1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ tích họp văn hóa đông tây trong thơ huy cân trước năm 1945

101 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tích Hợp Văn Hóa Đông - Tây Trong Thơ Huy Cận Trước Năm 1945
Tác giả Trần Thị Huệ
Người hướng dẫn TS. Phùng Phương Nga
Trường học Trường Đại Học Khoa Học - Đại Học Thái Nguyên
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 822,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở từng giai đoạn khác nhau, sự pha trộn cũng đậm nhạt khác nhau, nhưng nhìn chung tích hợp văn hóa Đông - Tây đã đưa dến nhiều luồng gió mới cho các loại hình nghệ thuật nước nhà, đặc bi

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS Phùng Phương Nga

Thái Nguyên - 2022

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình luận văn này là sự nỗ lực hết mình của tôi trong quá trình nghiên cứu Những số liệu thống kê hoàn toàn do tôi tự nghiên cứu Tôi xin chịu trách nhiệm về luận văn của mình

Tác giả luận văn

Trần Thị Huệ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và làm đề tài luận văn, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giảng viên, các nhà nghiên cứu khoa học, Ban lãnh đạo khoa Sau Đại học, Ban giám hiệu trường Đại học khoa học Đặc biệt Tiến sĩ Phùng Phương Nga đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn

em trong việc nghiên cứu, tìm hiểu và hoàn thành đề tài này

Em xin cảm ơn quý thầy cô, các phòng ban, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường Đại học Khoa học đã tạo những điều kiện thuận lợi nhất để em hoàn thành khóa học

Bằng cả tấm lòng mình, em xin gửi tới Tiến sĩ Phùng Phương Nga lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất

Em xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp, những người thân đã nhiệt tình ủng hộ, chia sẻ khó khăn, khích lệ tinh thần trong suốt thời gian em nghiên cứu đề tài

Em xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng 12 năm 2022

Tác giả luận văn

Trần Thị Huệ

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3

3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 8

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 9

5 Phạm vi nghiên cứu 10

6 Cấu trúc của luận văn 10

7 Đóng góp của luận văn 10

Chương 1VĂN HÓA ĐÔNG - TÂY VÀ THƠ HUY CẬN 11

1.1.Văn hóa Đông - Tây 11

1.1.1 Quan niệm về văn hóa Đông - Tây 11

1.1.2 Bối cảnh văn hóa và ảnh hưởng của Văn hóa Đông - Tây đến Việt Nam 14 1.2 Cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Huy Cận 21

Chương 2THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG THƠ HUY CẬN TRƯỚC NĂM 1945 30

2.1 Khái quát về thế giới nghệ thuật 30

2.1.1.Khái niệm thế giới nghệ thuật 30

2.1.2 Dấu ấn văn hóa Đông Tây trong thế giới nghệ thuật của một số nhà thơ khác ở Việt Nam 38

2.2 Hình tượng nghệ thuật 40

2.2.1 Hình tượng cái Tôi 40

2.2.2 Hình tượng thế giới 49

2.3 Không gian nghệ thuật trong thơ Huy Cận 55

Trang 5

2.3.1 Không gian trần thế gần gũi 56

2.3.2 Không gian vũ trụ bao la, xa thẳm 58

2.4 Thời gian nghệ thuật trong thơ Huy Cận 59

2.4.1 Nhịp điệu thời gian êm đềm, đều đặn 60

2.4.2 Thời gian nghệ thuật hoài niệm 62

Chương 3BIỂU TƯỢNG VÀ NGÔN NGỮ TRONG THƠ HUY CẬN TRƯỚC NĂM 1945 66

3.1 Biểu tượng trong thơ Huy Cận 66

3.1.1 Biểu tượng thế giới linh hồn 71

3.1.2 Biểu tượng vũ trụ 74

3.2 Ngôn ngữ trong thơ Huy Cận 78

3.2.1 Sử dụng hiệu quả từ láy 79

3.2.2 Độc đáo trong việc sử dụng danh từ và định ngữ 82

Nghệ thuật sử dụng từ Hán Việt 85

3.2.3 Thể thơ và tính nhạc trong thơ Huy Cận 87

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Nxb : Nhà xuất bản

Tr : Trang

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn học là tấm gương phản chiếu văn hóa Văn học là thành tố cơ bản của văn hóa, văn học có vai trò vô cùng quan yếu trong việc phản ánh nền văn hóa dân tộc trên nhiều bình diện như phong tục tập quán, lễ hội, tôn giáo, tín ngưỡng, tri thức dân gian, truyền thống văn hóa, các danh thắng, đền đài,… Như vậy, xét về một ý nghĩa nào đó, nhà văn là người đã viết nên lịch sử tâm hồn văn hóa dân tộc mình bằng văn học để thức nhận những ký ức văn hóa dân tộc nơi người đọc Vì vậy, có thể khẳng định, giữa văn hóa và văn học có mối quan hệ gắn bó hữu cơ, tác động lẫn nhau Song, văn hóa vẫn giữ vai trò

là nguồn cội của văn học, để cung cấp chất liệu, vốn sống, tri thức, cảm hứng, nhằm tạo nên những dự phóng sáng tạo của nhà văn Trong tiến trình vận động và phát triển, nền văn học dân tộc bao giờ cũng chịu sự tác động không chỉ của những biến động xã hội mà còn của những biến đổi văn hóa Và từ trong nguyên thủy của mình, có thể nói, văn học tự thân đã là văn hóa

Văn hóa là dấu hiệu đặc trưng để nhận diện các châu lục, các quốc gia

và vùng miền Trong quá trình phát triển của xã hội, nền văn hóa phương Đông và phương Tây đều tác động đến văn hóa Việt Nam Nền văn hóa Việt Nam nằm trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa với văn hóa Đông Tây Tuy nhiên, quá trình giao lưu, di dời và tiếp nhận văn hóa ở Việt Nam diễn ra đặc biệt hơn do điều kiện lịch sử, địa lý Hơn một nghìn năm Bắc thuộc, hơn 80 năm Pháp đô hộ và gần 30 năm chịu sự tác động, can thiệp từ văn hóa Mỹ đã làm cho văn hóa Việt Nam đa màu sắc hơn Ở từng giai đoạn khác nhau, sự pha trộn cũng đậm nhạt khác nhau, nhưng nhìn chung tích hợp văn hóa Đông - Tây đã đưa dến nhiều luồng gió mới cho các loại hình nghệ thuật nước nhà, đặc biệt là với văn học Khi nhắc tới văn hóa Đông - Tây thì

ta có thể cho rằng chúng có nhiều sự ảnh hưởng tới văn hóa Việt Nam, trong

đó văn hóa Trung Hoa và Pháp là ảnh hưởng rõ nhất Việt Nam và Trung

Trang 8

Quốc là hai nước sát đường biên giới, nước ta chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nền văn hóa Trung Hoa từ thời phong kiến, đến thời Pháp thuộc Còn nền văn học lãng mạn của Pháp cũng đã tác động đến Việt Nam từ thế kỷ XIX Sở dĩ như vậy vì các nhà văn nhà thơ của Việt Nam cũng có nhiều cơ hội sang Pháp, họ đem những tinh hoa thu nhận được từ văn hóa Pháp về nước mình Đặc biệt trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lước, thì nền văn hóa nói chung và văn học nói riêng của nước ta chịu tác động trực diện từ văn hóa Pháp Trong giai đoạn 1930 - 1945 phong trào Thơ mới hình thành và phát triển, giai đoạn văn học chịu ảnh hưởng sâu sắc bới văn hóa Đông Tây Giai đoạn văn học này

được nhà phê bình Hoài Thanh đánh giá là “một cuộc cách mạng trong thi ca”

[tr 30, 5] đã có ảnh hưởng sâu rộng đến sáng tác của các nhà thơ

Nhiều nhà thơ của phong trào Thơ đã có những đóng góp cho thơ ca dân tộc nhiều thi phẩm xuất sắc, trong đó phải nhắc đến nhà thơ Huy Cận với

các tác phẩm nổi bật đặc biệt là tập thơ Lửa thiêng Ông đã mang vào nền thơ

hiện đại Việt Nam một tiếng thơ riêng vừa đằm lắng, thiết tha vừa rạo rực, náo nức, xôn xao bao tình ý Hồn thơ Huy Cận trong trẻo nhưng cũng giàu chất suy tư, chiêm nghiệm về các vấn đề của con người và cuộc đời nhất là giai đoạn trước năm 1945

