ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THANH LONG ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THỂ LOẠI DIỄN NGÔN BÌNH LUẬN KINH TẾ XÃ HỘI TRÊN BÁO MỸ (CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI BẢN DỊCH[.]
Trang 1NGUYỄN THANH LONG
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THỂ LOẠI DIỄN NGÔN
BÌNH LUẬN KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN BÁO MỸ
(CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI BẢN DỊCH TRÊN BÁO VIỆT)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THANH LONG
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THỂ LOẠI DIỄN NGÔN BÌNH LUẬN KINH TẾ-XÃ HỘI TRÊN CÁC BÁO CỦA MỸ (CÓ ĐỐI CHIẾU VỚI CÁC BẢN DỊCH TRÊN CÁC BÁO TIẾNG VIỆT)
TIỂU LUẬN TỔNG QUAN
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU
Ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 9222024
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU
Người hướng dẫn khoa học:
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nghiên cứu nào khác
TP HCM, ngày tháng năm 2021 Người viết
Nguyễn Thanh Long
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến hai thầy cô hướng dẫn của tôi, TS Huỳnh Thị Hồng Hạnh và TS Huỳnh Bá Lân, hai thầy cô luôn bên cạnh tôi ngay từ lúc chọn đề tài, trong từng bản thảo chuyên đề, luôn yêu thương và chỉ bảo tận tâm Các thầy cô đã dành nhiều thời gian để đọc, nhận xét và góp ý sửa chữa cho những trang bản thảo còn nhiều lỗi của tôi Những nhận xét và chỉ dẫn uyên bác của thầy cô
đã vun đắp thêm cho kiến thức Ngôn ngữ học của tôi lẫn cách sống giữa cuộc đời
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trịnh Sâm, TS Trần Thanh Nguyện, và TS Nguyễn Thị Kiều Thu đã giúp đỡ và cho những chỉ dẫn, góp
ý quý giá để tôi hoàn thành các chuyên đề tiến sĩ
Một lời cảm ơn chân thành xin gửi đến PGS.TS Nguyễn Công Đức, TS Đinh
Lư Giang, TS Nguyễn Hoàng Trung cùng với quý thầy cô tham gia giảng dạy tại Khoa Ngôn ngữ học đã hướng dẫn, giúp đỡ và luôn cho lời khuyên quý giá để tôi hoàn thành các học phần cao học và các chuyên đề tiến sĩ
Tôi cũng rất biết ơn các chuyên viên của Khoa Ngôn ngữ học đã luôn tạo điều kiện và giúp đỡ kịp thời về các thủ tục hành chính
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên
và giúp đỡ trong quá trình học tập và viết luận án của tôi
Tôi luôn cảm thấy mắc nợ vợ cùng các con của mình Vợ và các con tôi đã
hy sinh quá nhiều cho công việc học tập và nghiên cứu của tôi Vợ và các con cũng chính là động lực cho tôi hoàn thành công trình này
TP HCM, ngày tháng năm 2021
Người viết
Nguyễn Thanh Long
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
QUY ƯỚC VIẾT TẮT VÀ TRÍCH DẪN TRONG LUẬN ÁN vii
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH viii
DẪN NHẬP 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
2.1 Các nghiên cứu trên thế giới 2
2.1.1 Về diễn ngôn báo chí 2
2.1.2 Về thể loại 4
2.1.3 Về phân tích diễn ngôn báo chí theo thể loại 8
2.2 Các nghiên cứu trong nước 11
2.2.1 Về diễn ngôn báo chí 11
2.2.2 Về thể loại báo chí 13
2.2.3 Về phân tích diễn ngôn báo chí theo thể loại 13
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 15
3.1 Mục đích nghiên cứu 15
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 15
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 15
4.1 Đối tượng nghiên cứu 15
4.2 Phạm vi nghiên cứu 15
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 16
5.1 Phương pháp nghiên cứu 16
5.2 Nguồn ngữ liệu 16
6 Đóng góp của luận án 18
6.1 Về phương diện lí luận 18
6.2 Về phương diện thực tiễn 18
Trang 67 Bố cục của luận án 18
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 20
1.1 Một số khái niệm hữu quan 20
1.1.1 Thể loại và thể loại báo chí 20
1.1.1.1 Khái niệm thể loại 20
1.1.1.2 Phân tích thể loại 22
1.1.1.3 Thể loại báo chí 23
1.1.2 Diễn ngôn báo chí và phân tích diễn ngôn báo chí theo thể loại 26
1.1.2.1 Diễn ngôn và diễn ngôn báo chí 26
1.1.2.2 Phân tích diễn ngôn 28
1.1.2.3 Phân tích diễn ngôn báo chí theo thể loại 29
1.1.2.4 Phân tích thể loại diễn ngôn báo chí từ góc nhìn Ngôn ngữ học chức năng hệ thống (SFL) 30
1.1.2.5 Phân tích thể loại diễn ngôn bình luận từ góc nhìn Phân tích diễn ngôn phê phán 32
1.1.2.6 Phân tích thể loại ứng dụng của diễn ngôn 35
1.1.3 Ngữ vực và phân tích ngữ vực 36
1.1.3.1 Ngữ vực 36
1.1.3.2 Phân tích ngữ vực 38
1.2 Về thể loại bình luận báo chí 39
1.2.1 Một số quan niệm về bình luận, lập luận và bình luận báo chí 39
1.2.2 Diễn ngôn bình luận và diễn ngôn bình luận kinh tế - xã hội 41
1.2.3 Cấu trúc diễn ngôn bình luận kinh tế - xã hội 42
1.3 Về dịch thuật báo chí 44
1.3.1 Nghiên cứu dịch thuật định hướng diễn ngôn (Discourse-oriented translation studies) 44
1.3.2 Hệ tư tưởng và dịch thuật 45
Trang 71.3.3 Tương đương trong dịch thuật 46
1.3.4 Dịch thuật báo chí 49
1.3.5 Ngữ cảnh hóa (framing) trong dịch diễn ngôn báo chí 50
1.3.6 Dịch ngữ cảnh hóa (transframing) 53
Tiểu kết 55
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ THỂ LOẠI DIỄN NGÔN BÌNH LUẬN KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN BÁO MỸ 56
2.1 Đặc điểm cấu trúc của diễn ngôn bình luận kinh tế - xã hội trên báo Mỹ 56
2.1.1 Tiêu đề 56
2.1.2 Dẫn đề 63
2.1.3 Phần mở đầu 68
2.1.4 Phần thân 70
2.1.5 Phần kết 74
2.2 Đặc điểm các yếu tố bình luận trong diễn ngôn bình luận kinh tế - xã hội trên báo Mỹ 84
2.2.1 Phụ ngữ bình luận 84
2.2.2 Cú và ngữ chêm xen 87
2.3 Đặc điểm lập luận trong diễn ngôn bình luận kinh tế - xã hội trên báo Mỹ 91
2.3.1 Lập luận đơn 92
2.3.2 Lập luận phức hợp 94
2.4 Đặc điểm trích dẫn trong diễn ngôn bình luận kinh tế - xã hội trên báo Mỹ 102
2.4.1 Về nội dung trích dẫn 103
2.4.2 Về phương thức trích dẫn 104
2.4.3 Về phương tiện trích dẫn 115
Tiểu kết 122
Trang 8CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM DIỄN NGÔN BÌNH LUẬN KINH TẾ - XÃ
HỘI TRÊN BÁO VIỆT ĐƯỢC DỊCH TỪ BÁO MỸ 124
3.1 So sánh các diễn ngôn dịch từ báo Mỹ trên báo Việt với các diễn ngôn nguồn 124
3.1.1 Về cấu trúc………124
3.1.2 Về nội dung……… …………124
3.2 Đặc điểm lựa chọn thông tin 138
3.2.1 Bổ sung thông tin 138
3.2.2 Lược bỏ thông tin 144
3.2.3 Sửa đổi thông tin 149
3.2.4 Thay đổi cấu trúc câu 154
3.3 Đặc điểm ngữ cảnh hóa bản dịch 156
3.3.1 Ngữ cảnh hóa qua dịch tiêu đề 156
3.3.2 Ngữ cảnh hóa bằng việc duy trì thông tin 159
3.3.3 Ngữ cảnh hóa bằng việc tách thông tin có chọn lọc 163
Tiểu kết 167
KẾT LUẬN 169
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 172
TÀI LIỆU THAM KHẢO 173
Trang 9QUY ƯỚC VIẾT TẮT VÀ TRÍCH DẪN TRONG LUẬN ÁN
- CDA: Phân tích diễn ngôn phê phán
- CTDN: Cấu trúc diễn ngôn
- CTDNBL: Cấu trúc diễn ngôn bình luận
- DNBL: Diễn ngôn bình luận
- DNBLKTXH: Diễn ngôn bình luận kinh tế - xã hội
- NNHCNHT: Ngôn ngữ học chức năng hệ thống
- NYT: The New York Times
- PTDN: Phân tích diễn ngôn
- SFL: Systemic Functional Linguistics
- TBKTSG: Thời báo Kinh tế Sài Gòn
- WP: The Washington Post
- WSJ: The Wall Street Journal
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH 1) DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Các lí thuyết về thể loại và các đường hướng nghiên cứu thể loại theo
Bawashi và Reiff……….………5
Bảng 2: Nguồn ngữ liệu DNBLKTXH trên báo Mỹ và bản dịch trên báo Việt……… ……… ……… 17
Bảng 2.1: Tỉ lệ sử dụng kiểu hành động ngôn từ trong tiêu đề diễn ngôn bình luận kinh tế - xã hội trên báo Mỹ……… … ……….……… 62
Bảng 2.2: Các kiểu dẫn đề trong diễn ngôn bình luận kinh tế - xã hội trên báo Mỹ
… ……… ……… … ……….67
Bảng 2.3: Bảng tổng hợp Phụ ngữ bình luận……… ……… 84
2) DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.1: Mô hình hạt nhân sự kiện của một số thể loại văn bản báo chí ……….……… 25
Hình 1.2: Sơ đồ tương tác trong giao tiếp báo chí ……… … ….27
Hình 1.3: Sơ đồ các yếu tố trong quá trình giao tiếp trong báo chí ……… 27
Hình 1.4: Sơ đồ cấu trúc diễn ngôn bình luận kinh tế - xã hội.……….44
