ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN JU GAYEON DẠY – HỌC TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC HÀ N QUỐC (Trường hợp Trường Quốc tế Hàn Quốc tại[.]
Trang 1JU GAYEON
DẠY – HỌC TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC HÀ N QUỐC (Trường hợp Trường Quốc tế Hàn Quốc
tại Thành phố Hồ Chí Minh)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊ N NGÀ NH: VIỆT NAM HỌC
THÀ NH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2022
Trang 2Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Mai Nhân
THÀ NH PHỐ HỒ CHÍ MINH– NĂM 2022
Trang 3sự hướng dẫn khoa học của TS Trần Thị Mai Nhân Tất cả các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn trung thực Nội dung nghiên cứu của đề tài chưa từng được tác giả nào công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu khác
Tác giả luận văn
Ju Gayeon
Trang 4của nhiều tổ chức và cá nhân
Trước tiên, xin chân thành cảm ơn các thầy cô Khoa Việt Nam học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM)
đã truyền đạt cho chúng tôi kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường Đặc biệt, tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến Tiến sĩ Trần Thị Mai Nhân, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ cho tôi nhiều trong quá trình viết luận văn
Tôi cũng gửi lời cảm ơn đến các học sinh tiểu học, đội ngũ giáo viên của Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc quá trình khảo sát, phỏng vấn và cung cấp thông tin hữu ích cho công trình nghiên cứu này
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn động viên, ủng hộ và giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này
Trân trọng
Tác giả luận văn
Ju Gayeon
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐÀU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 9
7 Bố cục luận văn 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG QUỐC TẾ HÀ N QUỐC THÀ NH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1.1 Cơ sở lý luận 11
1.1.1 Vài nét về ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ 11
1.1.2 Đặc điểm của học sinh tiểu học 13
1.1.3 Những điều kiện để trở thành giáo viên dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học nước ngoài 17
1.1.4 Khái niệm và vai trò của giáo trình trong giảng dạy 20
1.2 Tổng quan về Trường Quốc tế Hàn Quốc Thành phố Hồ Chí Minh 22
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 22
1.2.2 Cơ cấu tổ chức 26
1.2.3 Các cấp học và số lượng học sinh 27
Tiểu kết chương 1 29
Trang 6CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC Ở TRƯỜNG QUỐC TẾ HÀ N QUỐC THÀ NH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Giới thiệu chung về bộ môn tiếng Việt ở Trường Quốc tế Hàn Quốc Thành
phố Hồ Chí Minh 31
2.1.1 Thời lượng dạy và cách phân lớp 32
2.1.2 Phương pháp kiểm tra, đánh giá 35
2.1.3 Các hoạt động liên quan đến tiếng Việt 36
2.2 Đội ngũ giáo viên tiếng Việt ở Trường Quốc tế Hàn Quốc Thành phố Hồ Chí Minh 38
2.2.1 Chuyên ngành đào tạo 38
2.2.2 Kinh nghiệm giảng dạy 41
2.2.3 Việc quản lý chất lượng đội ngũ giáo viên tiếng Việt 44
2.3 Giáo trình tiếng Việt ở Trường Quốc tế Hàn Quốc Thành phố Hồ Chí Minh 45
2.3.1 Tình hình chung về giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài 45
2.3.2 Những thay đổi trong việc sử dụng giáo trình tiếng Việt của Trường Quốc tế Hàn Quốc Thành phố Hồ Chí Minh 47
2.3.3 Những khó khăn và hạn chế trong việc biên soạn bộ giáo trình tiếng Việt của Trường 50
2.4 Học sinh tiểu học ở Trường Quốc tế Hàn Quốc Thành phố Hồ Chí Minh 59
2.4.1 Mức độ sử dụng và lý do cần phải học tiếng Việt 60
2.4.2 Suy nghĩ và khả năng của học sinh về các kỹ năng tiếng Việt 64
Trang 72.4.3 Nhu cầu của học sinh về lớp học tiếng Việt 66
Tiểu kết chương 2 72
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁ P ĐỂ NÂ NG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC HÀ N QUỐC 3.1 Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tiếng Việt 74
3.1.1 Tuyển dụng và quản lý giáo viên tiếng Việt 75
3.1.2 Tổ chức khóa bồi dưỡng “Phương pháp giảng dạy tiếng Việt cho trẻ em nước ngoài” 77
3.2 Nâng cao chất lượng biên soạn giáo trình 81
3.2.1 Những điểm cần chú ý khi biên soạn giáo trình cho trẻ em 81
3.2.2 Tiêu chí phân tích giáo trình 83
3.3 Nâng cao khả năng truyền cảm hứng học tiếng Việt cho học sinh tiểu học Hàn Quốc 88
3.3.1 Kết hợp giới thiệu văn hóa Việt Nam trong quá trình giảng dạy 88
3.3.2 Sử dụng phương pháp giảng dạy đáp ứng được nhu cầu của học sinh 89
3.3.3 Mở thêm các lớp học ngoại khóa liên quan đến tiếng Việt 90
Tiểu kết chương 3 92
KẾT LUẬN 94
TÀ I LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 105
Trang 91.3 Những điều kiện để trở thành giáo viên dạy tiếng Việt cho học sinh
1.4 Số lượng học sinh Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM (30/12/1998) 24 1.5 Mục tiêu giáo dục của Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM 25 1.6 Số lượng học sinh Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM (1/3/2021) 27
2.1 Sự thay đổi thời lượng dạy và cách phân lớp môn tiếng Việt khối 1 và
2.2 Tỷ lệ học sinh Hàn - Việt ở bậc tiểu học Trường Quốc tế Hàn Quốc
2.3 Sự thay đổi thời lượng dạy và cách phân lớp môn tiếng Việt từ khối 3
2.4 Ngôn ngữ mà học sinh muốn giáo viên tiếng Việt sử dụng trong giờ
2.5 Giáo viên tiếng Việt tại Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM 44
2.6
Sự thay đổi giáo trình tiếng Việt của khối 1 và khối 2
tại Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM (từ năm học 2013 đến năm
học 2021)
47
2.7
Sự thay đổi giáo trình tiếng Việt của từ khối 3 đến khối 6
tại Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM (từ năm học 2013 đến năm
học 2021)
48
2.8 Mức độ hài lòng của học sinh về giáo trình tiếng Việt hiện đang sử
Trang 102.9 Tóm tắt nội dung giáo trình tiếng Việt của khối 4 trình độ A và trình
2.10 Tóm tắt nội dung giáo trình tiếng Việt của khối 6 trình độ C và trình
2.11 Nội dung liên quan đến văn hóa Việt Nam trong bộ giáo trình tiếng
2.12 Trình độ tiếng Việt của các học sinh đã tham gia cuộc khảo sát 60
2.13 Mức độ sử dụng tiếng Việt trong sinh hoạt hàng ngày của học sinh
2.19 Mức độ hứng thú của học sinh với việc học tiếng Việt 67
3.1 Kế hoạch đào tạo giáo viên tiếng Việt
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ
trang
2.1 Khối và giới tính của các học sinh đã tham gia cuộc khảo sát 59
2.2 Các phương pháp giảng dạy mà học sinh thuần Hàn
2.3 Các phương pháp giảng dạy mà học sinh Hàn - Việt
trang
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau khi thực hiện chính sách Đổi mới, Việt Nam đã đạt được sự phát triển vượt bậc trên mọi lĩnh vực Hiện tại, Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với 189 nước trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc1 Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi
để các doanh nghiệp nước ngoài có thể kinh doanh và đầu tư tại Việt Nam
Trong xu thế hội nhập quốc tế, Việt Nam đã trở thành “điểm đến” của bè bạn năm châu, và nhu cầu học tiếng Việt của người nước ngoài cũng ngày càng tăng Hiện nay ở Việt Nam, đặc biệt là Hà Nội và TP.HCM đã có nhiều cơ sở đào tạo và trung tâm dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Về tài liệu học tập, đã có nhiều bộ giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài do các cơ sở giáo dục và cá nhân biên soạn với sự đa dạng về trình