Văn hóa Đông Tây hiện diện trong thơ Huy Cận với những câu từ, ngôn ngữ, cách dùng chữ và đáng chú ý hơn cả là về nghệ thuật Huy Cận tuy hưởng thụ nền học vấn phương Tây mà lại có một cốt cách rất Á Đông Thơ ông lại súc tích, kết đọng như thơ cổ, nhất là về thể lục bát Thơ Huy Cận đã tạo nên một bút pháp riêng nhưng cũng đã tự lặp lại mình và cần lắm một sự vận động, đổi thay, vượt lên chính mình: “Huy Cận có một tâm hồn thi sĩ Ông lại biết bỏ óc phân tích Âu Tây mà trở về nghệ thuật hàm súc Á Đông”

Việc nghiên cứu tích hợp văn hóa Đông - Tây trong thơ Huy Cận không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận, giúp có cái nhìn tổng quan về phong

Trang 9

cách sáng tác và có cách tiếp cận mới khi tìm hiểu, phân tích những sáng tác của nhà thơ đặc biệt là những tác phẩm trước năm 1945, mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn trong quá trình giảng dạy tại nhà trường, giúp giáo viên sẽ lựa chọn nội dung và phương pháp giảng dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh, kích thích tư duy sáng tạo, tìm tòi, phát hiện kiến thức trọng tâm của bài học và thông điệp nhà thơ muốn truyền tải qua tác phẩm của mình Đồng thời

có thêm tri thức văn hóa đối với những vấn đề liên quan đến đời sống xã hội qua đó học sinh trau dồi thêm kĩ năng sống cho bản thân và điều chỉ hành vi ứng xử phù hợp với hoàn cảnh cụ thể Dấu ấn văn học Đông - Tây được thể hiện rất phong phú và đa diện trong hệ thống tác phẩm văn học hiện đại Việt Nam, đặc biệt là văn học lãng mạn giai đoạn 1930 - 1945 nhưng hiện nay vẫn chưa nhận được sự quan tâm và tìm hiểu sâu của các nhà nghiên cứu và phê bình văn học Vì vậy, nếu đề tài này của tôi được thực hiện sẽ có ý nghĩa trong việc tiếp nhận, đánh giá tác giả và tác phẩm văn học ở góc nhìn hoàn toàn mới - góc nhìn văn hóa, đồng thời góp phần đổi mới phương pháp dạy học trong nền giáo dục nước ta trong thời kì đổi mới như hiện nay

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Văn hóa Đông Tây và và sự tác động của văn hóa Đông Tây đến văn học Việt Nam

Sự xuất hiện của văn hóa Đông - Tây đã làm cho bộ mặt văn học nước nhà

có sự chuyển biến rõ rệt Đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Đông - Tây,

về thơ Huy Cận và về vấn đề văn hóa Đông - Tây trong thơ Huy Cận

PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp với đề tài cấp Bộ “Văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX trong bối cảnh giao lưu văn hóa Đông - Tây” cho biết: sự thay đổi về quan niệm và chức năng văn học đã kéo theo sự thay đổi về thể loại và ngôn ngữ văn học Thành tựu to lớn của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ

XX đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho việc phát triển văn học trên 3 phương diện rất quan trọng đó là: Tăng cường, mở rộng giao lưu văn hóa;

Trang 10

Tôn trọng cá tính sáng tạo và tự do của nghệ sĩ; Tạo dựng môi trường dân chủ nhằm kích thích sự sáng tạo và đối thoại văn hóa Ở giai đoạn ba mươi năm đầu thế kỷ XX các nhà văn đã bắt đầu dịch và tiếp thu tư tưởng lý luận, phê bình văn học phương Tây Đề tài là tập trung phân tích diện mạo, quá trình phát triển, đặc điểm của văn học nửa đầu thế kỷ XX trong bối cảnh giao lưu văn hóa Đông - Tây Phân tích và làm rõ quá trình phát triển, đặc điểm và thành tựu nổi bật trong bối cảnh hiện đại hóa, nhất là về thể loại, thi pháp nghệ thuật

Hà Thu Hồng với nghiên cứu “Sự tái hiện cuộc va chạm Đông Tây và thời thuộc địa trong văn học đương đại Việt Nam” đã tìm kiếm và lý giải

những vấn đề mới trong sáng tác của các nhà văn đương đại về thời thuộc địa, cùng sự đánh giá và nhìn nhận mới về thời kì lịch sử đầy biến động của dân tộc Tuy nhiên đề tài này mới chỉ đề cấp đến văn hóa Đông Tây và sự ảnh hưởng của nó đến văn học Việt Nam

Một nghiên cứu khác của Đặng Thị Vân Anh là “Thơ trào phúng của Trần Tế Xương nhìn từ sự tiếp xúc văn hóa Đông Tây”, đề tài đã làm sáng tỏ

và rõ ràng hơn các nội dung về thơ trào phúng Tú Xương như chủ đề, đề tài,

hệ thống nhân vật cùng những đặc điểm về thi pháp như kết cấu, ngôn ngữ, mang tín hiệu của tiếp xúc văn hóa Đông - Tây

Đặng Thị Huyền Trang với nghiên cứu “Phan Khôi với vấn đề tiếp xúc văn hóa Đông Tây trước năm 1945” Luận văn đã hệ thống hóa những bài

viết, những cuộc tranh luận thể hiện rõ quan điểm, thái độ của Phan Khôi đối với từng khía cạnh của vấn đề tiếp xúc văn hóa Đông Tây ở Việt Nam trước năm 1945 Đề tài cũng đã làm sáng tỏ được những đóng góp của Phan Khôi đối với việc định hướng xây dựng nền văn hóa mới nói chung và công cuộc tiếp xúc văn hóa Đông Tây nói riêng

Trang 11

Nhìn chung các nhà nghiên cứu đang dần hướng đến những vấn đề mới trong các tác phẩm văn học Việt Nam

2.2 Thơ Huy Cận và vấn đến văn hóa Đông Tây trong thơ Huy Cận

Trong các công trình về lịch sử văn học Việt Nam, Huy Cận vẫn luôn được coi là một nhà thơ lớn với nhiều đóng góp thơ văn có giá trị Các sáng tác của ông kể từ khi xuất hiện đến nay ngày càng được độc giả các thế hệ quan tâm, thưởng thức và phẩm bình Thơ Huy Cận mang đậm cái tôi cá nhân, là điển hình của phong trào Thơ mới Nhà thơ Huy Cận là một thi tài, là một trong những cây đại thụ của văn học dân tộc Vì thế, Huy Cận và sự nghiệp thơ văn của ông đã trở thành mảnh đất trù phú nuôi trồng biết bao cây bút nghiên cứu, phê bình văn học Qua quá trình tổng hợp, chúng tôi nhận thấy có hai hướng nghiên cứu chính liên quan đến thơ Huy Cận và vấn đề văn hóa Đông Tây trong thơ Huy Cận:

Hướng thứ nhất là các nghiên cứu về thơ Huy Cận, đặc biệt là tập thơ

ngay từ buổi đầu Lửa thiêng ra đời, ông đã “nghe”, đã “cảm” được “cảm giác

không gian” và “cái sầu của vũ trụ” của Huy Cận: “…ta nghe xa vắng quanh mình; ta đứng trên thiên văn đài của linh hồn, nhìn cõi bát ngát; một cái buồn vời vợi dàn ra cho đến hư vô…”

Nhà phê bình văn học Hoài Thanh - Hoài Chân nhận xét rằng: Huy Cận

có lẽ đã sống một cuộc đời rất bình thường, nhưng người luôn lắng nghe mình sống để ghi lấy cái nhịp nhàng lặng lẽ của thế giới bên trong…Người đã gọi dậy cái hồn buồn của Đông Á, người đã khơi lại cái mạch sầu mấy nghìn năm

Trang 12

vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này Hai nhà phê bình cũng cho rằng hồn thơ Huy Cận trong cuộc viễn du đã có lần nhác thấy cái xa thẳm của thời gian và không gian…, với con đường về quá khứ đi càng xa, càng cô tịch, tứ bề càng vắng lặng, mênh mông…

Lửa thiêng không tách khỏi quỹ đạo chung của thơ ca lãng mạn giai

đoạn này nhưng vẫn có những điểm riêng qua cảm nhận thời đại và quan niệm thẩm mỹ của Huy Cận Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ nhận xét: Quan điểm thẩm mỹ của các nhà thơ mới có nhiều điểm gặp gỡ với quan điểm nghệ thuật của các nhà văn lãng mạn phương Tây thế kỷ XIX Nói chung đó là quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” Và, tuy quan điểm mỹ học của các nhà lãng mạn ở nước ta thực ra cũng chẳng có gì mới so với các nhà lãng mạn phương Tây nhưng nó vẫn có những nét riêng, mới, lạ của thơ ca lãng mạn Việt Nam giai đoạn này Nét riêng này được thể hiện từ quan niệm thẩm mỹ của thơ Thế Lữ với cái tôi nghệ sĩ là “cây đàn muôn điệu”; Xuân Diệu với quan niệm thẩm mỹ hồn thơ là những khúc nhạc thơm, khúc nhạc hường; Huy Thông đi tìm giấc mộng anh hùng trong lịch sử; Lưu Trọng Lư “hướng cái nhìn vào một thế giới mơ màng”; còn “chàng Huy Cận ngày xưa hay sầu lắm”, lại đi vào vũ trụ trăng sao…