Hình 1.5: Dịch ngữ cảnh hóa: một khái niệm cầu nối trong dịch diễn ngôn báo chí……… 54
Hình 2.1: Cấu trúc điển hình của diễn ngôn bình luận kinh tế - xã hội trên báo Mỹ ……… ……… 83
Hình 2.2: Cấu trúc lập luận đơn……… ……… 94
Hình 2.3: Cấu trúc lập luận phức hợp……… ……….102
Hình 3.1: Sơ đồ dạng cấu trúc của diễn ngôn bình luận kinh tế - xã hội trên báo Việt được dịch từ báo Mỹ ………… ……… …… ……… …… 124
Hình 3.2: Mô hình diễn ngôn bình luận kinh tế - xã hội trên báo Việt được chuyển ngữ từ báo Mỹ so với các diễn ngôn nguồn……… ……… 131
Hình 3.3: Mô hình diễn ngôn bình luận kinh tế - xã hội được dịch từ báo Mỹ trên báo Việt so với các diễn ngôn nguồn……… ….…… 137
Trang 11Hình 3.4: Mô hình Chiến lược lựa chọn thông tin và bản dịch diễn ngôn báo chí
……… ….…… ………156 Hình 3.5: Mô hình Chiến lược Dịch ngữ cảnh hóa và bản dịch diễn ngôn báo chí
……… ….…… ………166 Hình 3.6: Mô hình đánh giá bản dịch diễn ngôn báo chí……….167
Trang 12DẪN NHẬP
1 Lí do chọn đề tài
Hoạt động báo chí không chỉ dừng lại ở việc tường thuật những điều đang diễn ra mà phải diễn giải, giải thích, đưa ra quan điểm, bởi điều quan trọng không phải là bản thân sự kiện mà là việc diễn giải nó Trong khi đó, độc giả không còn là người thụ động tiếp nhận thông tin từ một phía Họ muốn nhận những thông tin liên quan đến mối quan tâm, liên quan đến cuộc sống của họ Khi mà họ, bất kể trình độ
và vị thế như thế nào, đều có quyền nói ra ý kiến của mình thì khi tiếp nhận thông tin,
họ còn có thể đánh giá, kiểm định chất lượng thông tin, tranh luận, phân tích và phản bác lại (nếu thấy cần thiết)
Trong các thể loại báo chí, thể loại bình luận là thể loại có tính sáng tạo, thông tin trí tuệ cao Đối tượng của bình luận là các sự kiện, vấn đề thời sự có tính phức tạp, thu hút nhiều ý kiến đa chiều Diễn ngôn bình luận có nhiệm vụ đánh giá, nhận định các sự kiện, vấn đề cụ thể của đời sống, mang đến cái nhìn toàn diện, sâu sắc Chính vì đặc trưng này của thể loại bình luận báo chí, mà việc đọc hiểu, phân tích kỹ lưỡng về các diễn ngôn bình luận là việc làm cần thiết và có ý nghĩa thiết thực đối với mọi độc giả Nó giúp cho việc tương tác, tiếp nhận thông tin trở nên phong phú, đa chiều và trí tuệ hơn; từ đó mang đến những hiểu biết toàn diện, hệ thống về những sự kiện, vấn đề trong xã hội và hình thành những thái độ, hành vi đúng mực, hợp lý trong các hoàn cảnh mà thực tiễn đặt ra
Có tác giả đã từng nói: “Không có dịch thuật, không có lịch sử thế giới” (Lưu Trọng Tuấn, 2009, tr.1) Dịch thuật giúp giải mã những nền văn hóa, văn minh đã bị chôn vùi, giúp nối liền quá khứ với hiện tại, và mở rộng những khám phá mới trong tương lai Bassnett & Schäffner (2010) cho rằng: “Nghiên cứu dịch thuật ngày nay đặt trọng tâm vào thực tiễn xã hội, thực tiễn văn hóa và giao tiếp, vào tầm quan trọng của văn hóa và ý thức hệ của quá trình dịch thuật và bản dịch, vào yếu tố chính trị bên ngoài của bản dịch và vào mối quan hệ giữa hành vi dịch thuật và các yếu tố xã hội” (tr.12) Thật vậy, dịch thuật không chỉ là một quá trình ngôn ngữ trung gian mà
Trang 13là một hoạt động xã hội phức tạp không thể tách rời khỏi ngữ cảnh nơi quá trình dịch thuật xảy ra và liên quan đến các tác nhân xã hội
Như thế, ngoài việc bình luận báo chí là thể loại diễn ngôn có những đặc thù riêng cần phải tập trung nghiên cứu, thì việc chuyển dịch các diễn ngôn này từ tiếng Anh sang tiếng Việt trên báo chí là một quá trình cần được nghiên cứu kỹ không chỉ
vì các diễn ngôn này sẽ được xuất bản trên một tờ báo khác mà còn vì chúng được trình bày cho một kiểu độc giả có ngôn ngữ, văn hóa và các yếu tố xã hội khác biệt
so với diễn ngôn nguồn Tác giả Nham Hoa đã viết trên Tuổi trẻ cuối tuần số ngày 21-6-2020 rằng: “Cho dù tự hào dân tộc đến đâu, chúng ta cũng phải thừa nhận thực
tế là trong quan hệ ngôn ngữ với thế giới, Việt Nam ta ở thế tiếp nhận nhiều hơn là phát tán Dịch thuật trong báo chí, do vậy, luôn đứng trên tuyến đầu trong việc làm phong phú thêm tiếng Việt Không chỉ du nhập những khái niệm mới, báo chí còn là nhân tố chủ đạo định hình tập quán dịch thuật trên phạm vi toàn quốc Những cấu trúc, những cách xử lý trên báo sẽ được tiếp thu, lan tỏa rộng rãi, dần dà trở thành chuẩn mực Bởi vậy, nếu báo chí dịch sai và dùng sai, cái này sẽ được khuếch đại lên nhiều lần, và sẽ di họa khôn lường.” (tr.11)
Theo những thông tin mà chúng tôi thu thập được, cho đến thời điểm hiện tại, chưa có công trình nào đi sâu vào phân tích đặc điểm ngôn ngữ của thể loại diễn ngôn này và các bản dịch trên báo Việt Do vậy, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài:
“Đặc điểm ngôn ngữ thể loại diễn ngôn bình luận kinh tế - xã hội trên báo Mỹ (có đối chiếu với bản dịch trên báo Việt)”, với mong muốn góp phần vào việc tìm
hiểu đặc điểm thể loại diễn ngôn bình luận kinh tế - xã hội tiếng Anh trên báo Mỹ và bản dịch trên báo Việt
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
2.1.1 Về diễn ngôn báo chí
Diễn ngôn truyền thông nói chung và báo chí nói riêng ngày càng được xem
là một lĩnh vực thú vị và là đối tượng thu hút sự quan tâm nghiên cứu từ nhiều mục đích khác nhau Các nhà nghiên cứu đã có những cách tiếp cận khác nhau để tìm hiểu
Trang 14các đặc điểm của ngôn ngữ báo chí Khi đề cập đến các công trình nghiên cứu về diễn ngôn báo chí có tính chuyên sâu, không thể không nhắc đến công trình “News as discourse” (van Dijk, 1988), “The language of News Media” (Bell, 1991), “Language
in the News: Discourse and Ideology in the Press” (Fowler, 1991), “Media Discourse” (Fairclough, 1995), “The language of Newspapers” (Reah, 1998), “Telling media tales: the news story as rhetoric” (White, 1998), “English Media Texts - Past and Present” (Ungerer, 2000), “An Introduction to Journalism: Essential Techniques and Background Knowledge” (Rudin và Ibbotson, 2002) v.v Những công trình này đem lại nhiều đóng góp to lớn cho việc nghiên cứu diễn ngôn báo chí
Monika Bednarek (2006, tr.11-12) đưa ra tám đường hướng tiếp cận chính đối với diễn ngôn truyền thông nói chung, báo chí nói riêng Chúng tôi trình bày lại dưới đây với các tài liệu tham khảo cập nhật:
1) Đường hướng phê phán (the Critical Approach): gắn liền với nghiên cứu phê
phán về mối quan hệ giữa quyền lực và hệ tư tưởng, thường đề cập đến các giá trị như trách nhiệm xã hội (van Dijk, 1988; Fowler, 1991; Fairclough, 1995; Caldas-Coulthard, 2003; Weiss và Wodak, 2003; Lahlali, 2011)
2) Đường hướng phong cách/ ngữ dụng/ tự sự (The narrative/ pragmatic/ stylistic approach): gắn liền với việc nghiên cứu phân tích diễn ngôn, đặc biệt là cấu
trúc ngôn ngữ của diễn ngôn tin, bao gồm một số khía cạnh như phân tích ngữ dụng, thể loại, phong cách và ngữ vực (Crystal và Davy, 1969; Carter, 1988; Bell, 1991; Almeida, 1992; White, 1997; Ungerer, 2004; Lahlali, 2011)
3) Đường hướng ngôn ngữ học khối liệu (The corpus linguistic approach): nghiên
cứu dựa trên khối ngữ liệu về diễn ngôn báo chí (Minugh, 2000; Schneider, 2000; Biber, 2003; Conboy, 2007; Cotter, 2010)
4) Đường hướng dựa vào thực tiễn (the practice-focused approach): các quan sát
gắn liền thực tiễn với mọi bình diện từ quyền lực đến điều hành để thúc đẩy hoạt động báo chí (Bell, 1991; Reah, 1998; Rudin và Ibbotson, 2002; Cotter, 2010)
Trang 155) Đường hướng lịch đại (the diachronic approach): như tên gọi, nghiên cứu diễn
ngôn báo chí về phương diện phát triển lịch sử (Cotter, 1996; Herwig, 1999; Schneider, 2000; Conboy, 2007)
6) Đường hướng ngôn ngữ học xã hội (the socio-linguistic approach): nhằm khám
phá mối quan hệ giữa phong cách và các yếu tố xã hội, giữa các biến động liên quan đến các giai tầng xã hội (Bell, 1991; Jucker, 1992; Conboy, 2007)
7) Đường hướng tri nhận (the cognitive approach): bản chất của cách tiếp cận này
