ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHAN THỊ MỸ NHUNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI NGƯỜI THU GOM RÁC DÂN LẬP TRONG VIỆC TIẾP CẬN CÁC CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHAN THỊ MỸ NHUNG
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI NGƯỜI THU GOM RÁC DÂN LẬP TRONG VIỆC TIẾP CẬN CÁC CHÍNH SÁCH
AN SINH XÃ HỘI (Điển cứu tại Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
TP HỒ CHÍ MINH - 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHAN THỊ MỸ NHUNG
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI NGƯỜI THU GOM RÁC DÂN LẬP TRONG VIỆC TIẾP CẬN CÁC CHÍNH SÁCH
AN SINH XÃ HỘI (Điển cứu tại Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh)
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số : 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS ĐỖ HẠNH NGA
TP HỒ CHÍ MINH - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi (Phan Thị Mỹ Nhung) xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và các kết quả trong nghiên cứu này chưa từng được công
bố trước đây Những kết quả dưới đây đảm bảo về mặt tin cậy và tuân thủ đúng quá trình nghiên cứu
Tác giả luận văn
Trang 4Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS.TS Đỗ Hạnh Nga – người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và động viên tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện luận văn để tôi có động lực cố gắng và phấn đấu hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới những anh chị em là người thu gom rác dân lập tại Quận 4 và Ban chủ nhiệm Nghiệp đoàn thu gom rác Quận 4 Thành phố Hồ Chí Minh, Ban giám đốc Trung tâm Nghiên cứu - Tư vấn CTXH & PTCĐ (SDRC) đã hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu và cho ra kết quả nghiên cứu Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn các bạn đồng nghiệp tại Trung tâm SDRC đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi về chuyên môn cũng như kiến thức để tôi hoàn thành luận văn
Sau cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và những người thân luôn quan tâm, ủng hộ và tạo điều kiện giúp tôi trong suốt quá trình học
Rất mong nhận được đóng góp của Quý Thầy/ Cô và Quý Anh/ Chị học viên.
TP HCM, ngày … Tháng … năm 2021
Tác giả luận văn
Phan Thị Mỹ Nhung
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Bảng danh mục từ viết tắt v
Danh mục bảng biểu vi
Danh mục biểu đồ vii
Danh mục hình vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG VIỆC TIẾP CẬN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI CỦA NGƯỜI THU GOM RÁC DÂN LẬP 15
1.1 Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 15
1.1.1 Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow 15
1.1.2 Lý thuyết hệ thống sinh thái 17
1.1.3 Lý thuyết học tập xã hội của Albert Bandura 19
1.2 Một số khái niệm chính trong nghiên cứu 20
1.2.1 Nhóm 20
1.2.2 Công tác xã hội 22
1.2.3 Công tác xã hội nhóm 22
1.2.4 Chính sách sách an sinh xã hội 25
1.2.5 Người thu gom rác dân lập 26
1.2.6 Người thu gom rác dân lập tiếp cận với chính sách an sinh xã hội 29
1.3 Cơ sở pháp lý liên quan đến chính sách dành cho người thu gom rác
dân lập 29
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến người thu gom rác dân lập trong việc tiếp cận chính sách an sinh xã hội 30
1.4.1 Các yếu tố chủ quan 30
1.4.2 Các yếu tố khách quan 32
Tiểu kết chương I 36
Trang 6CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHÓM VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGƯỜI THU GOM RÁC TRONG VIỆC TIẾP CẬN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI TẠI QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH 37
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 37
2.2 Chân dung của người thu gom rác dân lập Quận 4, TP HCM 39
2.3 Thực trạng hoạt động nhóm của người thu gom rác dân lập trong việc tiếp cận các chính sách an sinh xã hội 42
2.3.1 Thực trạng hoạt động nhóm tại Nghiệp đoàn rác Quận 4 42
2.3.2 Thực trạng tiếp cận các chính sách an sinh xã hội của người thu gom rác dân lập 47
2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến người thu gom rác dân lập trong việc tiếp cận chính sách an sinh xã hội 49
2.4.1 Các nhân tố chủ quan 49
2.4.2 Các nhân tố khách quan 52
Tiểu kết chương II 61
CHƯƠNG III ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI NGƯỜI THU GOM RÁC DÂN LẬP NHẰM GIÚP NGƯỜI THU GOM RÁC TIẾP CẬN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI 62
3.1 Áp dụng phương pháp công tác xã hội nhóm 62
3.1.1 Mục tiêu và nhiệm vụ can thiệp 62
3.1.2 Kế hoạch can thiệp cụ thể 63
3.2 Các giai đoạn tiến hành 67
3.2.1 Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm 67
3.2.2 Giai đoạn bắt đầu hoạt động nhóm 69
3.2.3 Giai đoạn can thiệp 75
3.2.4 Giai đoạn kết thúc 92
3.3 Đánh giá kết quả mô hình CTXH nhóm với người thu gom rác dân lập trong việc tiếp cận chính sách an sinh xã hội 94
Tiểu kết chương III 102
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107 PHỤ LỤC
Trang 7BẢNG DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 Thời gian làm công việc thu gom rác phân theo độ tuổi 41
Bảng 2 Thực trạng tham gia các nhóm và tổ chức xã hội của người thu gom rác 42
Bảng 3 Mức độ tham gia của người thu gom rác vào các hoạt động của nghiệp đoàn/ nhóm 43
Bảng 4 Lý do không tham gia BHYT, BHXH tự nguyện và Bảo hiểm tai nạn 48
Bảng 5 Nhận thức về thủ tục tham gia các chính sách an sinh xã hội 48
Bảng 6 Các bệnh thường gặp ở người thu gom rác dân lập 50
Bảng 7 Đánh giá mức độ cần thiết của trang thiết bị bảo hộ lao động 56
Bảng 8 Người thu gom rác mua trang thiết bị bảo hộ lao động 57
Bảng 9 Mức độ sử dụng trang thiết bị bảo hộ lao động khi đi làm việc 58
Bảng 10 Người thu gom rác nhận được sự hỗ trợ trong 12 tháng vừa qua 59
Bảng 11 Kế hoạch can thiệp 63
Bảng 12 Danh sách nhóm và đặc điểm của nhóm Tự giúp Quận 4 71
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1 Giới tính 39
Biểu đồ 2 Dân tộc 39
Biểu đồ 3 Trình độ học vấn 40
Biểu đồ 4 Độ tuổi của người thu gom rác 40
Biểu đồ 5 Kế hoạch hoạt động của Nghiệp đoàn 44
Biểu đồ 6 Lý do tham gia nghiệp đoàn 45
Biểu đồ 7 Lợi ích khi tham gia nhóm Nghiệp đoàn 45
Biểu đồ 8 Cảm nhận của NTGRDL khi tham gia nhóm Nghiệp đoàn 46
Biểu đồ 9 Mối quan hệ giữa các thành viên trong nghiệp đoàn 46
Biểu đồ 10 NTGRDL có tham gia loại bảo hiểm nào không? 47
Biểu đồ 11 Sức khỏe hiện tại của người thu gom rác dân lập 50
Biểu đồ 12 Công việc có ảnh hưởng đến sức khỏe của NTGRDL 51
Biểu đồ 13 Tình trạng hôn nhân gia đình 52
Biểu đồ 14 Tình trạng cư trú 53
Biểu đồ 15 Số ngày làm việc trong tháng 54
Biểu đồ 16 Phương tiện thu gom rác hiện nay 55
DANH MỤC HÌNH Hình 1 Tháp nhu cầu của Abraham Maslow 15
Hình 2 Mô hình hệ thống an sinh xã hội tại Việt Nam 26
Hình 3 Qui trình thu gom rác thải sinh hoạt và vận hành của hai lực lượng công lập và dân lập 27
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 1/6/2012 của Ban chấp hành Trung ương Đảng
về “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012- 2020” khẳng định: “Đến năm
2020 cơ bản hình thành hệ thống an sinh xã hội (ASXH) bao phủ toàn dân với các yêu cầu: bảo đảm để người dân có việc làm, thu nhập tối thiểu; tham gia bảo hiểm xã hội, bảo đảm hỗ trợ những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn” Trong những năm qua Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể ở Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) đã có nhiều nỗ lực to lớn, đầu tư nguồn lực, đổi mới cơ chế, chính sách trong việc thực hiện chính sách ASXH và không ngừng cải thiện cuộc sống của người dân thành phố
Tuy nhiên, tại thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn một lực lượng người vẫn chưa được tiếp cận những chính sách này, đó là nhóm người thu gom rác dân lập - là lực lượng lao động đặc thù của TP HCM, là cánh tay nối dài của lực lượng thu gom rác công lập, lực lượng thu gom rác dân lập đóng vai trò quan trọng trong công cuộc làm sạch thành phố, thu gom 60% trong tổng số 9.000 tấn rác mỗi ngày (theo kết quả báo
cáo của Sở Tài Nguyên & Môi Trường TP HCM, Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức,
sắp xếp lại lực lượng thu gom rác dân lập, 2020) Tuy nhiên, phần lớn người thu gom
rác dân lập chưa được tiếp cận đầy đủ và công bằng với chính sách an sinh xã hội Khác với người thu gom rác công lập, người thu gom rác dân lập phải tự trang trải tất