độ, mục đích
Tuy nhiên, hầu hết đối tượng nghiên cứu là người lớn chứ không phải là trẻ em
Số lượng người nước ngoài sinh sống tại Việt Nam tăng lên kéo theo số lượng trẻ em nước ngoài cũng tăng lên Việc học tiếng Việt giúp học sinh nước ngoài dễ dàng thích nghi với cuộc sống ở Việt Nam và giúp các em hiểu biết sâu hơn về văn hóa Việt Nam Nếu sống gắn bó với Việt Nam trong một thời gian dài thì trong tương lai, trẻ em nước ngoài có thể trở thành “cầu nối” giữa Việt Nam với các nước khác Vì vậy, nghiên cứu dạy và học tiếng Việt cho học sinh tiểu học nước ngoài là điều rất cần thiết
Hiện tại, nhiều người nước ngoài sinh sống ở Việt Nam với rất nhiều mục đích khác nhau Nhiều người Hàn Quốc cũng lựa chọn Việt Nam để sinh sống và làm việc vì mối quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc đã và đang có sự phát triển mạnh mẽ trong tất
1 https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tin-tuc/xay-dung-va-phat-trien-nen-doi-ngoai-ngoai-giao-viet-nam-hien-dai-va-mang-dam-ban-sac-dan-toc-680476 (2021.12.14) truy cập ngày 15/2/2022
Trang 13cả các lĩnh vực sau khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1992 Hiện nay, Hàn Quốc là một trong những nước có quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam Còn Việt Nam là đối tác trọng tâm trong chính sách hướng Nam mới của Hàn Quốc
Theo thống kê cuối năm 2020 của bộ Ngoại giao Hàn Quốc, có khoảng 150.000 người Hàn Quốc sinh sống tại Việt Nam Trong đó, khoảng 60% tập trung tại TP.HCM Đây là một trong những địa phương có cộng đồng người Hàn Quốc lớn ở nước ngoài. 2
Học sinh Hàn Quốc cư trú tại TP.HCM thường đi học ở Trường Quốc tế Hàn Quốc Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM được thành lập vào năm 1998 Trường được
Bộ Giáo dục Hàn Quốc phê duyệt và đào tạo theo chương trình giáo dục của Hàn Quốc Trường Quốc tế Hàn Quốc đào tạo từ bậc mẫu giáo cho đến bậc trung học phổ thông Hiện tại, Trường có hơn 2.000 em đang theo học Trong đó, số lượng học sinh tiểu học
có khoảng 1.000 em.3
Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM dạy tiếng Việt cho học sinh từ khối lớp 1 Nhưng việc dạy học tiếng Việt cho học sinh tiểu học nước ngoài chưa được ổn định Nhà trường gặp phải nhiều vấn đề, từ việc tuyển giáo viên đến việc sử dụng tài liệu tiếng Việt phù hợp với học sinh tiểu học Vì việc giảng dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học chưa được quan tâm nhiều, còn đang ở giai đoạn khởi đầu Cho đến nay, có rất ít công trình nghiên cứu đề cập đến việc dạy và học tiếng Việt cho học sinh tiểu học nước ngoài Các nghiên cứu thường tập trung vào việc phân tích ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và áp dụng vào việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài trưởng thành
Vì vậy, đề tài này có ý nghĩa đối với học sinh tiểu học Hàn Quốc, với đội ngũ giáo viên dạy tiếng Việt và Nhà trường Đây cũng là một cơ hội tốt để tìm hiểu thực trạng dạy và học tiếng Việt cho học sinh tiểu học Hàn Quốc nói riêng và học sinh nước
2 https://www.mofa.go.kr/www/brd/m_4075/view.do?seq=368682 , Bộ Ngoại giao Hàn Quốc, Báo cáo tình hình người Hàn ở nước ngoài năm 2021, truy cập ngày 15/2/2022
3 http://kshcm.net/ Trang web Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM, truy cập ngày 18/2/2022
Trang 14ngoài nói chung Về lâu dài, điều này có thể góp phần cho sự phát triển của việc dạy và
học tiếng Việt cho trẻ em nước ngoài Với những lý do này, chúng tôi chọn đề tài “Dạy
– học tiếng Việt cho học sinh tiểu học Hàn Quốc (Trường hợp Trường Quốc tế Hàn Quốc tại Thành phố Hồ Chí Minh)” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học
2 Mục đích nghiên cứu
- Góp phần tìm hiểu thực trạng dạy và học tiếng Việt cho học sinh tiểu học Hàn Quốc về nhiều mặt như bộ môn tiếng Việt, đội ngũ giáo viên tiếng Việt và tài liệu dạy học tiếng Việt Thêm vào đó, đề tài cũng giúp người nghiên cứu, người dạy tiếng Việt nắm bắt nhu cầu của học sinh về việc học tiếng Việt tại Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM
- Trên cơ sở điều tra và khảo sát, đề tài phân tích thực trạng dạy và học tiếng Việt cho học sinh tiểu học Hàn Quốc, làm cơ sở cho việc nghiên cứu giảng dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học Hàn Quốc nói riêng và học sinh tiểu học nước ngoài nói chung
- Đưa ra những giải pháp thiết thực cho đội ngũ giáo viên tiếng Việt và Nhà trường,
từ đó giúp nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học Hàn Quốc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc dạy và học tiếng Việt cho học sinh tiểu học Hàn Quốc tại Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM
Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM là trường có quy mô lớn nhất, có lịch sử lâu dài nhất trong ba trường dành cho người Hàn Quốc4 tại TP.HCM Khách thể nghiên cứu của đề tài bao gồm đội ngũ giáo viên tiếng Việt và học sinh tiểu học Hàn Quốc từ khối
1 đến khối 6, bao gồm trẻ em thuần Hàn (bố mẹ đều là người Hàn Quốc) và trẻ em Hàn
4 Hiện tại có ba trường dành cho học sinh Hàn Quốc tại TP.HCM: trường Quốc tế Hàn Quốc (KIS), trường Quốc tế Star light (SIKS) và trường Toàn cầu Hàn Quốc (KGS)
Trang 15– Việt (bố hoặc mẹ là người Việt)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Tính đến tháng 9 năm 2019, đã có 34 trường Quốc tế Hàn Quốc được Bộ Giáo dục Hàn Quốc phê duyệt trên thế giới Vì vậy, để tránh nhầm lẫn, đề tài này được khảo sát tại Trường Quốc tế Hàn Quốc tại TP.HCM Trong luận văn, phạm vi khảo sát của đề tài được xác định cụ thể là Trường Quốc tế Hàn Quốc tại TP.HCM, chứ không phải là Trường Quốc tế Hàn Quốc tại Hà Nội và xin trình bày thêm rằng, hiện tại ở TP.HCM chỉ có một Trường Quốc tế Hàn Quốc, có tên là Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM (Korean International School HCMC)
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tình hình dạy và học tiếng Việt cho học sinh tiểu học Hàn Quốc bao gồm bộ môn tiếng Việt, đội ngũ giáo viên, tài liệu dạy học tiếng Việt
và nhu cầu của học sinh về việc học tiếng Việt tại Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM Trong đó, chúng tôi nghiên cứu và phân tích sự thay đổi của bộ môn tiếng Việt và tài liệu dạy học tiếng Việt từ năm 2013 đến năm 2021 Lý do chúng tôi chọn mốc thời gian này là mặc dù Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM được thành lập vào 1998 nhưng cho đến năm 2013 học sinh khối 1, khối 2 mới bắt đầu học tiếng Việt và từ đó, việc dạy học
tiếng Việt tại trường đã từng bước có những sự thay đổi tích cực
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp quan sát tham dự (Participant & observation): Chúng tôi đã
có cơ hội dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học Hàn Quốc tại Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM Vì vậy, chúng tôi có thể quan sát được việc dạy của đội ngũ giáo viên và việc
học của học sinh
- Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi (Questionnaire survey): Chúng tôi sử
dụng phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi để thu thập thông tin từ học sinh và giáo viên Chúng tôi soạn bảng câu hỏi với các câu hỏi về giảng dạy tiếng Việt gồm phương pháp
Trang 16giảng dạy, tài liệu tiếng Việt, những khó khăn trong quá trình học tập, v.v Năm 2021,