là “phân tích mối quan hệ giữa các quá trình tri nhận, ẩn dụ ý niệm, ý nghĩa xã hội và diễn ngôn” (van Dijk, 1988)
8) Đường hướng hội thoại (the conversationalist approach): đường hướng này
nghiên cứu diễn ngôn truyền thông dựa trên các phương pháp phân tích hội thoại (Clayman, 1990; Greatbatch, 1998)
Trong những đường hướng trên, đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán
là một trong những đường hướng tiếp cận quan trọng có thể được áp dụng để nghiên cứu diễn ngôn báo chí và vấn đề dịch diễn ngôn báo chí Điều này cho thấy, việc phân tích ngôn ngữ diễn ngôn báo chí để vận dụng vào thực tiễn đời sống ngày càng được quan tâm nhiều hơn
2.1.2 Về thể loại
Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu thể loại như: “Language as Social Semiotic: The Social Interpretation of Language and Meaning” (Halliday, 1978), công trình này được xem như là nền tảng cho cách tiếp cận thể loại theo Ngôn ngữ học chức năng hệ thống; “The Problem of Speech Genres” (Bakhtin, 1986);
“Shaping Written Knowledge: The Genre and Activity of the Experimental Article in Science (Bazerman, 1988); “The Ideology of Genre: A Comparative Study of Generic Instability (Beebee, 1994); “Genre in a Changing World (Bazerman và các cộng sự, 2009); “Analysing Genre: Language Use in Professional Settings (Bhatia, 1993);
“Genre and the New Rhetoric (Freedman và các cộng sự, 1994); “Genre as Social Action” (Miller, 1994); “Genre Analysis: English in Academic and Research Settings (Swales, 1990); “The Origin of Genre” (Todorov, 2000), v.v Những công trình này
Trang 16có nhiều đóng góp cho sự phát triển của những nghiên cứu về thể loại và những ứng dụng của thể loại trong thực tiễn
Hai tác giả Bawashi và Reiff với công trình: “Genre: An Introduction to History, Theory, Research, and Pedagogy” (2010) đã cung cấp cho độc giả một khối kiến thức toàn diện về một lĩnh vực học thuật rất quan trọng, gần gũi với hoạt động trí tuệ của con người: nghiên cứu thể loại và thực hành (dạy và học viết) theo thể loại Theo dòng lịch sử, hai tác giả này đã trình bày chi tiết và đánh giá khách quan các truyền thống và các khuynh hướng nghiên cứu thể loại khác nhau trên thế giới từ nghiên cứu thể loại trong các truyền thống văn học bao gồm nghiên cứu thể loại trong truyền thống tân cổ điển, nghiên cứu thể loại trong truyền thống cấu trúc luận, nghiên cứu thể loại trong thời kì chủ nghĩa lãng mạn và hậu lãng mạn ở châu Âu, nghiên cứu thể loại dựa trên phản ứng của độc giả, và nghiên cứu thể loại từ bình diện văn hóa, đến nghiên cứu thể loại trong các truyền thống ngôn ngữ học bao gồm nghiên cứu thể loại trong Ngôn ngữ học chức năng hệ thống, nghiên cứu thể loại trong Ngôn ngữ học khối liệu, nghiên cứu thể loại trong tiếng Anh cho các mục đích cụ thể hay tiếng Anh chuyên ngành, đến nghiên cứu thể loại trong các truyền thống tu từ (hùng biện)
và xã hội học (tr.14) Chúng tôi tổng hợp lại các lí thuyết, cách tiếp cận, các công trình cùng với các tác giả nghiên cứu theo quan điểm của hai tác giả này
Bảng 1: Các lí thuyết về thể loại và các đường hướng nghiên cứu thể loại theo
Bawashi và Reiff (2010, tr.37-251)
Các lí thuyết về
thể loại
Các đường hướng nghiên cứu
Các công trình nổi bật và tác giả nghiên cứu
The Fantastic (Todorov, 1975); The Origin of Genres (Todorov, 2000) Hướng tiếp cận thể
loại theo cấu trúc luận
Metaphors of Genre: The Role of Analogies in Genre Theory (Fishelov, 1993)
Hướng tiếp cận thể loại theo chủ nghĩa lãng mạn và hậu lãng mạn
Law of Genre (Derrida, 2000); Genre (Frow, 2006)
Trang 17Hướng tiếp cận thể loại theo phản ứng độc giả
The Power of Genre (Rosmarin, 1985)
Hướng tiếp cận thể loại theo nghiên cứu văn hóa
The Ideology of Genre: A Comparative Study of Generic Instability (Beebee, 1994)
hệ thống
Language as Social Semiotic: The Social Interpretation of Language and Meaning (Halliday, 1978); Genres and Registers of Discourse (Eggins & Martin, 1997); Analysing Genre: Functional Parameters (Martin, 1997) Thể loại và Ngôn
ngữ học lịch sử/khối liệu
Discourse on the Move: Using Corpus Analysis to Describe Discourse Structure (Biber, 2007)
Genre and the Language Learning Classroom (Paltridge, 2001); Genre Analysis: English in Academic and Research Settings (Swales, 1990);
Genre as Social Action (Miller, 1984/1994)
Các truyền thống thể loại của Pháp, Thụy Sĩ và truyền thống tổng hợp thể loại của Brazil
School Radio: Socio-Discursive Interaction Tool in the School (Baltar
và các cộng sự, 2009); Mapping Genre Research in Brazil: An Exploratory Study (Araújo, 2010)
5 Nghiên cứu thể
loại tu từ (Rhetorical
Genre Studies)
Thể loại như là các hình thức có tình huống
Rethinking Genre in School and Society: An Activity Theory Analysis (Russell, 1997); Writing Genres (Devitt, 2004)
The Case for Explicit Teaching: Why What You Don’t Know Won’t Help You (Williams and Colomb, 1993)
Nghiên cứu về cách các kiến thức thể loại chuyển thành thể hiện thể loại
Transferability and Genres (Devitt, 2007); Teaching and Learning a Multimodal Genre in a Psychology Course (Anson và các cộng sự, 2005)
Trang 18Nghiên cứu liên văn hóa về thể loại trong các bối cảnh học thuật
Genre in a Changing World (Bazerman và các cộng sự, 2009); Genre and ESL Reading: A Classroom Study (Hyon, 2002) Nghiên cứu về thể
loại và học vấn đọc viết nâng cao
Building Genre Knowledge (Tardy, 2009)
Developing a ‘Discursive Gaze’: Participatory Action Research with Student Interns Encountering New Genres in the Activity of the Workplace (Smart and Brown, 2006) Nghiên cứu về các
thể loại ở nơi làm việc: kiến tạo, phân
bố, và đàm phán kiến thức
Discourse Regulations and the Production of Knowledge (Paré, 1993)
Nghiên cứu lịch sử của các thể loại chuyên nghiệp
Shaping Written Knowledge: The Genre and Activity of the Experimental Article in Science (Bazerman, 1988)
Nghiên cứu về các
hệ thống thể loại ở nơi làm việc
Systems of Genres and the Enactment
of Social Intentions (Bazerman, 1994)
Nghiên cứu dân tộc học của các thể loại
ở nơi làm việc
Other Floors, Other Voices: A Textography of a Small University Building (Swales, 1998)
Nghiên cứu về xung đột và thay đổi trong các bối cảnh chuyên nghiệp
và nơi làm việc
A Time to Speak, a Time to Act: A Rhetorical Genre Analysis of a Novice Engineer’s Calculated Risk Taking (Artemeva, 2006)
The Distinction Between News and Reportage in the Brazilian Journalistic Context: A Matter of Degree (Bonini, 2009)
Nghiên cứu lịch sử
về các thể loại công chúng
Systems of Genres and the Enactment
of Social Intentions (Bazerman, 1994)
Nghiên cứu về các
hệ thống thể loại trong công chúng
(En)Compassing Situations: Sex Advice on the Rhetoricof Genre (Knighton, 2002)
Trang 19Nghiên cứu về trung gian của hành động cá nhân và hành động công chúng
Genre and Identity: Citizenship in the Age of the Internet and the Age of Global Capitalism (Bazerman, 2002);
Nghiên cứu về loại
và các phương tiện truyền thông mới
The Evolution of Internet Genres (Bauman, 1999); Literacy in the New Media Age (Kress, 2003)
Nghiên cứu về thể loại truyền thông mới trong các bối cảnh học thuật
Academic Literacy in a Wired World: Redefining Genres for College Writing Courses (Trupe, 2007)
Nghiên cứu dựa trên thể loại về các weblog trong các bối cảnh học thuật
Blogging as Social Action: A Genre Analysis of the Weblog (Miller and Shepherd, 2007)
Nghiên cứu về thể loại điện tử trong các bối cảnh nơi làm việc
Genre Systems: Structuring Interaction through Communicative Norms (Yates and Orlikowski, 2002)
Chuck Bazerman trong lời hiệu đính cho công trình: “Genre: An Introduction
to History, Theory, Research, and Pedagogy” đã viết rằng: “Căn cứ vào sự phong phú của khái niệm thể loại, không có gì lạ khi nhiều cách tiếp cận để hiểu và dạy thể loại
