1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc Trưng Tính Cách Văn Hóa Người Hán Hai Miền Nam Bắc Trung Quốc .Pdf

245 4 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Trưng Tính Cách Văn Hóa Người Hán Hai Miền Nam Bắc Trung Quốc
Tác giả Nguyễn Minh Trí
Người hướng dẫn GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm
Trường học Trường Đại học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn hóa học
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 245
Dung lượng 3,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (11)
  • 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (12)
    • 2.1. Tính cách người Trung Hoa qua góc nhìn người Trung Hoa (12)
      • 2.1.1. Những nghiên cứu tính cách người Trung Hoa nói chung (12)
      • 2.1.2. Những nghiên cứu tính cách người Trung Hoa theo vùng miền (17)
    • 2.2. Tính cách người Trung Hoa qua góc nhìn người ngoài Trung Hoa (20)
  • 3. Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu (31)
  • 4. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu (34)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu (34)
  • 6. Đóng góp của luận án (38)
  • 7. Kết cấu và quy cách trình bày luận án (39)
  • CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN (41)
    • 1.1. Cở sở lý luận (41)
      • 1.1.1. Tính cách và tính cách văn hóa (41)
      • 1.1.2. Tính cách tập thể, tính cách dân tộc và tính cách văn hóa dân tộc (44)
      • 1.1.3. Mối quan hệ giữa giá trị, văn hóa và tính cách văn hóa dân tộc (49)
      • 1.1.4. Khung lý thuyết (50)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn (57)
      • 1.2.1. Về không gian: Điều kiện tự nhiên - xã hội hai miền Nam Bắc Trung (58)
      • 1.2.2. Về chủ thể: Quá trình hình thành và đặc điểm người Hán hai miền Nam Bắc Trung Hoa (67)
        • 1.2.2.1. Quá trình hình thành người Hán ở hai miền (67)
        • 1.2.2.2. Đặc điểm người Hán hai miền (70)
      • 1.2.3. Về thời gian: Lịch sử phát triển quốc gia và giao lưu văn hóa hai miền (73)
        • 1.2.3.1. Giai đoạn trước thời Tần - Hán (73)
        • 1.2.3.2. Giai đoạn từ thời Tần - Hán trở về sau (75)
      • 1.2.4. Xác định nội dung và đối tượng khảo sát (78)
        • 1.2.4.1. Lĩnh vực chính trị (79)
        • 1.2.4.2. Lĩnh vực văn học (83)
        • 1.2.4.3. Lĩnh vực văn hóa dân gian (89)
  • CHƯƠNG II. ĐẶC TRƯNG TÍNH CÁCH VĂN HÓA NGƯỜI HÁN HAI MIỀN TRÊN BÌNH DIỆN TỔ CHỨC (89)
    • 2.1. Tính trọng sức mạnh và tính trọng mềm mỏng (96)
      • 2.1.1. Tổ chức cai trị của hoàng đế hai miền (97)
        • 2.1.1.1. Chính sách cai trị và thuế khóa (97)
        • 2.1.1.2. Chính sách nhân sự (101)
        • 2.1.1.3. Tổ chức đời sống cá nhân (106)
      • 2.1.2. Con đường tiến thân của phụ nữ quyền lực hai miền (108)
        • 2.1.2.1. Vào quan phủ và hoàng cung (108)
        • 2.1.2.2. Vươn lên ngôi hoàng hậu (110)
      • 2.1.3. Tổ chức chiến thuật của tướng lĩnh hai miền (112)
    • 2.2. Tính trọng thế tục và tính trọng tâm linh (117)
      • 2.2.1. Hình thái hôn nhân "bình thường" (117)
        • 2.2.1.1. Các tập tục trước khi cưới (117)
        • 2.2.1.2. Các tập tục trong khi cưới (120)
        • 2.2.1.3. Các tập tục sau khi cưới (122)
      • 2.2.2. Một số hình thái hôn nhân phi lễ chế (123)
    • 2.3. Tính trọng nam và tính trọng nữ (129)
      • 2.3.1. Hôn nhân bình thường (129)
      • 2.3.2. Hôn nhân phi lễ chế (132)
    • 2.4. Tính trọng người già và tính trọng người trẻ (136)
  • CHƯƠNG III. ĐẶC TRƯNG TÍNH CÁCH VĂN HÓA NGƯỜI HÁN HAI MIỀN TRÊN BÌNH DIỆN ỨNG XỬ (94)
    • 3.1. Tính sôi nổi và tính thâm trầm (145)
      • 3.1.1. Ứng xử với công danh sự nghiệp và quà tặng (145)
      • 3.1.2. Ứng xử với các thú vui (148)
      • 3.1.3. Ứng xử với thiên nhiên (150)
      • 3.1.4. Ứng xử với công việc (154)
    • 3.2. Tính thẳng thắn và tính uyển chuyển (161)
      • 3.2.1. Ứng xử với việc nắm giữ các chức vụ của triều đình (161)
      • 3.2.2. Ứng xử với đối thủ (163)
      • 3.2.3. Ứng xử đối với những điều chưa biết (167)
    • 3.3. Tính trọng lý và tính trọng tình (169)
      • 3.3.1. Ứng xử với người thân (169)
        • 3.3.1.1. Ứng xử với vợ con (169)
        • 3.3.1.2. Ứng xử với mẹ và các anh chị em (171)
      • 3.3.2. Ứng xử với cấp dưới (176)
        • 3.3.2.1. Ứng xử với thuộc hạ (176)
        • 3.3.2.2. Ứng xử với người hầu (177)
      • 3.3.3. Ứng xử trong hoạt động giao tiếp, cuộc sống và công việc (182)
    • 3.4. Tính trọng chinh phục và tính trọng hòa hợp (186)
      • 3.4.1. Chính sách đối ngoại của hoàng đế hai miền (186)
        • 3.4.1.1. Đối với các chư hầu (186)
        • 3.4.1.2. Đối với các nước láng giềng (188)
      • 3.4.2. Chính sách đối nội của phụ nữ quyền lực hai miền (189)
        • 3.4.2.1. Đối với quan quân tướng sĩ (189)
        • 3.4.2.2. Đối với việc nắm giữ quyền lực (193)
  • KẾT LUẬN (197)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN MINH TRÍ ĐẶC TRƯNG TÍNH CÁCH VĂN HÓA NGƯỜI HÁN HAI MIỀN NAM BẮC TRUNG QUỐC LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC THÀNH PH[.]

Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Tính cách người Trung Hoa qua góc nhìn người Trung Hoa

Các công trình nghiên cứu thuộc nhóm này chủ yếu đi theo hai hướng: (i)

Nghiên cứu tính cách người Trung Hoa bao gồm hai hướng chính: một là các công trình tổng quát không phân biệt vùng miền, và hai là các nghiên cứu phân tích tính cách theo từng vùng miền cụ thể Hai hướng nghiên cứu này có thể kết hợp và bổ sung cho nhau trong cùng một công trình.

2.1.1 Những nghiên cứu tính cách người Trung Hoa nói chung

2.1.1.1 Từ rất sớm các học giả, các danh nhân Trung Hoa đã chỉ ra tính cách người Trung Hoa dưới góc nhìn khái quát chung cho cả đất nước Trung Hoa rộng lớn Đáng chú ý trong số này có Tôn Trung Sơn (孫中山) cho rằng người Trung Hoa cần cù, ôn hòa, tuân thủ pháp luật; khư khư ôm cái cũ; sùng bái quỷ thần; không gắn kết; kiêu ngạo; dễ cực đoan; ưu sầu và ưu tư, sống trong khó khăn nhưng lại chết vì sung sướng (sinh vu ưu hoạn, tử vu an lạc/生於憂患

死於安樂 2 ) Lương Thấu Minh (梁漱溟) đề cập đến “thập đại quốc dân tính” của người Trung Hoa như tự tư tự lợi, cần cù tiết kiệm, thích giữ phép, ôn hòa yếu đuối, biết đủ mãn nguyện, bảo thủ, đại khái, kiên nhẫn và tàn nhẫn, tính dẻo và tính co dãn, dày dạn (như trích dẫn ở Phạm Dũng, 2009, tr.100-101, 144) Tưởng Giới Thạch (蔣介石) trong cuốn Vận mệnh Trung Quốc ( 中國之命運 ) cho rằng những đức tính vốn có của người Trung Hoa tập trung vào "bát đức" (八德) và "tứ duy" (四維) Trong đó, "bát đức" (八德) gồm: Trung (忠), hiếu (孝), nhân (仁), ái (愛), tín (信), nghĩa (義), hòa (和), bình (平) và "tứ duy" (四

Lễ, nghĩa, liêm, và sỉ là bốn đức tính quan trọng trong văn hóa Trung Hoa, thể hiện giá trị cao quý của dân tộc Những đức tính này khuyến khích người Trung Hoa nỗ lực tiến về phía trước, như Tưởng Giới Thạch đã nhấn mạnh vào năm 1943.

Nghiên cứu của Lâm Ngữ Đường trong cuốn "Trung Hoa đất nước con người" (1935) phân tích sự khác biệt giữa các vùng miền ở Trung Quốc, đặc biệt là giữa miền Bắc và miền Nam Ông chỉ ra rằng người miền Bắc thường có tính cách đơn giản, thành thực, nóng nảy và thích khôi hài, trong khi người miền Nam lại ưa thích sự yên ổn, khéo léo và thường trầm tĩnh Từ những khác biệt này, Lâm Ngữ Đường khái quát tám đức tính nổi bật của người Trung Hoa, bao gồm tính chín chắn, nhẫn nại, linh hoạt, lõi đời, hiếu hòa, tri túc, hài hước châm biếm và bảo thủ.

Câu danh ngôn cổ này nhấn mạnh rằng trong những thời điểm khó khăn, con người có xu hướng nỗ lực và phấn đấu để cải thiện cuộc sống, từ đó phát triển mạnh mẽ hơn Ngược lại, cuộc sống quá dễ dàng có thể khiến con người trở nên thụ động, mất đi ý chí và dẫn đến sự suy vong Hình ảnh "nước ấm nấu ếch" cũng phản ánh ý nghĩa này.