do tình hình dịch covid – 19 diễn biến phức tạp nên chúng tôi đã tiến hành khảo sát trực tuyến Chúng tôi đã phát bảng hỏi cho tám giáo viên và 278 học sinh từ khối 3 đến khối
6 vì các em khối 1 và khối 2 khó hiểu nội dung bảng câu hỏi và các em chỉ học tiếng Việt 1 tiết/tuần Chúng tôi đã phát phiếu khảo sát cho 278 học sinh và thu lại được 229 phiếu
Trong tám giáo viên được khảo sát, có sáu giáo viên đang làm việc tại trường, hai giáo viên còn lại đã nghỉ việc Đây là những giáo viên đã dạy tiếng Việt ở Trường Quốc
tế Hàn Quốc TP.HCM trong nhiều năm
Chúng tôi đã thu thập thông tin chung về cá nhân và thông tin liên quan đến thực trạng giảng dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học như tài liệu dạy học, những khó khăn, trở ngại trong quá trình dạy tiếng Việt cho học sinh
- Phương pháp phỏng vấn sâu (In- depth interviewing): Chúng tôi phỏng vấn
sâu Tổ trưởng Tổ Đa văn hóa5 và ba thầy cô đang dạy tiếng Việt ở Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM và một giáo viên đã dạy tiếng Việt gần 10 năm ở Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM để hiểu rõ hơn về thực trạng việc dạy và học tiếng Việt cho học sinh tiểu học Hàn Quốc Năm biên bản phỏng vấn được đưa vào phần Phụ lục của luận văn
Ngoài các phương pháp nghiên cứu trên, chúng tôi còn sử dụng các thao tác thống
kê, phân tích, tổng hợp tài liệu từ nhiều chuyên ngành liên quan đến đề tài như tài liệu
các chuyên ngành Việt Nam học, Giáo dục học, Tâm lý học v.v…
5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay ở Việt Nam có nhiều cơ sở đào tạo, trung tâm dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Đặc biệt, Hà Nội và TP.HCM là hai thành phố có số lượng người nước ngoài theo học tiếng Việt đông nhất Việt Nam Trong đó, hai Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia TP.HCM là hai
5 Tại Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM, tổ đa văn hóa quản lý việc liên quan đến môn tiếng Việt
Trang 17trường đại học có bề dày lịch sử về việc đào tạo cử nhân ngành Việt Nam học và các khóa tiếng Việt ngắn hạn cho người nước ngoài Bên cạnh đó, hai trường đại học đã tổ chức nhiều Hội thảo khoa học Quốc tế về Việt Nam học, với chủ đề “Nghiên cứu, giảng dạy Việt Nam học và tiếng Việt” Các hội thảo đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước tham gia và đã nhận được hàng nghìn bài nghiên cứu
Cho đến nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu về giảng dạy và học tập tiếng Việt cho người nước ngoài Hầu hết các công trình nghiên cứu về giảng dạy và học tập tiếng Việt cho người nước ngoài đều quan tâm đến vấn đề ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp
và phương pháp giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ Ngoài ra, một số đề tài tìm hiểu về việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài và việc học tiếng Việt của người nước ngoài Trong đó, các nhà nghiên cứu đề cập đến động cơ, thái độ, những khó khăn, trở ngại mà người học gặp phải trong quá trình học tập
Tuy nhiên, đối tượng người Hàn học tiếng Việt thì chưa được nhiều người nghiên cứu Đặc biệt, chúng tôi chưa thấy một nghiên cứu nào đề cập đến thực trạng dạy và học tiếng Việt cho học sinh tiểu học Hàn Quốc
Vì vậy, với phạm vi của đề tài, chúng tôi chỉ tổng hợp những nghiên cứu liên quan đến việc dạy và học tiếng Việt cho người Hàn và những nghiên cứu về giảng dạy và học tập tiếng Việt cho trẻ em và học sinh nước ngoài nói chung
5.1 Những nghiên cứu liên quan đến việc dạy tiếng Việt cho người Hàn
Những công trình nghiên cứu mà đối tượng là học viên, sinh viên Hàn Quốc, chủ yếu nghiên cứu các đặc điểm về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp tiếng Việt, sau đó áp dụng vào việc dạy tiếng Việt cho người Hàn
Các tác giả Phan Trần Công, Trần Thị Tâm, Chu Thị Quỳnh Giao (2010) với bài
viết Luyện phát âm đối với nguyên âm tiếng Việt cho học viên Hàn Quốc, đã tìm hiểu sự
khác biệt về đặc điểm ngữ âm trong tiếng Việt và tiếng Hàn Từ đó đưa ra một số dạng bài tập để luyện phát âm các nguyên âm
Trang 18Vũ Minh Trang (2014) với luận văn thạc sĩ: Đặc điểm của ngôn ngữ viết và việc
giảng dạy kỹ năng tiếng Việt cho học viên người Hàn Quốc, đã so sánh một vài điểm
khác nhau giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Tác giả khái quát một số lỗi thường gặp
ở học viên người Hàn Quốc khi viết tiếng Việt và đề xuất hướng khắc phục lỗi
Đào Thị Hương Giang (2014) với luận văn thạc sĩ Lỗi phát âm của người Hàn
học tiếng Việt ở Thành phố Hồ Chí Minh đã hiểu biết nguyên nhân và tình hình mắc lỗi
phát âm của người Hàn học tiếng Việt, đưa ra giải pháp giúp khắc phục lỗi Tác giả nhấn mạnh vai trò của giáo viên trong quá trình học viên khắc phục tình trạng phát âm
Lee Ji Sun (2020) với bài viết Nghiên cứu trường hợp giảng dạy thanh điệu tiếng
Việt cho người Hàn (trình độ sơ cấp), đề cập đến tầm quan trọng của phát âm trong việc
học ngoại ngữ Tác giả đưa ra một số phương pháp dạy thanh điệu trong giảng dạy tiếng Việt cho sinh viên Hàn Quốc trình độ sơ cấp
Ngoài ra, còn có một số công trình liên quan đến thực trạng dạy và học tiếng Việt
cho người Hàn tại Việt Nam và Hàn Quốc Trong luận văn thạc sĩ Thực trạng dạy và học
tiếng Việt của cộng đồng người Hàn phía Bắc Việt Nam (2017), Trần Thị Á nh Hồng đã
nghiên cứu về thực trạng dạy và học tiếng Việt của cộng đồng người Hàn phía Bắc Việt Nam Sau khi phân tích ba yếu tố chính trong quá trình dạy và học, người dạy, người học
và phương pháp học liệu, tác giả nêu những khó khăn, trở ngại mà người Hàn gặp phải trong việc học tiếng Việt
Trần Nam (2012), trong luận văn Sự hội nhập của sinh viên Hàn Quốc với điều
kiện sống tại Thành phố Hồ Chí Minh (Nghiên cứu sinh viên Hàn Quốc hệ chính quy đang học tại Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG-TP.HCM), đã nghiên cứu, đánh giá
sự hội nhập của sinh viên Hàn Quốc trên các mặt điều kiện sống Tác giả đề cập đến điều kiện học tập gồm chương trình học tập, tài liệu tham khảo, sự hỗ trợ của khoa,
Cù Thị Minh Ngọc (2017) với bài viết Khó khăn trong việc thực hành tiếng Việt
ngoài lớp học của học viên Hàn Quốc tại Khoa Việt Nam học – Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG-HCM, tìm hiểu môi trường thực hành tiếng Việt bên ngoài lớp học
Trang 19của học viên Hàn Quốc cũng như những khó khăn của họ khi thực hành tiếng Việt và đưa ra một số giải pháp giúp học sinh phát triển các kỹ năng tiếng Việt để thực hành ở ngoài lớp
Với bài Sự cộng tác giữa giáo viên và học viên người Hàn Quốc trong lớp học
tiếng Việt, tác giả Cù Thị Minh Ngọc (2019) cũng đề cập đến hiện tượng lớp học “thiếu
cộng tác” tại Khoa Việt Nam học Sự cộng tác là một trong những điều quan trọng trong môi trường lớp học ngoại ngữ nên tác giả lý giải nguyên nhân và đưa ra một số giải pháp
để nâng cao sự cộng tác giữa giáo viên với học viên và giữa các học viên với nhau
Lee Kang Woo (2016), với bài Nghiên cứu thực trạng dạy và học tiếng Việt cho
học sinh trung học phổ thông Hàn Quốc, đã khảo sát ba trường trung học phổ thông dạy
tiếng Việt tại Hàn Quốc Thông qua nghiên cứu này, chúng ta có thể hiểu biết thực trạng dạy và học tiếng Việt như thời lượng dạy, lý do học sinh chọn học tiếng Việt,
Trong bài viết Tình hình đào tạo tiếng Việt và Việt Nam học tại Hàn Quốc, nhóm
