1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công Tác Xã Hội Cá Nhân Trong Việc Phòng Ngừa Xâm Hại Tình Dục Cho Học Sinh Tại Trường Tiểu Học Kim Đồng, Quận Bình Tân, Thành Phố Hồ Chí Minh .Pdf

238 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công Tác Xã Hội Cá Nhân Trong Việc Phòng Ngừa Xâm Hại Tình Dục Cho Học Sinh Tại Trường Tiểu Học Kim Đồng, Quận Bình Tân, Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Trần Thị Năm
Người hướng dẫn TS. Phan Thị Thanh Hương
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Công Tác Xã Hội
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 238
Dung lượng 16,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1.1. Lý thuyết hệ thống (30)
  • 1.2. Các khái niệm liên quan (34)
    • 1.2.1. Khái niệm Công tác xã hội (34)
    • 1.2.2. Công tác xã hội cá nhân (0)
    • 1.2.3. Khái niệm phòng ngừa (39)
    • 1.2.4. Học sinh tiểu học (40)
    • 1.2.5. Xâm hại tình dục học sinh tiểu học (41)
    • 1.2.6. Khái niệm Phòng ngừa xâm hại tình dục học sinh tiểu học (49)
    • 1.2.7. Công tác xã hội cá nhân trong phòng ngừa xâm hại tình dục học sinh tiểu học tại trường Tiểu học Kim Đồng, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh (0)
    • 1.2.8. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội cá nhân trong phòng ngừa xâm hại tình dục học sinh tiểu học (0)
  • 1.3. Tổng quan địa bàn nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu (57)
    • 1.3.1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu (57)
    • 1.3.2. Tổ chức nghiên cứu (59)
  • CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÒNG NGỪA XÂM HẠI TÌNH DỤC HỌC SINH TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC KIM ĐỒNG QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1. Nhận thức về xâm hại tình dục của học sinh (64)
    • 2.2. Thực trạng học sinh bị xâm hại tình dục (65)
    • 2.3. Biểu hiện của học sinh bị xâm hại tình dục (69)
    • 2.4. Nguyên nhân gây ra học sinh bị xâm hại tình dục… (70)
    • 2.5. Đánh giá trường hợp học sinh có nguy cơ bị xâm hại tình dục (72)
    • 2.6. Thực trạng hoạt động phòng ngừa xâm hại tình dục cho học sinh (73)
    • 2.7. Vai trò của viên công tác xã hội trong việc phòng ngừa xâm hại tình dục học sinh (0)
  • CHƯƠNG 3. ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG PHONG PHÒNG NGỪA XÂM HẠI TÌNH HỌC SINH 3.1. Lý do lựa chọn công tác xã hội cá nhân trong phòng ngừa xâm hại tình dục học (78)
    • 3.2. Trường hợp cụ thể trong sử dụng công tác xã hội cá nhân phòng ngừa xâm hại tình dục học sinh (79)
      • 3.2.1. Trường hợp học sinh T.V.A (79)
      • 3.2.2. Trường hợp học sinh P.K.A (93)
    • 3.3. Nhận xét về tiến trình và nhân viên công tác xã hội trong việc ứng dụng công tác xã hội cá nhân vào phòng ngừa xâm hại tình dục học sinh (108)
      • 3.3.1. Những thuận lợi (108)
      • 3.3.2 Những khó khăn (109)
      • 3.3.3. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội trong phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em là học sinh (0)

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN THỊ NĂM CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG VIỆC PHÒNG NGỪA XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO HỌC SINH TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC KIM ĐỒNG,[.]

Lý thuyết hệ thống

Ludwig Von Bertalanffy, nhà sinh vật học người Áo, là tác giả của tác phẩm "Lý thuyết hệ thống tổng quát" xuất bản năm 1968, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các phương pháp tư duy hệ thống.

Nối tiếp Ludving Von Bertanffy, Pincus và Minahan cùng các đồng sự đã đóng góp quan trọng trong việc áp dụng lý thuyết hệ thống vào công tác xã hội Ngoài ra, các nhà nghiên cứu như Germain, Maruyama, Hoffman và Francis J Turner cũng đã có những đóng góp đáng kể trong việc phát triển và hoàn thiện thuyết Hệ thống trong thực hành công tác xã hội toàn cầu.

Hệ thống bao gồm nhiều tổ phần liên kết và tương tác để duy trì sự tồn tại của nó, với các yếu tố thường tham gia vào nhiều hệ thống khác nhau Sự thay đổi của một phần tử trong hệ thống có thể ảnh hưởng đến các phần tử khác Một hệ thống có thể chứa nhiều tiểu hệ thống, và một phần tử cũng có thể thuộc về một đại hệ thống khác Trong bối cảnh này, chúng ta có thể áp dụng lý thuyết hệ thống để thu thập thông tin và tìm hiểu mối quan hệ giữa học sinh và các nhóm, tổ chức liên quan đến việc phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em tại trường TH Kim Đồng, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

Chúng ta có thể xem xét mối quan hệ của trẻ em và môi trường sinh hoạt hàng ngày của chúng thông qua hệ thống gia đình, nhà trường và các cơ quan có thẩm quyền như Hội bảo trợ trẻ em Việc phân tích số thế hệ trong gia đình, mối quan hệ giữa các thành viên, cũng như sự tương tác của trẻ với anh chị em, cha mẹ và ông bà là rất quan trọng Ngoài ra, cần đánh giá sự hiện diện của người thân khác trong gia đình và mối quan hệ của trẻ với họ Tương tự, việc xem xét các hệ thống khác cũng giúp chúng ta có cái nhìn đa chiều về vấn đề phòng ngừa xâm hại trẻ em tại TTH Kim Đồng, quận Bình Tân.

Theo lý thuyết hệ thống, mỗi cá nhân đều là thành viên của nhiều hệ thống khác nhau

Trẻ em tiểu học đóng vai trò quan trọng trong nhiều hệ thống khác nhau Trong gia đình, trẻ em là thành viên cần sự chăm sóc từ bố mẹ, ông bà và anh chị Tại trường học, trẻ em là học sinh cần được đảm bảo quyền lợi về vui chơi, học tập và các quyền cơ bản Ngoài ra, trong mối quan hệ bạn bè, trẻ em cũng là thành viên tích cực, cùng nhau học tập, vui chơi và hỗ trợ lẫn nhau Vai trò của trẻ em thay đổi tùy theo từng bối cảnh và vị trí trong các hệ thống xã hội.

Học sinh TTH Kim Đồng, quận Bình Tân, TP Hồ Chí Minh đóng vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục, nơi mà ngôn ngữ, hành động và cách ứng xử của các em ảnh hưởng lẫn nhau Nhân viên công tác xã hội áp dụng lý thuyết hệ thống để hỗ trợ học sinh trong quá trình can thiệp, thu thập thông tin từ nhiều góc độ khác nhau Dựa trên thuyết hệ thống, họ cùng học sinh phát triển các giải pháp phòng ngừa xâm hại tình dục (XHTD) phù hợp, đồng thời hỗ trợ gia đình và nhà trường Để thực hiện điều này, nhân viên cần kỹ năng quan sát, lắng nghe, thu thập và xử lý thông tin, cũng như giao tiếp hiệu quả Hệ thống và các bộ phận trong đó có mối quan hệ tương tác, hướng đến mục tiêu chung trong việc phòng ngừa XHTD trẻ em Nghiên cứu này sẽ xem xét sự hợp tác giữa các hệ thống như quản lý trường học, chính quyền địa phương và các trung tâm bảo trợ trẻ em trong nỗ lực phòng ngừa XHTD cho học sinh TTH Kim Đồng.

Hệ thống gia đình hoạt động như một hệ thống mở, có ranh giới phân biệt giữa bên trong và bên ngoài, và chịu ảnh hưởng từ môi trường xung quanh Nghiên cứu cho thấy rằng gia đình không chỉ bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài mà còn có thể ảnh hưởng đến chúng Ví dụ, nếu một gia đình trong khu phố không tuân thủ nghiêm túc phương pháp CTXH CN để phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em, học sinh của họ, như tại trường Tiểu học Kim Đồng quận Bình Tân, sẽ có nguy cơ cao bị xâm hại Đặc biệt, những gia đình có cấu trúc phức tạp hoặc khiếm khuyết càng làm tăng nguy cơ này cho trẻ em.

Khi thực hiện phương pháp CTXH CN trong việc phòng ngừa XHTD học sinh tại TTH Kim Đồng, quận Bình Tân, TP.HCM, sự phối hợp giữa hệ thống gia đình và nhà trường sẽ mang lại hiệu quả cao hơn Học sinh được xem như một phần trong hệ thống gia đình, và gia đình lại nằm trong hệ thống xã hội, do đó mỗi cá nhân, mỗi gia đình đều là những mắt xích quan trọng trong chuỗi hệ thống liên quan Hệ thống quản lý khu phố chặt chẽ, an ninh tốt và môi trường văn minh không có tệ nạn xã hội sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh trong việc phát triển, vui chơi và học tập, từ đó giảm thiểu nguy cơ học sinh phải ở nhà và tránh bị XHTD.

Học sinh là trẻ em được nuôi dưỡng từ gia đình, và khi có nguy cơ hoặc đã bị xâm hại tình dục (XHTD), nhân viên công tác xã hội (NV CTXH) cần xem xét các yếu tố từ hệ thống gia đình và xã hội để hiểu nguyên nhân và tình trạng của học sinh Lý thuyết hệ thống cho phép chúng ta phân tích các vấn đề trong gia đình, xã hội và trường học, ảnh hưởng đến việc phòng ngừa XHTD ở học sinh tiểu học NV CTXH cần lưu ý rằng sự thay đổi của mỗi cá nhân có thể tác động đến một hoặc nhiều hệ thống khác.

Thực hành công tác xã hội cộng đồng trong việc phòng ngừa xâm hại tình dục học sinh tại Trung tâm Hướng nghiệp Kim, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh, cần phải dựa trên quan điểm thuyết hệ thống.

Thay vì chỉ tìm kiếm nguyên nhân cội rễ của vấn đề, việc thay đổi cấu trúc hệ thống thông qua giao tiếp, chức năng của các thành viên và quan hệ quyền lực là rất quan trọng Dựa trên thuyết hệ thống, cần có cái nhìn tổng quan để ứng dụng vào nghiên cứu Việc áp dụng thuyết hệ thống trong công tác xã hội nhằm phòng ngừa xâm hại tình dục học sinh tiểu học tại TTH Kim Đồng, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh là một ví dụ điển hình.

Nhân viên công tác xã hội (NV CTXH) tổ chức thông tin một cách có hệ thống và khoa học để xác định độ nghiêm trọng của vấn đề và tìm kiếm giải pháp can thiệp hiệu quả Theo thuyết hệ thống, NV CTXH cần xem xét các vấn đề nghiên cứu như một phần của hệ thống lớn hơn, trong đó học sinh tiểu học nằm trong mối quan hệ với gia đình, nhà trường và lớp học Dựa trên lý thuyết này, NV CTXH sẽ chú ý đến các mối quan hệ của học sinh và các yếu tố liên quan đến vấn đề xã hội của học sinh tiểu học tại quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh, nhằm không chỉ nhìn nhận vấn đề một cách đơn lẻ.

Dựa trên lý thuyết hệ thống, nhân viên công tác xã hội (NV CTXH) sẽ tập trung vào mối quan hệ của học sinh tiểu học, những yếu tố liên quan đến các em trong bối cảnh gia đình, nhà trường và lớp học Điều này giúp NV CTXH không chỉ xem xét vấn đề giáo dục tiểu học một cách đơn lẻ, mà còn hiểu rõ hơn về các mối quan hệ xã hội và các yếu tố khác ảnh hưởng đến học sinh tại quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh.

Dựa trên lý thuyết của hệ thống, nhân viên công tác xã hội (NV CTXH) phối hợp với học sinh để đề xuất các giải pháp phù hợp với từng cá nhân, nhằm đáp ứng nhu cầu của học sinh.

Trong đề tài này tôi chọn lý thuyết hệ thống là lý thuyết chính để phục vụ cho nghiên cứu.

Các khái niệm liên quan

Khái niệm Công tác xã hội

Công tác xã hội là một nghề được thế giới biết đến từ những năm đầu của thế kỉ

XX được thiết lập để giải quyết các vấn đề xã hội, đặc biệt tại các nước phát triển phương Tây Tại Việt Nam, CTXH hình thành từ tình cảm tốt đẹp của người dân, thể hiện qua tình làng nghĩa xóm và đạo lý "lá lành đùm lá rách" Hiện nay, CTXH nhận được sự quan tâm và phát triển từ Đảng, Nhà nước và các cơ quan tổ chức, trở thành một ngành quan trọng không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế, chính trị, giáo dục và văn hóa xã hội.

Công tác xã hội, theo Hiệp hội Quốc gia các NV xã hội Mỹ (NASW, 1970), là hoạt động chuyên môn nhằm hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng nâng cao hoặc khôi phục năng lực thực hiện các chức năng xã hội Hiệp hội Quốc tế nhân viên xã hội (IFSW, 2000) nhấn mạnh rằng công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội tích cực, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ giữa con người, và tăng cường quyền lực cho họ để cải thiện chất lượng cuộc sống Công tác xã hội chuyên nghiệp áp dụng lý thuyết về hành vi con người và lý thuyết hệ thống xã hội để can thiệp vào mối quan hệ giữa con người với nhau và với môi trường, đồng thời luôn tôn trọng nguyên tắc nhân quyền và công bằng.

Công tác xã hội, theo hiệp hội CTXH quốc tế, được định nghĩa là nghề nghiệp tham gia giải quyết các vấn đề liên quan đến mối quan hệ con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội Nghề này không chỉ tăng cường sự trao quyền mà còn nâng cao chất lượng sống của con người thông qua việc áp dụng các học thuyết về hành vi và lý luận hệ thống xã hội Người làm công tác xã hội được đào tạo chuyên môn bài bản, nhằm thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ, giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp phần đảm bảo an sinh xã hội.

Người làm công tác xã hội (CTXH) cần tuân thủ các nguyên tắc nghề nghiệp như chấp nhận thân chủ, tạo điều kiện cho họ tự giải quyết vấn đề, tôn trọng quyền tự quyết, đảm bảo tính cá nhân hóa và bảo mật thông tin Việc thực hiện đầy đủ các nguyên tắc này là rất quan trọng để thể hiện vai trò chức năng của CTXH, bao gồm phòng ngừa, chữa trị, phục hồi và phát triển.

Công tác xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực và khả năng tự giải quyết vấn đề của cá nhân, gia đình và cộng đồng Nó kết nối con người với các nguồn lực, dịch vụ và cơ hội trong xã hội, đồng thời thúc đẩy hiệu quả và tính nhân văn của các hệ thống cung cấp nguồn lực và dịch vụ xã hội Ngoài ra, công tác xã hội còn góp phần phát triển và cải thiện chính sách xã hội để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của cộng đồng.

1.2.2.1 Khái niệm công tác xã hội cá nhân

Hiện nay, có rất nhiều khái niệm nói về CTXH CN được sử dụng trên thế giới và từ những NV CTXH làm việc lâu năm đưa ra

Theo bà Mary Richmond, một nhà CTXH người Mỹ, công tác xã hội cá nhân là nghệ thuật làm việc với từng cá nhân để giải quyết các vấn đề khác nhau Bà nhấn mạnh rằng nhân viên xã hội cần hợp tác với thân chủ nhằm giúp họ thực hiện chức năng xã hội và cải thiện mối quan hệ với môi trường xã hội.

Trong tài liệu hướng dẫn và thực hành công tác xã hội (CTXH) với cá nhân và gia đình của Bộ Thương binh và Xã hội năm 2017, khái niệm của nhà khoa học Jessie Taft (1920) được trích dẫn: “Công tác xã hội với trường hợp có nghĩa là sự hỗ trợ điều trị về mặt xã hội cho một cá nhân gặp khó khăn trong việc điều chỉnh để thích nghi.” Điều này bao gồm việc hiểu về cá tính, hành vi và các quan hệ xã hội của người đó, nhằm giúp họ thực hiện việc điều chỉnh cá nhân và xã hội tốt hơn Tài liệu cũng trích dẫn nhiều khái niệm khác nhau từ các chuyên gia trong từng giai đoạn về CTXH cá nhân.

Reynolds (1935) cho rằng CTXH CN là một hình thức của CTXH, nhằm hỗ trợ cá nhân gặp khó khăn trong việc thiết lập mối quan hệ với những người xung quanh.

CTXH CN là phương pháp công tác xã hội áp dụng các giá trị và khái niệm tâm lý hành vi để phát triển kỹ năng giúp cá nhân và gia đình giải quyết vấn đề nội tâm, mối quan hệ xã hội, và các vấn đề kinh tế xã hội Theo Virginia P Robinson (1930), phương pháp này bao gồm các mối quan hệ trực tiếp giữa người với người Grace Mathew (1992) cũng nhấn mạnh rằng CTXH CN hỗ trợ cá nhân thông qua mối quan hệ một – một, được thực hiện bởi nhân viên xã hội nhằm giúp những người gặp khó khăn trong chức năng xã hội.

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về CTXH CN, ở Việt Nam theo thầy giáo Lê Chí

Công tác xã hội cá nhân là phương pháp hỗ trợ con người vượt qua khó khăn, mang tính chất khoa học và nghệ thuật Phương pháp này giúp cá nhân giải quyết các vấn đề riêng, vấn đề bên ngoài và môi trường xung quanh Qua mối quan hệ, công tác xã hội cá nhân khai thác tài nguyên cá nhân và các nguồn lực khác để tìm ra giải pháp Các công cụ chủ yếu bao gồm lắng nghe, quan sát, vấn đàm, vãng gia và đánh giá Nhờ vào tính chủ động trong công tác xã hội cá nhân, thân chủ có thể thay đổi thái độ, suy nghĩ và hành vi của mình.

Công tác xã hội cá nhân (CTXH CN) là một phương pháp trong lĩnh vực công tác xã hội, nhằm hỗ trợ cá nhân giải quyết các vấn đề riêng của họ Dựa trên nền tảng khoa học và nghệ thuật, CTXH CN giúp thân chủ nhận diện rõ ràng vấn đề của mình, từ đó lập kế hoạch và tự mình giải quyết vấn đề Mục tiêu của CTXH CN là phòng ngừa, chữa trị, phục hồi và phát triển bản thân, nhằm cải thiện mối quan hệ của cá nhân với xã hội.

Công cụ chính trong CTXH CN chính là phỏng vấn và đánh giá

1.2.2.2 Tiến trình công tác xã hội cá nhân

Tiến trình CTXH CN là quá trình bắt đầu từ khi làm việc với cá nhân cho đến khi kết thúc, khi thân chủ tự giải quyết vấn đề của mình Quá trình này bao gồm 7 bước cụ thể.

Bước 1: Thiết lập mối quan hệ với thân chủ

Nhân viên công tác xã hội cần chấp nhận thân chủ và xây dựng mối quan hệ tin cậy với họ, dựa trên các nguyên tắc nghề nghiệp của công tác xã hội.

Bước 2: Xác định và phân tích vấn đề của thân chủ

Khi khách hàng liên hệ với nhân viên công tác xã hội (NV CTXH), họ đã nhận thức được rằng mình cần hỗ trợ để giải quyết vấn đề Để xác định đúng vấn đề và nguồn gốc cốt lõi của nó, khách hàng cần sự giúp đỡ từ NV CTXH trong việc thu thập thông tin và phân tích qua các buổi phỏng vấn, đánh giá Qua đó, NV CTXH sẽ giúp khách hàng có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề của mình và hiểu rõ hơn những khó khăn mà họ đang gặp phải.

Bước 3: Đánh giá ban đầu

Trong bước này, nhân viên công tác xã hội đã thu thập đầy đủ thông tin và hiểu rõ về điều kiện cũng như tổng quan vấn đề của thân chủ Điều này giúp họ đánh giá lịch sử cá nhân, nhận diện điểm mạnh, điểm yếu, khó khăn, thử thách và các vấn đề của thân chủ, đồng thời ghi nhận ấn tượng ban đầu khi gặp gỡ.

Bước 4: Lên kế hoạch giải quyết vấn đề

Khái niệm phòng ngừa

Theo Từ điển Tiếng Việt (2017), phòng ngừa có nghĩa là phòng không cho điều bất lợi, tai hại xảy ra đối với một vấn đề nào đó

Phòng ngừa là những hoạt động mà con người thực hiện để tránh những điều bất lợi và không mong muốn có thể ảnh hưởng đến cuộc sống Tùy thuộc vào từng vấn đề cụ thể, chúng ta có thể áp dụng các biện pháp và hành động phòng ngừa phù hợp.

Theo Điều 4, mục 8 của Luật trẻ em năm 2016, XHTD trẻ em được định nghĩa là việc sử dụng vũ lực, đe dọa vũ lực, hoặc ép buộc, dụ dỗ người bị hại (có thể là trẻ em hoặc người lớn) tham gia vào các hành vi tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em, và sử dụng trẻ em cho mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức.

Học sinh tiểu học

1.2.4.1 Khái niệm học sinh tiểu học

Theo từ điển Tiếng Việt, học sinh là người học trong nhà trường

Học sinh tiểu học là những người đang theo học các lớp của TTH Học sinh tiểu học là học sinh từ lớp 1 đến lớp 5

1.2.4.2 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học

Giai đoạn tiểu học là thời kỳ quan trọng cho sự phát triển toàn diện của trẻ, vì vậy học sinh cần được chú trọng phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần.

Trong giai đoạn này, học sinh tiểu học trải qua sự phát triển mạnh mẽ về thể chất và sự thông minh vận động Các em có nhu cầu vui chơi và chạy nhảy, điều này góp phần quan trọng vào sự phát triển toàn diện của trẻ.

Vào giai đoạn đầu tiểu học, học sinh thường gặp khó khăn trong việc duy trì sự chú ý và dễ bị phân tâm trong quá trình học tập Các em thường thích trò chuyện và làm việc riêng với bạn bè, dẫn đến việc thiếu tập trung Khả năng ghi nhớ của học sinh còn hạn chế, thường ghi nhớ một cách máy móc mà không hiểu sâu Hơn nữa, khả năng tưởng tượng về hình ảnh của trẻ cũng còn đơn giản và dễ thay đổi.

Đến cuối tiểu học, đặc biệt là lớp 5, học sinh đã phát triển ngôn ngữ nói thành thạo và có khả năng tổ chức hoạt động trong lớp Các em chủ động điều chỉnh sự chú ý và có kỷ luật cao hơn, ghi nhớ thông tin dựa trên ý nghĩa, từ khóa và đặc điểm chung Học sinh cũng thể hiện khả năng tưởng tượng sáng tạo qua các hoạt động như làm thơ, viết văn và vẽ tranh Kỹ năng ngôn ngữ viết của các em ngày càng hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm, trong khi vốn từ ngữ được tăng cường theo thời gian.

Học sinh tiểu học đang trong giai đoạn hình thành nhân cách, thường thể hiện nhận thức và cảm xúc một cách hồn nhiên và thật thà Tuy nhiên, khả năng kiềm chế cảm xúc của các em còn hạn chế, dễ bị xúc động và nổi giận.

Theo giáo trình Tâm lý học II của Võ Sỹ Lợi, độ tuổi học tiểu học thường chưa phát triển đầy đủ về nhận thức, dễ cả tin, dễ bắt chước và có tính chủ định thấp Vì lý do này, tôi quyết định chọn trẻ em lứa tuổi học sinh tiểu học làm đối tượng nghiên cứu cho đề tài của mình.

Xâm hại tình dục học sinh tiểu học

1.2.5.1 Khái niệm xâm hại tình dục học sinh tiểu học

Học sinh tiểu học thuộc nhóm trẻ em, do đó, XHTD của học sinh tiểu học cũng chính là XHTD của trẻ em.

Theo quyết định của Quốc hội năm 2010, "XHTD" được định nghĩa là các hành vi xâm hại tình dục trẻ em, bao gồm việc nhìn, sờ mó vào các chỗ kín, dụ dỗ trẻ xem phim khiêu dâm, và các hành vi dâm ô, giao cấu, hiếp dâm Luật trẻ em năm 2016 cũng xác định XHTD trẻ em là việc sử dụng vũ lực, đe dọa, ép buộc hoặc dụ dỗ để tham gia vào các hành vi tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, và sử dụng trẻ em cho mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức.

Xâm hại tình dục trẻ em xảy ra khi ai đó lợi dụng quyền lực hoặc sự tin tưởng của trẻ để lôi kéo vào hoạt động tình dục Hành vi này bao gồm tất cả các hình thức tình dục không mong muốn, từ xâm hại có tiếp xúc đến không tiếp xúc Các hình thức xâm hại tình dục trẻ em bao gồm việc tạo ra hình ảnh, video có tính chất xâm hại, ép buộc trẻ xem hoặc tham gia vào các hoạt động tình dục, cũng như lôi kéo trẻ vào các hành vi tình dục với trẻ em khác hoặc với người lớn.

Xâm hại tình dục học sinh tiểu học là hành vi sử dụng quyền lực hoặc sự tin tưởng để đe dọa, ép buộc hoặc dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hoạt động tình dục không mong muốn Hành vi này có thể bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm hoặc khiêu dâm XHTD học sinh tiểu học không chỉ là việc lạm dụng thể xác mà còn là việc ép buộc trẻ em tham gia vào các hoạt động tình dục, gây tổn hại nghiêm trọng đến tâm lý và sự phát triển của trẻ.

1.2.5.2 Hành vi xâm hại tình dục học sinh tiểu học

Tất cả học sinh tiểu học, bất kể giới tính hay hoàn cảnh gia đình, đều có nguy cơ bị xâm hại tình dục (XHTD) Tuy nhiên, một số nhóm trẻ em có nguy cơ cao hơn, cần được chú ý và bảo vệ.

Thứ nhất học sinh sống trong gia đình khuyết thiếu chỉ có ba hoặc mẹ

Thứ hai học sinh chậm phát triển, khuyết tật

Thứ ba học sinh ở các vùng điều kiện khó khăn, gia đình khó khăn về kinh tế Thứ tư học sinh sống trong điều kiện có nhiều cám dỗ

Thủ phạm xâm hại tình dục (XHTD) có thể là bất kỳ ai, không phân biệt giới tính, địa vị xã hội hay độ tuổi, khiến việc xác định thủ phạm trở nên khó khăn Đặc biệt, học sinh tiểu học và trẻ em trong độ tuổi này thường bị XHTD bởi những người quen biết hoặc sống gần gũi Thủ phạm thường sử dụng nhiều chiêu trò để dụ dỗ trẻ, như đưa đi chơi, tặng quà, hoặc tạo niềm tin với gia đình, nhằm thiết lập mối quan hệ thân thiết để thực hiện hành vi XHTD Hành vi này có thể diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, phục vụ cho nhu cầu thú tính của thủ phạm.

Hành vi nhìn chăm chăm vào những vùng riêng tư của học sinh tiểu học và phô bày những bộ phận riêng tư của bản thân, đồng thời yêu cầu trẻ nhìn vào những bộ phận đó, là một hành động không thể chấp nhận và cần được ngăn chặn.

- Yêu cầu trẻ em là học sinh tiểu học cởi hết quần áo và chụp hình trẻ khỏa thân

Việc yêu cầu học sinh tiểu học xem phim và hình ảnh khiêu dâm, cũng như thảo luận về quan hệ tình dục nam nữ, là một vấn đề nghiêm trọng và không phù hợp Cần có sự bảo vệ và giáo dục đúng cách cho trẻ em về các vấn đề liên quan đến tình dục, nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh và an toàn cho các em.

Sờ và đụng chạm vào những vùng riêng tư của học sinh tiểu học là hành vi không thể chấp nhận, và việc yêu cầu học sinh sờ vào những bộ phận đó của thủ phạm là một hành động vi phạm nghiêm trọng quyền riêng tư và an toàn của trẻ em.

- Ôm và hôn học sinh tiểu học và yêu cầu trẻ ôm và hôn mình khiến cho học sinh tiểu học cảm thấy khó chịu

Quan hệ tình dục với học sinh tiểu học là một vấn đề nghiêm trọng, trong đó thủ phạm thường sử dụng nhiều hình thức khác nhau để tiếp cận nạn nhân, từ việc dụ dỗ, đe dọa, bắt nạt cho đến cưỡng bức.

1.2.5.3 Nguyên nhân dẫn đến học sinh tiểu học bị xâm hại tình dục a) Nguyên nhân từ phía gia đình

Cha mẹ thường không dành đủ thời gian cho con cái, dẫn đến việc thiếu sự quan tâm và trò chuyện Họ chủ yếu tập trung vào công việc, điều này khiến cho việc trao đổi và chia sẻ về các vấn đề giáo dục giới tính với con trở nên hạn chế.

Nhiều gia đình hiện nay thiếu vắng cha hoặc mẹ do ly hôn, ly thân, hoặc có con cái từ các mối quan hệ khác, dẫn đến việc chăm sóc trẻ không đầy đủ Thêm vào đó, cha mẹ mắc phải các tệ nạn xã hội và vi phạm pháp luật cũng là nguyên nhân chính khiến trẻ em, đặc biệt là học sinh tiểu học, dễ trở thành nạn nhân của xâm hại tình dục.

Nhiều cha mẹ thiếu kiến thức và kỹ năng cần thiết để hướng dẫn trẻ em về vấn đề xâm hại tình dục (XHTD), trong khi một số khác mặc dù đã nhận thức được nhưng vẫn e ngại và không tự tin chia sẻ Hệ quả là họ thường né tránh vấn đề này, dẫn đến việc không thể trang bị cho con những kỹ năng bảo vệ bản thân và kiến thức cần thiết để phòng tránh XHTD.

Nhiều gia đình lo ngại về danh tiếng và sự xấu hổ trước hàng xóm, dẫn đến việc không tố giác hành vi xâm hại trẻ em Điều này tạo điều kiện cho thủ phạm tiếp tục thực hiện các hành vi sai trái.

Cha mẹ chưa nhận thức đầy đủ về hậu quả của xâm hại tình dục đối với học sinh tiểu học Họ thường xuyên chia sẻ hình ảnh của con trên mạng xã hội và cho trẻ mặc những trang phục quá ngắn khi ra ngoài, mà không biết rằng những hành động này có thể khiến trẻ trở thành mục tiêu cho kẻ xâm hại.

Khái niệm Phòng ngừa xâm hại tình dục học sinh tiểu học

1.2.6.1 Khái niệm phòng ngừa xâm hại tình dục học sinh tiểu học

Bảo vệ trẻ em là mục tiêu quan trọng của xã hội, nhằm đảm bảo trẻ được sống, học tập và vui chơi trong môi trường an toàn Phòng ngừa xâm hại tình dục đối với học sinh tiểu học là hành động cần thiết để ngăn chặn việc trẻ em bị đe dọa, ép buộc hoặc dụ dỗ tham gia vào các hành vi tình dục không đúng đắn, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, và sử dụng trẻ em cho mục đích mại dâm hay khiêu dâm.

1.2.6 Biện pháp phòng ngừa xâm hại tình dục học sinh tiểu học

Các vụ xâm hại tình dục trẻ em đang gia tăng, chủ yếu do người thân gây ra Theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội vào ngày 18 tháng 2 năm 2020, từ năm 2015 đến hết ngày 30/6/2019, cả nước ghi nhận 6.364 vụ xâm hại tình dục trẻ em, với 6.432 trẻ em bị ảnh hưởng.

Theo số liệu này có nghĩa là từ năm 2015 đến 30/6/2019 trung bình mỗi tháng sẽ có gần

118 vụ và trung bình mỗi tỉnh thành trên cả nước có gần 2 vụ XHTD trẻ em trong một tháng

Trong các vụ xâm hại tình dục trẻ em, 59,40% thủ phạm là người quen và hàng xóm, trong khi 21,30% là người thân trong gia đình Cụ thể, trong số này, 5,73% là bố đẻ, 5,07% là bố dượng, và 10,05% là người thân khác Những con số này cho thấy thủ phạm thường là người thân của trẻ, lợi dụng sự gần gũi để tạo sự tin tưởng và mất cảnh giác từ gia đình Đây chỉ là những số liệu được công bố, còn nhiều trường hợp không được khai báo có thể cao hơn Trẻ em bị xâm hại qua nhiều hình thức khác nhau, để lại hậu quả nghiêm trọng, do đó cần có hệ thống giải pháp phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em, đặc biệt là từ phía gia đình.

Cha mẹ cần chủ động tìm hiểu và chia sẻ kiến thức giáo dục giới tính với con, không né tránh các vấn đề nhạy cảm Việc trò chuyện về các vùng an toàn trên cơ thể và phân biệt động chạm an toàn và không an toàn là rất quan trọng Hãy tạo không gian thoải mái để con có thể đặt câu hỏi và chia sẻ cảm xúc Đồng thời, cha mẹ nên hạn chế cho trẻ ăn mặc hở hang để tránh thu hút sự chú ý không mong muốn Ngoài ra, trang bị cho con những kỹ năng tự vệ và nhắc nhở trẻ không đi đến nơi vắng vẻ hay nhận quà từ người lạ mà không có sự đồng ý của cha mẹ là rất cần thiết.

Nhà trường tích cực tổ chức các chương trình hoạt động ngoài giờ nhằm giáo dục giới tính, trang bị kỹ năng bảo vệ bản thân, kỹ năng thoát hiểm và phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh.

Giáo dục trẻ em về quyền sở hữu cơ thể là rất quan trọng, giúp trẻ hiểu rằng cơ thể của mình là của riêng mình và không ai có quyền chạm vào Bên cạnh đó, việc dạy trẻ cách từ chối những hành vi không mong muốn và tổ chức các buổi chia sẻ giữa học sinh và giáo viên sẽ tạo ra một môi trường an toàn và hỗ trợ cho trẻ.

Nhà trường có thể tích hợp chương trình giáo dục giới tính và phòng tránh xâm hại tình dục cho học sinh thông qua việc chiếu phim giáo dục về chủ đề này, giúp học sinh dễ dàng chia sẻ và thảo luận hơn.

Các Bộ ngành cần phối hợp chặt chẽ trong công tác phòng ngừa xâm hại tình dục (XHTD) trẻ em, đặc biệt là học sinh tiểu học Mọi người đều có trách nhiệm lên tiếng khi phát hiện vấn đề này Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cần xây dựng kế hoạch cụ thể cho chương trình phòng ngừa XHTD Bộ Giáo dục và Đào tạo nên đưa giáo dục giới tính và phòng chống XHTD vào chương trình học, đồng thời lồng ghép nội dung này vào các hoạt động ngoại khóa Cần có chương trình tập huấn cho giáo viên về chủ đề này Bộ Thông tin và Truyền thông cần tăng cường truyền thông về phòng ngừa XHTD trên các phương tiện truyền thông địa phương Bộ Công an nên phối hợp với nhà trường và chính quyền địa phương để tổ chức các chương trình tuyên truyền và tập huấn cho học sinh Bộ Tư pháp cần triển khai giáo dục luật pháp cho học sinh và người lớn về quyền trẻ em Để đạt hiệu quả, các Bộ và ban ngành cần phối hợp chặt chẽ, hạn chế sự chồng chéo trong các hoạt động đã tổ chức.

1.2.7 Công tác x ã h ộ i cá nhân trong phòng ng ừ a xâm h ạ i tình d ụ c h ọ c sinh ti ể u h ọ c t ại trườ ng Ti ể u h ọc Kim Đồ ng, qu ậ n Bình Tân, th à nh ph ố H ồ Chí Minh

Công tác xã hội cá nhân tại TTH Kim Đồng, quận Bình Tân, TP HCM tập trung vào việc phòng ngừa XHTD cho học sinh thông qua 7 bước của tiến trình công tác xã hội Phương pháp này kết hợp với nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp và kỹ năng chuyên môn nhằm hỗ trợ học sinh nâng cao nhận thức và kỹ năng tự bảo vệ Mục tiêu là giúp học sinh phản ứng hiệu quả khi đối mặt với nguy cơ XHTD, từ đó tạo ra một môi trường an toàn hơn cho các em.

Bước 1: Thiết lập mối quan hệ với thân chủ là học sinh tiểu học trường Tiểu học Kim Đồng, quận Bình tân, thành phố Hồ Chí Minh

Nhân viên công tác xã hội sẽ xác định học sinh cần hỗ trợ tại TTH Kim Đồng thông qua khảo sát, quan sát và thu thập thông tin Họ sẽ xem xét các vấn đề liên quan đến dấu hiệu trẻ có thể bị xâm hại tình dục (XHTD) hoặc có khả năng rơi vào hoàn cảnh này Dựa trên những thông tin thu thập được, nhân viên công tác xã hội sẽ thiết lập mối quan hệ với học sinh.

Bước 2: Xác định và phân tích vấn đề của thân chủ là học sinh tiểu học đã được xác định ở bước 1

Sau khi thiết lập mối quan hệ và tạo niềm tin với học sinh tiểu học có nguy cơ bị xâm hại tình dục (XHTD), nhân viên công tác xã hội sẽ thu thập thêm thông tin qua các buổi trò chuyện cá nhân Họ sẽ sử dụng câu hỏi khai thác và trình chiếu phim, hình ảnh về giáo dục giới tính để khuyến khích học sinh chia sẻ Từ đó, xác định mức độ nguy cơ XHTD của học sinh để có phương án hỗ trợ phù hợp Mức độ nguy cơ có thể được xây dựng theo thang đo từ 1 đến 5, tương ứng với các mức độ: rất không thường xuyên, thỉnh thoảng, lúc thường xuyên lúc không, thường xuyên, và rất thường xuyên.

Chúng ta cần chú ý đến các hành vi của thủ phạm khi tiếp cận trẻ em tiểu học để thực hiện hành vi xâm hại tình dục Cụ thể, cần theo dõi tần suất trẻ bị rủ rê đi chơi, nhận quà như bánh kẹo, đồ chơi hay tiền, cũng như việc bị đưa đến những nơi vắng vẻ hoặc yêu cầu ở một mình Ngoài ra, những sự quan tâm không lành mạnh từ người lớn, việc trẻ chia sẻ bí mật và yêu cầu không được tiết lộ cho ai cũng cần được quan tâm đặc biệt.

Theo mức 1, các biểu hiện xảy ra rất không thường xuyên, với tần suất từ 1 đến 3 lần mỗi năm, và khoảng thời gian giữa các lần xuất hiện có thể cách xa nhau.

Theo mức 2, trẻ em sẽ nhận được nhiều ứng xử trong khoảng thời gian nhất định, với tần suất từ 2 đến 3 lần mỗi tháng cho một hành vi cụ thể.

Theo mức độ 3, trẻ em nhận được các ứng xử không ổn định, có thể có nhiều ứng xử trong một khoảng thời gian, nhưng cũng có thể chỉ nhận được một ứng xử duy nhất Điều này dẫn đến tình trạng có tuần trẻ nhận được ứng xử, nhưng tuần khác thì không.

Theo mức 4: thường xuyên, có nghĩa trẻ nhận được những ứng xử trên hoặc một ứng xử duy nhất trong các ứng xử trên mỗi tuần một đến hai

Theo mức 5: rất thường xuyên, có nghĩa trẻ nhận được những ứng xử trên hoặc một ứng xử duy nhất trong các ứng xử trên mỗi tuần 3 đến 4 lần

Tổng quan địa bàn nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu

THỰC TRẠNG PHÒNG NGỪA XÂM HẠI TÌNH DỤC HỌC SINH TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC KIM ĐỒNG QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Nhận thức về xâm hại tình dục của học sinh

ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG PHONG PHÒNG NGỪA XÂM HẠI TÌNH HỌC SINH 3.1 Lý do lựa chọn công tác xã hội cá nhân trong phòng ngừa xâm hại tình dục học

Ngày đăng: 29/06/2023, 22:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Tầm nhìn thế giới (World Vision). (2014). Chương trình phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em (tài liệu dành cho cán bộ cộng đồng) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em (tài liệu dành cho cán bộ cộng đồng)
Tác giả: Tầm nhìn thế giới (World Vision)
Năm: 2014
12. Tầm nhìn thế giới (World Vision). (2014). Chương trình phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em (tài liệu dành cho trẻ em) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em (tài liệu dành cho trẻ em)
Tác giả: Tầm nhìn thế giới (World Vision)
Năm: 2014
13. Tầm nhìn thế giới (World Vision). (2014). Chương trình phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em (tài liệu hướng dẫn thảo luận với cán bộ cộng đồng) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em (tài liệu hướng dẫn thảo luận với cán bộ cộng đồng)
Tác giả: Tầm nhìn thế giới (World Vision)
Năm: 2014
14. Trần Thị Cẩm Nhung. (2012). Một số cách tiếp cận nghiên cứu xâm hại tình dục trẻ em qua các nghiên cứu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số cách tiếp cận nghiên cứu xâm hại tình dục trẻ em qua các nghiên cứu nước ngoài
Tác giả: Trần Thị Cẩm Nhung
Năm: 2012
15. Nguyễn Thị Đào. (2014). Phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em và vai trò của công tác xã hội, trường Đại học Thăng Long, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em và vai trò của công tác xã hội
Tác giả: Nguyễn Thị Đào
Nhà XB: trường Đại học Thăng Long, Hà Nội
Năm: 2014
16. Nguyễn Thị Thúy Vân. (2017). Kỹ năng phòng tránh xân hại tình dục học sinh một số trường tiểu học tại thành phố Hồ Chí Minh, Mã số 60310401, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng phòng tránh xân hại tình dục học sinh một số trường tiểu học tại thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Vân
Nhà XB: Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2017
17. Qũy Nhi đồng Liên hợp quốc. (2010). Báo cáo phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam
Tác giả: Qũy Nhi đồng Liên hợp quốc
Năm: 2010
18. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (2016). Luật số 102/2016/QH13 ngày 05 tháng 4 năm 2016 Luật trẻ em Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 102/2016/QH13 ngày 05 tháng 4 năm 2016 Luật trẻ em
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2016
19. Sáng kiến toàn cầu về Chấm dứt mọi hình thức trừng phạt thân thể trẻ em. (2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng kiến toàn cầu về Chấm dứt mọi hình thức trừng phạt thân thể trẻ em
Năm: 2009
24. Võ Sỹ Lợi. (2014). Giáo trình Tâm lí học II. Nhà xuất bản Đà Lạt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lí học II
Tác giả: Võ Sỹ Lợi
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà Lạt
Năm: 2014
25. Trường Đại học Lao động Xã hôi (2005). Giáo trình công tác xã hội cá nhân . 26. Nguyễn Thị Hải. (2015). Nghiên cứu vai trò của nhân viên Công tác xã hội trongviệc hỗ trợ tre em bị xâm hại tình dục tại hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình công tác xã hội cá nhân
Nhà XB: Trường Đại học Lao động Xã hôi
Năm: 2005
27. Nguyễn Hải Hữu. (2016). Báo cáo nghiên cứu về Công tác xã hội với trẻ em – Thực Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu về Công tác xã hội với trẻ em – Thực
Tác giả: Nguyễn Hải Hữu
Năm: 2016
30. Liên hiệp quốc (2000), Nghị định thư không bắt buộc bổ sung cho Công ước về Quyền trẻ em về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định thư không bắt buộc bổ sung cho Công ước về Quyền trẻ em về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm
Tác giả: Liên hiệp quốc
Năm: 2000
31. Huỳnh Thị Bích Phụng (2009), Công tác xã hội với trẻ bị xâm hại tình dục và khả năng đáp ứng về chuyên môn của nhân viên xã hội trong lĩnh vực này, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội với trẻ bị xâm hại tình dục và khả năng đáp ứng về chuyên môn của nhân viên xã hội trong lĩnh vực này
Tác giả: Huỳnh Thị Bích Phụng
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
32. Nguyễn Tuấn Anh, Đinh Duy Thịnh (2017), “Xâm hại tình dục trẻ em và một số giải pháp phòng ngừa”, Tạp chí Cảnh sát nhân dân online Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xâm hại tình dục trẻ em và một số giải pháp phòng ngừa
Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh, Đinh Duy Thịnh
Nhà XB: Tạp chí Cảnh sát nhân dân online
Năm: 2017
33. Nhiều tác giả (2011). Giáo trình Công tác xã hội cá nhân và gia đình, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Công tác xã hội cá nhân và gia đình
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2011
34. Đinh Thị Nga (2014), “Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam hiện hành”, Tạp chí Khoa học, Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam hiện hành
Tác giả: Đinh Thị Nga
Nhà XB: Tạp chí Khoa học
Năm: 2014
35. Nguyễn Võ Kỳ Anh (1998), Giáo dục kĩ năng sống trong giáo dục sức khỏe cho học sinh, Vụ Giáo dục thể chất, Bộ Giáo dục và Đào tạoTài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục kĩ năng sống trong giáo dục sức khỏe cho học sinh
Tác giả: Nguyễn Võ Kỳ Anh
Nhà XB: Vụ Giáo dục thể chất, Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 1998
3. Virginia P Robinson. 1930. A changing psychology in social case work 4. Grace Mathew. 1992. An Introduction to Social CaseworkWebsite Sách, tạp chí
Tiêu đề: A changing psychology in social case work "4. Grace Mathew. 1992. "An Introduction to Social Casework
20. Cấm trừng phạt thân thể trẻ em tại trường học: Những câu hỏi thường gặp Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w