1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc Điểm Ngôn Ngữ Của Diễn Ngôn Chính Luận Tiếng Việt (So Sánh Với Diễn Ngôn Chính Luận Tiếng Anh-Mỹ) .Pdf

218 13 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Ngôn Ngữ Của Diễn Ngôn Chính Luận Tiếng Việt (So Sánh Với Diễn Ngôn Chính Luận Tiếng Anh-Mỹ)
Tác giả Đặng Thị Bảo Dung
Người hướng dẫn PGS.TS Trịnh Sâm, PGS.TS Nguyễn Văn Nở
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 218
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN  ĐẶNG THỊ BẢO DUNG ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA DIỄN NGÔN CHÍNH LUẬN TIẾNG VIỆT (SO[.]

Trang 1



ĐẶNG THỊ BẢO DUNG

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA DIỄN NGÔN CHÍNH LUẬN TIẾNG VIỆT

(SO SÁNH VỚI DIỄN NGÔN CHÍNH LUẬN TIẾNG ANH-MỸ)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021

Trang 2



ĐẶNG THỊ BẢO DUNG

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA DIỄN NGÔN CHÍNH LUẬN TIẾNG VIỆT

(SO SÁNH VỚI DIỄN NGÔN CHÍNH LUẬN TIẾNG ANH- MỸ)

NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH – ĐỐI CHIẾU

MÃ SỐ: 92 22 024

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS TRỊNH SÂM

2 PGS.TS NGUYỄN VĂN NỞ PHẢN BIỆN ĐỘC LẬP:

1 GS.TS NGUYỄN VĂN HIỆP

2 PGS.TS NGUYỄN TẤT THẮNG PHẢN BIỆN:

1 GS.TS NGUYỄN THỊ HAI

2 PGS.TS LÊ KÍNH THẮNG

3 TS HUỲNH THỊ HỒNG HẠNH

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực, mọi trích dẫn đều có chú thích rõ ràng Những kết luận khoa học của luận án là của bản thân tôi, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng 5 năm 2021

Tác giả luận án

Đặng Thị Bảo Dung

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

0.1 Lí do chọn đề tài 1

0.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

0.2.1 Mục đích nghiên cứu 2

0.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

0.3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 3

0.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

0.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

0.3.3 Nguồn ngữ liệu 3

0.4 Phương pháp nghiên cứu 4

0.5 Đóng góp của luận án 4

0.5.1 Về lý thuyết 4

0.5.2 Về thực tiễn 5

0.6 Bố cục luận án 5

CHƯƠNG 1 6

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6

1.1.1 Tình hình nghiên cứu diễn ngôn và diễn ngôn chính luận trên thế giới 6

1.1.2 Tình hình nghiên cứu diễn ngôn và diễn ngôn chính luận ở Việt Nam 9

1.2 Phân tích diễn ngôn và các ngành khoa học hữu quan 13

1.2.1 Phân tích diễn ngôn và phong cách học 13

1.2.2 Phân tích diễn ngôn và ngữ pháp văn bản 16

1.2.3 Phân tích diễn ngôn và lý thuyết hệ thống cấu trúc 17

1.3 Lý thuyết về các bước thoại của diễn ngôn 19

1.4 Lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống và phân tích diễn ngôn chính luận 21

1.4.1 Ba siêu chức năng: kinh nghiệm, liên nhân, văn bản 22

1.4.2 Ngữ vực 23

1.4.3 Văn bản và diễn ngôn 26

1.4.4 Diễn ngôn và thể loại diễn ngôn 29

Trang 5

1.4.5 Khái niệm diễn ngôn chính luận 31

1.4.6 Lập luận trong diễn ngôn chính luận 33

1.5 Bố cục trong diễn ngôn chính luận 33

1.5.1 Mở đầu 34

1.5.2 Triển khai 34

1.5.3 Kết luận 35

1.6 Các bước thoại trong diễn ngôn chính luận 35

1.7 Liên kết trong diễn ngôn chính luận 37

1.7.1 Khái niệm 37

1.7.2 Liên kết và mạch lạc 38

1.7.3 Phân loại 39

1.8 Ẩn dụ ngữ pháp trong diễn ngôn chính luận 55

1.8.1 Khái niệm 55

1.8.2 Phân loại 56

1.9 Trường từ vựng trong diễn ngôn chính luận 61

1.9.1 Khái niệm 61

1.9.2 Trường từ vựng và chức năng tác động 61

1.9.3 Phân loại 62

Tiểu kết 63

CHƯƠNG 2 65

ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA DIỄN NGÔN CHÍNH LUẬN TIẾNG VIỆT 65

2.1 Bố cục 65

2.1.2 Phần mở đầu 66

2.1.3 Phần triển khai 67

2.1.4 Kết luận 68

2.2 Bước thoại 69

2.3 Liên kết 72

2.3.1 Liên kết ngữ pháp 72

2.3.2 Liên kết từ vựng 90

2.4 Ẩn dụ ngữ pháp 96

2.4.1 Ẩn dụ chuyển tác 96

Trang 6

2.4.2 Ẩn dụ thức 100

2.5 Trường từ vựng 103

2.5.1 Trường từ vựng về chủ đề quốc gia, đất nước 104

2.5.2 Trường tự vựng về chủ đề chính trị 105

2.5.3 Trường từ vựng các lĩnh vực trong công cuộc xây dựng đất nước 107

2.5.4 Trường tự vựng về chủ đề đảng phái, chế độ xã hội 110

2.5.5 Trường tự vựng về chủ đề chủng tộc 112

Tiểu kết 113

CHƯƠNG 3 115

SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA DIỄN NGÔN CHÍNH LUẬN TIẾNG VIỆT VỚI DIỄN NGÔN CHÍNH LUẬN TIẾNG ANH-MỸ 115

3.1 Bố cục 115

3.1.1 Phần mở đầu 115

3.1.2 Phần triển khai 117

3.1.3 Kết luận 120

3.2 Bước thoại 122

3.3 Liên kết 126

3.3.1 Liên kết ngữ pháp 126

3.3.2 Liên kết từ vựng 151

3.4 Ẩn dụ ngữ pháp 162

3.4.1 Ẩn dụ chuyển tác 162

3.4.2 Ẩn dụ liên nhân 164

3.5 Trường từ vựng 168

3.5.1 Trường từ vựng về chủ đề quốc gia, đất nước 168

3.5.2 Trường tự vựng về chủ đề chính trị 171

3.5.3 Trường từ vựng về các lĩnh vực liên quan đến việc xây dựng đất nước 174

3.5.4 Trường tự vựng về chủ đề tôn giáo 178

3.5.5 Trường tự vựng về chủ đề đảng phái 179

3.5.6 Trường tự vựng về chủng tộc 181

3.5.7 So sánh 185

Tiểu kết 187

Trang 7

KẾT LUẬN 189 TÀI LIỆU THAM KHẢO 192

Trang 8

DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

STT KÝ HIỆU NỘI DUNG

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Bảng Siêu chức năng của ngôn ngữ và kiểu cấu trúc trong mệnh đề 23

Bảng 1.5 Bảng Thành phần và chức năng của DNCL 34

Bảng 2.1 Bảng thống kê các phương tiện LK trong LK quy chiếu 80

Bảng 2.2 Bảng thống kê các phương tiện LK trong LK thay thế 84

Bảng 2.3 Bảng thống kê các phương tiện LK trong LK tỉnh lược 86

Bảng 2.4 Bảng thống kê các phương tiện LK trong LK quan hệ 89

Bảng 2.5 Bảng thống kê các phương tiện LK trong LK lặp 93

Bảng 2.6 Bảng thống kê các phương tiện LK trong LK phối hợp từ vựng 96

Bảng 2.7 Bảng thống kê từ vựng quốc gia, đất nước 104

Bảng 2.8 Bảng thống kê từ vựng chính trị 106

Bảng 2.9 Bảng thống kê từ vựng về một số lĩnh vực 108

Bảng 2.10 Bảng thống kê từ vựng về đảng phái và chế độ xã hội 110

Bảng 2.11 Bảng thống kê từ vựng về các chủng tộc 112

Bảng 3.1 Bảng thống kê các phương tiện LK trong LKQC 136

Bảng 3.2 Bảng thống kê các phương tiện LK trong LK thế 140

Bảng 3.3 Bảng thống kê các phương tiện LK trong LK tỉnh lược 145

Bảng 3.4 Bảng thống kê các phương tiện LK trong LK quan hệ 156

Bảng 3.5 Bảng thống kê các phương tiện LK trong LK lặp 159

Bảng 3.6 Bảng thống kê các phương tiện LK trong phối hợp từ vựng 160

Bảng 3.7 Bảng so sánh tần suất của các phương tiện LK trong LKNP giữa DNCL tiếng Việt và tiếng Anh-Mỹ 161

Trang 10

Bảng 3.8 Bảng so sánh tần suất của các phương tiện LK trong LK từ vựng giữa

DNCL tiếng Việt và tiếng Anh-Mỹ 167

Bảng 3.9 Bảng thống kê từ vựng quốc gia, đất nước 169

Bảng 3.10 Bảng thống kê tần suất sử dụng từ vựng chính trị 172

Bảng 3.11 Bảng thống kê từ vựng về một số lĩnh vực liên quan đến việc xây dựng đất nước 175

Bảng 3.12 Bảng thống kê tần suất của từ vựng tôn giáo 178

Bảng 3.13 Bảng thống kê tần suất của từ vựng Đảng phái 179

Bảng 3.14 Bảng thống kê tần suất của từ vựng thuộc các chủng tộc 182

DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 1.1: Hai bình diện ẩn dụ 55