đã được phát triển ở nhiều nơi trên thế giới” (tr.18) Bằng cách theo dõi các thể loại, chúng ta có thể thấy cả tính qui tắc phức tạp của đời sống giao tiếp và tính cá thể của từng phát ngôn có tình huống Thể loại giúp chúng ta thấy được tính mục đích và tính linh hoạt của hình thức Sự hiểu biết đúng đắn về thể loại cũng cho thấy hành động giao tiếp cơ bản và tình huống xã hội lí giải cho hình thức và động cơ của các hành động đọc và viết Sự hiểu biết về thể loại giúp chúng ta tiếp xúc với những hoạt động
sử dụng ngôn ngữ đa dạng trong các lĩnh vực khác nhau của xã hội, kinh tế, chính trị
và văn hóa
2.1.3 Về phân tích diễn ngôn báo chí theo thể loại
Khi nhắc đến các nghiên cứu về một thể loại báo chí cụ thể, đầu tiên phải kể đến là “News as Discourse” của van Dijk (1988), một công trình nghiên cứu cấu trúc của diễn ngôn tin theo hướng tiếp cận tri nhận Công trình tập trung vào cấu trúc diễn
Trang 20ngôn tin và quá trình xử lý tri nhận trong sản xuất và lĩnh hội tin Theo tác giả, trong diễn ngôn tin, các cấu trúc vĩ mô (macrostructures) được bộc lộ trong các tiêu đề và dẫn đề Lược đồ tin (News schemata) dựa trên một cấu trúc trình bày gồm tóm tắt (tiêu đề và dẫn đề), sự kiện chính, bối cảnh, kết quả (đánh giá và dự đoán) và bình luận Chỉ phần tóm tắt và sự kiện chính là bắt buộc, còn các yếu tố khác của sự tình
là tùy chọn Diễn ngôn tin thể hiện cấu trúc từ trên xuống (a top-down structure) không thường theo thứ tự thời gian hoặc nguyên nhân - kết quả van Dijk chú trọng tầm quan trọng của mối liên hệ giữa diễn ngôn với ngữ cảnh Tác giả gắn liền phân tích cấu trúc diễn ngôn tin với quá trình tạo lập và lĩnh hội Quá trình tạo lập liên quan đến việc lựa chọn, tổng hợp và chuyển đổi các nguồn tin tức, viết, chỉnh sửa và viết lại với một góc nhìn để tạo ra các diễn ngôn đáng tin cậy Trong khi đó, quá trình đọc liên quan đến việc giải mã cấu trúc bề mặt, phân tích cú pháp và giải thích ngữ nghĩa, tất cả đều được coi là liên quan đến sơ đồ tin và cấu trúc vĩ mô của ngữ cảnh
Kế đến là Bell với công trình “The Language of Media” (1991) Tác giả cố gắng tích hợp các vấn đề về cấu trúc văn bản, sản xuất tin và độc giả Ông so sánh diễn ngôn tin nhanh (hard news) với tường thuật cá nhân và tìm thấy sự khác biệt về cấu trúc và ngôn ngữ Theo tác giả, một diễn ngôn tin thường bao gồm một cấu trúc
ba thành phần (three-components structure) gồm tiêu đề, dẫn đề và nội dung được thể hiện và đọc theo thứ tự đó, nhưng được tạo lập theo thứ tự dẫn đề - nội dung - tiêu đề (lead-body-headline)
Bolivar với công trình “The structure of newspaper editorials” (1994) nghiên cứu cấu trúc các bài xã luận báo chí bằng cách sử dụng một đơn vị gọi là bộ ba (triad) Bolivar cho rằng các lượt trao đổi lời (exchange) được sử dụng trong phân tích diễn ngôn nói cũng có thể được sử dụng để phân tích diễn ngôn viết Tác giả cho rằng chức năng của bộ ba là đàm phán việc truyền tải thông tin và đánh giá trong diễn ngôn viết Cấu trúc bên trong của bộ ba này có thể được mô tả theo ba lượt cơ bản được gọi là Lời dẫn (L-Lead), Tiếp lời (F-Follow) và Đánh giá (V-Valuate), được hiện thực hóa bởi các câu được hiểu là sản phẩm của hành động ngôn ngữ thông thường Hệ thống của Bolivar cũng phân loại các bộ ba theo vị trí và chức năng thành
Trang 21Tình huống (S-Situation), Phát triển (D-Development) và Khuyến nghị Recommendation) Theo Bolivar, bộ ba này tuân theo trình tự tự nhiên SDR và tạo nên một đơn vị ở cấp cao hơn được gọi là Sự tiến triển (Mv–Movement) Sự tiến triển
(R-đề cập đến thế giới thực, một thế giới hiện tại hoặc quá khứ, được gọi là loại A và Sự tiến triển này có thể được theo sau bởi Sự tiến triển loại B đề cập đến thế giới của những khả năng hoặc thế giới có thể có Sự tiến triển cuối cùng, loại C, đề cập đến thế giới cần phải có và tạo thành một sự đánh giá lên các sự tiến triển B và A Những
sự tiến triển này có thể kết hợp với các sự tiến triển khác để tạo thành đơn vị lớn nhất
ở cấp cao nhất mà tác giả gọi là Tạo tác (Artifact)
Kế thừa và phát triển các quan điểm của van Dijk, White (1998) đã đưa ra
mô hình diễn ngôn tin theo quỹ đạo (orbital structure) bao gồm hạt nhân (tiêu đề và dẫn đề) và các vệ tinh độc lập trong phần nội dung, liên kết với tiêu đề/dẫn đề theo các mục đích khác nhau: tạo dựng, ngữ cảnh hóa, giải thích và đánh giá Cấu trúc quỹ đạo này tương tự như cấu trúc tiêu đề-dẫn đề-nội dung của Bell và cấu trúc lược đồ tin của van Dijk bao gồm tiêu đề và dẫn đề, và các yếu tố khác như Sự kiện chính, Kết quả, Sự kiện trước đó và Đánh giá
Các công trình nghiên cứu diễn ngôn tin còn phải kể đến “Media Discoure” (Fairclough, 1995), “Mediated Discourse as Social Interaction: A study of News Discourse (Scollon, 1998) Những công trình này đều có những đóng góp to lớn cho việc nghiên cứu một thể loại diễn ngôn báo chí cụ thể
Với công trình “From Genre to Sentence: the Leading Article and its Linguistic Realization” (2000), Vestergaard nghiên cứu các đặc điểm thể loại của bài
xã luận với các bộ phận cấu thành của nó, và tìm hiểu mối quan hệ sâu hơn giữa các
bộ phận đó và hiện thực hóa ngôn ngữ Theo tác giả, các đặc điểm chính của bài xã luận là: a) giả định về kiến thức nền của độc giả về sự kiện thực tế; b) phần lớn các động từ ở thì hiện tại hoặc thì hiện tại hoàn thành phản ánh mối quan tâm chính đến hậu quả hiện tại hơn là quá khứ; và c) mức độ phổ biến của các đánh giá hiển ngôn Vestergaard cho rằng bài xã luận là kiểu diễn ngôn mà Longacre (1983, 1992) gọi là Giải thích (Expository), thường có bốn “bước thoại nằm ở cấu trúc sâu” được biểu
Trang 22hiện như sau: Mô tả vấn đề, Các giải pháp đề xuất, Lập luận về giải pháp, và Đánh giá giải pháp
Westin thực hiện một nghiên cứu ngôn ngữ học lịch đại dựa trên ngữ liệu về ngôn ngữ của các bài xã luận trên báo tiếng Anh qua công trình “Language Change
in English Newspaper Editorials” (2002) Nghiên cứu dựa trên tổng cộng 864 bài xã luận Ngữ liệu lấy từ tờ Daily Telegraph, The Guardian và The Times Tác giả nghiên cứu sự thay đổi và biến đổi ngôn ngữ của thể loại này, cũng như tính liên tục ngôn ngữ, trong suốt thế kỷ 20 Các đặc điểm ngôn ngữ được sử dụng trong nghiên cứu của bà chủ yếu là những điều mà Biber (1988, 1989) đã chứng minh là dấu hiệu của các chức năng giao tiếp: sự tham gia của cá nhân, mật độ thông tin, diễn ngôn tường thuật, diễn ngôn lập luận, diễn ngôn trừu tượng và tham chiếu hiển ngôn Westin phát hiện một khuynh hướng thoát khỏi phong cách “tường thuật” trong các bài xã luận trên báo tiếng Anh qua việc ít sử dụng động từ thì quá khứ cũng như ngôn ngữ báo chí ngày càng trở nên “gần gũi với độc giả” (reader-friendly) hơn qua việc sử dụng các câu ngắn nhiều hơn và giảm sử dụng các mệnh đề phụ
Wang với công trình “Newspaper commentaries on terrorism in China and Australia: a constrastive genre study” (2006), đã nghiên cứu diễn ngôn bình luận báo chí có cùng một chủ đề theo hướng đối chiếu thể loại Richardson với công trình
“Analysing newspapers: An approach from critical discourse analysis” (2007) đã giới thiệu một hướng tiếp cận hiện đại về ngôn ngữ báo chí và việc áp dụng phương pháp phân tích diễn ngôn để phân tích một thể loại báo chí cụ thể
Có thể thấy, khuynh hướng vận dụng lý thuyết phân tích diễn ngôn vào nghiên cứu các thể loại diễn ngôn báo chí ngày càng phổ biến và mang lại nhiều đóng góp thiết thực trong học thuật cũng như trong đời sống xã hội
2.2 Các nghiên cứu trong nước
2.2.1 Về diễn ngôn báo chí
Ở trong nước có khá nhiều nghiên cứu về diễn ngôn báo chí và ngôn ngữ báo chí Có thể kể tên một số công trình nổi bật như: “Báo chí, những vấn đề lý luận và thực tiễn” (Hà Minh Đức, 1997) và “Cơ sở lý luận báo chí – đặc tính chung và phong