Phân tích riêng thơ Huy Cận với ý nghĩa “ngọn Lửa thiêng trong đời và

trong thơ”, Hà Minh Đức mô tả khá rõ nét cuộc hành trình tâm tư của một nhà thơ trong tình yêu, nỗi sầu đời lẫn yêu đời, những khát vọng vũ trụ thanh cao

Và, Hà Minh Đức giải thích nỗi buồn trong thơ Huy Cận: thơ Huy Cận buồn,

căn bệnh tinh thần của một thế hệ không dễ đổi thay; nhưng nỗi buồn của Lửa thiêng không mang nhiều tính riêng tư, không gắn với dục vọng, đam mê để

rồi chán chường, tuyệt vọng Vẫn có một mạch tình cảm trong trẻo, thiết tha gắn bó ân cần với cuộc sống và nói như cách nói của tác giả sau này, đó là tâm trạng yêu đời nên đau đời

Trang 13

Nhà nghiên cứu Lê Đình Kỵ cũng dành không ít trang cho phần phân

tích tập Lửa thiêng của Huy Cận Về cái nền chung, Thơ mới nằm trong thời

kỳ văn học lãng mạn 1930-1945 bộc lộ sự đổi mới về mặt thi pháp và tư duy thơ một cách tất yếu Cụ thể qua sáng tác thơ ca, “những đổi mới ấy đã bộc lộ qua tư duy bằng liên tưởng, bằng ấn tượng, cảm giác, bằng âm thanh, nhịp điệu, biến cái trừu tượng thành cụ thể, nối dài cái cụ thể bằng cái trừu tượng, nội tâm hóa ngoại giới, ngoại giới hóa nội tâm… do ảnh hưởng trực tiếp của

tư duy thơ thời hiện đại…”

Hướng nghiên cứu thứ hai là vấn đề văn hóa Đông - Tây trong thơ Huy Cận như: Nguyễn Văn Động với nghiên cứu về Dấu ấn Đường thi trong thơ mới (qua trường hợp Huy Cận và Vũ Hoàng Chương), làm sáng tỏ dấu ấn và ảnh hưởng của Đường thi đối với phong trào Thơ mới nói chung và thơ của hai thi nhân tài năng là Huy Cận và Vũ Hoàng Chương trước cách mạng tháng Tám 1945 nói riêng Các phương diện mà chúng tôi tập trung nghiên cứu làm sáng rõ là: ảnh hưởng của thơ Đường trong quan niệm nghệ thuật về con người và thế giới của Huy Cận và Vũ Hoàng Chương; dấu ấn Đường thi trong hình thức nghệ thuật của các tập thơ “Lửa thiêng” của Huy Cận, “Thơ Say” và “Mây” của Vũ Hoàng Chương

Một nghiên cứu của Nguyễn Thế Thạnh và Phạm Anh Tuấn mang tên

“Ảnh hưởng của văn học nước ngoài trong bài thơ Tràng Giang", đề tài khẳng định mỗi nền văn học tồn tại trong rất nhiều các mối quan hệ Các mối quan

hệ có sự chi phối lớn đến giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật trong các sáng tạo văn học của một dân tộc Văn học Việt Nam cũng vậy Một trong các mối quan hệ đó trong văn học Việt Nam, đó là sự ảnh hưởng Văn học Việt Nam trong cả mười thế kỉ tồn tại trong sự ảnh hưởng sâu sắc của văn học Trung Hoa Đến đầu thế kỉ XX, Văn học Việt Nam có sự ảnh hưởng của văn học phương Tây Đề tài này chỉ nghiên cứu vấn đề văn hóa Đông - Tây trong phạm vi hẹp qua một bài thơ của nhà thơ Huy Cận

Trang 14

Chúng tôi nhận thấy các công trình nghiên cứu về nhà thơ Huy Cận tập trung chủ yếu vào những yếu tố cuộc đời và thời đại ảnh hưởng phong cách sáng tác của nhà thơ, đồng thời tập trung nói về thế giới nghệ thuật trong thơ ông Có thể nói, Huy Cận là nhà thơ để lại dấu ấn đậm nét trong văn Tuy nhiên qua một số khảo sát của chúng tôi chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào tìm hiểu cụ thể, chi tiết về tích hợp văn hóa Đông - Tây trong thơ Huy Cận trước 1945 mà chỉ đề cập một cách chung nhất về dấu ấn văn hóa trong các tác phẩm cùng với các nhà văn yêu nước đương thời khác hoặc chỉ

đề cập đến văn hóa phương Đông hay văn hóa phương Tây trong các sáng tác

của thơ Huy Cận như: “Huy Cận - sự khuếch đại và mở rộng không gian”[4],

“Hồn buồn trường cửu trong thơ Huy Cận”, “Huy Cận và những đóng góp quan trọng cho thơ ca hiện đại Việt Nam”,… Như vậy, thơ ca Huy Cận là vấn

đề đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, chú ý ở nhiều mức độ, khía cạnh khác nhau nhưng cho đến nay chưa có công trình nào coi vấn đề tích hợp văn hóa Đông Tây trong thơ Huy Cận trước 1945 là đối tượng chính để nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện Vì vậy, nghiên cứu vấn đề này là một việc làm có ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn và góp phần có cái nhìn mới dưới góc độ văn hóa trong sáng tác của nhà thơ Huy Cận - một nhà thơ tiêu biểu trong nền văn học hiện đại Việt Nam đầu thế kỉ XX Chính vì lẽ đó, chúng tôi đã tiếp thu những ý kiến, những gợi dẫn quý báu của các thầy cô hướng dẫn và các nhà nghiên cứu đi trước để làm tiền đề tiếp tục gợi mở cho

chúng tôi thực hiện đề tài “Tích hợp văn hóa Đông - Tây trong thơ Huy Cận trước 1945”

3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Biểu hiện của văn hóa Đông - Tây, tích hợp văn hóa Đông - Tây trong thơ Huy Cận trước 1945 trên bình diện nội dung và nghệ thuật

Trang 15

3.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài đi sâu vào khảo sát và chỉ ra các dấu hiệu văn hóa Đông - Tây trong thơ Huy Cận trước 1945 Phân tích hiệu quả của sự tích hợp văn hóa Đông - Tây trong thơ Huy Cận đã có sự ảnh hưởng, tác động thế nào đến thơ Huy Cận nói riêng và thơ mới Việt Nam 1930 - 1945 nói chung Khẳng định tài năng và sự đốc đáo của thơ Huy Cận từ góc nhìn văn hóa

4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ một số khía cạnh có liên quan đến đề tài: Đặc trưng của văn hóa phương Đông và phương Tây; Khảo sát và phân tích ảnh hưởng của văn hóa phương Đông và phương Tây đến thơ ca Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945; Khảo sát về thơ Huy cận giai đoạn 1930 - 1945; Chỉ ra điểm đặc sắc của thơ Huy Cận trong sự ảnh hưởng của văn hóa Đông - Tây về nội dung và nghệ thuật; Khẳng định những thành tựu và vị trí của thơ Huy Cận trong nền văn học Việt Nam hiện đại

Phân tích và đánh giá về tác dụng và ý nghĩa của việc tích hợp văn hóa Đông - Tây trong thơ Huy Cận trước 1945 Qua đó, khẳng định vai trò, vị trí của đề tài đối với tiến trình phát triển của văn học hiện đại Việt Nam nói chung, sự nghiệp sáng tác của Huy Cận nói riêng

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp tiểu sử, phương pháp này giúp phác họa khái quát chân dung văn học của nhà thơ Huy Cận để thấy được sự tác động cả các yếu tố trong cuộc đời của nhà thơ đến quá trình sáng tác

Hướng tiếp cận liên ngành, phương pháp này có thể dùng nhiều tri thức khoa học để soi xét, phân tích vấn đề, đặc biệt là giúp tiếp cận tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa

Trang 16

Phương pháp tiếp cận văn hóa học, sử dụng phương pháp này để phân tích sâu các giá trị văn hóa để chỉ ra hệ thống cơ sở các giá trị của nền văn hóa truyền thống của nhà thơ và các nhà thơ cùng thời Huy Cận

Phương pháp tiếp cận thi pháp học, phương pháp này giúp giải mã các yếu tố hình thức trong quan hệ với nội dung để tìm ra quy luật trong tác phẩm, chỉ ra sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật dẫn đến sự thay đổi quan niệm về phương thức thể hiện