Trang 11

MỘT SỐ THUẬT NGỮ ANH - VIỆT

STT THUẬT NGỮ ANH THUẬT NGỮ VIỆT

1 Additive conjunction Liên từ bổ sung

2 Adversative conjunction Liên từ đối lập

6 Causal conjunction Liên từ nguyên nhân, kết quả

7 Clausal ellipsis Tỉnh lược mệnh đề

14 Demonstrative reference Quy chiếu chỉ định

15 Discourse analysis Phân tích diễn ngôn

17 Experiential metafunction Siêu chức năng kinh nghiệm

21 Grammatical cohesion Liên kết ngữ pháp

22 Grammatical metaphor Ẩn dụ ngữ pháp

23 Ideational metaphor Ẩn dụ ý niệm

24 Interpersonal metafunction Siêu chức năng liên nhân

25 Interpersonal metaphor Ẩn dụ liên nhân

26 Lexical cohesion Liên kết từ vựng

27 Metafunction Siêu chức năng

29 Metaphor of mood Ẩn dụ thức

30 Metaphor of transitivity Ẩn dụ chuyển tác

32 Nominal ellipsis Tỉnh lược danh từ

33 Nominal substitution Thế danh từ

34 Nominalization Danh hóa

35 Pairs of opposites, antonyms Từ đối nghĩa, trái nghĩa

36 Personal reference Quy chiếu chỉ ngôi

37 Political discourse Diễn ngôn chính luận, diễn ngôn

chính trị

Trang 13

MỞ ĐẦU

0.1 Lý do chọn đề tài

Vì nhiều lý do khác nhau, diễn ngôn chính luận (DNCL) có một vị trí hết sức quan trọng trong đời sống tinh thần của người Việt Nam, nhất là trong giai đoạn chiến tranh Thế nhưng, việc nghiên cứu DNCL lại không đạt được những thành tựu như lẽ ra phải có Công bằng mà nói, trước đây với tên gọi là phong cách chính luận, văn bản chính luận, giới Việt ngữ học tìm hiểu nghiên cứu trước hết là bình diện từ vựng nhất là những từ ngữ có chức năng hô hào, tác động như là phấn đấu, phấn đấu hơn nữa, nỗ lực, nỗ lực hơn nữa, cố gắng, cố gắng hơn nữa, kiên trì, kiên trì hơn nữa … và họ thừa nhận rằng các từ ngữ vừa liệt kê xuất hiện với tần suất khá cao, do đó chúng bị bào mòn ngữ nghĩa, nhóm từ ngữ này xuất hiện nhiều trong chính luận nhất là thể loại xã luận, cho nên trước đây có câu: Nói như nói xã luận Bình diện thứ hai cũng được giới Việt ngữ học chú ý đó là các cấu trúc lập luận và

đã đạt được một số thành quả đáng ghi nhận

Tuy nhiên, bình diện ngôn ngữ của DNCL không chỉ có thế Về mặt triển khai nội dung, chúng được xây dựng trên bố cục nào? Cấu trúc nào? Mối liên kết (LK) giữa các phát ngôn (PN) như thế nào? Sự phân bố của các bước thoại ra sao? Vai trò, chức năng của ẩn dụ ngữ pháp (ADNP) như thế nào? Đâu là các trường từ vựng (TTV) ngữ nghĩa có tác dụng hô hào tác động đích thực?

Đặc điểm ngôn ngữ có tính chất bao trùm trong hệ thống chính luận của tiếng Việt có gì nổi bật? Ngoài phong cách chính luận rất dễ nhận biết của Hồ Chí Minh liệu trong môi trường DNCL tiếng Việt còn có tác giả nào kế thừa được phong cách của Hồ Chí Minh và tự tạo cho mình một phong cách riêng?

Dù thể chế chính trị nào, nói đến chính luận là nói đến sự thuyết phục, trước hết

là thuyết phục trong suy nghĩ và suy nghĩ đúng từ đó người ta mới có thể hành động đúng Đây có thể là đặc điểm chung của DNCL tiếng Việt và DNCL tiếng Anh-Mỹ Mặt khác, tiếng Anh-Mỹ là một ngôn ngữ biến hình, tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập, chúng lại bị chi phối bởi hai nền văn hóa khác nhau; người phương Tây

Trang 14

thiên về vai trò của cá nhân, ứng xử trong cuộc sống thì thiên về thực tiễn, trong khi người Việt thiên về cộng đồng, tập thể, trong ứng xử thiên về trọng tình cảm Liệu những đặc điểm vừa khái quát này sẽ chi phối như thế nào đến việc tạo lập, tổ chức

DN cũng như nhận hiểu DN?

Hơn nữa, trong những xu hướng phân tích DN gần đây ở Việt Nam, phân tích

DN chủ yếu tập trung vào DN báo chí, DN hội thoại, DN quảng cáo…Tuy nhiên DNCL vẫn chưa được khảo sát nhiều

Những điều trên đã thôi thúc chúng tôi chọn “Đặc điểm ngôn ngữ của diễn ngôn chính luận tiếng Việt (so sánh với diễn ngôn chính luận tiếng Anh-Mỹ)” làm

đề tài nghiên cứu trong luận án (LA) của mình

0.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

số bình diện đã được xác lập, từ đó tiến hành so sánh để tìm ra một số tương đồng

và khác biệt trong hai loại hình DN Xin được lưu ý, LA không có tham vọng giải quyết những vấn đề có tính chất lý thuyết mà chủ yếu đặt ra cho mình một mục đích đơn giản là hướng chúng vào mục đích ứng dụng

0.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục đích nêu trên, LA phải thực hiện những nhiệm vụ sau :

- Xác lập bộ máy khái niệm liên quan trực tiếp đến đề tài Đây là cơ sở lý thuyết cần yếu;

- Khảo sát một số đặc điểm chính gồm : bố cục, bước thoại, liên kết, ẩn dụ ngữ pháp, sự phân bố một số trường từ vựng nổi bật;

Trang 15

- Nhận diện, phân tích, đánh giá một số đặc điểm ngôn ngữ;

- So sánh đặc điểm giữa DNCL tiếng Việt và DNCL tiếng Anh-Mỹ, để tìm

ra sự tương đồng và khác biệt

0.3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

0.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của LA là một số đặc điểm ngôn ngữ của DNCL tiếng Việt và DNCL tiếng Anh-Mỹ của các Nhà lãnh đạo chính trị Việt Nam và các Tổng thống (TT) Hoa Kỳ

0.3.2 Phạm vi nghiên cứu

DNCL là một đề tài khá rộng Như đã xác lập LA chỉ tập trung khảo sát một số phương diện như bố cục, các bước thoại, các phương thức LK, ADNP và TTV tác động trong cả hai hệ thống DN và cũng xin được giới hạn trong giai đoạn từ 1930 đến 2000

Sự phân đoạn này chỉ có ý nghĩa tương đối chủ yếu là để tiện sưu tập tài liệu

0.3.3 Nguồn ngữ liệu

Để có cơ sở nghiên cứu, trong tiếng Việt LA thu thập 60 văn bản chính luận là những DN của các nhà chính trị Việt Nam như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp giai đoạn 1930–2000 với độ dài 317 trang khổ A4 Các văn bản tiếng Việt được lựa chọn có nội dung phản ánh quan điểm, lập trường chính trị của Nhà nước Việt Nam Các văn bản này được thu thập

từ các quyển Về văn hóa văn nghệ của các tác giả Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường

Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh (Nxb Văn hóa năm 1976), Thư vào Nam của Lê Duẩn (Nxb Sự thật năm 1985), Hồ Chí Minh Toàn tập (12 tập, Nxb Chính trị Quốc gia năm 2004)

Tương tự trong Tiếng Anh-Mỹ cùng một thời đoạn (1930-2000), LA cũng thu thập 60 văn bản là những DN của các TT Hoa Kỳ thuộc Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa như Franklin Delano Roosevelt, John Fitzgerald Kennedy, Ronald Wilson Reagan, George Herbert Walker Bush, William Jefferson Clinton với độ dài 320 trang khổ A4 Các văn bản được lựa chọn cũng phản ánh quan điểm, lập trường

Trang 16

chính trị của mỗi Đảng Chúng được thu thập từ trang presidency/presidential-speeches LA chỉ khảo sát các bài diễn thuyết, diễn thuyết nhậm chức từ khía cạnh của ngôn ngữ học, đồng thời tuân thủ nghiêm túc yêu cầu

https://millercenter.org/the-về chính trị, các quan điểm của Đảng, pháp luật Nhà nước ta Tác giả không xem xét và cũng không đưa vào LA các DN có chứa nội dung chống Đảng Cộng sản, nội dung trái với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

0.4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện việc khảo sát và nghiên cứu đề tài, chúng tôi áp dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau đây:

Phương pháp miêu tả ngôn ngữ, cụ thể là phương pháp phân tích đặc điểm ngôn ngữ theo các khung lý thuyết của ngữ pháp chức năng hệ thống (NPCNHT) của Halliday (1976, 2004)

Phương pháp phân tích DN được sử dụng để phân tích vai trò của bố cục, bước thoại, LK, ADNP và TTV trong DNCL tiếng Việt và DNCL tiếng Anh-Mỹ Trong phân tích, LA chú ý đến cả hai quá trình đó là quá trình từ trên xuống (Top-down process) và quá trình từ dưới lên (Bottom-up process)

Phương pháp đối chiếu được sử dụng để xác định những điểm tương đồng và khác biệt về đặc điểm ngôn ngữ trong DNCL của hai ngôn ngữ này

Ngoài các phương pháp trên, các thủ pháp thống kê, thủ pháp mô hình hóa cũng được sử dụng để khảo sát ngữ liệu nhằm cung cấp các thông tin cần thiết cho việc miêu tả, nhận xét, đánh giá về các đặc điểm ngôn ngữ của DNCL tiếng Việt và DNCL tiếng Anh-Mỹ

0.5 Đóng góp của luận án

0.5.1 Về lý thuyết

Kết quả nghiên cứu của LA sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm đặc điểm của DNCL ở các khía cạnh như bố cục, bước thoại, LK, ADNP và TTV trong cả hai ngôn ngữ Việt, Anh Nghiên cứu cũng khẳng định tầm ảnh hưởng của NPCNHT

Trang 17

trong việc tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của tiếng Việt và tiếng Anh, cũng như một ứng dụng trong việc dạy tiếng

0.5.2 Về thực tiễn

Kết quả của LA này góp phần gợi ý giúp sinh viên chuyên ngành ngữ văn hoặc những ai quan tâm đến đề tài sẽ tiếp tục mở rộng nghiên cứu sâu hơn đặc điểm DNCL của hai ngôn ngữ

Đồng thời, nghiên cứu cũng có thể giúp cho những người làm công tác phiên dịch chuyên ngành chính trị học, giảng viên và sinh viên tiếng Anh hiểu sâu hơn về đặc điểm ngôn ngữ trong DNCL tiếng Việt và tiếng Anh-Mỹ Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả của việc sử dụng tài liệu trong công tác dạy và học tiếng Anh tại các trường đại học

biên-0.6 Bố cục luận án

Ngoài phần dẫn nhập, kết luận và phụ lục, bố cục của LA gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương này trình bày những vấn đề lý thuyết liên quan đến DNCL Đây là xuất phát điểm để tìm hiểu những vấn đề cụ thể ở các chương tiếp theo

Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ của diễn ngôn chính luận tiếng Việt