cả các chi phí từ trang bị phương tiện làm việc, chi phí nhiên liệu, bảo hộ lao động…Người thu gom rác dân lập lao động trong khu vực phi chính thức, không thuộc đối tượng của Bộ luật lao động, do đó việc tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH), bào hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm tai nạn còn “khá xa vời” Hơn nữa, phần lớn người thu gom rác dân lập là những người di cư từ các tỉnh khác đến sinh sống, cuộc sống gặp nhiều khó khăn về kinh tế; chủ yếu làm việc theo gia đình và có mối quan hệ khép kín trong mạng lưới những người thu gom rác khác Bên cạnh đó, TP HCM cũng đã tạo điều kiện cho người dân tạm trú trên địa bàn TP HCM tham gia tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản như việc học của trẻ, hộ dân có sổ tạm trú được tham gia BHYT… nhưng người thu gom rác dân lập cũng chưa nắm được thông tin và gặp
Trang 11nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, khó đảm bảo tiếp cận đầy đủ an sinh xã hội
Xuất phát từ những vấn đề mà NTGRDL đang gặp phải và việc thiếu các nghiên cứu ứng dụng phương pháp CTXH nhóm làm việc trong lĩnh vực an sinh xã hội cho những người thu gom rác dân lập Đặc biệt, nguồn lực nhân viên CTXH sử dụng phương pháp Công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ NTGRDL tại TP HCM
là chưa có người nào quan tâm, vì thế người nghiên cứu lựa chọn đề tài: “Công tác
xã hội nhóm với người thu gom rác dân lập trong việc tiếp cận các chính sách an sinh xã hội: Điển cứu tại Quận 4, TP HCM”
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Thu gom rác là nghề không thể thiếu được ở bất kỳ thị trấn, thành phố nào trên thế giới Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội, chính sách an sinh xã hội ở từng quốc gia mà người làm nghề thu gom rác có thể có điều kiện và mức sống khác nhau Tuy nhiên, các nghiên cứu ở các nước kém phát triển hay ở các nước phát triển như châu
Âu đều cho thấy đa số người làm nghề thu gom rác đều là người lao động di dân Dưới đây là một số nghiên cứu có liên quan đến nghề nghiệp thu gom rác và chính sách an sinh xã hội ở một số nước trên thế giới
Khi trả lời câu hỏi: “Ai làm nghề thu gom rác tại Châu Phi?” Brenda Chalfin (2019) đã chỉ ra rằng nghề rác thường là những người sống trong khu vực làm rác, với độ tuổi khoảng từ 14, 15 cho đến 25, 26 tuổi Việc làm nghề thu gom rác cũng phản ánh phần nào bối cảnh kinh tế - xã hội của người đó khi quyết định làm nghề Bên cạnh đó, nguồn lợi từ việc thu gom rác có chất lượng cũng có ảnh hưởng đến thu nhập của người thu gom rác và cách thức thu gom rác Trong đó, việc thu gom rác và phân loại rác để bán kiếm thêm thu nhập sẽ giúp người thu gom rác tiết kiệm tiền để
có thể trở về quê nhà Bên cạnh được hưởng lợi từ những lợi ích về kinh tế từ rác, người thu gom rác cũng bị ảnh hưởng từ môi trường làm việc đến sức khỏe và mắc một số rối loạn do tính chất đặc thù của nghề mang lại Nghề làm rác cũng tạo nên một thị trường mang tính đảo nghịch Đó là việc mang rác trở lại đời sống xã hội Một điều đáng chú ý là người thu gom rác sẽ thu gom một lượng lớn các chai lọ và
Trang 12sẽ giúp chúng tái sử dụng lại nhiều lần nữa theo nhiều cách khác nhau Thêm vào đó, thông qua rác, NTGRDL cũng có thể xác định được tình trạng kinh tế - xã hội của một hộ gia đình: “Chúng tôi có thể thấy chúng từ những nhà giàu” Có thể nói rác trở thành một biểu tượng mà ở đó người thu gom rác dân lập có thể xác định bối cảnh kinh tế - xã hội của một người khác
Trong phần tóm tắt sách: “Waste and wealth: an ethnography of labor, value, and morality in a vietnamese recycling economy” của Minh T.H Nguyen, Zsuzsa Gille (2019) cho thấy tác giả đã vẽ nên một bức tranh về rác ảnh hưởng như thế nào đối với đời sống của người làm nghề thu gom rác Nguồn lợi có được từ việc thu gom rác thải đã làm biến đổi đời sống của những người làm nghề này Thu nhập có được
từ thu gom rác đã đó giúp đỡ cho gia đình, quê hương của họ Bên cạnh đó, nghiên cứu cho rằng thông qua những câu chuyện kể, những người thu gom rác cũng cho rằng nghề của họ là cần thiết và có ích cho xã hội
Theo Valeria Bonatti và Zsuzsa Gille (2019), nghiên cứu về thu gom rác ở châu Âu thì cho rằng việc phủ xanh những đô thị tại Châu Âu đã khiến cho công việc thu gom rác trở thành một thị trường lao động cho những người phụ nữ di cư Bởi lẽ
cư dân tại những đô thị Châu Âu cho rằng đây là loại công việc lương thấp và rất ô nhiễm nên họ không chọn làm nghề này Những người di cư thường phải chọn làm việc trong môi trường độc hại, bất bình đẳng và thu nhập lại ít so với ngành nghề khác của những cư dân sống tại cộng đồng địa phương
Cùng với đó là hai tác giả Jacob Doherty và Kate Brown (2019) cho rằng công việc thu gom rác rất vất vả và bấp bênh Nghề thu gom rác làm ảnh hưởng đến cả thể chất lẫn cuộc sống của những người lao động Bãi rác là nguồn gốc của một số bệnh lý, đám cháy, sạt lở và những vấn đề khác về điều kiện sinh sống - người làm rác thường sống xa những khu vực dân cư khác Bãi rác là nơi thường xảy ra một số vấn
đề an ninh xã hội khác như là: tội phạm, bạo lực, cờ bạc và nơi bỏ trẻ sơ sinh Tuy nhiên, những núi rác ấy lại cung cấp một loại hỗ trợ linh động cho những cư dân xung quanh đó bằng việc thu nhặt và tái chế rác thải để sử dụng hoặc buôn bán… so với việc làm công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp, họ kiểm soát được thời gian và địa điểm làm việc, nơi có thể buôn bán đồ mà họ thu lượm được một cách tự do
Trang 132.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Công tác xã hội nhóm với người thu gom rác dân lập trong việc tiếp cận các chính sách an sinh xã hội là đối tượng nghiên cứu còn khá mới mẻ ở Việt Nam Các
đề tài nghiên cứu nổi bật có thể chia thành 2 nhóm chính, nhóm các đề tài nghiên cứu
về phương pháp công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ các nhóm yếu thế và nhóm các đề tài nghiên cứu về người thu gom rác trong tiếp cận chính sách an sinh xả hội
Các nghiên cứu về phương pháp CTXH nhóm trong hỗ trợ các nhóm yếu thế:
Trong những năm gần đây, phương pháp CTXH nhóm được ứng dụng trong việc hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực cho các nhóm yếu thế trong xã hội, đặc biệt được
sử dụng nhiều trong việc hỗ trợ giao tiếp cho trẻ tự kỷ, giảm thời gian chơi game online đối với những trẻ nghiện game thông qua việc làm việc và tương tác với nhau trong nhóm, hay tăng khả năng tự tin của những người khiếm thị, chia sẻ kinh nghiệm
và nâng cao năng lực cho các chị phụ nữ khi tham gia các nhóm tiết kiệm tín dụng… Nhưng các đề tài nghiên cứu ứng dụng phương pháp CTXH nhóm hiện tại rất ít, có thể kể đến các đề tài “ Kỹ năng Công tác xã hội nhóm của sinh viên ngành CTXH” trong luận án Tiến sĩ của tác giả Hà Thị Thư, Học Viện Khoa Học Xã Hội (2012) Trong đề tài này tác giả quan tâm đến các Kỹ năng CTXH nhóm của sinh viên và khả năng vận dụng các kiến thức, kỹ năng của họ – những người sẽ trở thành NVXH trong tương lai trong việc tổ chức giao tiếp, thúc đẩy tiến trình nhóm và điều phối nhóm nhằm giúp các thành viên trong nhóm có cơ hội được tương tác lẫn nhau, chia sẻ những mối quan tâm để thực hiện mục tiêu chung của nhóm Những kỹ năng quan trọng đảm bảo cho hiệu quả hoạt động của CTXH nhóm là nhóm kỹ năng tổ chức, giao tiếp tốt, nhóm kỹ năng thúc đẩy tiến trình nhóm và nhóm kỹ năng điều phối nhóm
Ba luận văn thạc sĩ về đề tài ứng dụng mô hình công tác xã hội nhóm đối với trẻ mồ côi tại các làng SOS của các tác giả Đỗ Thị Huyền Trang (2015), Nguyễn Thị Lan Anh (2014) và tác giả Hoàng Thị Loan (2017) cho thấy việc ứng dụng mô hình CTXH nhóm đối với trẻ trong các cơ sở bảo trợ và điều trị nghiệm game online tại trường trung học cơ sở Gia Hòa, huyện Gia Vĩnh, tỉnh Ninh Bình đã chỉ ra rằng CTXH nhóm có hiệu quả trong quá thực tiễn Qua các buổi sinh hoạt và trao đổi với các bạn
Trang 14trong nhóm, trẻ đã dần tự tin và hòa nhập hơn với các trẻ trong làng cũng như các trẻ bạn tại cộng đồng và giảm dần bớt thời gian chơi game Trong cả ba luận văn trên các tác giả đều áp dụng tiến trình CTXH nhóm theo 4 giai đoạn đó là:
- Giai đoạn 1: Giai đoạn chuẩn bị và thành lập
- Giai đoạn 2: Nhóm bắt đầu hành động
- Giai đoạn 3: Tập trung can thiệp
- Giai đoạn 4: Lượng giá và kết thúc
Và điều này cũng đi đúng theo các lý thuyết về CTXH nhóm đã được Lê Hải Thanh (2011) trình bày trong giáo trình Công tác xã hội đại cương Giai đoạn chuẩn
bị và thành lập nhóm gồm những hoạt động sau: Xác định mục đích hỗ trợ nhóm; Đánh giá khả năng thành lập nhóm, Thành lập nhóm; Định hướng cho các thành viên trong nhóm; Thỏa thuận nhóm; Chuẩn bị môi trường; Viết đề xuất nhóm Giai đoạn nhóm bắt đầu hoạt động: Giới thiệu các thành viên trong nhóm; Làm rõ mục đích hỗ trợ nhóm của NVXH; Xây dựng mục tiêu của nhóm; Thảo luận nguyên tắc nhóm; Giúp các thành viên cảm nhận họ là một phần của nhóm; Định hướng phát triển nhóm; Khích lệ thành viên đạt được mục tiêu; Dự đoán những khó khăn và cản trở Giai đoạn thực hiện nhiệm vụ: Chuẩn bị các cuộc họp nhóm; Chia sẻ thông tin; Thu hút