Ngoài ra sử dụng các thao tác nghiên cứu: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, phân loại,…

5 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài gồm: Các sáng tác của Huy Cận trước

1945, đi sâu phân tích nội dung trong tập “Lửa thiêng” và các tư liệu, công trình

nghiên cứu, bài báo có liên quan

Ngoài ra, có thể so sánh việc tích hợp văn hóa Đông - Tây trong thơ Huy Cận trước 1945 với các tác giả hiện đại khác cùng thời: Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên,…

6 Cấu trúc của luận văn

Chương 1: Văn hóa Đông - Tây và thơ Huy Cận

Chương 2: Thế giới nghệ thuật trong thơ Huy Cận trước năm 1945 Chương 3: Biểu tượng và ngôn ngữ trong thơ Huy Cận trước năm 1945

7 Đóng góp của luận văn

Về lý luận: Khảo sát đặc điểm của văn hóa Đông - Tây trong thơ Huy Cận, từ đó khẳng định vai trò của sự tích hợp văn hóa Đông - Tây đối với thơ Huy Cận

Về thực tế: Luận văn góp thêm một góc tham chiếu về thơ Huy Cận để thấy được đặc sắc của thơ Huy Cận, vai trò và vị thế của nhà thơ Huy Cận đối với phong trào Thơ mới nói riêng và văn học Việt Nam nói chung

Trang 17

Chương 1 VĂN HÓA ĐÔNG - TÂY VÀ THƠ HUY CẬN 1.1.Văn hóa Đông - Tây

1.1.1 Quan niệm về văn hóa Đông - Tây

Nền tảng của văn hóa phương Tây

Từ Hy Lạp cổ đại cho đến ngày nay, văn hóa phương Tây, với những thăng trầm của chặng đường dài đã hoạt động chủ yếu dựa trên các nguyên tắc tự do, bình đẳng, công bằng, luôn lấy hạnh phúc và phúc lợi của con người làm mục tiêu cơ bản Văn hóa phương Tây dựa trên những ý tưởng của xã hội

Hy Lạp cổ đại, văn hóa La Mã cổ đại, và Cơ đốc giáo phương Tây (Công giáo

và Tin lành), Bắt nguồn từ Tây Âu, văn hóa phương Tây đã lan rộng trên một

số lục địa thông qua quá trình thuộc địa hóa, có một loạt các xã hội tiếp nhận các phần của văn hóa phương Tây trong khi vẫn duy trì sự khác biệt sâu sắc, đặc biệt là về tôn giáo, giá trị, phong tục và văn hóa

Xã hội phương Tây được tìm thấy ở các thuộc địa cũ như Hoa Kỳ, Canada, Úc, New Zealand, phần lớn châu Mỹ Latinh và Nam Phi Nó cũng được tìm thấy ở khu vực Balkan pha trộn với các xã hội Chính thống và Hồi giáo và có ảnh hưởng đến xã hội Nhật Bản

Văn hóa phương Tây thiên về vật chất và chủ nghĩa khoái lạc, đặc biệt

là khi nói đến hạnh phúc và hạnh phúc cá nhân Nền tảng của nó là thế tục hóa, chủ nghĩa tư bản, thị trường tự do và tính hiện đại Văn hóa phương Tây nhấn mạnh chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tự do kinh tế, và coi thường tác động của tôn giáo đối với nhà nước và khu vực công Để lại quá khứ cho tương lai

là một động lực trung tâm trong văn hóa phương Tây, và tự do được coi là thứ

mà mọi người đều có quyền hưởng Những nhà văn đã cổ vũ một xã hội dân chủ, tự do, thế tục, hợp lý, bình đẳng và nhân văn với những giá trị cơ bản là

tự do, bình đẳng, công bằng, hạnh phúc và tiến bộ

Trang 18

Các nhà khoa học phương Tây vẫn còn chưa thể khám phá những bí ẩn trên như các nhà sư ngồi thiền để lại nhục thân nguyên vẹn, hay xá-lị, khi viên tịch hàng trăm năm mà vẫn chưa có thay đổi bất cứ điều gì về thân thể quả là một điều kì diệu, các bậc chân nhân sống hàng trăm năm trong các hang núi vùng Himalaya (được mệnh danh là nơi ở của tuyết)

Nền tảng của văn hóa phương Đông

Thế giới phương Đông bao gồm các nền văn minh, rất nhiều các tục tập quán, văn hóa, tín ngưỡng của những người chỉ chung con người châu Á Chủ yếu có nền văn minh Trung Hoa, Ấn Độ, Ba Tư…Tên gọi các nước Phương đông thường dùng chỉ chung cho các nền văn minh, văn hóa, đang ở hiện tại cũng như quá khứ Đặc trưng về tư tưởng và tập quán, vật chất, nhạc họa, kiến trúc, tôn giáo Đã hội tụ được nhiều nguồn tạo thành một thế giới các nước Phương đông Chủ yếu những nét cổ xưa con người truyền lại đời sau hay đã mất trong dòng lịch sử dài của Á châu

Văn hóa huyền bí đậm chất phương Đông

Bản chất con người phương Đông chú trọng nội bộ bản thân họ Những nét này đều mang đậm tính cách của các vùng, địa hình được trải dài như khắp các ngọn núi non hiểm trở, khiến những người xưa khó gần nhau về việc giao tiếp Tôn giáo chủ yếu: Ấn Độ giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo, Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo v.v pha trộn lẫn nhau đưa ra những nền văn minh tinh túy nhất cho nhân loại

Nền văn hóa phương Đông là nền văn hóa dựa trên cơ sở quan điểm

“đạo Khổng”, “Phật giáo” Theo đó thì: “Quan niệm cho rằng có thể dựa vào yếu tố tinh thần và những phương diện thuộc về con người để xây dựng, là nền văn hóa gắn với cộng đồng Trong quan điểm của người phương Đông, sự đoàn kết đồng long luôn quan trọng, tinh thần tập thể được đề cao Hơn nữa văn hóa phương Đông là văn hóa truyền thống với bản chất tương trợ lẫn

Trang 19

nhau, hòa đồng Luôn đặt lợi ích của tập thể lên hàng đầu, cá nhân không được bộc lộ quá mức sự độc lập

Văn hóa phương Tây là nền văn hóa có đặc trưng khác biệt với văn hóa phương Đông Quan niệm cho rằng: “Văn hóa phương Tây dựa vào các nền tảng giá trị Châu Âu cổ đại, dựa trên các giá trị kinh tế” Nét riêng của phương tây là cái tôi cá nhân được đề cao Sự tự do và dân chủ là nổi bật trong văn hóa phương Tây

Khi nói đến văn hóa phương Đông, văn hóa phương Tây chúng ta thấy

tự nó đã có sự khác biệt Sự khác biệt giữa văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây từ nhiều cơ sở xác đáng, bởi lẽ đó nên mỗi nền văn hóa đều có những đặc trưng riêng, hội tụ thành nền văn hóa chung của nhân loại

Lối tư duy duy lý của người phương Tây cũng có những điểm tích cực trong nhận thức cũng như hành vi ứng xử thường phân minh rõ ràng, tính thực tế trong nhận thức và hành động Còn đối với văn hóa phương Đông, do chịu ảnh hưởng bởi thói quen kinh nghiệm về lao động sản xuất của cộng đồng cư dân nông nghiệp nên văn hóa ứng xử của người phương Đông thường coi trọng tính tập thể Nếu chủ thể văn hóa ở phương Đông là tập thể, cộng đồng thì chủ thể văn hóa ở phương Tây lại là cá nhân

Trong văn hóa phương Tây, không thể không nhắc đến đạo Thiên Chúa giáo Bản chất của đạo là coi trọng chúa Giesu, là đấng cứu sinh đem an lành

và ban phước cho tất cả mọi người Còn trong văn hóa phương Đông, thì là sự pha trộn tổng thể của nhiều tôn giáo như Phật giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Nho giáo, v.v…Nền văn hóa phương Đông thiên hướng đa chiều, nhưng phương tây lại có tính đơn chiều nên mỗi nền văn hóa lại được đề cập đến các góc độ khác nhau

Văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây là hai thể khác nhau của nền văn hóa Tất cả những yếu tố đặc trưng về lối sống, phong tục tập quán,

Trang 20

xu hướng…đều tạo thành từng nền văn hóa Nhưng trong thế giới hiện đại, sự giao lưu là điều tất yếu Một trong những lĩnh vực giao thoa nhau là văn hóa Trong mỗi nền văn hóa đều có sự tích hợp những điểm tương đồng nhất định, tạo nên chỉnh thể