Trang 23cách” (Hà Minh Đức, 2000) đã giới thiệu về đặc trưng của báo chí Việt Nam Công trình “Từ lí luận đến thực tiễn báo chí” (Tạ Ngọc Tấn, 1999) đã giới thiệu những kiến thức cơ bản về các phương tiện truyền thông Các công trình “Về diện mạo báo chí Việt Nam” (Phan Quang, 2001) và “Nghề văn nghiệp báo” (Phan Quang, 2005) đã phác họa những nét đặc thù của diện mạo báo chí Việt Nam và hướng dẫn nghiệp vụ làm báo, đặc biệt tác giả đã nêu kinh nghiệm viết thể loại phóng sự điều tra Công trình “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” (Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường và Trần Quang, 2004) đã trình bày các khái niệm, phạm trù, đặc trưng, chức năng, nguyên tắc, hiệu quả, tính sáng tạo của lao động báo chí, và những vấn đề có tính phương pháp luận làm cơ sở cho việc tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề cụ thể trong lĩnh vực báo chí truyền thông Công trình “Phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ báo chí” (Dương Văn Quảng, 1998) đưa ra phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ báo chí như là một hiện tượng xã hội và cho rằng đối tượng người đọc đôi khi được nhìn nhận
là một “mục tiêu” cần đạt tới “Ngôn ngữ báo chí – Những vấn đề cơ bản” (Nguyễn Đức Dân, 2007) bên cạnh giới thiệu đặc điểm ngôn ngữ báo chí nói chung, ngôn ngữ báo viết, báo hình nói riêng, đã đưa ra cấu trúc thông tin và sự thể hiện cụ thể của cấu trúc đó qua những bộ phận khuôn tin, tiêu đề, đề dẫn…; cách đưa thông tin chìm và
kĩ thuật xây dựng thông tin chìm trong báo chí; ngôn từ của nhà báo và những yêu cầu về logic diễn đạt trong báo chí “Một số vấn đề về sử dụng ngôn từ trên báo chí” (Hoàng Anh, 2003) đã miêu tả tỉ mỉ về tính chính xác, tính cụ thể, tính thời sự, tính ngắn gọn, tính đại chúng, tính định lượng, tính bình giá, tính khuôn mẫu trong ngôn ngữ báo chí “Ngôn ngữ báo chí” (Vũ Quang Hào, 2001) đã nhận xét về hiện tượng lệch chuẩn trong ngôn ngữ báo chí Tác giả đã khái quát tác dụng của sự lệch chuẩn qua một số nhận định: (1) Sự chế định của lệch chuẩn đối với phong cách của nhà báo và thể loại; (2) lệch chuẩn và ngôn ngữ chuẩn mực; (3) lệch chuẩn góp phần tạo nên phong cách ngôn ngữ của nhà báo; và (4) vấn đề phong cách ngôn ngữ và phong cách nhà báo Nguyễn Tri Niên trong “Ngôn ngữ báo chí” (2003) nhận định rằng:
“Ngôn ngữ báo chí là một lĩnh vực chuyên nghiệp của báo chí Tuy chất liệu chủ yếu của nó là ngôn ngữ và có mối liên hệ mật thiết với ngôn ngữ nhưng không vì thế mà
Trang 24xem hai cái là một Vì vậy, không phải cứ biết dùng từ chính xác, biết viết câu đúng qui tắc, biết vận dụng phép tu từ v.v là có thể viết được báo vì ngôn ngữ báo chí có những đặc điểm, quan hệ, qui phạm riêng của nó trên cơ sở những tính chất đặc thù của báo chí” Nguyễn Vạn Phú trình bày về “chuyện chữ và nghĩa” trong ngôn ngữ kinh doanh và ngôn ngữ báo chí tiếng Anh trong “Tiếng Anh lý thú” (2001) Trương Quang Phú với “Để hiểu được CÁI BÓNG BẨY, CÁI HÀI HƯỚC trong ngôn ngữ báo chí Anh – Mỹ” (2002) đã giúp bạn đọc nhận diện được ngôn ngữ được viết theo lối diễn cảm trong báo chí tiếng Anh
2.2.2 Về thể loại báo chí
“Các thể loại báo chí – thông tấn” (Đinh Văn Hường, 2011) đã hướng dẫn cách phân tích và chứng minh qua các thí dụ thuộc ba thể loại tin, phỏng vấn và tường thuật Công trình “Thể loại báo chí” của nhiều tác giả đã cung cấp cho sinh viên ngành báo chí một số lý luận và kĩ thuật cơ bản để viết một số thể loại báo chí thông dụng Hai công trình “Các thể loại báo chí chính luận” (Trần Quang, 2005) và “Kỹ thuật viết tin” (Trần Quang, 2005) đã giới thiệu những cơ sở lý luận và hướng dẫn kĩ thuật viết tin, phỏng vấn, tường thuật và các thể loại báo chí chính luận khác “Các thể loại báo chí chính luận nghệ thuật” (Dương Xuân Sơn, 2004) đã trình bày những tri thức, kinh nghiệm thực tiễn báo chí Việt Nam và thế giới qua các thể loại: phóng sự, ký chân dung, ký chính luận, ghi nhanh và câu chuyện báo chí Trong “Tiêu đề văn bản tiếng Việt” (Trịnh Sâm, 2001) đã khái quát tính chất tiêu biểu của tiêu đề văn bản tiếng Việt và công trình “Đặc điểm ngôn ngữ báo chí nhìn từ hoạt động báo chí ở TP.HCM” (Trịnh Sâm, 2008) đã nêu những đặc điểm khái quát cũng như các mô hình
tổ chức thông tin trên báo chí ở Thành phố Hồ Chí Minh
2.2.3 Về phân tích diễn ngôn báo chí theo thể loại
“Phân tích diễn ngôn về chính trị - xã hội trên tư liệu báo chí tiếng Anh và tiếng Việt hiện đại” (Nguyễn Hòa, 1999) và công trình “Phân tích diễn ngôn: một số vấn đề lí luận và phương pháp” (Nguyễn Hòa, 2008) đã có những đóng góp quan trọng trong việc tìm kiếm, cung cấp lý luận và phương pháp thích hợp cho việc phân tích diễn ngôn Luận án “Đối chiếu ngôn ngữ phóng sự trong báo in tiếng Anh và
Trang 25tiếng Việt” (Nguyễn Thị Thanh Hương, 2003) đề cập đến ba siêu chức năng của ngôn ngữ học chức năng hệ thống là chức năng tư tưởng qua thông tin trong cú, chức năng liên nhân qua thái độ của người viết và chức năng văn bản qua sự liên kết và phân phối các thông tin chính trong phóng sự trên báo in tiếng Anh và tiếng Việt Luận án tiến sĩ “So sánh ngôn ngữ báo chí tiếng Việt và tiếng Anh qua một số thể loại” (Nguyễn Hồng Sao, 2010) thông qua lý thuyết thẩm định nghiên cứu về cấu trúc thể loại và ngôn ngữ lượng giá trong hai thể loại diễn ngôn tin quốc tế và phóng sự Luận
án “Ngôn ngữ báo chí Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh” (Trần Thanh Nguyện, 2011) đã tổng kết tình hình nghiên cứu ngôn ngữ báo chí ở Việt Nam và đưa ra một cái nhìn bao quát về đặc điểm của ngôn ngữ báo chí trên các bình diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và cách tổ chức văn bản cũng như xác lập được một hệ thống thể loại văn bản báo chí và bản chất chung của tất cả các thể loại Công trình “Ngôn ngữ bình luận trong báo in tiếng Việt hiện nay” (Huỳnh Thị Chuyên, 2014) nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ bình luận trong báo in tiếng Việt theo ngữ pháp chức năng của Halliday, cụ thể là siêu chức năng tư tưởng, siêu chức năng liên nhân và siêu chức năng văn bản Luận án “Tính tương tác của diễn ngôn báo chí qua một số báo điện tử phổ biến hiện nay” (Vũ Thị Hồng Tiệp, 2017) đã khảo sát 7 chủ đề và phân loại thành
ba kiểu tương tác: tạo lập chủ đề, duy trì chủ đề, duy trì và phát triển chủ đề, các chủ
đề có một mô hình tương tác thể loại phổ biến
Nhìn chung, phong phú và đa dạng là những từ có thể dùng để mô tả bức tranh tổng thể nghiên cứu về diễn ngôn báo chí Tuy nhiên, những nghiên cứu chuyên sâu về diễn ngôn của một thể loại cụ thể vẫn còn rất ít, đặc biệt là hướng nghiên cứu theo lí luận phân tích thể loại và phân tích diễn ngôn Trên bình diện ngôn ngữ, việc nghiên cứu thể loại diễn ngôn bình luận trên báo chí Mỹ và đối chiếu với các bản dịch tiếng Việt thì cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu riêng biệt, chuyên sâu nào Đây là lần đầu tiên, vấn đề này được nghiên cứu một cách chuyên sâu và có hệ thống
Trang 263 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của thể loại DNBLKTXH trên báo Mỹ Cụ thể, là chỉ ra những đặc điểm về cấu trúc và ngôn ngữ của thể loại DNBLKTXH trên báo Mỹ qua đó tìm hiểu sâu hơn quan điểm bình luận
về thông tin sự kiện và so sánh với bản dịch trên báo Việt Mặt khác, luận án hướng đến xây dựng hệ thủ pháp lựa chọn thông tin và ngữ cảnh hóa khi chuyển dịch các DNBLKTXH trên báo Mỹ sang tiếng Việt
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nêu trên của luận án được thực hiện qua các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Tìm hiểu một số vấn đề lí thuyết về PTDN theo đặc trưng thể loại và lí thuyết về dịch ngữ cảnh hóa
- Miêu tả một cách hệ thống các đặc điểm cấu trúc, các đặc trưng liên quan đến thể loại như bình luận, lập luận trong DNBLKTXH trên báo Mỹ
- So sánh với các DNBLKTXH trên báo Việt được dịch từ báo Mỹ để tìm ra