tác giả Lê Thị Hồng Minh và Lee Kang Woo (2015) đã khái quát tình hình đào tạo tiếng Việt và Việt Nam học tại một số trường đại học Hàn Quốc Trong bài viết này, các tác giả đã đi từ sự ra đời khoa tiếng Việt, khoa Việt Nam học đến các nội dung chương trình Việt Nam học và tiếng Việt hiện hành Tác giả cho rằng, cánh cửa đầu ra của các Khoa tiếng Việt và Khoa Việt Nam học ở Hàn Quốc hiện nay đang rộng mở vì mối quan hệ giữa hai nước đang phát triển trên mọi lĩnh vực
5.2 Những nghiên cứu về dạy và học tiếng Việt cho trẻ em nước ngoài
Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu về việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài nhưng nghiên cứu hướng đến đối tượng là trẻ em nước ngoài rất hiếm Năm 2016, một đề tài nghiên cứu cấp Bộ của trường Đại học Sư phạm TP.HCM đã được thực hiện
là “Xây dựng chương trình môn tiếng Việt như ngoại ngữ thứ hai cho học sinh nước ngoài tại Việt Nam (chuẩn đầu ra mức A1, Khung tham chiếu châu Âu)”, mã số B2014.19.12NV do Bùi Mạnh Hùng chủ nhiệm Đề tài này nghiên cứu CEFR và khả năng ứng dụng vào việc xây dựng chương trình dạy học tiếng Việt cho học sinh nước
Trang 20ngoài Thêm vào đó, công trình cũng khảo sát vốn từ và kiến thức Việt ngữ tối thiểu đối với học sinh học tiếng Việt mức A1
Đoàn Thị Thúy Hạnh và Võ Thanh Hà (2018) với bài viết: Xây dựng nội dung
dạy học môn tiếng Việt cấp tiểu học cho học sinh nước ngoài, đã xây dựng nội dung dạy
học môn tiếng Việt cấp tiểu học cho học sinh nước ngoài theo chuẩn đầu ra bậc 1 (Khung năng lực tiếng Việt dùng cho người nước ngoài) với mục tiêu giúp các em bước đầu có khả năng giao tiếp đơn giản Các tác giả đề cập đến các kĩ năng ngôn ngữ và kiến thức ngôn ngữ cần đạt ở bậc 1
Cả hai nghiên cứu đều có ý nghĩa quan trọng vì có thể làm cơ sở xây dựng chương trình tiếng Việt cho học sinh nước ngoài trình độ sơ cấp
Chúng ta cũng có thể thấy được hầu hết những nghiên cứu được đề cập chỉ bàn
về việc dạy và học tiếng Việt cho người Hàn nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào hướng đến đối tượng cụ thể là học sinh tiểu học Hàn Quốc Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài này để có cái nhìn tổng quát về thực trạng dạy và học tiếng Việt cho học sinh tiểu học Hàn Quốc
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Hệ thống hóa được những lý luận liên quan đến đặc điểm
của học sinh tiểu học và việc dạy học ngoại ngữ cho học sinh tiểu học
- Ý nghĩa thực tiễn: Nghiên cứu về việc dạy và học tiếng Việt cho học sinh tiểu
học Hàn Quốc tại Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM và đưa ra một số giải pháp phù hợp với thực tế Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đến việc dạy học tiếng Việt cho học sinh tiểu học Hàn Quốc nói riêng và học sinh tiểu học nước ngoài nói chung Thêm vào đó, đề tài này mang tính ứng dụng nên có thể đóng góp một phần nào đó để nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học nước ngoài
Trang 217 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của
luận văn bao gồm ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về Trường Quốc tế Hàn Quốc Thành phố Hồ Chí Minh (20 trang)
Chương này giới thiệu một số vấn đề về lý luận được sử dụng trong luận văn và nêu khái quát về Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM (lịch sử hình thành và phát triển, các cấp đào tạo,…)
Chương 2: Thực trạng dạy và học tiếng Việt cho học sinh tiểu học ở Trường Quốc tế Hàn Quốc Thành phố Hồ Chí Minh (43 trang)
Thông qua phỏng vấn và khảo sát, chúng tôi tìm hiểu thực trạng dạy và học tiếng Việt cho học sinh tiểu học Hàn Quốc ở Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM
Chương 3: Giải pháp để nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Việt cho học sinh tiểu học Hàn Quốc (20 trang)
Sau khi phân tích thực trạng dạy và học tiếng Việt ở Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM, chúng tôi đưa ra một số giải pháp thiết thực để nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học Hàn Quốc
Trang 22CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG QUỐC TẾ HÀ N QUỐC THÀ NH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Vài nét về ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ
Trước khi đi sâu vào nghiên cứu và tìm hiểu về việc dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học Hàn Quốc và việc học tiếng Việt của các em, chúng ta cần xác định việc dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học Hàn Quốc là dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ hay như một ngôn ngữ thứ hai
Theo Bách khoa toàn thư mở (Wikipedia), “ngôn ngữ thứ hai của một người (thường viết tắt là L2 theo tiếng Anh: Second language) là ngôn ngữ không phải là tiếng
mẹ đẻ (ngôn ngữ thứ nhất hoặc L1) của người nói, nhưng được học sau này và được sử dụng thường xuyên không phải với tư cách là ngoại ngữ”
Giữa ngôn ngữ thứ 2 và ngoại ngữ có những điểm khác biệt: “Trong một môi trường mà ngôn ngữ được coi là ngôn ngữ thứ 2, ngôn ngữ được sử dụng thường xuyên, liên tục trong đời sống, người nói sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp tự nhiên, hàng ngày của đời sống” (Ngô Mạnh Linh, 2015) Ngôn ngữ thứ 2 có thể được tiếp nhận không cần thông qua việc học (ngôn ngữ) tại nhà trường Trong môi trường
mà ngôn ngữ được coi là ngoại ngữ, ngôn ngữ không được sử dụng thường xuyên trong môi trường của người nói mà chỉ được xem là một môn học Người nói ít hoặc không có
cơ hội được sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp tự nhiên, hàng ngày”
Như vậy, tiếng Anh ở Singapore hay Phillippines được xem là ngôn ngữ thứ hai chứ không phải là ngoại ngữ Theo tác giả Dư Ngọc Ngân (2019), ngoại ngữ không phải
là một phương tiện giao tiếp rộng rãi, chỉ là một môn học được dạy trong nhà trường với mục đích giúp cho người học giao tiếp quốc tế và đọc những ấn phẩm viết bằng thứ tiếng
Trang 23đó Chẳng hạn như tiếng Anh được dạy ở Pháp hay ở Trung Quốc, nó được xem là một ngoại ngữ (Dư Ngọc Ngân, 2019, tr.1) Ngoài ra, còn có một số tiêu chí phân biệt ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ (Bảng 1.1)
Bảng 1.1: Những tiêu chí phân biệt ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ
trường
- Trong mọi hoàn cảnh, có thể coi đây là tiếng mẹ đẻ thứ hai
- Được sử dụng phổ thông
- Có hoàn cảnh cụ thể, trong vài trường hợp nhất định như giao tiếp với người nước ngoài
- Gói gọn trong phạm vi nhỏ, thường là ở trường
2 Kỹ năng - Phát âm chuẩn, khả năng
- Có nhiều lí do để đáp ứng những mục đích khác nhau: luyện thi chứng chỉ, đi du học, định cư, học để hoàn tất chương trình ở trường
4 Quá trình
tiếp nhận
- Tiếp nhận theo cảm thức, phản xạ tự nhiên
- Thường xuyên bổ sung vốn
từ trong đời sống
- Đặt nặng từ vựng, ngữ pháp đúng, sai rõ ràng
- Kĩ năng nghe, nói hạn chế
(Nguồn:
https://giaoduc.net.vn/chung-ta-dang-nham-lan-giua-ngon-ngu-thu-2-va-ngoai-ngu-post193572.gd , trang web Giáo dục Việt Nam)
Nhìn vào các tiêu chí trên, chúng tôi có thể cho rằng đa số học sinh tiểu học Hàn Quốc ở Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM học tiếng Việt như một ngoại ngữ Mặc dù học sinh tiểu học Hàn Quốc sống ở Việt Nam nhưng các em rất ít có cơ hội giao tiếp bằng tiếng Việt, vì môi trường hoạt động của học sinh tiểu học có nhiều hạn chế hơn người lớn và các em thường sử dụng tiếng Hàn trong môi trường đó Vì vậy, trong luận văn này, đối với học sinh tiểu học Hàn Quốc, chúng tôi xem việc dạy và học tiếng Việt
