ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ────────────── QUÁCH VÕ HOÀNG QUYÊN CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LUẬT CẢI CÁCH RUỘNG[.]
Trang 1──────────────
QUÁCH VÕ HOÀNG QUYÊN
CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LUẬT CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT 1953 VÀ CÁC LUẬT ĐẤT ĐAI TRONG
THỜI KỲ ĐỔI MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 2──────────────
QUÁCH VÕ HOÀNG QUYÊN
CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LUẬT CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT 1953 VÀ CÁC LUẬT ĐẤT ĐAI TRONG
THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 8229015
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN ĐÌNH THỐNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 3viên, hỗ trợ từ phía các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến TS Nguyễn Đình Thống, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này
Tiếp đến, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, Phòng Sau Đại học, Thư viện và Khoa Lịch sử của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong chặng đường học tập và nghiên cứu
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 09 năm 2021
Học viên cao học
Quách Võ Hoàng Quyên
Trang 4Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Đình Thống Các kết quả và số liệu nghiên cứu được trình bày trong Luận văn là trung thực Những kết luận của Luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác
Trang 51 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 10
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 11
6 Kết cấu của luận văn 13
NỘI DUNG 14
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 14
1.1 Cơ sở hình thành chính sách ruộng đất của Đảng Cộng sản Việt Nam 14
1.1.1 Lý thuyết chung về chính sách ruộng đất 14
1.1.2 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về ruộng đất 17
1.1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề ruộng đất 24
1.2 Chính sách ruộng đất của Đảng Cộng sản Việt Nam trước Cải cách ruộng đất (1953) 29
1.2.1 Thời kỳ 1930 – 1945 29
1.2.2 Thời kỳ 1945 – 1952 32
Tiểu kết Chương 1 37
Chương 2: QUÁ TRÌNH ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HOẠCH ĐỊNH VÀ THỂ CHẾ HÓA CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT THÀNH LUẬT CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT 1953 VÀ CÁC LUẬT ĐẤT ĐAI THỜI KỲ ĐỔI MỚI 38
2.1 Quá trình Đảng lãnh đạo thể chế hóa chính sách ruộng đất thành Luật Cải cách ruộng đất 1953 38
2.1.1 Những nhân tố tác động đến việc thực hiện cải cách ruộng đất của Đảng 38
2.1.2 Nội dung chính sách ruộng đất qua Luật Cải cách ruộng đất 1953 51
Trang 6đất đai trong thời kỳ Đổi mới 76
2.2.1 Chính sách Hợp tác hóa nông nghiệp và thực tiễn triển khai – tiền đề đổi mới chính sách và Luật đất đai thời kỳ Đổi mới 76
2.2.2 Từ tư duy đổi mới của Đảng đến việc ban hành các Luật đất đai 80
2.2.3 Chính sách ruộng đất của Đảng qua Luật đất đai và những bất cập trong việc lãnh đạo thể chế hóa 89
Tiểu kết Chương 2 96
Chương 3: NHẬN XÉT, KINH NGHIỆM VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ RÚT RA TỪ QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO THỂ CHẾ HÓA CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT THÀNH CÁC LUẬT VỀ ĐẤT ĐAI 98
3.1 Nhận xét 98
3.1.1 Chính sách ruộng đất của Đảng nhìn từ góc độ Luật Cải cách ruộng đất 1953 98
3.1.2 Chính sách ruộng đất của Đảng nhìn từ góc độ các Luật đất đai trong thời kỳ Đổi mới 105
3.2 Kinh nghiệm lịch sử 110
3.3 Một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo thể chế hóa chính sách ruộng đất thành Luật đất đai trong thời gian tới 113
3.3.1 Đổi mới phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 113
3.3.2 Đổi mới quy trình ban hành chính sách ruộng đất 115
Tiểu kết Chương 3 118
KẾT LUẬN 120
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
PHỤ LỤC 132
Trang 7BCHTW Ban Chấp hành Trung ương CCRĐ Cải cách ruộng đất
CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa CNXH Chủ nghĩa xã hội
ĐCSVN Đảng Cộng sản Việt Nam HĐND Hội đồng nhân dân
HTHNN Hợp tác hóa nông nghiệp HTX Hợp tác xã
Trang 801
Sự thay đổi cơ cấu thành phần giai cấp ở nông thôn
02
Quyền sở hữu ruộng đất của các thành phần giai cấp
ở nông thôn đến năm 1953 (trước khi tiến hành CCRĐ)
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
ĐCSVN đã xác lập vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam kể từ khi ra đời (1930) Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 thành công, khai sinh ra Nước VNDCCH, ĐCSVN
đã trở thành một Đảng cầm quyền, thông qua Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng bằng hệ thống pháp luật, quản lý xã hội Do đó, mọi đường lối, chủ trương của Đảng sẽ có tác động đến Nhà nước và sự phát triển của xã hội Mà chính sách ruộng đất của ĐCSVN nhìn từ góc độ Luật CCRĐ 1953 và các Luật đất đai trong thời kỳ Đổi mới là một đề tài phản ảnh rõ nét sự tác động này
Thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên CNXH thì ruộng đất hàm chứa cả nội dung kinh tế và chính trị Về kinh tế, ruộng đất là TLSX chủ yếu, là cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế; về mặt chính trị thì ruộng đất phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp trong cách mạng xã hội
Vấn đề cốt lõi của chính sách ruộng đất của ĐCSVN là phản ánh quan hệ sở hữu về TLSX chủ yếu và được bảo vệ trên cơ sở pháp lý là chế độ sở hữu công hữu
Do đó, nghiên cứu về chính sách ruộng đất của Đảng thông qua pháp luật đất đai không chỉ đơn thuần là tìm hiểu về một lĩnh vực mà Đảng lãnh đạo, mà còn góp phần
bổ sung lý luận về chế độ sở hữu trong việc thực hiện mục tiêu CNXH Đồng thời, qua đó cũng làm rõ vai trò của Nhà nước pháp quyền XHCN, trong đó, pháp luật là nền tảng bảo vệ cho chế độ sở hữu; và chính sự thay đổi của luật đất đai cũng thể hiện
sự phát triển nhận thức của ĐCSVN về chế độ sở hữu
Trong thời kỳ đổi mới, sự phát triển nhận thức của Đảng về kinh tế thị trường định hướng XHCN thì đất đai không còn đơn thuần là về vấn đề phát triển kinh tế, về vấn đề giai cấp nữa, mà chính sách ruộng đất gắn với vấn đề dân tộc, chủ quyền quốc gia, gắn với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, tạo môi trường thuận lợi cho các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế Luật đất đai là cơ sở pháp
lý để bảo vệ độc lập dân tộc và phát triển kinh tế theo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, đồng thời từng bước xác lập và hiện thực hóa chế độ
Trang 10dân chủ dựa trên việc quản lý đất nước bằng pháp luật, từng bước thay thế kiểu một nền chuyên chính, tùy ý thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng cầm quyền
Từ những lý do trên, học viên quyết định thực hiện luận văn với đề tài “Chính sách ruộng đất của Đảng Cộng sản Việt Nam nhìn từ góc độ luật cải cách ruộng đất 1953 và các Luật đất đai trong thời kỳ đổi mới”
Mục đích của đề tài là làm sáng tỏ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo chính sách ruộng đất của ĐCSVN nhìn từ góc độ của văn bản quy phạm pháp luật với luật điều chỉnh trực tiếp nhất đến đất đai là Luật CCRĐ và các Luật đất đai Mục đích này sẽ được làm rõ thông qua các nhiệm vụ cụ thể như xác định, phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành chính sách ruộng đất của ĐCSVN; Tổng hợp và phân tích quá trình lãnh đạo thể chế hóa và điều chỉnh chính sách ruộng đất của ĐCSVN thông qua các luật đất đai với hai thời kỳ: trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc với chính sách CCRĐ (1953 – 1956) thông qua Luật CCRĐ năm 1953; trong thời kỳ đổi mới với chính sách ruộng đất thông qua các luật đất đai từ năm 1986 đến năm 2013; Nhận xét kết quả, đúc rút kinh nghiệm và đề xuất khuyến nghị từ quá trình Đảng lãnh đạo thể chế hóa chính sách ruộng đất thành các luật về đất đai
Thông qua việc nghiên cứu nhiều nguồn tài liệu và ở nhiều lĩnh vực khác nhau, luận văn mong muốn sẽ góp phần thực hành hướng nghiên cứu liên ngành trong việc tìm hiểu, nghiên cứu chuyên ngành Lịch sử ĐCSVN, góp phần làm rõ những bất cập khi thể chế hóa đường lối bằng luật pháp
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
2.1 Tình hình và kết quả nghiên cứu
* Các công trình chuyên khảo về vấn đề ruộng đất, chính sách ruộng đất của ĐCSVN:
Công trình “Cách mạng ruộng đất ở Việt Nam” do Trần Phương chủ biên (Nxb
Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1968), là công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề ruộng đất ở Việt Nam, với nguồn cứ liệu có độ tin cậy Công trình đã trình bày một
Trang 11cách toàn diện và hệ thống về cách mạng ruộng đất ở Việt Nam từ năm 1930 cho đến những năm 60 của thế kỷ 20, đặc biệt là về tình hình ruộng đất ở Việt Nam thời kỳ phong kiến, thực dân trước cách mạng tháng Tám năm 1945 như chủ trương, quan điểm của Đảng về ruộng đất từ 1930 – 1945; quá trình thực hiện chính sách giảm tô, cải cách từng phần từ năm 1945 – 1952; chính sách CCRĐ triệt để từ năm 1953 ở miền Bắc; trình bày, đánh giá về tính chất của cuộc cải cách điền địa của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam; đưa ra nhận định về những kinh nghiệm của cuộc cách mạng ruộng đất ở Việt Nam Tuy nhiên, do đứng trên quan điểm nghiên cứu phục vụ cho thời kỳ kháng chiến chống thực dân, đế quốc nên tác giả chủ yếu làm nổi bật lên những thành công của việc thực hiện cách mạng ruộng đất do ĐCSVN lãnh đạo; chưa có sự nhìn nhận một cách khách quan về chính sách ruộng đất ở miền Nam Việt Nam
Nhóm công trình nghiên cứu của tác giả Lâm Quang Huyên như “Cách mạng
ruộng đất ở miền Nam Việt Nam” (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội xuất bản lần đầu
năm 1985, tái bản năm 1997) đã trình bày về đặc điểm, tình hình ruộng đất, các giai cấp ở nông thôn miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước Đồng thời thể hiện chính sách ruộng đất của ĐCSVN từ sau cách mạng tháng Tám đến những năm
1980 (bản năm 1985), sau đó tái bản năm 1997 thì bổ sung và sửa chữa chủ yếu với
phần hoàn thành cách mạng ruộng đất, đưa nông thôn miền Nam cùng cả nước
quá độ lên CNXH (bổ sung thời kỳ 1985 – 1997); Công trình “Vấn đề ruộng đất và
nông dân các nước Đông Nam Á” (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1999); Công trình
“Vấn đề ruộng đất ở Việt Nam” (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002) đã trình bày
có hệ thống các sử liệu về toàn bộ cách mạng ruộng đất trên phạm vi cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam trong 30 năm (1945 – 1975) do ĐCSVN lãnh đạo, nhất là phần cách mạng ruộng đất ở miền Nam Công trình đã trình bày những vấn đề mang tính
lý luận trong việc thực hiện chính sách ruộng đất như đề cập ruộng đất trong mối quan hệ với nông nghiệp và nông dân, trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh về vấn đề ruộng đất với ý nghĩa là cơ sở hình thành chính sách ruộng đất của ĐCSVN, đề cập đến chính sách HTHNN sau chính sách CCRĐ; Chính
Trang 12sách ruộng đất từ đổi mới đến nay chỉ ra thực trạng và đưa ra phương hướng sử dụng thật tốt ruộng đất trong phát triển kinh tế thời kỳ đổi mới
Luận án “Chính sách ruộng đất của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong công cuộc
đổi mới (1986 – 1993)” của Vũ Văn Châu bảo vệ năm 1994 (Học viện chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh) đã khái quát tình hình chiếm hữu ruộng đất ở nước ta dưới thời Pháp thuộc và chính sách ruộng đất của Đảng trong cách mạng dân tộc dân chủ; phân tích những nội dung cơ bản, kết quả bước đầu của chính sách ruộng đất trong công cuộc đổi mới và quá trình Đảng bổ sung, sửa đổi chính sách Đây là công trình mở đầu cho việc nghiên cứu chính sách ruộng đất của ĐCSVN trong những năm đầu đổi mới từ 1986 – 1993, và giai đoạn đầu tiên triển khai Luật đất đai năm 1987
Luận án “Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách ruộng đất ở Bắc Bộ từ 1945 –
1957” của Lý Việt Quang bảo vệ năm 2011 (Học viện Chính trị - Hành chính Quốc
gia Hồ Chí Minh) đã trình bày việc thực hiện chính sách ruộng đất ở Bắc Bộ thời kỳ
1945 – 1957 Tác giả đã đánh giá ưu nhược điểm và rút ra một số kinh nghiệm lãnh đạo của ĐCSVN Luận án trình bày hệ thống chính sách ruộng đất của Đảng sau cách mạng tháng Tám theo từng giai đoạn ở Bắc Bộ từ 1945 - 1957, từng đợt cụ thể đi từ cải cách từng phần với việc giảm tô cho đến thực hiện cải cách triệt để và thực hiện công tác sửa sai cơ bản hoàn thành vào tháng 12/1957 Đây là nguồn nghiên cứu quan trọng để học viên có thể hệ thống về các chủ trương của Đảng trước và sau khi ban hành Luật CCRĐ 1953
Đề tài cấp bộ năm 2003 “Lý luận Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn
đề ruộng đất và vận dụng nó vào hoàn thiện luật đất đai của Việt Nam” của Viện
Kinh tế chính trị học: trình bày lý luận Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan
hệ đất đai và sự vận dụng trong việc xây dựng pháp luật về đất đai Đặc biệt, nghiên cứu vấn đề đất đai gắn liền với hệ thống pháp luật Việt nam từ năm 1945 – 2003, từ
đó đề ra giải pháp hoàn thiện Luật đất đai ở Việt Nam Tuy nhiên, công trình chưa đi sâu vào việc phân tích chính sách CCRĐ của ĐCSVN từ Luật CCRĐ 1953; chưa làm
rõ về sự chuyển biến trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí
Trang 13Minh về ruộng đất trong thời kỳ đổi mới; dừng lại ở Luật đất đai năm 2003, mà Luật đất đai mới 2013 đã có nhiều sự thay đổi và điều chỉnh
Ngoài ra, còn có các công trình, luận văn nghiên cứu về ruộng đất theo khu vực,
địa phương như Võ Văn Sen với “Vấn đề ruộng đất ở Đồng bằng sông Cửu Long
của Việt Nam (1954 – 1975); Luận án “Việc giải quyết vấn đề ruộng đất trong quá trình đi lên sản xuất lớn ở đồng bằng sông Cửu Long 1975 – 1993” bảo vệ năm 2000
của Nguyễn Thành Nam; Luận án “Quá trình giải quyết vấn đề ruộng đất ở đồng
bằng sông Cửu Long (1992 – 2008)” bảo vệ năm 2015 của Trần Đăng Kế; luận văn
“Sự biến đổi về sở hữu ruộng đất ở nông thôn Bến Tre” bảo vệ năm 1999 của Võ Thị
Thu Nga; luận văn “Quá trình giải quyết vấn đề ruộng đất và phát triển nông nghiệp
ở nông thôn Vĩnh Long trong giai đoạn đổi mới 1986 – 1996” bảo vệ năm 2001 của
Lê Thị Lộc Mai; luận văn “Vấn đề ruộng đất ở Bến Tre 1993 – 2002” bảo vệ năm
2003 của Đặng Thị Thùy Trang; luận văn “Vấn đề ruộng đất ở An Giang giai đoạn
1988 – 2003” bảo vệ năm 2005 của Nguyễn Thị Xuân Lộc; “Những biến đổi về ruộng đất và đời sống kinh tế của nông dân ở tỉnh Vĩnh Long trong quá trình đổi mới (1986 – 2000)” bảo vệ năm 2005 của Nguyễn Bách Khoa; luận văn “Thực hiện chủ trương cải cách ruộng đất của Đảng ở tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 1955 đến năm 1957” bảo vệ năm 2015 của Nguyễn Thị Hiền … là những công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn
trong việc triển khai chính sách ruộng đất của ĐCSVN, đặc biệt là ở địa phương trong
thời kỳ đổi mới
* Nhóm công trình nghiên cứu về pháp luật và chế độ sở hữu đối với đất đai:
Luận văn “Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai theo luật đất đai năm 2013” bảo
vệ năm 2015 của Lê Bùi Phương Nhung (Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội) đã trình bày nhiều vấn đề mang tính pháp lý về chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới theo các luật đất đai Đây là công trình nghiên cứu có giá trị pháp lý
về chế độ sở hữu đất đai và nguồn tư liệu mà luận văn có thể kế thừa trong việc làm
Trang 14rõ chính sách ruộng đất của Đảng nhìn từ phương diện pháp luật đất đai thời kỳ đổi mới
Sách “Những vấn đề pháp lý về thị trường quyền sử dụng đất Việt Nam” của
Ts Lưu Quốc Thái (Nxb Hồng Đức, Hà Nội, 2016) đã trình bày những vấn đề lý luận về quyền sử dụng đất và thị trường quyền sử dụng đất Việt Nam như: bản chất,
sự tồn tại khách quan, đặc trưng, vai trò đặc biệt quan trọng của thị trường này trong việc xây dựng nền kinh tế hàng hóa vận động theo cơ chế thị trường ở Việt Nam; Những nội dung cơ bản của pháp luật đất đai hiện hành về thị trường quyền sử dụng đất Đây là nguồn tài liệu tham khảo cần thiết khi nghiên cứu về pháp luật đất đai với
cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; Nhóm các bài viết
liên quan khác như “Các quy định của pháp luật về sở hữu đất đai từ 1954 đến 1980” của Mai Xuân Anh (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, 20/3/1998); “Quyền sở hữu và
quyền sử dụng đất” của Nguyễn Sinh Cúc (Tạp chí Cộng sản, 7/1992);…
* Các công trình đề cập một phần về vấn đề ruộng đất khi viết về kinh tế, nhất là nông nghiệp, nông thôn, nông dân
Luận án tiến sĩ “Quá trình hình thành và phát triển đường lối đổi mới trong
nông nghiệp của Đảng Cộng Sản Việt Nam từ 1975 đến 1996” của Lê Văn Thai (Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) đề cập đến việc thực hiện chính sách HTHNN trước đổi mới và thông qua đó góp phần làm cơ sở cho việc triển khai việc quản lý nông nghiệp theo cơ chế mới (vấn đề mà luận văn có thể kế thừa trong việc nghiên cứu các chính sách ruộng đất trước đổi mới)
Công trình “Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945 – 2000” do Đặng Phong chủ biên
(Viện Kinh tế học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005) nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về nền kinh tế Việt Nam sau cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến năm 2000, đặc biệt là có cái nhìn khách quan về việc thực hiện các chính sách của ĐCSVN trong việc phát triển kinh tế, trong đó có chính sách ruộng đất; các công trình về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam như Đỗ Hoài
Nam với bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nền kinh tế thị
Trang 15trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” (Tạp chí Khoa học xã hội Việt
Nam, số 12 (73) – 2013), Nguyễn Mạnh Khang với bài viết “Đất đai hàng hóa và
vấn đề quản lý thị trường đất đai”(Kỷ yếu hội thảo khoa học về Nghiên cứu cơ sở lý
luận và quy định về quyền sở hữu, quyền sử dụng đất của một số quốc gia trên thế giới, rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam)… đã trình bày sự tác động của cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đến chính sách ruộng đất của ĐCSVN thông qua việc điều chỉnh của các quy định về đất đai
Công trình “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới quá khứ và
hiện tại” của Nguyễn Văn Bích (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010); công trình
“Nông dân, nông thôn và nông nghiệp, những vấn đề đang đặt ra” của nhiều tác giả
(Nxb Tri thức, Hà Nội, 2008);… đã phần nào thể hiện chính sách ruộng đất của ĐCSVN trong nền cảnh rộng kinh tế, đặc biệt là cho thấy mối quan hệ “nông nghiệp, nông thôn và nông dân” trong việc thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng và cơ sở
để điều chỉnh các Luật đất đai cho phù hợp với việc phát triển kinh tế nói chung và trong lĩnh vực nông nghiệp với những quy định về đất nông nghiệp nói riêng
2.2 Các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Từ việc tổng hợp các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, học viên nhận thấy đề tài luận văn có thể kế thừa các phần liên quan đến những tiền đề hình thành và quá trình thực hiện các chính sách ruộng đất của ĐCSVN với hai giai đoạn
là trước đổi mới và đổi mới; những tư duy pháp lý về quản lý nhà nước trên lĩnh vực ruộng đất của Nhà nước Pháp quyền; sự tác động của cơ chế kinh tế thị trường đến chính sách ruộng đất của ĐCSVN thông qua việc điều chỉnh các luật đất đai… Tuy nhiên, chưa có một công trình xuất bản nào nghiên cứu về chính sách ruộng đất của ĐCSVN với hai giai đoạn là thời kỳ trước đổi mới và thời kỳ đổi mới thông qua việc nghiên cứu về Luật CCRĐ và các Luật đất đai
Về phương diện lý luận, học viên nhận thấy có ít công trình đề cập đến cơ sở hình thành nên chính sách ruộng đất của ĐCSVN, hoặc nếu có đề cập thì chủ yếu dựa trên cơ sở của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề ruộng đất nhưng mang tính khái quát
Trang 16chung, mà chưa thể hiện rõ cơ sở khoa học về ruộng đất và cơ sở thực tiễn về ruộng đất ở Việt Nam Mặt khác, một mô hình lý luận được triển khai trong thực tiễn đã được điều chỉnh thông qua chính sách kinh tế mới (NEP) của Lênin thì hầu như ít được nghiên cứu và chưa có công trình nào đề cập đến nó trong việc phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin về những vấn đề ruộng đất Đặc biệt, khi ĐCSVN tiến hành đổi mới đất nước thì tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và về các vấn đề liên quan đến ruộng đất nói riêng cũng là nhân tố quan trọng làm thay đổi tư duy hoạch định chính sách ruộng đất của ĐCSVN, mà trong đó học viên nhận thấy các công trình nghiên cứu cũng ít đề cập đến tư tưởng của Người trong các công trình nghiên cứu về ruộng đất
Các công trình nghiên cứu về thực hiện CCRĐ thì chủ yếu nhấn mạnh vào nguyên nhân thực hiện CCRĐ từ 1953 – 1956 là do yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Pháp đòi hỏi cần phải đẩy mạnh CCRĐ triệt để, mà chưa đề cập đến các nhân
tố bên ngoài tác động đến việc thực hiện chính sách ruộng đất của ĐCSVN Đồng thời, do chính sách ruộng đất của ĐCSVN được hợp thức hóa thông qua Luật CCRĐ
1953 nhưng các công trình nghiên cứu lại ít đề cập đến Luật CCRĐ trong việc làm rõ đặc điểm, bản chất của chính sách CCRĐ ở miền Bắc Việt Nam
Về chính sách ruộng đất của ĐCSVN thời kỳ đổi mới thì các công trình nghiên cứu lại tập trung vào việc triển khai thực hiện chính sách nói chung hoặc đề cập trực tiếp đến quá trình thực hiện, tác động của chính sách ruộng đất đến vùng hoặc từng địa phương cụ thể Do đó, trên phạm vi toàn quốc nói chung với vấn đề pháp lý chi phối việc thực hiện các chính sách ruộng đất của ĐCSVN vẫn chưa được đề cập và quan trọng nhất là chưa có công trình nào nghiên cứu về mối quan hệ giữa đường lối, chủ trương của Đảng với chính sách, pháp luật của Nhà nước về ruộng đất trong sự tương thích và chi phối lẫn nhau: Luật đất đai của Nhà nước là sự thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về ruộng đất, nhưng ĐCSVN và Nhà nước cũng là những pháp nhân chịu sự tác động, điều chỉnh của luật đất đai
Trang 17Về các công trình nghiên cứu pháp luật về đất đai thì đa phần tập trung nghiên cứu từng luật đất đai cụ thể, hoặc những chế định, điều khoản quy định cụ thể trong luật đất đai; hoặc các công trình nghiên cứu, so sánh các luật đất đai với nhau nhưng chưa đề cập mối liên hệ giữa chính sách ruộng đất của Đảng với các luật đất đai của Nhà nước; chưa nghiên cứu các luật đất đai trong một hệ thống phát triển về quan hệ pháp luật đất đai trong việc thể chế hóa chính sách ruộng đất của ĐCSVN
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chính sách ruộng đất của ĐCSVN và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước thông qua Luật CCRĐ và các Luật đất đai, với các nội dung cụ thể là:
- Cơ sở hình thành chính sách ruộng đất của ĐCSVN
- Quá trình ĐCSVN hoạch định và thể chế hóa chính sách ruộng đất thành Luật Cải cách ruộng đất 1953 và các Luật đất đai thời kỳ Đổi mới
- Nhận xét, đúc rút kinh nghiệm và đề xuất một số khuyến nghị từ quá trình Đảng lãnh đạo thể chế hóa chính sách ruộng đất thành các luật về đất đai
Không gian nghiên cứu của luận văn là trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam với sự điều chỉnh thống nhất của Luật đất đai Tuy nhiên, đối với Luật CCRĐ 1953 thì không gian nghiên cứu là ở miền Bắc Việt Nam (do hoàn cảnh chiến tranh nên Luật này chỉ
áp dụng được ở vùng tự do là ở một số tỉnh miền Bắc)
Thời gian nghiên cứu của luận văn là từ năm 1953 – 2013, với hai thời kỳ:
- Thời kỳ từ năm 1953 – 1956 với chính sách ruộng đất của ĐCSVN thông qua Luật CCRĐ 1953
- Thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 – 2013) với chính sách ruộng đất của ĐCSVN thông qua các luật đất đai năm 1987; 1993 (sửa đổi, bổ sung 1998 và 2001); 2003 (sửa đổi, bổ sung 2009); và 2013 (có giá trị hiện hành và đang điều chỉnh mọi quan
hệ pháp luật liên quan đến đất ở Việt Nam hiện nay)
Trang 184 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin với phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử để làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến ruộng đất như chế độ sở hữu về TLSX, đánh giá mối quan hệ giữa sở hữu – quản lý – sử dụng đất đai
Luận văn đã vận dụng hai phương pháp nghiên cứu cơ bản là phương pháp lịch
sử và phương pháp logic để phân tích, làm rõ để các nguồn tư liệu khác nhau nhằm
có sự nhìn nhận, đánh giá toàn diện, có trọng tâm và khách quan về chính sách ruộng đất của ĐCSVN thông qua các luật đất đai
Phương pháp lịch sử tái hiện lại quá trình hình thành và điều chỉnh luật đất đai,
từ đó, làm rõ quá trình hình thành, phát triển chính sách ruộng đất của ĐCSVN thông qua hệ thống pháp luật theo một tiến trình lịch sử, thể hiện tính toàn diện, cụ thể và vận động liên tục của chính sách ruộng đất của ĐCSVN thông qua các Luật đất đai qua các thời kỳ
Luận văn vận dụng phương pháp logic để làm rõ những nhân tố cốt yếu dẫn đến việc hình thành và thay đổi của chính sách ruộng đất của ĐCSVN thông qua Luật CCRĐ 1953 và các Luật đất đai trong thời kỳ đổi mới Đồng thời, thông qua phương pháp logic sẽ làm rõ mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế được phản ánh trong chính sách ruộng đất của ĐCSVN, mà pháp luật với Luật đất đai là phương thức liên kết,
lý giải hiệu quả nhất mối quan hệ trên
Các phương pháp liên ngành được sử dụng trong luận văn nhằm vận dụng những thành tựu nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp; phương pháp luật học so sánh; tổng hợp, thống kê để làm cho luận văn được nghiên cứu toàn diện, khách quan và dưới nhiều góc độ khác nhau Trong đó, phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp sẽ tập trung vào việc hệ thống, phân tích các số liệu sẵn có trong quá trình thực hiện chính sách CCRĐ ở miền Bắc Việt
Trang 19Nam thông qua Luật CCRĐ từ 1953 đến năm 1956; Phương pháp luật học so sánh sẽ nhấn mạnh vào việc so sánh, đối chiếu việc triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai ở hai thời kỳ thực hiện chính sách ruộng đất của ĐCSVN: thời
kỳ trước đổi mới với Luật CCRĐ 1953 và thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến 2013) với các Luật đất đai Đồng thời, so sánh, phân tích một số quy định pháp luật trong các Luật đất đai để thấy được sự bất cập khi thể chế hóa đường lối bằng Luật
4.2 Nguồn tư liệu
- Các tác phẩm của chủ nghĩa Mác – Lênin, của Hồ Chí Minh là nguồn cứ liệu chủ yếu trong việc nghiên cứu luận văn của học viên về cơ sở lý luận hình thành chính sách ruộng đất của ĐCSVN
- Các văn kiện của ĐCSVN, những bài nói, bài viết của các nhà lãnh đạo Đảng
về thực hiện chính sách ruộng đất Đây là nguồn tài liệu chính trong việc hình thành chính sách ruộng đất của ĐCSVN
- Các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là các bản Hiến Pháp, Luật CCRĐ
1953 và các luật đất đai năm 1987, 1993 (sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2001), 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) Đây là nguồn tư liệu chứa khách thể nghiên cứu, mà thông qua đó sẽ làm rõ đối tượng nghiên cứu, góp phần hình thành nên nội dung chính của luận văn
- Các công trình xuất bản bao gồm các sách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo, tạp chí, luận văn, luận án về chính sách ruộng đất nói chung, về luật đất đai nói riêng và các công trình khác có liên quan như về chế độ sở hữu, về nông nghiệp, về kinh tế thị trường, về nhà nước pháp quyền XHCN,…
- Các báo cáo về nông nghiệp, ruộng đất…
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về mặt khoa học, Luận văn sẽ góp phần hình thành, bổ sung, phát triển nhận
thức và chỉ đạo thực hiện hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sách về ruộng đất của Đảng:
Trang 20- Làm rõ cơ sở lý luận và sự phát triển nhận thức của ĐCSVN về chế độ sở hữu đối với ruộng đất Qua đó, tập trung thể hiên và góp phần giải quyết được vấn đề then chốt của QHSX XHCN là chế độ sở hữu toàn dân về đất đai
- Phục dựng lại quá trình lãnh đạo thể chế hóa chính sách ruộng đất của Đảng thành các luật về đất đai, mà điển hình là Luật CCRĐ 1953 và các Luật Đất đai trong thời kỳ đổi mới
- Góp phần bổ sung, phát triển nhận thức của Đảng về kinh tế thị trường định hướng XHCN và Nhà nước pháp quyền XHCN Từ đó, cung cấp thêm lý luận cho việc giải quyết mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng thời kỳ Đổi mới
Về mặt thực tiễn, luận văn sẽ góp phần nâng cao, hoàn thiện năng lực của
ĐCSVN trong giải quyết các vấn đề kinh tế nói chung, năng lực tư duy lý luận và chỉ đạo thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN nói riêng trong thời gian tới:
- Đúc rút kinh nghiệm, khuyến nghị góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận về phương thức lãnh đạo đặc thù của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền là thông qua Nhà nước, bằng quá trình thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng thành hệ thống văn bản pháp luật; đồng thời định hướng giải quyết một vài vấn đề thực tiễn nảy sinh từ quá trình này
- Góp phần hoàn thiện Luật đất đai (hiện hành 2013) trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội về đất đai trong thực tế; đồng thời, có ý nghĩa trong việc xem xét, điều chỉnh xây dựng các luật liên quan đến đất đai như Luật đặc khu; luật đầu tư; luật nhà ở… trong việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam Từ
đó, định hướng giải quyết những vấn đề nảy sinh từ quá trình lãnh đạo thể chế hóa chính sách ruộng đất của Đảng thành các luật liên quan đến đất đai thông qua cơ chế Nhà nước pháp quyền XHCN, mà trước hết và quan trọng nhất là phải dựa vào pháp luật
Trang 216 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung Luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách ruộng đất của ĐCSVN Chương 2: Quá trình ĐCSVN hoạch định và thể chế hóa chính sách ruộng đất thành Luật Cải cách ruộng đất 1953 và các Luật đất đai thời kỳ Đổi mới
Chương 3: Nhận xét, kinh nghiệm và một số khuyến nghị rút ra từ quá trình
Đảng lãnh đạo thể chế hóa chính sách ruộng đất thành các luật về đất đai
Trang 22NỘI DUNG CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH RUỘNG ĐẤT CỦA
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 1.1 Cơ sở hình thành chính sách ruộng đất của Đảng Cộng sản Việt Nam 1.1.1 Lý thuyết chung về chính sách ruộng đất
* Các thuật ngữ
“Chính sách” là “những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ;…
được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc tính chất của đường lối, nhiệm
vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội , Muốn định ra chính sách đúng phải căn cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn, phải vừa giữ vững mục tiêu, phương hướng được xác định trong đường lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể” (Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa
Việt Nam, 1995, tr 475) Nội hàm của chính sách bao gồm: Chủ thể đề ra và triển
khai thực hiện chính sách; mục tiêu cụ thể của chính sách; cách thức, phương tiện và công cụ để thực thi chính sách (Trần Minh Châu, 2007, tr 13 – 14)
Ruộng đất là một thuật ngữ kết hợp giữa ruộng – “là khoảng đất để trồng trọt,
mặt phẳng, xung quanh có bờ giữ Ruộng dùng để trồng lúa nước (Ruộng lúa), trồng hoa màu (ruộng ngô, ruộng khoai…), trồng cây công nghiệp ngắn ngày (ruộng múa, ruộng đay…)” (Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, 2003, tr 698) và
đất – “là lớp mỏng trên cùng của vỏ Trái đất tương đối tơi xốp do các loại đá phong
hóa ra, có độ phì, trên đó cây có thể mọc được” (Trung tâm biên soạn từ điển bách
khoa Việt Nam, 1995, tr 754) Do đó, thực tế chưa có định nghĩa cụ thể, rõ ràng về ruộng đất mà chỉ có các thuật ngữ liên quan như “ruộng”; “đất”, “đất đai”
Đất đai lại là một thuật ngữ khoa học và pháp lý, có ý nghĩa bao hàm và liên quan chặt chẽ đến ruộng đất, thể hiện phạm vi không gian của đất có thể hiểu là lãnh
thổ: “đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và có các thuộc tính
Trang 23tương đối ổn định hoặc thay đổi nhưng có tính chu kỳ, có thể dự đoán được…”
(Khoản 2 Điều 4 Thông tư số 14/2012/TT-BTNMT ngày 26/11/2012 quy định kỹ
thuật điều tra thoái hóa đất); Đất đai cũng là một loại tài sản cố định, không thể di dời được với tên gọi pháp lý là bất động sản “tài sản bao gồm bất động sản và động sản” (Khoản 2 Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015), mà bất động sản bao gồm đất đai (Điểm a
khoản 1 Điều 107 Bộ luật Dân sự 2015) Thuật ngữ “đất đai” vừa thể hiện thuộc tính
tự nhiên, vốn có của đất, vừa thể hiện thuộc tính xã hội của đất khi chịu sự tác động, khai thác, cải tạo của con người, chẳng hạn như việc khoanh vùng, xác định ranh giới, diện tích đất; tiến hành các hoạt động canh tác, trồng trọt trên đất… biến chúng thành một tên gọi mới là “ruộng” nên đất đai sử dụng trong nông nghiệp được gọi là ruộng đất Từ đó, có thể xác định ruộng đất trong các văn kiện pháp lý thường được dùng
để chỉ đất trồng trọt, là TLSX trong sản xuất nông nghiệp
Tóm lại, chính sách ruộng đất của ĐCSVN là tổng thể các quan điểm, chủ
trương, đường lối, phương pháp và công cụ được sử dụng để tác động đến ruộng đất
và quá trình vận động của ruộng đất khi tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội nhằm thực hiện đường lối, chủ trương, nhiệm vụ của Đảng trong từng hoàn cảnh và thời gian nhất định
* Chức năng và vai trò chủ yếu của ruộng đất
Ruộng đất là TLSX đặc biệt, có vai trò quan trọng đối với đời sống của con người, thể hiện thông qua đặc tính tự nhiên và xã hội của đất đai Trong đó, thông qua lao động của con người (cải tạo, khai thác ) kết tinh trong đất đai đã tạo ra giá
trị và vai trò “TLSX đặc biệt” cho đất đai “lao động mới là cái đặt phần giá trị lớn
nhất lên đất; không có nó đất đai chắc chắn sẽ không đáng giá gì, đến mức là nó đem lại cho chúng ta phần lớn nhất trong số tất cả sản phẩm hữu dụng của đất Vì tất cả những rơm, cám, bánh mì của mẫu đất trồng lúa mì đó, đáng giá hơn sản phẩm của cùng một mẫu đất tốt như thế nhưng nằm hoang phí, tất cả là từ hiệu quả của lao động” (John Locke, 2007, tr 81)
Trang 24Trong nông nghiệp, ruộng đất là TLSX chủ yếu không thể thay thế được, nhờ
có đất mới phát huy được hiệu quả của các yếu tố đầu vào khác Bởi ruộng đất vừa là
đối tượng lao động (khi con người sử công cụ lao động tác động vào đất làm thay
đổi tính chất lý, hóa học, cơ giới cho đất như cày, bừa, lên luống, bón phân, tưới nước,… đã làm thay đổi chất lượng ruộng đất, tạo điều kiện thuận lợi để tăng năng suất cây trồng, tức là quá trình biến ruộng đất kém màu mỡ thành ruộng đất màu mỡ
hơn), vừa là tư liệu lao động (khi con người sử dụng đất như là công cụ lao động,
thông qua các thuộc tính lý học, hóa học, sinh vật học và các thuộc tính khác của đất
để tác động lên cây trồng, góp phần làm tăng độ màu mỡ của đất nhằm thu sản phẩm nhiều hơn) Sự kết hợp của đối tượng lao động và tư liệu lao động đã làm cho ruộng đất trở thành TLSX trong nông nghiệp
Đồng thời, ruộng đất là TLSX đặc biệt, chủ yếu không thể thay thế được còn do
“quá trình hoạt động sản xuất nông nghiệp là quá trình lao động của con người gắn
kết chặt chẽ với đất đai để tạo ra các nông sản phục vụ cho mục đích của con người”
(Phạm Văn Khôi, 2007, tr 129) Quá trình ấy phụ thuộc vào độ phì nhiêu của đất nên không có ruộng đất thì không thể có hoạt động sản xuất nông nghiệp Do đó, ruộng
đất không chỉ là cơ sở không gian, mà còn là cơ sở tự nhiên của sản xuất, là yếu
tố tích cực của sản xuất trong nông nghiệp
Xét theo khía cạnh vĩ mô, đất đai đóng vai trò quan trọng trong việc xác định
ranh giới, phân định lãnh thổ - “không gian sinh tồn của quốc gia và được thể hiện
thông qua chủ quyền quốc gia về vùng đất, vùng trời, vùng biển, hải đảo” Đây chính
là một trong bốn yếu tố cơ bản cấu thành “Quốc gia”: “dân cư; lãnh thổ; nhà nước
(chính quyền) và khả năng tham gia vào quan hệ với các quốc gia khác” (Điều 1
Công ước Montevideo 1933)
Như vậy, ruộng đất vừa là TLSX chủ yếu, vừa là tài sản đặc biệt “lãnh thổ - chủ quyền” của quốc gia, không thể thay thế đối với toàn xã hội cũng như với mỗi thành viên của nó Từ vai trò của ruộng đất đã tạo ra quyền pháp lý với quyền sở hữu ruộng
đất “có thể được coi như một quyền cơ bản của con người bởi nó đảm bảo cho sự tồn
Trang 25tại của một nơi chốn cần thiết làm cơ sở cho khả năng trở thành một công dân chủ động và đẩy đủ” (Tim Murphy & Simon Roberts & Tatiana Flessas, 2004, tr 8)
Như vậy, chức năng và vai trò cơ bản của ruộng đất đã tạo ra “địa vị” đặc biệt
quan trọng của ruộng đất trong việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của ĐCSVN
1.1.2 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về ruộng đất
Việc hoạch định chính sách ruộng đất của Đảng được hình thành trên một số quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về ruộng đất
* Quan hệ sở hữu mang tính quyết định trong QHSX và tiêu chí để phân biệt các hình thái kinh tế – xã hội khác nhau
Sở hữu là một hình thức nhất định được hình thành trong lịch sử về chiếm hữu
của cải vật chất xã hội và là điều kiện của sản xuất “Bất kỳ nền sản xuất nào cũng
đều là việc con người chiếm hữu những sản phẩm của tự nhiên trong phạm vi một hình thái xã hội nhất định và thông qua hình thái đó” (V.I.Lênin, 1978, tr 860) Sở
hữu là QHSX, đó là “quan hệ giữa người với người trong quá trình chiếm hữu của
cải xã hội và nó luôn biến đổi cùng với sự biến đổi của các hình thái xã hội trong lịch sử” (Nguyễn Đình Kháng, 2001, tr 11) Trong tác phẩm “Bàn về Prudon”, Mác đã
nhận định về cơ sở của sở hữu là mối quan hệ của con người với TLSX Phương thức chiếm hữu TLSX quy định phương thức chiếm hữu các sản phẩm được sản xuất ra Các học thuyết về sở hữu nói chung đều nhìn nhận sở hữu là một quan hệ xã hội mang tính chi phối trong quá trình lao động sản xuất và là một thuộc tính tự nhiên
Khi quan hệ sở hữu phát sinh trong đời sống xã hội thì sở hữu là quyền tự nhiên của
con người, xuất hiện trước Nhà nước Nhà triết học người Anh John Locke (1632 – 1704) theo trường phái chủ nghĩa tự do đã phát triển lý thuyết về khế ước xã hội và quyền của tự nhiên Ông cho rằng:
Quyền sở hữu chung cho toàn thể mọi người đối với trái đất (đất đai) và
những sản vật trên trái đất mà tự nhiên ban phát “Tất cả cây trái mà nó tạo
Trang 26ra và thú vật mà nó nuôi ăn, một cách tự nhiên, là thuộc chung của cả loài người khi mà chúng được tạo ra từ bàn tay tự phát của tự nhiên” (John Locke, 2007,
tr 62), “vấn đề chủ yếu của sở hữu không phải là cây trái của Trái đất và thú
vật sống trên đó, mà về chính Trái đất” (John Locke, 2007, tr 68);
Quyền sở hữu riêng đối với bản thân con người, lao động của chính
bản thân họ và sản phẩm do lao động tạo ra “dù mọi vật được trao tặng
chung, nhưng con người, bằng việc là chủ nhân của bản thân và chủ sở hữu của riêng cá nhân mình và của hành động hay lao động của nó, trong tự thân mỗi người vẫn có một nền tảng cao cả cho sở hữu” (John Locke, 2007, tr 82), trong
đó thông qua lao động đã biến những vật chất do tự nhiên cung cấp thuộc sở hữu công cộng thành sở hữu của cá nhân
Cùng với sự phát triển của xã hội, lao động đã tạo ra tư hữu, kể cả tư hữu
đối với đất đai “càng nhiều đất đai mà một người có thể cày xới, trồng trọt, mở
mang, bồi bổ, thì càng nhiều sản phẩm thuộc sở hữu của riêng mình mà anh ta
có thể sử dụng Có thể nói với lao động của mình, chính là anh đã rào phần đất này lại, tách khỏi đất chung” (John Locke, 2007, tr 68)
Tuy nhiên, tư hữu đất đai trong trường hợp này chỉ đúng khi quỹ đất còn rất nhiều, việc sở hữu đất đai thông qua lao động của người này không làm ảnh hưởng đến sở hữu đất đai thông qua lao động của người khác và việc sở hữu này phải được mọi người trong cộng đồng chấp nhận, bởi ngay từ đầu đất đai đã là sở hữu chung của nhân loại (đất đai có trước con người và tồn tại độc lập ngoài ý muốn của con người) Do đó, sở hữu là quyền mang tính tự nhiên nhưng quyền tư hữu chưa hẳn là quyền tự nhiên, mà tùy thuộc vào đối tượng tài sản mang tính dân sự (nhà ở, tư liệu tiêu dùng…) hay mang tính tự nhiên có giới hạn
C Mác và Ph Ăngghen đặc biệt quan tâm đến sở hữu nhưng đó là sở hữu về TLSX với tư cách là nội dung cơ bản, mang tính quyết định trong ba mặt của QHSX (thuộc cặp phạm trù “LLSX – QHSX”) Theo Mác, phương pháp luận nghiên cứu khái niệm sở hữu phải đi từ việc phân tích nền sản xuất xã hội – quá trình tạo ra của cải vật chất cần thiết để đáp ứng nhu cầu của con người
Trang 27Dựa trên mối quan hệ biện chứng của sự phát triển LLSX và QHSX – quy luật
cơ bản của sự vận động, phát triển các phương thức sản xuất trong lịch sử thì LLSX giữ vai trò quyết định đối với QHSX (trong đó quan hệ sở hữu TLSX được quyết
định bởi tính chất, trình độ phát triển LLSX); và QHSX “phải phù hợp với một trình
độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất”
(
C.Mác & Ph.Ăngghen, 1993b,tr 15), bởi QHSX (là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất và trao
đổi vật chất, bao gồm quan hệ sở hữu về TLSX; quan hệ tổ chức – quản lý quá trình sản xuất; và quan hệ phân phối kết quả của quá trình sản xuất ấy) cũng có vai trò tác động trở lại đối với LLSX, mà quan hệ sở hữu là quan hệ xuất phát, cơ bản, đặc trưng
và giữ vai trò quyết định trong QHSX của từng xã hội - “một quan hệ không đơn giản
và cũng là một khái niệm hoặc một nguyên lý không trừu tượng chút nào, mà là tổng hòa các quan hệ sản xuất”
(
C Mác & Ph Ăngghen, 1995a, tr 431), quyết định tácđộng tích cực hay tiêu cực của QHSX đối với LLSX
Mặt khác, khi xem xét quan hệ sở hữu trong QHSX thì chính đặc tính “sở hữu”
sẽ quyết định bản chất của QHSX với việc xác định TLSX là của ai, do ai chi phối?
và là cơ sở cho sự phân tách giữa cái riêng và cái chung; giữa cá thể và tập thể; giữa tính cá nhân và tính cộng đồng; giữa “của tôi”, “của anh” và “của chúng ta” Như
vậy, quan hệ sở hữu sẽ quyết định bản chất và sự phù hợp của QHSX với trình
độ phát triển của LLSX, sự mâu thuẫn giữa LLSX với QHSX (mà trực tiếp là với
quan hệ sở hữu) sẽ dẫn đến sự thay đổi hình thái kinh tế - xã hội:
“Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các LLSX vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có, hay – đây chỉ là biểu hiện pháp
lý của những quan hệ sản xuất đó – mâu thuẫn với những quan hệ sở hữu, trong
đó từ trước đến nay các LLSX vẫn phát triển
Từ chỗ là hình thức phát triển của các LLSX, những QHSX đó trở thành xiềng xích của các LLSX Khi đó bắt đầu thời đại của những cuộc cách mạng”
(C Mác & Ph Ăngghen, 1993b, tr 15)
Trang 28Trước khi có Nhà nước và pháp luật, sở hữu đã tồn tại như là một quan hệ kinh
tế trừu tượng – nội dung bản chất bên trong của quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu của cải vật chất xã hội, thể hiện ở chỗ nó là cơ sở, là điều kiện của sản xuất và theo chủ nghĩa Mác – Lênin, cùng với quá trình phân công lao động, tạo
ra sự dư thừa về của cải trong xã hội, xuất hiện sở hữu tư nhân (tư hữu) và hình thành giai cấp với sự ra đời của Nhà nước đầu tiên trong lịch sử - Nhà nước chủ nô đã tạo
ra tình trạng “người bóc lột người” trong xã hội: “Từ sự phân công xã hội lớn đầu
tiên, đã nảy ra sự phân chia lớn đầu tiên trong xã hội thành hai giai cấp: chủ nô và
nô lệ, kẻ bóc lột và người bị bóc lột” (C Mác & Ph Ăngghen, 1993a, tr 860)
Cùng với sự phát triển của xã hội, sở hữu trở thành quan hệ mang tính pháp lý
– “với nội dung cơ bản là tập hợp các quyền: chiếm hữu, sử dụng, mua bán, chuyển
nhượng… Tập hợp các quyền đó có thể mang một hình thức pháp lý nhất định được bảo hộ bởi quyền lực quản lý của nhà nước hoặc theo thông lệ tập tục truyền thống trong các xã hội chưa có sự ra đời của bộ máy nhà nước” (Bộ Giáo dục và Đào tạo,
2014, tr 246) Do đó, luật pháp ra đời chỉ quy định giới hạn và thừa nhận tính hợp pháp của quyền sở hữu theo ý muốn của giai cấp thống trị Từ đây, quan hệ sở hữu
đã được hiện thực hóa thông qua việc thể chế hóa chúng thành các quy phạm pháp
luật được gọi là chế độ sở hữu, thể hiện những quy định luật pháp về quyền hạn, quyền lợi và trách nhiệm của chủ sở hữu
Mặt khác, theo Mác thì quan hệ sở hữu là một quan hệ xã hội có tính lịch sử cụ
thể “Trong mỗi thời đại lịch sử, quyền sở hữu đã phát sinh một cách khác nhau và
trong một loạt quan hệ xã hội hoàn toàn khác nhau”
(
C.Mác & Ph.Ăngghen, 1995a,tr 234), chúng biến đổi theo trình độ phát triển của LLSX và là một trong những tiêu
chí phân biệt các hình thái kinh tế – xã hội khác nhau trong lịch sử Bởi theo tiến trình
phát triển của lịch sử, quan hệ sở hữu không đơn thuần là một quan hệ kinh tế giữ vai trò quyết định bản chất của QHSX, của chế độ kinh tế; mà còn là một quan hệ pháp lý – chính trị (quan hệ sở hữu trong xã hội như thế nào thì kết cấu
giai cấp, bản chất chính trị của xã hội sẽ như thế ấy và nó sẽ được bảo hộ bởi kiến
Trang 29trúc thượng tầng tương ứng là Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật), chẳng hạn như chế độ tư hữu với sở hữu tư nhân TBCN được bảo hộ bởi Nhà nước tư sản sẽ quy định bản chất của xã hội TBCN
Trong QHSX, quan hệ sở hữu là cơ sở hình thành, quyết định quan hệ tổ chức – quản lý quá trình sản xuất và quan hệ phân phối kết quả của quá trình
đó Tuy nhiên, hai loại hình quan hệ này luôn có tác động trở lại quan hệ sở hữu
TLSX Sự tác động đó có thể theo những chiều hướng khác nhau, tạo những ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đối với các quan hệ sở hữu về TLSX Chính mối quan
hệ biện chứng giữa các mặt “sở hữu – tổ chức, quản lý – phân phối” trong QHSX là
cơ sở tạo ra cơ chế giải quyết “điểm mấu chốt” trong Chính sách ruộng đất của ĐCSVN thông qua nội dung là Luật đất đai với quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu thống nhất và quản lý Người dân có quyền sử dụng đất”
Như vậy, các lý thuyết về đất đai đều nhìn nhận sở hữu nói chung là quyền mang tính tự nhiên, giữ vai trò quyết định trong QHSX Sự khác biệt chủ yếu trong các học thuyết sở hữu này nằm ở việc xác định chế độ sở hữu phù hợp với sự phát triển của
xã hội: Chế độ công hữu hay chế độ tư hữu với “Quyền tư hữu có phải là quyền tự nhiên hay không?” và “Tính hợp lý hay vô lý cho sự tồn tại của quyền tư hữu?”
Tóm lại, Quan hệ sở hữu mang tính quyết định trong QHSX và tiêu chí để phân
biệt các hình thái kinh tế – xã hội khác nhau trong quan niệm của Chủ nghĩa Mác – Lênin là tiền đề lý luận cho việc hình thành chính sách của ĐCSVN về sở hữu nói
chung và sở hữu đất đai nói riêng, trong đó có Chính sách ruộng đất
* Chế độ công hữu về TLSX chủ yếu: đất đai thuộc sở hữu toàn dân
Trong mỗi thời đại lịch sử, có thể có những chế độ sở hữu đất đai khác nhau cùng tồn tại và mỗi chế độ sở hữu, mỗi quan hệ sở hữu đất đai được biểu thị một cách khác nhau Dựa trên tính chất cơ bản của sở hữu, trong lịch sử nhân loại tồn tại hai
loại quan hệ sở hữu chủ đạo là sở hữu tư nhân và sở hữu công cộng về TLSX
Trang 30Theo Chủ nghĩa Mác – Lênin, sở hữu công cộng là đặc trưng quan trọng nhất của CNXH, bởi nó là biểu hiện cuối cùng, là kết quả của sự xã hội hóa TLSX ở trình
độ cao, còn sở hữu tư nhân là nguồn gốc của bóc lột (Lê Hữu Tầng, 2001, tr 145), nên nếu muốn xóa bỏ bóc lột thì phải xóa bỏ sở hữu tư nhân, mà việc này cũng đòi hỏi phải “kinh qua một quá trình rất khó khăn và lâu dài trong hiện thực” và việc xóa
bỏ chế độ tư hữu cũng không thể thực hiện được ngay lập tức, như Ph Ăngghen đã
viết trong tác phẩm “Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản”, thông qua trả lời
câu hỏi: Liệu có thể thủ tiêu chế độ tư hữu ngay lập tức được không? Ph Ăngghen
nêu rõ: “Không, không thể được, cũng y như không thể làm cho LLSX hiện có tăng
lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng một nền kinh tế công hữu” (C Mác
& Ph Ăng-ghen, 1995a, tr 469), mà phải tuân theo các quy luật khách quan của sự vận động, phát triển xã hội
Tuy nhiên, đối với ruộng đất là TLSX chủ yếu thì cần phải thiết lập sở hữu công cộng hay chế độ công hữu, trong đó đất đai thuộc sở hữu toàn dân Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin luôn khẳng định tính vô lý của sự tồn tại của quyền tư hữu đất đai bởi hai lý do cơ bản là nó không phải là quyền pháp lý mang tính tự nhiên
và chính tư hữu đất đai tạo nên sự mâu thuẫn, bất công trong xã hội, đặc biệt là với
phương thức sản xuất TBCN trong nông nghiệp “địa tô là hình thái dưới đó quyền
sở hữu ruộng đất được thực hiện về mặt kinh tế” (C Mác & Ph Ăngghen, 1994, tr
246), đẻ ra tình trạng người bóc lột người
Trong tác phẩm Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản, C.Mác nêu rõ quan điểm của mình về chính sách ruộng đất là khi giai cấp vô sản đã nắm chính quyền thì cần phải thực hiện cách mạng về ruộng đất Tuy nhiên, trong nhiều tác phẩm sau này, C Mác thường xuyên nhấn mạnh rằng, lựa chọn giải pháp cụ thể cho vấn đề ruộng đất ở các nước khác nhau phải căn cứ vào điều kiện lịch sử - cụ thể của từng nước
(
Trần Thị Minh Châu, 2007, tr 66 – 67)Trong tác phẩm Chống Đuyrinh, Ph.Ăngghen cũng chỉ ra rằng việc thiết lập sở
hữu công cộng về ruộng đất: “Không có nghĩa là khôi phục lại chế độ sở hữu chung
Trang 31nguyên thủy trước kia, mà là lập nên một hình thức cao hơn và phát triển hơn nhiều của hình thức chiếm hữu chung, một hình thức không chỉ không trở ngại cho sản xuất
mà trái lại, lần đầu tiên giải phóng sản xuất khỏi những xiềng xích trói buộc nó”
(C.Mác & Ph.Ăngghen, 2004, tr.196 – 197)
Do đó, trong lời tựa cuốn Chiến tranh nông dân ở Đức, Ph Ăngghen phân tích
rõ vai trò quan trọng của đất đai đối với đời sống kinh tế - xã hội và cho rằng, đất đai
phải thuộc quyền sở hữu của toàn thể nhân dân “vì lợi ích của xã hội, cần phải biến
quyền sở hữu ruộng đất thành sở hữu tập thể của toàn dân” (C.Mác & Ph.Ăngghen,
1995b, tr.544)
V.I.Lênin kế thừa và phát huy những tư tưởng của Mác và Ăngghen với việc bổ sung thêm nhiều điểm mới, nhất là về sở hữu đất đai với hình thức sở hữu vừa cá
nhân vừa công cộng Trong tác phẩm “Làm gì” (1901 – 1902), Lênin đã khẳng định:
“Chế độ công hữu bao trùm cả ruộng đất lẫn các TLSX khác, còn chế độ sở hữu
cá nhân thì bao trùm những sản phẩm khác, nghĩa là những vật phẩm tiêu dùng”
(V.I.Lênin, 1974, tr 206) Do đó “Ruộng đất phải là sở hữu của toàn dân, và
một chính quyền có tính chất toàn quốc phải quy định điều đó” (V.I Lênin,
1981, tr 220) Bởi:
“Người nông dân muốn sử dụng có hiệu quả đất đai thuộc sở hữu toàn dân thì phải có điều kiện, như phải có vốn và tư liệu sản xuất khác, phải có chuyên gia kỹ thuật và cuối cùng phải có tổ chức” (V.I Lênin, 1981, tr 227 -
Trang 32Bởi lẽ “chìa khóa của chế độ Phương Đông, đó là việc không có chế độ tư hữu
ruộng đất”
(
Lênin, 1976a, tr 30), do đó, ngay sau cách mạng tháng Mười, Lênin đãký Sắc lệch ruộng đất (tháng 11/1917), tuyên bố quốc hữu hóa ruộng đất trong nước, đất đai thuộc sở hữu toàn dân trên toàn Liên bang Nga, xóa bỏ vĩnh viễn quyền sở hữu ruộng đất của bọn địa chủ, quý tộc phong kiến giao cho nông dân canh tác không phải trả tiền:
“Vĩnh viễn xóa bỏ tư hữu ruộng đất… Tất cả các ruộng đất: ruộng đất của Nhà nước, của các thái ấp, của hoàng gia, của các nhà tu, của giáo hội, ruộng đất
tô nhượng…, đều trở thành tài sản của toàn dân và giao cho tất cả những người cày cấy ruộng đất sử dụng”
(
Lênin, 1976b, tr 27)Lênin coi việc tịch thu ruộng đất của địa chủ, phong kiến giao cho nông dân sử dụng là nhiệm vụ của tất cả các Đảng Cộng sản khi đã nắm chính quyền Trong đó, Nhà nước xô viết cũng như tất cả mọi nhà nước không có quyền sở hữu đất đai Nhà nước xô viết chỉ là người quản lý, người giám đốc điều hành nhằm bảo vệ lợi ích của chủ thể sở hữu là Toàn Dân
Như vậy, sở hữu toàn dân được coi là trình độ xã hội hóa cao nhất về TLSX,
thể hiện đất đai thuộc sở hữu của toàn thể nhân dân, mọi người dân đều có quyền và nghĩa vụ với các tài sản chung của xã hội, trong đó có đất đai Do đó, khi mọi người đều có quyền giống nhau trong quan hệ sở hữu chung thì nội dung kinh tế của quyền
sử dụng mới là quan trọng; trong nền nông nghiệp tư bản hiện đại, quyền kinh doanh đất tách khỏi quyền sở hữu và người sở hữu đất Đồng thời, chủ sở hữu toàn dân là một khái niệm trừu tượng, để thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai, bắt buộc phải thông qua người đại diện Đây chính là tiền đề cốt lõi hình thành quan hệ
sở hữu về đất đai “đất đai thuộc sở hữu toàn dân – Nhà nước đại diện chủ sở hữu
quản lý đất đai – Người dân có quyền sử dụng đất đai” trong chính sách ruộng đất
của ĐCSVN
1.1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề ruộng đất
Trang 33Tư tưởng Hồ Chí Minh là “một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại”
(
Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001a, tr 20) Với tư cách là Người sáng lập và rèn luyện ĐCSVN Tư tưởng Hồ Chí Minh có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình ra đời, hoạt động và lãnh đạo của ĐảngVề vấn đề ruộng đất, tư tưởng của Hồ Chí Minh cho thấy sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam trên ba điểm: ủng hộ nông dân thực hiện cuộc cách mạng phản phong thông qua CCRĐ; đoàn kết và chăm lo cho nông dân Việt Nam với tư cách giai cấp bị bóc lột tàn tệ và có tinh thần cách mạng;
tổ chức nông dân đi vào con đường làm ăn mới “HTX”
Trong quá trình tìm đường cứu nước và chuẩn bị các điều kiện cho ra đời của ĐCSVN, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm tìm hiểu thực tiễn xã hội Việt Nam và
Người đã rút ra kết luận về sở hữu ruộng đất thực tế của địa chủ: “…ruộng đồng
thuộc sở hữu của địa chủ hạng trung và hạng nhỏ và những kẻ mà ở đó được coi là đại địa chủ thì chỉ là những tên lùn tịt bên cạnh những người trùng tên với họ ở châu
Âu và châu Mỹ”;… nếu nông dân gần như không có gì thì địa chủ cũng không có vốn liếng gì lớn”
(
Hồ Chí Minh, 2002a, tr 464)Tình cảnh trên đưa đến một đặc điểm nổi bật về quan hệ giai cấp trong xã hội Việt Nam là sự xung đột giai cấp về quyền lợi của họ bị giảm thiểu, không gay gắt như ở phương Tây Chính sự vận động theo cách riêng, với nhiều đặc điểm mang tính truyền thống đã làm cho QHSX TBCN dựa trên chế độ tư hữu đất đai ở Việt Nam chưa diễn ra, hay diễn ra rất chậm chạp Do đó, mâu thuẫn và nhiệm vụ dân tộc ở một nước thuộc địa là chủ yếu, còn mâu thuẫn giai cấp với nhiệm vụ chống phong kiến không gay gắt và sẽ được giải quyết trong mối quan hệ dân tộc – giai cấp
Ngay từ khi thành lập với Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng vào tháng 2/1930, Người đã vạch rõ cách mạng tư sản dân quyền phải đi đôi với cách mạng thổ
Trang 34địa, phải tịch thu hết ruộng đất của thực dân Pháp và tay sai chia cho dân cày nghèo, xóa bỏ mọi thứ sưu thuế Trong Chương trình Mặt trận Việt Minh (năm 1941), Hồ Chí Minh chủ trương giải quyết vấn đề ruộng đất từ thấp đến cao, nhưng vẫn nhất quán nguyên tắc cuối cùng là đất đai phải thuộc về người nông dân
Ngày 20/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 34 thành lập Ủy ban
dự thảo Hiến Pháp và giữ cương vị là Trưởng ban (Văn phòng Quốc Hội, 1998, tr 22) Ngày 9/11/1946, tại kỳ họp thứ 2, Quốc Hội khóa I đã thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước VNDCCH, gồm 7 chương, 70 điều Trong đó, Điều 12 của Hiến Pháp
1946 thừa nhận và bảo đảm quyền tư hữu tài sản
Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (từ ngày 14 – 18/1/1949), Người nhấn mạnh
một trong những nhiệm vụ kinh tế là “xây dựng hợp tác xã sản xuất nông nghiệp,
tiếp tục thi hành triệt để giảm tô, chuẩn bị CCRĐ”
(
Hồ Chí Minh, 2002b, tr 774) Đặc biệt, trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, do điều kiện chưa cho phép thực hiện CCRĐ triệt để, Người đã khéo léo thực hiện chủ trương cải cách dân chủtừng phần “Về chính sách ruộng đất, ở những vùng tự do, phải triệt để thi hành giảm
tô, giảm tức, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian tạm cấp cho dân cày nghèo và gia đình các chiến sĩ, để cải thiện đời sống cho dân cày và nâng cao tinh thần cùng lực lượng kháng chiến của họ”(Hồ Chí Minh, 2002c, tr 173), đặc biệt là giảm tô, giảm tức, nhờ đó tạo được uy tín và thu hút được sự ủng hộ của nông dân trong cuộc kháng chiến
Tùy vào tình hình cụ thể mà triển khai chính sách ruộng đất cho linh hoạt, khi
cần kéo tầng lớp địa chủ vào cuộc kháng chiến chống Pháp thì “gác lại khẩu hiệu
người cày có ruộng, không đề ra khẩu hiệu “tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày””(Văn phòng Quốc Hội, 1998, tr 22)
Như vậy, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ĐCSVN trước 1953 bao gồm những luận điểm chủ yếu sau:
1 Chỉ tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và tay sai
2 Quyền tư hữu bảo vệ trong Hiến pháp 1946
Trang 353 Chủ trương đoàn kết toàn dân, kháng chiến chống Pháp, chỉ thực hiện giảm tô, không đề cập CCRĐ (trước 1953)
Trong Báo cáo tại Hội nghị lần thứ tư BCHTW Đảng khóa II (tháng 1/1953) và sau đó, trong Báo cáo trước Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ ba (tháng 12/1953), Hồ Chí Minh đã trình bày rõ đường lối, chủ trương CCRĐ: Nền tảng của vấn đề dân tộc là vấn đề nông dân, vì nông dân chiếm đại đa số trong dân tộc Để giành thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và thực hiện nhiệm vụ dân chủ của
cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân thì “phải thiết thực nâng cao quyền lợi
kinh tế và chính trị của nông dân, phải chia ruộng đất cho nông dân” (Hồ Chí Minh,
2002d, tr 16) Đó là một trong những cơ sở, nội dung của CCRĐ trong Chính sách ruộng đất của ĐCSVN Đồng thời, Người khẳng định vai trò của chính sách ruộng đất trong kháng chiến:
“Cách mạng ta là cách mạng dân tộc dân chủ Cách mạng dân tộc dân chủ tức
là cách mạng dân cày (do vô sản lãnh đạo) mà cách mạng dân cày là phải có chính sách ruộng đất đúng Kháng chiến tức là cách mạng, muốn kháng chiến thắng lợi thì phải có chính sách ruộng đất đúng… Đã tán thành kháng chiến thắng lợi thì phải tán thành chính sách ruộng đất Không có nước đôi” (Hồ Chí
Ngoài ra, từ việc Đảng mắc phải nhiều sai lầm trong CCRĐ, Hồ Chí Minh đã
mở ra cơ chế nhận sai và sửa sai trong Đảng, thông qua việc đánh giá về khuyết điểm trong công tác CCRĐ:
Trang 36“Công tác CCRĐ, chỉnh đốn tổ chức đã mắc những sai lầm rất nghiêm trọng, làm tổn thất nặng nề cho ta về nhiều mặt Nhưng chúng ta đã thấy rõ những sai lầm đó và quyết tâm sửa chữa, thì nhất định sửa chữa được Vì Đảng ta là một đảng chỉ vì lợi ích của nhân dân mà phấn đấu, ngoài ra không có một lợi ích riêng nào khác
Trải qua bao nhiêu năm đấu tranh anh dũng và gian khổ, Đảng ta không bao giờ sợ khổ, sợ khó và cũng không hề sợ vạch rõ khuyết điểm của mình Có khuyết điểm thì Đảng thành khẩn nhận và kiên quyết sửa chữa” (Hồ Chí Minh,
đã có điều kiện và nông dân yêu cầu thì tiến tới nông trường tập thể Thế cũng chưa hết, còn phải làm cho nông nghiệp xã hội hóa Có như vậy, nông nghiệp mới phát triển đầy đủ, nông dân mới thật ấm no và giàu có…
Kinh nghiệm lịch sử đã chỉ rõ: nông thôn phải kinh qua 2 cuộc cách mạng: CCRĐ là một cuộc, cuộc thứ hai là từ chỗ thực hiện tổ đổi công, hợp tác
xã, nông nghiệp tập thể đến chỗ xã hội hóa nông nghiệp” (Hồ Chí Minh, 2002e,
tr 76)
“CNXH là làm sao cho dân giàu nước mạnh Ở nông thôn, nông dân được ruộng rồi mà cứ làm ăn theo cách cũ thì sản xuất không thể tăng gia được, xã hội không tiến lên được mà phải thụt lùi Cho nên lúc đầu là CCRĐ, sau tiến lên một bước là tổ chức tổ đổi công sao cho tốt, cho khắp, lại tiến lên hình thức hợp tác xã dễ dàng, rồi tiến lên hợp tác xã cao hơn, lúc bấy giờ mới có CNXH” (Hồ
Chí Minh, 2002e, tr 226)
Trang 37Đại hội VII (1991) của ĐCSVN, xác định “Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng
Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”
(
Đảng Cộng sản Việt Nam, 1991a, tr 21) Do đó, các quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề ruộng đất được xem là cơ sở cho Đảng vận dụng trong việc hoạch định chính sách ruộng đất trong thời kỳ Đổi mới, thể chế hóa thành Luật Đất đai1.2 Chính sách ruộng đất của Đảng Cộng sản Việt Nam trước Cải cách ruộng đất (1953)
1.2.1 Thời kỳ 1930 – 1945
Chính sách ruộng đất của ĐCSVN thời kỳ 1930 – 1945 được xác định dựa trên việc phân tích tình hình và nhận diện đặc điểm của xã hội thuộc địa nửa phong kiến Trong xã hội thuộc địa, thực dân Pháp thiết lập một chế độ sở hữu đất đai, gồm
bốn hình thức là sở hữu pháp nhân công (sở hữu Nhà nước và sở hữu làng xã), sở hữu pháp nhân tư (sở hữu của các Hội thương mại, các Hội được pháp luật bảo hộ),
sở hữu chung (nhiều người đồng sở hữu một mảnh đất không thể phân chia), sở hữu
tư nhân (Nguyễn Văn Khánh, 2013, tr 6), nhưng trong thực tế ruộng đất chủ yếu nằm trong tay thực dân và địa chủ, chính quyền thực dân dùng thủ đoạn để biến đất công thành đất tư, chiếm đoạt ruộng đất tư của nông dân nghèo Điển hình là dùng
chính sách chiếm đất lập đồn điền với số lượng đồn điền và quỹ đất đồn điền tăng
nhanh, lên tới 909.300ha (Nguyễn Văn Khánh, 2004, tr 183) và tính đến năm 1930, diện tích thực dân Pháp chiếm đoạt để thành lập các đồn điền là hơn 1,2 triệu ha,
bằng ¼ diện tích đất canh tác của cả nước
(
Phạm Văn Chiến, 2003, tr 67), biếnngười nông dân trở thành công nhân đồn điền với tình cảnh “cao su đi dễ khó về”; thực dân Pháp cũng tạo điều kiện cho bọn địa chủ và tay sai chiếm đoạt ruộng đất của
nông dân, địa chủ chiếm 3% số hộ trong nông thôn (tính đến trước năm 1945), nhưng
đã chiếm 41,4% tổng diện tích canh tác của cả nước(Phạm Văn Chiến, 2003, tr 69)
Cụ thể:
Trang 38“Ở Bắc kỳ có khoảng 12.000 địa chủ và phú nông, trong đó có 180 đại địa chủ chiếm 240.000 ha, còn lại là các địa chủ nhỏ và vừa có từ 5 ha đến 50 ha và chiếm khoảng 20% diện tích đất canh tác
Ở Trung kỳ, có khoảng 8.900 địa chủ, trong đó có 50 địa chủ có từ 50 ha đất trở lên, địa chủ chiếm 120.000 ha đất và khoảng 19% diện tích đất canh tác
Ở Nam kỳ, có 3.623 địa chủ có từ 50 – 100 ha, 2.449 địa chủ có từ 100 –
500 ha và 244 địa chủ có từ 500 ha trở lên” (Phạm Văn Chiến, 2003, tr 69)
Xu hướng tập trung ruộng đất ở phía Bắc (Bắc kỳ và Trung kỳ) không lớn, phần lớn là địa chủ vừa và nhỏ Tuy chiếm tỷ lệ nhỏ trong dân cư cũng như trong số những chủ sở hữu nói chung và quy mô sở hữu ruộng đất không lớn, song địa chủ vẫn chiếm đại đa số ruộng đất và mức độ chênh lệch ruộng đất giữa địa chủ và nông dân là rất cao Chính mức sở hữu nhỏ về ruộng đất đã làm cho nền kinh tế hàng hóa không có điều kiện mở mang, phát triển Ở miền Nam, đặc biệt là Nam kỳ, xu hướng tập trung
sở hữu tư nhân về ruộng đất lớn Địa chủ Nam Kỳ với quy mô sở hữu ruộng đất rộng, làm ăn lớn, sản xuất nông sản phục vụ cho xuất khẩu và cho vay nặng lãi để tăng tích lũy vốn nên phương thức kinh doanh của họ đã mang đậm nét sản xuất hàng hóa TBCN
Ngoài việc người nông dân bị đẩy vào cảnh thiếu ruộng hoặc không có ruộng, phải lĩnh canh ruộng đất của địa chủ hoặc trở thành công nhân đồn điền thì người nông dân còn phải chịu những thủ đoạn áp bức, bóc lột tàn nhẫn khác của thực dân
Pháp, của tư bản và của địa chủ phong kiến, đặc biệt là Tô “phần sản phẩm thặng dư
nộp toàn bộ cho người sở hữu ruộng đất” và Thuế “nghĩa vụ đóng góp của người nông dân cho Nhà nước” (Lâm Quang Huyên, 2002, tr 38) Trong đó, địa tô thường
chiếm ½ thu hoạch thực tế “chế độ địa tô trên cơ sở chiếm hữu phong kiến về ruộng
đất là một viên đá tảng cột chặt vào chân người nông dân kéo lùi họ lại” (Trần Thị
Chinh, 2006, tr 86)
Thực trạng là trước Cách mạng Tháng Tám, nông dân chiếm 95% dân số Việt
Nam nhưng chỉ làm chủ không được 30% diện tích ruộng đất Riêng bần cố nông là
Trang 39tầng lớp không có và thiếu ruộng đất, chiếm 60% dân số nông thôn nhưng chỉ có 10% ruộng đất Còn giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam và số hào lý chiếm không tới 5% dân số nhưng chiếm hữu và lũng đoạn 70% ruộng đất để bóc lột nông dân qua địa tô, nợ lãi và các khoản tô phụ, dịch vụ khác (Lâm Quang Huyên, 2002, tr 33)
Chính quan hệ phong kiến thống trị nông thôn với tình trạng sở hữu ruộng đất bất công trước và sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta và tình cảnh “một cổ hai tròng” của người nông dân trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến là mâu thuẫn chủ yếu trong nông thôn Việt Nam, mà trước đó đã được Trường Chinh và Võ Nguyên
Giáp phản ánh trong cuộc vận động dân chủ 1936 – 1939: “vấn đề chủ yếu ở Đông
Dương là vấn đề dân cày, và trong vấn đề dân cày, vấn đề chủ yếu là “người cày có ruộng” (Qua Ninh & Vân Đình, 1959, tr 33), nông dân phải có ruộng đất, tức là phải
xóa bỏ chế độ ruộng đất phong kiến
Kể từ khi thành lập năm 1930, ĐCSVN đã xác định đường lối chiến lược cách
mạng là “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi
tới xã hội cộng sản” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002a, tr 2), với nhiệm vụ đánh đổ
đế quốc và chống phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng
Trong đó, nổi bật lên là nhiệm vụ dân tộc, mục tiêu trước mắt là giành lấy độc lập tự
do cho toàn thể dân tộc Việt Nam Đồng thời, Việt Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến nên việc xóa bỏ các tàn tích phong kiến, thực hiện cách mạng ruộng đất, lật đổ địa chủ phong kiến, giành lại ruộng đất cho nông dân cũng là nhiệm vụ cần
thiết phải thực hiện trong sự nghiệp cách mạng của Đảng “vì có đánh đổ đế quốc chủ
nghĩa mới phá được cái giai cấp địa chủ và làm cách mạng thổ địa được thắng lợi;
mà có phá tan chế độ phong kiến thì mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa” (Đảng
Cộng sản Việt Nam, 2002a, tr 98)
Từ đây, Đảng đã xác định “ruộng đất” là đối tượng trong việc hoạch định, thực hiện đường lối, chủ trương của mình và trong chính sách của Đảng thì “ruộng đất” không còn đơn thuần là TLSX chủ yếu, không thể thay thế được trong nông nghiệp,
mà ruộng đất còn mang trong mình mục tiêu chính trị là thu hút, tập hợp người nông
Trang 40dân tham gia vào liên minh công – nông để xây dựng sự nghiệp cách mạng do ĐCSVN lãnh đạo
1.2.2 Thời kỳ 1945 – 1952
Cải cách dân chủ từng phần về ruộng đất là một trong những nội dung và phương thức thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng từ năm 1945 – 1952 với việc tạm gác lại khẩu hiệu “người cày có ruộng”; chỉ tiến hành giảm tô, giảm tức, giảm thuế nông nghiệp, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian chia cho dân cày nghèo,
chia lại công điền công thổ,… nhằm từng bước hạn chế sự bóc lột của thực dân, phong
kiến, cải thiện đời sống cho nông dân
Ngay từ sau Cách mạng Tháng Tám, Chính phủ lâm thời đã tiến hành như tạm cấp ruộng đất của đế quốc, Việt gian cho dân cày nghèo ở nhiều nơi; ban hành Nghị định, Thông tư quy định chủ ruộng phải giảm 25% địa tô, bỏ những địa tô phụ và giảm 20% thuế điền và miễn thuế cho những vùng bị ngập lụt; đề ra một số nguyên tắc chia lại ruộng đất công cho cả nam và nữ, tạm giao ruộng đất vắng chủ cho một
bộ phận nông dân thiếu ruộng (Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, 1981, tr 445)
Tháng 1/1948, Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng, đề ra chủ trương cải
cách từng bước chính sách ruộng đất, thi hành Chính sách ruộng đất gồm 17 điểm,
trong đó có những điểm quan trọng như triệt để thực hiện việc giảm tô 25%, tạm cấp ruộng đất và tài sản của bọn phản quốc cho dân cày nghèo, chia lại công điền cho hợp
lí và công bằng hơn, đem ruộng đất đồn điền của địch chia cho dân nghèo,… Tinh thần cải cách dần dần trên tiếp tục được khẳng định và bổ sung tại Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 4 tháng 5/1948, trong đó xác định việc tịch thu ruộng đất và tài sản của Việt gian phải đưa ra tòa án tuyên bố rõ ràng; ruộng đất thì chia cho dân cày cấy, còn tài sản thì tùy từng trường hợp cấp cho dân cày; những đồn điền tịch thu của Pháp giao cho Chính phủ tạm thời quản lý; thành lập ở mỗi đồn điền một Ban Quản trị có trách nhiệm phân phối ruộng cho dân, giúp đỡ kế hoạch cho dân cày cấy