Phạm Dũng (范勇) trong cuốn Tính cách văn hóa người Trung Quốc

Bài viết năm 2009 phân tích tính cách của người miền Bắc và miền Nam qua các khu vực như cao nguyên Hoàng Thổ, đồng bằng Hoa Bắc, vùng núi thượng lưu Trường Giang, đồng bằng trung hạ lưu Trường Giang và đồi núi thấp phía Nam Người miền Bắc ở cao nguyên Hoàng Thổ có tính tiết kiệm, thực dụng, thẳng thắn, nhẫn nại và kiên cường, nhưng lại thiếu quan niệm làm quan và có phần keo kiệt Trong khi đó, người miền Bắc ở đồng bằng Hoa Bắc thể hiện sự phóng khoáng, nhanh nhạy, cởi mở và có phong cách quân tử, nhưng cũng có phần hống hách Người miền Nam ở vùng núi thượng lưu Trường Giang mang tính lạc quan, cẩn thận và hài hước, trong khi ở đồng bằng trung hạ lưu Trường Giang, họ thể hiện sự khéo léo, khiêm nhường và coi trọng thực tế Cuối cùng, người ở vùng đồi núi thấp phía Nam có tính linh hoạt, thích nghi nhanh và chú trọng hiệu quả, không cố định một nghề hay khu vực nào Tác giả đã đưa ra bốn nhóm tính cách chung từ những phân tích này.

3 Gồm cao nguyên phía Bắc tỉnh Thiểm Tây, phía Đông tỉnh Cam Túc và cao nguyên Sơn Tây

4 Gồm đồng bằng hạ lưu sông Liêu, đồng bằng Hà Bắc, Sơn Đông, Hà Nam và đồng bằng sông Hoài

5 Gồm bồn địa Tứ Xuyên, đồi núi Tần Ba, đồi núi Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam,

Đồng bằng Giang Hán, đồng bằng hồ Động Đình, đồng bằng hồ Phàn Dương, đồng bằng Tô Hoản (Giang Tô và An Huy) và đồng bằng châu thổ Trường Giang là những vùng đất quan trọng của Trung Quốc.

Khu vực phía Nam đồng bằng hạ lưu Trường Giang bao gồm miền đồi núi Giang Nam, Mân Triết (Phúc Kiến và Chiết Giang), đông bắc Quế (Quảng Tây) và vùng núi Nam Lĩnh Người Trung Hoa có những đặc điểm tính cách đa dạng: (i) tính cách gió mùa với sự chấp nhận, nhẫn nại và kiên cường; (ii) tính cách nước đôi thể hiện qua sự công bằng và tự lợi, tiết kiệm và lãng phí, thủ tín và bội tín; (iii) tính cách bề mặt nhấn mạnh vào trọng danh dự, lễ nghĩa và sự biết đủ; (iv) tính cách phái sinh với xu hướng bảo thủ, thực dụng và thích hòa bình.

Đỗ Du trong cuốn "Bản đồ nhân cách người Trung Quốc" (2010) phân tích tính cách con người của 26 khu vực, tỉnh, thành của Trung Quốc, tuy nhiên không đề cập đến Trùng Khánh và Hải Nam Ông cho rằng miền Nam là nơi của văn nhân, với con người mạnh về kinh tế nhưng tính cách nhu nhược và nhút nhát, trong khi miền Bắc là đất của vua chúa, con người mạnh về chính trị, thẳng thắn và cương quyết nhưng cũng bảo thủ Người miền Bắc được mô tả là "thẳng mà thô", trong khi người miền Nam "tinh mà tế", với cá tính dịu dàng và tôn trọng ý kiến chủ quan Phụ nữ miền Nam được xem là dịu dàng, tuân thủ chuẩn mực đạo đức, trong khi phụ nữ miền Bắc mạnh mẽ, thẳng thắn và có triển vọng trong chính trị.

Đỗ Du đã tổng hợp tám loại nhân cách chủ yếu của người Trung Hoa, bao gồm ý thức làm quan và chính trị, sĩ diện và tình cảm con người, khoan dung và bài ngoại, niềm tin vào thần thánh và sùng bái ma quỷ, khả năng kinh tế, tôn trọng văn hóa và võ thuật, cũng như sự coi trọng giáo dục để phát triển nhân tài Ngoài ra, người Trung Hoa còn thể hiện tình cảm qua ca hát và múa.

Cuốn sách "Tính cách của người Trung Quốc" (中國人的性格) (2012) do Lý Diệc Viên và Dương Quốc Khu chủ biên tập hợp nhiều công trình nghiên cứu về tính cách người Trung Quốc Các tác phẩm nổi bật bao gồm "Phân tích nhân cách lý tưởng của nước Trung Quốc truyền thống" của Vi Chính Thông, "Từ định hướng giá trị bàn về tính cách người Trung Quốc" của Văn Sùng Nhất, và "Từ mối quan hệ xã hội, cá nhân và văn hóa, bàn về xu hướng cảm giác xấu hổ trong tính cách người Trung Quốc" của Chu Sầm Lâu Ngoài ra, còn có "Chủ nghĩa gia tộc và tính cách Trung Quốc" của Dương Mậu Xuân và "Từ sự phát triển nhân cách nhìn về tính cách người Trung Quốc" của Tăng Văn Tinh.

2.1.1.2 Ngoài các công trình thiên về nghiên cứu đặc trưng giá trị trong tính cách người Trung Hoa đã nêu, một số khác tập trung đi sâu nghiên cứu những tính cách tiêu cực của người Trung Hoa Đáng chú ý là cuốn Người Trung Quốc xấu xí (醜陋的中國人) của Bá Dương (柏楊), bản dịch năm 1998 của Nguyễn Hồi Thủ, bố cục thành ba phần 30 bài theo từng thể loại: bài nói chuyện, bài viết và các bài phê bình; cuốn Khoe bàn chân nhỏ cũng của Bá

Dương (tên tác giả được người dịch Châu Hải Đường phiên âm Hán Việt là

Bách Dương, xuất bản năm 2015, bao gồm hai phần: phần một đề cập đến hũ tương thối và phần hai mang tên "Sóng giận xô bờ", tập hợp các bài phê bình và ủng hộ tác giả Bá.

Dương; phần lớn bản dịch đều có hình vẽ minh họa cho mỗi bài viết Cuốn

Những Khuyết điểm của người Trung Quốc (中國人的毛病) của Trương Bình

Cuốn sách "Người Trung Quốc tự trào" do Dương Quốc Anh biên soạn và xuất bản năm 2002, cùng với tác phẩm "Vì sao người Trung Quốc ngu thế?" của Lê Minh vào năm 2003, đều đề cập đến những đặc tính tiêu cực của người Trung Hoa Lưu Á Châu cũng đã có những phát biểu liên quan đến vấn đề này trong bài diễn thuyết của mình.

Tính cách người Trung Hoa qua góc nhìn người ngoài Trung Hoa

2.2.1 Các công trình nghiên cứu của người Phương Tây và Nhật Bản

Các nhà nghiên cứu phương Tây thường chỉ ra những đặc điểm chung của tính cách người Trung Hoa và so sánh chúng với tính cách của người phương Tây.

Cuốn sách "Tính cách người Trung Hoa" của tác giả Arthur Henderson Smith, một nhà truyền giáo người Mỹ, là một trong những tác phẩm nổi bật của phương Tây nghiên cứu về tính cách của người Trung Hoa.

Sách được xuất bản tại New York vào năm 1894 và tái bản vào năm 2003 với lời tựa của Lydia Liu, đã có ảnh hưởng sâu rộng đến cả lĩnh vực học thuật và chính sách ngoại giao của Mỹ đối với Trung Hoa Vào năm 1906, Tổng thống Theodore Roosevelt đã mời tác giả Smith đến Nhà Trắng để thảo luận về mối quan hệ Mỹ - Trung, cho thấy tầm quan trọng của cuốn sách Ngoài ra, sách cũng đã được dịch sang tiếng Trung bởi một số dịch giả, trong đó có bản dịch của Lý Minh Lương (李明).

良) (2010), Từ Hiểu Mẫn (徐曉敏) (2010), Lý Mông Châu (李蒙洲) (2012) và Hạc Tuyền (鶴泉) (2014)

Theo Smith (1894) đã chỉ ra rằng người Trung Hoa có 26 đặc tính, được chia thành hai nhóm chính: đặc tính giá trị và đặc tính phi giá trị Nhóm đặc tính giá trị bao gồm những yếu tố như sỹ diện.

Trong xã hội hiện đại, những đặc tính tích cực như tiết kiệm, siêng năng, lịch sự, linh hoạt, mạnh mẽ, kiên nhẫn và bền chí, cùng với sự hài lòng và vui vẻ, hiếu thảo, rộng lượng, có trách nhiệm lẫn nhau và tôn trọng luật pháp, là rất quan trọng Bên cạnh đó, sự đa dạng trong tín ngưỡng, từ đa thần, phiếm thần đến vô thần, cũng góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa Ngược lại, những đặc tính phi giá trị như không chú ý đến thời gian, sự chính xác, giỏi hiểu nhầm, vòng vo, hiểu biết mập mờ, thiếu khí phách, khinh người nước ngoài, thiếu tinh thần cộng đồng, bảo thủ, không quan tâm đến sự thoải mái và tiện lợi, cùng với sự thiếu thông cảm, cần được nhận diện và khắc phục để xây dựng một cộng đồng vững mạnh và đoàn kết hơn.

(12) cãi nhau, (13) nghi kỵ lẫn nhau, (14) thiếu chân thành

Một cuốn khác cũng của Smith, Arthur H là cuốn “Cuộc sống làng quê ở

Cuốn sách "Trung Hoa" (Village life in China), xuất bản năm 1899, là một công trình nghiên cứu xã hội học của Smith, chia thành ba phần với 27 chương Phần một khám phá thể chế và đặc tính cộng đồng của làng, phần hai tập trung vào đời sống gia đình, và phần ba bàn về sự cải tạo làng Trung Hoa qua lăng kính của Thiên Chúa giáo Làng Trung Hoa được mô tả như "một đế chế thu nhỏ" và là biểu tượng cho sự thống nhất trong đa dạng Các đặc tính cộng đồng thể hiện qua sự hợp tác trong các hoạt động tôn giáo, chợ, hội chợ, và các sự kiện như đám cưới, đám tang Người Trung Hoa nổi bật với tính thực tế và cẩn thận, nhưng cũng chịu ảnh hưởng của trọng nam khinh nữ, dẫn đến việc phân biệt đối xử nặng nề với phụ nữ Sách cũng đề cập đến sự khác biệt giữa người miền Nam và miền Bắc, với việc buôn bán bé gái phổ biến ở miền Nam và sự mê tín của người miền Nam so với miền Bắc.

Một nhà nghiên cứu người Mỹ khác là Will Durant, từ giữa những năm

Cuốn sách "Di sản phương Đông" (1930) của Will Durant bao gồm các nền văn minh như Ai Cập, Cận Đông, Ấn Độ, Trung Hoa và Nhật Bản Nội dung về lịch sử văn minh Trung Hoa được Nguyễn Hiến Lê trích dịch trong cuốn sách cùng tên xuất bản năm 1996, mô tả ngoại hình và tính cách người Trung Hoa Chiều cao người Trung Hoa thay đổi theo từng miền, với người miền Bắc cao hơn miền Nam, nơi có tính cách thần bí và không ưa tính lạnh lùng của Khổng giáo Will Durant nhận định người Trung Hoa bền bỉ, can đảm và thích ứng tốt với khí hậu, giúp họ thành công trên toàn cầu Họ khéo léo trong nghệ thuật thỏa hiệp, nhưng cũng có thể tàn bạo và nổi loạn Tuy nhiên, nhìn chung, họ hiếu hòa, nhân từ, chịu đựng thiếu thốn và cứng cỏi trước đau khổ, đồng thời đa cảm trước cái đẹp.

Cuốn "Hoa cúc và gươm" của Ruth Benedict (1946/2020) chủ yếu nghiên cứu văn hóa Nhật Bản, nhưng những so sánh với văn hóa Trung Hoa từ góc nhìn của một người Mỹ như Benedict cũng giúp hiểu rõ hơn về tính cách người Trung Hoa Bà cho rằng người Trung Hoa có tính đạo hiếu và trung thành với gia tộc, nhưng không coi những đức hạnh này là vô điều kiện Benedict nhấn mạnh rằng "nếu một kẻ thống trị bất nhân, thì việc người dân chống lại là chính đáng" (tr.160).

Cuốn The local cultures of South and East China của tác giả người Đức

Eberhard Wolfram, xuất bản năm 1968, với 520 trang, trình bày về văn hóa địa phương ở phía Nam và Đông Trung Quốc, đặc biệt là văn hóa các tộc thiểu số như Dao, Thái, Việt, Liêu Cuốn sách cũng giới thiệu văn hóa tộc Tungus (Mãn) ở miền Bắc Mặc dù các tộc thiểu số không phải là đối tượng nghiên cứu chính, quan điểm của Eberhard về văn hóa Trung Hoa vẫn có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu đặc trưng văn hóa vùng miền Theo Eberhard, các khu vực riêng lẻ của Trung Quốc có đặc điểm khác nhau về tính cách, phong tục, truyền thống và ngôn ngữ, góp phần vào sự hình thành và phát triển của xã hội và văn hóa Trung Hoa.

Benedict chưa từng đặt chân đến Nhật Bản, nhưng tác giả đã nghiên cứu văn hóa và tính cách người Nhật thông qua các tài liệu như sách nghiên cứu, tiểu thuyết, phim ảnh, và các cuộc phỏng vấn với người Mỹ gốc Nhật.

Cuốn sách "The Vermilion Bird - T'ang Images of the South" của Edward H Schafer khám phá vùng đất Nam Việt trong thời kỳ nhà Đường Schafer (1967) phân chia Nam Việt thành hai khu vực chính: Lĩnh Nam ở phía đông và An Nam ở phía tây Lĩnh Nam bao gồm tỉnh Quảng Đông.

Quảng Tây ngày nay, trước đây có thể được mở rộng để chỉ cả An Nam, với Lĩnh Nam đồng nghĩa với Nam Việt Theo Edward H Schafer, người dân vùng này được người phương Bắc gọi chung là “Man”, ám chỉ người phương Nam dã man, đối lập với người phương Bắc được xem là “Trung Hoa” Trong thời trung cổ, ngay cả một người Trung Hoa thực sự cũng có thể bị coi thường bởi những người Bắc phương theo chủ nghĩa sô vanh, nếu họ không được sinh ra tại Trung Hoa.

Cuốn "Văn minh Trung Hoa: Sách nguồn" (1993) do Patricia Buckley Ebrey biên soạn là một tài liệu tổng quát về văn minh Trung Hoa, trình bày theo lịch sử các thời đại Một phần quan trọng trong sách là tiểu mục "Cultural differences between the North and the South," kéo dài ba trang (từ 109 – 111), nêu bật những khác biệt văn hóa giữa hai miền Nội dung tiểu mục này bao gồm các ghi chép về phong tục tập quán, như việc người miền Nam không ra tận cổng đón tiễn khách, trong khi người miền Bắc thì có; người miền Nam dễ rơi

Cuốn "Mật mã tính cách của người Trung Hoa" bao gồm hai tập Tập một là bản dịch từ cuốn "Tính cách người Trung Hoa" của tác giả Arthur H Smith, trong khi tập hai tập hợp các bài viết của nhiều tác giả khác nhau, trong đó có Kuwabara Jitsuzo.