Trang 24như là một ngoại ngữ Xác định được điều này, người dạy sẽ có những yêu cầu và phương pháp giảng dạy phù hợp
1.1.2 Đặc điểm của học sinh tiểu học
Khi dạy ngoại ngữ, giáo viên cần phải hiểu biết khá sâu về người học Giáo viên phải điều chỉnh nội dung và phương pháp giảng dạy phù hợp với lứa tuổi, trình độ phát triển nhận thức và mục tiêu của người học Nếu không có sự hiểu biết về người học, giáo viên sẽ gặp khó khăn trong việc gây hứng thú và tạo động lực cho người học
Mục tiêu học ngoại ngữ của trẻ em là phát triển các kỹ năng giao tiếp cơ bản với sự quan tâm đến ngôn ngữ chứ không phải là xây dựng kiến thức sâu về ngôn ngữ Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày về sự phát triển nhận thức của trẻ em và một số đặc điểm của học sinh tiểu học
J.Piaget là một nhà nghiên cứu tiên phong về phát triển nhận thức Đối với J.Piaget, trẻ em là một chủ thể hoạt động, sống động, chủ động trước môi trường sống Lý thuyết của ông ảnh hưởng đến các nhà thiết kế chương trình giáo dục, giáo viên và những người làm việc trong lĩnh vực chăm sóc, giáo dục trẻ em
Ô ng đã chia các giai đoạn phát triển nhận thức của trẻ em thành 4 giai đoạn theo
độ tuổi như sau: giai đoạn cảm giác – vận động, giai đoạn tiền thao tác, giai đoạn thao tác cụ thể và giai đoạn thao tác hình thức
Bảng 1.2: Mô tả các đặc điểm cơ bản của 4 giai đoạn phát triển nhận thức trẻ em
2-7
tuổi
Tiền thao tác
- Trẻ sử dụng biểu trưng để diễn tả và hiểu nhiều khía cạnh khác nhau của môi trường
Trang 25- Trẻ phản ứng lại các đối tượng sự kiện theo cách nghĩ của mình
- Suy nghĩ của trẻ lúc này mang tính chất “mình là trung tâm”
- Trẻ trở nên thành thạo hơn nhiều trong việc suy đoán các động cơ
12 tuổi
trở đi
Thao tác
hình thức
- Suy nghĩ của trẻ đã mang tính trừu tượng và hệ thống
- Trẻ có khả năng lập luận hệ thống và suy diễn, điều này cho phép trẻ cân nhắc nhiều giải pháp có thể đối với một vấn đề và tìm ra được câu trả lời đúng
(Nguồn: Phan Trọng Ngọ (chủ biên) và Lê Minh Nguyệt (2021), Giáo trình Các lí thuyết
phát triển tâm lí người, tr 71-72)
J.Piaget cho rằng, mỗi giai đoạn tích hợp các cấu trúc của giai đoạn trước thành một giai đoạn cấp độ cao hơn Tất cả trẻ em đều trải qua các giai đoạn phát triển nhận thức giống nhau Theo lý thuyết này, lứa tuổi học sinh tiểu học tương ứng với giai đoạn thao tác cụ thể
Trong giai đoạn thao tác cụ thể, trẻ em bắt đầu suy nghĩ có logic hơn nên có thể giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó Từ 7-8 tuổi, trẻ có thể hiểu được khái niệm bảo tồn
và hình thành những thao tác cụ thể như: cấu trúc phân loại, phân hạng, cấu trúc số, cấu trúc không gian, thời gian và tốc độ So với trẻ ở giai đoạn tiền thao tác, càng lên lớp cao, trẻ em càng dần thoát khỏi suy nghĩ “mình là trung tâm” Đây có thể coi là điểm khác biệt lớn nhất giữa giai đoạn tiền thao tác và giai đoạn thao tác cụ thể Những thay đổi này giúp trẻ em có thể suy nghĩ khách quan hơn Từ thời điểm này, trẻ em nhận ra rằng quan điểm của mình và quan điểm của người khác có thể khác nhau (Phan Trọng Ngọ (chủ biên) và Lê Minh Nguyệt,2021, tr.63-70)
Bùi Văn Huệ trong Giáo trình Tâm lí học tiểu học (2021) đã giải thích một số đặc
điểm của học sinh tiểu học chia thành 6 loại: tri giác, tư duy, tưởng tượng, trí nhớ, ngôn
Trang 26ngữ và chú ý
① Tri giác: Tri giác của học sinh tiểu học vẫn mang tính không chủ định Trong quá trình tri giác, trẻ thường tập trung vào một vài chi tiết của đối tượng và cho đó là tất cả
② Tư duy: Đặc điểm nổi bật là sự chuyển từ tính trực quan, cụ thể sang tính trừu tượng, khái quát Học sinh các lớp đầu thì tư duy cụ thể dựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng Còn học sinh các lớp cuối thì đã thoát ra khỏi tính chất trực tiếp của tri giác và mang dần tính trừu tượng, khái quát
③ Tưởng tượng: Tưởng tượng của học sinh tiểu học được phát triển và phong phú hơn nhiều so với trẻ trước tuổi học Khuynh hướng chủ yếu trong sự phát triển của tưởng tượng là tiến dần đến phản ánh một cách đúng đắn và đầy đủ hiện thực khách quan trên cơ sở những tri thức tương ứng
④ Trí nhớ: Các em ghi nhớ, giữ gìn và nhớ lại các tài liệu trực quan tốt hơn tài liệu bằng lời Ở học sinh tiểu học, tính không chủ định vẫn chiếm ưu thế nên khi ghi nhớ, trẻ dễ nhớ các bài hát, bài thơ, truyện cổ tích hơn là các tài liệu học tập Hơn nữa, trẻ tiểu học có khả năng ghi nhớ tốt, đặc biệt là ghi nhớ máy móc Thậm chí, không hiểu nội dung và ý nghĩa vẫn nhớ được nên các em dễ học thuộc lòng một bài thơ, đoạn văn, bảng cộng, trừ, nhân, chia
⑤ Ngôn ngữ: Ngôn ngữ của học sinh tiểu học phát triển mạnh cả về ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng Phát âm của trẻ tiểu học rõ hơn Vốn từ của các em tăng lên một cách đáng kể Khả năng hiểu nghĩa của từ cũng phát triển Ngoài ra, các em
đã nắm được một số quy tắc ngữ pháp cơ bản nhưng việc vận dụng vào ngôn ngữ nói và viết chưa thuần thục nên còn phạm nhiều lỗi, nhất là khi viết
⑥ Chú ý: Chú ý không chủ định được phát triển mạnh và chiếm ưu thế ở học sinh tiểu học Tất cả những gì mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ khác thường đều dễ dàng cuốn hút sự chú ý của trẻ mà không cần bất kì một sự nỗ lực nào của ý chí Nhưng học sinh tiểu học không thể tập trung chú ý vào những gì không rõ ràng, không hiểu
Trang 27hoặc quá quen thuộc, buồn chán Vì vậy, giáo viên cần phải sử dụng đồ dùng, phương tiện dạy học một cách hợp lí nhằm thu hút sự chú ý của trẻ (tr.100-118) Khi dạy ngoại ngữ, giáo viên cần nắm vững đặc điểm của trẻ em Halliwell (1992)
đã nêu 6 đặc điểm của học sinh tiểu học trong việc học tiếng Anh
① Khả năng nắm bắt ý nghĩa: Khi không hiểu rõ ý nghĩa từ vựng nào đó, học sinh tiểu học có thể nắm được ý của người nói bằng cử chỉ, giọng nói, nét mặt, hành động và các tình huống xung quanh Nếu không hiểu hoặc hiểu nhầm thì học sinh hỏi lại hoặc sử dụng cách khác để nhận được đầy đủ ý nghĩa của từ vựng
② Khả năng sáng tạo ngôn ngữ: Học sinh tiểu học có thể sáng tạo ra từ vựng hoặc ngữ pháp của riêng mình bằng cách sử dụng các từ vựng hoặc ngữ pháp đã học
để giải thích các khái niệm hoặc ý tưởng chưa biết
③ Khả năng học gián tiếp: Học sinh tiểu học có khả năng học gián tiếp tốt hơn khả năng học về kiến thức ngôn ngữ như ngữ pháp nên giáo viên cho học sinh bài tập “thiết thực” thú vị Tức là giáo viên nên dùng các trò chơi, hoạt động đa dạng để đưa ra tình huống học sinh có thể học ngôn ngữ gián tiếp
④ Bản năng tạo ra niềm vui và chơi đùa: Học sinh tiểu học có khả năng tạo ra niềm vui trong việc tham gia hoạt động với bạn bè Chúng thích chơi trò chơi theo bản năng Khi trẻ em gặp một tình huống thú vị, các em sẽ thấy hứng thú
và tập trung vào tình huống đó Vì vậy, nếu giáo viên sử dụng trò chơi trong giờ học thì có thể làm tăng hiệu quả học tập
⑤ Trí tưởng tượng phong phú: Học sinh tiểu học có trí tưởng tượng rất phong phú Nếu trí tưởng tượng được thêm vào các hoạt động ngoại ngữ thì việc học ngôn ngữ có hiệu quả hơn
⑥ Bản năng tương tác và nói chuyện: Học sinh tiểu học thích nói chuyện và hoạt động với các bạn cùng lứa tuổi (tr.3-8)
“Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại, trẻ em là trẻ em” Câu nói này hàm