sự tương đồng và dị biệt, đồng thời chú trọng đến đặc điểm lựa chọn thông tin và ngữ cảnh hóa khi chuyển dịch các diễn ngôn này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu cấu trúc diễn ngôn và đặc điểm ngôn ngữ bình luận, lập luận trong DNBLKTXH trên báo Mỹ cũng như các đặc điểm liên quan đến chiến lược lựa chọn thông tin và ngữ cảnh hóa trong các DNBLKTXH trên các báo Việt được dịch từ báo Mỹ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Dựa trên nguồn ngữ liệu gồm 136 DNBLKTXH, luận án tập trung vào:
- Đặc điểm của DNBLKTXH trên các báo Mỹ
- Chiến lược lựa chọn thông tin và ngữ cảnh hóa trong các DNBLKTXH trên báo Việt được dịch từ báo Mỹ
Trang 275 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp miêu tả: để miêu tả các đặc điểm cấu trúc của DNBLKTXH, các đặc điểm ngôn ngữ thể hiện quan điểm và bình luận trong DNBLKTXH trên báo
Mỹ và các đặc điểm liên quan đến chiến lược lựa chọn thông tin và ngữ cảnh hóa trong các DNBLKTXH trên báo Việt được dịch từ báo Mỹ
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: dựa vào khung lí thuyết thể loại, lí thuyết phân tích ngữ vực để phân tích và đưa ra các nhận xét về các đặc trưng cấu trúc diễn ngôn, các đặc điểm ngôn ngữ thể hiện quan điểm và bình luận của thể loại DNBLKTXH trên báo Mỹ, các đặc điểm liên quan đến chiến lược lựa chọn thông tin
và ngữ cảnh hóa trong bản dịch của các diễn ngôn này trên báo Việt
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: dùng để so sánh đối chiếu CTDN của DNBLKTXH trên báo Mỹ và bản dịch của các diễn ngôn này trên báo Việt để tìm hiểu những điểm tương đồng và dị biệt
- Chúng tôi còn sử dụng một số thủ pháp bổ trợ như thống kê và phân tích ngữ liệu để phục vụ cho việc làm rõ những luận điểm trong luận án Ngoài ra, tùy vào nội dung các chương của luận án, các lí thuyết khác nhau cũng sẽ được sử dụng như những công cụ bổ sung cho việc thực hiện luận án
5.2 Nguồn ngữ liệu
Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài, chúng thu thập các diễn ngôn bình
luận đăng trong chuyên mục “Bình luận - phân tích kinh tế thế giới” của tạp chí Thời báo Kinh tế Sài Gòn, chuyên mục “Vấn đề - Sự kiện” của báo Tuổi trẻ cuối tuần, chuyên mục “Thế giới - Phân tích” của báo điện tử Vnexpress.net, và chuyên mục “Quốc tế” của báo điện tử ndh.vn trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến nay
Các diễn ngôn bình luận này có độ dài trên 1.000 từ (words) và phải có dòng chú
thích chuyển ngữ hoặc chú thích nguồn: theo The New York Times, The
Washington Post, Bloomberg, The Atlantic, The Wall Street Journal, và The
Trang 28Hill ở cuối mỗi bài Từ những bài được chọn khảo sát này chúng tôi truy về bản
nguồn trên các báo của Mỹ nói trên Để thuận tiện cho việc nghiên cứu, phiên bản điện tử của diễn ngôn nguồn được lấy trực tiếp từ trang web của những tờ báo này Với các diễn ngôn đích, ngoại trừ hai trang báo điện tử Vnexpress.net và ndh.vn, chúng tôi đều đánh máy lại
Chúng tôi dự định thu thập và khảo sát 100 diễn ngôn nguồn và 100 diễn ngôn đích, tuy nhiên trên thực tế, khi đi vào thu thập chúng tôi gặp phải một số khó khăn như: các báo Việt chỉ tổng hợp tin chứ không dịch nguyên một diễn ngôn từ một trang báo nước ngoài Trước hết, có lẽ do việc phải trả chi phí cao cho một bài báo trọn vẹn từ các tờ báo Mỹ khiến cho việc dịch nguyên một diễn ngôn bình luận
là rất ít Thứ hai, nhiều bản dịch từ báo bằng tiếng Anh, nhưng lại không phải báo
Mỹ nên trong vòng bốn năm (2016 - 2020) chúng tôi chỉ thu thập được 136 DNBLKTXH (gồm 68 diễn ngôn nguồn và 68 diễn ngôn đích) Mọi kết luận trong luận án này, chúng tôi đều dựa trên việc khảo sát 136 diễn ngôn này Số lượng cụ thể được trình bày trong bảng sau:
Bảng 2: Nguồn ngữ liệu DNBLKTXH trên báo Mỹ và bản dịch trên báo Việt
The New York Times
The Washington Post
Trang 296 Đóng góp của luận án
6.1 Về phương diện lí luận
Luận án góp phần cung cấp một số vấn đề lí thuyết phân tích diễn ngôn theo đặc trưng thể loại trên cơ sở tham chiếu các thành tố ngữ vực, góp phần mở rộng các đường hướng nghiên cứu diễn ngôn báo chí, cách riêng là thể loại bình luận Bên cạnh đó, chúng tôi cố gắng làm rõ cấu trúc DNBLKTXH điển hình, các đặc điểm ngôn ngữ về bình luận và lập luận trong DNBLKTXH trên các báo của Mỹ
Chúng tôi hy vọng làm rõ một số vấn đề còn ít được quan tâm trong dịch thuật báo chí Anh - Việt là chiến lược lựa chọn thông tin và dịch ngữ cảnh hóa
6.2 Về phương diện thực tiễn
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các bản tin kinh tế - xã hội trong và ngoài nước sẽ có một số những đặc điểm chung trong sử dụng ngôn ngữ, điểm khác biệt chủ yếu thể hiện ở cách sử dụng ngôn ngữ để trình bày quan điểm, bày tỏ chính kiến, cách phân tích bình luận về thông tin sự kiện Kết quả nghiên cứu của luận án
sẽ góp phần nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ báo chí tiếng Việt, bao gồm việc hiểu thông tin, cảm nhận cái hay, cái chưa đạt của diễn ngôn và nâng cao kĩ năng cho người viết báo Nghiên cứu về DNBLKTXH tiếng Anh trên báo Mỹ theo đặc trưng loại thể còn có thể mang lại một số thông tin tham khảo hữu ích trong giảng dạy ngôn ngữ báo chí nói chung và ngôn ngữ bình luận nói riêng
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận án cũng sẽ giúp ích cho việc giảng dạy chuyên ngành dịch, việc chuyển ngữ các diễn ngôn bình luận báo chí trong lĩnh vực kinh tế từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án được triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Trình bày một số vấn đề cơ sở lý thuyết làm nền tảng cho các
khảo sát, mô tả ở các chương sau
Trang 30Chương 2: Nghiên cứu về các đặc điểm cấu trúc diễn ngôn, các đặc điểm
bình luận, lập luận, và đặc điểm trích dẫn trong diễn ngôn bình luận kinh tế - xã hội trên báo Mỹ
Chương 3: So sánh các diễn ngôn bình luận kinh tế - xã hội trên báo Việt
được dịch từ báo Mỹ cũng như nghiên cứu các đặc điểm liên quan đến chiến lược lựa chọn thông tin và ngữ cảnh hóa khi chuyển dịch các diễn ngôn bình luận kinh tế - xã hội trên báo Mỹ sang tiếng Việt
Trang 31CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Một số khái niệm hữu quan
1.1.1 Thể loại và thể loại báo chí
1.1.1.1 Khái niệm thể loại
Thể loại (genre) đã được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trong lĩnh vực ngôn ngữ học ứng dụng Sau đây là các định nghĩa có tầm ảnh hưởng theo ba đường hướng nghiên cứu thể loại khác nhau
Định nghĩa đầu tiên xuất phát từ hướng nghiên cứu thể loại tu từ (rhetoric genre analysis) Miller (1994) xem thể loại như là một hành động tu từ dựa trên những tình huống xảy ra thường xuyên và một nguyên tắc mở về phân loại thể loại dựa trên thực tiễn tu từ, hơn là một nguyên tắc khép kín dựa trên cấu trúc, nội dung và mục đích Các nghiên cứu tu từ chú trọng mối tương quan giữa văn bản và ngữ cảnh thông qua các nghiên cứu trường hợp hoặc nghiên cứu dân tộc học
Định nghĩa thứ hai về thể loại do Martin đưa ra dựa trên quan niệm của trường phái ngôn ngữ học chức năng hệ thống (SFL) Martin (1984, tr.25) mô tả thể loại là
“một hoạt động xã hội có mục đích, có định hướng, và theo từng giai đoạn” mà con người tham gia vào với tư cách là thành viên của một cộng đồng văn hóa
Định nghĩa thứ ba do Swales khởi xướng theo hướng tiếp cận tiếng Anh dành cho các mục đích cụ thể (English for Specific Purposes - ESP) Swales (1990) định nghĩa thể loại là tập hợp các sự kiện giao tiếp trong đó những thành viên giao tiếp có chung một số mục đích giao tiếp Những mục đích giao tiếp này do các thành viên của cộng đồng học thuật hoặc chuyên môn nhận diện và xác định, và do đó tạo lập cơ
sở cho sự tồn tại của thể loại ấy Định nghĩa này có ảnh hưởng to lớn trong các công trình ESP về phân tích thể loại Các đường hướng SFL và ESP về nghiên cứu thể loại đều nhấn mạnh việc nhận diện các yếu tố cấu trúc trong văn bản và đưa ra những nhận định về khuôn hình của những yếu tố này Những hướng phân tích thể loại này