Trong nền văn hóa, nền văn học, các khái niệm “Đông” và “Tây” là nghĩa đơn thuần chỉ về vùng khu vực là phương Đông và phương Tây Gắn với nó chúng ta bàn đến sự hòa trộn không mất đi tính đặc trưng đó là: “Tích hợp Đông - Tây trong Thơ mới là sự hòa hợp, hóa hợp các yếu tố với nhau, đan xen, chuyển hóa vào nhau để tạo ra một sản phẩm mới, thực chất là sự giao thoa, tiếp biến văn hóa rồi đến văn chương, sự hấp thu nhuần nhuyễn các yếu tố phương Đông (thơ Đường) và phương Tây (thơ Pháp)”

1.1.2 Bối cảnh văn hóa và ảnh hưởng của Văn hóa Đông - Tây đến Việt Nam

Việt Nam là đất nước trong khu vực Đông Nam Á, chịu sự tác động của nhiều nền văn hóa Trong khu vực có nhiều nền văn hóa rộng lớn như Trung Hoa, Ấn Độ, Nhật Bản,….ảnh hưởng trực tiếp nhiều nhất là văn hóa Trung Hoa Giữa các nước không chỉ có sự giao lưu hợp tác về kinh tế mà còn

có sự giao lưu văn hóa Cũng giống như nhiều quốc gia khác, sự giao lưu văn hóa Đông - Tây như một xu hướng tất yếu của nền văn hóa Việt Nam

Xu hướng chung là hòa vào một môi trường đa sắc màu văn hóa trong

sự phát triển văn hóa ở mỗi một quốc gia Tính đa dạng văn hóa trong tiến trình phát triển văn hóa của quốc gia hiện nay được hiểu là có tính chất đa dạng, nhiều sự giao lưu và tồn tại đan xen giữa các dạng thức văn hóa nhiều điểm khác nhau trong một nền văn hóa chỉnh thể thống nhất Trong môi trường đa văn hóa ấy bao gồm sự giao lưu và tính tiếp biến giữa văn hóa truyền thống và văn hóa hiện đại, giữa văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây có sự giao lưu học hỏi trong một môi trường chung nhất Bài học của các quốc gia phát triển trong khu vực Châu Á và trên thế giới đã cho thấy

Trang 21

tạo lập một môi trường đa văn hóa không những không làm cản trở mà ngược laị còn tạo động lực cho sự cho sự phát triển của tất cả các quốc gia

Trên thế giới tồn tại các nền văn hóa khác nhau, xét chung lại có nền văn hóa phương Tây và nền văn hóa Phương Đông

Những nét đặc trưng của nền văn hóa phương Đông như đặt vấn đề gia tộc làm gốc Có lẽ bởi thế mà nhà thơ Huy Cận luôn có một tình yêu quê hương yêu nong sông đất nước sâu nặng Ngoài ra văn hóa phương Đông rất coi trọng tình cảm, bất kể là thứ tình cảm gì cũng đều được tôn trọng và phát huy Những đặc trưng này toát lên bản chất “trọng tình” của văn hóa truyền thống phương Đông Chính bởi lẽ thế mà chúng ta thấy trong thơ Huy Cận là những lời thơ cất lên để tỏ bày sự yêu nước Vì dành tình cảm sâu nặng cho đất nước mà bất cứ kẻ thù xâm lược hay con người lệch lạc tư tưởng đều khiến cho nhà thơ cảm thấy buồn buồn

Còn đặc trưng trong văn hóa phương Tây đó là các tư tưởng tiến bộ văn minh Như những nhà thơ của Tự lực văn đoàn đã cống hiến, họ tiếp thu đặc biệt các tư tưởng chống lễ giáo phong kiến, đề cao ý thức cá nhân Bên cạnh

đó trong văn hóa phương Tây còn đặc biệt đề cao tự do của tình yêu đôi lứa,

dù rằng đôi bên ở trong các hoàn cảnh khác nhau, địa vị khác nhau nhưng cùng đồng điệu tâm hồn Huy Cận đã tiếp thu chắt lọc những điều tiến bộ đó

và bày tỏ quan điểm trong các vần thơ

Phản ánh xã hội hiện thực cũng là điểm nổi bật trong văn hóa phương Tây Nhà thơ đã vận dụng có hiệu quả tư tưởng hướng đến cái thực tế trong tác phẩm của mình Khi chịu tác động từ lối diễn tự sự, bản thân Huy Cận đã

cố gắng giãi bày tâm tư của mình trước cảnh trước tình thế xã hội đương thời Trong nền văn hóa phương tây mà trong đó thơ ca nước Pháp chính là có tác động chủ yếu đến phong cách thơ Huy Cận

Trang 22

Mặc dù còn một số hạn chế trong tư tưởng khi tiếp thu nội dung và hình thức thơ phương Tây, nhưng rõ ràng nhờ quá trình tiếp xúc này các nhà thơ mới đã mang vào thơ một luồng gió mới tạo ra sự biến đổi nhiều mặt trong thơ ca Việt Nam hiện đại

Cách tốt nhất để dung hòa là cần phát huy những ưu điểm, khắc phục các hạn chế tồn tại của văn hóa phương Đông, phương Tây trong việc tạo lập một nền văn hóa mới từ sự kết hợp đó Việt Nam là một quốc gia thuộc khu vực phương Đông, lẽ dĩ nhiên nền văn hóa của Việt Nam sẽ phải là một nền văn hóa mang đậm nét bản sắc của văn hóa phương Đông Để văn hóa phương Đông trở thành một phần động lực thúc đẩy sự phát triển nền văn hóa chung, trước hết nước ta phải làm rõ những giá trị cốt lõi trong văn hóa phương Đông cần được phát huy cũng như hạn chế tồn tại có thể gây nên rào cản cho sự phát triển của nó Còn về nền văn hóa phương Tây, sự việc tiếp thu các giá trị văn hóa này trong quá trình hình thành xây dựng và thúc đẩy nền văn hóa Việt Nam cần có sự kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những giá trị văn hóa tinh hoa nhất, đồng thời cần phải loại bỏ những giá trị văn hóa không còn phù hợp

Tuy nhiên khi xây dựng văn hóa thì Việt Nam cần chú ý nhiều hơn đến các giá trị của nền văn hóa phương Đông có sự gần gũi hơn Từ đó tạo nên xu hướng hình thành nền văn hóa bản sắc Việt Nam Còn đối với các giá trị tích cực trong nền văn hóa phương Tây thì Việt Nam cần chọn lọc để áp dụng phù hợp với văn hóa truyền thống Và quan điểm luôn là kim chỉ nam cho việc xây dựng văn hóa là luôn phải giữ gìn và tiếp tục phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ta Trên thế giới thì xã hội ngày càng phát triển, theo đó nền kinh tế

mở cửa hợp tác đa phương, hội nhập kinh tế quốc tế trên thế giới ….tất cả đều tác động đến sự mở rộng giao lưu với các nền văn hóa trên thế giới, đặc biệt

là hai nền văn hóa phương Đông, phương Tây

Trang 23

Sự tiếp biến, đồng điệu giữa các nền văn hoá không nằm ngoài sự phát triển của bất kỳ một xã hội nào Đặc trưng của sự giao thoa, hòa trộn văn hóa là: “Trong quá trình các nền văn hóa tổng hòa với nhau, có thể diễn ra hiện tượng các yếu tố đặc trưng của nền văn hoá này du nhập vào nền văn hoá kia hoặc nền văn hóa có sự vay mượn lẫn nhau sau đó trải qua sự điều chỉnh; tạo nên chỉnh thể phù hợp văn hóa” Đất nước Việt Nam có truyền thống văn hóa phương Đông từ bao đời nay, đến giai đoạn phát triển của xã hội với sự tồn tại của chế độ phong kiến, thực dân, đế quốc thì sự giao thoa văn hóa càng trở nên đa dạng hơn Khi nói đến giao lưu văn hóa của Việt Nam thì phải kể đến thời kỳ đó là: “Sự thâm nhập của nền văn hóa Việt Nam với nền văn hóa phương Tây đã tiếp diễn vào những thập niên đầu của thế kỉ XX Bối cảnh lịch sử đó là thực dân Pháp xâm lược và đô hộ thống trị nước thuộc địa Việt Nam Việt Nam vẫn có sự chọn lọc những tinh hoa trong nền văn hóa Đông - Tây rồi cải biến cho phù hợp với sự truyền thống của nền văn hóa Việt Nam”

Có thể nói giao thoa văn hóa có ý nghĩa quan trọng: “sự hòa trộn nhiều nền văn hóa là động lực để bổ sung những yếu tố văn hóa mới tiến bộ, và hiện đại vào nền văn hóa truyền thống Từ sự pha trộn đó sẽ làm giàu đẹp, đa dạng, đổi mới nền văn hóa dân tộc trong thời đại lịch sử mới”