sự tham gia, tăng cường năng lực cho các thành viên; Điều phối, tìm kiếm nguồn lực; Giải quyết xung đột; Đưa ra những quyết định hiệu quả; Hiểu về sự phân chia quyền lực của nhóm; Theo dõi và lượng giá; Giải quyết vấn đề Giai đoạn kết thúc: Lượng giá; Kết thúc, giải quyết những cảm xúc của các thành viên, giảm sự phụ thuộc vào nhóm, duy trì, phát huy những nỗ lực thay đổi, lập kế hoạch hành động cho tương lai
Các đề tài nghiên cứu về người thu gom rác trong tiếp cận chính sách an sinh
xã hội:
Kết quả khảo sát cơ bản “Người thu gom rác dân lập tại Thành phố Hồ Chí Minh - Chính sách, thực trạng và nhận thức về an sinh xã hội, an toàn vệ sinh lao động” do Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ phối hợp với SDRC thực hiện năm
2017 Kết quả khảo sát cho thấy Người thu gom rác dân lập có một vai trò quan trọng trong hệ thống thu gom rác thải nói chung Lực lượng rác dân lập đảm nhiệm vai trò thu gom đến 60% lượng rác thải tại Thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiêngần 1/3 người
Trang 15thu gom rác dân lập có tiền công không đủ đảm bảo cho cuộc sống tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong khi họ phải làm việc trong môi trường độc hại và thời gian làm việc cao hơn so với nhiều ngành nghề khác Phương tiện thu gom chưa đảm bảo an toàn
vệ sinh lao động, an toàn tính mạng cho người lao động
Phần lớn người thu gom rác dân lập là người nhập cư chiếm 62% Những người từ các vùng miền khác nhau đến thành phố và công việc này được truyền từ đời ông bà, cha mẹ, anh chị cho đến con cháu ngày nay Một số khác là do quen biết
và thành viên trong gia đình, dòng họ Người thu gom rác dân lập nhận thức được mức độ ảnh hưởng của việc thu gom rác đến sức khoẻ của bản thân nhưng chưa chú ý đến việc chăm sóc sức khoẻ như kiểm tra sức khoẻ định kỳ, tham gia BHYT, BHXH
tự nguyện Lý do phần lớn là họ chưa được tiếp cận đầy đủ thông tin về các chính sách an sinh xã hội, chưa được tham gia các buổi truyền thông về BHYT, BHXH
Báo cáo khảo sát “Người thu gom rác dân lập và người tái chế phế liệu ở TP.HCM: Thực trạng kinh tế - xã hội và việc tiếp cận bảo trợ xã hội - nghiên cứu ở 7 quận: 4, 5, 6, 10, 11, Bình Thạnh, Gò Vấp” do Viện Khoa học xã hội Vùng Nam bộ phối hợp với tổ chức Enda thực hiện, năm 2012 Qua kết quả khảo sát người thu gom rác cho thấy người thu gom rác dân lập và người tái chế ở 7 quận tại TP.HCM hàng ngày tiếp xúc với môi trường làm việc với mức độ ô nhiễm cao nhưng lại không sử dụng thường xuyên dụng cụ bảo hộ lao động như quần áo bảo hộ lao động Do đó, người thu gom rác dân lập và người tái chế có nguy cơ gặp nhiều rủi ro ảnh hưởng đến sức khoẻ, mắc các loại bệnh thông thường như cảm cúm, dịch sốt, bệnh lao phổi , dễ gặp rủi ro về tai nạn giao thông… Trong khi đó, phần lớn mọi người đều không có BHYT, BHXH, Bảo hiểm tai nạn Nguyên nhân chính là do người thu gom rác dân lập và người tái chế chưa có nhận thức cao về chăm sóc sức khỏe và kiểm tra sức khỏe định kỳ Bên cạnh đó, họ chưa nhận được sự hỗ trợ từ các cấp chính quyền địa phương, cấp quản lý và các tổ chức phi chính phủ
Với hai báo cáo trên đều cho chúng ta thấy người thu gom rác dân lập chưa tham gia các loại bảo hiểm để có thể bảo vệ cho bản thân và gia đình, việc thiếu thông tin về các chính sách an sinh xã hội là một trong những lý do khiến người thu gom rác không tham gia các chính sách an sinh xã hội
Trang 16“Chân dung và tâm thế hành xử của một nhóm người thu gom rác dân lập tại Thành phố Hồ Chí Minh đến từ Long An” Đề tài cấp cơ sở thuộc Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội, chủ nhiệm đề tài Thạc sĩ Nguyễn Thị Nhung, năm 2020 Đề tài nghiên cứu ở nhiều chiều cạnh như văn hóa, xã hội, kinh tế để người thu gom rác có cái nhìn nhận đúng về những điều mà người thu gom rác đóng góp cho phát triển kinh
tế xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh Đề tài đã khái quát được lịch sử hình thành nhóm người thu gom rác là người sinh sống tại Long An, đặc điểm về học vấn, tình trạng gia đình, cách tiếp cận với nghề thu gom rác và chiến lược kinh tế của nhóm đối tượng này Bên cạnh đó đề tài cũng đề cập đến tâm thế ứng xử của người thu gom rác với đồng nghiệp, chủ nguồn thải, và đóng góp của họ đối với địa phương cư trú
và chính quyền nơi họ làm việc
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy người làm nghề thu gom rác phần nào đã nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội trong và ngoài nước Tuy nhiên những công trình nghiên cứu ở Việt Nam mới chỉ là những nghiên cứu bước đầu, tìm hiểu thực trạng đời sống kinh tế - xã hội cũng như nhận thức của NTGRDL về các chính sách an sinh
xã hội Chưa có đề tài nghiên cứu nào tiếp cận NTGRDL với góc nhìn của công tác
xã hội nhằm tìm ra những biện pháp phù hợp để giúp họ tiếp cận các chính sách an sinh xã hội Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu “Công tác xã hội nhóm với người thu gom rác dân lập trong việc tiếp cận các chính sách an sinh xã hội (điển cứu tại Quận
4, TP Hồ Chí Minh” đã được thực hiện
3 Ý nghĩa của nghiên cứu
Ý nghĩa khoa học:
Đề tài góp phần bổ sung vào cơ sở lý luận trong việc quản lý và hỗ trợ người thu gom rác dân lập nói chung và ngành CTXH trong lĩnh vực CTXH nhóm với NTGRDL trong việc tiếp cận các chính sách an sinh xã hội Những dữ liệu trong nghiên cứu này cung cấp cho các nhà nghiên cứu trong tương lai phát triển cách tiếp cận làm việc với nhóm đối tượng là người thu gom rác dân lập Bên cạnh hoàn thiện phương pháp CTXH nhóm, cũng như các kỹ năng tiếp cận và hỗ trợ NTGRDL
Trang 17Ý nghĩa thực tiễn
Đối với ngành CTXH, luận văn chia sẻ những kinh nghiệm thực tiễn về quá trình thực hiện nghiên cứu và kết quả nghiên cứu đánh giá hiệu quả của CTXH nhóm với người thu gom rác dân lập, nhằm giúp ngành CTXH tiếp cận với đối tượng này
và nâng cao chất lượng dịch vụ của ngành CTXH
Đối với nhân viên xã hội, luận văn bổ sung vào phương pháp tiếp cận CTXH nhóm với người thu gom rác dân lập cũng như chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn khi sử dụng phương pháp CTXH nhóm với NTGRDL Bên cạch đó, quá trình nghiên cứu cũng là cơ hội cho nhân viên CTXH tích lũy kinh nghiệm cho bản thân cũng như định hướng nghề nghiệp trong tương lai
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cán bộ quản lý cũng như những người làm chính sách hỗ trợ, giúp đỡ NTGRDL trong việc tiếp cận các chính sách ASXH Nhằm đạt được mục tiêu hệ thống an sinh xã hội bao phủ toàn dân Từ
đó có những cải tiến, điều chỉnh chính sách cho phù hợp với tình hình thực tế Bên cạch đó luận văn có thể cung cấp một số thông tin hỗ trợ cho các Ban ngành đoàn thể trong công tác nâng cao năng lực, vận động tuyền truyền về các chính sách an sinh
xã hội cho người thu gom rác dân lập
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng sinh hoạt nhóm, các khó khăn và nhân tố ảnh hưởng đối với người thu gom rác dân lập trong việc tiếp cận các chính sách an sinh
xã hội tại Quận 4 Thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó vận dụng phương pháp công tác xã hội nhóm và các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động của CTXH nhóm giúp cho người thu gom rác dân lập dễ dàng tiếp cận các chính sách an sinh xã hội
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về công tác xã hội, công tác xã hội nhóm, người thu gom rác dân lập, chính sách an sinh xã hội
Trang 18- Tìm hiểu thực trạng sinh hoạt nhóm, các khó khăn và nhân tố ảnh hưởng đối với người thu gom rác dân lập trong việc tiếp cận các chính sách an sinh xã hội tại Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh
- Vận dụng CTXH nhóm và đánh giá tính hiệu quả của CTXH nhóm đối với NTGRDL trong việc tiếp cận các chính sách ASXH
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả các hoạt động của công tác xã hội nhóm nhằm giúp người thu gom rác dân lập dễ dàng tiếp cận các chính sách an sinh
xã hội
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác xã hội nhóm đối với người thu gom rác dân lập trong việc tiếp cận các chính sách an sinh xã hội tại Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh
- Về nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng công tác xã hội nhóm
và các yếu tố ảnh hưởng đối với người thu gom rác dân lập trong việc tiếp cận các chính sách an sinh xã hội, đề xuất các biện pháp hỗ trợ người thu gom rác và áp dụng phương pháp công tác xã hội nhóm nhằm nâng cao năng lực của người thu gom rác dân lập trong việc tiếp cận các chính sách ASXH
7 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đặt ra, đề tài tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Người thu gom rác dân lập gặp khó khăn như thế nào khi tiếp cận các chính sách ASXH?