Chương này khảo sát những vấn đề cụ thể, miêu tả, nhận xét một số vấn đề như bố cục, bước thoại, LK, ADNP và vai trò chức năng của một số TTV nổi bật trong DNCL tiếng Việt

Chương 3: So sánh đặc điểm ngôn ngữ của diễn ngôn chính luận tiếng Việt với diễn ngôn chính luận tiếng Anh-Mỹ

Tương tự như chương 2, LA tiếp tục khảo sát, miêu tả một số vấn đề đã xác định trong DN tiếng Anh – Mỹ Từ đó LA chỉ ra sự tương đồng và khác biệt về một

số phương diện trong hai hệ thống DN

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

Chương này, LA sẽ trình bày một cách khái quát về tình hình nghiên cứu DN

ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam Bên cạnh đó, LA cũng đề cập sơ lược những tri thức quan yếu mà khi nghiên cứu DN không thể không đề cập đến

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu diễn ngôn và diễn ngôn chính luận trên thế giới

Trên thế giới, sau trào lưu ngữ pháp văn bản vấn đề nghiên cứu về DN diễn ra rất sôi nổi Có rất nhiều nghiên cứu theo nhiều trường phái, nhiều xu hướng Trong phạm vi của LA này, chúng tôi chỉ điểm qua những lý thuyết tiêu biểu nghiên cứu

DN có liên quan trực tiếp đến việc triển khai của đề tài Đó là những cách phân loại, những xu hướng nghiên cứu DN

Nói về phân tích DN không thể không đề cập đến những công trình vận dụng NNH và ngữ nghĩa học vào văn học của Todorov (1970), của Barthes (1977) và nhiều tác giả khác Những năm 60 của thế kỉ XX, nghiên cứu về NNH bắt đầu được chú trọng dẫn tới sự xuất hiện các lý thuyết DN của NNH xã hội, NNH nhân chủng, NNH văn hoá xã hội… Dưới ánh sáng của một số cách tiếp cận mới, đối tượng của

DN – phân tích được mở rộng sang lĩnh vực nghiên cứu phong cách văn hoá, nghệ thuật lời nói, các hình thức chỉ dẫn, nghiên cứu bối cảnh xã hội và bối cảnh văn hoá của các dạng giao tiếp khác nhau : Hội thoại, quảng cáo, bản tin…

Theo van Dijk (1972), đến giai đoạn 1972 – 1974, phân tích DN đạt tới vị thế của một khoa học độc lập Vào những năm 1970, người ta thấy xuất hiện những chuyên luận đầu tiên và những công trình tập thể dành hoàn toàn hoặc một phần cho phân tích DN như một lĩnh vực tri thức liên ngành Có thể kể đến DN hội thoại, lý thuyết hành động ngôn từ, DN thường nhật Ngôn ngữ tự nhiên trong giao tiếp đời thường thông qua các DN cũng được nghiên cứu qua lăng kính của ngữ dụng và các tình huống xã hội, ví như hội thoại của học sinh các lớp trong nhà trường phổ thông

Trang 19

Cách phân loại của van Dijk (1985) có cơ sở từ hướng tiếp cận khoa học – nguồn

gốc được trình bày trong bài giới thiệu ở tập I của bộ sách bốn tập do ông làm chủ biên: Handbook of Discourse Analysis (Cẩm nang về phân tích diễn ngôn) Hướng

tiếp cận này cho phép tiến hành phân chia các lý thuyết DN, với điểm xuất phát là công cụ phương pháp luận của bộ môn khoa học nào đó có ảnh hưởng nhiều nhất tới sự phát triển của phân tích DN thông qua một lát cắt thời gian cụ thể

Sự phân loại của Torfing (2005) được tập trung trong cuốn Discourse Theory in European Politics Identity, Policy and Governance (Lý thuyết về diễn ngôn trong đời sống chính trị ở Châu Âu Tính đồng nhất, chính sách và sự cai trị) Theo

Torfing lý thuyết DN xuất hiện vào cuối những năm 1970 và hậu cấu trúc luận đặt

nền tảng cho sự kiến giải về lý thuyết DN Torfing (2005) phân biệt ba giai đoạn lý thuyết DN như sau:

Giai đoạn thứ nhất, phân tích DN đóng khung trong ý nghĩa NNH, tức là xác

định DN như một đơn vị giao tiếp của ngôn ngữ hội thoại hoặc ngôn ngữ viết mà trọng tâm là văn bản nói và văn bản viết Lý luận DN của thế hệ thứ nhất tập trung vào phân tích đặc điểm ngôn ngữ của cá nhân hay tác giả nào đó đồng thời chú ý đến cả quan điểm xã hội của họ Ví dụ xã hội học DN phân tích mối quan hệ giữa hoàn cảnh kinh tế xã hội của người nói với vốn từ vựng của anh ta Những tác giả thuộc giai đoạn thứ nhất này là Labov, Franche (1977), Fowler (1979), Douns (1984), Potter, Wetherell (1987)

Hạn chế của giai đoạn thứ nhất là đã gắn chặt phân tích DN với phân tích chính trị và quá chú ý đến sự phân bố từ vựng

Giai đoạn thứ hai, mở rộng phạm vi giải thích về DN, không bó hẹp trong ngôn

ngữ hội thoại và ngôn ngữ viết mà mở rộng đối tượng sang các hoạt động thực tiễn

xã hội Và nó được gọi tên chung là diễn ngôn – phân tích phê bình – tức là tổng thể

các hoạt động thực tiễn xã hội có nội dung kí hiệu học Các cử chỉ, hình ảnh,… trong giao tiếp cũng được coi là DN Nhà nghiên cứu chủ chốt của xu hướng này là Fairclough (1992), người lấy cảm hứng từ những công trình phân tích DN của

Trang 20

Foucault (1971), xem DN là một trong số các phương thức xác lập quyền lực, điều chỉnh quan hệ lệ thuộc giữa các vai diễn xã hội Tuy nhiên thế hệ thứ hai lại chưa giải thích được câu hỏi giữa DN và ngữ cảnh phi DN có quan hệ như thế nào

Giai đoạn thứ ba, thể hiện đặc điểm của hậu cấu trúc luận, khái niệm DN được

mở rộng thành một phạm trù xã hội rộng lớn DN được giải thích như là một phạm trù đồng nghĩa với thực tiễn kiến tạo xã hội Derrida (1966) nói rằng : “Tất cả đều là DN” Những học giả tiêu biểu của thế hệ này là Barthes, Kristeva, Lacan,… Torfing cũng thuộc thế hệ thứ 3 này

Tiếp theo là sự phân loại lý thuyết DN của Jorgensen và Phillips (2002) được

tập trung trong cuốn Discourse Analysis as Theory and Method (Phân tích diễn

ngôn, lý thuyết và phương pháp) Việc phân loại các lý thuyết DN được thực hiện

thông qua sự so sánh ba quan điểm lý thuyết – phương pháp luận phân tích DN mà

theo các tác giả có thể xếp chung vào cùng một lĩnh vực khoa học liên ngành : diễn ngôn – phân tích kiến tạo – xã hội

Ba cách tiếp cận phân tích DN theo quan điểm kiến tạo xã hội là : (i) Lý luận diễn ngôn của Laclau và Mouffe (1986) ; (ii) Diễn ngôn – phân tích phê bình và

(iii) Tâm lý học diễn ngôn

Jorgensen và Phillips (2002) cho rằng cả ba cách tiếp cận này đều có chung

một nguồn gốc từ chủ nghĩa cấu trúc và hậu cấu trúc luận Bên cạnh Jorgensen và

Phillips, những học giả tiêu biểu của xu hướng này là Laclau và Mouffe

Cũng như phân tích DN, thành tựu về phân tích DNCL cũng khá lớn Phần lớn các tác giả đi sâu vào việc phân tích DNCL về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn Về

lý thuyết, các học giả qua nhiều cách tiếp cận cũng phân tích DN, xác lập hệ khái niệm như quyền lực, khách quan, thể chế chính trị…

Thompson đã quan tâm đến DNCL từ rất sớm với Discourse on policy– making: American foreign policy (1987) (Diễn ngôn về hoạch định chính sách: chính sách đối ngoại của Mỹ) Công trình đã đề cập một số vấn đề cơ bản về DN

hoạch định chính sách của Mỹ Theo ông, hệ quả của DN loại này là quá đặt nặng

Trang 21

vấn đề về lương tâm của những người có trách nhiệm Điều này khiến cho DN về hoạch định chính sách trở thành vấn đề trọng tâm trong thời kỳ đó Liên quan trực

tiếp đến đề tài của LA, không thể không kể đến van Dijk (1993) với Political discourse analysis (Phân tích diễn ngôn chính luận) Trong đó, ông đã nêu lên định

nghĩa về DNCL, các phạm vi thuộc về chính luận, ông cũng đã nêu lên quan điểm của mình về phân tích DN từ góc nhìn chính sách, đường lối chính trị Đặc biệt, ông phân tích rất rõ cấu trúc của DN với các yếu tố như chủ đề, ngữ nghĩa, từ vựng, cú pháp, tu từ, mô thức biểu đạt và tương tác Ngoài ra ông còn đề cập đến một số vấn

đề về nhập cư và phân biệt chủng tộc

Kế đến là Lemke (1995) với công trình Textual politics, Discourse and Social dynamics (Văn bản chính luận, diễn ngôn và động học xã hội) Quyển sách bắt đầu

với phần thảo luận về mối quan hệ giữa DN và các khái niệm về quyền lực và hệ tư tưởng Những khái niệm này được áp dụng vào ba vấn đề chủ chốt là xây dựng cấu trúc xã hội về tầng lớp, giới tính và cá tính; sử dụng tu từ trong các cuộc tranh luận

về tôn giáo chính thống đối nghịch với quyền của người đồng tính; và việc lạm dụng ngôn ngữ chuyên môn trong tranh luận về chính sách, đường lối đối nghịch với quan điểm chính trị bảo thủ Công trình cũng mở rộng lý thuyết tiếp cận với sự thay đổi xã hội ở diện rộng và những thách thức đối với ảnh hưởng của giáo dục và chính trị ở thế kỷ thông tin toàn cầu rất mới mẻ

Nhìn chung, cả van Dijk và Lemke đều xuất phát từ cải nhìn phân tích DN xã hội học ngôn ngữ Do vậy, các đặc điểm về trường thức chưa được chú ý nhiều

1.1.2 Tình hình nghiên cứu diễn ngôn và diễn ngôn chính luận ở Việt Nam

Tình hình nghiên cứu về DN ở Việt Nam không quá phức tạp như trên thế giới Nói một cách khái quát, DN là một địa hạt được nhiều nhà Việt ngữ học quan tâm nghiên cứu LA xin điểm luận những nét chính về nghiên cứu DN ở Việt Nam:

Nghiên cứu về ngữ pháp DN, có thể kể đến Chu Thị Thanh Tâm (1995) với Ngữ pháp hội thoại và việc nghiên cứu đề tài diễn ngôn Tác giả đặt ra vấn đề nghiên

cứu DN trong các cuộc hội thoại và kết luận rằng: “Ngữ pháp hội thoại đem đến

Trang 22

một cái nhìn tổng quát về cấu trúc và chức năng của các hành vi hội thoại, dựa vào

đó chúng tôi nghiên cứu các cuộc hội thoại với những đề tài DN nhất định” Tôn Nữ

Mỹ Nhật (2003, 2008) với công trình Cấu trúc đề – thuyết với thực tiễn phân tích diễn ngôn và Cấu trúc và cấu trúc chức năng nghiên cứu về mô hình lý thuyết

NPCN và DN trong giao tiếp thực – ngôn ngữ hành chức trong những môi trường văn hóa xã hội cụ thể, với những mục đích giao tiếp cụ thể

Nghiên cứu về DN và việc phân tích DN cũng như đưa ra phạm vi nghiên cứu

DN gồm tất cả các văn bản, các cuộc hội thoại có thể kể đến tác giả Diệp Quang

Ban (1999) với Hai giai đoạn của ngôn ngữ học văn bản và tên gọi “Phân tích diễn ngôn” Tác giả khẳng định “Cùng với phân tích DN người ta cũng nhắc đến các bộ

phận nghiên cứu có liên quan dưới các tên gọi Phân tích văn bản, Phân tích hội thoại Điều đó cho thấy NNH hiện đại đang tiến vào giai đoạn phân tích mới sau hoặc cùng với giai đoạn tổng hợp NNH văn bản, một giai đoạn đã và đang đặt ra vô

số vấn đề liên ngành và xuyên ngành không chỉ đối với NNH nói riêng mà cả đối với văn học và đối với một số ngành trong các khoa học nhân văn”

Nguyễn Hòa (2006) đã tìm hiểu con đường phân tích DN phê phán và trình bày một số ví dụ cho việc sử dụng DN phê phán trong phân tích DN Tác giả Diệp

Quang Ban cho rằng phạm vi nghiên cứu của DN vô cùng rộng lớn Diệp Quang

Ban (2007) với công trình Tìm hiểu phân tích diễn ngôn phê bình đã cho rằng “Phân

tích DN phê bình là một đường hướng mới trong phân tích DN, phân tích việc sử dụng NN nhằm mục đích cải thiện đời sống thực tế của xã hội” Tiêu biểu có thể kể

đến công trình Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản (2009) Trong công trình

này, tác giả đã nêu lên vấn đề truyện học và ngữ pháp truyện, phân tích hội thoại, phân tích DN, văn bản và đặc trưng của văn bản, mạng mạch và mạch lạc trong văn bản, LK trong văn bản Những vấn đề cơ bản của DN đã được tác giả tổng hợp khá đầy đủ trong tác phẩm vừa nhắc

Đặt ra vấn đề nghiên cứu DN báo chí, cụ thể là Dẫn đề có thể kể đến tác giả

Trịnh Sâm (2012) trong bài Về một số mô hình của dẫn đề báo chí Tiếng Việt Tác

Trang 23

giả viết “Cùng với tiêu đề văn bản, dẫn đề (tiếng Anh: Lead, tiếng Pháp: Chapeau) nói chung, dẫn đề báo chí nói riêng, là yếu tố ngôn ngữ có một vai trò đặc biệt chẳng những đối với người tạo lập văn bản mà cả đối với người nhận hiểu nó” Cũng nghiên cứu về vấn đề này, ở Việt Nam tuy mức độ nông sâu khác nhau, các tác giả sau đây có đề cập đến dẫn đề như Nguyễn Đức Dân (1996,1998), Nguyễn Hòa (1999); Trịnh Sâm (2008,2012)…

Nghiên cứu về các yếu tố trong DN như cấu trúc, các yếu tố thể hiện màu sắc tình thái trong DN có thể kể đến những tác giả sau: Vũ Văn Đại (2002) đã phân tích những biến đổi về cấu trúc DN, cho biết chức năng ngữ pháp của yếu tố ngôn ngữ

có thể thay đổi tùy thuộc vào những thông tin liên quan đến sự vật đã có ở ngữ cảnh trước, vào việc PN ở trong tình huống hay ngoài tình huống Nguyễn Hòa (2002) cho rằng “ngữ cảnh là đối tượng có liên quan đến giao tiếp ngôn ngữ trong một tam giác : ngôn ngữ – giao tiếp – ngữ cảnh” Vũ Xuân Đoàn (2003) đã khẳng định rằng

“Các tác phẩm báo chí nằm ở giữa và có thể dao động chút ít về hai phía : nặng về tính khách quan hoặc có pha trộn nhiều tính chủ quan” Có thể nhận thấy rằng, những nghiên cứu về DN ở Việt Nam cũng khá đa dạng và ở nhiều góc độ từ phạm

vi nghiên cứu của DN, ngữ pháp DN, cấu trúc DN đến các yếu tố chi phối DN…

Có thể nói thể loại chính luận ra đời khá sớm ở Việt Nam Tuy nhiên, thành tựu nghiên cứu từ góc độ DN thời hiện đại, chủ yếu tập trung ở các văn bản chính luận của Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh Trong đó văn bản được nghiên cứu kĩ nhất là Tuyên Ngôn Độc Lập Có thể khái quát rằng, phần lớn các phân tích đều xuất phát từ hệ ý niệm tu từ học như: Viết cho ai? Viết cái gì? Viết để làm gì? Viết trong hoàn cảnh nào? Viết như thế nào? để phân tích văn DNCL Từ một góc độ khác, xét về mặt chức năng, nói như Jakobson (1987), chức năng của DNCL là chức năng nổi trội Chức năng này rất phổ biến nhằm tác động tuyên

truyền Nguyễn Hòa (1999) trong Nghiên cứu diễn ngôn về chính trị-xã hội trên tư liệu báo chí tiếng Anh và tiếng Việt hiện đại đã có những phân tích DN về cấu trúc

tin chính trị-xã hội và cấu trúc của bài bình luận chính trị qua tư liệu báo tiếng Anh

và báo tiếng Việt Công trình nghiên cứu này là nền tảng cho nhiều nghiên cứu khác

Trang 24

về DNCL hay chính trị ở các mảng khác nhau Theo ông, việc nghiên cứu và phân tích các DN chính trị-xã hội trên những nguyên tắc ngôn ngữ học xác nhận có sự khác biệt về mặt tổ chức cấu trúc của DN tin chính trị- xã hội giữa báo chí tiếng Anh và tiếng Việt Tác giả Nguyễn Thị Hương và Trần Thị Hoàng Anh (2014) có

bài báo Bàn về diễn ngôn chính trị trên tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống Bài viết bàn

về đặc điểm của DN chính trị từ góc nhìn của phân tích DN Tác giả Trần Bình

Tuyên (2017) trong LA tiến sĩ NNH Văn chính luận Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh

từ góc nhìn lý thuyết phân tích diễn ngôn (ĐH Huế), tác giả đã nêu lên những đặc

trưng về trường, không khí và cách thức trong văn chính luận của Hồ Chí Minh Trong LA, tác giả đã có cách tiếp cận theo đường hướng lý thuyết phân tích diễn ngôn dựa trên những quan niệm của Halliday về lý thuyết ngữ vực với các bình diện đặc trưng về Trường, Không khí và Cách thức LA không chỉ nghiên cứu đối tượng trong tính tổng thể, hệ thống mà luôn đặt đối tượng nghiên cứu trong mối quan hệ biện chứng với các yếu tố của ngữ cảnh tình huống, xem xét ngôn ngữ trong hoạt động, tương tác xã hội hay việc sử dụng ngôn ngữ Cũng bàn về DN chính trị, tác

giả Nguyễn Xuân Hồng (2017) trong bài báo Về một hướng nghiên cứu diễn ngôn chính trị tiếng Việt, đã xác lập một số cách phân loại DN và nêu lên một số định

hướng nghiên cứu DN chính trị tiếng Việt Tác giả đã đề cập việc đi tìm đặc điểm ngôn ngữ của DN chính trị về mặt nguyên tắc có thể khảo sát ở mọi cấp độ, từ giọng nói, trọng âm, ngữ điệu đến sử dụng từ ngữ, cấu trúc và chức năng của từng loại phát ngôn và tất nhiên là cả cấu trúc và chức năng của DN Như vậy, đa số các tác giả sử dụng thuật ngữ DN chính trị khi bàn về DNCL

Như vậy, đặc điểm của DNCL tiếng Việt đã được nghiên cứu từ lâu Tuy nhiên, khai sáng DNCL từ góc nhìn phân tích như trào lưu nghiên cứu ngôn ngữ trong hành chức với những thể loại cụ thể thì hãy còn khá mới mẻ Có thể kể đến Nguyễn Hòa (1999) với DN báo chí , Trần Ngọc Thêm (2006), chủ yếu là LK, và Diệp Quang Ban (2009) với văn bản Ngoài ra, cũng phải kể đến một số LA, luận văn được bảo vệ ở một số cơ sở đào tạo gần đây

Trang 25

1.2 Phân tích diễn ngôn và các ngành khoa học hữu quan

1.2.1 Phân tích diễn ngôn và phong cách học

DNCL là một đối tượng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Khi ngữ pháp văn bản, nhất là trào lưu nghiên cứu ngôn ngữ trong quá trình hành chức ra đời, giới Việt ngữ học bắt đầu chú ý đến những đơn vị lớn hơn câu là phát ngôn, DN Và DN được xem như một đơn vị giao tiếp đa phương tiện Để minh định rõ hơn đối tượng khảo sát của LA và một số vấn đề hữu quan, mục này sẽ trình bày một số chủ đề quan yếu, mà không thể không đề cập khi bàn về DNCL

