉnh Thái Bình năm 1997
Nguyên nhân bắt nguồn từ việc cán bộ ở xã Quỳnh Hội, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình bắt người dân phải đóng góp các khoản quá lớn nhưng thu, chi không minh bạch khiến người dân phải nhiều lần lên xã, huyện, tỉnh khiếu tố, yêu cầu thanh tra, xử lý cán bộ sai phạm Tiếp theo biến cố diễn ra ở huyện Quỳnh Phụ, ở các xã thuộc các huyện Thái Thụy, Kiến Xương, Đông Hưng,… người dân cũng đưa đơn khiếu kiện đến Ủy ban nhân dân các cấp đòi thanh tra các khoản thu chi ở xã, hợp tác xã và xử lý cán bộ tham nhũng Những vấn đề mà nhân dân khiếu nại tố cáo cơ bản là đúng đắn nhưng do sự buông lỏng chỉ đạo trong việc đấu tranh chống tham nhũng của Ban Thường
vụ Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã dẫn đến những vụ việc gây rối trật tự công cộng, xô xát giữa người dân và chính quyền
Để xử lý dứt điểm vụ việc và giải quyết những bức xúc của nhân dân, Tỉnh
ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh đã đẩy mạnh thực hiện thanh, kiểm tra ở cơ sở Đến cuối năm 1997 đã tiến hành thanh tra, kiểm tra ở 164 xã, phường thị trấn
và khởi tố 610 vụ án, 1.015 bị cáo; đã xét xử 505 vụ, 732 bị cáo (Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình, 2010, tr.558) Một số vụ án
về tham nhũng, gây rối trật tự công cộng đã được xét xử nghiêm minh, được nhân dân đồng tình Bộ Chính trị cũng đã thi hành kỷ luật đối với các cá nhân
và tập thể Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái có sai phạm trong chỉ đạo, điều hành
Trang 40Sau sự việc ở Thái Bình, ngày 18/2/1998 Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị
số 30-CT/TW “Về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở” nhằm
chấn chỉnh lại những nội dung, phương thức của Quy chế dân chủ và phát huy hơn nữa việc thực hiện dân chủ trực tiếp ở địa phương trên cơ sở Hiến pháp
và pháp luật, “thể hiện tinh thần dân chủ đi đôi với kỷ cương, trật tự, quyền
hạn gắn với trách nhiệm, lợi ích đi đôi với nghĩa vụ; ” (Đảng Cộng sản Việt
Nam, 2015b, tr.40)
Đại hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định quyền lực của nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thuộc về nhân dân “Nhà nước ta là công
cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016b, tr.150)
Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật và phải cải cách thể chế, phương thức hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực
Đại hội X năm 2006 bổ sung những quan điểm về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và xây dựng nhà nước pháp quyền Dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu và là động lực của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với Nhà nước pháp quyền đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân Quá trình tổ chức, xây dựng cơ chế vận hành và kiểm soát quyền lực nhà nước
phải dựa trên nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân;
quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” (Đảng
Cộng sản Việt Nam, 2018, tr.220) “Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện,
làm thay Nhà nước.” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2018, tr.229) và phải tạo
điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể giám sát, phản biện hoạt động của hệ thống chính trị và phát huy sự tự chủ, sáng tạo trong tổ chức và hoạt động
Thể chế chủ trương của Đảng, trong giai đoạn 2001 đến 2010, Quốc hội đã ban hành nhiều bộ luật về thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong bộ máy