Theo nghiên cứu của các tác giả, người Trung Hoa có những đặc điểm tính cách nổi bật như yêu hòa bình, tôn thờ tổ tiên, và khiêm nhường Bertrand Russell (2012) chỉ ra rằng người Trung Hoa có cả những nét tích cực như khả năng làm cho người khác vui vẻ và hòa bình, cũng như những điểm tiêu cực như sự thờ ơ và nhu nhược Lucu (2012) cũng nhấn mạnh rằng tính cách của người Trung Hoa có sự nhạy cảm và đa nghi, nhưng đồng thời cũng thể hiện tinh thần tập trung trong những tình huống khó khăn.

"Bốn bệnh lớn của người Trung Hoa" cho rằng người Trung Hoa có bốn cái bệnh lớn: giả dối, thờ ơ, nói xấu, xa cách (tr.222)

Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là tính cách văn hóa đặc thù như những giá trị tinh thần của cộng đồng Hán tộc ở hai miền Nam Bắc Trung Hoa

Nghiên cứu tập trung vào tộc Hán, nhóm dân tộc chiếm đa số tại Trung Hoa trong suốt thời gian nghiên cứu, ngay cả khi đất nước bị cai trị bởi các ngoại tộc Đặc biệt, vào năm 1276, khi nhà Nguyên mới lên nắm quyền, dân số tộc Hán vẫn duy trì một tỷ lệ lớn trong cộng đồng dân cư Trung Hoa.

Dân số người Mông Cổ chỉ khoảng 300.000 người, trong khi dân số tộc Hán lên tới 100 triệu người Đến năm 1293, dân số người Mông Cổ tăng lên khoảng 700.000 - 800.000 người, trong khi dân số tộc Hán đạt khoảng 70 triệu Mặc dù số lượng người Hán có giảm do chính sách cai trị hà khắc của nhà Nguyên, nhưng vẫn gấp 100 lần so với dân số người Mông Cổ Dưới thời nhà Thanh, dân số Trung Hoa vượt quá 400 triệu người, trong đó người Hán chiếm 77,76% và người Mãn chỉ chiếm 2,87% Hiện nay, tộc Hán chiếm 92% dân số đại lục Trung Quốc.

Người Hán là đại diện cho dân tộc Trung Hoa, vì vậy các nghiên cứu về tính cách người Trung Hoa thường liên quan đến tính cách của tộc Hán, trừ những trường hợp cụ thể đề cập đến tính cách của các tộc thiểu số tại Trung Hoa.

Về không gian nghiên cứu: Không gian khảo sát được giới hạn ở miền

Bắc và miền Nam Trung Quốc được phân chia dựa trên các yếu tố địa lý và văn hóa, với sự kết hợp theo chiều dọc từ Đông sang Tây và chiều ngang từ Bắc xuống Nam, cùng với tình hình dân cư Do đó, khi nói đến cộng đồng tộc Hán, chúng ta chỉ đề cập đến người Hán sống trong hai miền Bắc và Nam, không bao gồm người Hán ở hải ngoại.

Trong thời kỳ cai trị của nhà Nguyên, sự tàn sát người Hán diễn ra ở mức độ kinh hoàng, dẫn đến việc dân số giảm mạnh khoảng 30 triệu chỉ sau gần 20 năm Theo một số liệu khác, vào năm 1122, dân số toàn quốc đã vượt quá 100 triệu người, nhưng đến năm 1274, con số này chỉ còn hơn 50 triệu người.

Nhà Nguyên đã thực hiện chính sách phân chia xã hội thành bốn loại người, bao gồm người Mông Cổ, người Sắc Mục, người Hán và người miền Nam Hệ thống phân cấp này rất nghiêm ngặt, với mức độ trừng phạt khác nhau cho các tội ác Cụ thể, nếu giết một người Mông Cổ, kẻ phạm tội phải đền mạng; giết người Sắc Mục phải trả 40 lạng vàng, trong khi giết một người Hán chỉ phải bồi thường bằng một con lừa.

13 https://new.qq.com/omn/20210612/20210612A06IL900.html

14 https://www.yebaike.com/22/1235479.html

15 http://culture.ifeng.com/geography/regional/200901/0121_4098_979230.shtml

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ tập trung vào các yếu tố văn hóa truyền thống, đặc biệt là giai đoạn tiền hiện đại, từ thời Tần đến nhà Thanh, trước khi có sự giao lưu với văn hóa phương Tây.

Khi xác định không gian nghiên cứu, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “Trung Quốc” để chỉ phần lục địa, trong khi “Trung Hoa” được dùng để nói đến văn hóa trong bối cảnh rộng hơn, bao gồm cả Đài Loan và các khía cạnh văn hóa, dân tộc, con người trong lịch sử Đối với bối cảnh lịch sử cụ thể, chúng tôi sẽ áp dụng các tên gọi theo triều đại như nhà Hán, nhà Đường.

Cụm từ "Nam Bắc" đã được sử dụng từ lâu trong các tác phẩm như Sử kí và Tam Quốc chí Chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu về tần suất xuất hiện của cụm từ "Nam Bắc" trong ngoặc kép (“南北”) trên trang baidu.com và nhận được 100 triệu kết quả, trong khi cụm từ "Bắc Nam" (“北南”) chỉ có 24,9 triệu kết quả Đáng chú ý, việc thêm dấu gạch ngang giữa hai từ này không làm thay đổi số lượng kết quả tìm kiếm cho cả hai cụm từ "Nam - Bắc".

Việc sử dụng cụm từ “Nam Bắc” (南北) phổ biến hơn so với “Bắc Nam” (南北) và “Nam và Bắc” (南與北), với số lượt tìm kiếm đạt 2,1 triệu cho “Nam và Bắc” và chỉ 452 ngàn cho “Bắc và Nam” Điều này phản ánh thói quen ngôn ngữ của người Hán khi đề cập đến bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc Do đó, trong Luận án, chúng tôi sẽ sử dụng từ “Nam Bắc” xuyên suốt.

Mục đích nghiên cứu là xác lập hệ thống giá trị đặc trưng trong tính cách văn hóa của tộc Hán ở hai miền Nam và Bắc Trung Quốc.

16 Truy cập vào thời điểm tháng 3 năm 2022

Tôi không biết!

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào đặc trưng tính cách văn hóa của người Hán ở hai miền Nam và Bắc Trung Quốc Câu hỏi chính được đặt ra là: Tính cách văn hóa của người Hán ở hai miền này khác nhau như thế nào và nguyên nhân của sự khác biệt đó là gì? Mặc dù có sự tương đồng trong tính cách văn hóa giữa người Hán ở hai miền, nhưng nghiên cứu không nhằm mục đích phân biệt người Hán với các tộc người khác.

Giả thuyết nghiên cứu chủ yếu là:

Theo lý thuyết loại hình văn hóa, Trung Quốc thuộc khu vực Đông Bắc Á và được xem là loại hình văn hóa trung gian, có sự kết hợp giữa các đặc trưng văn hóa dương tính và âm tính Sự khác biệt rõ rệt giữa miền Bắc và miền Nam Trung Quốc về điều kiện tự nhiên và kinh tế dẫn đến giả thuyết rằng tính cách văn hóa người miền Bắc có xu hướng dương tính hơn, trong khi tính cách văn hóa người miền Nam thiên về âm tính hơn.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Việc nghiên cứu sẽ được thực hiện bằng cách tiếp cận liên ngành, trong đó góc nhìn văn hóa học giữ vai trò chủ đạo

Các phương pháp cụ thể được sử dụng là:

Phương pháp hệ thống được sử dụng trong toàn bộ luận án, tập trung vào việc khảo sát và so sánh các đặc trưng giá trị văn hóa tinh thần giữa hai miền Nam và Bắc Trung Quốc Việc xác định tọa độ văn hóa của đối tượng nghiên cứu theo các trục không gian, thời gian, chủ thể và loại hình văn hóa sẽ góp phần hoàn thiện hệ thống thông tin nghiên cứu.

Loại hình văn hóa ảnh hưởng đến tính cách văn hóa, và từ đó hình thành nên truyền thống văn hóa Nhận thức được điều này, chúng tôi áp dụng phương pháp loại hình để phân loại các loại hình trong nội bộ nền văn hóa Trung Quốc.

Quốc gia được chia thành hai kiểu chính dựa trên sự khác biệt về điều kiện tự nhiên và nguồn gốc kinh tế - văn hóa, bao gồm loại hình kinh tế - văn hóa nông nghiệp lúa nước phương Nam và loại hình kinh tế - văn hóa tổng hợp giữa nông nghiệp ruộng khô và du mục phương Bắc Chúng tôi đã xác định sự phân bố không gian của các yếu tố khảo sát và phân tích so sánh để đưa ra những đặc trưng giá trị văn hóa tinh thần khác biệt Mỗi khu vực đều gắn liền với những đặc trưng văn hóa truyền thống riêng biệt.

Phương pháp so sánh được sử dụng trong toàn bộ luận án nhằm định vị đối tượng nghiên cứu và xác định các yếu tố cần so sánh, từ đó làm nổi bật những đặc trưng trong tính cách người Hán ở hai miền Nam Bắc Trung Quốc qua ba lĩnh vực chính trị, văn học và văn hóa dân gian Mục tiêu của phương pháp này là tìm ra những nét tương đồng và khác biệt, nhưng luận án sẽ tập trung vào nghiên cứu những đặc điểm riêng biệt và bền vững, giúp phân biệt rõ ràng giữa hai miền, thay vì chỉ tìm kiếm sự tương đồng.

Phương pháp lịch sử được áp dụng trong luận án nhằm phân tích quá trình hình thành người Hán ở hai miền Nam Bắc Trung Quốc, cũng như lịch sử phát triển và giao lưu văn hóa giữa hai miền Luận án còn tập trung vào việc định vị các đối tượng khảo sát, đặc biệt là trong khía cạnh chính trị.

Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp là công cụ quan trọng để thu thập và xử lý thông tin từ các tài liệu đáng tin cậy, tạo thành hệ thống phù hợp với nội dung nghiên cứu Dữ liệu về văn học, bên cạnh lịch sử và văn hóa dân gian, đóng vai trò thiết yếu trong luận án Mặc dù thế giới nhân vật trong văn học không hoàn toàn giống với con người thực, nhưng giá trị của nó không thể bị phủ nhận Từ thế kỷ thứ 5, Lưu Hiệp đã khẳng định rằng lý luận văn học dựa trên nền tảng tồn tại khách quan, và đến đầu thế kỷ 20, Maxim Gorky nhấn mạnh rằng văn học phản ánh con người Văn học tạo ra hình tượng con người qua các mối quan hệ xã hội, thể hiện tâm thái văn hóa và cấu trúc tâm lý độc đáo của dân tộc Do đó, văn học không thể tách rời khỏi nghiên cứu văn hóa Người đọc tiếp nhận hình tượng nhân vật theo nền tảng văn hóa của họ, cho thấy mối liên hệ giữa văn học và văn hóa Ruth Benedict, trong cuốn Hoa cúc và gươm, đã nghiên cứu văn hóa và tính cách người Nhật Bản qua tài liệu và phỏng vấn, được đánh giá là nghiên cứu toàn diện đầu tiên về một nền văn hóa từ xa, góp phần đặt nền móng cho nghiên cứu văn hóa đương đại.

Nghệ thuật điện ảnh, giống như văn học, bắt nguồn từ cuộc sống và phản ánh hiện thực xã hội, trở thành tấm gương phản chiếu đời sống Do đó, tư liệu từ các bộ phim lịch sử có thể được sử dụng để minh họa cho những khía cạnh này.

Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình được áp dụng trong Luận án, đặc biệt là ở Chương II, nhằm phân tích cuộc đời của một số chính khách và các tác phẩm văn học như những trường hợp điển cứu.

Luận án sử dụng phương pháp điền dã như một phương pháp nghiên cứu bổ sung nhằm thu thập tư liệu thành văn và tiếp cận các thành quả nghiên cứu của tác giả Trung Hoa Mục tiêu chính là thu thập minh chứng cho phong tục, tập quán cổ xưa, các dạng thờ tự, di tích khảo cổ, và câu chuyện dân gian về đặc trưng tính cách vùng miền, không phải là số liệu định lượng Do tình hình dịch bệnh phức tạp và các điều kiện khác, việc điền dã chỉ được thực hiện tại một số địa phương như Thượng Hải, Thành Đô, Quảng Châu, Nam Ninh, và Quế Lâm trong các năm 2018 và 2019, chưa thể mở rộng ra các địa phương khác của Trung Quốc.

Cách tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu văn hóa Trung Hoa yêu cầu sử dụng tri thức địa văn hóa để so sánh sự đa dạng và đặc trưng văn hóa giữa hai miền Nam Bắc, nơi có sự khác biệt về môi trường địa lý, phương thức sản xuất và loại hình văn minh Điều này nhấn mạnh vai trò của điều kiện sinh thái trong việc hình thành tính cách văn hóa Ngoài ra, các yếu tố lịch sử, xã hội, chính trị và tộc người cũng ảnh hưởng đến tính thống nhất và giá trị văn hóa tinh thần của từng miền Tri thức sử văn hóa tập trung vào việc khảo sát sự phát triển và giao lưu văn hóa qua các giai đoạn lịch sử, dưới tác động của môi trường xã hội Cuối cùng, các loại tri thức kinh tế, văn học và nghệ thuật cũng đóng góp vào việc hiểu rõ hơn về văn hóa hai miền.

Nguồn tư liệu cho luận án bao gồm các bộ chính sử về hoạt động của các hoàng đế và phụ nữ quyền lực ở hai miền Nam Bắc Trung Hoa trong lĩnh vực chính trị Ngoài ra, hai tiểu thuyết nổi tiếng là Tam quốc diễn nghĩa và Hồng lâu mộng, với các nhân vật từ hai miền, cũng được khai thác qua góc nhìn của La Quán Trung và Tào Tuyết Cần trong lĩnh vực văn chương Luận án còn sử dụng các phong tục dân gian, câu tục ngữ và ngạn ngữ của hai miền Nam Bắc Trung Hoa trong lĩnh vực văn hóa dân gian Tất cả tư liệu này được thu thập bằng tiếng Việt, tiếng Trung và tiếng Anh từ sách báo, bài viết trên internet, cùng với các loại tư liệu khác như hình ảnh, từ điển và bách khoa thư.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

ĐẶC TRƯNG TÍNH CÁCH VĂN HÓA NGƯỜI HÁN HAI MIỀN TRÊN BÌNH DIỆN TỔ CHỨC

ĐẶC TRƯNG TÍNH CÁCH VĂN HÓA NGƯỜI HÁN HAI MIỀN TRÊN BÌNH DIỆN ỨNG XỬ

Ngày đăng: 29/06/2023, 22:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w