Tiếp cận theo PCH là một trong các hướng được sử dụng khi muốn tiếp cận DNCL: Tiên phong cho xu hướng này là Bakhtin (2012), xem DN là ngôn ngữ trong chỉnh thể sống động, là một hiện tượng xã hội, DN là ngôn ngữ có tư tưởng,

có tính hoạt động xã hội, có thực tiễn vì thế nó không ngừng biến đổi theo lịch sử

và mang tính ý thức hệ hiểu theo nghĩa hẹp

Việc quan niệm văn chính luận như một phong cách chức năng, tiếp cận DN như là một đơn vị giao tiếp trong mối quan hệ tương tác giữa người nói và người nghe, đồng thời khảo sát nguồn ngữ liệu gồm nhiều loại DN khác nhau, gọi chung

là DNCL đã giúp LA khai thác hiệu quả mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ với các yếu tố của ngữ cảnh tình huống Tuy nhiên, nếu xét trên phương diện thể loại, việc xác định phạm vi nghiên cứu của LA là DN với nhiều thể loại khác nhau sẽ khó có thể nêu bật hết các đặc trưng của từng thể loại cụ thể Đây cũng là một hạn chế của LA nhưng đồng thời cũng mở ra hướng nghiên cứu mới dưới góc độ thể loại đối với đối tượng này Mặt khác, chính luận là một phong cách chức năng cũng rất phù hợp với đường hướng Phân tích DN phê phán – đường hướng nhấn mạnh đến vai trò của ngôn ngữ trong cơ cấu quan hệ quyền lực trong xã hội và góp phần chứng minh ngôn ngữ là một thực tiễn xã hội Do vậy, việc áp dụng khung lý thuyết phân tích DN phê phán vào nghiên cứu đặc điểm văn chính luận tiêu biểu, quan trọng của dân tộc trong lịch sử, như tác phẩm DNCL của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí

Trang 26

Minh, Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn cũng là một hướng tiếp cận khác với điểm nhìn khác, có thể đem lại những kết quả mới

Nhà nghiên cứu người Nga Pilin (2003) cho rằng, định nghĩa DN được các nhà cấu trúc luận đặt ra đầu tiên Để nắm chắc được những dẫn giải lý thuyết kỹ lưỡng

về DN mà Greimas và Courtès (1983) đưa ra trong công trình Từ điển giải thích lý luận ngôn ngữ, cả Greimas và Courtès đều đồng nhất DN với quá trình ký hiệu hóa,

tức quá trình tạo ký hiệu, sử dụng ký hiệu, và cho rằng quá trình này được thực hiện

ở những dạng thức thực tiễn DN khác nhau Thực vậy, nói đến DN, trước tiên người

ta muốn nói đến phương thức hoặc quy tắc đặc trưng của việc tổ chức hoạt động ngôn từ Đôi khi người ta còn dùng thuật ngữ DN tương đương với thuật ngữ phong cách và biệt ngữ Điều này có lý do chuyên biệt, trước hết, mỗi lĩnh vực khoa học hay mỗi phạm vi tri thức đời sống có một mã ngôn ngữ để diễn đạt, biểu hiện nó; mỗi mã ấy ứng với một kiểu loại DN, chẳng hạn DN khoa học, DN văn học, DN chính trị DN nào cũng có nguyên tắc cấu trúc, cách thức vận hành và chức năng riêng trong đời sống xã hội DN ở những trường hợp đó được dùng gần với thuật ngữ thể loại của PC ngôn ngữ chức năng Mặt khác, do mỗi cá nhân trong một cộng đồng ngôn ngữ có quy tắc, cách thức tổ chức hoạt động ngôn từ đặc trưng cho mình, của mình, có những cách diễn đạt ưa thích riêng – nói cách khác, lời nói của họ có ranh giới, giọng điệu, mục đích, trọng lượng riêng, thậm chí cả hình thức cũng mang ý nghĩa riêng, cho nên đôi khi DN còn được dùng tương đương với khái niệm

“biệt ngữ”*

Pilin (2003) hiểu biệt ngữ tương đương với PC cá nhân Nhà nghiên cứu Jakobson (1987) cũng cho rằng biểu hiện của biệt ngữ có thể tìm thấy rõ ở phong cách của một nhà văn này hay khác, dù phong cách đó có mang trên mình dấu ấn của các mô hình ngôn ngữ nào đấy được tiếp nhận từ truyền thống Ở khía cạnh

*

Biệt ngữ: tập hợp những yếu tố ngôn ngữ riêng, mang tính đặc thù của một nhóm người trong cộng đồng ngôn ngữ Nhờ biệt ngữ, nhóm người này có thể phân biệt được với các nhóm khác trong cùng cộng đồng ngôn ngữ đó Về cấu trúc, biệt ngữ là một thứ ngôn ngữ phát sinh từ ngôn ngữ tự nhiên, không hoàn chỉnh và không có tính hệ thống cao Thông thường, biệt ngữ không khác ngôn ngữ tự nhiên về ngữ âm và ngữ pháp, chỉ khác chủ yếu về một số đơn vị từ vựng

Trang 27

này, khái niệm DN giúp ta nhận diện được bản sắc ngôn ngữ của cá nhân

So với tác giả Pilin (2003), Jakobson (1987), cách hiểu của Barthes (1997) về khái niệm biệt ngữ có phần rộng hơn Barthes khẳng định có thể thấy rõ biểu hiện của biệt ngữ không những ở ngôn ngữ của người mắc bệnh ngôn ngữ, và phong cách sáng tác của cá nhân mà còn ở cả ngôn ngữ của một nhóm cá nhân có cùng một sự giải thích đối với mọi thông điệp ngôn ngữ Ở góc độ này, ta thấy thuật ngữ

DN có nhiều điểm trùng với hiện tượng biểu đạt, cách viết; DN trở thành một hiện tượng ngôn từ, một hiện tượng lời nói được nâng lên mức thiết chế Bàn về DN, Barthes (1997) không chỉ đề cập đến thông điệp, mà còn chú ý đến cách tạo ra thông điệp đó Quan niệm của Barthes về DN không chỉ bó hẹp trong ngôn ngữ mà

mở rộng đến các hệ thống ký hiệu khác Ông cho rằng DN có thể được viết ra, cũng

có thể được thể hiện ở các hình thức chụp ảnh, phóng sự, thể thao, quảng cáo; và với tư cách một DN, văn chương tạo thành cái biểu đạt, sự biểu đạt; hoặc trong tư cách hình thức, lối viết, cái biểu đạt trở thành DN Barthes còn giải thích: khái niệm

DN tương tự với văn bản do NNH nghiên cứu Mỗi DN bao gồm một đoạn lời nói hữu tận bất kì, tạo thành một thể thống nhất xét từ quan điểm nội dung, được truyền đạt cùng với những mục đích giao tiếp thứ cấp, và có một tổ chức nội tại phù hợp với những mục đích này, vả lại đoạn lời này gắn bó với những nhân tố văn hoá khác nữa, ngoài những nhân tố có quan hệ đến bản thân ngôn ngữ Quan niệm của Barthes (1996) chỉ rõ tính chỉnh thể, chức năng và cấu trúc của DN Theo đó, nghiên cứu DN cần thực hiện được ít nhất hai nhiệm vụ Nhiệm vụ thứ nhất: miêu

tả cấu trúc nội tại của DN; một văn bản có thể có nhiều DN Nhiệm vụ thứ hai: phân tích quan hệ của DN với những cái hữu quan bên trong và bên ngoài văn bản

Như vậy, nếu như PCH đi tìm đặc điểm cấu trúc ngôn ngữ từ một số bình diện như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp thì phân tích DN trước hết lấy trọng tâm nghiên cứu là chức năng giao tiếp với nhiều bình diện cả chức năng lẫn cấu trúc Nói cụ thể, phân tích DN

sẽ xem xét và đặt ra các câu hỏi: DN là gì? Làm thế nào để tạo lập DN? Làm thế nào để nhận hiểu DN? Mối quan hệ giữa DN và ngữ cảnh là gì? Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức được diễn ra như thế nào đối với người tạo lập DN và tiếp nhận DN

Trang 28

1.2.2 Phân tích diễn ngôn và ngữ pháp văn bản

Khi ta chỉ ra được đặc thù trong mảng đề tài: DN là gì và hệ thống hoá được cách nghiên cứu DN, tức bước đầu ta sẽ có một cách tiếp cận mới đối với DN Quan niệm về DN được giới thiệu sớm nhất trong lĩnh vực NNH Ở mảng ngữ

pháp văn bản có thể kể đến các công trình: Dụng học Việt ngữ của Nguyễn Thiện Giáp (2000), Từ điển tu từ – phong cách – thi pháp học của Nguyễn Thái Hoà (2005), Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm (2006), Phân tích diễn ngôn – một số vấn đề lý luận và phương pháp của Nguyễn Hoà (2008), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản của Diệp Quang Ban (2009), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 của Đỗ Hữu Châu (2010)…

Bên cạnh những công trình biên khảo nói trên, cũng có một số công trình nghiên

cứu về DN của nước ngoài được dịch sang tiếng Việt, chẳng hạn: Dẫn nhập phân tích DN của David Nunan (1993), Dụng học, một số dẫn luận nghiên cứu ngôn ngữ của Yule (1996), Phân tích DN của Brown và Yule (1996), Dẫn luận ngữ pháp chức năng của M.A.K Halliday (2014)… các công trình này tập trung vào mấy

điểm sau: DN là gì, đặc điểm và chức năng của DN, các vấn đề về ngữ cảnh và ý nghĩa DN, cấu trúc thông tin của DN, bản chất quy chiếu trong DN, các đường

hướng phân tích DN… Cũng có thể kể đến các bài viết: Nguyễn Hòa (2005) Khía cạnh văn hoá của phân tích diễn ngôn, Nguyễn Hòa (2006) Phân tích DN phê phán

là gì?, Diệp Quang Ban (2009) Thực hành phân tích diễn ngôn bài Lá rụng, và Nguyễn Thiện Thành (2009) Một vài dạng cấu trúc nhân quả khó nhận biết trong diễn ngôn nghệ thuật ngôn từ

Nhìn chung, có ít nhất năm nhóm quan niệm về DN trong NNH Nhóm thứ nhất

sử dụng khái niệm DN và văn bản đồng nghĩa với nhau, hoặc phân biệt hai khái niệm này bằng cách đính kèm chúng vào một trong hai dạng tồn tại của ngôn ngữ Nhóm thứ hai cho rằng DN thuộc đơn vị của ngữ nghĩa, còn văn bản thuộc đơn vị của ngữ pháp Nhóm thứ ba quan niệm DN chịu sự phán xét của dụng học, còn văn bản trở thành đối tượng của NNH văn bản Nhóm thứ tư đề nghị nên sử dụng tên

Trang 29

gọi DN để chỉ quá trình giao tiếp, sự kiện giao tiếp có tính chỉnh thể và có mục đích; còn thuật ngữ văn bản dùng để chỉ sản phẩm của quá trình giao tiếp, sự kiện

giao tiếp ấy Nhóm thứ năm gồm chức năng luận chủ trương đặt DN vào ngữ cảnh, văn bản, văn hoá xã hội, và cấu trúc luận thiên về mô tả cấu trúc độc lập của DN