Trang 19- Người thu gom rác dân lập sinh hoạt nhóm tại Nghiệp đoàn như thế nào? Có những thuận lợi và khó khăn nào?
- Ứng dụng phương pháp CTXH nhóm có thể hỗ trợ người thu gom rác dân lập nâng cao khả năng tiếp cận các chính sách ASXH ra sao?
8 Giả thuyết nghiên cứu
- Người thu gom rác dân lập ít có cơ hội tham gia các hoạt động nhóm, tổ chức
xã hội nên không tiếp cận được các thông tin và gặp khó khăn trong việc tiếp cận các chính sách ASXH
- Việc ứng dụng phương pháp CTXH nhóm để thành lập các nhóm Tự giúp nhằm giúp NTGRDL tham gia vào tổ nhóm để sinh hoạt, trao đổi thông tin, nâng cao năng lực và tiếp cận với chính sách ASXH tốt hơn
9 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp công tác xã hội nhóm như sau:
9.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Mục đích: Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng để thu nhập các
số liệu liên quan đến thực trạng công tác xã hội nhóm của người thu gom rác dân lập, những thuận lợi và khó khăn trong quá trình tiếp cận các chính sách ASXH được thực hiện đối với người thu gom rác dân lập tại Quận 4 trước khi tham gia nhóm Tự giúp
và sau khi tham gia nhóm Tự giúp
Nội dung: Xây dựng một bảng câu hỏi cấu trúc gồm 37 câu hỏi nhằm thu thập
thông tin về thực trạng của người thu gom rác dân lập và những thuận lợi, khó khăn trong việc tiếp cận các chính sách ASXH trước và sau khi tham gia vào nhóm
Phương pháp: Sử dụng một bảng câu hỏi cấu trúc để thu thập thông tin của 67
người thu gom rác dân lập về thực trạng của người thu gom rác dân lập và những thuận lợi, khó khăn trong việc tiếp cận các chính sách ASXH trước và sau khi tham gia vào nhóm
Kỹ thuật xử lý số liệu bằng thống kê toán: Nhằm xử lý các thông tin thu được
từ nghiên cứu định lượng, tác giả đã sử dụng phần mềm chuyên dụng SPSS 22.0
để nhập, mã hóa và phân tích số liệu
Trang 209.2 Phương pháp nghiên cứu định tính
9.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Mục đích: Sử dụng phương pháp này giúp người nghiên cứu hoàn thiện được
cơ sở lý luận của đề tài, làm tiền đề cho việc xây dựng bảng hỏi khảo sát, bảng phỏng vấn sâu và nghiên cứu thực tiễn
Nội dung: Nghiên cứu tài liệu nhằm thu thập thông tin qua các tài liệu văn bản,
giúp chúng ta xem xét các thông tin có sẵn như các chính sách an sinh xã hội hiện nay, các báo cáo của các cơ quan ban ngành có liên quan, các bài viết, bài báo, các báo cáo nghiên cứu liên quan đến hoạt động của người thu gom rác dân lập
Phương pháp: Trong quá trình nghiên cứu, người nghiên cứu tiến hành thu
thập tài liệu, thông tin từ các công trình nghiên cứu khoa học trước đây Các công trình nghiên cứu này được đăng trên một số sách, báo và tạp chí có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài; thông tin từ mạng Internet; các văn bản và báo cáo của Nhà nước và các sở ban ngành liên quan đến chủ đề liên quan đến đề tài nghiên cứu Căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, người nghiên cứu tiến hành phân tích tài liệu theo từng nhóm nội dung: lý luận về công tác xã hội, công tác
xã hội nhóm, đặc điểm tâm sinh lý và xã hội của người thu gom rác dân lập, thuận lợi
và khó khăn của người thu gom rác dân lập trong việc tiếp cận các chính sách ASXH, thực trạng và nhu cầu cần hỗ trợ để tiếp cận các chính sách ASXH của người thu gom rác dân lập
9.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Mục đích: Thu thập thông tin về những thay đổi khi tham gia nhóm Tự giúp Nội dung: Những thay đổi về kiến thức, thái độ và hành vi về ASXH, BHYT,
ATVSLĐ trước và sau khi tham gia sinh hoạt với nhóm Tự Giúp
Phương pháp: Phỏng vấn Ban chủ nhiệm nghiệp đoàn rác thu gom rác (1 chủ
nhiệm nghiệp đoàn) để tìm hiểu thực trạng, vấn đề của người thu gom rác, các hoạt động của nghiệp đoàn đối với các thành viên và những lợi ích của nghiệp đoàn đối với người thu gom rác
Trang 219.2.3 Phương pháp quan sát
Mục đích: Đánh giá thái độ tự tin và hành vi ứng xử cũng như thực hiện các
biện pháp bảo hộ lao động
Nội dung: Qua quan sát khi sinh hoạt nhóm và trong công việc làm hằng ngày
nhằm quan sát những hành động, hành vi ứng xử và thái độ hàng ngày cũng như hành
vi, thái độ khi tham gia sinh hoạt nhóm của nhóm người thu gom rác, việc thực hiện
sử dụng mang bảo hộ lao động khi làm việc, bên cạnh đó, NVXH còn sử dụng phương pháp quan sát để đánh giá mức độ tự tin, năng lực của người thu gom rác dân lập sau mỗi buổi sinh hoạt nhóm Từ đó giúp NVXH điều chỉnh, bổ sung kế hoạch sau từng buổi can thiệp nhằm đạt được mục tiêu cụ thế của tiến trình hoạt động
Phương pháp: Sử dụng công cụ sơ đồ tương tác để nhận biết thái độ tự tin và
sự tham gia của các thành viên Quan sát bằng mắt thường về trang phục bảo hộ lao động, sử dụng phương tiện khi làm việc
9.2.4 Câu chuyện thành công/ câu chuyện về sự thay đổi
Mục đích: Tìm hiểu những thay đổi của bản thân, gia đình về điều kiện sống
và điều kiện làm việc và tiếp cận các chính sách An sinh xã hội
Nội dung: Những yếu tố nào đã hỗ trợ bản thân người thu gom rác dân lập và
gia đình tiếp cận với chính sách ASXH và thuận lợi, khó khăn và bài học kinh nghiệm
Phương pháp: Sử dụng bản câu hỏi phỏng vấn sâu có kết hợp với công cụ trục
thời gian để tìm hiểu những điểm thay đổi trước và sau khi tham gia vào nhóm của 2 nhân vật
9.3 Thực nghiệm phương pháp công tác xã hội nhóm:
Mục đích: Nâng cao năng lực cho các thành viên nhóm, thảo luận nhóm với
nhóm Tự giúp về kết quả việc áp dụng phương pháp CTXH nhóm cho NTGR
Nội dung: Đánh giá tìm hiểu việc vận dụng các kỹ năng như kỹ năng tổ chức,
điều phối buối sinh hoạt nhóm, kỹ năng truyền đạt các kiến thức chung về ASXH cho NTGR và kết quả tham gia các chính sách ASXH của NTGR
Phương pháp: Tổ chức các hoạt động của nhóm (nhóm gồm 10 thành viên)
với 10 buổi sinh hoạt nhóm về các nội dung liên quan đến an sinh xã hội Thông qua việc cung cấp kiến thức và sự tương tác giữa các nhóm viên sẽ giúp các thành viên
Trang 22trong nhóm có thêm kiến thức, tự tin chia sẻ các kiến thức cho những người thu gom rác khác
10 Kết cấu luận văn
Trên cơ sở nội dung và hướng nghiên cứu, đề tài được chia theo bố cục như sau:
MỞ ĐẦU
Phần mở đầu trình bày lý do chọn đề tài, tổng quan nghiên cứu; mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu; đối tượng – khách thể nghiên cứu; phạm vi nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu; ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG VIỆC TIẾP CẬN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI CỦA NGƯỜI THU GOM RÁC DÂN LẬP
1.1 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2 Các khái niệm chính sử dụng trong nghiên cứu
1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến CTXH nhóm với người thu gom rác dân lập trong việc tiếp cận chính sách an sinh xã hội
1.4 Cơ sở pháp lý liên quan đến chính sách dành cho người thu gom rác dân lập
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHÓM VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGƯỜI THU GOM RÁC DÂN LẬP TRONG VIỆC TIẾP CẬN CÁC CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI TẠI QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.2 Khách thể nghiên cứu
2.3 Thực trạng hoạt động nhóm của người thu gom rác dân lập trong việc tiếp cận
các chính sách an sinh xã hội
2.3.1 Thực trạng hoạt động nhóm tại Nghiệp đoàn rác Quận 4
2.3.2 Thực trạng tiếp cận các chính sách an sinh xã hội của người thu gom rác
dân lập
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng với người thu gom rác trong việc tiếp cận các chính sách
an sinh xã hội
Trang 23CHƯƠNG III: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM GIÚP NGƯỜI THU GOM RÁC DÂN LẬP TIẾP CẬN CÁC CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI
3.1 Áp dụng phương pháp công tác xã hội nhóm
3.1.1 Kế hoạch can thiệp dự kiến
3.1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ can thiệp
3.1.3 Thời gian và kế hoạch can thiệp cụ thể
3.2 Hoạt động thực hiện can thiệp
3.2.1 Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm
3.2.2 Giai đoạn nhóm bắt đầu hoạt động
3.2.3 Giai đoạn can thiệp
Trang 24CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG VIỆC TIẾP CẬN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI
CỦA NGƯỜI THU GOM RÁC DÂN LẬP
1.1 Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.1.1 Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
Abraham Maslow (1908-1970) là một nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ– Maslow, nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950 Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần
Theo tác giả, các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc theo thứ tự từ thấp đến cao, cụ thể như sau:
Hình 1 Tháp nhu cầu của Abraham Maslow
(Nguyễn Thị Minh Hằng và Trần Thành Nam – Nguyễn Bá Đạt – Nguyễn Ngọc
Diệp (2016), Giáo trình Tâm lý học lâm sàng, NXB.ĐHQG Hà Nội).