Trong xã hội Việt Nam thế kỷ XX, đặc trưng là “nền văn minh lúa nước nên tạo ra nền văn hóa mang tính nông nghiệp, đó là nét riêng của nền văn hóa phương Đông Văn hóa phương Đông giữ trạng thái truyền thống trong các mối quan hệ nhà nước và nhân dân, mối quan hệ giữa con người và con người,… Như vậy đặc điểm của văn hóa phương Đông là coi trọng tình cảm, lễ nghĩa, nghi thức Cho đến thời gian sau đó sự giao thoa văn hóa mới biểu hiện rõ nét: “Cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp xâm lược đã xác lập chính quyền cai quản trên toàn lãnh thổ Việt Nam Do đó xã hội Việt Nam chuyển từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản nhưng là một

Trang 24

nước thuộc địa chứ không độc lập Chính điều này đã tác động lớn đến chủ thể trong nền văn hóa Việt Nam

Phương thức kinh tế, chế độ tư bản đã tác động mạnh vào quá trình đô thị hóa tại Việt Nam Sự tiếp xúc văn hóa vùng đã làm nảy sinh các yếu tố như: “đội ngũ trí thức Tây học hiểu biết tiếng Pháp, lĩnh hội văn hóa Pháp (như Nhất Linh,….) và xuất hiện một lực lượng sáng tác mới mà điển hình là nhóm Tự lực văn đoàn (gồm những người làm báo, viết truyện ngắn, viết kịch, viết tiểu thuyết, dịch thuật…) mà làm nên tên tuổi suốt một thời gian dài Trong quá trình giao lưu văn hóa thì sẽ nảy sinh bất đồng quan điểm, cách tiếp nhận; do đó có thể nói: “văn hóa Việt Nam có những cách ứng xử khác nhau đối với cả hai nền văn hóa Đông - Tây Có hai quan điểm, một quan điểm ủng hộ tích cực từ nền văn hóa phương Tây, cần có sự kết hợp để hoàn toàn làm nên nền văn hóa Âu hóa hơn Ở một quan điểm khác thì nhìn nhận những mặt tiêu cực của văn hóa phương Tây để phê phán chúng từ đó làm cho hạn chế sự thích ứng với văn hóa Tây Âu

Sự giao thoa văn hóa có ý nghĩa giúp cho xã hội thích ứng phù hợp với

sự phát triển Việt Nam cũng nhu các quốc gia khác, tác động tích cực của văn hóa Đông - Tây là: “Dưới tác động của sự giao thoa văn hóa Đông - Tây thì nền văn hóa Việt Nam đã tiếp nhận và chuyển đổi phù hợp theo xu thế của thời đại Ở đây đã có sự tiếp biến văn hóa để củng cố xây dựng nền văn hóa dân tộc trong thời đại mới, cả truyền thống lẫn hiện đại” Thành công trong tiếp ứng các nền văn hóa mới đó là: “người Việt Nam tiếp nhận cách tư duy phân tích, bổ sung vào văn hóa nhận thức của mình để ứng xử với môi trường

tự nhiên, môi trường xã hội một cách khoa học hơn Với cách tư duy văn hóa mới, người Việt đã chọn lọc và học tập những giá trị tốt đẹp của chế độ dân chủ cộng hòa, để vừa bảo tồn được giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc vừa tiếp nhận được thành tựu văn hóa tiến bộ của nhân loại”

Trang 25

Những năm đầu thế kỷ XX ở các nước châu Á, trong đó có nền văn hóa Việt Nam, đều nằm trong xu thế hội nhập vào văn hóa nhân Trong đó phải kể đến văn hóa Phương Tây Văn hóa Việt Nam đã tiếp thu những tinh hoa văn hóa tích cực, bổ sung vào nền văn hóa truyền thống dân tộc Đến năm 1930, dưới bối cảnh giao thương quốc tế, thì nền văn hóa Việt Nam có diện mạo mới với chủ thể văn hóa thay đổi Sự tác động của văn hóa phương Tây và văn hóa phương Đông giúp cho nền văn hóa Việt Nam có được những kinh nghiệm những cách thức phát triển theo dạng chọn lọc, để hướng tới mục đích xây dựng một nền văn hóa Việt Nam hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc trong điều kiện mới

Bước vào thập niên 30, thực dân Pháp đẩy mạnh các cuộc xâm lược nhiều vùng đất, chủ nghĩa đế quốc làm thay đổi thực trạng xã hội, chế độ thuộc địa cai trị các tầng lớp trong xã hội đương thời, song song là sự phát triển đô thị như các nước phát triển và sự mở rộng quy mô của bộ máy thực dân Một đội ngũ trí thức được đào tạo từ các nhà trường Pháp - Việt hình thành và đóng góp nhiều công lao cho nền văn hóa chung Trong đó nổi bật là trình bày về các luận đề về ý thức cá nhân, tự do và lên án chế độ lễ giáo phong kiến Trong hoàn cảnh Việt Nam những năm này, văn chương đã trở

thành công cụ giúp họ thể hiện các quan điểm cá nhân sâu sắc

Thơ mới là hiện tượng thơ ca gắn bó với nguồn gốc xã hội lịch sử cụ thể của thời kỳ những năm của thế kỷ thứ XX Từ những năm 1930, diện mạo mới của xã hội đã tác động đến văn học nói riêng, văn hóa nói chung Ảnh hưởng từ văn hóa phương Tây mà chủ yếu nhất từ năn hóa Pháp đến Thơ mới

là rất rõ rệt Phong trào Thơ mới với nhiều điều mới là thành quả của sự giao thoa văn hóa, mà đặc trưng là văn hóa Đông - Tây Trong Thơ mới thì đại đa

số các nhà thơ đều hướng đến hồn thơ của chủ nghĩa lãng mạn Trong cốt yếu của chủ nghĩa lãng mạn của phong trào Thơ mới thì vẫn là tình yêu nước, yêu thương con ngời, sự đau đớn của con người khi sống trong cảnh mất nước

Trang 26

Văn học là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa, lẽ dĩ nhiên văn hóa tác động đến văn học là điều tất yếu Bất cứ nền văn hóa thời đại nào đều

sẽ chi phối đến bản chất của thời kỳ văn học tương ứng và ngược lại, thông qua văn học ta thấy nó luôn luôn phản ánh những yếu tố văn hóa ứng với thời đại của chính nó

Một hiện tượng văn học lớn không bao giờ ngoài luồng phát sinh từ trong một môi trường văn hóa to lớn Xu thế phát triển của thơ ca Việt Nam

đã chứng minh rõ ràng Thơ mới là một hiện tượng văn hóa đặc biệt của thế

kỷ XX, bởi vì thơ mới vừa mang đặc trưng của văn hóa phương Đông (là văn hóa Trung Quốc) và văn hóa phương Tây (là văn hóa lãng mạn Pháp) Văn hóa Việt Nam ngay từ khi rộng mở đã có tính chất đa dạng nhưng giữ nguyên văn hóa truyền thống và phát triển trong sự giao thoa với các nền văn hóa thời

đại khac Bởi vậy “Giao lưu (và từ đó là tiếp biến) là một mảng đậm, một

nhịp mạnh trong bức tranh toàn cảnh của văn hóa Việt Nam Từ giao lưu,

các lớp phủ văn hóa hình thành, các thời đại văn hóa ra đời” Văn hóa Việt

Nam là nền văn hóa gốc nông nghiệp, trọng tĩnh, sống định canh, định cư (cũng là đặc trưng của văn hóa phương Đông), khác với văn hóa gốc du mục, trọng động (là đặc trưng các nền văn hóa phương Tây)

Văn hóa phương Tây bắt đầu du nhập vào Việt Nam từ khoảng từ thế

kỷ XVI, gắn với hành trình truyền đạo của các giáo sĩ Kito và các thuyền buôn phương Tây đi tìm kiếm thị trường Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ

XX, sự xâm lược của đế quốc Pháp chính thức nổ ra thì văn hóa phương Tây mới bắt đầu có dấu hiệu ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam Trong hoàn cảnh chịu sự thống trị từ thực dân, văn hóa xã hội Việt Nam dù muốn hay không đều phải tiếp nhận văn hóa mới mẻ đó Nhưng chúng ta không thể phủ nhận rằng văn hóa phương Tây như luồng gió mới làm đổi thay một nền văn hóa truyền thống đậm chất phong kiến của Việt Nam Văn hóa Việt Nam từ khu vực địa lý nhỏ hẹp đã tiến đến không gian văn hóa thế giới mới Một trong