Quan niệm về DN cũng đã được giới thiệu trong khoa học văn học, song còn ở tình trạng tản mạn, hoặc chủ yếu ở dạng thực hành phân tích

Hiện nay người ta chú ý nhiều đến DN đa phương thức Nói rõ hơn, mọi phương tiện mà con người sử dụng để giao tiếp hoặc hỗ trợ cho giao tiếp đều là DN, từ chất liệu ngôn ngữ, phi ngôn ngữ, cận ngôn ngữ… đến hình ảnh các ký hiệu, phim ảnh, tranh, tượng… đều có thể là đối tượng nghiên cứu của phân tích DN

Nếu như ngữ pháp văn bản mới chỉ mở rộng phạm vi ngôn ngữ, nói rõ hơn là phá vỡ giới hạn của câu để vươn tới các đơn vị giao tiếp lớn nhất thì phân tích DN

đã có một bước tiến dài trong việc xác định đối tượng cũng như phương pháp tiếp cận Trong đó, đáng chú ý là khái niệm “discourse” là bắt nguồn từ văn học với truyền thống lâu đời Trong LA này, như đã xác định, góc nhìn là NNH và đối tượng chủ yếu là một số nội dung đơn giản nhất và cơ bản nhất

1.2.3 Phân tích diễn ngôn và lý thuyết hệ thống cấu trúc

(i) Thông thường, giới nghiên cứu thường sử dụng khái niệm DN để chỉ ngôn ngữ trong hoạt động, ngôn ngữ được sử dụng trong ngữ cảnh văn hóa – xã hội Cũng cần nói rõ thêm là LA dùng tên gọi DN để chỉ ngôn ngữ trong tính sinh động của nó, chứ không phải đề cập đến ngôn ngữ đã tách khỏi ngữ cảnh PN, hoặc những mẫu văn bản đã được trừu tượng hoá, các văn bản tách khỏi tư duy của chủ thể PN, của hệ tư tưởng và hoàn cảnh xã hội

Thoạt nhìn, dù quan hệ thủ pháp của cấu trúc luận và phân tích DN đối chọi nhau Bởi một đằng đề cao vai trò của quan hệ ngôn ngữ, các quan hệ làm nên giá trị của các yếu tố và của cả hệ thống ký hiệu Một đằng lại chú ý ngôn ngữ không phải dưới dạng tĩnh tại mà ngôn ngữ trong hoạt động hành chức Ngôn ngữ gắn liền với ngữ cảnh, bao gồm ngữ cảnh rộng và ngữ cảnh hẹp

Trang 30

Thực ra sự đối chọi, nếu có, chỉ xảy ra trên bề mặt Cấu trúc luận và phân tích

DN có mối quan hệ gắn bó với nhau Tại đây, LA sẽ trình bày một số nguyên lý, chúng sẽ được phân tích cụ thể trong công trình của chúng tôi

Chủ nghĩa cấu trúc xem mỗi một văn bản là một hệ thống, tập hợp dựa vào một

số đặc điểm giống nhau về hình thức và nội dung cũng là một hệ thống Nói đến hệ thống là đề cập đến cấu trúc Cấu trúc là tập hợp của quan hệ bên trong của một hệ thống chính quan hệ có giá trị quan yếu

Chủ nghĩa cấu trúc, một mặt rất xem trọng yếu tố, mặt khác đề cao vai trò của quan

hệ Có điều phải thừa nhận rằng cấu trúc luận chỉ đề cao quan hệ hướng nội, và chỉ tuyệt đối hóa quan hệ hướng nội Như xác định từ đầu, DNCL là một hệ thống Nếu chủ nghĩa cấu trúc lưỡng phân quá nghiêm ngặt sự đối lập giữa ngôn ngữ/lời nói của Saussure nên chỉ khảo sát các đơn vị từ cấp độ câu trở xuống, thì phân tích DN mở rộng phạm vi quan sát đến các đoạn văn, các chỉnh thể cú pháp phức hợp và với cả DN Nói đến DN, trước hết phải nói đến mô hình có tính chất hành chức, đó là bố cục của DN Công bằng mà nói, bố cục của văn bản đã được giới nghiên cứu chú ý rất lâu Người ta nói đến bố cục ba thành phần, bố cục hai thành phần, thậm chí bố cục bảy, tám thành phần Nếu hình dung từ cấu trúc luận, thì mỗi thành phần như vậy là một cấu tố và tùy theo mối quan hệ giữa các cấu tố mà ta có những loại bố cục tức cũng là mối quan hệ khác nhau

Cấu trúc luận đã xem xét các ngữ đoạn trong phạm vi của một PN, thì phân tích

DN mở rộng quan sát trong phạm vi cú hay PN Và LK được xem xét không chỉ có tính chất hướng nội mà có cả hướng ngoại Với hướng nội, tác động trong ở các mối quan hệ bên trong văn bản gọi là nội chiếu Chúng gồm cả hồi chiếu và khứ chiếu Hai hình thức LK này bao trùm lên toàn bộ các quan hệ trong lòng DN Bên cạnh xem xét các mối quan hệ có tính chất hướng nội, phân tích DN còn chú ý đến hướng ngoại, cho nên mối quan hệ giữa văn bản DN liên quan đến hiện thực nói tới trong

DN, nó thiết lập các loại quan hệ quy chiếu Và tùy theo ngôn ngữ, cách thức quy chiếu trong các ngôn ngữ là không giống nhau

Trang 31

(ii) Ẩn dụ giai đoạn tiền phân tích DN tuy có phát triển nhưng vẫn chủ yếu là trung thành với tư tưởng của Aristotle (1991) Với NPCNHT mà người tiên phong

là Halliday, khái niệm ẩn dụ được mở rộng, trong đó đáng chú ý là ADNP, ẩn dụ chuyển tác, ẩn dụ liên nhân, ẩn dụ thức… Bộ máy khái niệm này tỏ ra có sức giải thích đối với phân tích DN Xin lưu ý, sau này trong trào lưu NNH tri nhận người ta còn nói đến ẩn dụ ý niệm như một mô hình nhận thức của nhân loại

(iii) Cuối cùng, khái niệm TTV thuộc quan hệ của chủ nghĩa cấu trúc Đó là tập hợp một hệ thống từ nào đó theo một số tiêu chí nào đó thì chúng ta có một TTV

Và quả nhiên, hệ thống từ vựng nào xuất hiện trong DN đều có lý do và đảm nhiệm một số chức năng nhất định Ngoài chức năng duy trì chủ đề trong DN, TTV còn có chức năng phát triển chủ đề của DN, TTV còn có chức năng quan trọng hơn là tác động Bởi chức năng chính của DNCL là tác động đến người nghe, trước hết là về nhận thức, từ nhận thức tiến đến hành động cụ thể Cũng xin được minh định thêm, tuy chỉ nói đến TTV, theo câu chữ thì chỉ là tập hợp từ, nhưng trong miêu tả, nhận xét LA cũng mạnh dạn đề cập đến các cụm từ, vì chúng có chức năng với từ, là định danh, không phải là thông báo

1.3 Lý thuyết về các bước thoại của diễn ngôn

Hội thoại vốn được coi là một hình thức giao tiếp trao đổi thông tin vô cùng

quan trọng trong đời sống Hội thoại thường là cuộc chuyện trò, đối đáp giữa hai nhân vật, dạng phổ biến nhất của hội thoại là song thoại Tuy nhiên trong thực tế giao tiếp, số lượng người tham gia hội thoại có thể là ba (tam thoại), bốn hoặc nhiều hơn (đa thoại) Trong văn học, hình thức DN hội thoại được xem là “làm thành từ một văn bản và được phân chia ra thành những DN chuyển đổi nhau của hai hoặc hơn hai nhân vật tham dự đối thoại”, hiển nhiên không phải là DN đơn loại Một đối thoại được triển khai như một văn bản thống nhất, tuy nhiên mối quan hệ “người phát – người nhận” được chuyển hóa lẫn nhau” Tính chất nội dung cuộc hội thoại tùy thuộc vào hoàn cảnh, tình huống, mục đích của những người tham gia đối thoại Thông thường DN đối thoại tồn tại dưới hình thức giao tiếp trực diện của các nhân vật, nghĩa là các nhân vật cùng tham gia vào quá trình trao– đáp– tạo tiếp cuộc

Trang 32

thoại Bước thoại đối với DN hội thoại được xét là bộ phận cấu thành chỉnh thể tác

phẩm trong toàn bộ cấu trúc DN Yếu tố DN này trực tiếp bộc lộ tính cách nhân vật, thể hiện nhân sinh quan, thế giới quan của nhân vật phù hợp với suy nghĩ, cách nói năng của con người trong mỗi tình huống, hoàn cảnh, giai đoạn khác nhau

Năm 1975, trong Logic and conversation (Lô gich và hội thoại), Grice đã phác

thảo lý thuyết về hàm ngôn Công trình này được xem là một trong những công trình có tầm ảnh hưởng lớn trong việc phát triển ngành ngữ dụng học Trong lý thuyết của mình, Grice cố gắng giải thích cách thức người nghe hiểu được nghĩa từ

PN của người nói, từ cấp độ ngữ nghĩa cho đến cấp độ hàm ngôn của PN Ông mô

tả hai loại hàm ngôn: hàm ngôn quy ước và hàm ngôn hội thoại Cả hai đều thể hiện cấp độ nghĩa hàm ngôn ngoài cấp độ ngữ nghĩa của các từ ngữ trong mỗi PN Năm

1994, nhà nghiên cứu Deborah đã khảo sát và tập hợp được các đường hướng phân tích DN như sau: Đường hướng dụng học; Đường hướng biến đổi ngôn ngữ; Đường hướng NNH xã hội tương tác bắt nguồn từ các lĩnh vực khác nhau như: xã hội học, nhân chủng học; Đường hướng dân tộc học giao tiếp; Đường hướng phân tích hội thoại; Đường hướng phân tích DN trong tâm lý học xã hội; Đường hướng giao tiếp liên văn hóa; Đường hướng phân tích DN tổng hợp Mặc dù mỗi đường hướng có

hệ thống phương pháp đặc thù, nhưng đều có điểm chung là nhìn nhận ngôn ngữ như công cụ của một quá trình tương tác tạo nghĩa Giao điểm của chúng là giải quyết mối quan hệ giữa cấu trúc và chức năng, giữa văn bản và ngữ cảnh, giữa DN

và giao tiếp Hay nói cách khác, mục đích của chúng đều hướng về phân tích việc

sử dụng hệ thống và chức năng của ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp xã hội trên những cứ liệu ngôn ngữ cụ thể và trong những ngữ cảnh cụ thể