dù giải quyết những vấn đề khác nhau, trọng tâm lí thuyết khác nhau nhưng có nhiều điểm chung, đôi khi lại trùng lặp Bhatia (2004, tr.23) đã tóm tắt những điểm nền tảng
về thể loại như sau:
Trang 32(1) Thể loại là những sự kiện giao tiếp có thể nhận diện, đặc trưng bởi một tập hợp các mục đích giao tiếp được các thành viên của một cộng đồng học thuật hoặc chuyên môn xác định và hiểu được
(2) Thể loại là những kết cấu có tính quy ước và cấu trúc cao, với những hạn định (constrains) về những đóng góp cho phép không chỉ về phương diện mục đích mà một người muốn diễn tả và hình thức họ thường thực hiện,
mà còn về phương diện các phương tiện ngữ pháp - từ vựng người đó có thể sử dụng để mang lại các giá trị diễn ngôn cho những đặc điểm hình thức được sử dụng
(3) Các thành viên của một cộng đồng chuyên môn sẽ có sự am hiểu tường tận hơn trong vận dụng các thể loại so với những cá nhân mới vào nghề hay người bên ngoài cộng đồng chuyên môn đó
(4) Mặc dù thể loại được xem như những kết cấu có tính quy ước, nhưng các thành viên là các chuyên gia của những cộng đồng chuyên môn hay ngành nghề thường tận dụng các thể loại để ngoài việc thể hiện chính kiến còn trình bày những mục đích của tổ chức trong khuôn mẫu những mục đích giao tiếp đã được xã hội thừa nhận
(5) Thể loại là sự phản ảnh văn hóa tổ chức và văn hóa ngành nghề, và theo nghĩa đó, thể loại chú trọng vào các hành động xã hội trong các tập quán
tổ chức, chuyên môn hay ngành nghề
(6) Tất cả thể loại theo chuyên môn hay ngành nghề đều có sự tích hợp có thể nhận diện qua sự kết hợp các yếu tố ngữ cảnh, diễn ngôn và văn bản
Từ đó tác giả đã đưa ra một định nghĩa tương đối toàn diện về thể loại như sau: “Thể loại, về bản chất diễn tả việc sử dụng ngôn ngữ trong một bối cảnh giao tiếp được quy ước nhằm thể hiện các mục đích giao tiếp của một tổ chức xã hội hoặc nghề nghiệp, mà tổ chức đó đưa ra những hình thức cấu trúc bền vững qua việc áp đặt những hạn định (ràng buộc) đối với việc sử dụng những phương tiện từ vựng - ngữ pháp cũng như diễn ngôn.” (tr.23)
Trang 33Hai tác giả Bawashi &Reiff (2010) cho rằng, vào các thời điểm khác nhau,
và trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, thể loại được định nghĩa và sử dụng chủ yếu như một công cụ phân loại, một cách sắp xếp và tổ chức các loại văn bản và các đối tượng văn hóa khác Nhưng gần đây hơn, xuyên qua các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, thể loại đã được định nghĩa hẹp hơn như là một phương tiện tổ chức các loại văn bản và rộng hơn như là một yếu tố định hình nên các văn bản, các ý nghĩa, và các hành động xã hội mà yếu tố định hình này đang thay đổi về mặt lịch sử và tích cực
về mặt hệ tư tưởng, và đầy quyền lực Từ quan điểm này, “thể loại được hiểu như là các hình thức của kiến thức văn hóa mà về mặt khái niệm hình thành nên bộ khung
và làm trung gian cho cách chúng ta hiểu và hành động điển hình trong các tình huống khác nhau Quan điểm này xem thể loại vừa như là nhân tố tổ chức và vừa như là nhân tố tạo ra các loại văn bản và các hành động xã hội, trong mối quan hệ năng động
và phức tạp với nhau” (tr.24)
Định nghĩa này cũng phù hợp với nghiên cứu của luận án vì thể loại bình luận báo chí về kinh tế - xã hội được xem như thể loại được hiện thực hóa trong một bối cảnh giao tiếp thông tấn báo chí nhằm thể hiện các mục đích giao tiếp cụ thể Ngoài
ra, việc tìm hiểu các đặc điểm DNBLKTXH trên báo Mỹ với bản dịch trên báo Việt
có liên quan đến những kiến thức kinh tế, chính trị và văn hóa của hai bối cảnh văn hóa xã hội khác nhau, cũng phù hợp với cách hiểu trên
1.1.1.2 Phân tích thể loại
Phân tích thể loại (genre analysis) được Bhatia gọi là miêu tả ngôn ngữ theo hướng giải thích Bhatia cho rằng để có một sự mô tả sâu ngôn ngữ hành chức thì cần kết hợp được các khía cạnh văn hoá – xã hội (gồm cả dân tộc học) lẫn tâm lí học (gồm
cả nhận thức) vào quá trình tạo lập văn bản và thuyết giải quá trình đó bằng những
am hiểu chuyên sâu về ngôn ngữ nhằm giải đáp khúc mắc: Vì sao các thể loại diễn ngôn cụ thể lại được viết và sử dụng bởi các cộng đồng chuyên nghiệp theo cách riêng biệt như hiện có Swales (1990) đã tiến hành phân tích thể loại diễn ngôn trên các văn bản khoa học – kĩ thuật Kết quả nghiên cứu chứng tỏ rằng có rất nhiều các
Trang 34mối quan hệ tương tác giữa hình thức và chức năng của các văn bản loại này, giúp ích rất nhiều cho giáo viên dạy tiếng, người dịch và các cán bộ khoa học – kĩ thuật
1.1.1.3 Thể loại báo chí
“Thể loại là hình thức biểu hiện cơ bản, thống nhất và tương đối ổn định của các tác phẩm, được phân chia theo phương thức phản ánh hiện thực, sử dụng ngôn ngữ và các công cụ khác để chuyển tải nội dung sự kiện, vấn đề, con người mang tính
tư tưởng, thẩm mỹ và ý đồ nhất định của người thể hiện….” (Đinh Văn Hường, 2011, tr.11)
Mặc dù chưa có sự phân giải rõ ràng về định nghĩa cũng như các tiêu chí để xác định thể loại báo chí nhưng theo Đinh Văn Hường (2011, tr.12), có năm tiêu chí chung để nhận diện thể loại báo chí gồm:
- Thứ nhất là khả năng nắm bắt hiện thực đời sống xã hội (chọn sự kiện, vấn
đề, nhân vật nào… để phản ánh, hay nói cách khác là phản ánh cái gì trong thời điểm đó)
- Thứ hai là mức độ phản ánh, phân tích, lí giải vấn đề của người viết
- Thứ ba là năng lực trình bày, triển khai tác phẩm về vấn đề mà người viết
lựa chọn
- Thứ tư là mức độ ảnh hưởng và tác động của tác phẩm đối với công chúng,
đối với xã hội tại thời điểm đó hoặc lâu dài, hay còn gọi là hiệu quả tác động
- Thứ năm là tác phẩm đó có tên gọi cụ thể, có tính lí luận, khoa học, có tiêu
chí, được thực tiễn kiểm nghiệm và tồn tại tương đối ổn định trong đời sống thực tiễn báo chí
Các tiêu chí chung này là cơ sở để tìm hiểu, nghiên cứu và xác định từng thể loại báo chí cụ thể và mỗi thể loại lại có đặc điểm, tiêu chí riêng, có ưu thế, hạn chế riêng…để phát huy thế mạnh hoặc bổ sung cho nhau trong hệ thống thể loại báo chí nói chung Dựa vào các tiêu chí này Đinh Văn Hường (2011, tr.13) đã đưa ra ba nhóm thể loại báo chí như sau:
- Nhóm các thể loại báo chí thông tấn gồm tin, phỏng vấn, tường thuật…
Trang 35- Nhóm các thể loại báo chí chính luận gồm xã luận, bình luận, chuyên luận, điều tra, bài phê bình…
- Nhóm các thể loại báo chí chính luận – nghệ thuật gồm phóng sự báo chí,
ký báo chí, tiểu phẩm báo chí, câu chuyện báo chí, ghi nhanh…
Trịnh Sâm, trong một công trình khảo sát về tiêu đề văn bản tiếng Việt, cho rằng phong cách thông tấn báo chí gồm các thể loại sau (2001, tr 70-78):
Trần Thanh Nguyện (2011, tr.68) căn cứ vào các đặc điểm chức năng của ngôn ngữ báo chí đã chia văn bản báo chí thành 4 nhóm thể loại:
- Tin tức báo chí: thực hiện chức năng thông báo; thông tin bản chất sự kiện; ngôn ngữ mang tính khách quan, không có màu sắc biểu cảm
- Ký báo chí: thực hiện chức năng phản ánh; tái hiện sự kiện theo chủ quan của tác giả; ngôn ngữ biểu cảm, sinh động, có tính văn học
- Bình luận báo chí: thực hiện chức năng tác động; nhận xét, đánh giá sự kiện; ngôn ngữ giàu tính chiến đấu, vừa khúc chiết, rõ ràng, vừa biểu cảm, sinh động
- Trao đổi công luận: thực hiện chức năng ngôn luận; trao đổi ý kiến bạn đọc; ngôn ngữ giản dị, gần gũi, dễ hiểu
Tác giả cho rằng về bản chất thì hầu hết các diễn ngôn báo chí đều xoay quanh phản ánh sự kiện Cốt lõi của mỗi bài báo chính là sự kiện Phần khác biệt là
Trang 36ở dung lượng của sự kiện và phương thức phản ánh Tác giả đã đưa ra một mô hình bao quát các thể loại báo chí hiện nay như sau:
Hình 1.1: Mô hình hạt nhân sự kiện của một số thể loại văn bản báo chí
(Trần Thanh Nguyện, 2011, tr.70) Chúng tôi theo quan điểm cho rằng thể loại báo chí gồm các thể loại đang được sử dụng phổ biến, rộng rãi trên các loại báo chí hiện nay như bình luận, phỏng vấn, ghi nhanh, tường thuật tin, phóng sự, điều tra…