Trang 27

những kết quả nổi bật của cuộc giao lưu văn hóa chính là sự xuất hiện thành công của chữ quốc ngữ, từ đó văn chương Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng có điều kiện phát triển Văn học chuyển biến từ chức năng là một công

cụ sang chức năng như một nghệ thuật Thời gian trước đây thì văn học chủ yếu làm nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục hóa, đến giai đoạn sau khi có sự giao thoa văn hóa thì văn học mang mục đích tự thân Tất cả đều hướng con người đến vẻ đẹp thẩm mỹ khách quan, đến cái đẹp theo định nghĩa mới Các thể loại văn học đa dạng hơn, như tiểu thuyết và truyện ngắn hiện đại, mà trọng tâm là sự ra đời của phong trào Thơ mới Từ đây thơ truyền thống Việt Nam được tiếp nhận yếu tố hiện đại của văn học và văn hóa nhân loại, làm thay đổi một giai đoạn thơ ca với tên gọi Thơ mới Dù không chính thống song nền văn hóa phương Tây đã có nhiều tác động sâu sắc đến đời sống xã hội của Việt Nam thời bấy giờ Hệ thống các tư tưởng, cảm xúc và cái đẹp dần dần thay đổi Văn học với tư cách là một hình thái ý thức xã hội cũng phải canh tân để tìm cho mình chỗ đứng Chính sự đổi thay đặt ra những vấn

đề thành đề tài văn học khác trước Văn học bắt đầu thành hàng hóa, thành một nghề Lực lượng sáng tác, công chúng văn học, phương tiện in ấn thay đổi đòi hỏi văn học phải tự đổi mới

Trải qua một quá trình tiếp xúc văn hóa và văn học phương Tây cùng với văn hóa phương Đông đã tạo nên một động lực thúc đẩy đổi mới với nền văn hóa Việt Nam Yêu cầu một nền văn học mang nét hiện đại nhưng vẫn duy trì nét truyền thống là tất yếu Trong xu thế chung đó “cuộc cách mạng về thi ca” có nhiều điều kiện để nảy sinh Đó chính là tiền đề cho phong trào Thơ mới giai đoạn trước năm 1945

1.2 Cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Huy Cận

Nhà thơ Huy Cận có tên đầy đủ là Cù Huy Cận Nhà thơ Huy Cận được sinh ra trong một gia đình truyền thống Những chi tiết trong cuộc sống đời thường của gia đình nhà thơ đã tác động trực tiếp đến suy nghĩ, tâm hồn của

Trang 28

ông Càng trưởng thành thì nhà thơ Huy Cận càng có tâm hồn đồng điệu với cuộc sống chính bản thân ông chiêm nghiệm; chính từ cách nhìn tinh tế cùng tình cảm yêu mến, hòa mình với thiên nhiên và đặc biệt là quý mến con người

đã khắc họa tất thảy mọi truyền thống văn hóa của gia đình, quê hương

Nhà thơ Huy Cận có một cách nhìn nhân thế đặc biệt Có thể ví ông có nhãn quan của một con người trẻ tuổi, tài hoa và nhạy cảm Chính nhãn quan này chi phối trên nhiều phương diện thơ ông, từ hình tượng cái tôi, đến không gian, thời gian được mô tả, tái hiện

Những nét trầm tư, lặng lẽ buồn làm nên khuôn diện Huy Cận Nhà thơ Huy Cận có một vẻ điềm đạm nhờ truyền thống Đông phương Nhà thơ còn là nhân vật tiêu biểu nằm trong thế hệ trí thức Tây học trưởng thành Sở dĩ như vậy vì ông được học tập tại nhà trường Pháp - Việt, quá trình học tập đã giúp ông có nhiều hành trang trí thức trẻ Chính điều đó đã làm nên tên tuổi của ông trong thời kỳ Thơ mới, đó là kiến văn mới mẻ và một trái tim đầy nhiệt huyết

Nhà thơ Huy Cận sinh ra và lớn lên, trưởng thành trong hoàn cảnh xã hội lịch sử nhiều biến động, nhất là ở giai đoạn phát triển sau của Thơ mới Bản thân nhà thơ Huy Cận có cơ hội tiếp xúc văn hóa phương Tây nhiều hơn

cả, ông tiếp nhận nhiều thứ từ văn chương Pháp, có thể từ chính các cuộc trao đổi giao lưu bên nước Pháp, hay từ thực tế giao thoa văn hóa Pháp vào văn hóa Việt Nam trong thời gian Pháp thống trị nước ta Có lẽ bởi thế mà nhà thơ

Huy Cận đã viết nên một Vũ trụ ca mang đậm nét phương tây, rồi đến sáng tác vang dội màu sắc phương Đông là Lửa thiêng

Với một tâm thế cô đơn của mình, từ khi nhận thức chín muồi thì nhà thơ Huy Cận đã tự biết tìm lối thoát cho cảm xúc cuả mình trong tôn giáo, để

sau hòa nhịp rất muộn với thơ ca cách mạng (Trời mỗi ngày lại sáng, 1958)

và lại có thể tiếp tục đổi mới thơ ca của mình

Trang 29

Có thể nói nhà thơ Huy Cận là người có đóng góp rất lớn trong hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá; hơn nữa ông còn là nhà hoạt động quốc tế hoạt bát Chính điều này giúp ông tỏa sáng trong nghệ thuật, bằng nhiều đóng góp tích cực trên trong cả văn hoá văn học và nghệ thuật Thế giới ghi nhận những đóng góp của nhà văn, coi trọng các giá trị truyền tải trong tác phẩm văn học của nhà thơ Nhà thơ có tài năng, có tinh thần yêu nước đồng thời thể hiện khả năng của mình Do đó nhà thơ được giữ các vị trí như: “đồng Chủ tịch Đại hội nhà văn Á - Phi họp ở Ai Cập (2.1962), đồng Chủ tịch Đại hội văn hoá thế giới họp ở Cu Ba (1.1968), là Uỷ viên Hội đồng UNESCO (1978

- 1983), là Phó chủ tịch Tổ chức Hợp tác Văn hoá - Kỹ thuật của 49 nước (ACCT) (1981 - 1987), là Uỷ viên Hội đồng cao cấp tiếng Pháp (1985 - 2005)” [11, tr 17]

Nhà thơ Huy Cận vinh dự được bầu là người chủ trì ở nhiều hội nghị quốc

tế, ngoài ra ông còn đóng vai trò là người tham gia hội nghị để trình bày quan điểm cũng như tham luận của mình Nhà thơ Huy Cận đã phát huy được bản lĩnh cao của nhà chính trị với bạn bè quốc tế Và kiến thức dồi dào của nhà văn hoá nghệ thuật tài năng Ông được các nhà văn, nhà thơ, nhà chính trị yêu mến và quý trọng Bằng những chuyến giao lưu và làm việc trong suốt hành trình cuộc sống, nhà thơ Huy Cận đã có cơ hội đưa văn hoá Việt Nam đến với các vùng đất mới Bên cạnh đó, ông cũng thể hiện niềm tin và trân quý đón chào tiếp nhận tinh hoa văn hoá của thế giới mà nổi trội là văn hóa phương Tây và phương Đông để làm phong phú thêm cho nền văn hoá dân tộc

Con đường văn chương nghệ thuật của Huy Cận chia thành các giai đoạn, đó là giai đoạn trước khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công

và giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám năm 1945

Giai đoạn trước cách mạng tháng 8 năm 1945: Nhà thơ bắt đầu sự nghiệp sáng tác vào năm 1936 thông qua các bài bình luận về lĩnh vực văn

Trang 30

học, được đăng trên các tờ báo như Tràng An, Sông Hương Đến năm 1938, những bài thơ đầu tay của ông được đăng trên báo Ngày Nay (của nhóm Tự lực văn đoàn) So với nhiều người cùng thời, Huy Cận có thơ đăng báo từ lúc còn khá trẻ, 19 tuổi

Dấu mốc quan trọng khi đến độ tuổi 20, nhà thơ đã giới thiệu tới độc

giả yêu mến bằng một tập thơ gồm nhiều bài thơ khác nhau với tựa đề Lửa thiêng Có thể nói đây là tác phẩm xuất sắc của nhà thơ Huy Cận trong giai đoạn trước năm 1945, với các nét đặc sắc như sau: Tập thơ Lửa thiêng này

mang hơi hướng buồn, những tình cảm da diết hòa cùng hình ảnh thiên nhiên rộng lớn hung vĩ Tập thơ gồm 50 bài thơ, xuyên suốt âm hưởng toàn tập thơ

là tiếng lòng của nhà thơ tựa như tuổi trẻ rực rỡ; qua đó giãi bày điều muốn nói bao gồm những niềm vui, nỗi buồn nhân thế Giữa nhiều bài thơ khác của

các thi nhân khác về tình yêu và tuổi trẻ, Lửa thiêng có nét riêng đó là sáng

lạn, chan hòa cảm xúc với những hình ảnh trong trẻo tươi mới Ngoài ra ông

còn có các tập thơ khác được đăng rộng rãi trên báo, các tác phẩm như Kinh cầu tự hay Vũ trụ ca đã mang một một màu sắc tươi mới hơn cho thi đàn văn

học Việt Nam lúc bấy giờ

Thiên nhiên trong tập thơ thường bao la, hiu quạnh, đẹp nhưng thường buồn Nỗi buồn đó dường như vô cớ, siêu hình, theo kiểu: “Hôm nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” (Chiều- Xuân Diệu) Dù có vẻ như buồn vô cớ, nhưng xét đến cùng, chủ yếu là buồn thương về cuộc đời, kiếp người, về quê hương đất nước Hồn thơ ảo não, bơ vơ đó vẫn cố tìm được sự hài hòa và mạch sống âm thầm trong tạo vật và cuộc đời Còn trong