Đỗ Hữu Châu (2000) với bài viết Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ đã đề cập đến

mối liên hệ giữa ngôn ngữ với những yếu tố ngoài ngôn ngữ Hay nói cách khác, đây chính là các yếu tố văn hóa – ngữ cảnh, một nhân tố quan trọng trong quá trình

tìm hiểu và phân tích DN Đặc biệt, trong Giáo trình Đại cương Ngôn ngữ học, Tập hai: Ngữ dụng học (2010), với những kiến thức về ngữ dụng học– liên quan trực

tiếp đến vấn đề sử dụng ngôn ngữ như mối liên hệ giữa ngôn ngữ với ngữ cảnh,

Trang 33

chiến lược giao tiếp, lý thuyết hành động ngôn từ, lý thuyết hội thoại, ý nghĩa tường minh và hàm ngôn, Đỗ Hữu Châu đã cung cấp những kiến thức quan trọng, góp phần định hướng cho vấn đề tiếp cận ngôn ngữ trong giao tiếp

1.4 Lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống và phân tích diễn ngôn chính luận

NPCN được xây dựng dựa trên quan niệm triết học coi ngôn ngữ là một hệ thống giao tiếp của con người Firth (1957) là người đặt nền móng cho lý thuyết NPCNHT và Halliday là người phát triển lý thuyết này Firth cho rằng ngôn ngữ, văn hóa và xã hội phụ thuộc lẫn nhau và ngôn ngữ trước hết là công cụ con người

sử dụng để hành chức trong xã hội Khác với quan điểm của Chomsky (1957) trong

lý thuyết ngữ pháp tạo sinh xem ngôn ngữ là một tập hợp các quy tắc được khái quát hóa độc lập với ngôn cảnh, Firth (1957) khẳng định ngôn ngữ là một bộ phận hữu cơ của ngôn cảnh tình huống trong đó ngôn ngữ được sử dụng

Ngôn cảnh tình huống là thuật ngữ Firth mượn của nhà nhân chủng học Malinowski (1935), người cho rằng ngôn ngữ là công cụ để hành xử và vì vậy ngữ dụng là chức năng cơ bản nhất của ngôn ngữ Theo quan điểm của Firth (1957, tr32) thì ngôn ngữ có thể nghiên cứu đồng thời ở những cấp độ khác nhau, “lúc thì từ cấp

độ cao xuống cấp độ thấp hơn, bắt đầu từ chu cảnh xã hội đến cú pháp và từ vựng rồi đến âm vị và ngữ âm, lúc thì theo chiều ngược lại, từ cấp độ thấp lên cấp độ cao hơn”

Ở chiều ngược lại tức là từ cấp độ thấp lên cấp độ cao hơn, “ngôn cảnh nằm trong ngôn cảnh, mỗi ngôn cảnh thực hiện một chức năng, là một bộ phận hữu cơ của ngôn cảnh rộng lớn hơn và tất cả mọi ngôn cảnh đều nằm trong cái có thể gọi là chu cảnh văn hóa” (Firth, 1957, tr.32) Vì vậy lý thuyết ngôn ngữ của Firth được gọi là chức năng - hệ thống, mà trong đó: văn bản (cấp độ ngôn ngữ) nằm trong Ngôn cảnh tình huống (cấp độ ngoài ngôn ngữ) và Ngôn cảnh tình huống nằm trong Chu cảnh văn hóa (cấp độ ngoài ngôn ngữ) Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa ngôn ngữ và ngôn cảnh thể hiện

ở việc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ và cách diễn đạt ngôn từ để thực hiện một chức năng giao tiếp nào đó Sự lựa chọn này luôn bị ngôn cảnh chi phối Yếu tố ngôn

Trang 34

cảnh lại bị quy định bởi yếu tố văn hóa và xã hội của những người sử dụng ngôn ngữ

1.4.1 Ba siêu chức năng: kinh nghiệm, liên nhân, văn bản

Theo lý thuyết NPCN thì nghĩa là đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất của

ngôn ngữ chứ không phải là dạng thức hay cấu trúc ngôn ngữ như quan niệm của các nhà ngữ pháp tạo sinh Firth (1957) quan niệm nghĩa là “phức hệ tổng thể những chức năng mà một dạng thức ngôn ngữ có thể có” Theo NPCN, ngôn ngữ được dùng để diễn đạt một trong ba loại nghĩa khái quát Thompson (1996) tóm tắt

ba loại nghĩa này như sau:

(i) Chúng ta sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt sự trải nghiệm của mình đối với hiện thực kể cả những hiện thực trong tâm thức, để miêu tả các sự kiện, trạng thái và những thực thể gắn với những sự kiện và trạng thái đó

(ii) Chúng ta cũng sử dụng ngôn ngữ để trao đổi với những người khác, để thiết lập và duy trì các mối quan hệ xã hội với họ, để tác động lên hành vi của họ, để bày

tỏ quan điểm của bản thân về các hiện tượng và sự vật trong đời sống xã hội và thế giới tự nhiên và để tìm hiểu hoặc làm thay đổi quan điểm của người khác về những hiện tượng, sự vật đó

(iii) Cuối cùng khi sử dụng ngôn ngữ, chúng ta tổ chức những thông điệp cần chuyển tải sao cho phù hợp với những thông điệp từ phía người tham gia giao tiếp

và phù hợp với chu cảnh giao tiếp

Ba loại nghĩa trên đây thực chất là ba siêu chức năng của ngôn ngữ: siêu chức năng kinh nghiệm, siêu chức năng liên nhân và siêu chức năng tạo văn bản Ba siêu chức năng này được thực hiện bằng ba kiểu cấu trúc trong mệnh đề theo bảng 1.1 dưới đây:

Trang 35

Bảng 1.1 Bảng Siêu chức năng của ngôn ngữ và kiểu cấu trúc trong mệnh đề

Các trào lưu phân tích DN có cả một lý thuyết về ngữ vực mà xét về số lượng các yếu tố cấu thành, cũng như cách biện giải là hết sức khác nhau, trong đó, phần lớn các tác giả đều xác nhận có 4 yếu tố như: trường, cách thức, quan hệ cá nhân, quan hệ chức năng [1]; trường, cách thức, hình thức, vai trò [2]; chủ đề, nguồn, chủ đích quan hệ, chủ đích thực tế [3] Theo nhiều nhà ngữ pháp học chức năng hệ thống, DN/văn bản trong

sử dụng luôn gắn với ngữ cảnh văn hóa và ngữ cảnh tình huống, còn ngữ cảnh tình huống được đặc trưng cụ thể bằng 3 hay 4 yếu tố, tùy theo quan niệm

Tiểu mục chỉ tập trung giới thiệu lý thuyết ngữ vực của M.A.K Halliday (1978, 1989) và một số quan điểm khoa học cùng trường phái làm nên bộ khung lý thuyết, được vận dụng khá rộng rãi để nghiên cứu không chỉ là đặc điểm ngôn ngữ DN trong hành chức mà còn trên nhiều bình diện khác, và không chỉ bó hẹp trong phạm

Trang 36

vi tiếng Anh Theo M.A.K Halliday (1978, 1989), ngữ vực là một cấu hình nghĩa

có tính chất tiềm năng của văn bản, gắn liền với đặc điểm tình huống, được đặc

trưng bởi trường, thức và quan hệ, có người dịch là không khí

(i) Trường phản ảnh chức năng xã hội, là những gì đang thực sự xảy ra trong

DN, là tính chủ động xã hội được thực hiện, là sự kiện tổng quát mà các tham thể

dự phần vào với một mục đích nhất định Trường thể hiện bản chất tương tác xã hội thông qua chủ đề nhưng như nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra, không nên lẫn lộn trường DN với chủ đề của văn bản, bởi trường có tầm bao quát hơn nhiều

(ii) Thức là vai trò của ngôn ngữ đảm nhiệm trong DN, là cách thức hoạt động

của phương tiện ngôn ngữ, bao gồm tất cả các kênh Các hình thức giao tiếp như nói/viết, giao tiếp qua điện thoại, email, chat, hay ngôn ngữ bộc phát/ ngôn ngữ có chuẩn bị, các cách tu từ, các kiểu loại chức năng như thuyết phục, miêu tả, giáo khoa Nói một cách khái quát, trong tương quan với chức năng của ngữ cảnh, với sự kiện cần diễn đạt, một phương thức ngôn từ tương thích được thể hiện

(iii) Quan hệ hay bầu không khí chỉ ra các vai tham gia, vị thế xã hội, trạng thái

tâm sinh lý, mối quan hệ, các kiểu quan hệ, sự tương tác theo vai, tính bền vững hay nhất thời trong quan hệ của những người tham gia giao tiếp Nói một cách khái quát, ai tham gia giao tiếp và mối quan hệ giữa họ như thế nào, dựa vào các vai xã hội được xác lập này mà có thể đánh giá ngôn ngữ là trang trọng, lịch sự, thân mật hay suồng sã Nói rộng ra, quan hệ hay bầu không khí là nhân tố chi phối nhiều nhất đến cách lựa chọn ngôn ngữ

Các ngữ vực càng được hình dung cụ thể bao nhiêu thì các đặc điểm DN trong

tình huống giao tiếp dễ nhận diện bấy nhiêu, bởi như đã thấy ngữ vực được quyết

định những gì đang xảy ra, ai tham gia vào quá trình ấy và hình thức ngôn ngữ tham gia thế nào Cần thấy, có thể có cùng một ngữ vực, nhưng chỉ cần một trong ba yếu

tố thay đổi thì đặc điểm của DN cũng sẽ khác

Trường thay đổi

Chẳng hạn, cùng là ngữ vực văn hóa, nhưng trường y phục, về mặt tương tác xã

Trang 37

hội sẽ hoàn toàn khác với trường ẩm thực Tuy có thể có chung bầu không khí DN

là mối quan hệ giữa người viết với đông đảo công chúng bạn đọc mà mục đích chung, là đọc văn bản là để tìm hiểu Và cũng có thể có chung thức DN, đó là hình thức viết nhưng chúng không đồng nhất Điều làm nên sự khác biệt là chính là ở trường DN