Trang 28nghĩa trẻ em có những đặc điểm riêng của chúng, chưa phát triển cả về tinh thần, thể chất, nhận thức và tâm lý như người lớn
Như vậy, khi dạy ngoại ngữ cho học sinh tiểu học, giáo viên cần phải nắm vững đặc điểm của học sinh tiểu học để hiểu học sinh và dạy ngoại ngữ hiệu quả hơn
1.1.3 Những điều kiện để trở thành giáo viên dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học nước ngoài
1.1.3.1 Điều kiện để trở thành giáo viên tiểu học
Để dạy học sinh tiểu học, trước hết giáo viên phải có năng lực và phẩm chất của một giáo viên tiểu học Giai đoạn học tiểu học là xuất phát điểm của giáo dục phổ thông Giáo dục tiểu học là giai đoạn trẻ phát triển mạnh về mặt nhận thức và tình cảm Đồng thời đây cũng là giai đoạn cơ bản cho sự phát triển sau này
Vì vậy, giáo viên tiểu học cần phải hiểu rõ đặc điểm của người học, trên cơ sở đó,
có thể phát triển hài hòa giữa giáo dục chuyên môn và giáo dục nhân cách Thêm vào đó, giáo viên tiểu học khi dạy trẻ em, đối tượng chưa chín chắn cả về thể chất lẫn nhận thức, phải quan tâm và yêu thương các em
Kim Jiyeon (2005) đã tóm tắt những phẩm chất cần thiết cho giáo viên tiểu học như sau:
- Có lòng yêu nghề
- Quan tâm đến trẻ em
- Hiểu biết các môn học và có năng lực dạy các môn học một cách tổng hợp
- Có kiến thức về kỹ năng dạy học và phương pháp giảng dạy
- Hiểu biết và vận dụng các hoạt động học tập đa dạng trong giờ học
- Hiểu và áp dụng các kỹ năng giảng dạy lấy người học làm trung tâm
- Hiểu và áp dụng các phương pháp đánh giá (tr.13)
1.1.3.2 Điều kiện để trở thành giáo viên dạy ngoại ngữ
Dạy ngoại ngữ không phải là một việc dễ dàng vì giỏi ngoại ngữ và dạy ngoại
Trang 29ngữ hoàn toàn khác nhau Để dạy một ngoại ngữ, giáo viên cần có một số điều kiện
Người học có thể gặp khó khăn khi sử dụng cơ quan phát âm mà trước đây họ chưa sử dụng và học ngữ pháp và từ mới Không chỉ vậy, người học có thể cảm thấy lạ khi lần đầu tiên tiếp xúc với một nền văn hóa mới thông qua ngôn ngữ đó (Jeong Jeong-seop, 1982, tr.576) Với những lý do này, giáo viên ngoại ngữ phải có những yếu tố đặc biệt để đảm bảo thực hiện tốt công việc Năng lực của giáo viên ngoại ngữ thường bao gồm kiến thức và năng lực ngoại ngữ, kỹ năng sư phạm và phẩm chất đạo đức
Bae Doo Bon (2000) cho rằng, yếu tố cần thiết để làm giáo viên ngoại ngữ là nhân cách, thái độ và trình độ chuyên môn Giáo viên dạy ngoại ngữ phải là người khỏe mạnh, trưởng thành, có kiến thức sâu rộng Trong giờ học, giáo viên cần có thái độ thân thiện, hợp tác với các em học sinh Hơn nữa, giáo viên phải linh hoạt để có thể sử dụng phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng và tình huống Về các kỹ năng chuyên môn mà giáo viên ngoại ngữ cần phải có, ông cho rằng, giáo viên cần phải thông thạo ngôn ngữ đích và tiếng mẹ đẻ của học sinh, hiểu biết về văn hóa liên quan đến ngôn ngữ mình dạy
và văn hóa bản địa của người học, có kiến thức về tâm lý học, có kiến thức về phương pháp giảng dạy, kiểm tra và đánh giá (tr.320-325)
Theo Đặng Văn Cúc (2004), giáo viên là người quyết định chất lượng buổi học
Để được đánh giá là giáo viên ngoại ngữ tốt và để nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ, giáo viên cần có những năng lực và phẩm chất sau:
- Giỏi về chuyên môn (ngôn ngữ mà mình dạy)
- Nắm được và sử dụng nhuần nhuyễn các kỹ năng sư phạm
- Am hiểu tâm sinh lý học sinh, văn hóa của đất nước mình đang sống và văn hóa của ngoại ngữ mà mình giảng dạy
- Có những phẩm chất đạo đức và ý chí phù hợp với ngành giáo viên nói chung và nghề dạy ngoại ngữ nói riêng (tr 53)
Trang 301.1.3.3 Điều kiện để trở thành giáo viên dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học nước ngoài
Dạy tiếng Việt cho người nước ngoài là việc rất khó, không phải ai là người Việt cũng có thể dạy được Nguyễn Thiện Nam (2018) cho rằng, muốn làm giáo viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài phải có bảy yếu tố sau:
- Có đủ phẩm chất để trở thành một giáo viên
- Có tri thức chung về ngôn ngữ và ngôn ngữ học
- Có tri thức cơ bản về thứ tiếng mình dạy, ở đây là tiếng Việt (bao gồm lịch sử, ngữ âm, từ vựng, cú pháp và ngữ dụng học của tiếng Việt)
- Có tri thức về các phương pháp dạy tiếng, có thể đáp ứng tốt các tình huống dạy học và các loại giáo trình học
- Có khả năng quản lý lớp học tốt và có khiếu sư phạm
- Am hiểu về văn hóa, lịch sử Việt Nam và đa dạng văn hóa
- Có kinh nghiệm học ngoại ngữ (tr.385-386)
Từ những ý kiến trên, chúng ta có thể thấy để trở thành giáo viên tiếng Việt cho người nước ngoài, cần hội đủ những yếu tố cả về năng lực lẫn phẩm chất Để trở thành giáo viên dạy tiếng Việt cho trẻ em nước ngoài còn khó hơn Vì giáo viên dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học nước ngoài không những phải có kiến thức về ngôn ngữ học nói chung, tiếng Việt nói riêng mà còn phải nắm được phương pháp giảng dạy phù hợp Hơn nữa, người dạy phải có đủ phẩm chất của một giáo viên tiểu học như yêu thương trẻ em, kiên nhẫn, hiểu tâm lý trẻ em Giáo viên dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học nước ngoài phải cố gắng đạt được những điều kiện này để nâng cao chất lượng dạy học
Bảng 1.3: Những điều kiện để trở thành giáo viên dạy tiếng Việt
cho học sinh tiểu học nước ngoài
Kiến thức
ngôn ngữ học
- Kiến thức về ngôn ngữ học, tiếng Việt
- Kiến thức về lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ
Trang 31- Thành thạo tiếng Việt
- Hiểu biết về văn hóa Việt Nam
- Biết tiếng mẹ đẻ của người học
- Năng lực đối chiếu tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ của học trò
- Giọng phát âm (không phân biệt vùng miền, nhưng phải phát
âm rõ ràng, sử dụng từ toàn dân)
Kiến thức
sư phạm
- Kiến thức về phương pháp giảng dạy
- Kỹ năng đánh giá học sinh
- Năng lực nghiên cứu tài liệu dạy học
- Sử dụng những thiết bị, công cụ, cách thức hỗ trợ đa dạng
Phẩm chất
giáo viên
- Hiểu biết tâm sinh lý của học sinh tiểu học
- Xây dựng mối quan hệ tích cực với học sinh
- Nêu cao tinh thần trách nhiệm với công việc
- Tôn trọng học sinh
- Kiên trì (đặc biệt là đối với những em khối 1, 2)
(Nguồn: Ju Gayeon tổng hợp, 2022)
1.1.4 Khái niệm và vai trò của giáo trình trong giảng dạy
Theo Từ điển Cambridge trực tuyến, giáo trình (textbook) là quyển sách chứa nội dung chi tiết về một môn học cho những người đang học môn học đó Tương tự, Từ điển
Longman trực tuyến định nghĩa giáo trình (textbook) là quyển sách chứa nội dung về
môn chủ đề cho người học, đặc biệt sử dụng trong trường học hoặc bậc đại học Theo
định nghĩa của Từ điển tiếng Hàn tiêu chuẩn (표준국어대사전), giáo trình (교재) là tài
liệu cho việc giảng dạy và học tập Trong khi đó, Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (2016) định nghĩa giáo trình là toàn bộ những bài giảng về một bộ môn khoa học, kĩ thuật
Từ các định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu giáo trình là tài liệu dành cho người học ở trường học hoặc bậc đại học Trong luận văn này, chúng tôi xem sách tiếng Việt dùng tại Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM là “giáo trình”
Giáo trình là một trong những yếu tố không thể thiếu trong việc giảng dạy Giáo
Trang 32trình là nguồn cung cấp nội dung và phương pháp giảng dạy trong lớp học Đối với giáo viên, giáo trình là tài liệu quan trọng để chuẩn bị bài giảng, còn đối với người học, giáo trình đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu nội dung bài học Nghĩa là giáo trình là phương tiện kết nối người dạy và người học