Nhu cầu sinh học
Tôi muốn được sống, hít thở, ăn uống ngủ
Nhu cầu an toàn
Tôi muốn cảm giác an toàn và ổn định
Nhu cầu xã hội
Tôi muốn yêu và được yêu, được tham gia cộng đồng
Nhu cầu tự trọng
Tôi muốn là ngườ có ích và được tôn trọng
Tự khẳng định
Tôi muốn làm việc mình thích
Trang 25Nhu cầu sinh lý: Bao gồm nhu cầu về thức ăn, nước uống, quần áo, nhà ở, nghỉ
ngơi, thỏa mãn về tình dục… Đây là nhu cầu cơ bản nhất để duy trì cuộc sống của con người Nếu những nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con người sẽ không thể tiến thêm ở bậc nhu
cầu tiếp theo
Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh: Được sống trong một môi trường an toàn,
không nguy hiểm đến cuộc sống, công việc hàng ngày, an toàn nghề nghiệp, an toàn được sống trong một môi trường có lợi cho sự phát triển của con người Nếu nhu cầu
an toàn không được đảm bảo thì con người khó có thể thực hiện được các nhu cầu cơ bản, từ đó dẫn đến các nhu cầu khác sẽ không được thực hiện
Nhu cầu xã hội: Do con người là một thành viên của xã hội nên họ có các nhu
cầu giao tiếp, nhu cầu về sự yêu thương và chia sẻ Họ không muốn cô đơn, bị bỏ ra ngoài lề xã hội, họ luôn mong muốn được hòa nhập, được tham gia và thuộc vào một nhóm nào đó Nhu cầu này giúp con người thấy được ý nghĩa và giá trị của cuộc sống
Nó có vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi cá nhân trong xã hội
Nhu cầu được tôn trọng: Mỗi cá nhân đều có lòng tự trọng và mong muốn
được người khác tôn trọng, thừa nhận giá trị của bản thân Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muốn giành được lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện
Nhu cầu tự hoàn thiện: Đây được coi là bậc nhu cầu cao nhất trong cách phân
cấp về nhu cầu của Maslow Mỗi một cá nhân đều có nhu cầu được phát triển trí tuệ, được thể hiện khả năng và tiềm lực của mình
Vận dụng thuyết nhu cầu của A Maslow vào nghiên cứu này giúp chúng ta thấy rằng: làm công việc không an toàn, trong môi trường không an toàn và không được xã hội đánh giá cao đã làm cho những người thu gom rác dân lập chấp nhận cuộc sống hiện tại và không nghĩ đến những nhu cầu cao hơn Qua thuyết nhu cầu của A Maslow chúng ta có thể đề xuất các hoạt động CTXH nhóm sẽ tạo cơ hội cho những người thu gom rác dân lập tham gia vào các hoạt động nhóm như cùng thảo luận, trao đổi, chia sẻ quan điểm, kinh nghiệm trong công việc… sẽ giúp bản thân
Trang 26người thu gom rác dân lập có cảm giác được thuộc về một nhóm Đây là nhu cầu ở bậc phân cấp thứ ba của con người trong năm bậc thang nhu cầu mà A Maslow xây dựng Nhu cầu này đứng sau nhu cầu cơ bản (ăn, mặc, ở) và nhu cầu an toàn Việc thỏa mãn nhu cầu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với những người thu gom rác dân lập Bởi vì trong cuộc sống hàng ngày, người thu gom rác dân lập thường cảm thấy công việc họ làm là thấp kém, không có nghề gì thì mới đi làm rác nên thường
có cảm giác tự ti, e ngại khi tiếp xúc với những người khác, nên các chính sách hay các thông tin có liên quan đến các chính sách an sinh xã hội họ thường không quan tâm, đi làm về chỉ việc ăn và ngủ, rảnh hơn thì có thể tụ tập bạn bè ăn nhậu chứ không quan tâm đến xã hội Vì vậy, khi tham gia vào nhóm những người thu gom rác dân lập có cùng nhu cầu, mục đích sẽ cảm nhận được mình là một phần của nhóm Cùng với sự tương tác qua lại giữa các thành viên trong nhóm với nhau không những sẽ tạo
ra sự gắn bó trong nhóm mà còn tạo ra sự gắn bó giữa mỗi thành viên với nhau Đồng thời sự tương tác qua lại đó giúp các các anh chị hỗ trợ nhau cùng giải quyết vấn đề,
từ đó người thu gom rác dân lập cảm thấy bản thân mình quan trọng và có giá trị
Trong giai đoạn khảo sát cá nhân, tác giả vận dụng thuyết nhu cầu này để có thể tìm hiểu về nhu cầu của người thu gom rác dân lập, xem xét các yếu tố nào ảnh hưởng tới việc được đáp ứng nhu cầu, đặc biệt là các nhu cầu thể lý (sức khỏe), và các nhu cầu tâm lý xã hội như được yêu thương, được thừa nhận, được tôn trọng, cảm giác an toàn, được phát triển hoàn thiện Trong một số trường hợp, thân chủ không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu cơ bản thì NVCTXH có thể kết nối họ với các nguồn lực trong cộng đồng để có thể hỗ trợ tiếp cận chính sách và đáp ứng được các nhu cầu cao hơn
1.1.2 Lý thuyết hệ thống sinh thái
Theo John Pardeck (1996), Marry Ellen Richmond – người khai sinh ngành nghề CTXH tại Mỹ ở những năm đầu của thế kỷ XX - nhấn mạnh rằng môi trường
xã hội đóng vai trò ảnh hưởng đến chức năng xã hội của con người Mặc dù, lý thuyết của ngành CTXH trong một thời kỳ nhất định chịu ảnh hưởng của quan điểm phân tâm học (Tôn Nữ Ái Phương, 2017) nhưng một nhãn quan “con người trong môi trường” (quan điểm của lý thuyết hệ thống sinh thái) vẫn có tầm ảnh hưởng quan
Trang 27trọng đối với việc thực hành CTXH cá nhân, nhóm hay cộng đồng (John Pardeck, 1996) Theo từ điển bách khoa toàn thư của đại học Standford (2005), thuật ngữ “sinh thái học” lần đầu tiên được nhà động vật học Ernst Haeckel vào năm 1866 Học thuyết
hệ thống sinh thái của lý thuyết thực hành CTXH được bắt nguồn từ lý thuyết hệ thống tổng quát do Luwig von Bertalanffy (1971) tổng hợp từ các quan điểm lý thuyết
từ tâm lý học, xã hội học, quản trị và sinh vật học… (Lê Thị Mỹ Hiền và Tôn Nữ Ái Phương, 2012) Dựa trên nền tảng quan điểm của Bertalanffy, sự phát triển của lý thuyết hệ thống sinh thái được Gitterman và Germain phát triển thành mô hình ứng dụng trong việc thực hành công tác xã hội (Huỳnh Minh Hiền, 2013) Theo John Pardeck (1996), lý thuyết hệ thống sinh thái làm cho NVCTXH sẽ có cái nhìn thực hành không chỉ đơn giản là can thiệp hệ thống vi mô (micro-system) mà còn hướng đến can thiệp hệ thống vĩ mô (macro-system) điều đó bao gồm việc NVCTXH không chỉ hỗ trợ cho thân chủ ở phương diện tâm lý (như một số lý thuyết về nhu cầu hay phân tâm học) mà còn ở các khía cạnh khác như chính sách, biện hộ và kế hoạch phát triển Bên cạnh những lý luận chung về lý thuyết hệ thống sinh thái như khái niệm hệ thống, vòng phản hồi, các hệ thống vi – trung – vĩ mô… Trong luận văn này, chúng tôi đề cập đến quan điểm hệ thống sinh thái dựa trên quan điểm của Urie Bronfenbrenner về ảnh hưởng của lý thuyết hệ thống sinh thái đối với sự phát triển của con người Urie Bronfenbrenner (1974) nhấn mạnh rằng có đa hệ thống ảnh hưởng đến sự phát triển của một con người và ông chia thành năm nhóm hệ thống bao gồm:
+ Hệ thống vi mô (micro-system): được xem là hệ thống gần gũi sẽ ảnh hưởng đến cá nhân như là cha mẹ, anh chị em, thầy cô và bạn… Sự tương tác này thường ảnh hưởng cũng như có thể thay đổi niềm tin của một cá nhân Sự tương tác ở hệ thống vi mô thường mang tính rất cá nhân
+ Hệ thống trung mô (meso-system): có thể được hiểu là những tương tác giữa những hệ thống vi mô tương tác với nhau xung quanh cá nhân đó như là: sự tương tác của cha mẹ với anh chị trong gia đình, sự tương tác của cha mẹ với nhóm bạn của
cá nhân đó… một cách hiểu khác hệ thống trung mô chính là hệ thống của hệ thống
vi mô
Trang 28+ Hệ thống ngoại vi (exo-system): là sự hợp nhất của các cấu trúc xã hội chính thức hay phi chính thức mà ở đó không hẳn ảnh hưởng trực tiếp đối với cá nhân đó nhưng mà hệ thống này lại có thể ảnh hưởng đến một hay nhiều hệ thống trung mô
Có thể lấy ví dụ như là hàng xóm, nơi làm việc của cha mẹ, truyền thông xã hội…
+ Hệ thống vĩ mô (macro-system): được xem như là cách mà các hệ thống xã hội – văn hóa xã hội tạo nên một bối cảnh xã hội ảnh hưởng lên trên cá nhân: lịch sử, chính trị, văn hóa, vị thế xã hội, nghèo đói, dân tộc…
Từ những quan điểm trong lý thuyết hệ thống sinh thái, tác giả sử dụng lý thuyết này để có thể tìm hiểu được tính chất phức tạp của những hệ thống ảnh hưởng lên trên NTGRDL không chỉ là những nhu cầu xuất phát từ bên trong như hệ thống các cấp lớn hơn ảnh hưởng đến người thu gom rác dân lập như là hệ thống chính sách, bảo hiểm xã hội, bối cảnh gia đình của người thu gom rác dân lập