Việc phân chia các nhóm và các thể loại báo chí cũng chỉ mang tính chất tương đối mà thôi vì chủ yếu dựa vào đặc điểm và tính nổi trội của từng thể loại Tuy nhiên, điều quan trọng là việc truyền tải thông tin một cách hiệu quả nhất, chất lượng nhất lại phụ thuộc rất lớn vào việc người viết chọn cách thể hiện nào để truyền tải thông tin của mình Do vậy, việc xác định đúng đặc trưng thể loại báo chí là rất quan trọng, nó giúp cho người viết báo có thể thể hiện nội dung chính xác, lựa chọn đúng cách trình bày tác phẩm của mình để mang lại tác động hiệu quả nhất đến công chúng
Trang 371.1.2 Diễn ngôn báo chí và phân tích diễn ngôn báo chí theo thể loại
1.1.2.1 Diễn ngôn và diễn ngôn báo chí
a Diễn ngôn
Có rất nhiều ý kiến về thuật ngữ “diễn ngôn” (discourse) trong sự so sánh với thuật ngữ “văn bản” (text) (Diệp Quang Ban, 2012, tr.193-218) Theo Cook (1989) thì “diễn ngôn: những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là có nghĩa, thống nhất và có mục đích”, còn “văn bản: một chuỗi ngôn ngữ giải thuyết được ở mặt hình thức, bên ngoài ngữ cảnh”, từ đó ông cho rằng các thuật ngữ “văn bản” và “diễn ngôn” có thể thay thế cho nhau được Văn bản chỉ các ghi chép hoặc ghi âm một sản phẩm giao tiếp, diễn ngôn chỉ một sản phẩm giao tiếp trong ngữ cảnh
Fairclough (2011, tr.24) xem diễn ngôn là toàn bộ quá trình tương tác trong giao tiếp trong đó văn bản là một phần của nó Trong đề tài này, chúng tôi không có chủ đích đi sâu phân tích các quan điểm về sự phân biệt này mà chỉ lựa chọn một cách hiểu phù hợp làm xuất phát điểm cho những phân tích theo mục tiêu của đề tài Mục tiêu của đề tài là phân tích thể loại diễn ngôn bình luận nên quan điểm được lựa chọn ở đây là thuật ngữ diễn ngôn bao gồm văn bản và ngữ cảnh Như vậy văn bản
và ngữ cảnh là hai nhân tố của diễn ngôn Đề tài cũng áp dụng quan điểm ngữ cảnh của van Dijk trong đó ngữ cảnh bao gồm cả những người tham gia vào giao tiếp, và vai trò, mục tiêu của họ cũng như những kiến thức mà họ cùng chia sẻ (van Dijk,
1998, tr.211)
b Diễn ngôn báo chí
Một sản phẩm báo chí không đơn thuần là những ghi chép, giãi bày của người làm báo Báo chí vừa đáp ứng thông tin vừa định hướng cho người đọc “Viết cho độc giả” trở thành mối quan tâm hàng đầu Người đọc thỏa mãn nhu cầu của họ và
họ trở thành người cộng tác, trao đổi, thậm chí có thể chất vấn tòa soạn về những vấn
đề đã đưa tin Có thể biểu diễn tính tương tác trong giao tiếp báo chí qua sơ đồ sau:
Trang 38Giải mã Định hướng
Hình 1.3: Sơ đồ quá trình giao tiếp trong hoạt động báo chí
(Dương Văn Quảng, 1998, tr.47) Tác giả cũng cho rằng diễn ngôn báo chí được nhìn nhận từ hai cấp độ: tư tưởng và ngôn ngữ học: “Trong lĩnh vực phân tích diễn ngôn, câu không còn là giới hạn cuối cùng mà trở thành đơn vị nhỏ nhất Như vậy, người ta không nhìn nhận bình diện ngữ dụng như là một trong ba cấp độ tách rời nhau trong phân tích hoạt động ngôn ngữ mà phải gắn nó vào hai cấp độ kia: cú pháp và ngữ nghĩa Vì vậy, tất cả các hiện tượng ngôn ngữ liên quan đến các hoạt động giao tiếp đều phải được tính đến trong quá trình phân tích ngôn bản Chính những hiện tượng ngôn ngữ này sẽ cho
TH£ GIíI B£N NGOµI (Sù kiÖn)
h×nh ¶nh cña thª giíi bªn ngoµi hµnh ng«n (diÔn ng«n)
nhµ
b¸o
ng-êi nhËn tin
th«n
g tin
kh¸c
C¸c ph-¬
ng tiÖn
THÔNG ĐIỆP
Mã hóa
Trang 39ta xác định được đâu là nguồn thông tin, biết được ai nói với ai, bài báo viết trong điều kiện nào và hiểu được ẩn ý trong ngôn ngữ báo chí” (Dương Văn Quảng, 1998, tr.47)
Diễn ngôn báo chí không phải là bản sao chụp thế giới bên ngoài, mà thực tế
nó là hình ảnh của thế giới đó thông qua lăng kính của người viết Một trong những đặc trưng của giao tiếp báo chí là nhà báo phải biết kiến tạo ngôn ngữ của mình sao cho để vừa truyền tin, vừa thuyết phục được người nhận tin để họ suy diễn, hiểu đúng được ý đồ của mình
Phương tiện để tạo thành diễn ngôn báo chí chính là ngôn ngữ Ngôn ngữ trong
báo chí là sự hòa kết của chức năng thông tin, chức năng tác động và chức năng liên nhân Thông tin là những nội dung cụ thể, là điều mà nhà báo (tòa soạn) gửi gắm trong thông điệp (bài báo) chuyển đến độc giả với mong muốn thực hiện việc tác động Qua thông tin, ngôn ngữ báo chí thực hiện chức năng tác động có chủ đích “làm cho đối tượng đích có những thay đổi trong nhận thức (biết, hiểu, tin tưởng) dẫn đến thay đổi trong hành vi (hành động theo định hướng của nguồn)” (Nguyễn Thị Thanh Hương,
2003, tr.49) Còn liên nhân là “khả năng tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa nguồn và đích nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp” (Nguyễn Thị Thanh Hương, 2003, tr.50) Điều này thể hiện qua các chiến lược giao tiếp bằng ngôn từ gắn với văn hóa, tâm lí, thói quen của từng nhóm đối tượng đích, của các cộng đồng cụ thể
1.1.2.2 Phân tích diễn ngôn
Nghiên cứu diễn ngôn tức là nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng Trước đây, ngữ pháp văn bản chuyên nghiên cứu văn bản một cách biệt lập, hoàn toàn tách rời khỏi ngữ cảnh thì phân tích diễn ngôn nhằm làm nổi bật mối quan hệ chặt chẽ giữa kết cấu ngôn từ bên trong văn bản với những yếu tố ngoài văn bản Việc chuyển đối tượng từ câu/phát ngôn sang diễn ngôn là một sự chuyển hệ quan trọng - chuyển sang
hệ giao tiếp Có nhiều định nghĩa khác nhau cho diễn ngôn, nhưng đa số các tác giả đều thống nhất rằng “diễn ngôn bao gồm văn bản cộng với ngữ cảnh” (Halliday, 1978, tr.71) Ngữ cảnh đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích diễn ngôn vì ngoài ngôn ngữ ra thì những yếu tố khác của ngữ cảnh cũng có ảnh hưởng đến việc chọn lựa từ
Trang 40ngữ hay cấu trúc để diễn đạt ý định của người viết cho nên khi phân tích diễn ngôn, người đọc/nghe phải tìm hiểu những yếu tố của ngữ cảnh giữ vai trò then chốt để giúp
họ giải mã diễn ngôn Người phân tích diễn ngôn cần giải thích được người tạo mã cho diễn ngôn đã làm như thế nào để có các câu văn liên kết với nhau và giúp tạo ra
sự mạch lạc cho cấu trúc diễn ngôn trong các tình huống giao tiếp nhất định Và chỉ
ở cấp độ diễn ngôn, chúng ta mới thấy rõ tính chất giao tiếp của ngôn ngữ van Dijk cũng xác nhận: “Phân tích diễn ngôn là một sự phân tích văn bản và ngữ cảnh theo nghĩa mà việc sử dụng một diễn ngôn trong một tình huống xã hội xảy ra đồng thời với một hành động xã hội” (van Dijk, 1998, tr.29) Do đó, bản chất của việc phân tích diễn ngôn là phân tích ngôn ngữ trong sử dụng để làm nổi bật giá trị và hiệu quả giao tiếp của ngôn ngữ trong ngữ cảnh giao tiếp cụ thể
1.1.2.3 Phân tích diễn ngôn báo chí theo thể loại
Trên thực tế, phân tích diễn ngôn đã được xem xét trên một số bình diện sau:
- Trên bình diện lý thuyết: các nghiên cứu về phân tích diễn ngôn có thể xếp
thành hai nhóm Một nhóm tập trung vào mặt hình thức hoặc chức năng của việc sử dụng ngôn ngữ gồm ngữ nghĩa học và ngữ dụng học Nhóm còn lại tập trung vào việc
sử dụng ngôn ngữ mang tính chế ước hóa trong các bối cảnh văn hóa - xã hội khác nhau Trong đó giao tiếp bằng ngôn ngữ được xem là một hoạt động xã hội
- Trên bình diện chung - chuyên ngành: gồm các nghiên cứu phân tích diễn
ngôn các cuộc hội thoại hằng ngày; các loại văn bản mô tả, chính luận và các diễn ngôn có tính chuyên môn như các bài báo khoa học, văn bản pháp luật, các trao đổi bác sĩ – bệnh nhân, luật sư - khách hàng
- Trên bình diện ứng dụng: gồm những nghiên cứu phân tích diễn ngôn xuất
phát từ các mục tiêu ứng dụng khác nhau như dạy - học tiếng, dịch thuật
- Dựa trên cấp độ phân tích: Các nghiên cứu phân tích diễn ngôn được phân
loại theo cấp độ từ phân tích hình thức bề mặt tới phân tích chức năng của ngôn ngữ hành chức Sự phân loại này cũng phản ánh sự chuyển biến của phân tích diễn ngôn ứng dụng từ hình thức sang chức năng, từ ngữ pháp sang diễn ngôn và giao tiếp trong những năm gần đây