1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh Giá Kinh Tế Việt Nam Qua 20 Năm Đổi Mới Của Giáo Sư David Dapice.doc

17 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Kinh Tế Việt Nam Qua 20 Năm Đổi Mới
Tác giả Giáo Sư David Dapice
Trường học Trường Đại học Havard
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Báo cáo tham luận
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 136 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐÁNH GIÁ KINH TẾ VIỆT NAM QUA 20 NĂM ĐỔI MỚI CỦA GIÁO SƯ DAVID DAPICE ĐÁNH GIÁ KINH TẾ VIỆT NAM QUA 20 NĂM ĐỔI MỚI CỦA GIÁO SƯ DAVID DAPICE I Tổng quan quá trình 20 năm đổi mới II Đánh giá một số lĩnh[.]

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KINH TẾ VIỆT NAM QUA 20 NĂM ĐỔI MỚI CỦA

GIÁO SƯ DAVID DAPICE

I Tổng quan quá trình 20 năm đổi mới

II Đánh giá một số lĩnh vực cụ thể

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Trong Hội thảo bàn tròn tổng kết quá trình 20 năm Đổi mới của Việt Nam do Viện khoa

học xã hội Việt Nam kết hợp với UNDP và SIDA (Thụy Điển) chức vào 15-16/06/2006, giáo

sư David Dapice (trường Đại học Havard, Mỹ), một chuyên gia quốc tế với 17 năm nghiên cứu về chính sách kinh tế Việt Nam, đã có bài tham luận đánh giá kinh tế Việt Nam qua 20 năm đổi mới Bài viết không chỉ nêu bật những thành tựu mà còn đề cập một số thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam trong việc tiếp tục đẩy mạnh quá trình cải cách.

Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội Quốc gia đã tổ chức lược thuật bài tham luận trên nhằm cung cấp thông tin tham khảo phục vụ quá trình xây dựng cơ chế chính sách phát triển kinh tế xã hội.

Xin trân trọng giới thiệu!

TRUNG TÂM THÔNG TIN VÀ DỰ BÁO KINH TẾ - XÃ HỘI

QUỐC GIA

Trang 3

ĐÁNH GIÁ KINH TẾ VIỆT NAM QUA 20 NĂM ĐỔI MỚI CỦA

GIÁO SƯ DAVID DAPICE

I TỔNG QUAN QUÁ TRÌNH 20 NĂM ĐỔI MỚI

Công cuộc Đổi mới của Việt Nam đã được tiến hành qua 20 năm, đạt được nhiều thành tựu

trong phát triển kinh tế và xã hội Kinh tế Việt Nam đã đạt được những bước phát triển vững chắc (tăng trưởng 8%/năm, xuất khẩu tăng 25%/năm) Kèm theo đó là những cải thiện liên tục

về các chỉ số xã hội và xoá đói giảm nghèo Việt Nam đã rất thành công ở một số lĩnh vực và được thế giới đánh giá cao

Nông nghiệp có sự biến đổi rõ rệt, góp phần giải quyết tình trạng siêu lạm phát và thiếu lương thực, ổn định giá cả, tăng thu nhập của khu vực nông thôn Hiện Việt Nam là nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới Nhiều mặt hàng như cà phê, cao su, thuỷ sản, cá và một số nông sản khác cũng đạt kim ngạch xuất khẩu cao Tư nhân hoá trong nông nghiệp đã rất thành công

và là nhân tố chính giúp xoá đói giảm nghèo trong thập kỷ đầu của quá trình đổi mới Sau hai thập kỷ đổi mới, tỷ lệ nghèo đói đã giảm từ 3/4 xuống dưới 1/4

Luật Doanh nghiệp ra đời năm 2000 đã cho phép các doanh nghiệp tư nhân được tự do đăng ký kinh doanh các mặt hàng mà pháp luật không cấm Kết quả là đã có thêm hơn 120.000 doanh nghiệp mới, tạo ra hàng triệu việc làm và huy động được hàng tỷ USD vốn đầu tư Tỷ trọng của khu vực tư nhân trong tổng sản lượng công nghiệp đã tăng từ 1/4 năm

2000 lên 1/3 trong quý I/2006, tương đương tỷ trọng đóng góp của khu vực nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Khu vực nhà nước hiện nay chỉ đóng góp 15-20% vào tăng trưởng sản lượng công nghiệp mặc dù có mức vốn đầu tư lớn hơn và trình độ công nhân cao hơn so với khu vực kinh tế tư nhân Điều này cho thấy khu vực kinh tế tư nhân đã có những đóng góp lớn, giúp xoá đói giảm nghèo và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Việt Nam cũng áp dụng chính sách mở cửa đối với phần lớn các hoạt động đầu tư nước ngoài Sau giai đoạn đầu tư nước ngoài giảm do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính tại châu Á, các nhà đầu tư nước ngoài ngày càng quan tâm tới việc đầu tư tại Việt Nam Đầu tư nước ngoài tăng một phần là do mối quan hệ ngày càng căng thẳng giữa Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc) và Trung Quốc Việc các nước này ngày càng không muốn tập trung toàn bộ vốn FDI vào Trung Quốc đã tạo thuận lợi cho Việt Nam Tuy nhiên, việc Việt Nam tiến hành cải thiện chính sách, cơ sở hạ tầng, năng suất lao động, đào tạo lao động và khả năng nắm bắt nhanh nhạy cũng là những nhân tố quan trọng, đưa Việt Nam trở thành một điểm đến hấp dẫn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đối với nhiều tập đoàn, công ty đa quốc gia như Intel và Microsoft Năm 2005, số vốn được cấp phép cho các hoạt động đầu tư mới

và tái đầu tư đã vượt 5 tỷ USD Năm 2006, vốn FDI thực hiện dự báo đạt khoảng 3-4 tỷ USD Trong khi đó, luồng vốn vào trong nước năm 2000 chỉ đạt dưới 1 tỷ USD

Trao đổi thương mại cũng là một lĩnh vực Việt Nam đạt được nhiều thành tựu Kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2006 dự báo đạt 72 tỷ USD, tương đương 130% GDP và tăng cao hơn nhiều so với mức 75% năm 1995 Trong năm 2005, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 32

tỷ USD, gấp hơn 15 lần so với năm 1991 (2,1 tỷ USD) Như vậy, trong vòng 14 năm, kim ngạch xuất khẩu đã tăng khoảng 21%/năm Nhiều mặt hàng có giá trị xuất khẩu trên 500 triệu

Trang 4

USD như dầu thô, than đá, dệt may, giày dép, hải sản, gạo, cà phê, cao su, hàng điện tử và đồ

gỗ Việt Nam đang chứng tỏ được khả năng cạnh tranh đối với các mặt hàng như nguyên liệu thô từ nông nghiệp, khoáng sản, các hàng hoá sử dụng nhiều lao động và thậm chí một số mặt hàng có giá trị gia tăng cao Đáng chú ý là xuất khẩu dự báo vẫn tiếp tục tăng 25% trong năm

2006 và việc gia nhập WTO có thể sẽ giúp Việt Nam duy trì thành tựu này trong tương lai Bằng cách hạ thấp hàng rào thuế quan và tạo điều kiện thuận lợi cho trao đổi thương mại, Việt Nam đã đẩy nhanh tốc độ chuyên môn hoá sản xuất Tuy nhiên, cùng với quá trình này, những lĩnh vực kém hiệu quả cũng bị tác động, nhưng nhìn chung những lợi ích thu được lớn hơn so với chi phí Việt Nam được đánh giá là quốc gia có sự linh hoạt về chính sách so với phần lớn các nước khác Ngoài ra, sản phẩm và thị trường trong nước được đa dạng hoá cao

Mười năm đầu cải cách

Sau khi thống nhất vào năm 1975, từ một nước nông nghiệp nghèo, kinh tế Việt Nam đã phát triển theo phương thức kế hoạch hoá tập trung Ở miền Bắc, hậu quả chiến tranh và thói quen sản xuất nông nghiệp theo phương thức tập thể đã khiến sản lượng lương thực tăng rất chậm, chỉ tăng 22% trong giai đoạn từ năm 1974 tới năm 1986, thấp hơn cả tốc độ tăng dân

số Việc tăng diện tích đất trồng trọt các vụ mùa hàng năm lên 30% thông qua đầu tư vào hệ thống tưới tiêu và áp dụng các giống lúa chất lượng cao hơn đã giúp sản lượng gạo năm 1986 tăng 39% so với năm 1975 Nhưng tình trạng thiếu lương thực và siêu lạm phát vẫn diễn ra Sản lượng thóc của cả nước tăng từ 11,8 triệu tấn năm 1976 lên 15,1 triệu tấn năm 1987, tăng 28%, xấp xỉ tốc độ tăng dân số trong cùng giai đoạn (27%) Do vậy, sản lượng lương thực bình quân đầu người hầu như không được cải thiện

Sau khi tiến hành công cuộc Đổi mới, sản lượng lương thực đã đạt 25 triệu tấn vào năm

1995, tăng 65% so với năm 1987 Mức tăng này cùng với việc nới lỏng các quy định về lao động đã giúp giảm mạnh tỷ lệ nghèo đói, từ hơn 70% giữa những năm 1980 xuống 58% năm

1993 và 38% năm 1997-1998, tức là đã giảm gần một nửa trong vòng 12 năm Sản lượng GDP thực tế tăng 7-8%/năm trong giai đoạn 1987-1996 Sản lượng điện năm 1986 tăng 56%

so với năm 1980, năm 1992 tăng 73% so với năm 1986 và năm 1998 tăng 115% so với năm 1992

Xuất khẩu cũng đạt được những bước tiến lớn Năm 1986, kim ngạch xuất khẩu đạt 500 triệu USD, chỉ bằng một nửa so với kim ngạch nhập khẩu là 1,1 tỷ USD Nhưng đến năm

1997, kim ngạch xuất khẩu đã đạt 9,2 tỷ USD, bằng 80% mức nhập khẩu (11,6 tỷ USD) Xuất khẩu tăng mạnh (18 lần) đã tạo ra một cơ hội to lớn cho việc mua hàng hoá tiêu dùng và tư liệu sản xuất Nhờ có viện trợ nước ngoài, kiều hối và đầu tư trực tiếp nước ngoài, thâm hụt thương mại đã giảm đáng kể Lạm phát vẫn ở mức thấp và việc đồng tiền được định giá thấp

ở mức có thể kiểm soát đã phản ánh mong muốn duy trì khả năng cạnh tranh của Việt Nam Tuy nhiên, chính những thành công về kinh tế và xã hội đã dẫn đến nhiều sai lầm Các dự

án đầu tư lợi nhuận thấp và không minh bạch của Chính phủ đã được khởi xướng Ví dụ đường dây tải điện Bắc - Nam được xây dựng vội vàng, ngược lại với lời khuyên của các chuyên gia kỹ thuật Điều đó đã cản trở việc phát triển công suất phát điện và dẫn đến sự không ổn định trong việc cung cấp điện Công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu (đòi hỏi phải có

sự kết hợp giữa các nhà đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp nhà nước) đã tạo ra những ấn

Trang 5

tượng không tốt và chi phí cao Cải cách trong việc tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước

và cải cách hệ thống tài chính diễn ra ảm đạm Hệ thống pháp lý gây nhiều cản trở đối với hoạt động kinh doanh của khu vực tư nhân chính thức, đặc biệt là những doanh nghiệp có quy

mô nhỏ Theo một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB), tính tới năm 1996, phần lớn cải cách của Việt Nam đều diễn ra từ trước năm 1991, có nghĩa là trước khi Việt Nam bắt đầu nhận được luồng vốn viện trợ lớn từ nước ngoài Khi viện trợ tăng, đóng góp của Nhà nước trong tổng đầu tư tăng lên Năm 1997, khu vực nhà nước chiếm hơn 47% tổng sản lượng công nghiệp trong khi khu vực hộ gia đình chỉ chiếm 14%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (gồm

cả sản xuất dầu thô) chiếm 36% Sản lượng công nghiệp của khu vực tư nhân chính thức và tập thể chỉ chiếm 3% trong tổng sản lượng công nghiệp của cả nước

Trong thập kỷ 90, kinh tế tăng trưởng cao nhờ xuất khẩu dầu, viện trợ tăng mạnh và luồng vốn FDI ồ ạt đổ vào trong nước, nhưng bản thân sự tăng trưởng này không đảm bảo được tính bền vững Dù cải cách về giá và cải cách trong nông nghiệp đã tạo ra những bước tiến thực

sự, giúp xoá đói giảm nghèo, nhưng tình trạng thiếu những cải cách sâu sắc hơn trong thập kỷ đầu tiên đã dẫn tới tình trạng suy thoái theo sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, bất chấp

sự phát triển nhanh chóng của hệ thống điện, đường sá và các điều kiện cơ sở hạ tầng khác Vấn đề không nằm ở cơ sở hạ tầng “cứng” mà là ở cơ sở hạ tầng “mềm” - đó là việc thiếu các thể chế và chính sách nhằm xác định những rào cản đối với sản xuất và hành động để giảm thiểu các rào cản đó, từ đó tự do hoá và tái tạo những lực lượng sản xuất có năng suất lao động cao hơn Nền kinh tế Việt Nam khi đó có phần vẫn hướng nội nhiều hơn

Trong thập kỷ 90, vai trò của Nhà nước trong vấn đề tạo việc làm còn hạn chế Việc làm trong khu vực nhà nước, bao gồm người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước và các công chức, đã giảm từ 4,1 triệu người năm 1987 xuống còn 3,1 triệu người năm 1991 Sau đó, con số này giảm xuống còn 2,9 triệu người năm 1993 trước khi tăng lên 3,27 triệu người năm

1997 (năm 1987, tổng lực lượng lao động là 28 triệu người, đến năm 1997 lên đến 38 triệu người) Như vậy, hơn 100% tổng số việc làm tạo mới trong giai đoạn 1987-1997 đều là ở khu vực ngoài quốc doanh Tỷ trọng việc làm trong khu vực nhà nước năm 1997 chỉ chiếm 9% trong tổng số việc làm của cả nước

Trong thập kỷ 90, tổng vốn đầu tư từ tất cả các nguồn vốn của Nhà nước so với tổng vốn đầu tư chung dao động ở mức 50% và tăng lên đáng kể vào nửa cuối thập kỷ Phải nói rằng chỉ có những số liệu ước tính về vốn đầu tư của Nhà nước và vốn đầu tư nước ngoài là có thể tin cậy, nguồn vốn tư nhân trong nước không chỉ nhỏ mà còn khó nhận biết (ít nhất điều này

là đúng cho đến thời điểm trước năm 1995 Bắt đầu từ năm 1995, khi Việt Nam bắt đầu tiến hành tổng điều tra các ngành, tình hình mới được cải thiện đôi chút) Tỷ trọng của vốn đầu tư nhà nước trong tổng vốn đầu tư đạt 42% năm 1995 và 58,6% năm 1999, mức tăng thực tế là hơn 110% Trong cùng kỳ, vốn đầu tư tư nhân tăng 34%, vốn đầu tư nước ngoài giảm 12% (tính theo giá trị thực tế) Tính đến năm 1999, tỷ trọng đầu tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trong tổng vốn đầu tư đã giảm xuống còn 17,3% từ mức 30% năm 1995 Tỷ trọng vốn đầu tư tư nhân trong nước cũng giảm, chỉ còn 24% năm 1999, so với 27,6% năm 1995 Mặc

dù tỷ trọng của vốn đầu tư nhà nước tăng lên phần nào là do sự cần thiết phải đầu tư vào đường sá và các công trình cơ sở hạ tầng khác, một phần không nhỏ nguồn vốn này lại được

sử dụng vào các dự án không được lựa chọn kỹ càng hoặc đầu tư vào các doanh nghiệp nhà

Trang 6

nước làm ăn không hiệu quả, tạo ra rất ít việc làm mới Rất khó tiến hành cải cách khi mà Nhà nước ngày càng đóng vai trò lớn hơn và kém hiệu quả trong hoạt động đầu tư, và đó là tình trạng của Việt Nam vào cuối thập kỷ 90

Một nhân tố kinh tế và chính trị quan trọng đối với tăng trưởng là sự cân đối giữa các vùng, miền Điều này có nghĩa là sự phát triển không chỉ tập trung xung quanh một hoặc hai thành phố Thành tựu của những cải cách về nông nghiệp trong quá trình đổi mới là rất đáng chú ý vì đã có những tác động rộng lớn, từ đó giúp quá trình xoá đói giảm nghèo diễn ra nhanh chóng và ngày càng rộng khắp Phần lớn vốn FDI tập trung ở một số tỉnh, thành phố lớn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu Điều này đã tạo ra sức ép chính trị nhằm sử dụng nguồn vốn đầu tư nhà nước như “đòn cân bằng”

và bảo đảm rằng tăng trưởng không chỉ tập trung ở hai khu vực kinh tế trọng điểm Việc xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất đã được quyết định dựa trên sự cân đối giữa các vùng Tuy nhiên, dự án ít có ý nghĩa về mặt kinh tế hay tài chính Nhiều công ty dầu khí nước ngoài vốn rất hứng thú tham gia xây dựng nhà máy lọc dầu ở Việt Nam đã rút lui khi xét đến địa điểm xây dựng - xa nguồn nguyên liệu, các thị trường chính và ở một vùng hay có gió bão Ngay cả Petro Việt Nam cũng muốn xây dựng nhà máy lọc dầu ở một địa điểm hợp lý hơn về mặt thương mại Nhưng việc xây dựng cuối cùng vẫn được thực hiện ở Quảng Ngãi

Chính vì vậy sự chậm trễ và việc chi phí tăng lên khi đầu tư vào nhà máy lọc dầu Dung Quất là hoàn toàn có thể dự đoán được Lợi nhuận cao từ lọc dầu như hiện nay cho phép nhà máy lọc dầu đang vận hành có thể bù đắp được phần nào chi phí, nhưng tính đến thời điểm nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động, lợi nhuận có thể giảm xuống còn khoảng 4-5 USD/thùng (35 USD/tấn) Việc các chi phí vận tải và chi phí sử dụng vốn cao hơn sẽ khiến giá các sản phẩm xăng dầu tăng lên và Chính phủ sẽ phải trợ giá nhiều hơn để bù lỗ hoặc bù đắp khi lợi nhuận thấp Điều này sẽ tác động xấu đến cả người tiêu dùng và doanh nghiệp Thành công trong việc phát triển theo vùng hiếm khi đạt được nếu đầu tư vào các ngành công nghiệp nặng sử dụng nhiều vốn không đem lại hiệu quả kinh tế Sự kết hợp giữa một nền tảng

cơ sở hạ tầng tốt, môi trường kinh doanh tốt hơn, cùng với việc đào tạo và tiếp thị có mục tiêu, sẽ dễ đem lại thành công hơn

Nếu xem xét giai đoạn từ năm 1993 đến 1998 và sử dụng kết quả từ hai cuộc điều tra về mức sống, có thể thấy rằng mức chi tiêu bình quân đầu người tăng lên 79% ở miền Đông Nam Bộ, 57% ở đồng bằng sông Hồng, và chỉ 19-33% ở các vùng miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ Như vậy, khi các vùng đều phát triển, việc tập trung phát triển theo vùng lại diễn ra vào đúng giai đoạn mà tỷ trọng của đầu tư nhà nước tăng lên trong tổng vốn đầu tư chung

Mười năm tiếp theo

Trong giai đoạn này, đầu tư nhà nước tăng lên chủ yếu do các khoản hỗ trợ và tín dụng dành cho các doanh nghiệp nhà nước đang tăng lên nhanh chóng Tuy nhiên, lượng vốn đầu

tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài lại giảm sút trong khi nguồn vốn đầu tư tư nhân trong nước tăng rất chậm Khi Việt Nam mở rộng tín dụng, kim ngạch nhập khẩu đã tăng nhanh hơn nhiều so với kim ngạch xuất khẩu Năm 1992, kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu đều ở mức 2,5 tỷ USD Đến năm 1996, kim ngạch xuất khẩu đạt 7,3 tỷ USD trong

Trang 7

khi kim ngạch nhập khẩu lên tới 11,1 tỷ USD, khiến thâm hụt thương mại là 3,8 tỷ USD, lớn hơn cả tổng kim ngạch xuất khẩu hoặc nhập khẩu năm 1992 Trước tình hình này, Việt Nam

đã áp dụng nhiều biện pháp kiểm soát, trong đó có việc quy định các doanh nghiệp nhập khẩu phải chuyển đổi lợi nhuận từ tiền VND sang USD Theo đó, quy định đã buộc các công ty phải chuyển ngoại tệ sang VND, và các công ty nước ngoài phải xin phép nếu muốn chuyển lợi nhuận bằng ngoại tệ ra nước ngoài Quy định này đã tác động không tốt đến hoạt động đầu

tư nước ngoài Luồng vốn FDI vào trong nước đạt trung bình là 2 tỷ USD trong giai đoạn 1995-1997, nhưng giảm xuống còn dưới 800 triệu USD trong những năm tiếp theo (giảm khoảng 60%)

Bên cạnh đó, khu vực kinh tế tư nhân trong nước còn yếu Đầu tư của khu vực tư nhân tăng rất chậm, không tập trung tại một số khu vực như FDI và thường đầu tư vào các ngành sử dụng nhiều lao động hơn so với các doanh nghiệp nhà nước Bên cạnh đó, quy mô của các doanh nghiệp tư nhân cũng còn khiêm tốn, trình độ khoa học kỹ thuật còn thấp Năm 2000, chỉ có 10 doanh nghiệp tư nhân có số vốn trên 33 triệu USD Bên cạnh tác động của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, tình trạng thiếu các ngành công nghiệp phụ trợ và FDI giảm sút đồng nghĩa với việc tăng trưởng xuất khẩu và các luồng vốn FDI vào trong nước chậm lại Kim ngạch xuất khẩu tính theo USD đã tăng gấp ba lần trong giai đoạn 1993-1997 với tốc độ tăng hàng năm là 32% Từ năm 1997 đến năm 1999, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu tính theo USD hàng năm là 12% Trong điều kiện khu vực tư nhân còn yếu, đầu tư nước ngoài thấp và giảm dần, khu vực nhà nước hoạt động kém hiệu quả, tăng trưởng GDP cũng tương đối thấp Từ mức tăng trưởng 8-9% năm 1997, tốc độ tăng trưởng GDP chính thức chỉ đạt 5,8% năm 1998 và 4,8% năm 1999 (theo đánh giá của IMF) Mặc dù vậy, mức tăng trưởng của Việt Nam vẫn cao hơn so với những nền kinh tế bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á Do không có một đồng nội tệ có khả năng chuyển đổi và cũng không tham gia tích cực vào thị trường tiền tệ quốc tế, nền kinh tế Việt Nam ít bị tổn thương hơn trước những thay đổi về luồng vốn thế giới

Đồng thời, tham nhũng cũng là một vấn đề mà Việt Nam phải đối mặt Vụ tham nhũng tại Ban quản lý các dự án 18 (PMU 18) năm 2005-2006 cho thấy thực tế là nhiều nguồn vốn đã

bị sử dụng sai mục đích Ngoài ra, vẫn tồn tại hiện tượng mua bán chức vụ và tham nhũng cũng góp phần không nhỏ vào vấn nạn này Theo đó, những người trung thực và có khả năng rất khó thăng tiến tại một tổ chức xảy ra tham nhũng Nếu không giải quyết sớm hiện tượng này, Việt Nam khó có thể xây dựng một nền kinh tế cạnh tranh và mở cửa Nếu đường sá và

cơ sở hạ tầng kém phát triển hoặc việc xây dựng quá phức tạp hoặc quá đắt; nếu các nguồn vốn quốc tế được sử dụng cho các dự án đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước quy hoạch yếu kém hoặc được định giá quá cao; hay nhiều vị trí lãnh đạo lại do những người có quan hệ chứ không phải là tài năng đảm trách, nền kinh tế Việt Nam sẽ hoạt động không hiệu quả, ít nhất là trong thời gian tới Trong bối cảnh đó, tham nhũng thực sự là mối đe doạ đến sự thành công và sự phát triển bền vững của kinh tế Việt Nam

Trong 20 năm tiến hành cải cách, bên cạnh những thành tựu về kinh tế, Việt Nam cũng đạt được nhiều thành tựu trong việc nâng cao mức sống người dân, đẩy mạnh công tác giáo dục

và kiểm soát thành công nhiều dịch bệnh phát sinh

Trang 8

Các chỉ tiêu xã hội đã được cải thiện đáng kể: Số học sinh tiểu học và trung học cơ sở đạt mức cao, tăng xấp xỉ với mức tăng dân số trong độ tuổi đến trường, số học sinh trung học phổ thông, cao đẳng và đại học tăng mạnh Số học sinh trung học phổ thông đã giảm từ 911 nghìn giai đoạn 1986-1987 xuống 564 nghìn giai đoạn 1992-1993 do trợ cấp bị cắt giảm, nhưng lại tăng lên 1.390 nghìn vào giai đoạn 1997-1998 (dân số trong độ tuổi 15-17 tăng 17% từ năm

1986 tới năm 1997 nhưng số học sinh trung học phổ thông đã tăng 53%) Số sinh viên cao đẳng và đại học giảm từ 126 nghìn năm 1986 xuống 107 nghìn năm 1991, sau đó lại tăng lên mức ấn tượng 663 nghìn vào năm 1997 Tuy chất lượng giáo dục vẫn còn là một vấn đề đáng quan tâm nhưng số học sinh tăng nhanh đã cho thấy một sự tiến bộ vượt bậc của hệ thống giáo dục ở Việt Nam

Những số liệu liên quan đến hoạt động chăm sóc sức khoẻ cũng rất ấn tượng Tỷ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi ước tính là 82/1000 trẻ trong giai đoạn 1979-1983, giảm xuống mức 69/1000 trẻ vào giai đoạn 1984-1988 và còn 55/1000 trẻ trong giai đoạn 1989-1993 Năm 1997, tỷ lệ này đã giảm xuống 40/1000 trẻ, gần với mức 38/1000 trẻ của Thái Lan, nước có mức thu nhập bình quân đầu người gấp hơn 3 lần Việt Nam Những điều kiện cải thiện về dinh dưỡng và khả năng tiếp cận thuốc chữa bệnh tốt hơn, cùng với việc mở rộng chương trình tiêm chủng

đã giúp tuổi thọ bình quân tăng lên gần với mức của những nước có thu nhập trung bình Năm

1997, tuổi thọ của nam giới ở Việt Nam là 66, của nữ là 71, bằng Thái Lan, gần bằng với Trung Quốc và cao hơn của Braxin

Mặc dù có nhiều vấn đề còn tồn tại trong công tác y tế, tỷ lệ tử vong trẻ em giảm là một thành công rất lớn của Việt Nam khi so sánh với các nước có thu nhập bình quân đầu người cao hơn Các chỉ tiêu của Việt Nam không chỉ bằng hoặc cao hơn so với các nước có thu nhập bình quân đầu người cao hơn Việt Nam 2-3 lần, mà tốc độ cải thiện những chỉ tiêu này của Việt Nam cũng rất ấn tượng Không có quốc gia nào trong nhóm nước trên có tỷ lệ tử vong ở trẻ em giảm nhanh như Việt Nam kể cả về mặt tuyệt đối và tương đối.

Nước

Tuổi thọ trung bình (năm)

Tỷ lệ tử vong

ở trẻ em (‰)

Thu nhập bình quân đầu người (ngang giá sức mua 2004 - USD)

Nguồn: World Development Indicators của Worldbank 2006

Những nhận xét tương tự cũng được đưa ra đối với vấn đề HIV/AIDS Phần lớn các trường hợp nhiễm HIV ở Việt Nam là do tiêm chích ma tuý và lây nhiễm qua đường tình dục Mặc

dù số trường hợp nhiễm HIV đang tăng lên, tỷ lệ nhiễm HIV năm 2003 chỉ là 0,4% (300.000 người), thấp hơn nhiều so với mức trung bình của thế giới (trên 1%) hoặc khu vực (0,7%) Việt Nam được đánh giá là một trong những nước triển khai kịp thời việc phòng chống và kiểm soát sự lây lan dịch bệnh trước khi HIV trở thành nguồn gốc gây tử vong lớn Việt Nam cũng đã đạt được những thành công tương tự trong việc kiểm soát bệnh sốt rét, bệnh lao, suy

Trang 9

dinh dưỡng trẻ em và tiêm phòng vắcxin.

Một trong những lý do giải thích cho sự thành công của Việt Nam là việc tổ chức tốt và triển khai kịp thời chương trình sức khỏe cộng đồng, xuống tận các làng xã với quyết tâm cao Tuy nhiên, vẫn còn có sự lỏng lẻo, chồng chéo trong quản lý, sự kết hợp kém hiệu quả giữa các nhà cung cấp dịch vụ y tế như những thầy thuốc y học dân tộc, các dược sỹ, các bác sĩ quân y đã nghỉ hưu, các y tá, các bác sỹ tư nhân, các bệnh viện chuyên khoa và đa khoa của nhà nước Đôi khi các dược sỹ bán thuốc không phù hợp, thuốc quá hạn hoặc thuốc giả Cũng

có những trường hợp các bác sỹ kê đơn thuốc tự cho thêm thuốc của mình vào để thu thêm tiền của bệnh nhân hoặc thậm chí còn không thông báo cho bệnh nhân biết họ đang được uống những thuốc gì Tuy nhiên, không thể phủ nhận là hiện nay người dân có nhiều sự lựa chọn với nhiều nguồn cung cấp dịch vụ hơn Đa dạng hoá dịch vụ và nâng cao trình độ chuyên môn của những người làm việc trong nghề y, cung cấp nhiều thông tin cho bệnh nhân

và công chúng nói chung sẽ góp phần cải thiện điều kiện chăm sóc sức khoẻ Việc kết hợp hợp lý giữa chi ngân sách và các chính sách của Chính phủ, các biện pháp quản lý các nhà cung cấp dịch vụ cả về kiến thức chuyên môn và hành vi đạo đức, và tạo ra sự cạnh tranh đã giúp tạo nên những thành công này Rõ ràng hệ thống y tế của Việt Nam với mức chi đạt 5,4% GDP, tỷ lệ tương đương với Trung Quốc, đã đem lại kết quả tốt hơn và theo kịp các nước giàu có hơn - những nước mà hệ thống chăm sóc sức khỏe cách đây một thập kỷ tốt hơn Việt Nam

Đồng thời, những phản ứng của Việt Nam trước đại dịch SARS và tình hình dịch cúm gia cầm hiện nay cũng tốt hơn so với nhiều nước khác Trong đại dịch SARS, Việt Nam đã nhanh chóng kêu gọi sự giúp sức của các chuyên gia nước ngoài và kịp thời tiến hành những biện pháp phòng ngừa cần thiết Ngược lại, ở Trung Quốc, bệnh dịch này đã bị che đậy trong nhiều tháng Chỉ khi những trường hợp bị nhiễm cúm gia cầm được phát hiện ở Bắc Kinh thì dịch bệnh mới được giải quyết trên phạm vi cả nước Tại Inđônêxia, sự đối phó với các dịch bệnh trên phân tán hơn và số trường hợp nhiễm cúm ở người và gia cầm tiếp tục tăng Mặc dù còn quá sớm để đánh giá thành công cuối cùng của các nỗ lực giải quyết dịch cúm gia cầm, những

ý kiến ban đầu đều nhất trí rằng Việt Nam đã giải quyết một cách công khai và hiệu quả Việt Nam được quốc tế đánh giá cao về phát triển kinh tế do đã giảm mạnh tỷ lệ đói nghèo, GDP thực tế tăng, xuất khẩu và sản lượng công nghiệp tăng, chất lượng của hệ thống y tế và giáo dục được cải thiện Tuy nhiên, để có thể tiếp tục đạt được những thành tựu về phát triển kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân, Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách toàn diện, đồng thời điều chỉnh một số chính sách hiện được xem là cản trở đối với đà cải cách kinh tế

II ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ LĨNH VỰC CỤ THỂ

1 Luật Doanh nghiệp

Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2000 được xem là bước cải cách quan trọng nhất kể

từ sau cuộc cải cách nông nghiệp vào cuối những năm 80 Luật Doanh nghiệp được thi hành

đã làm giảm các rào cản về mặt thủ tục đối với các doanh nghiệp tư nhân Việc đăng ký kinh doanh và nộp đơn xin thành lập doanh nghiệp trở nên dễ dàng hơn rất nhiều so với trước đây Kết quả một số cuộc khảo sát đã cho thấy thời gian và chi phí để đăng ký thành lập doanh nghiệp đã giảm đáng kể Trong giai đoạn từ năm 1991 đến 1999, mỗi năm có gần 5.000 doanh

Trang 10

nghiệp tư nhân mới đăng ký xin thành lập, trong khi trong cả giai đoạn trước năm 1991, tổng

số doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam mới chỉ là 5.000

Trong những năm vừa qua, Luật Doanh nghiệp đã đem lại những thay đổi tích cực hơn nhiều so với mong đợi của hầu hết mọi người Tính đến năm 2005, đã có hơn 120.000 doanh nghiệp mới đăng ký thành lập - cao hơn 6 lần so với những năm 90; trong số đó phần lớn là các doanh nghiệp mới, chỉ có một số ít trước đây là các hộ kinh doanh nay mới đủ điều kiện phát triển thành doanh nghiệp Tất nhiên cũng có nhiều doanh nghiệp trong số đó đã bị phá sản Một năm sau khi Luật Doanh nghiệp được áp dụng, tổng sản lượng công nghiệp của khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước tăng trưởng khá ấn tượng, ước tính đạt 18-24%/năm Tỷ trọng đóng góp của khu vực tư nhân vào tổng sản lượng công nghiệp của cả nước quý I/2006 đạt 33%, trong khi tỷ trọng của khu vực nhà nước chỉ đạt 30% Về vấn đề việc làm, năm 2000

có khoảng 1 triệu lao động làm việc trong các doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã (Trên thực

tế, rất khó có thể phân biệt giữa doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã; “tư nhân” bao gồm các công ty thuộc sở hữu cá nhân, các liên danh và các công ty cổ phần) Tính đến năm 2004, kết quả điều tra về lực lượng lao động cho thấy có 3,3 triệu lao động làm việc trong các hợp tác

xã và các doanh nghiệp tư nhân (không tính các hộ kinh doanh gia đình), tăng gấp hơn 3 lần trong vòng 5 năm Trong cùng thời gian này, số lao động làm việc trong khu vực nhà nước thuộc tất cả các ngành kinh tế tăng từ 1,9 triệu lên 2,1 triệu người, trong khi lực lượng lao động tăng thêm 4 triệu người, tương đương 11%, từ 37,6 triệu lên 41,6 triệu người Trong tổng số lao động tăng thêm, 60% mức tăng lên là từ khu vực doanh nghiệp tư nhân chính thức, chỉ có 5% là từ khu vực doanh nghiệp nhà nước Lao động trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn ổn định trong khi lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tăng khoảng 500.000 người, chiếm 12-13% trong tổng số lao động tăng thêm Lao động của các hộ gia đình phi nông nghiệp hay khu vực phi chính thức thu hút được 1 triệu lao động, chiếm 25% tổng số lao động tăng thêm

Trong 5 năm tới, nếu khu vực tư nhân chính thức tiếp tục tăng trưởng trên 18%/năm và khu vực nước ngoài tăng trưởng 12-18%/năm, hai khu vực này sẽ đóng góp nhiều hơn vào mức tăng của lực lượng lao động do tỷ trọng lao động làm việc trong hai khu vực này trong tổng lực lượng lao động ngày càng tăng Đối với các lao động trẻ, việc làm trong ngành nông nghiệp và phần lớn khu vực kinh tế phi chính thức và các hộ gia đình chỉ là công việc kiếm sống tạm thời chứ không có tương lai Đa số họ đều muốn chuyển sang làm việc trong khu vực kinh tế chính thức được trả lương cao hơn Ngay cả những lao động đã làm việc lâu trong ngành nông nghiệp hay các hộ gia đình cũng muốn chuyển sang làm việc tại khu vực chính thức Hiện tại đã có những dấu hiệu cho thấy do thị trường lao động tiếp tục tăng trưởng nhanh và bền vững, mức lương thực tế được đẩy lên cao hơn, tạo điều kiện đẩy nhanh công cuộc xoá đói giảm nghèo Nhưng điều này cũng đòi hỏi Việt Nam phải cải tiến về công nghệ, nâng cao trình độ quản lý để đưa năng suất lao động tăng tương ứng với mức lương thực tế

2 Khu vực kinh tế tư nhân

Mặc dù tăng trưởng nhanh, khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam vẫn còn nhiều điểm hạn chế Hiện tại, khu vực tư nhân cần cải thiện đáng kể những vấn đề liên quan đến tăng lương thực tế Theo số liệu từ năm 2003, mức lương của lao động trong các công ty tư nhân chỉ bằng 50-60% so với tại các doanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp nhà nước Về số lượng

Ngày đăng: 29/06/2023, 22:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w