Nhà nghiên cứu Rivers (1981) nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo trình Giáo trình không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc học ngoài giờ lên lớp mà còn cho người học biết những gì họ sẽ học và phần nào là quan trọng và cần tập trung nhiều hơn (theo Choi Woo-jeon, 2003, tr.20-21) Còn Hutchinson và Torres (1994) định nghĩa vai trò của giáo trình như sau:
Thứ nhất, giáo trình cung cấp một hệ thống để kiểm soát việc giảng dạy trong lớp học như một tương tác xã hội trong quá trình học tập, từ đó tạo cơ sở cho đối thoại
Thứ hai, giáo trình cung cấp một cấu trúc bài học, bài tập để phát triển khả năng sáng tạo của tất cả những ai tham gia vào quá trình học tập
Thứ ba, giáo trình cung cấp những “nguyên liệu” giúp người học có cơ sở để tạo thành các cuộc hội thoại tự do và rõ ràng
Thứ tư, giáo trình chất lượng cao giúp giáo viên tiết kiệm thời gian tự soạn giáo trình, cho phép họ đầu tư nhiều thời gian hơn để thích nghi với những thay đổi mới trong giáo dục hoặc trong quá trình phát triển của chính họ
Thứ năm, khi lựa chọn nội dung giáo trình, nếu chú trọng đến sở thích và hứng thú của người học thì giáo trình đó có thể làm hài lòng người học và có vai trò rất thiết thực trong quá trình học tập (theo Chang Won-jee, 2007, tr.3-4)
Trong khi đó, Bae Doo Bon (2014) định nghĩa vai trò của giáo trình trong việc dạy và học ngoại ngữ như sau:
Thứ nhất, giáo trình cung cấp cho người học trải nghiệm sử dụng ngoại ngữ trong những ngữ cảnh cụ thể, từ đó tăng tính đa dạng và hiệu quả trong học tập
Thứ hai, nó tạo ra động cơ học tập và kích thích người học tự nguyện tham gia các hoạt động học tập nhằm duy trì kết quả học tập
Trang 33Thứ ba, giáo trình cung cấp tài liệu cho học sinh trau dồi khả năng tư duy và phán đoán chính xác
Thứ tư, học sinh có thể cách tự tìm hiểu và giải quyết vấn đề
Thứ năm, nếu người học sử dụng giáo trình, họ có thể trải nghiệm thực tế thông qua việc liên tưởng trực tiếp hoặc trải nghiệm gián tiếp trên sách vở nên có thể ghi nhớ lâu nội dung bài học
Thứ sáu, học sinh có thể tiết kiệm thời gian để hiểu nội dung bài học một cách khoa học
Hơn nữa, ông cho rằng thông qua giáo trình, người học có thể hiểu được văn hóa
và con người của đất nước sử dụng ngôn ngữ đó trong một thời gian ngắn Ngoài ra, giáo trình rất tiện lợi, vì nó có thể cung cấp một nội dung cho nhiều người học cùng một lúc,
và nó hữu ích trong việc giảm thiểu sự khác biệt riêng lẻ giữa những người học (tr.9-10)
Như vậy, giáo trình ảnh hưởng lớn đến việc dạy và học ngoại ngữ Giáo trình cung cấp nội dung bài học cho học sinh, đồng thời cung cấp phương pháp giảng dạy cho giáo viên Giáo trình có hệ thống sẽ giúp giáo viên chuẩn bị bài giảng chất lượng cao Đặc biệt, đối với giáo viên chưa có nhiều kinh nghiệm, vai trò của giáo trình quan trọng hơn Giáo viên có thể nảy ra ý tưởng mới từ việc tham khảo giáo trình
Vì vậy, khi soạn giáo trình, các tác giả cần phải trình bày cụ thể mục tiêu, nội dung bài học; cần cung cấp thông tin đa dạng và phong phú để người học cảm thấy hứng thú và tạo động lực cho việc không ngừng học tập
1.2 Tổng quan về Trường Quốc tế Hàn Quốc Thành phố Hồ Chí Minh 1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển
Sau khi Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với Hàn Quốc vào năm 1992, số lượng người Hàn đến làm việc và cư trú tại TP.HCM ngày càng tăng Theo một thống
kê, năm 1997 số người Hàn Quốc ở TPHCM khoảng 7.000 người Trong đó, khoảng 700
hộ (khoảng 2.500 người) có con đến tuổi đi học (Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM,
Trang 342020, tr.28)
Vào thời điểm đó, số trường tiểu học mà học sinh Hàn Quốc có thể theo học có trường quốc tế, trường Pháp (do người Pháp xây dựng và dạy chủ yếu cho con em người Pháp), trường Nhật Bản (do người Nhật xây dựng, chỉ dành cho người Nhật), trường Đài Loan (do người Đài Loan xây dựng, dạy chủ yếu cho con em mang quốc tịch Đài Loan)
và trường Việt Nam
Tuy nhiên, về điều kiện nhập học cho học sinh Hàn Quốc, mỗi trường có một yêu cầu khác nhau Trường quốc tế thì học phí khá đắt đỏ, trường Pháp thì khó nhập học và các em Hàn Quốc không dễ thích nghi do vấn đề ngôn ngữ Ngoài ra, trường Nhật Bản
và Đài Loan thì không thể nhập học do vấn đề quốc tịch Còn lý do học sinh Hàn Quốc không thể học tại trường Việt Nam là vì hệ thống giáo dục đào tạo giữa hai nước không giống nhau Hệ thống giáo dục bậc tiểu học của Hàn Quốc được chia thành 6 khối (từ khối 1 đến khối 6) Trong khi đó, hệ thống giáo dục bậc tiểu học của Việt Nam được chia thành 5 khối (từ khối 1 đến khối 5)
Với những lý do này, khá nhiều học sinh Hàn Quốc không thể đi học hoặc không thể thích nghi với việc sinh hoạt ở trường Do đó, những người Hàn cư trú tại TP.HCM thấy rằng việc thành lập trường dành cho học sinh Hàn Quốc là rất cần thiết
Cộng đồng người Hàn tại TP.HCM đã tập hợp ý kiến và thành lập “Hội đồng xúc tiến thành lập trường Hàn Quốc” để làm cơ sở thành lập trường, với mục đích có thể cung cấp cho học sinh nền giáo dục chất lượng cao với mức học phí phù hợp Hội đồng cùng với Tổng Lãnh sự quán Hàn Quốc tại TP.HCM đã cùng nhau thúc đẩy việc thành lập trường quốc tế Hàn Quốc
Ngày 22/01/1998, Hội đồng nhận được thông báo từ UBND TP.HCM cho phép thành lập trường Hàn Quốc và trường sẽ trực thuộc Tổng Lãnh sự quán Hàn Quốc tại TP.HCM Dựa trên công văn này, Hội đồng và Tổng Lãnh sự quán Hàn Quốc tại TP.HCM cũng đã xin phép bộ Giáo dục Hàn Quốc để thành lập trường tại Việt Nam (TP.HCM) Vào tháng 8 năm 1998, Hội đồng đã nhận được giấy phép của Bộ Giáo dục
Trang 35Hàn Quốc với nội dung phê duyệt việc thành lập trường gồm bậc tiểu học (6 năm) và bậc trung học cơ sở (3 năm)6 Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM theo chương trình giáo dục của Hàn Quốc nên sau này khi các em học sinh chuyển về Hàn Quốc thì trình
độ học vấn vẫn được công nhận
Sau nhiều nỗ lực, cuối cùng Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM (KIS, Korean International School HCMC) được khánh thành vào tháng 9 năm 1998 Lúc đó, số lượng học sinh không nhiều như hiện tại và chưa có chương trình trung học phổ thông (Bảng 1.4)
Bảng 1.4: Số lượng học sinh Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM (30/12/1998)
cơ sở Tổng cộng
Số
(Nguồn: Sách “22 năm lịch sử trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM”)
Tuy nhiên, sau đó mối quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc ngày càng phát triển,
số lượng người Hàn cư trú tại TP.HCM đã tăng lên Theo đó, số lượng học sinh tại Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM cũng tăng lên đáng kể Đến tháng 3 năm 2021, tổng
số học sinh đã lên hơn 2.000 em
Chương trình giáo dục và đào tạo của Trường đang theo chương trình giáo dục quốc gia do Bộ Giáo dục Hàn Quốc quy định, nhưng Trường có quyền thay đổi một phần chương trình để đáp ứng nhu cầu của học sinh và phụ huynh Vì vậy, Nhà trường tập trung vào việc dạy ngoại ngữ Do học theo chương trình của Hàn Quốc nên năm học bắt đầu từ tháng 3, kì nghỉ diễn ra vào tháng 7 Học kì 2 bắt đầu vào tháng 9 và kéo dài đến hết tháng 12
Mục tiêu giáo dục của Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM được chia thành 5 loại như sau:
6 Trường Hàn Quốc TP.HCM được đào tạo theo hình thức 6 - 3 - 3, tiểu học 6 năm (từ khối 1 đến khối 6), trung học cơ sở 3 năm (từ khối 7 đến khối 9), trung học phổ thông 3 năm (từ khối 10 đến khối 12)
Trang 36Bảng 1.5: Mục tiêu giáo dục của Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM
Giáo dục công dân
- Giữ gìn bản sắc dân tộc (Hàn Quốc)
- Nuôi dưỡng nhân tài “Bridge” qua giáo dục ngoại ngữ Giáo dục hướng tới
(Nguồn: Kế hoạch giáo dục bậc tiểu học Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM năm 2021)
Với những mục tiêu giáo dục này, Nhà trường có tầm nhìn là “Nuôi dưỡng nhân tài GloNaCal” GloNaCal là từ ghép của Global, National và Local Định hướng nhân tài GloNaCal là người mang bản sắc Hàn Quốc, là người hiểu và yêu thích ngôn ngữ, lịch sử và văn hóa của đất nước bản địa Thêm vào đó, nhân tài GloNaCal là người có năng lực và phẩm chất của một công dân thế giới đóng góp cho sự phát triển bền vững của thế giới Nhà trường đang nỗ lực đào tạo nhân tài toàn cầu với tầm nhìn này Do đó, Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM rất quan tâm đến việc dạy học tiếng Anh và tiếng Việt Không chỉ vậy, Nhà trường còn nhấn mạnh “giáo dục đa văn hóa” để học sinh có thể hiểu về văn hóa của nhiều nước khác, đặc biệt là Việt Nam
Trang 371.2.2 Cơ cấu tổ chức
Qua tìm hiểu, tuy chưa đầy đủ (do hạn chế trong việc tiếp cận thông tin về cơ cấu
tổ chức) nhưng chúng tôi xin đưa ra sơ bộ về cơ cấu của Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM như sau (sơ đồ 1.1)
Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức của Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM
Tổ tiếng Anh
Tổ khoa học/thông tin
Tổ giáo dục phẩm chất
Tổ quản lý hội học sinh
Trang 38Cơ cấu của Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM được chia thành hai bậc tiểu học
và bậc trung học (trung học cơ sở và trung học phổ thông) Mỗi bậc có một Hiệu phó Các tổ được điều hành tùy theo tình hình của từng cấp Bậc tiểu học gồm có bảy tổ Giáo viên vừa dạy học sinh vừa phụ trách công việc của tổ mình Bộ môn tiếng Việt thuộc Tổ
Đa văn hóa Tổ Đa văn hóa phụ trách công việc liên quan đến môn tiếng Việt như biên soạn giáo trình tiếng Việt, lập kế hoạch đánh giá và quản lý hoạt động tham vấn cho học sinh Hàn - Việt
1.2.3 Các cấp học và số lượng học sinh
Hiện nay, Trường đào tạo các bậc học từ mẫu giáo cho đến THPH Số lượng học sinh là hơn 2.000 em (Bảng 1.6)
Bảng 1.6: Số lượng học sinh Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM (1/3/2021)
Bậc Mẫu giáo Tiểu học Trung học
cơ sở
Trung học phổ thông
Tổng cộng
Số
(Nguồn: trang web Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM, http://kshcm.net)
Đây là trường Hàn Quốc có quy mô lớn nhất trong số ba trường dành cho người Hàn tại TP.HCM.7 Theo thống kê tháng 4 năm 2020 của Bộ Giáo dục Hàn Quốc8, Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM là trường có số lượng học sinh nhiều nhất trong 34
7 Hiện tại có ba trường dành cho người Hàn ở TP.HCM: Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM (KIS), Trường Quốc tế star light (SIKS) và Trường Toàn cầu Hàn Quốc (KGS)
- Trường Quốc tế star light (SIKS): trường mầm non (năm 2002) trường tiểu học (năm 2008) Bậc trung học cơ sở (năm 2019) Hiện tại SIKS đào tạo từ mầm non đến lớp 9 (trung học cơ sở)
https://www.siksvn.com/ (truy cập ngày: 02.03.2022)
- Trường Toàn cầu Hàn Quốc (KGS): KGS có 2 cơ sở, Hà Nội và TP.HCM Cơ sở tại Hà Nội được thành lập vào năm 2020 Còn cơ sở tại TP.HCM được thành tập vào năm 2021 KGS đào tạo các bậc từ mầm non cho đến lớp 12 http://kgs.edu.vn/ (truy cập ngày: 02.03.2022)
8 Bộ Giáo dục Hàn Quốc, Báo cáo tình hình trường Hàn Quốc tại nước ngoài năm 2020
https://www.moe.go.kr/boardCnts/view.do?boardID=350&lev=0&statusYN=W&s=moe&m=0309&op Type=N&boardSeq=82157
Trang 39trường Hàn Quốc ở nước ngoài được Bộ Giáo dục Hàn Quốc phê duyệt Trường Quốc
tế Hàn Quốc tại Hà Nội xếp thứ 2 với 1.999 em Đây cũng là một bằng chứng cho thấy mối quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc càng ngày càng phát triển
Như đã nói ở trên, bậc tiểu học của Trường được chia thành 6 khối, từ khối 1 đến khối 6 Mỗi khối gồm có 5 lớp Sĩ số trung bình của một lớp khoảng 35 em Theo thống
kê sơ bộ năm 2021 của Bộ Giáo dục Hàn Quốc9, số học sinh trung bình trên một lớp ở trường tiểu học ở Hàn Quốc là gần 22 học sinh So với Hàn Quốc, sĩ số học sinh mỗi lớp tại Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM khá đông
Trường đã cho xây dựng tòa nhà mới vào năm 2020 nhằm đáp ứng số lượng học sinh ngày càng tăng, nhưng việc này vẫn chưa đáp ứng đủ cho số lượng học sinh muốn nhập học vào Nhà trường Vì vậy, có ý kiến cho rằng, Trường nên thành lập cơ sở thứ 2 cho học sinh Hàn Quốc tại TP.HCM Tuy nhiên, để thực hiện dự án này, Nhà trường phải cân nhắc về nhiều điều kiện nên đến nay, việc này vẫn đang trong giai đoạn lập kế hoạch
Một trong những đặc điểm của Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM là tỷ lệ học sinh Hàn – Việt khá cao Mỗi năm học sinh Hàn – Việt chiếm khoảng 30% tổng số học sinh tiểu học nhập học Một số học sinh thuộc gia đình đa văn hóa Hàn - Việt gặp nhiều khó khăn trong việc học bằng tiếng Hàn Nhà trường đang hết sức quan tâm để những học sinh này có thể hiểu nội dung bài học và thích nghi với việc sinh hoạt ở trường
9 Bộ Giáo dục Hàn Quốc, Thống kê sơ bộ năm 2021
https://www.moe.go.kr/boardCnts/view.do?boardID=294&boardSeq=88238&lev=0&searchType=null
&statusYN=W&page=1&s=moe&m=020402&opType=N#
Trang 40TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở cho việc tìm hiểu thực trạng dạy và học tiếng Việt ở Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM
Nhìn chung, quá trình dạy và học bao gồm ba yếu tố chính Đó là người dạy, người học và nội dung học tập giúp liên kết giữa người dạy và người học Các lớp học tiếng Việt dành cho học sinh tiểu học nước ngoài cũng không nằm ngoài yêu cầu này
Học sinh tiểu học là người học có những đặc điểm khác biệt rõ ràng với người lớn Để nâng cao hiệu quả giảng dạy tiếng Việt học sinh tiểu học nước ngoài, giáo viên phải nắm được đặc điểm nhận thức, tâm lý của học sinh tiểu học
Để dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học nước ngoài, giáo viên tiếng Việt phải có
tư chất của giáo viên tiểu học và giáo viên ngoại ngữ Người dạy cần phải có kiến thức
về ngôn ngữ học và tiếng Việt, sử dụng được các phương pháp giảng dạy và tài liệu học tập phù hợp với nội dung và tình hình lớp học Thêm vào đó, giáo viên phải tôn trọng học sinh, có tinh thần trách nhiệm với công việc của mình
Giáo trình là yếu tố quan trọng chứa đựng nội dung mà người dạy truyền tải đến người học Giáo trình có chất lượng giúp đội ngũ giáo viên chuẩn bị bài giảng tốt hơn, giúp học sinh học tập hiệu quả hơn Vì vậy, các cơ sở đào tạo nên đầu tư biên soạn hệ thống giáo trình phù hợp
Trong chương này, chúng tôi cũng đã giới thiệu quá trình hình thành và phát triển của Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM Hiện tại Trường Quốc tế Hàn Quốc TP.HCM
là trường lâu đời nhất và lớn nhất trong số ba trường được thành lập cho người Hàn tại TP.HCM Trường theo chương trình giáo dục Hàn Quốc nhưng đồng thời rất quan tâm đến việc nâng cao trình độ ngoại ngữ của học sinh nên thời lượng dạy ngoại ngữ nhiều hơn các trường ở Hàn Quốc