1.1.3 Lý thuyết học tập xã hội của Albert Bandura
Đồng quan điểm với những nhà hành vi học, Albert Bandura (1977) cũng cho rằng con người là những gì mà người ta hành động Vì thế, Bandura không phủ nhận hai loại điều kiện hóa cơ bản trong lý thuyết hành vi: điều kiện hóa cổ điển và điều kiện hóa thao tác Tuy nhiên, Bandura lại nhấn mạnh đến các điểm chính sau:
- Hành vi được học ở từ môi trường từ cả quá trình học tập thông qua quan sát (Observational learning process) và quá trình điều tiết (Medicating process)
- Hành vi cũng được học và bắt chước thông qua quá trình mà những người xung quanh cá nhân đó thực hiện hoặc phản ứng lại với cá nhân đang quan sát
và chú ý
Quá trình học tập thông qua quan sát (Observational learning process) Quá trình này được Bandura đề cập đến vào năm 1961 có tên là “thực nghiệm búp bê Bobo” Cá nhân sẽ quan sát những mô hình mẫu và sau đó một thời gian cá nhân sẽ nhập tâm và thực hành lại những điều mà cá nhân đó quan sát được Bên cạnh đó, những người xung quanh cá nhân đó sẽ có những phản ứng khi xảy ra có thể là khen hoặc trừng phạt nhưng là một điều kiện mà trẻ sẽ tiếp tục thực hiện hành vi cũng như quá trình học tập thông qua quan sát những hành vi tương tự Khen thưởng hay trừng
Trang 29phạt đều có tính chất tích cực lẫn tiêu cực và quá trình này sẽ làm cho việc “đồng hóa” diễn ra và nhập tâm những hành vi, giá trị và niềm tin từ bên ngoài
Quá trình điều tiết Lý thuyết học tập xã hội (đặc biệt là quá trình điều tiết hành vi) được xem như là “chiếc cầu nối” giữa lý thuyết hành vi và lý thuyết nhận thức Bởi vì quá trình chú ý tập trung vào việc yếu tố tâm trí đã tham gia vào quá trình học tập Quá trình chú ý theo Bandura có một giai đoạn:
- Chú ý (Attention): Bandura cho rằng cá nhân cần phải chú ý đến hành vi và hệ quả của nó và hình thành sự học tập bên trong tâm trí Chú ý dẫn đến quá trình quan sát học tập và trước khi quyết định những hành vi quan trọng ảnh hưởng đến những điều khác trước khi bắt chước theo
- Nhớ - khắc ghi (Retention): Cách mà hành vi được ghi nhớ lại như thế nào Điều nay có nghĩa là hành vi có thể được chú ý nhưng không có nghĩa là sẽ được nhớ nếu như chúng không được quan sát để cá nhân đó bắt chước lại
- Quá trình tái sản sinh hành vi – Thực hiện hành vi (Reproduction): Đây là khả năng mà cá dân thực hiện lại hành vi mà mình chú ý và khắc ghi được Trong quá trình này, cá nhân đó cũng sẽ xem xét cách mà những cá nhân khác phản ứng lại với hành vi vừa thực hiện để từ đó quyết định hành vi đó
- Quá trình động lực hóa (Motivation): Bandura cho rằng quá trình học hỏi xã hội không chỉ dừng lại bằng việc “học” mà còn là “làm” Thêm vào đó, ông cũng cho rằng cá nhân chỉ thực hiện hành vi nếu như có động lực Động lực
đó có thể đến từ bên trong hoặc cũng có thể là do bên ngoài Đặc biệt là những
người làm gương có uy tín
Sử dụng lý thuyết học tập xã hội của Bandura, tác giả có thể nhận biết và tìm hiểu NTGRDL đã “học hỏi” những hành vi nào trước đây, như là những ảnh hưởng của các chính sách, quan điểm về nghề nghiệp và phản ứng của người thu gom rác dân lập trước những chính sách ASXH
1.2 Một số khái niệm chính trong nghiên cứu
1.2.1 Nhóm
Trong cuộc sống của con người ai cũng là thành viên của một hay nhiều nhóm
đa dạng khác nhau như gia đình, bạn bè, nhóm làm việc Có nhiều định nghĩa khác
Trang 30nhau về nhóm Theo quan điểm cổ điển thì “Một nhóm được định nghĩa như là hai hay nhiều người có tương tác với một người khác theo cách mỗi một người đều ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng bởi mỗi người khác” (Từ điển Xã hội học, trang 299)
Theo quan điểm xã hội học đưa ra “Nhóm là một hệ thống xã hội mà mối quan
hệ ý nghĩa của nó được xác định qua những quan hệ thành viên trực tiếp và phân tán cũng như qua tính bền lâu tương đối” (Từ điển Xã hội học, trang 299)
Dưới góc độ nhìn nhận của các nhà tâm lý học, nhóm được xem là chủ thể các hiện tượng tâm lý xã hội, ở đây các hiện tượng tâm lý xã hội hình thành, phát triển và diễn ra hết sức phức tạp
Nhóm là tập hợp những con người có hành vi tương tác với nhau trên cơ sở những kỳ vọng chung có liên quan đến lối ứng xử của người khác, bao gồm một số
vị trí và vai trò để thực hiện các mục tiêu chung và riêng, thỏa mãn các nhu cầu cá nhân
Có mối quan hệ tác động qua lại thông qua giao tiếp, có ảnh hưởng đến nhau: Đây là sự đồng thuận về các công việc và cách phối hợp kỹ năng cá nhân và trọng tâm vào kết quả của nhóm Như vậy, cả nhóm (không phải chỉ là một vài thành viên) cùng làm việc với nhau theo cách thống nhất để tạo ra kết quả chung cho cả nhóm Đây cũng là yếu tố dẫn dắt kết quả nhóm
Sinh hoạt theo những qui tắc riêng: Cần có nội qui do chính những người trong nhóm xây dựng và thống nhất để đạt được mục tiêu của nhóm
Mỗi thành viên đều có một hoặc nhiều vai trò nhất định tùy theo tình huống: không nhất thiết các thành viên trong nhóm đều phải có những vai trò nhất định, có thành viên lúc đầu ở vai trò này nhưng có những thời gian khác lại có những vai trò khác, Trong quá trình làm việc cần trang bị thêm các kỹ năng cần thiết trong quá trình
Trang 31làm việc Trong khi làm việc nhóm họ sẽ được phát triển và rèn luyện kỹ năng cần thiết như Kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề; Kỹ năng tương tác với người khác
Trong đề tài này, nhóm được sử dụng để truyền đạt thông tin, thay đổi hành
vi, người ta dễ bắt chước những người đồng lứa, đồng cảnh, vì thế thay vì làm việc với từng cá nhân thì NVXH nên tác động vào tiến trình làm việc nhóm Là môi trường
để tạo sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm, điều này sẽ giúp mọi người gần
gũi, dễ dàng giao tiếp, tạo sự tự tin và hình thành các vai trò, vị trí trong nhóm
Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các
cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn
đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội (Bùi Thị Xuân Mai, 2010)
Tóm lại, công tác xã hội là nghề cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, giúp đỡ những người yếu thế, người có hoàn cảnh khó khăn và những người bị đẩy ra ngoài xã hội
Sứ mạng của công tác xã hội là nỗ lực hành động nhằm giảm thiểu những rào cản trong xã hội, sự bất công và bất bình đẳng Nghề công tác xã hội góp phần giải quyết những vấn đề xã hội liên quan đến đời sống của từng cá nhân, từng nhóm nhỏ và cộng đồng những người yếu thế
1.2.3 Công tác xã hội nhóm
Nguyễn Ngọc Lâm (2005) cho rằng: “Phương pháp công tác xã hội nhóm là một phương pháp của ngành công tác xã hội giúp cho những cá nhân tăng cường chức năng xã hội của họ thông qua các kinh nghiệm của nhóm mục tiêu và khắc phục một cách hiệu quả hơn các vấn đề của cá nhân, nhóm, cộng đồng”
Trang 32Theo Konopka (1963) xác định phương pháp công tác xã hội nhóm là một
phương pháp của nghành công tác xã hội giúp những cá nhân tăng cường chức năng
xã hội của họ thông qua các kinh nghiệm của nhóm mục tiêu và khắc phục một cách
hiệu quả hơn các vấn đề của cá nhân, nhóm và cộng đồng Công tác xã hội nhóm tạo
bối cảnh trong đó các cá nhân hỗ trợ lẫn nhau, làm cho cá nhân và nhóm có khả năng
ảnh hưởng và làm thay đổi các vấn đề của cá nhân, của nhóm, của tổ chức và của
cộng đồng
Theo hai tác giả Toseland và Rivas (1998) định nghĩa: “Công tác xã hội nhóm
là hoạt động có mục đích với các nhóm nhiệm vụ và trị liệu nhỏ nhằm đáp ứng nhu
cầu tình cảm xã hội và hoàn thành nhiệm vụ Hoạt động này hướng trực tiếp tới cá
nhân các thành viên trong nhóm và tới toàn thể nhóm trong một hệ thống cung cấp
dịch vụ” Theo định nghĩa này hoạt động có mục đích là hoạt động hướng đến một
sự thay đổi nào đó của nhóm, có kế hoạch Hoạt động có định hướng không chỉ với
các cá nhân thành viên trong nhóm mà với cả toàn tập thể nhóm