Thức thay đổi

Chẳng hạn ta có ngữ vực là thể thao, trường DN là bóng đá, bầu không khí chung thân mật, cởi mở giữa vai tường thuật và khán thính giả, nhưng rõ ràng việc tường thuật một trận bóng đá trên TV, với nhiều kênh thể hiện như khẩu ngữ trực tiếp, lại được minh họa bằng kênh thị giác; ngôn ngữ ngắn gọn, xuất hiện nhiều yếu

tố cận ngôn ngữ như cười, chép miệng, xuýt xoa tiếc rẻ… sẽ khác hơn rất nhiều so với kênh chữ viết thuần túy.Ở loại thức sau, người viết phải tốn rất nhiều công sức trong việc tái hiện những diễn biến trên sân cỏ, nhưng bù lại, hình thức chữ viết sẽ tạo ra một biên độ liên tưởng rất rộng.Vả lại, kênh thuần túy chữ viết mà chủ yếu tiếp nhận bằng con đường thị giác (đọc) sẽ hoàn toàn khác với kênh tiếp nhận bằng thính giác (nghe) kết hợp với thị giác (đọc, nhìn)

Quan hệ thay đổi

Cùng chung ngữ vực thị hiếu thẩm mỹ, trường DN được hạn định trong việc ăn mặc, thức là trình bày trực tiếp thông qua hình thức DN nói nhưng rõ ràng sự góp ý của người ái mộ với một ca sĩ, với người mẫu; sự góp ý của thầy cô giáo với các đối tượng học trò của mình; sự góp ý của các bậc phụ huynh với con em mình, là hoàn toàn khác nhau Đó không gì khác là do quan hệ liên nhân quy định Như vậy, xuất phát từ những ngữ vực khác nhau, dựa vào trường, thức và quan hệ, chúng ta không những có thể chỉ ra một số đặc điểm của DN mà còn có thể giải thích được, thậm chí có thể cung cấp một số thủ pháp quan yếu để tạo lập cũng như nhận hiểu DN cho người bản ngữ cũng như người học ngoại ngữ Tuy nhiên sự phân chia bên trên chỉ có ý nghĩa tương đối, nhất là ở đặc điểm về trường Những tri thức về ngữ vực

sẽ được LA phân tích để xem xét cả hai hệ thống DN tiếng Việt và DN Anh - Mỹ

Trang 38

1.4.3 Văn bản và diễn ngôn

(i) Tính đa nghĩa ban đầu của thuật ngữ DN đã quy định và mở rộng thêm ngữ nghĩa của nó Vào những năm 60 Foucault, phát triển tư tưởng của Benveniste, đề xuất cách nhìn của mình đối với mục đích và nhiệm vụ của phân tích DN Theo ý kiến của Foucault và những người kế tục ông, điều quan trọng là xác định lập trường của người nói, nhưng không dựa theo lời PN đã sản sinh, mà theo quan hệ của các chủ thể PN khác nhau thay thế nhau và ý thức hệ mà họ biểu hiện trong ý nghĩa rộng nhất của từ đó Như thế đối với trường phái Pháp, DN là một kiểu PN thuộc về một nhóm xã hội chính trị hay thời đại nhất định gọi là DN giao tiếp Quan niệm của Foucault thống nhất NNH với chủ nghĩa duy vật lịch sử, mặc dù

có sự gần gũi rõ ràng về phương pháp luận, nhưng không tìm được sự đồng tình trong NNH Xô Viết Thêm nữa, cách hiểu DN của ông không phổ biến, mặc dù nó hoàn toàn phù hợp với cách tiếp cận cấu trúc ngữ nghĩa chiếm vị trí chủ đạo trong ngữ học Xô Viết vào những năm đó Trong nửa sau thế kỉ XX đã nảy sinh trong NNH Xô Viết khuynh hướng ngữ pháp/NNH VB Xác định các quy luật NNH của

tổ chức văn bản (Galperin, Moscalskaia, Turaeva …), các nhà ngữ học tất yếu phải

đi đến kết luận về thiếu sót của phương pháp được vận dụng, cũng như sự thiếu chính xác trong thuật ngữ được sử dụng (vấn đề phân biệt câu và PN, văn bản và các đơn vị của nó…) Hơn nữa cách tiếp cận cấu trúc ngữ nghĩa truyền thống không

đủ để giải thích đầy đủ đối với các đặc trưng của văn bản như tính chỉnh thể, tính

LK Tính bất khả trong việc giải thích một cách sơ lược NNH đối với các phạm trù văn bản ấy đã dẫn đến sự phản ứng về các lĩnh vực tri thức giao nhau và hình thành giả thuyết về vai trò cấu tứ của người sáng tạo (Ginkin), hình tượng tác giả (Koltunova) Rõ ràng rằng quan điểm như thế phù hợp với quan điểm của Benveniste về DN như là “lời nói do người nói nhận biết” Nhưng định nghĩa ấy một thời gian dài vẫn không được chú ý đúng mức

Thuật ngữ DN liên tục không được sử dụng như là một trong ba ý nghĩa trung tâm của nó cho đến những năm 80 Truyền thống hậu Xô Viết đã làm sống lại thuật

Trang 39

ngữ đó với nhiều ý nghĩa đến mức đặt các nhà nghiên cứu trước việc xác định và phân biệt các ý nghĩa Đặt ra ngoài cách hiểu về DN như là hiện tượng xã hội được thể hiện trong các công trình hai chục năm gần đây có cội nguồn rõ ràng của các nhà hậu hiện đại chủ nghĩa Pháp, ta chú ý đến tính hai mặt của thuật ngữ trong cách giải thích NNH DN trong các nghiên cứu hiện đại là “lời nói đi sâu vào cuộc sống” (Arutiunova, 1990) và sự vận động của dòng thông tin giữa những người tham gia giao tiếp

Rõ ràng các quan điểm này không loại trừ, mà bổ sung cho nhau: quan niệm về các quá trình sản sinh và hiểu văn bản không thể có được nếu thiếu chỗ dựa của tình huống giao tiếp (tham gia vào cuộc sống) Quan niệm về DN như là quá trình còn dựa vào ý kiến của các nhà nghiên cứu Pháp về vai trò chủ đạo của chủ thể PN DN được hiểu như là tổng hòa các hành động giao tiếp bằng lời nói có ý nghĩa gắn liền với nhận thức, suy nghĩ và quan niệm về thế giới của người nói và sự suy nghĩ, tái kiến tạo bức tranh ngôn ngữ về thế giới của người sản sinh văn bản bởi người tiếp nhận Quan niệm đó nằm trong quỹ đạo cách tiếp cận động đối với ngôn ngữ, để xác định hành động, nhận thức, tái hiện, tái kiến tạo có ý nghĩa then chốt phản ánh đầy đủ sự đa dạng các thao tác phức tạp ở trình độ cao nhất của những người thực hiện giao tiếp

Điểm liên kết các hành động khác hướng, nhưng pha tạp về bản chất của những người tham gia giao tiếp là văn bản Quan điểm DN như là quá trình cho phép phân tích văn bản như là hiện tượng tĩnh tại, một phạm vi của các lực tương tác nhau Cách hiểu văn bản như thế không phải là truyền thống đối với NNH Nga, mặc dù Turaeva (1986) đã nhận xét rằng với tư cách là một thực tại khách quan nhất định, văn bản tồn tại trong những tham số nhất định nằm ngoài ý thức chủ thể của người sáng tạo và người tiếp nhận Với ý nghĩa này văn bản là hệ thống khép kín, mà trạng thái tiêu biểu của nó là tĩnh tại Có tính truyền thống hơn là quan điểm thứ nhất, xem văn bản là sự thực bằng hình thức ngôn ngữ viết và thứ hai, có sự hòa trộn ý nghĩa trực tiếp và ý nghĩa hoán dụ, thuật ngữ “văn bản” dùng để chỉ bộ phận của văn bản So sánh định nghĩa của Galperin (1987): “Văn bản là tác phẩm của

Trang 40

quá trình nói, có tính hoàn tất, khách quan hoá dưới dạng tài liệu viết, được trau chuốt về mặt văn chương phù hợp với loại hình tài liệu; tác phẩm tạo thành bởi tên gọi, và hàng loạt đơn vị đặc thù (thống nhất trên câu), được thống nhất bởi các mối

liên hệ về từ vựng, ngữ pháp, logic, phong cách có khuynh hướng và đích sử dụng

nhất định” Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với cách tiếp cận tĩnh đối với ngôn ngữ, mà đối tượng phân tích của nó, theo nhận xét tinh tế của Serio (1999) là “ngôn ngữ của Adam, lời nói của một kẻ nói ra trong cô độc, không có ký ức”

Sự miêu tả văn bản như một giai đoạn của DN thì sẽ có sức giải thích lớn hơn nếu ta hiểu DN là tổng hòa các hành động suy nghĩ bằng lời của cả hai chủ thể giao tiếp Đồng thời, văn bản với tư cách là một thực tế tồn tại khách quan của hiện thực

có thể được xem như là sản phẩm (kết quả) của DN

Do vậy dù muốn hay không cũng phải nhắc đến tính liên tục tuyến tính của các biểu đạt (âm thanh hay chữ viết) và cả tính gián đoạn khi phân xuất DN thành những yếu tố nhỏ hơn Tính gián đoạn không tùy tiện và không tự sinh đòi hỏi phải xác lập tính LK của văn bản được sản sinh với tư cách là chiến lược tối ưu của người nói: “Theo quan điểm của ngôn ngữ việc tạo nên hình thức lời nói tương đồng có thể được hiểu như là quá trình sản sinh ra PN từ các đơn vị cấu trúc quan

hệ thuộc dãy thấp hơn và sự kết hợp thành các đơn vị lớn hơn, nhờ đó mà con người

có khả năng cố kết và biểu đạt tư tưởng của mình” (Kochanski, 1985, tr 44-45) Tính tất yếu của sự chuyển đổi hình thức được xác định bởi sự không ăn nhập của cấu trúc gián đoạn của quan niệm và các hình thức bề mặt của văn bản, nó gắn liền với sự chuyển đổi cấu tạo của quan niệm tâm trí thành cấu trúc tuyến tính Sự chuyển đổi của quan niệm gián đoạn thành quan niệm LK là điều kiện tất yếu của giao tiếp có kết quả: một văn bản không có LK thì người nhận không thể giải mã đúng được Sự chuyển đổi này diễn ra xuyên qua sự xác lập mối LK toàn bộ và cục

bộ của DN

Các dụng ý của người tạo lập DN trong giai đoạn này dựa trên sự lựa chọn giữa cấu trúc bề mặt tương đồng để biểu đạt các mối LK của các đơn vị liên quan đến

Ngày đăng: 29/06/2023, 22:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm