Các công trình nghiên cứu tiêu biểu của các hướng nghiên cứu trên có thể kể đến như Trên dòng sông Vị, Hàn Mặc Tử - Trần Thanh Mại, Khảo luận Kim Vân Kiều truyện - Đào Duy Anh, Nguyễn Du
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Phùng Phương Nga Các số liệu và kết quả trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Tác giả
Lê Thị Thuý Hường
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi lời biết ơn chân thành đến TS Phùng Phương Nga đã hướng dẫn tôi hoàn thành bản luận văn này Khi bắt đầu nhận đề tài, thực sự tôi cảm nhận đề tài mang nhiều nội dung mới mẻ và có ý nghĩa xã hội nhưng với vốn kiến thức ít ỏi cùng với kinh nghiệm nghiên cứu khoa học không nhiều nên tôi chưa thực sự tự tin để tiếp cận Mặc dù rất bận rộn trong công việc nhưng Cô vẫn dành nhiều thời gian và tâm huyết trong việc hướng dẫn, động viên khuyến khích tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài Trong quá trình tiếp cận đề tài đến quá trình hoàn thiện luận văn Cô luôn tận tình chỉ bảo và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn Cho đến bây giờ luận văn thạc sĩ của tôi đã được hoàn thành, xin cảm ơn Cô đã đôn đốc, nhắc nhở tôi
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Văn học và Phòng Đào tạo của trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như hướng dẫn, chỉ bảo để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Phòng GDĐT Hưng Hà, và trường THCS Thái Phương huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình tạo điều kiện về thời gian tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè, những người luôn động viên, cổ vũ, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2022
Tác giả
Lê Thị Thuý Hường
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 7
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 7
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn 7
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 8
8 Kết cấu Luận văn 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 9
1.1 Khái quát về nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa 9
1.1.1 Các thuật ngữ, khái niệm 9
1.1.2 Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa 10
1.2 Chương trình Ngữ văn THCS năm 2006 và năm 2018 13
1.2.1 Lịch sử hình thành chương trình 13
1.2.2 Lịch sử đổi mới phương pháp giảng dạy chương trình văn THCS năm 2006 và năm 2018 14
1.2.3 Những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu, giảng dạy Văn THCS hiện nay 16
CHƯƠNG 2: KHÔNG GIAN, CON NGƯỜI TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC CHƯƠNG TRÌNH THCS TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA 18
2.1 Không gian văn hoá 18
2.1.1 Khái niệm không gian văn hóa 18
2.1.2 Không gian vũ trụ 20
2.1.3 Không gian bốn mùa 23
2.1.4 Không gian sinh hoạt 30
2.1.5 Không gian lịch sử, danh lam thắng cảnh 35
2.2 Con người văn hóa 38
2.2.1 Con người trong văn học 38
Trang 52.2.2 Chân dung người anh hùng từ góc nhìn văn hóa 38
2.2.3 Chân dung người nông dân từ góc nhìn văn hóa 57
2.2.4 Chân dung người phụ nữ từ góc nhìn văn hóa 61
CHƯƠNG 3: BIỂU TƯỢNG, NGÔN NGỮ TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC CHƯƠNG TRÌNH THCS TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA 69
3.1 Biểu tượng văn hoá 69
3.1.1 Khái quát về biểu tượng và biểu tượng văn hóa 69
3.1.2 Biểu tượng văn hóa làng quê 70
3.1.3 Biểu tượng lịch sử 74
3.1.4 Biểu tượng văn hóa tâm linh 78
3.2 Ngôn ngữ 82
3.2.1 Khái niệm về ngôn ngữ văn hóa 82
3.2.2 Ngôn ngữ văn học nhìn từ văn hóa 83
3.2.3 Trường từ vựng về văn hóa làng quê 83
3.2.4 Trường từ vựng về lịch sử và danh lam thắng cảnh 87
3.2.5 Trường từ vựng về văn hóa tâm linh 90
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thuật ngữ “phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “methodos” có nghĩa là con đường, công cụ nhận thức Bất kì ngành khoa học nào nếu tìm được đúng đường, chắc chắn sẽ thành công Với môn Văn, nếu như lý luận văn học trả lời cho câu hỏi
“Văn học là gì?”; lịch sử văn học trả lời câu hỏi “Một giai đoạn văn học diễn ra như thế nào?”; phê bình văn học trả lời câu hỏi “Hiện tượng văn học cụ thể này có giá trị gì?”; thì phương pháp luận nghiên cứu sẽ trả lời cho câu hỏi “Phải nghiên cứu văn học như thế nào?” Từ trong ý nghĩa đó, nghiên cứu văn học là nền tảng vô cùng quan trọng, có thể được xem là “chìa khóa” trong việc lý giải bản chất xã hội của văn học nghệ thuật cũng như các quá trình lịch sử của nó
Nghiên cứu văn học rất quan trọng, vận dụng đúng các phương pháp nghiên cứu văn học rất có ý nghĩa trong việc khai thác giá trị tác phẩm, khẳng định thành công của tác giả Hơn thế, nghiên cứu văn học còn là chìa khóa gốc để giải mã văn học, từ đó, giúp độc giả có sự tiếp nhận chủ động và sáng tạo “Văn bản tác phẩm là kết quả của sự hình thức hóa, phù hiệu hóa, vật chất hóa những suy tư, chiêm nghiệm của nhà văn về nhân tâm, thế sự” [19,331], “Văn học là gương mặt tiêu biểu của văn hóa nên năng lực cảm thụ văn học còn phải kết hợp với yêu cầu cao về năng lực phân tích, đánh giá” [19,346] Đọc tác phẩm, người tiếp nhận cần có cách nhìn nhận theo quan điểm biện chứng, có lập trường, quan điểm, ý thức giai cấp tiên tiến thì mới có thể trở thành “tri âm” của tác giả, mới phát hiện được những giá trị khách quan tối ưu của tác phẩm văn học “Người đọc văn học phải biết giải mã những hệ thống ký hiệu để thâm nhập được vào thế giới tình cảnh xã hội thẩm mỹ sâu thẳm bên trong Hơn nữa phải biết liên tưởng kết hợp thế giới tình cảm ấy với những trải nghiệm trong đời sống cá nhân, để đồng cảm hoặc thanh lọc… Xem ra không phải chỉ nghề viết, mà đọc văn cũng lắm công phu” [19,346]
“Ngữ văn là môn học mang tính công cụ và tính thẩm mĩ – nhân văn; giúp học sinh có phương tiện giao tiếp, làm cơ sở để học tập tất cả các môn học và hoạt động giáo dục khác trong nhà trường; đồng thời cũng là công cụ quan trọng để giáo dục học sinh những giá trị cao đẹp về văn hóa, văn học và ngôn ngữ dân tộc; phát triển ở học sinh những cảm xúc lành mạnh, tình cảm nhân văn, lối sống nhân ái, vị tha…” [32,3]
“Chương trình lấy việc rèn luyện các kỹ năng giao tiếp (đọc, viết, nói, nghe) làm trục chính xuyên suốt cả ba cấp học nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình theo định hướng năng lực, phát triển phẩm chất” [32,4] Các kiến thức Văn học phổ thông, các nền tảng tiếng Việt, văn học được hình thành qua hoạt động tiếp nhận và tạo lập văn bản Mục tiêu ấy đòi hỏi học sinh tự khám phá và kiến tạo tri thức cho bản thân đồng thời các em cần phải có năng lực đọc độc lập, tự đọc các văn bản là ngữ liệu trong Chương trình, đặc biệt phải có kỹ năng đọc - hiểu các tác phẩm tương tự ngoài ngữ liệu Sách giáo khoa Tuy nhiên, thực tế cho thấy, năng lực đọc hiểu văn bản của nhiều học
Trang 7sinh còn nhiều tồn tại, tình trạng chung là các em rất ngại đọc văn bản văn học, thường thụ động và có tâm lý trông chờ, phụ thuộc vào giáo viên và các tài liệu phân tích văn mẫu Khả năng tự đọc, tự khám phá tự hiểu một cách độc lập còn hạn chế Học sinh chưa thể tự mình trả lời được các câu hỏi: Tác phẩm này hay ở chỗ nào? Vì sao như thế
là hay và làm thế nào để thấy được cái hay, cái đẹp ấy nhất là khi gặp các tác phẩm chưa được học Do đó, để nâng cao năng lực nghiên cứu, tiếp nhận văn bản chương trình Ngữ văn THCS cho học sinh cũng như cho bản thân mỗi giáo viên Để việc cảm nhận văn học không dừng lại ở việc đọc chữ đơn thuần mà là quá trình mỗi độc giả có những rung cảm sâu sắc trước thế giới tư tưởng, tình cảm thẩm mỹ của nhà văn Để những dòng văn
có sức mạnh khai mở tầm nhìn, bồi đắp trí tuệ, nâng cao tâm hồn, chắp cánh ước mơ, kiến tạo nhân cách Để mỗi trang văn trở lại với cuộc đời, mang đến bừng tỉnh, thức ngộ, hướng người đọc đến với giá trị chân, thiện, mĩ thì rất cần tiếp tục có những hướng nghiên cứu, tiếp nhận văn học khoa học, phù hợp với đặc trưng của tác phẩm nghệ thuật, tầm đón nhận, đem lại hiệu quả cao
Là một thành tố của văn hóa, văn học phản ánh hiện thực thông qua lăng kính chủ quan của nhà văn nhưng sáng tạo văn học cũng chịu sự chi phối của văn hóa Có thể khẳng định, văn học Việt Nam đã miêu tả chân thực và sinh động về con người trên phương diện văn hóa Dù có biến thiên của lịch sử thì con người vẫn vẹn nguyên nhân cách văn hóa, thời đại chỉ giúp cho nhân cách tỏa sáng Với những tính chất như vậy, văn học và văn hóa có mối quan hệ mật thiết Văn học là một thành phần cấu trúc đồng thời cũng là một hiện tượng văn hóa Khi xem văn học là một hiện tượng văn hóa thì nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa là phương pháp cần thiết, có nhiều ý nghĩa đối với nghiên cứu văn học Phương pháp văn hóa học để nghiên cứu văn học sẽ là điều kiện để ghi nhận sự vận động của văn chương Sự vận động này cũng phù hợp với quy luật phát triển, mang những giá trị có tính nhân loại
Tác phẩm văn học được đưa vào chương trình giáo dục phổ thông nói chung, THCS nói riêng có nội hàm văn hóa sâu sắc Sở dĩ có hiện tượng này bởi lựa chọn ngữ liệu văn học đưa vào sách giáo khoa luôn là sự lựa chọn có định hướng – định hướng bồi dưỡng nhân cách cho học sinh Do đó, tác phẩm văn học trong chương trình THCS
là một đối tượng phù hợp với nghiên cứu văn học từ góc độ văn hóa Nghiên cứu văn học từ văn hóa là sự vận dụng, tiếp nối thành tựu của những nhà nghiên cứu đi trước để ứng dụng vào việc tiếp nhận ngữ liệu Ngữ văn THCS cụ thể Từ thực tiễn thử nghiệm, chúng tôi nhân thấy, nếu vận dụng một cách hệ thống, có sự xâu chuỗi, kết nối khoa học
sẽ mang đến những khám phá thú vị cho bộ môn Bởi vì, nó sẽ giúp giải mã, lí giải các vấn đề văn học toàn diện, sâu sắc, thuyết phục Tránh được sự phiến diện, một chiều, hoặc sự lí giải các vấn đề chỉ thuần túy mang tính chất của văn học hoặc lí giải hạn hẹp
ở những yếu tố bên ngoài Việc đọc – hiểu văn bản sẽ đúng phương pháp, người cảm thụ văn sẽ có tư duy của người làm khoa học, có như vậy mới không sai đường, lạc hướng Bên cạnh việc tiếp nhận văn học từ góc độ ngôn từ - phương diện thi pháp học
Trang 8(tìm vẻ đẹp của câu chữ, từ ngữ, kết cấu, hình tượng…) thì việc nghiên cứu văn học từ văn hóa đã gợi mở cho việc phân tích các ngữ liệu được lựa chọn trong chương trình THCS theo từ bình diện văn hóa (những yếu tố của văn học được xem xét, phân tích như nơi ẩn tàng, sự hóa thân của văn hóa với quan niệm giá trị, ý nghĩa sự kiện, biểu tượng, nhân vật tiêu biểu…) Vì thế, 60 văn bản được khảo sát, mặc dù thuộc nhiều giai đoạn văn học, nhiều tác giả, nhiều thể loại văn học khác nhau nhưng dưới góc nhìn văn hóa đã có sự kết nối thú vị với những khám phá sâu sắc Chúng tôi nhận thấy sự thống nhất tương đối giữa các giai đoạn văn học trong việc xây dựng hệ thống biểu tượng, nhân vật, các quan niệm giá trị… mà văn hóa như mạch ngầm tạo thành dòng chảy vừa
kế thừa vừa phát triển Vì vậy, nếu hướng đi này được triển khai và thực hiện phù hợp, chúng ta tìm được chìa khóa gốc, sẽ tiếp tục vận dụng thành tựu của những nhà nghiên cứu đã dày công tìm hiểu để xâu chuỗi, hệ thống, luận giải các vấn đề văn học Từ đó, rèn cho học sinh phương pháp đọc văn độc lập (đọc - hiểu các ngữ liệu trong và ngoài Sách giáo khoa), góp phần tích cực vào việc thực hiện chương trình GDPT 2018 Không dừng lại ở đó, việc nghiên cứu, tiếp nhận văn học từ góc nhìn văn hóa sẽ nâng cao nhận thức, bản lĩnh văn hóa cho độc giả trong việc trân trọng, giữ gìn và sáng tạo để làm phong phú hơn truyền thống văn hóa Việt Nam
mĩ của mỗi dân tộc Khẳng định vai trò của văn hóa, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban
chấp hành Trung ương Đảng khoá VII, 1993 khẳng định: “Văn học nghệ thuật là một bộ phận trọng yếu của nền văn hoá dân tộc, thể hiện khát vọng của nhân dân về chân – thiện – mĩ”
Văn hoá là nền tảng, động lực, mục tiêu của sự phát triển ở các quốc gia, vì vậy, nghiên cứu văn học từ văn hóa là việc làm quan trọng Ở Việt Nam, việc nghiên cứu văn học từ văn hóa diễn ra từ sớm với các hướng nghiên cứu phong phú và thú vị Ở hướng nghiên thứ nhất, các tác giả đặt ra sự ảnh hưởng của gia đình, quê hương, đặc điểm bản thân tới sáng tác của nhà văn (tức là mối quan hệ giữa yếu tố tiểu sử và tác phẩm vì “văn học là nhân học”, “văn học là tấm gương phản chiếu hiện thực xã hội”) Với hướng nghiên cứu này, các vấn đề trong tiểu sử tác giả, đặc tính, quan niệm cá nhân, yếu tố trong hoàn cảnh riêng, hoàn cảnh lịch sử xã hội chung đều là căn cứ để hiểu về tác phẩm Tuy nhiên, khi nghiên cứu theo hướng này, cũng cần tránh sự suy diễn, áp đặt theo ý chí của chủ quan người viết Ở hướng nghiên cứu thứ hai, các nhà nghiên cứu đặt ra ảnh hưởng của chủ đề, tư tưởng, hệ giá trị trong văn hóa đến tác phẩm Sử dụng các giá trị của văn hóa soi tỏ sáng tác văn học là hướng đi mới mẻ, khắc phục được sự biệt lập, cô lập hóa văn chương, cũng khắc phục việc phân tích văn
Trang 9chương chỉ giới hạn là sản phẩm của nghệ thuật ngôn từ Từ hướng nghiên cứu này, những vấn đề nhân nghĩa trong tác phẩm của Nguyễn Trãi, thuyết tài mệnh tương đố trong truyện Kiều… được lý giải thấu đáo hơn Ở hướng nghiên cứu thứ ba, các nhà nghiên cứu tìm hiểu bức tranh văn hóa xã hội ảnh hưởng đến tác phẩm Đó là sự khẳng định các giai đoạn văn hóa, các yếu tố về kinh tế, xã hội khác nhau đã chi phối hình tượng, biểu tượng nhân vật văn học như thế nào Ở hướng nghiên cứu thứ tư, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến các yếu tố ngôn ngữ, thi pháp, thẩm mỹ, biểu tượng văn hóa trong sáng tác văn học Theo đó, những khái niệm chữ “trung, hiếu, nước ” của Trung Hoa khi đến với Việt Nam đã bị “thanh lọc” qua tầng văn hóa bản địa và thấm nhuần dấu ấn bản địa Những vấn đề về thi pháp, biểu tượng văn hóa cũng giúp chúng ta khám phá được những vấn đề văn hóa trong các sáng tác văn học như các biểu tượng tâm linh, biểu tượng thiên nhiên, con người trong văn hóa đã có sự biến đổi, phát triển trong các tác phẩm văn học như thế nào Các công trình nghiên cứu tiêu biểu của các hướng nghiên cứu trên có thể kể đến như Trên dòng sông Vị, Hàn Mặc Tử - Trần Thanh Mại, Khảo luận Kim Vân Kiều truyện - Đào Duy Anh, Nguyễn Du và truyện Kiều - Trương Tửu, Nho giáo và văn học Việt Nam trung đại - Trần Đình Hượu, Hồ Xuân Hương, hoài niệm phồn thực - Đỗ Lai Thúy, Giải mã văn học từ mã văn hóa - Trần Lê Bảo, Phương pháp luận nghiên cứu văn học - Nguyễn Văn Dân, Phương pháp luận nghiên cứu văn học - Nguyễn Văn Hạnh, Văn học Trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa - Trần Nho Thìn, Nghiên cứu văn học dân gian từ mã văn hóa - Nguyễn Thị Bích Hà, Bản sắc văn hóa Việt Nam - Phan Ngọc…Kết quả trên đã tạo được tiền đề vững chắc, khơi mở hướng đi để chúng tôi xác lập phương pháp nghiên cứu văn học trong chương trình Ngữ văn THCS dưới góc nhìn văn hóa
2.2 Những nghiên cứu về tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn THCS từ góc nhìn văn hóa
Với nội dung nghiên cứu, tiếp nhận tác phẩm văn học chương trình THCS từ góc nhìn văn hóa, chúng tôi nhận thấy, có một số công trình nghiên cứu, một số luận án, luận văn đặt nền móng cho vấn đề nghiên cứu này
Về góc độ lý thuyết chung, công trình Phương pháp luận nghiên cứu văn học - Nguyễn Văn Dân khẳng định nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa là một phương pháp để tìm hiểu thế giới văn học một cách toàn diện Ông khẳng định: “Khi tiếp cận văn học từ nhiều hướng, ta có thể đặt hiện tượng văn học vào môi trường văn hóa để lý giải và đánh giá giá trị lịch sử của hiện tượng văn học đó” [5,288] Trần Lê Bảo lại đặt vấn đề nghiên cứu văn hóa trong các biểu tượng văn học
Ở bình diện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa, chúng tôi nhận thấy có một số công trình nghiên cứu Công trình Phương pháp tiếp cận văn hóa trong nghiên cứu giảng dạy văn học - Trần Nho Thìn gợi mở rất nhiều những vấn đề chuyên sâu, đã lý luận hóa một phương pháp nghiên cứu văn học từ văn hóa, soi
Trang 10chiếu từ phương diện văn hóa ứng xử của con người với thiên nhiên, con người với bản thân, con người với xã hội Công trình nghiên cứu cũng đặt ra những thao tác phân tích, giảng dạy văn học từ văn hóa, có sự liên hệ với một số văn bản được giảng dạy trong chương trình Ngữ văn nhưng mới chỉ tập trung ở các tác phẩm thuộc chương trình THPT Công trình Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa - Trần Nho Thìn
đã chọn góc độ văn hóa để luận giải các hiện tượng văn học Ví dụ chuyên luận “Lịch
sử và lịch sử chính trị có độc lập tương đối”, ông khẳng định hình thức văn học bao giờ cũng nằm trong những quan niệm mang tính văn hóa của một thời đại cụ thể Trong nội dung nghiên cứu về “Mô hình hai thế giới”, ông chỉ ra nguyên tắc ứng xử của con người với thế giới hiện thực và tâm linh Ở công trình này, ông cũng bàn luận về cách hành xử văn hóa của nhân vật nhà nho, cái tôi của tác giả, đặc điểm văn hóa Việt Nam cuối thế
kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, phương thức thể hiện nhân vật chính diện và phản diện là sản phẩm của quan niệm thẩm mỹ độc đáo… Hai công trình nghiên cứu này cho thấy dòng chảy văn hóa đã tạo nên mạch ngầm liên kết trong các giai đoạn văn học
Công trình nghiên cứu Tiếp cận văn học từ văn hóa - Phạm Văn Hóa bàn về một
số hình tượng, mô típ, hình ảnh… trong một số tác phẩm văn học và các đoạn trích ở chương trình văn học THPT cụ thể như mô típ sử thi và chân dung anh hùng, văn hóa
ẩm thực trong sử thi Tây Nguyên, ý thức nữ tính trong thơ Hồ Xuân Hương, nhân vật Thúy Kiều trong “Truyện Kiều” từ góc nhìn văn hóa…
Nghiên cứu văn học dân gian từ mã văn hóa - Nguyễn Thị Bích Hà, Biểu tượng trong thơ kháng chiến Việt Nam 1945-1975 - Nguyễn Thị Hường tập trung giải các mã văn hóa trong văn học dân gian, các biểu tượng trong văn học kháng chiến 1945-1975
Bộ công trình nghiên cứu đồ sộ về chín tác giả Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Ái Quốc, Nam Cao ngoài những bài phân tích về tác phẩm còn có nghiên cứu môi trường văn hóa gia đình, quê hương, dấu ấn lịch sử văn hóa chi phối tác phẩm Ví dụ trong cuốn Nguyễn Trãi, về tác gia và tác phẩm do Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn, giới thiệu, NXB Giáo dục in năm 1999, bài viết Nguyễn Trãi và nền văn hiến Đại Việt, tác giả Võ Nguyên Giáp đã làm rõ tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi Ví dụ trong cuốn Nguyễn Đình Chiểu, về tác gia và tác phẩm do Nguyễn Ngọc Thiện tuyển chọn, giới thiệu, NXB Giáo dục in năm 2001 có nhiều bài nghiên cứu thú vị: Ảnh hưởng tư tưởng nhân nghĩa đến Nguyễn Đình Chiểu, Đồ Chiểu với sự chuyển mình của văn hóa dân tộc, Từ tư tưởng nhân nghĩa đến chủ nghĩa yêu nước, hiện tượng Nguyễn Đình Chiểu trong văn hóa Việt Nam, Nguyễn Đình Chiểu, nhà văn hóa lớn… Từ những bài viết này, chúng ta hiểu được ảnh hưởng của lý tưởng Nho giáo và hiện thực xã hội chi phối các hình tượng thơ Nguyễn Đình Chiểu; mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa tư tưởng và thi pháp nghệ thuật; từ người anh hùng quân tử đến người anh hùng nông dân…
Một số công trình nghiên cứu về các tác gia lớn cũng tập trung khai thác, lý giải văn học từ góc độ thi pháp học để luận giải các vấn đề trong tác phẩm như về Nguyễn
Trang 11Du: Những thủ pháp nghệ thuật trong văn chương truyện Kiều – NXB Thanh niên, Phạm Đan Quế; Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều, NXB Thanh niên – Phan Ngọc Tác giả Nguyễn Trãi: Học tập thơ văn Nguyễn Trãi, NXB Giáo dục –
GS Lê Trí Viễn Thi pháp cốt truyện thơ Nôm và truyện Kiều – NXB Đại học Sư phạm – TS Nguyễn Thị Nhàn bàn về khái niệm truyện thơ Nôm, điều kiện ra đời, quá trình hình thành, diện mạo một số thể loại qua đó cũng bàn luận các vấn đề văn hóa trong thể loại truyện thơ Nôm…
Có hàng trăm luận án, luận văn cũng đã chủ động nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hóa như: Luận văn Truyện ngắn Nam Cao dưới góc nhìn văn hóa nông thôn - Cao Thị Thu Hằng, ĐH Sư phạm Thái Nguyên đã đề cập đến đặc điểm văn hóa nông thôn trong sáng tác của Nam Cao Luận văn Ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến từ góc nhìn văn hóa - Nguyễn Thị Thơm, Đại học Sư phạm Hà Nội đã trình bày những đặc trưng ngôn ngữ thơ Nôm của Nguyễn Khuyến mang những đặc trưng ngôn ngữ văn hóa Việt Nam Luận văn Hình tượng nhân vật trong “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ dưới góc nhìn văn hóa ứng xử giới - Huỳnh Hoàng Phương Uyên, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã lý giải những vấn đề ứng xử giới chi phối hình tượng nhân vật trong “Truyền kỳ mạn lục”…
Có thể khẳng định: Các công trình nghiên cứu, luận án, luận văn bước đầu xác lập các bước nghiên cứu và từng bước tiếp nhận các vấn đề về nội dung, nghệ thuật của tác phẩm văn học chương trình THPT từ góc nhìn văn hóa Mặc dù chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể, trực tiếp về các tác phẩm văn học chương trình THCS nhìn từ văn hóa, đặc biệt với những tác giả mới đưa vào Ngữ văn 6 bộ sách Cánh diều, Kết nối tri thức trong chương trình GDPT 2018 thì chưa có nhưng các công trình trên là tiền đề lý thuyết và thực tiễn vô cùng quan trọng giúp chúng tôi tiếp tục tìm hiểu, xác lập, xâu chuỗi các vấn đề về đề tài, chủ đề, thiên nhiên, con người, biểu tượng, ngôn ngữ văn học chương trình THCS từ góc nhìn văn hóa
Như vậy, có thể thấy, việc nghiên cứu, tiếp nhận tác phẩm văn học chương trình THCS từ góc nhìn văn hóa còn là một miền đất cần tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống để giúp chúng ta có nền tảng khoa học “nghiên cứu một cách hệ thống các nguyên tắc chỉ đạo việc thực hành nghiên cứu văn học cũng như nghiên cứu các phương pháp nghiên cứu văn học, phục vụ cho lý luận, lịch sử phê bình văn học” [5, tr.42], mang tới những hiểu biết mới cho văn học và cập nhật cách tiếp nhận văn học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Khái quát và tìm hiểu mối quan hệ giữa văn học và văn hóa dân tộc
Nhận diện, xác lập các bước phân tích tác phẩm văn học trong chương trình THCS từ góc nhìn văn hóa Từ đó, xâu chuỗi, hệ thống, khái quát một số phương diện văn hóa nổi bật được đề cập đến qua các ngữ liệu tiểu biểu Đồng thời khẳng định
Trang 12những tác phẩm văn chương kiệt xuất mang đậm dấu ấn văn hóa đã làm phong phú thêm cho nền văn học dân tộc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tác phẩm văn học trong chương trình THCS
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Sách giáo khoa lớp 6 – bộ sách Cánh Diều - Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, do tác giả Nguyễn Minh Thuyết tổng chủ biên; xuất bản năm
2021-2022;
Sách giáo khoa lớp 7,8,9 – Nhà xuất bản Giáo dục; do Nguyễn Khắc Phi tổng chủ
biên; xuất bản năm 2002-2003
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Các phương pháp chính bao gồm:
5.1 Phương pháp liên ngành: Đây là phương pháp xuyên suốt quá trình triển
khai luận văn Thực chất, vận dụng phương pháp này chính là vận dụng phối hợp các tri thức và phương pháp nghiên cứu của triết học, tôn giáo, lịch sử, nhân loại học, văn hóa học… nhằm giải thích văn học bằng các hệ tư tưởng có liên quan; thực hành cách “đọc” liên văn bản, cách phân tích diễn ngôn
5.2 Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Đây là phương pháp chủ đạo cho việc
triển khai toàn bộ luận án Vận dụng phương pháp này sẽ tìm hiểu dấu ấn của văn hóa trên bề mặt tác phẩm, sự xuyên thấm của góc nhìn văn hóa trong việc cấu trúc tác phẩm tạo nên những tư tưởng nghệ thuật mang tầm nhìn văn hóa sâu sắc và phân tích các hình thức biểu đạt bằng văn hóa
5.3 Phương pháp văn hóa – lịch sử: Phương pháp này có ý nghĩa quan trọng để
xác định các yếu tố thuộc về văn hóa thời đại trong các tác phẩm văn học thuộc chương trình Ngữ văn THCS
5.4 Phương pháp nghiên cứu thi pháp học: Phương pháp này cung cấp những
cơ sở lý thuyết về các yếu tố cấu thành tác phẩm văn học
Ngoài ra, các thao tác như tổng hợp, thống kê, phân loại, so sánh, phân tích cũng
sẽ góp phần quan trọng trong quá trình đọc tư liệu, khảo sát ngữ liệu và viết đề tài
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Từ góc độ nghiên cứu của mình, luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm mối quan
hệ giữa văn học và văn hóa dân tộc cũng như tính đúng đắn, khoa học của nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa trên cơ sở ngữ liệu văn bản văn học trong chương trình THCS
Trang 13Luận văn cũng góp thêm một cái nhìn có hệ thống về một số phương diện văn hóa nổi bật được đề cập đến qua các ngữ liệu tiểu biểu
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
7.2 Về mặt thực tiễn
Luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích trong công việc học tập, giảng dạy, nghiên cứu các tác phẩm văn học ở các trường Phổ thông
8 Kết cấu Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, thư mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Không gian, con người trong tác phẩm văn học chương trình THCS từ góc nhìn văn hóa
Chương 3: Biểu tượng, ngôn ngữ trong tác phẩm văn học chương trình THCS từ góc nhìn văn hóa
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Khái quát về nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa
1.1.1 Các thuật ngữ, khái niệm
1.1.1.1 Văn học
Văn học là hình thái ý thức xã hội, lấy con người làm đối tượng nhận thức trung tâm, lấy hình tượng làm phương thức biểu đạt nội dung và lấy ngôn từ làm chất liệu phản ánh, điều này đã tạo nên những đặc trưng độc đáo riêng của loại hình nghệ thuật này
Con người là đối tượng trung tâm nên văn học nhận thức, phản ánh con người trong sự tổng hợp, toàn vẹn, sống động giàu giá trị thẩm mỹ Những hình tượng văn học điển hình đã “truyền thông” về nhận thức chân lí khách quan, bộc
lộ tư tưởng và tình cảm, ước mơ và khát vọng của nhà văn đối với con người Do
đó, nội dung của văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
Lấy ngôn từ làm chất liệu, văn học đã mở rộng biên độ của mình, nó có khả năng tác động đến trí tuệ, tình cảm, tâm tư của con người Văn học chẳng những chiếm lĩnh được tất cả những gì cụ thể sinh động và cả những điều mơ hồ, vô hình, mong manh, trừu tượng nhưng có thật trong cảm giác của con người Văn học vượt qua mọi giới hạn về không gian, thời gian để phản ánh quá trình vận
biệt với cuộc sống, nhà văn được coi là “kỹ sư tâm hồn” bởi những tác phẩm chân chính luôn là “tấm gương” của một thời đại Văn học có chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm
mỹ, giao tiếp
1.1.1.2 Văn hóa
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau Từ
“văn hóa” khởi nguồn từ chữ Latinh với ý nghĩa gốc là: gieo trồng, giữ gìn, chăm sóc giá trị vật chất và tinh thần
Ở Phương Tây, khởi nguyên “văn hóa” dùng theo phương thức ghép nghĩa của tổ hợp từ như văn hóa ứng xử, văn hóa ngôn ngữ… Phổ biến và được công nhận rộng rãi nhất là quan điểm của UNESCO: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa hôm nay có thể coi
là tổng thể những nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng soi xét về
Trang 15bản thân Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý”
Ở Phương Đông, khái niệm văn hóa được hiểu theo cách triết tự tiếng Hán: Văn: đẹp; hóa: trở nên, biến cải, văn hóa là làm cho cái gì đó trở nên đẹp đẽ và có giá trị
Ở Việt Nam, khái niệm văn hóa được trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng
có nhiều điểm gặp gỡ với các quan niệm trên thế giới Theo nhà nghiên cứu Phan Ngọc
“văn hóa không phải là một hiện tượng cố định mà trái lại có sự chuyển biến” Chúng ta
có thể hiểu văn hóa bao gồm cả những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử [28] Theo Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” Văn hóa theo trường nghĩa rộng là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người
để từ đó hình thành lối sống, một thế ứng xử, một thái độ, tổng quát của con người về những vấn đề như vũ trụ, chuẩn mực, giá trị, biểu tượng, quan niệm… tạo nên phong cách diễn tả tri thức và nghệ thuật của con người [27] Theo PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và
xã hội của mình”
Trong cái nhìn tổng thể, chúng ta có thể thấy, văn hóa là một phức thể “bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, phong tục, pháp lý, tập quán và thói quen con người tiếp nhận được từ khi là thành viên của xã hội ấy” - E Tylor Văn hóa còn là giá trị cả
về vật chất và tinh thần, những chuẩn mực và ý nghĩa, những dấu ấn đặc trưng riêng của mỗi dân tộc Văn hóa còn là một tổng thể các ký hiệu, biểu tượng văn hóa Với tính chất là “Tiếng nói, ngôn ngữ” biểu đạt, “ngữ pháp sinh nghĩa” của văn hóa thể hiện bằng các ký hiệu và biểu tượng siêu mã đa nghĩa và bí ẩn sẽ chi phối cách ứng xử giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng có đặc thù riêng
1.1.2 Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa
1.1.2.1 Nghiên cứu, tiếp nhận văn học
Tiếp nhận văn học là quá trình khám phá, chiếm lĩnh giá trị tư tưởng, thẩm
mỹ của tác phẩm qua sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài năng tác giả Để có thể lý giải, cắt nghĩa, đánh giá đúng giá trị tác phẩm, chất lượng lao động nghệ thuật của nghệ
sỹ, người tiếp nhận cần có sự hiểu biết về đặc thù công việc của người “phu chữ”,
Trang 16có tình yêu thiết tha với tác phẩm, sự thận trọng tỉnh táo, độ trưởng thành, sự lịch lãm, thế giới quan, nhân sinh quan tích cực, sự sắc sảo, tinh tế để có tâm thế, tầm đón đợi cho một sự “nhập cuộc, sự dấn thân với nhà văn
Tác phẩm văn học là sản phẩm tinh thần, kết quả của hoạt động phản ánh, sáng tạo hiện thực cuộc sống bằng hình tượng, như thế, đọc văn chính là một quá trình tiếp nhận Bởi đó là sự nghiền ngẫm, tri âm, chiêm nghiệm, liên tưởng, tái hiện kết hợp với tư duy phân tích, tổng hợp, khái quát để hiểu mã (code) trong tác phẩm Đây là lao động khoa học phức tạp và đòi hỏi tính chủ động, sáng tạo Chương trình Ngữ văn THCS, dù là văn bản hoàn chỉnh hay đoạn trích thì những ngữ liệu được lựa chọn đều là những sáng tác tiêu biểu, mẫu mực của từng giai đoạn văn học Để nghiên cứu, tiếp nhận hiệu quả, đòi hỏi độc giả cần có sự tận tâm, nghiêm túc, với yêu cầu cao về lý thuyết, kỹ năng, cần phải rèn luyện nhiều tầng bậc từ mức độ đơn giản đến phức tạp để đọc văn đạt tới chân lý nghệ thuật nên hoạt động này còn được xem là năng lực văn hóa Đắm mình vào thế giới nghệ thuật, tập trung quan sát từng từ, dõi theo từng dấu câu, lắng lòng trong bản hòa tấu ngôn từ, người đọc sẽ có cuộc “du ngoạn tinh thần” vượt lên trên từ ngữ
và phóng chiếu lên bộ não thế giới nghệ thuật toàn vẹn, độc đáo, giàu ý nghĩa Khi cuộc “cộng tác” sáng tạo hoàn thành, độc giả sẽ nhận thấy tác động to lớn của văn chương đến con tim, khối óc, hành động của bản thân
1.1.2.2 Nghiên cứu văn học từ văn hóa
Văn học và văn hóa có mối quan hệ gắn bó mật thiết Văn học phản ánh, biểu hiện văn hóa trên nhiều bình diện, là một thành phần quan trọng của cấu trúc văn hóa, bản thân văn học cũng là văn hóa - văn hóa viết
Là sản phẩm của văn hóa, văn học chịu sự tác động của văn hóa và có chức năng
mô tả, phản ánh về bức tranh văn hóa của một thời đại, một giai đoạn lịch sử của mỗi dân tộc Bên trong mỗi tác phẩm văn chương, tính văn hóa được coi là tính chất đặc thù, căn cốt nhất Văn học là kết tinh cao nhất của văn hóa một dân tộc bởi nó là sản phẩm chung đúc giá trị sáng tạo mà con người sáng tạo ra trong suốt tiến trình lịch sử Mỗi nhà văn đều viết lên lịch sử tâm hồn văn hóa dân tộc mình bằng văn học Trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ mật thiết, văn hóa là nguồn cội, cung cấp chất liệu, vốn sống, tri thức, cảm hứng… cho sáng tác của nhà văn Vì thế, khi tiếp xúc với văn học là tiếp xúc nền văn hóa đa dạng và giàu bản sắc Nhà nghiên cứu văn học Nga nổi tiếng, Viện sĩ D.C.Likhachov từng nhấn mạnh: “Trong khi kiếm tìm những đặc điểm của nền văn hoá, trước hết chúng ta phải tìm hiểu sự trả lời ở văn học và chữ viết Văn học nói thay cho văn hóa dân tộc giống như con người nói thay cho tất cả những gì sống trong trái đất”
Trang 17M Bakhtin – nhà nghiên cứu triết học, văn học và các khoa học nhân văn – cho rằng:
“Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hoá Không thể hiểu nó ngoài cái mạch nguyên vẹn của toàn bộ văn hoá một thời đại trong đó nó tồn tại Không được tách nó khỏi các bộ phận khác của văn hoá”
Văn học và văn hóa có sự xuyên thấm trên nhiều bình diện Ở bình diện nội dung:
Đề tài văn học dù viết về phạm vi hiện thực nào thì ngoài việc lựa chọn theo sở trường, các nhà văn cũng luôn quan tâm tới thị hiếu của người đọc trong giai đoạn lịch sử văn hóa nhất định Với chủ đề: vấn đề cơ bản, trung tâm làm nên chiều sâu tư tưởng cho tác phẩm cũng là sự phản ánh trung thành những vấn đề của nội tại cuộc sống với đặc điểm nổi bật của quan hệ sản xuất, hình thái kinh tế Ở bình diện nghệ thuật, mỗi hình tượng, đều là “con đẻ” của thời đại Cùng với việc tạo ra giá trị vật chất, tinh thân, con người cũng sáng tạo ra ngôn ngữ Ngôn ngữ chính là văn hóa Sáng tác của nhà văn, dù viết theo thể loại truyền thống (lục bát, song thất lục bát) hay hiện đại (thơ tự do…) thì trong kết cấu thể loại cũng có dấu ấn tư duy của con người của một dân tộc cụ thể Đậm nét
và sâu sắc nhất chính là mỗi chân dung nhân vật từ ngoại hình đến tính cách đều được kết dệt lên từ dòng máu Việt Nam Từ trong bản chất, văn hóa đã chi phối mọi bình diện của văn học Như vậy, khi xem xét văn học là một hiện tượng văn hóa thì việc nghiên cứu văn học chính là hoạt động mà qua đó chúng ta tìm hiểu các vấn đề văn hóa trong tác phẩm như thiên nhiên, con người, xã hội, đồng thời cũng là tìm hiểu các kiểu đề tài, kiểu nhân vật, thể loại được hình thành, bị quy định bởi các quy luật văn hóa; đặc biệt chúng ta cũng nhìn nhận được phương tiện chuyển tải các giá trị văn hóa là các ký hiệu văn hóa, các biểu tượng, ngôn ngữ văn hóa
1.1.2.3 Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa ở Việt Nam
Từ mối quan hệ tổng thể - bộ phận, nghiên cứu văn học từ văn hóa là khi coi văn học là một bộ phận của văn hóa chúng ta sử dụng phương pháp liên ngành (dùng những kiến thức và phương pháp của văn hóa học để nghiên cứu văn học) Ngoài ra, khi coi văn học là văn hóa viết, người đọc sẽ nghiên cứu tác phẩm văn học trong không gian văn hóa; nghiên cứu tác phẩm văn học như một sản phẩm văn hóa viết với các chủ đề văn hóa, vấn đề của văn hóa, các giá trị văn hoá và nghiên cứu các hình thức biểu đạt của tác phẩm từ góc nhìn văn hóa (ngôn ngữ, biểu tượng ) Khi nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa, nó vẫn không xa rời phân tích văn bản văn học, nhưng các yếu tố của văn học được nhìn nhận như các phạm trù văn hóa: đề tài văn hóa, chủ đề văn hóa, ngôn ngữ văn hóa, biểu tượng văn hóa Phương pháp nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa phải cần thiết xem xét các nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm từ góc nhìn văn hóa Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa phải có tính tổng hợp để thấy các giá trị văn hóa và hình thức văn hóa của văn bản văn học Thao tác chung thường được sử
Trang 18dụng là mô tả, phân tích, cảm thụ các vấn đề của văn học trước, sau đó soi tỏ các vấn đề văn hóa là mạch ngầm nuôi dưỡng, chi phối, ẩn tàng trong chiều dọc, chiều ngang của tác phẩm để lý giải cặn kẽ các vấn đề đặt ra nơi sản phẩm nghệ thuật đó
1.2 Chương trình Ngữ văn THCS năm 2006 và năm 2018
Với tính chất là môn học mang tính tổng hợp, môn Ngữ văn gắn bó mật thiết với cuộc sống; giúp học sinh biết quan tâm, trân trọng, yêu mến hơn với đời sống thường nhật, biết liên hệ và có kĩ năng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn Nội dung cốt lõi của môn Ngữ văn (về tiếng Việt và văn học), đáp ứng các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh ở từng cấp học; được phân chia theo hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp
nay, môn Ngữ văn trong chương trình THCS đang thực hiện đồng thời hai chương trình: Chương trình năm 2006 với lớp 7,8,9 ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và đào tạo ngày 05 tháng 5 năm 2006: lấy quan điểm tích hợp ba phân môn: Văn, tiếng Việt, Tập làm văn để xây dựng nội dung chương trình, biên soạn SGK
và lựa chọn các phương pháp giảng dạy; tổ chức các hoạt động học tập của học sinh Có thể khẳng định, tính tích hợp là trụ cột trong dạy học tích cực đối với các môn học ở trường THPT, đặc biệt là môn Ngữ văn Chương trình năm 2018 thống nhất quan điểm chỉ đạo theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo thiết kế theo mô hình tích hợp, lấy thể loại, chủ đề, đề tài để xây dựng nền tảng phát triển năng lực ngôn ngữ và văn học (gồm kỹ năng đọc, viết, nói, nghe) và các năng lực chung, các phẩm chất chủ yếu cho học sinh
Trang 191.2.2 Lịch sử đổi mới phương pháp giảng dạy chương trình văn THCS năm 2006 và năm 2018
1.2.2.1 Chương trình giáo dục năm 2006
Đổi mới giáo dục phổ thông theo Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội là một quá trình đổi mới về nhiều lĩnh vực của giáo dục mà tâm điểm của quá trình này là đổi mới chương trình giáo dục từ Tiểu học tới Trung học phổ thông Theo đó, từ tháng
12 năm 2003, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức hoàn thiện bộ Chương trình giáo dục phổ thông làm căn cứ cho việc quản lí, chỉ đạo và tổ chức dạy học ở tất cả các cấp học, trường học trên phạm vi cả nước
Bộ Chương trình giáo dục phổ thông bao gồm: Những vấn đề chung; chương trình chuẩn của 23 môn học và hoạt động giáo dục; chương trình các cấp học: Chương trình Tiểu học, Chương trình Trung học cơ sở, Chương trình Trung học phổ thông Với môn Ngữ văn, như đã trình bày ở trên, chương trình lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo nhằm nâng cao năng lực sử dụng kiến thức và kĩ năng tiếng Việt, văn học mà HS lĩnh hội được để giải quyết những tình huống có giá trị thực tiễn Việc dạy học tích hợp sẽ tránh được những nội dung, kiến thức và kĩ năng trùng lặp, đồng thời lĩnh hội những nội dung, tri thức và năng lực mà mỗi môn học hay phân môn riêng rẽ không có được
1.2.2.2 Chương trình giáo dục năm 2018
Lấy mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trong Chương trình GDPT nói chung và chương trình Ngữ văn 2018 làm căn cứ để lựa chọn, tổ chức các nội dung học tập và hoạt động học tập của học sinh Môn Ngữ văn THCS lấy việc rèn luyện các
kĩ năng ngôn ngữ (đọc, viết, nói, nghe) làm trục chính để hướng tới mục tiêu trọng tâm, xuyên suốt là phát triển năng lực ngôn ngữ và văn học Biên soạn bài học theo hệ thống thể loại, kiểu văn bản kết hợp với chủ đề/đề tài để rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng sống, các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm Với quan điểm phát triển toàn diện, vững chắc phẩm chất, năng lực của người học, các hoạt động học tập đều tổ chức theo hướng tích cực và tăng cường thực hành, gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm lý, trình độ nhận thức, điều kiện học tập của học sinh
1.2.2.3 Giới thiệu hai bộ sách năm 2006 và năm 2018
* Bộ sách Ngữ văn năm 2006
Thời lượng: Phân phối chương trình Ngữ văn 2006 có 4 tiết/tuần x 35 tuần = 140 tiết Cấu trúc: Chương trình lấy sáu kiểu văn bản làm trục đồng quy: tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, hành chính - công vụ Nội dung ba phân môn tập trung rèn
Trang 20cho học sinh thành thạo bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, năng lực tiếp nhận và tạo lập sáu kiểu văn bản trên Mỗi đơn vị bài học dạy 4 tiết theo trình tự phân môn Văn học, tiếng Việt, Tập làm văn
Điểm mới của bộ sách: Tên gọi của bộ sách là Ngữ văn thể hiện một cách nổi bật điểm cải tiến căn bản trong xây dựng chương trình là quan điểm tích hợp để hình thành năng lực phân tích, bình giá, cảm thụ văn học với hình thành bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết Với hệ thống văn bản: tác phẩm được lựa chọn là những sáng tác tiêu biểu cho các thể loại ở các thời kỳ lịch sử Bên cạnh sáng tác văn học, một số văn bản nhật dụng được đưa vào chương trình với nội dung gần gũi đời sống, phù hợp với tâm lý lứa tuổi của học sinh Với phần tiếng Việt, nội dung vẫn là những vấn đề cơ bản nhưng kiến thức lý thuyết trình bày ngắn gọn, dễ hiểu, tăng luyện tập, thực hành Với phần Tập làm văn được chia thành sáu kiểu văn bản giúp học sinh nhận biết các phương thức biểu đạt
cụ thể và có thể thực hành viết các kiểu văn bản đó Ba phân môn đều chú trọng đến việc giúp học sinh biết cách đọc, cách viết, đề cao hoạt động học tập, có nhiều tình huống mở, có độ phân hóa để hình thành kỹ năng tự học, tự tìm hiểu và tích cực hóa hoạt động của người học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh do tác giả Nguyễn Minh Thuyết làm Tổng Chủ biên
Bộ sách đã cụ thể hóa một cách sinh động mục tiêu chỉ đạo của Chương trình Ngữ văn năm 2018
Thời lượng: Phân phối chương trình Ngữ văn 2018 có 4 tiết/tuần x 35 tuần = 140 tiết Trong đó, phân bổ thời lượng dành cho các kỹ năng đảm bảo tỷ lệ: đọc chiếm khoảng 63%; viết khoảng 22%, nói và nghe khoảng 10%, đánh giá định kì khoảng 5%
Trang 21Cấu trúc: Bài mở đầu (04 tiết); từ bài 1 đến bài 10 (mỗi bài 12 tiết) chia ra đọc - hiểu 6 đến 7 tiết, viết 3 tiết, nói và nghe 1 đến 2 tiết, tự đánh giá (làm ở nhà); ôn tập và tự đánh giá định kỳ gồm 8 tiết; cả năm có 8 tiết dự trữ Hệ thống văn bản gồm văn bản văn học, nghị luận, thông tin Thể loại văn bản truyện, thơ, kí, kịch Kiểu văn bản chỉ học các kiểu văn bản nghị luận và thông tin
Điểm mới của bộ sách: Tổ chức bài học theo hướng thực hành là chính để rèn cho học sinh năng lực đọc, viết, nói, nghe Bài học thiết kế theo một thể loại hoặc kiểu văn bản với các nội dung phong phú, phù hợp tâm lý lứa tuổi đồng thời phản ánh được thành tựu văn học, văn hóa dân tộc Hình thức sách đẹp, kênh hình trở thành các nội dung dạy và học
1.2.3 Những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu, giảng dạy Văn THCS hiện nay
Chúng ta đang sống trong thời đại Cách mạng mềm - cuộc cách mạng tri thức, ta thường gọi là cách mạng 4.0, nhiều thành tựu khoa học và công nghệ xuất hiện và đổi mới vô cùng nhanh chóng Thực hiện Quyết định số 161/2002/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ, năm học 2002-2003, chương trình GDPT được đổi mới một cách toàn diện
và triệt để nhất kể từ năm 1981 Mục tiêu của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông (GDPT), theo Nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc hội khóa IX, là nhằm: “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiếp cận trình độ GDPT ở các nước phát triển trong khu vực và thế giới” Theo đó, tăng cường tính thực tiễn, kỹ năng thực hành, năng lực tự học của học sinh là một trong những nhiệm vụ trọng yếu Với chương trình Ngữ văn 2006, như đã trình bày ở trên, việc dạy học theo quan điểm tích hợp giúp hình thành cho học sinh năng lực phân tích, bình giá và cảm thụ văn học với việc hình thành bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết Cùng với đó, trong mọi hoạt động tổ chức dạy học, người thầy phải phát huy tối đa tính tích cực, sáng tạo của người học ở tất cả mọi khâu Bắt đầu từ năm học 2021-2022, việc thực hiện CTGDPT2018 tiếp tục yêu cầu đổi mới đối với giáo dục Việc chuyển từ dạy nội dung sang dạy học phát triển phẩm chất, năng lực đòi hỏi sự thay đổi mạnh mẽ về phương pháp dạy học Với bộ môn Ngữ văn, giáo viên không thể nói say mê những điều mình biết mà quan trọng là hướng dẫn học sinh biết cách tiếp cận, nắm được cách tìm hiểu một văn bản theo đặc trưng thể loại Từ
đó, học sinh đọc độc lập, tự đọc được các văn bản – tác phẩm tương tự Với kỹ năng viết, học sinh được hướng dẫn kỹ thuật viết, tức là biết cách trình bày ý tưởng, viết sáng tạo và có sức thuyết phục Để đạt được yêu cầu đó, các bài học trong SGK Ngữ văn được thiết kế tăng cường yêu cầu thực hành Các yêu cầu của đọc, viết, nói, nghe đều giảm lý thuyết, tăng thực hành: thực hành đọc hiểu, thực hành viết, thực hành nói và nghe, đồng thời cũng yêu cầu học sinh liên hệ với thực tiễn, sử dụng vốn sống của bản
Trang 22thân để vận dụng giải quyết tình huống thực tiễn Với tinh thần đó, việc đề xuất nghiên cứu, tiếp nhận Ngữ văn THCS từ góc nhìn văn hoá mà chúng tôi đề xuất trong Luận văn
này là một hướng đi phù hợp
Tiểu kết chương 1:
Như vậy, đã có một số các công trình nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa Đây là hướng nghiên cứu được các tác giả sớm quan tâm cả ở trên thế giới và ở Việt Nam Tuy nhiên, vẫn cần xác lập các bước tiếp cận rạch ròi, khoa học để việc “đọc” và dạy tác phẩm hiệu quả
Các nghiên cứu, tiếp cận văn học THCS từ văn hóa chủ yếu tập trung trên phương diện chủ đề, đề tài, hình thức thể hiện ở tác phẩm lớn Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu ở trên thực sự mở ra những tiền đề, nền móng, những gợi dẫn thú vị để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu, tiếp nhận, thiết lập các bước “đọc” văn bản và xâu chuỗi một cách có hệ thống giá trị văn hóa trong các tác phẩm thuộc chương trình Ngữ văn THCS
Trang 23CHƯƠNG 2: KHÔNG GIAN, CON NGƯỜI TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC
CHƯƠNG TRÌNH THCS TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
Như đã giới thuyết ở phần Mở đầu, trong luận văn này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát các biểu hiện của giá trị văn hoá được thể hiện trong 4 bộ sách giáo khoa Ngữ
văn bậc THCS với tổng số 60 văn bản tác phẩm văn học thuộc chương trình Ngữ văn
bậc THCS trong đó: Ngữ văn 6 tập 1, NXB ĐHSP TPHCM, Tổng chủ biên Nguyễn Minh Thuyết (bộ Cánh Diều), năm 2021: 12 văn bản Ngữ văn 7, NXB GD năm 2002, Tổng chủ biên Nguyễn Khắc Phi: 19 văn bản Ngữ văn 8, NXB GD năm 2002, Tổng chủ biên Nguyễn Khắc Phi: 13 văn bản Ngữ văn 9, NXB GD năm 2002, Tổng chủ biên Nguyễn Khắc Phi: 16 văn bản
60 tác phẩm với sự phong phú về đề tài, chủ đề, biểu tượng, ngôn ngữ đã phản ánh mọi sắc thái, diện mạo văn hóa Việt Nam Trong dung lượng có hạn của luận văn, chúng tôi xin được tập trung phân tích, lý giải một số phương diện: không gian, con người trong tác phẩm văn học chương trình THCS từ góc nhìn văn hóa
2.1 Không gian văn hoá
2.1.1 Khái niệm không gian văn hóa
Không gian là “Khoảng không gian bao trùm mọi vật xung quanh con người” [20, tr.645] Đó là “khoảng không, cái quan niệm về bốn phương, trên dưới, ngắn dài,
xa gần, trái với thời gian” [1, tr 467] “Nếu như không gian địa lý bao gồm vùng đất, trời, sông, núi, biển đảo liên quan đến quá trình lao động sản xuất và khu vực cư trú của một tộc người, thì không gian văn hóa bao gồm cả không gian địa lý, không gian xã hội, không gian tâm linh” [26, tr.45]
Không gian địa lý, không gian sinh tồn chỉ bao gồm những gì hiện hữu xung quanh con người Ngược lại, không gian văn hóa là sự hội tụ của ba trục trong một hệ toạ độ gồm không gian, thời gian và tâm linh Trong không gian văn hóa luôn diễn ra sự giao hòa giữa con người với môi trường họ đang sinh sống, với các thành viên trong cộng đồng xã hội và với các đấng siêu nhiên, tạo nên sự cân bằng trong đời sống Nó không chỉ gồm những gì đang hiện hữu, mà còn gồm những ký ức của cộng đồng từ quá khứ đến hiện tại, góp phần tạo nên bản sắc và truyền thống văn hóa dân tộc, đồng thời bao gồm cả những ham muốn, khát vọng, niềm tin, sự tôn thờ của con người Như vậy, không gian văn hóa dùng để chỉ phạm vi không gian mà ở đó, các chủ thể xây dựng nền văn hóa của mình Đó là một vùng địa lý xác định, mà ở đó một hiện tượng hay một tổ hợp hiện tượng văn hóa nảy sinh, tồn tại, biến đổi và liên kết với nhau
Trên cơ sở các cách hiểu về khái niệm này, chúng ta có thể hình dung được không gian văn hóa là môi trường văn hóa đặc sắc gắn liền với một không gian cụ thể nào đó, một vùng lãnh thổ cụ thể nào đó, một cộng đồng người cụ thể nào đó, trong một khoảng thời gian cụ thể nào đó…Trong giới hạn của luận văn này, chúng tôi xác định
Trang 24không gian văn hoá gắn với các biểu hiện cụ thể như phong cảnh thiên nhiên, phong cảnh sinh hoạt, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử…nơi chứa đựng các nét đặc trưng trong bản sắc văn hoá của con người mà đặc biệt là người Việt Qua khảo sát chương trình Ngữ văn THCS với tổng số 60 văn bản văn học, chúng tôi nhận thấy bộ sách giáo khoa mới đã có sự thay đổi so với bộ sách giáo khoa trước đây Trong nhiều nội dung thay đổi, các tác phẩm được lựa chọn đã chú trọng đến những vấn đề văn hóa gần gũi và
có dành vị trí đặc biệt với 48/60 tác phẩm có chứa đựng yếu tố gắn với không gian văn hoá Đó là không gian thiên nhiên, không gian sinh hoạt, không gian lịch sử, danh lam thắng cảnh mang đặc trưng hồn cốt của mọi miền, mọi mùa trên đất nước Việt Nam Có thể khái quát những vấn đề văn hóa chính được gợi nhắc tới trong các văn bản trên trong bảng 2.1 dưới đây:
Khảo sát các tác phẩm phản ánh không gian văn hoá Việt Nam
5 10,42
Trang 254 Không gian sinh
hoạt là quan niệm
về lối sống giản
dị, thanh cao
mang cốt cách
của người dân
Việt; không gian
gợi phong tục độc
đáo
Đức tính giản dị của bác Hồ - Phạm Văn Đồng, Phong cách Hồ Chí Minh – Lê Anh Trà, Mùa xuân của tôi – Vũ Bằng, Ông đồ
Hồ Chí Minh, Chiếu dời đô – Lý Công Uẩn, Viếng lăng Bác – Viễn Phương, Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật, Những ngôi sao xa xôi – Lê Minh Khuê
9 18,75
2.1.2 Không gian vũ trụ
Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy trong các tác phẩm văn học chương tình THCS, không gian vũ trụ cũng là một không gian tiêu biểu Đó là không gian vô cùng vô tận thường gợi lên chiều kích bao la, khoáng đạt, rộng lớn thường được tác giả sử dụng để thể hiện tâm trạng nhân vật chính diện, chí khí, cốt cách của bậc anh hùng hoặc thể hiện tâm tư ẩn dật của bậc kẻ sĩ đã tạo nên thi pháp đặc trưng của văn học
Trong một không gian luôn tổ chức thành hai cực đối xứng theo các cặp phạm trù:
vị trí (trên/dưới); màu sắc, mùi vị; âm thanh; địa điểm (xa/gần) Đó là đặc trưng tiêu biểu của mô hình vũ trụ luận phương Đông Mô hình đó phù hợp với lối sống trọng tình, tâm hồn lạc quan, lãng mạn, yêu đời, trân quý cuộc sống, luôn phơi phới niềm tin, hi
Trang 26vọng của người Việt Nam Không gian vũ trụ là không gian phổ biến của văn học trung đại trở thành thi pháp khi miêu tả nhân vật chính diện Nguyễn Du đã rất thành công khi đặt nhân vật Thúy Kiều – nhân vật chính diện trong không gian đối xứng như thế:
“Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,/Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung/Bốn bề bát ngát
xa trông/Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia”
Hình ảnh thơ có hình thức đối xứng không gian cao/gần; rộng/hẹp; trên/dưới, cao/thấp tạo thành thế bè đôi như cung bậc dìu dặt tấu lên khúc hát nội tâm của con người Đã bốn bề, lại bát ngát, lại xa trông, hình ảnh cát vàng, cồn nọ, dặm kia làm cho không gian như được mở ra đến tận cùng mênh mông, rợn ngợp, một bên là lầu Ngưng Bích như một chấm nhỏ giữa thiên nhiên trơ trọi đã đánh thức tâm trạng bơ vơ, lạc lõng, thân phận đơn côi, bé nhỏ của người con vừa phải xa gia đình Không một bóng người, không một sự chia sẻ, chỉ có thiên nhiên làm bạn, chỉ có mình đối diện với mình, thật là chua xót Phép đối xứng tạo nên hiệu quả thẩm mỹ để làm nổi bật tâm trạng con người Điểm độc đáo nhất trong các dạng thức đối xứng không gian ở thơ trung đại, chính là đối xứng trời/đất và sông núi để làm nổi bật chí khí, cốt cách của bậc anh hùng Với tư duy của văn hóa phương Đông, núi sông là hai hiện tượng thiên nhiên vĩ đại và trường cửu Không gian thiêng và kì vĩ đó, là ngọn nguồn sinh ra nhân cách nhà nho, một mẫu người lý tưởng của văn học trung đại- người cao quý, bậc tài hoa Lấy thiên nhiên là trung tâm, trong tâm thế của con người hàm ơn trời đất thì cặp phạm trù trời/đất, núi/sông trở thành một đỉnh cao để đo tầm vóc con người Những bậc kỳ tài, có phẩm chất lỗi lạc, phi thường chính bởi vì được trời/đất, núi/sông ưu ái phú cho khí thiêng, nhờ đó mới có phẩm chất hơn người Nhờ sự ưu ái này mà bậc tài ba lỗi lạc được gọi là “thiên tài” – tài do trời phú cho Một người quan niệm được trời đất, núi sông ưu ái phú cho tài năng, nhân cách thì người đó tự giác xem sự ưu ái là một món
nợ cần phải trả, trả nợ bằng cách nào? Bằng cách lập công danh, sự nghiệp Và hình tượng những người anh hùng chiến đấu, hi sinh cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước, cho các cuộc đấu tranh chống các thế lực bào tàn thường được đặt vào không gian trời đất, núi sông
Quan niệm đó sau này ta bắt gặp nhiều trong thơ chống Pháp, chống Mỹ nhưng đó
là không gian mang cảm quan của thời đại mới Bài Đồng chí – Chính Hữu - Ngữ văn 9 tập 1, 129:
“Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo”
Không gian hoạt động của người chiến sĩ cách mạng lúc này là rừng hoang, trời khuya Đó là hoàn cảnh chiến đấu hết sức gian khổ, tầm vóc người chiến sỹ vụt sáng như thành đồng vách sắt trước quân thù trong tư thế “chờ giặc tới” Bức tranh tĩnh nhưng ý chí giết thù chờ giặc không tĩnh Bức tranh lạnh bởi rừng hoang sương muối
Trang 27nhưng lòng người không lạnh Hình ảnh thiên nhiên đã nâng tầm vóc của người chiến
sĩ, gợi tả sự nghiệp cao cả, vĩ đại mà người anh hùng giữ trọng trách chính là biểu tượng
“Đầu súng trăng treo” Cụm từ bốn chữ, đăng đối, giàu sức tạo hình vừa mang nét tâm hồn thâm trầm, kín đáo thiên về sự tĩnh lặng trong cốt cách văn hóa của Chính Hữu, vừa
là tuyên ngôn về thơ của ông “Làm thơ không cần thiết phải làm nhiều, làm nhanh rồi làm ẩu” Nhưng trong đặc trung thi pháp thơ hàm súc, cô đọng của nhà thơ Hà Tĩnh cũng “chứa chở” trong đó mạch ngầm của sự vận động trong văn hóa
Tư tưởng văn hóa truyền thống xưa vẫn là chất kết dính các hình tượng nghệ thuật nhưng mỗi hình tượng mang hơi thở mới của hoàn cảnh lịch sử, dấu ấn xã hội Giang sơn gấm vóc vẫn là không gian vũ trụ - một kí hiệu văn hóa độc đáo Đất nước vẫn kì
vĩ, lớn lao nhưng trong vai trò của con người làm chủ thiên nhiên, vũ trụ trở nên gần gũi, con người cũng không còn nặng tính ước lệ của văn chương trung đại mà đó là những người bình dị, đời thường Họ có thể là người nông dân, học sinh, sinh viên vừa rời ghế nhà trường, họ có thể là già, trẻ, gái trai Chúng ta bắt gặp điều đó qua hình ảnh
“Ung dung buồng lái ta ngồi/Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng/Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng/Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim” của những người lính lái xe Và không gian vũ trụ với hình ảnh thiên nhiên bình dị, gần gũi giàu sức biểu tượng lại trở thành quan niệm, lý tưởng sống cao đẹp của những con người thế kỷ XX nguyện cống hiến tuổi trẻ, thanh xuân, trí tuệ cho đất nước “Một mùa xuân nho nhỏ/Lặng lẽ dâng cho đời/Dù là tuổi hai mươi/Dù là khi tóc bạc”
Thiên nhiên đã có vị trị đặc biệt trang trọng trong đời sống con người trở thành điểm tựa cho vị thế tâm tư ẩn dật của kẻ sĩ Với nhà nho hoạt động chính trị, thiên nhiên mang trở thành “sứ giả truyền tin” cho quan niệm về hệ giá trị Nhà nho chủ trương nhập thế nhưng không coi xã hội là mục đích, là cứu cánh “Các nhà Nho theo quan niệm xuất xử của Nho giáo – gặp thời thịnh thì ra làm việc, phò vua giúp nước, gặp thời loạn thì lui về ở ẩn, lấy thiên nhiên di dưỡng tính tình” [17, tr.53] Vì thế, trong sáng tác của nhà nho ẩn dật, không có hình bóng cuộc sống xã hội, chỉ có cái Tôi kiêu hãnh và môi trường thiên nhiên Tâm giao, tri kỷ với thi sỹ, thiên nhiên “nghe” được những suy nghĩ về đời, về thân thế, về kinh nghiệm ứng xử của nhà nho với đời
Đến thế kỷ XIX, trong hoàn cảnh lịch sử xã hội mới, Nguyễn Đình Chiểu cũng viết lên những lời thơ đầy trăn trở Thời đại, xã hội đời thường đã ùa vào trong thơ thật gần gũi, vẻ đẹp của cuộc sống dân quê thôn giã, thanh trong Đoạn trích Lục Vân Tiên gặp nạn – Ngữ văn 9 tập 1 gợi tả tâm hồn thanh cao của ông Ngư được khúc xạ qua sông dài, biển rộng, trời cao Cuộc đời ông vui thú với doi, vịnh, chích, đầm, lấy bầu trời, lấy Hàn Giang làm nơi vẫy vùng, tìm nguồn vui sống Gió, trăng, con thuyền, dòng sông làm bầu bạn Cuộc sống với công việc chài lưới thanh bạch biết bao Không gian sông nước đã vẽ lên chân dung con người với tuyên ngôn đẹp về lẽ sống của một nhà nho, một kẻ sĩ chân chính đang sống giữa thời loạn lạc Người dân sống trong nền văn hóa nông nghiệp sinh ra đã gắn bó với thiên nhiên, cảm hứng thiên nhiên trữ tình dào
Trang 28dạt tạo nên sắc điệu thẩm mĩ sáng giá, biểu hiện một cách tuyệt đẹp tâm hồn trong sáng, thanh cao và phong thái ung dung của ông Ngư Thế nên, chỉ với con thuyền trôi giữa dòng sông rộng mà đem lại niềm hạnh phúc, ông lấy mưa làm nước rửa thần mình, lấy gió để chải tóc, vuốt râu Cuộc sống bình yên, thung dung đó thật khác biệt với những toan tính nhỏ nhen, chạy theo công danh, với những tranh giành dẫm đạp lên nhau mà sống ở ngoài kia Từ cách ứng xử của nhà nho Nguyễn Đình Chiểu, ta thấy quá trình vận động của văn hóa Cũng là trở về với thiên nhiên nhưng ngư ông trong thơ, thiên nhiên ríu rít sự sống, thiên nhiên vấn vít với cuộc đời
Vận dụng quan niệm triết học theo mô hình vũ trụ luận, thiên nhiên đã trở thành thi pháp miêu tả con người trong văn học trung đại Trong vai trò như một ký hiệu của nhân cách cao quý, đối lập với thế giới phàm tục, bụi hồn đi vào thơ ca rất tinh tế trở thành bút pháp ước lệ miêu tả nhân vật chính diện:
“Mai cốt cách, tuyết tinh thần Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang Hoa cười, ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”
– Chị em Thúy Kiều, Nguyễn Du Những ước lệ của văn chương cổ đi vào câu chữ của Nguyễn Du với biết bao tình cảm mến yêu, trân trọng, Nguyễn Du đã thể hiện thật tài hoa vẻ đẹp tươi tắn, trẻ trung của một cô gái đang độ trăng tròn Ở Vân cũng khẳng định ngay từ câu thơ đầu cái điểm hơn người: vẻ đẹp phúc hậu, đoan trang khác vời hiển hiện ở khuôn mặt tròn đầy, ngời sáng như vầng trăng đêm rằm, đôi lông mày cân đối, sắc nét như con ngài Hiện diện trên khuôn mặt tươi sáng ấy là nụ cười tươi thắm như hoa, giọng nói trong trẻo như ngọc Không những thế, nàng có một suối tóc dài óng ả, mềm mượt (nước tóc) hơn mây
và làn da mịn màng, trắng hơn cả tuyết Một vẻ đẹp hoàn hảo, cao sang, quý phái! Sắc đẹp của Thúy Vân sánh ngang với những nét kiều diễm, sáng trong của trăng, hoa, ngọc, tuyết,… toàn những báu vật tinh khôi, trong trẻo của đất trời Chỉ thoáng nhìn hình dáng, thoáng nghe Vân chuyện trò, chũng ta cũng dễ dàng cảm nhận được tất cả sự dịu dàng, đoan trang của một cô gái khuê các Bút pháp ước lệ với hình ảnh thiên nhiên vĩnh hằng gợi tả được chân dung Thúy Vân quý phái, phúc hậu Nét vẽ với quan niệm truyền thống văn hóa phương Đông lấy thiên nhiên làm thước đo vẻ đẹp, nhân cách nhân vật chính diện được thiên tài Nguyễn Du khắc họa thành công qua nhân vật Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải… đã trở thành thi pháp đặc trưng mang quan điểm thẩm mỹ lấy thiên nhiên là nhân cách của con người
2.1.3 Không gian bốn mùa
Nền văn hóa nông nghiệp lúa nước đã gieo trồng không chỉ nền văn minh nông nghiệp mà là mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng tình người trên đất ấy Mô hình vũ trụ phương Đông với triết lý thiên nhân tương cảm, “khí tồn tại trong cảnh vật, cây cỏ, con
Trang 29người Tất cả chung một nhịp đập, một tần số giống nhau Con người phải hành động ứng xử phù hợp với nhịp đập của cái toàn thể đó” [22, tr.333] Đó là đạo Trời âm dương, đạo đất cương nhu, đạo người nhân nghĩa Nguyên lý “tức cảnh sinh tình, hoài cổ” vì thế chi phối cảm xúc của các thi nhân Chương trình Ngữ văn THCS có 06 tác phẩm viết về các mùa: xuân, hạ, thu thì mùa xuân chiếm số lượng nhiều nhất (03) văn bản Đặc trưng của mùa xuân miền Bắc trong ngòi bút của đại thi hào Nguyễn Du là hình ảnh cánh én, cành lê Thi pháp văn học trung đại, tinh hoa văn hóa của vùng đất Hà Tĩnh quê cha, Thái Bình quê mẹ, nền văn hiến Thăng Long đã hội tụ và tỏa sắc trong không gian đầy đủ cung bậc của hương, của hoa, của trời, của đất:
“Ngày xuân con én đưa thoi Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi Văn hóa phương Đông quan niệm “Khí là chất liệu gốc, là bản nguyên cấu tạo nên
sự sống trong con người và vũ trụ” [23, tr.113] vì thế, ta ở đây có sự hòa nhịp của tâm hồn thi nhân với cảnh vật “Ánh thiều quang” - ánh sáng tươi đẹp - đang rọi chiếu lên toàn cảnh vật Khí xuân nhuần thấm trong cảnh vật tạo một cảm giác tươi vui Mùa xuân qua cái nhìn của tuổi trẻ càng thêm rạo rực sự sống Nhưng thiên nhiên cũng là thước đo nhịp chuyển vần của tạo hóa, làm tâm hồn người rung lên cung bậc tiếc nuối, xót xa, hoài cổ trước sự chảy trôi của thời gian Có lẽ, cảm xúc về cuộc đời ngắn ngủi
và cái chết tất yếu ám ảnh tất cả các văn nhân xưa vậy nên xuân tàn, thu đến, lá rụng… những khoảnh khắc chuyển mùa đó đã rung lên trong tâm hồn thi nhân nỗi niềm bi thương Như thế, từ cảnh xuân, nhà thơ bày tỏ “tình” với nhân thế Thế kỷ XVIII, xã hội đổi thay, chữ “tình”, không phải cái tình dân nước lớn lao mà đó là tinh thần nhân đạo, rất con người, chữ tình dành cho những đấng bậc tài hoa
Lối sống hòa hợp với thiên nhiên đã làm nhãn quan của con người thêm tinh sâu
“cảnh vật chuyển động thì lòng người cũng biến thiên” [11, tr.92] thi nhân vì cảm vật đã
có gió xuân thổi mát rượi lòng người Đó là cái mát lành trong trẻo, cái thanh bình yên ả
mà chính đồng cỏ xanh mang lại “Cành lê trắng điểm” nhã nhặn, tinh khôi và trong trẻo như sự trong thanh khiết của tâm hồn chị em Thuý Kiều khi đi tảo mộ thanh minh Cành
lê trắng trỗi dậy, bung nở, nhẹ nhàng đem sắc trắng, màu sắc của sự tinh khôi gieo lộc
Trang 30lên cỏ cây hoa lá Cành lê trắng mỏng manh, ngọn cỏ non mềm mượt, cảnh xôn xao nhựa sống nhưng lòng người cũng trào dâng linh cảm về sự xót thương vì những cảnh đẹp, tinh khôi như thế liệu có bị quần nát dưới chân người và vó ngựa trong ngày hội đạp thanh? Thế mới hay, cảnh xuân quê hương với sắc hương Việt đã kích hoạt cảm xúc tương giao giữa thi nhân và độc giả
Quan niệm thẩm mỹ “tức cảnh sinh tình”, “hoài cổ” trong những trang thơ viết về thiên nhiên đã tiếp tục mạch nguồn và có sự sáng tạo Đất nước bị chia cắt, tác giả đang sống ở cùng kiểm soát của Mỹ - Ngụy, xa cách quê hương mấy chục năm trời, Vũ Bằng
đã mượn trang văn để gửi nỗi niềm nhớ quê da diết Tâm lý chung của người con xa quê, ngày Tết ai cũng mong ngóng được đoạn tụ với gia đình Tiếng tơ lòng đó, trong hoàn cảnh của Vũ Bằng càng thêm da diết, khắc khoải Niềm nhớ quê là mối “tình” ăm
ắp trong mỗi lời, mỗi tiếng Phong cảnh thiên nhiên đượm phong vị văn hóa với “đặc sản” riêng Tiếng nhạn da diết, khắc khoải tiếng ân tình thủy chung Và đêm mùa xuân, không bình thường, đó là đêm xanh Cách cảm hiểu, miêu tả rất riêng mà chỉ người dân miền Bắc mới có sự dùng từ như vậy Bởi chúng ta đều biết, “thanh xuân” trong tiếng Hán có nghĩa là mùa xuân xanh tốt, tươi đẹp (nghĩa 1), cũng chỉ tuổi trẻ hay tuổi đời
(nghĩa 2) Khi xưa, cụ Nguyễn Du từng gọi cỏ bằng tính từ “thanh”: “Lễ là tảo mộ, hội là
đạp thanh” Viết về tuổi trẻ, cụ Nguyễn cũng dùng cách này: “Một chàng vừa trạc thanh xuân” (Nguyễn Du) Sau này, Mùa xuân xanh do Nguyễn Bính (1918-1966) sáng tác năm
1937 có màu xanh của cái thắt lưng xanh Khi tim ta tràn đầy sức xuân, khi nhãn quan của
ta ăm ắp cách cảm, cách nghĩ của người dân sống trong nền văn minh lúa nước thì trái tim
ta luôn trẻ, luôn phơi phới sức xuân để ta nghe được dòng nhựa sống đang chuyển mình trong cây cối, ta cảm được đất trời cũng nhuần thấm hương xuân nên tiếng nhạn kêu trong đêm xuân là cách nói theo lối nghĩ của người dân nền văn hóa nông nghiệp Gặp lúc tâm hồn trẻ trung, sức xuân đang thắm lên trong làn da, thớ thịt thì tiếng hát trở nên xao động, rất tình: “Gặp lúc trăng thanh gió mát, Thú vui nào bằng thú hát huê tình.” (Ca dao) Mùa xuân miền Bắc rộn ràng thanh sắc một vùng quê lúa bởi tiếng hoan ca của tiếng trống chèo Cuộc sống thôn dã, bình dị của quê hương thêm xuân sắc hơn bởi trống chèo Mùa xuân thường gắn với lễ hội Sau những ngày mùa nặng nhọc, chiếu chèo quê với những câu chuyện cổ tích, huyền thoại hay những chi tiết hài trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu Hát chèo ngày xuân đem tới tiếng cười để bồi đắp, kiến tạo trong tâm hồn con người niềm tin vào sự may mắn, đem đến một mùa xuân tưng bừng, rộn ràng, ấm no Chiếu chèo xưa - khát vọng của ngày xuân trở thành nét văn hóa rất riêng mà Vũ Bằng xa quê luôn nhớ Cảnh xuân nay của Vũ Bằng vẫn tiếp tục mạch nguyên lý “tức cảnh sinh tình” nhưng chữ “tình” của con người thế kỷ XX là tình yêu, nỗi nhớ của cái tôi cá nhân dành cho quê hương với sự “hoài cổ”, khắc khoải nhớ mong mang hơi thở thời đại, không phải tiếc triều đại xưa, cảnh xưa mà là niềm nhắc nhớ, tự hào về những bản sắc văn hóa dân tộc Như thế,
Trang 31ở thời điểm hiện tại, nhớ về quê hương với bản sắc riêng (hoài cổ) đã trở thành động lực tinh thần để tác giả thêm niềm tin vào cách mạng
Lời chung đúc của đại thi hào Nguyễn Du trong truyện Kiều “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” đã trở thành chân lý bởi cụ Nguyễn đã nắm bắt được đúng cái thần thái, điệu hồn của người dân xử sở nông nghiệp Những người luôn chịu ơn bà mẹ thiên nhiên nên chảy trong huyết mạch của họ cũng chính là mạch chuyển vần của thiên nhiên xứ sở Lý tưởng nhân sinh tối cao hài hòa thiên – nhân không chỉ phản chiếu trong văn học trung đại mà cũng mùa xuân ấy, nơi
xứ Huế mộng mơ, trong dòng chảy của văn học hiện đại, nhịp tâm tưởng đồng hành thiên – nhân vẫn còn hòa nhịp Trong văn bản Mùa xuân nho nhỏ trong SGK Ngữ Văn lớp 9, chúng ta có thể thấy rõ không gian văn hoá gắn với mảnh đất cố đô Huế - “cái cầu nối Bắc - Nam, con kênh chuyển tải văn hóa Thăng Long vào châu thổ sông Cửu Long thật đẹp và nên thơ” [3,186]
“Mọc giữa dòng sông xanh/Một bông hoa tím biếc”…
Dòng sông xanh gợi lên sông Hương thơ mộng truyền tải những thông điệp lịch
sử, văn hóa và nghệ thuật độc đáo về một giai đoạn lịch sử của Việt Nam Dòng sông xanh gợi về lăng tẩm, đền đài, thành quách Một kinh kỳ vàng son trong quá khứ với quần thể di tích bao gồm Kinh Thành, Hoàng Thành và Tử Cấm Thành…bỗng dưng hồi sinh sự sống và thì thầm với chúng ta biết bao điều về nét văn hóa với các nghi lễ mang đậm chất văn hóa truyền thống tâm linh như: lễ cầu an, lễ tưởng niệm, lễ tạ… được tổ chức trang trọng, thiêng liêng Cái rộn ràng, náo nức của mùa xuân xen lẫn sự cổ kính, nghiêm phong nơi mảnh đất này đã tạo nên sự thu hút đặc biệt
Huế thương đẹp và dạt dào sự sống bởi hình ảnh bông hoa tím Bông hoa – hương thầm của mùa xuân nhưng là màu sắc mang linh hồn của xứ sở Ở Việt Nam không có một tỉnh thành nào lại có riêng một màu sắc để mà vinh danh, nhớ nhung và nhất là làm… thơ, như màu tím của xứ Huế Màu sắc gợi sự quyến rũ, duyên dáng, tinh tế, ý nhị, trinh nguyên đầy chất thơ của nữ sinh trường Đồng Khánh, nơi mà vào năm 1917
đã khai giảng với hàng trăm tà áo dài màu tím của xứ Huế Trong ngũ sắc (đỏ, vàng, tím, lục, lam) trang trí ở cung điện, ở đình chùa miếu vũ của Huế… màu tím mạnh mẽ lấn át cả bốn sắc màu kia, quấn quyện, sắt son Tím là sắc lạnh, là sắc thuộc âm, nằm dưới cùng trong quang phổ, sức sáng nhẹ nhàng Đó là màu không quá nồng nàn mà thoang thoảng như hương lan thanh đạm và tế nhị Đó là hồn cốt của xứ sở trầm mặc nhưng không u uất, mà lặng lẽ, lắng sâu, đó là tư duy thẩm mỹ, thiên về cái thanh tao, duyên dáng, mềm mại, nhẹ nhàng
Ngắm thiên nhiên mà ta ngỡ như đang được cảm thấu tất cả tinh hoa chung đúc lại của con người, văn hóa Huế Hình ảnh bông hoa tím trở thành sắc thái riêng của con
Trang 32người của một vùng quê, một vùng văn hoá trong bão giông, lửa đạn vẫn mạnh mẽ, kiên gan, bất khuất, vươn mình trong tư thế hiên ngang Cố đô Huế làm nên mảng màu văn hóa riêng trong tổng quan bức tranh văn hóa lộng lẫy của Việt Nam đồng thời, hiểu về xuân trên xứ Huế cũng là hiểu về điệu hồn của người dân Việt trong lối ứng xử hòa hợp với thiên nhiên của người dân nông nghiệp Tình yêu sâu nặng dành cho quê hương nên trước giờ phút lâm trung, câu Nam ai, Nam bằng trở thành “nỗi nhớ”, hành trang tinh thần mà người nghệ sỹ mang theo vào cõi vĩnh hằng
“Xuân thu đắp đổi, âm dương nóng lạnh, cảnh vật chuyển động thì lòng người cũng biến thiên” [11, tr.505], đó là cách nói giàu hình ảnh về mối tình giao cảm, hòa hợp giữ thiên nhiên và con người trong văn hóa Việt Thu với nét riêng đã làm bậc thi nhân thêm cảm hứng đã chạm tới nỗi sầu nhân thế của thi sĩ Tản Đà
Thế kỷ XX, cuộc sống thay đổi với đô thị, kỹ thuật in, mạng lưới giao thông, chữ Quốc ngữ, những giai cấp mới… đã mang đến những cảm xúc về thế sự, chính trị, gia đình, một quan điểm mới khác với quan điểm của Nho gia Tản Đà đã làm một cuộc thí nghiệm đầy táo bạo Tiếp nối văn hóa ứng xử với thiên nhiên của người Việt Nam sống trong nền nông minh nông nghiệp nhưng có sự thay đổi tâm thế của chủ thể trữ tình
“Cái tôi” rất riêng để bước vào văn đàn những năm 20 đầu thế kỉ XX của tiên sinh đã làm kinh ngạc và xôn xao dư luận Khi những áng văn xuôi quốc ngữ còn chập chững, khi câu văn biền ngẫu, khi những giọng thơ nghiêng trang, mực thức kiểu thơ Đường còn phổ biến, khi con người coi thiên nhiên là chủ thể thì một Tản Đà mang tới làn gió mới, mới từ tư duy, từ cách cảm, mới trong cách giao hòa, bầu bạn với thiên nhiên trong
tư cách con người làm chủ muôn loài Tư duy thẩm mỹ đó làm người đọc không khỏi ngỡ ngàng:
“Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi”
Trong lớp áo là lối thơ cũ, thi sĩ đã mang đến sự mới mẻ, độc đáo: Tản Đà là muốn làm thằng Cuội! Cái khác đời, cái ngông của Tản Đà là ở đó Cái tôi ngông nghênh và đa tình của nhà thơ tạo nên chủ thể trữ tình làm chủ thế giới thiên nhiên Trước thực tại tầm thường, giả dối, tác giả đã tìm đến chị Hằng để giãi bày nỗi niềm u uất của người cô đơn, lạc lõng Tản Đà đã chấm dứt truyền thống kiểm soát cảm xúc kéo dài trong văn học trung đại Cách đối thoại của chủ thể trữ tình với trăng, cách dung
từ ngữ gọi con người để gọi trăng cho thấy cái ngông của người muốn làm chủ thiên nhiên: “Cung quế đã ai ngồi đó chửa? Cành đa xin chị nhắc lên chơi” Văn hóa truyền thống phương Đông quan niệm, thiên nhiên, vũ trụ làm trung tâm, thì ở đây, Tản Đà đã đưa vị thế của mình sánh ngang tầm thiên nhiên để tạo ra cuộc bầu bạn táo bạo với niềm vui trong nguyện ước “Có bầu có bạn can chi tủi/ Cùng gió, cùng mây thế mới vui” Những hình ảnh gió mây làm cho tâm hồn tác giả càng thêm bay bổng, lãng mạn hơn
Đó là niềm vui bất tận bởi “cứ mỗi năm rằm tháng Tám/ Tựa nhau trông xuống thế gian cười” Nụ cười của ông có thể hiểu theo nhiều ý nghĩa: cười bởi không thể thỏa mãn
Trang 33được khát vọng thoát li, xa lánh cõi trần gian hay cười vì mỉa mai, khinh bỉ cõi đời xô
bồ, đen tối, ngột ngạt Nụ cười đó cũng là cái tươi mới ông mang đến cho thi ca Trước đây, trong tư duy của người dân nông nghiệp, trời là đấng tối cao, giữa người với trời có
sự giao cảm nhưng vẫn có khoảng cách trong xu hướng của thiên nhiên làm chủ Nay, con người tự do đã có những suy nghĩ táo bạo, làm chủ thiên nhiên vì thế, thơ không còn nỗi “hoài cổ” mà là sự bày tỏ nỗi niềm với thực tại xã hội đương thời
Mùa thu trong thơ Hữu Thỉnh có cái thuần vị thiên nhiên của văn hóa bản địa, thắm đượm lên cái hồn quê hương xứ sở nhưng con người mới là trung tâm của vũ trụ Tất cả phẩm chất, hành vi, cảm xúc, tâm trạng của con người là chủ thể mà thiên nhiên
là vật so sánh:
“Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Gió chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về”
Sang thu – Hữu Thỉnh - Ngữ văn 9 tập 2, 70
Vẫn tâm thế thiên nhân giao cảm nhưng bản chất nhưng do tình hình văn hóa, chính trị, xã hội đổi khác nên tư tưởng, chủ đề, cảm hứng, hình tượng nghệ thuật cũng đổi khác Tiếng thơ viết về mùa thu cũng không còn là tiếng sầu mà là tiếng thơ mang hơi thở thời đại, tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, thu gửi gắm triết lý nhân sinh, suy ngẫm về cuộc đời Đó là tính kế thừa và đổi mới trong văn hóa ứng xử của con người với thiên nhiên qua các thời đại
Mùa thu mở ra với hương ổi thơm giòn ngọt phả vào trong gió thu Hương quê nhẹ nhàng thoảng qua theo gió để người ta chợt xốn xang trong lòng Làn gió se se lạnh
từ lâu vẫn được coi là hồn thu Bắc Bộ Hồn tạo vật đã chạm tới, lay thức để thi nhân giật mình “Bỗng nhận ra hương ổi” Hương ổi nồng ấm được miêu tả bằng từ ngữ vốn chỉ hành động của con người “phả” hương thơm vào gió se Nhãn quan bén nhạy của thi nhân đã cảm nhận được thật đủ đầy những biến chuyển của mùa thu Mọi góc độ và giác độ đều được thưởng lãm đến tận cùng: “Sương chùng chình qua ngõ” Sương thu không vô cảm, nó cũng mang hồn người Sương đang đợi ai, sương đang chờ ai mà sao lưu luyến thế? Cảnh nhuần nhị, thắm tình bởi cảnh được quy chiếu từ trạng thái cảm xúc của người Cảnh nào cũng vấn vít, gợi mở mọi cảm quan Đó là thức quà quê trong trẻo, hữu hình, đậm “chất người” làm thi sỹ thêm say Trong cái say nồng đó, tâm hồn nhà thơ tan ra cùng cảnh vật, nhịp hơi thở cũng lặng đi, hòa theo nhịp thời gian Sự nắm bắt bước chuyển giao mùa rất khẽ càng trở lên rõ nét:
“Sông được nước dềnh dàng,
Chim bắt đầu vội vã”
Trang 34Trong cái nhìn “nhân loại trung tâm luận” (văn hóa phương Tây), thi sỹ thấu cảm được sự dềnh dàng của sông, sự bắt đầu vội vã của cánh chim Sắc nắng, làn gió, hơi sương, trong cánh chim gần gũi bởi mang hành động của con người Thần tình nhất của thu Bắc Bộ, kết đọng nhất của tư duy nhân loại trung tâm luận là ở hình ảnh đám mây mùa hạ “Vắt nửa mình sang thu” Hữu Thỉnh góp thêm một tiếng thơ thu Bắc Bộ với bức tranh thu nồng đượm hơi ấm đất trời, nồng đượm hơi ấm quê nhà như thế Lấy con người làm hệ quy chiếu để tả cảnh thiên nhiên, nhà thơ đã viết lên câu thơ thật tài hoa:
“Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa”
Thiên nhiên không còn là bản thể của nó nữa mà đã mang những trạng thái hành động, suy tư của con người Vẫn còn “nắng”, “vơi dần” mưa, sự thay đổi mơ hồ nhưng được định hình rõ nhờ sự quấn quyện của hồn thi sĩ và hồn tạo vật để nắm bắt khoảnh khắc mà sự thay đổi vừa mới bắt đầu Thiên nhiên thách thức cảm quan con người và trong cuộc thách đó đó, con người đã thắng Sự thắng thế đó là bởi con người trong tâm thế của người làm chủ Cảnh mang chiều sâu triết lý của lòng người:
“Sấm cũng bớt bất ngờ Trên hàng câu đứng tuổi.”
“Sấm” là những thăng trầm, sóng gió của vòng đời luôn thay đổi qua những gian nan, thử thách Hình ảnh “hàng cây đứng tuổi” – cây mang trạng thái của con người từng trải nên vững vàng hơn trong cuộc sống Mạch truyền thống của văn hóa ứng xử với thiên nhiên đã có sự kế thừa, tiếp biến làm nên những vần thơ đậm chất triết lý mang đặc trưng thẩm mỹ của thơ hiện đại Việt Nam sau 1975
Ngoài không gian thiên nhiên miêu tả mùa xuân, thu, mùa hè cũng được vẽ lại với lời thơ độc đáo mang đậm vẻ đẹp riêng với “lúa đang chín, trái cây ngọt dần, bắp rây vàng hạt, nắng đào, diều sáo” Cảnh thiên nhiên sinh động đó càng làm tâm trạng khao khát tự do của người tù cách mạng trỗi dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết Thiên nhiên bốn mùa trong văn học tác phẩm văn học ở chương trình THCS sinh động, tươi tốt Thiên nhiên đó được gợi dẫn theo xúc cảm, tức cảnh sinh tình, hoài cổ Diễn tiến của sự xuất hiện bốn mùa trong văn học THCS có sự thay đổi, từ thiên nhiên là đối tượng mô tả, thiên nhiên là nơi để gửi gắm cảm xúc về con người đến con người là chuẩn mực để miêu tả thiên nhiên Qua đó, ta cảm nhận được tâm hồn lạc quan, lãng mạn, lối sống chan hòa, gần gũi với thiên nhiên là một trong những nét đẹp văn hóa của người Việt Nam Trong cuộc sống hiện đại hôm nay, thiên nhiên vẫn vẹn nguyên giá trị Đó là nơi nuôi dưỡng, chở che con người, là nơi di dưỡng tính tình Vì thế mạch đập khởi nguyên trong tình yêu thiên nhiên sẽ luôn được tiếp nối nhắc nhở chúng ta ý thức giữ gìn, trân quý thiên nhiên để từ đó xây dựng được văn hóa ứng xử với thiên nhiên một cách phù hợp
Trang 352.1.4 Không gian sinh hoạt
Khung cảnh sinh hoạt là “những hoạt động thuộc về đời sống hàng ngày” [20, tr.859] Qua khung cảnh sinh hoạt, chúng ta tìm thấy những quan niệm văn hóa, yếu tố văn hóa, phong tục tập quán cộng đồng với những nét tương đồng và khác biệt của các vùng miền Chúng ta thấy được sự đa dạng của môi trường văn hóa, điều kiện sống, tín ngưỡng, phong tục tập quán…được ánh xạ trong mỗi trang văn
2.1.3.1 Không gian sinh hoạt đời thường
Miền Bắc lưu vực sông Hồng là cái nôi của nền văn minh, văn hóa Việt Nam Nơi đây khi xưa đã trải qua bao triều đại phong kiến khác nhau của đất nước Đại Việt Chính vì lẽ đó đã chung đúc, kiến tạo nên một nền văn hóa riêng, rất độc đáo, rất Việt Nam Lối sống của người dân ven sông Hồng gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước, mỗi lối sống, mỗi cảnh sắc đều cồn cào, rạo rực nhựa sống do dòng phù sa bồi đắp Những dòng sông như dòng sữa nguồn mát lịm nuôi dưỡng tinh hoa văn hóa Đi đâu xa cũng không thể quên bóng dáng đền, chùa, miếu mạo, bãi mía, nương dâu, mái đình, cây đa Không gian sinh hoạt miền Bắc thanh bình, yên ả mang đầy đủ, vẹn nguyên đặc trưng của nền văn hóa lúa nước
Bức tranh nguyên bản của lối sống đó được hiện lên sinh động qua Bạn đến chơi nhà – Nguyễn Khuyến - Ngữ văn 7 tập 1, 104 Mỗi món ăn, mỗi thức quê được nhắc tới trong bài thơ là sự tinh tế của việc gợi nhắc tới đặc trưng của nền văn hóa sơn lâm nghiệp Bức tranh sinh hoạt thôn quê với khuôn viên nhà, vườn, ao, với các món ăn cá,
gà, cải, bầu, mướp, miếng trầu để tiếp khách đậm đà và tràn đầy hương vị truyền thống, thẫm đẫm hồn dân tộc đã tái hiện lên bức họa đa màu sắc về cuộc sống sinh hoạt vùng đồng bằng chiêm trũng sông Hồng
Diện mạo văn hóa miền Bắc như mạch ngầm thấm sâu trong mỗi cảnh sắc, nếp sinh hoạt của người dân Dù cuộc sống có đổi thay, văn hóa có trải qua bao lần tiếp biến
để thích nghi, thì vẫn vẹn nguyên đó những nét riêng bền bỉ, kiêu hãnh Bức tranh quê sánh đậm cảnh, sắc, tình người quê một lần nữa đưa ta trở về với không gian sinh hoạt đậm chất văn hóa Việt qua bước chân của người con Về thăm quê mẹ - (Đinh Nam Khương) (Ngữ Văn 6 tập 1, bộ Cánh Diều, 2021): “Con về thăm mẹ chiều đông/Bếp chưa lên khói mẹ không có nhà/Mình con thơ thẩn vào ra/Trời đang yên vậy bỗng oà mưa rơi/Chum tương mẹ đã đậy rồi/Nón mê xưa đứng nay ngồi dầm mưa/Áo tơi qua buổi cày bừa/Giờ còn lủn củn khoác hờ người rơm/Đàn gà mới nở vàng ươm/Vào ra quanh một cái nơm hỏng vành/Bất ngờ rụng ở trên cành/Trái na cuối vụ mẹ dành phần con/Nghẹn ngào thương mẹ nhiều hơn/Rưng rưng từ chuyện giản đơn thường ngày” Người đọc được đắm mình trong không gian nông thôn thuần khiết, nguyên bản vẽ lên từ thi liệu quê, ngôn từ quê Tất cả mộc mạc, bình yên, vẹn nguyên vẻ thuần Việt với cấu trúc không gian sân, nhà thoáng rộng (gia: nhà, đình: sân) Thần sắc, thanh âm, hương vị của văn hóa nông thôn hiển hiện cảm giác như ta có thể hít căng lồng ngực
Trang 36không khí ấy Quê mẹ đơn sơ với bếp nghèo, đàn gà; với món ăn dân dã (chum tương); với vật dụng quen thuộc của đời sống nông nghiệp (nón mê, áo tơi, cày bừa, người rơm, cái nơm), với lối sống hài hòa, gắn bó với thiên nhiên có vườn trồng cây (trái na) Nét
vẽ nào cũng ăm ắp một hồn quê vơi đầy Từ rất lâu, phụ nữ Việt Nam dù bình dân hay quý tộc, đều gắn bó với gian bếp, là người giữ lửa, giữ tài khí cho gia đình Trong bài thơ, hình ảnh bếp chưa lên khói trong chiều đông gợi sự lạnh lẽo, trống vắng cùng với
đó là sự vật gợi lên cuộc sống lao động vất vả của người dân nông nghiệp Bức tranh tĩnh mà xao động tâm hồn ta bởi sự hi sinh, chịu thương, chịu khó, tình yêu thương vô
bờ của mẹ dành cho con Nét đẹp trong lối sống của người phụ nữ Việt hiện lên rõ nét
dù đó chỉ là một hình ảnh giản dị nhưng đầy ám ảnh bởi đã khái quát được sự yêu thương, chăm sóc đến từng chi tiết nhỏ nhất của người mẹ Trái na cuối vụ - nhỏ bé mà nao lòng Hoa quả của mùa thu ở miền Bắc phải nhắc đến đầu tiên là quả na – một loại quả vỏ xanh, thịt trắng, hạt đen chỉ nghe cái tên đã gợi lên không khí dịu mát của mùa thu Trong bài thơ này, trái na mang vẻ hiền lành, ngọt ngào của tình mẹ Cuối vụ rồi nhưng mẹ không nỡ vặt xuống ăn mà cứ để đó phần con, đợi con về Hình ảnh ấy cũng giống như sự chờ đợi của mẹ, sự yêu thương tằn tiện, hi sinh để lo cho con được no ấm Bức tranh sinh hoạt của một vùng quê, vì thế, dù nghèo khó nhưng lại đậm đà tình nghĩa Tình mẹ sâu nặng, quê hương thiêng liêng sẽ là sợi dây kết nối bền chặt, tạo nên sức mạnh của người Việt Nam Như thế, không chỉ biểu thị giá trị của văn hóa, mỗi trong văn – sản phẩm của văn hóa viết đã giúp định hướng các chuẩn mực cho con người, là động lực cho sự phát triển của xã hội Bài thơ cũng nhắc nhớ cho chúng ta liên tưởng tới tấm lòng của người mẹ thương con trong thi phẩm “Thư gửi mẹ” – Ê-xê-nhin Người mẹ hiền dấu yêu gắn với miền quê đồng nội, với chiếc áo bông sờn cũ kĩ, sống trong nếp sinh hoạt nông thôn giản dị Nhưng bên trong vẻ cũ kĩ, quê mùa ấy là những tâm tư, những nỗi niềm sâu thẳm của người mẹ già đêm ngày ngóng đợi đứa con đi xa,
lo lắng vì sợ con gặp phải chuyện chẳng lành Những vần thơ thuần khiết, trong trẻo như dòng sữa mát lành mang tâm hồn Nga, văn hóa Nga là minh chứng cho chân lý, hình tượng người mẹ dù bất cứ quốc gia nào cũng luôn là những hình tượng đẹp nhất trong nền thơ ca thế giới
Sinh ra ở mảnh đất huyện Trùng Khánh (Cao Bằng), Y Phương mang đến cho thơ
ca Việt Nam một ngọn gió riêng - đậm đà bản sắc dân tộc Tày Như bức tranh thổ cẩm đan dệt nhiều màu sắc, thơ Y Phương làm phong phú thêm cho văn hóa Việt Bài thơ
“Nói với con” tái hiện linh hồn của một vùng văn hóa độc đáo với không gian sinh hoạt riêng: “Chân phải bước tới cha/Chân trái bước tới mẹ/Một bước chạm tiếng nói/Hai bước tới tiếng cười”
Những lớp từ nguyên bản, mộc mạc, thô ráp vẹn nguyên màu sắc núi rừng (chân phải - chân trái, một bước - hai bước, cha - mẹ, tiếng nói - tiếng cười) những thanh trắc
âm điệu gân guốc, những điệp từ ngữ sóng đôi là từ địa phương của tiếng Tày, tâm hồn Tày, văn hóa Tày làm cho ý nghĩa của Tiếng Việt khái quát, mở rộng hơn Ngôn ngữ
Trang 37đẹp khắc họa lên không gian lung linh hạnh phúc: Hình ảnh đứa trẻ đang lẫm chẫm tập
đi, cứ “chân phải” rồi “chân trái”, chập chững khó khăn nhưng đầy phấn khích vì sự khích lệ, yêu thương của cha mẹ Cách dùng số đếm: “một bước”, “hai bước” cho thấy
sự tỉ mỉ chăm chú, quan sát từng cử chỉ, trông chờ, hồi hộp của cha mẹ khi đếm từng bước đi của con Ngôn từ với lối tư duy thơ Tượng trưng: “Một bước chạm tiếng nói / Hai bước tới tiếng cười” có sức lan tỏa tự thân, bung nở đoá hoa hạnh phúc Tiếng nói cười bi bô của trẻ nhỏ như dòng nước sông Bắc Vọng, Quây Sơn ngọt lành, như hạt dẻ vấn vương thơm bùi…của quê hương và vùng miền núi phía Bắc “Bầu khí quyển” của dân tộc Tày như từng mạch máu, đường gân, thớ thịt hòa vào hơi thở của từng dòng thơ:
“Đan lờ cài nan hoa/Vách nhà ken câu hát/Rừng cho hoa/
Con đường cho những tấm lòng”
Đan lờ, nan hoa, vách nhà, câu hát - những lát cắt muôn màu về đời sống, sinh hoạt, phong tục tập quán, ngôn ngữ…của con người vùng cao như tầng vỉa làm lộ dần tầm cao và chiều sâu văn hóa Người dân tộc Tày không chỉ có bàn tay lao động cần mẫn mà tâm hồn họ bay bổng, lãng mạn Bàn tay lao động cũng đồng thời là bàn tay tạo tác, mỗi thứ đồ vật cũng là một tạo tác văn hóa Để những vật dụng lao động bình thường cũng là sản phẩm văn hóa Nhất là lối liên tưởng “vách nhà ken câu hát” Vách nhà hữu hình mà như ảo như mơ, chập chờn ẩn hiện bởi được ken bằng câu hát Y Phương giải thích rằng: “Bức vách ở đây không chỉ là một bức vách cụ thể bằng đất, bằng đá nữa Nó đã trở thành một chủ thể văn hóa” Tâm hồn người Tày mộc mạc, hồn nhiên như sông suối nên cuộc sống của họ lãng mạn, lạc quan Biểu trưng của dân tộc tày được khắc tạc trong câu thơ: “Rừng cho hoa / con đường cho những tấm lòng”
“Rừng cho hoa”, rừng không chỉ cho lâm sản, cho măng, cho trái, thiên nhiên thơ mộng còn cho hoa, cái đẹp để di dưỡng tâm hồn Ở miền núi, nhà cách nhà rất xa, thế nên con đường mở lối, kết dệt yêu thương, nhờ có con đường mà con người có thể đến được với nhau Tình cảm trong sáng, phông kiến thức sâu rộng về miền núi, về văn hóa dân tộc Tày chính là nguồn cảm hứng thi ca tự nhiên như suối nguồn tuôn chảy và tạo nên những giá trị thẩm mỹ cho một miền thơ dân tộc
Đất nước Việt Nam tươi đẹp bởi những vùng trời, vùng đất mang những nét bản
sắc độc đáo riêng Về thăm “Đồng Tháp Mười mùa nước nổi” – Văn Công Hùng - Ngữ
văn 6 tập 1, 56, người đọc được chứng kiến sự hào phóng mà thiên nhiên ban tặng cho
xứ sen hồng Nằm trong vùng trũng của lưu vực sông Cửu Long nên Đồng Tháp trực tiếp chịu ảnh hưởng bởi những trận lũ, lụt, mà dân gian quen gọi bằng cụm từ “mùa nước nổi” Khi những trận mưa đầu mùa xối xả trút nước và từ từ dâng tràn ngập đôi bờ cướp đi hoa màu và sự thanh bình, yên ả của làng quê Khi những căn nhà nổi lên như một ốc đảo xanh bập bềnh trên biển nước màu nâu đỏ Đặc trưng mở ra với hình ảnh
“Tràm chim…gồm những cây tràm kết thành rừng và chim thì dày đặc thành vườn” Mùa nước nổi cũng là mùa bông điên điển nở rộ Những đoá hoa vàng rực như màu nắng phương Nam, phất phơ trong ngọn gió, hay đang rũ rượi oằn mình trong những
Trang 38cơn mưa sẽ được những thiếu nữ thướt tha trong chiếc áo bà ba, cổ quấn khăn rằn, tay khua theo mái chèo chọn ngắt những bông điên điển non nhất để nấu nồi canh chua, hoặc mang ra chợ bán là hình ảnh đặc trưng của nơi đây
Mùa nước nổi cũng là mùa nở rộ của những đoá sen “Có một điều khẳng định rằng, sen Tháp Mười là một thế lực, thế lực của cái đẹp tự nhiên Bạt ngàn sen chen giữa rừng tram, sen tinh khiết bung nở giữa bùn, sen ngạo nghễ khoe giữa năn lác Sen vươn lên giữa nắng, giữa gió phương Nam, kiêu hãnh và tự tin khoe sắc hồng đực trưng của mình khiến con người chợt chùng lại, bang khuâng và ngơ ngác giữa thế giới sen; thấy rợn ngợp và cô độc giữa mênh mông Đồng Tháp Mười…”
Cuộc sống, sinh hoạt của người Đồng Tháp rất đơn giản, cơ động, phù hợp với miền đồng bằng sông nước Văn hóa ăn, mặc, ở, đi lại mang đặc thù riêng, phù hợp với môi trường sinh thái tự nhiên “Người dân ở đây vui vẻ sống, hiền lành sống, năng động sống” Đã đến nơi đây, chúng ta còn lưu giữ mãi ấn tượng:
“Người dân chất phát thật thà Tình làng nghĩa xóm đậm đà làm sao”
(Về thăm Đồng Tháp – Trang Si) Mỗi miền đất, mỗi cảnh, mỗi người đều là những gam màu đa sắc, sánh đậm nét văn hóa quê hương Những không gian văn hóa mở ra với muôn vàn sắc thái độc đáo bồi đắp thêm niềm tin, tình yêu vào sức mạnh tiềm tàng của văn hóa Việt Nam
Năm tác phẩm viết về không gian sinh hoạt trong các tác phẩm văn học chương trình THCS đã hội tụ đầy đủ không gian miền Bắc, không gian miền Nam; không gian miền xuôi và không gian miền núi Ngoài ra, còn có một số tác phẩm viết về không gian sinh hoạt là quan niệm về lối sống giản dị, thanh cao mang cốt cách của người dân Việt: Đức tính giản dị của bác Hồ - Phạm Văn Đồng, Phong cách Hồ Chí Minh – Lê Anh Trà Không gian sinh hoạt gợi nhắc đến phong tục của người Việt: ông đồ - Vũ Đình Liên, không gian sinh hoạt gợi lên cuộc sống khổ đau của người nông dân với những hủ tục, những thói ăn chơi hưởng lạc của tầng lớp thống trị: ca dao than thân Có thể thấy, sự đa dạng về không gian với các mốc thời gian từ trung đại đến hiện đại đã cung cấp cho học sinh một nhãn quan phong phú về đặc trưng văn hóa sinh hoạt ở các vùng miền khác nhau Cảm hiểu vẻ đẹp khác nhau của mỗi miền đất nước, chúng ta sẽ nhận diện được nét đặc trưng của văn hóa vùng miền Để rồi mỗi người sẽ tinh tế hơn trong cách trân trọng cuộc sống bình dị hàng ngày, trưởng thành hơn trong ý thức bảo vệ thiên nhiên quanh ta và bản lĩnh hơn trong cuộc hội nhập văn hóa toàn cầu
2.3.1.2 Không gian sinh hoạt khi có chiến tranh
Với vị trí địa lý đặc biệt, trong lịch sử dân tộc, đất nước ta đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh để giữ gìn bờ cõi và bảo vệ nền văn hóa đặc sắc Chính vì lẽ đó, không
Trang 39gian sinh hoạt khi có chiến tranh xuất hiện với tần xuất lớn nhất với 14 tác phẩm chiếm 29,2%
Trong giai đoạn cách mạng 1939-1954, không gian sinh hoạt ở các khu căn cứ địa
đã trở thành nét đặc trưng của giai đoạn lịch sử đặc biệt Cuộc sống gian khổ, thiếu thốn được miêu tả vô cùng chân thực Không gian sinh hoạt nơi núi rừng Việt Bắc thiếu thốn nhưng con người trong tương quan với thiên nhiên, vũ trụ vẫn luôn trong tâm thế lạc quan, làm chủ hoàn cảnh Cái “sang” của người cách mạng có lý tưởng sống cao đẹp là được mang sức lực, trí tuệ, tài năng của mình phục vụ cho nhân dân, đất nước Đứng trong hàng ngũ Đảng Cộng sản, được thực hiện đường lối chiến đấu để mang lại cuộc sống hòa bình, no ấm cho nhân dân Đó là con đường duy nhất đúng cho cách mạng Việt Nam ở thời điểm này Chính vì lý tưởng cao đẹp đó mà hình ảnh Người chiến sỹ cách mạng trong lòng dù bộn bề nỗi lo toan việc nước nhưng phong thái vẫn ung dung như một tiên ông: “Giữ dòng bàn bạc việc quân/Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền” – (Rằm tháng giêng)
Không gian sinh hoạt nơi tản cư của người nông dân cho thấy khí thế chiến đấu khẩn trương sôi nổi, cách mạng đã thay đổi nhận thức của mỗi người Những người nông dân cả đời không ra khỏi lũy tre làng, nay đã có mối bận tâm lớn hơn chuyện cơm
ăn áo mặc, mối bận tâm về kháng chiến Văn bản Làng – Kim Lân, Ngữ văn 9 tập 1,
163 đã miêu tả: “Dứt lời, ông lão lại đi, làm như đang bận nhiều công việc lắm Cũng như mọi hôm, việc đầu tiên là ông vào phòng thông tin nghe đọc báo Ông cứ đứng vờ
vờ xem tranh ảnh chờ người khác đọc rồi nghe lỏm “Khiếp thật, tinh những người tài giỏi cả” “Cứ thế, chỗ này giết một tí, chỗ kia giết một tí, cả súng ống cũng vậy, hôm nay dăm khẩu, ngày mai dăm khẩu, tích tiểu thành đại, làm gì mà rồi thằng Tây không bước sớm Ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!”
Tình cảm thẩm mỹ dồi dào có sự thống nhất với chân lý và đạo lý, bồi đắp tình đời cho con người những lý tưởng sống cao đẹp và không gian sinh hoạt giai đoạn cả nước bước vào cao trào chống Mỹ chính là không gian vừa chiến đấu vừa sản xuất Những bà mẹ trong Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ - Nguyễn Khoa Điềm (Ngữ văn 9 tập 1, 152) vừa là giữ vai trò là người mẹ vừa giữ vai trò là hậu phương lớn của tiền tuyến lớn Họ lao động, sản xuất phục vụ cuộc kháng chiến:
“Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội…
Mẹ đang trỉa bắp trên núi Ka–lưi…
Mẹ đang chuyển lán, mẹ đi đạp rừng…
Mẹ địu em đi để đánh trận cuối…”
Bài thơ về tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật cũng tái hiện không gian chiến trường bom đạn khốc liệt:
Trang 40“Không có kính không phải vì xe không có kính Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi”
Đó là không gian sinh hoạt đạm bạc mà ấm tình đồng đội:
“Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy”
Vượt qua hoàn cảnh sống khắc nghiệt đó bởi con người mang tầm vóc thời đại với
lý tưởng sẵn sàng vì miền Nam ruột thịt, lý tưởng ấy bộc lộ kín đáo qua hình ảnh ẩn dụ:
“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim.”
Trong văn bản Những ngôi sao xa xôi – Lê Minh Khuê, chúng ta cũng bắt gặp không gian sinh hoạt hết sức đời thường của những nữ thanh niên xung phong Những áng văn đó đã làm bất hủ tượng đài về người chiến sỹ trong giai đoạn chống Mỹ “Khi xong việc, chạy về hang Bên ngoài nóng trên 30 độ, chui vào hang là sà ngay đến một thế giới khác Cái mát lạnh làm toàn thân rung lên đột ngột Rồi ngửa cổ uống nước, trong ca hay trong bi đông Nước suối pha đường Xong thì nằm dài trên nền ẩm, lười biếng nheo mắt nghe ca nhạc từ cái đài bán dẫn nhỏ mà lúc nào cũng có pin đầy đủ ”
Trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, không gian thiên nhiên vũ trụ không phải là những hình ảnh với chiều kích lớn lao, choáng ngợp mà đó là không gian hết sức gần gũi đời thường với con sông Trà Bồng – Quảng Ngãi, vùng biển Quảng Ninh, với hang Pác Bó, con đường Trường Sơn, hang cao điểm ở rừng Trường Sơn… Vẫn nét đặc trưng của lối tư duy văn hóa Việt, đặt con người trong không gian thiên nhiên để làm nổi bật tư thế kiêu hùng của những người chiến đấu, xây dựng, bảo vệ nền văn hóa Đó
là cốt cách Việt Nam kiên định được tôi rèn qua lửa đạn chiến tranh để rồi thế hệ hôm nay như được truyền thêm niềm tin, bản lĩnh để trong mọi tình huống nguy nan cũng không nản lòng Văn học phản ánh đặc trưng văn hóa nên đã có sức mạnh trao truyền nét văn hóa cho muôn đời sau là vì thế
2.1.5 Không gian lịch sử, danh lam thắng cảnh
Khảo sát 60 tác phẩm, chúng tôi thu được 9 tác phẩm viết về không gian lịch sử, danh lam thắng cảnh Thiên nhiên cẩm tú đã ban tặng biết bao danh thắng tươi đẹp, tráng lệ, kiêu hùng cho người dân Việt Nam Bốn bài ca dao trong chùm Những câu hát
về tình yêu quê hương, đất nước – (Ngữ văn 7, tập 2, 22) đã gợi nhắc tới các danh lam của các vùng trên đất nước, gợi nhắc đến những vùng văn hóa khác nhau: “Ở đâu năm cửa, nàng ơi?/Sông nào sáu khúc nước chảy xuôi một dòng?/Sông nào bên đục bên trong?/Núi nào thắt cổ bồng mà có thánh sinh?/Đền nào thiêng nhất xứ Thanh?/Ở đâu lại có cái thành tiên xây?/- Thành Hà Nội năm cửa, chàng ơi!/Sông Lục Đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng./Nước sông Thương bên đục bên trong,/Núi đức thánh Tản