Trong đề tài này, phương pháp công tác xã hội nhóm được áp dụng với nhóm
người thu gom rác dân lập (NTGRDL) với mục đích giúp tăng cường kiến thức về
ASXH, tăng số lượng người tiếp cận với chính sách ASXH, tự tin mạnh dạn chia sẻ
kiến thức về ASXH cho những người thu gom rác khác, cũng cố chức năng xã hội của
cá nhân thông qua tiến trình CTXH nhóm mà trong đó nhóm NTGRDL được thành
lập, sinh hoạt thường kỳ dưới sự điều phối của tác viên (tác giả của đề tài chính là
tác viên) và trưởng nhóm, các thành viên được tạo cơ hội và môi trường có các hoạt
động tương tác lẫn nhau, chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung, tham
gia vào các hoạt động nhóm nhằm đạt được tới mục tiêu chung của nhóm và hướng
đến giải quyết những mục đích của cá nhân thành viên giải tỏa những vấn đề khó khăn
1.2.3.1 Mục tiêu của Công tác xã hội nhóm
Theo Nguyễn Thị Thái Lan (2012), mục tiêu của CTXH bao gồm: Khảo sát
các đặc điểm của cá nhân để phát hiện nhu cầu, khả năng của mỗi cá nhân; Hỗ trợ và
thay đổi cá nhân; Cung cấp thông tin, giáo dục các kiến thức, kỹ năng xã hội và Thay
Trang 33đổi nhận thức xã hội, giúp tăng cường nhận thức của cá nhân và xã hội về một vấn
đề
Đề tài này tác giả cũng xây dựng các mục tiêu cần đạt khi thực hiện CTXH nhóm với NTGRDL bao gồm: 1) Khảo sát các đặc điểm của NTGRDL thông qua các buổi sinh hoạt nhóm, từ đó phát hiện nhu cầu, khả năng và hành vi của mỗi cá nhân Khám phá này giúp tác giả xây dựng chiến lược để đáp ứng nhu cầu cho NTGRDL, giúp họ chuyển đổi hành vi trong việc mua BHYT, BHTN; 2) Hỗ trợ cá nhân - giúp NTGRDL tham gia vào nhóm, Nghiệp đoàn rác tại Quận 4 nhằm giúp họ cảm thấy
an toàn hơn; 3) Thay đổi cá nhân - nhóm có tác dụng giúp cá nhân thay đổi hành vi mua BHYT, BHTN và tiến đến thay đổi nhân cách qua các yếu tố kiểm soát xã hội giúp cá nhân có năng lực đối phó khó khăn trong cuộc sống thông qua cung cấp thông tin, giáo dục kiến thức an toàn vệ sinh lao động, BHYT, BHXH tự nguyện, BHTN và
kỹ năng giao tiếp, tự nhận thức bản thân
1.2.3.2 Tiến trình của Công tác xã hội nhóm trong hỗ trợ người thu gom rác dân lập tiếp cận an sinh xã hội
Tiến trình CTXH nhóm là quá trình tương tác hỗ trợ giữa các thành viên của nhóm đối tượng/ thân chủ nhằm đạt các mục tiêu và nhiệm vụ của nhóm Tác giả Nguyễn Thị Thái Lan (2012), phân chia tiến trình CTXH nhóm theo bốn giai đoạn gồm: Bước 1 Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm; Bước 2 Giai đoạn nhóm bắt đầu hoạt động; Bước 3 Giai đoạn can thiệp/ thực hiện nhiệm vụ; và Bước 4 Giai đoạn kết thúc
Như vậy, tiến trình CTXH nhóm trong hỗ trợ NTGRDL tiếp cận ASXH cũng được tác giả thực hiện qua bốn giai đoạn như trên, cụ thể:
Bước 1: Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm được tác giả thực hiện từ việc tiếp cận và chọn lọc 10 thành viên từ 67 NTGRDL tham gia khảo sát về nhu cầu tham gia nhóm
Bước 2: Giai đoạn nhóm bắt đầu hoạt động Đây là giai đoạn 10 thành viên nhóm bắt đầu có những buổi sinh hoạt chung nhằm thực hiện các nhiệm vụ xây dựng bầu không khí và nội quy sinh hoạt, xây dựng mục tiêu nhóm và thỏa thuận về công việc của nhóm
Trang 34Bước 3: Giai đoạn can thiệp/ thực hiện nhiệm vụ Là giai đoạn triển khai các hoạt động hỗ trợ cá nhân, nhóm hoàn thành nhiệm vụ và mục tiêu đặt ra Tác giả đóng vai trò điều phối các hoạt động nhóm để hỗ trợ NTGRDL đạt mục tiêu thay đổi hành
vi, tiếp cận được ASXH (gồm BHYT, BHTN, an toàn vệ sinh lao động)
Bước 4: Giai đoạn kết thúc Đây là giai đoạn các thành viên nhóm tự lượng giá về mục tiêu nhóm đạt được, các nhiệm vụ của nhóm viên hoàn thành ra sao Từ
đó, xây dựng chiến lược phát triển nhóm trong Nghiệp đoàn rác tại Quận 4
1.2.4 Chính sách sách an sinh xã hội
Có nhiều định nghĩa về an sinh xã hội, cụ thể gồm:
Theo Ngân hàng Thế giới: “ASXH là những biện pháp của chính phủ nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy
cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập”
Theo ILO: “ASXH là một sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong Cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình nạn nhân có trẻ em ”
Theo tác giả Mai Ngọc Cường (2009): “Để thấy hết được bản chất, an sinh xã
hội phải tiếp cận theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp; theo nghĩa rộng, an sinh xã hội là
sự bảo đảm thực hiện các quyền để con người được an bình, bảo đảm an ninh, an toàn trong xã hội; theo nghĩa hẹp, nó là sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập do
họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai địch hoạ”
Tóm lại, an sinh xã hội là hệ thống các chính sách can thiệp của Nhà nước và cộng đồng nhằm giảm mức độ nghèo đói và tổn thương, nâng cao năng lực tự bảo vệ của người dân và xã hội trước những rủi ro hay nguy cơ giảm hoặc mất thu nhập, bảo đảm ổn định, phát triển và công bằng xã hội
Trang 35Hình 2 Mô hình hệ thống an sinh xã hội tại Việt Nam
(Nguồn: Viện Khoa học Lao động và Xã hội (ILSSA) và GIZ, 2003 Phát
triển hệ thống ASXH ở Việt Nam đến năm 2020) 1.2.5 Người thu gom rác dân lập
Trên địa bàn TP HCM tồn tại hai hệ thống dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt:
dịch vụ công ích và dịch vụ dân lập; trong đó 60% lượng rác thải sinh hoạt do lực
lượng thu gom rác dân lập thu gom
“Dịch vụ thu gom rác dân lập là những việc làm về thu gom rác do dân tự làm
để được trả công, không hưởng lương và các chế độ phụ cấp của Nhà nước”, và “Lực
lượng làm dịch vụ thu gom rác dân lập là lực lượng hình thành tự phát trong nhân
dân, gồm những người làm các việc dịch vụ thu gom rác dân lập” (Khoản b, điều 1,
Chương I, Quyết định 5424/1998/QĐ-UB-QLĐT, ngày 15/10/1998, về việc ban hành
Quy chế về tổ chức và hoạt động của lực lượng làm dịch vụ thu gom rác dân lập trên
địa bàn thành phố)
Dịch vụ thu gom rác được thu gom ở những hộ dân, khu vực dân cư, chợ, cửa
hàng, cơ sở sản xuất kinh doanh, trường học, cơ quan… những nơi mà lực lượng vệ
Trang 36sinh công ích công cộng của quận, huyện chưa thu gom Dịch vụ thu gom rác dân lập được xem là “cánh tay nối dài” của dịch vụ công ích Lực lượng dân lập đóng vai trò
hỗ trợ tích cực, giúp thu gom khối lượng rác tại nguồn, bên trong khu dân cư với các tuyến hẻm nhỏ, đưa rác ra đến điểm trung chuyển/ điểm hẹn để bàn giao lại cho lực lượng công ích vận chuyển đến các trạm ép rác
Quy trình thu gom rác thải sinh hoạt và vận hành của hai lực lượng công lập
và dân lập:
Hình 3: Qui trình thu gom rác thải sinh hoạt và vận hành của hai lực lượng
công lập và dân lập
(Nguồn: Nguyễn Thị Minh Châu, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, 2017)
Đặc điểm nghề thu gom rác dân lập:
Dịch vụ thu gom rác dân lập được thu gom ở những hộ dân, khu vực dân cư, chợ, cửa hàng, cơ sở sản xuất kinh doanh, trường học, cơ quan… những nơi mà lực lượng vệ sinh công ích công cộng của quận, huyện chưa thu gom Dịch vụ thu gom
Trang 37rác dân lập được xem là “cánh tay nối dài” của dịch vụ công ích Lực lượng dân lập đóng vai trò hỗ trợ tích cực, giúp thu gom khối lượng rác tại nguồn, bên trong khu dân cư với các tuyến hẻm nhỏ, đưa rác ra đến điểm trung chuyển/ điểm hẹn để bàn giao lại cho lực lượng công ích vận chuyển đến các trạm ép rác
Lực lượng thu gom rác dân lập tại Thành phố Hồ Chí Minh là đối tượng đặc thù chỉ có tại Thành phố Hồ Chí Minh Lực lượng này hỗ trợ cho lực lượng Công ích trong việc thu gom rác tại các hộ dân trong hẻm nhỏ mà lực lượng Công ích không thể thu gom hết Theo báo cáo kết quả nghiên cứu của SDRC & Oxfam (2017, trang 14-16) cho thấy hiện nay trên toàn Thành phố Hồ Chí Minh có 922 tổ lấy rác dân lập, chưa kể những trường hợp người thu gom rác dân lập hoạt động tự do
Để có thể quản lý đối tượng này, thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều văn bản hướng dẫn như Quyết định 5424/1998/QĐ-UB-QLĐT về việc ban hành bản quy chế
về tổ chức và hoạt động của lực lượng làm dịch vụ thu gom rác dân lập Theo quy định này, UBND Phường là đơn vị quản lý điều hành chung nhưng do tính chất công việc kiêm nhiệm của cán bộ phụ trách, với đặc thù của dịch vụ thu gom rác dân lập như tình trạng “da beo”, tự phát lâu đời, nên thực chất công tác quản lý không sâu sát với hoạt động của NTGRDL Phường chỉ nắm danh sách để điều động họp khi cần thiết, phát một bộ quần áo BHLĐ và có quà vào dịp Tết, ngoài ra toàn bộ các hoạt động khác đều do NTGRDL tự lo, đặc biệt họ không tham gia ký hợp đồng lao động, không có chế độ BHYT, BHTN
Song song đó, Liên Đoàn lao động Thành phố cũng có triển khai hoạt động thúc đẩy những NTGRDL tham gia Nghiệp đoàn thu gom rác Do tính chất là tổ chức
xã hội, ban chấp hành Nghiệp đoàn không có chức năng tham gia điều hành hoạt động thu gom rác, hoạt động của các Nghiệp đoàn viên hoàn toàn mang tính cá thể, từ việc trang bị phương tiện làm việc, sắp xếp thời gian lấy rác, thu phí vệ sinh và nơi đổ rác
Như vậy, NTGRDL được tiếp cận trong đề tài này là những lao động làm thuê không có hợp đồng lao động, không được thụ hưởng các phúc lợi xã hội như những lao động chính thức hay những lao động tự làm chủ ở quy mô cá thể/ hộ gia đình
Trang 381.2.6 Người thu gom rác dân lập tiếp cận với chính sách an sinh xã hội
Người thu gom rác dân lập làm dịch vụ thu gom rác cho những hộ gia đình,
cửa hàng, công ty và được các chủ nguồn thải trả công, là lực lượng hình thành tự
phát trong nhân dân không hưởng lương và các chế độ phụ cấp của Nhà nước
Từ những lý luận ở trên, đề tài xây dựng khái niệm người thu gom rác dân lập
trong việc tiếp cận các chính sách an sinh xã hội là: Người thu gom rác dân lập tiếp
nhận thông tin, có hiểu biết kiến thức về các chính sách về an sinh xã hội, mức độ
tham gia và những khó khăn trong việc thụ hưởng các chính sách an sinh xã hội, từ
đó có sự thay đổi nhận thức và thực hiện được việc tham gia mua BHYT hộ gia đình,
bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm tai nạn
1.3 Cơ sở pháp lý liên quan đến chính sách dành cho người thu gom rác dân lập
Lực lượng thu gom rác dân lập tại Thành phố Hồ Chí Minh là đối tượng đặc
thù chỉ có tại Thành phố Hồ Chí Minh Lực lượng này hỗ trợ cho lực lượng Công ích
trong việc thu gom rác tại các hộ dân trong hẻm nhỏ mà lực lượng Công ích không
thể thu gom hết Để có thể quản lý đối tượng này, Thành phố Hồ Chí Minh đã có
nhiều văn bản hướng dẫn như Quyết định 5424/1998/QĐ-UB-QLĐT về việc ban
hành bản quy chế về tổ chức và hoạt động của lực lượng làm dịch vụ thu gom rác dân
lập Trong bản quy chế có nêu rõ định nghĩa về người thu gom rác và những công
việc mà lực lượng này phải làm Quy chế cũng quy định về tổ chức và hoạt động của
lực lượng làm dịch vụ thu gom rác dân lập, nhằm đưa lực lượng này đi vào hoạt động
theo sự quản lý thống nhất của Nhà nước góp phần vào việc tăng cường biện pháp
giữ gìn trật tự vệ sinh đô thị
Theo bản quy chế này, lực lượng thu gom rác dân lập là do dân tự làm để được
trả công và không được hưởng lương và các chế độ phụ cấp của nhà nước Điều này
có nghĩa là lực lượng thu gom rác dân lập là người lao động tự do và tự chịu trách
nhiệm trong việc bảo vệ an toàn khi làm việc trong môi trường độc hại
Quyết định 37/2009/QĐ-UBND ngày 19/05/2009 về cấm và hạn chế xe cơ
giới ba bánh và xe thô sơ ba, bốn bánh lưu hành trong khu vực nội đô và trên các
quốc lộ thuộc địa bàn TP HCM:
Trang 39Đối tượng sử dụng xe cơ giới 3 bánh và xe thô sơ ba, bốn bánh tự chế (trừ trường hợp xe cho người tàn tật) thường là người nghèo và sử dụng phương tiện này chủ yếu để kiếm thu nhập như vận chuyển hàng, vật liệu xây dựng đặc biệt một số lượng khá lớn được sử dụng trong công tác thu gom rác tại nguồn, vì vậy việc giới hạn phạm vi và thời gian hoạt động như quy định đã gây rất nhiều khó khăn cho một bộ phận khá lớn lao động là người nghèo, trong đó có lực lượng thu gom rác
Các chính sách liên quan đến an sinh xã hội:
Hiện chưa có các chính sách ASXH dành riêng cho người thu gom rác nên việc thực hiện còn rất hạn chế, một vài hợp tác xã dịch vụ môi trường được thành lập ban đầu có đóng bảo hiểm y tế cho xã viên từ nguồn thu phí quản lý, và chỉ hỗ trợ một phần, tuy nhiên vẫn không thể duy trì vì phí quản lý không cao nên các xã viên sẽ phải tự tham gia bảo hiểm y tế tại nơi cư trú Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm tai nạn chưa được quan tâm đến vì năng lực hạn chế của HTX và thủ tục giải quyết khi bị tai nạn rất phức tạp nên các HTX cũng không đưa các thông tin này đến những người thu gom rác dân lập
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến người thu gom rác dân lập trong việc tiếp cận chính sách an sinh xã hội
1.4.1 Các yếu tố chủ quan
1.4.1.1 Đặc điểm thể chất của người thu gom rác dân lập
Theo báo cáo khảo sát “Người thu gom rác dân lập tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Chính sách, thực trạng và nhận thức về an sinh xã hội, an toàn vệ sinh lao động” (Viện Nghiên Cứu Khoa học Xã hội Vùng nam Bộ, 2017) Người thu gom rác dân lập
là những người hàng ngày thực hiện việc thu gom rác tại các hộ dân, cửa hàng, nhà hàng tại địa phương Phần lớn người thu gom rác dân lập là người nhập cư đến Thành phố Hồ Chí Minh từ những địa phương khác Độ tuổi trung bình từ 30 – 40 tuổi, tuy nhiên cũng có trường hợp tuổi còn nhỏ từ 15 đến 60 tuổi vẫn còn làm công việc nặng nhọc này Tỷ lệ nam giới làm công việc này nhiều hơn nữ, lao động nữ thường đảm nhận những công việc như đi lấy rác từ các hộ gia đình đổ lên xe; ngồi trên thùng xe
Trang 40để phân loại rác, nhặt phế liệu trực tiếp từ các bao rác của hộ gia đình đổ ra thùng xe rác; cũng có nhiều trường hợp lái xe, điều khiển phương tiện thu gom,… Nhiều trường hợp phụ nữ vừa là người thu gom vừa là người tự điều khiển phương tiện Do thường xuyên làm việc trong mô trường ô nhiễm và công việc nặng nhọc nên người thu gom rác dân lập thường mắc một số bệnh về đau xương như khớp, bệnh sốt/ cảm cúm, bệnh da liễu, bệnh phổi/ phế quản, bệnh tiêu chảy đó là 05 loại bệnh mà người thu gom rác dễ mắc khi thường xuyên tiếp xúc hàng ngày với rác, phải bưng bê rác
và đổ lên thùng rác sau xe, đi nắng mưa, ngày đêm ngoài đường, Tuy nhiên việc kiểm tra sức khỏe định kỳ và chăm sóc sức khỏe chưa được người thu gom rác quan tâm đúng mức chỉ có những người làm việc lâu năm trong nghề này mới quan tâm đi kiểm tra sức khỏe định kỳ còn những người mới vào làm việc thì chưa quan tâm nhiều đến việc này
Trong một nghiên cứu khác, Nguyễn Thị Nhung (2020), chỉ ra rằng NTGRDL
là lao động trong khu vực độc hại, nhưng không được bảo vệ từ khung pháp lý Ngoại trừ, có sự xuất hiện của các dự án phát triển dưới góc độ vận động chính sách, can thiệp nhằm nâng cao năng lực tiếp cận dịch vụ an sinh xã hội
1.4.1.2 Đặc điểm tâm lý, xã hội của người thu gom rác dân lập
Nhận thức về nghề nghiệp: Theo K K Platônốp khi chọn ngành nghề cần nhận thức được thật vững, đầy đủ, chính xác những yêu cầu, đặc điểm của các nghề nghiệp; Những thông tin về các đặc điểm tâm sinh lý của bản thân; Những thông tin nhu cầu của xã hội đối với các ngành nghề (trích lại từ Đào Thị Duy Duyên, 2018)
Theo Viện Nghiên cứu Xã hội Vùng Nam Bộ (2017), những NTGRDL thường chọn làm nghề theo truyền thống gia đình, thế hệ trước dắt dìu theo thế hệ sau, vẫn nghề nghiệp đó, mặc dù nghề thu gom rác vẫn có những rủi ro và điều tiếng về công việc cực nhọc của họ Khi nói về công việc của mình người thu gom rác dân lập thường nói đây là nghề bần cùng của xã hội, công việc dành cho những người không được học hành đến nơi đến chốn Với những mặc cảm tâm lý về nghề nghiệp của mình người thu gom rác thường ít tiếp xúc và giao tiếp với những người dân sinh sống trong cộng đồng, bỏ qua các buổi họp khu phố để có thể tiếp nhận thông tin và không có bất cứ hoạt động tham gia nhóm sinh hoạt đoàn thể nào tại địa phương