“Kinh cầu tự” (1942, văn xuôi triết lí) và “Vũ trụ ca” (thơ đăng báo 1942), Huy Cận đã cố gắng ca ngợi niềm vui, sự sống trong vũ trụ vô biên, song vẫn chưa thoát khỏi bế tắc và có phần nhạt hơn Tâm trạng bế tắc có khi đến tuyệt vọng ấy là xu hướng chung của lớp thanh niên trí thức Việt trước Cách mạng tháng Tám

Trang 31

1940-Giai đoạn sau cách mạng tháng Tám năm 1945: Các tác phẩm thơ của Huy Cận đã được đổi mới với phong cách kêu gọi, và ca tụng cuộc sống và con người thời đại mới Ông viết một số tác phẩm về biển, có thể kể tới các

tập thơ như Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa, Họp mặt thiếu niên anh hùng, Ngày hằng sống ngày hằng thơ cùng nhiều bài thơ khác “Huy Cận là

nhà thơ luôn mang trong mình niềm yêu mến quê hương và tình cảm yêu nước chân thành nhất”

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng vào Đà Nang, mở đầu cuộc xâm lược nước ta Sau khi bình định xong nước ta về mặt quân sự, chúng ráo riết tiến hành liên tiếp các cuộc khai thác thuộc địa nhằm bóc lột về kinh tế Điều này đã dẫn đến sự thay đổi mạnh mẽ, sâu sắc trong cơ cấu xã hội Việt Nam và

ý thức hệ tư tưởng của con người Văn hóa Pháp, văn hóa châu Âu theo bước chân bọn xâm lược đã ảnh hưởng vảo Việt Nam, trong đó hạt nhân của nó là

tư tưởng đề cao tự do cá nhân đã có tác động không nhỏ tới cảm xúc, suy nghĩ cùa người trí thức, về mặt nghệ thuật, chù nghĩa lãng mạn phương Tây (cùng một số trào lưu khác sau đó như tượng trưng, siêu thực) xuất hiện từ một thế

kỷ trước đó đã để lại dấu ấn rõ nét và tạo nên một trào lưu nghệ thuật mới trong văn chương, hội họa, âm nhạc Việt Nam, trong đó mạnh mẽ nhất vẫn là

ở lĩnh vực văn chương kể từ đầu thập niên 1930 trở đi Trong bối cảnh đó, những người trí thức ấp ủ tinh thần dân tộc mang tâm trạng chán nản, muốn thoát ly thực tại, xa lánh đời sống chính trị Lại sẵn ảnh hưởng của tư tưởng tự

do cá nhân, họ tạo ra nhữmg tác phẩm văn chương với nội dung và mục đích thoát ly thực tại, đào sâu vào thế giới cùa “cái tôi nội cảm” Nhà thơ Huy Cận

có thể nói là người có cơ hội tiếp xúc tìm hiểu nhiều nhất với văn hóa Pháp Phong cách thơ lãng mạn trong các tác phẩm của ông là xuất phát từ thực tế

xã hội cùng nhu cầu bức thiết giải phóng cá nhân, giải quyết được tình trạng

bế tắc của chính bản thân mình trong bối cảnh xã hội bi quan đó Con đường làm văn học nghệ thuật bằng chủ nghĩa lãng mạn là lối thoát trong sạch, là nơi

Trang 32

trú ẩn tương đối an toàn có thể gửi gắm tâm sự, cũng là phương cách để bày

tỏ lòng yêu nước

Trong bối cảnh lịch sự đất nước chịu sự đô hộ, nhiều góc khuất của xã hội phơi bày Vì vậy để tồn tại được trong nhân gian mỗi nhà thơ đều phải chủ động đi tìm cách thức tự do riêng Cũng như nhiều nhà thơ khác, thì Huy Cận tìm cách hòa mình vào cùng với thiên nhiên và vũ trụ, xoáy quanh vũ trụ làm hồn thơ Huy Cận trở nên mạnh mẽ, khoáng đạt cùng nhiều cảm xúc mới

lạ, ông say sưa trong cái mênh mang của trời đất và vũ trụ Mặc dù như tìm lại niềm vui thuở trước cùng niềm mong chờ, rạo rực và những nguyện ý của tuổi

trẻ nhưng rất dễ nhận ra cái vui trong Vũ trụ ca là vui gượng, cố vui nên

không trọn vẹn và vẫn mang vẻ chông chênh, vô vọng khiến tác giả đôi khi rơi vào trạng thái cầu kỳ hóa làm hình ảnh mất đi tính tự nhiên”

Phong trào thơ mới và vai trò của nhà thơ Huy Cận: “Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 Huy Cận là một trong số những nhà thơ tên tuổi của Thơ mới, thơ ông đã nói lên tiếng lòng thiết tha gần gũi với quê hương và tinh thần yêu nước thông qua sự hiến dâng tuổi trẻ, cống hiến công sức và tài năng cho đất nước” Như nhiều nhà thơ lãng mạn khác, sáng tác của Huy Cận giai đoạn trước năm 1945 luôn mang nỗi sầu buồn thê lương, nó thường trực trên từng cách nhìn cách cảm nhận của tác giả

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 nhà thơ Huy Cận cho ra đời các sáng tác gắn bó sâu sắc với kháng chiến: “nhà thơ Huy Cận lại gắn bó với Cách mạng và hoạt động trong mặt trận Việt Minh Trong cuộc đấu tranh chống Mỹ, Huy Cận đã dùng tiếng thơ của mình để phản ánh bản chất và quan điểm trọng đại của chiến tranh Bằng nhiều chuyến đi thực tế vào trận địa, nhà thơ kịp thời chuyển biến cách nhìn cùng suy nghĩ cho phù hợp với giai đoạn cách mạng mới Như một bộ phận lớn nhà thơ cùng thời, sự chuyển biến của Cách mạng có ý nghĩa vô cùng to lớn tựa như một bước ngoặt lịch sử

Trang 33

đưa Huy Cận thoát khỏi sự tuyệt vọng và sự luẩn quẩn không lối thoát do mặc cảm nặng nề về thân phận nô lệ tạo nên”

Hòa cùng trong xu thế chung của thơ ca thời kỳ phục vụ cho cách mạng, nhà thơ Huy Cận có sự gắn bó sâu sắc Dân tộc Việt Nam và đất nước Việt Nam đã thể hiện quyết tâm và mang một tầm vóc lớn lao trong cuộc đấu tranh chống giặc thù Do vậy nhà thơ Huy Cận được sống trong bối cảnh đó càng có nhiều thứ để hồi tưởng về quá khứ và mong đợi về tương lai, từ truyền thống dân tộc đến hợp tác quốc tế với thế giới và thời đại Trong cuộc đấu tranh gian nan, nhiều sự hy sinh mất mát, giữa sự khốc liệt của chiến tranh, cảm quan của nhà thơ Huy Cận luôn có tính nhân văn cao cả Ông có tài năng khi chỉ cần có cơ hội là tìm ra những nét đẹp ẩn sâu trong văn hóa truyền thống của đời sống xã hội Việt Nam Nhiều bài thơ của nhà thơ Huy Cận thể hiện được tính luận đề, một xu hướng sáng tác không chỉ trong thơ

mà còn trong truyện ngắn và tiểu thuyết; nhà thơ dùng suy nghĩ lý lẽ của chính mình cảm nhận để phân tích luận điệu triết lý của vấn đề Nhà thơ khái quát tổng hợp tính nhân văn sâu sắc về cuộc kháng chiến chống Mỹ rằng đây

là cuộc chiến đấu và chiến thắng của một dân tộc có lòng yêu nước, dậm dấu

ấn phương Đông về nhân về nghĩa

Ngoài yêu nước, nhà thơ còn là nhà thơ của thiên hiên của vũ trụ bao la: Huy Cận là nhà thơ thành công khi xây dựng khung cảnh thiên nhiên Việt Nam sống động trong các câu thơ Bởi vậy hình ảnh Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ qua ngòi bút của ông cũng đâu đó những làng quê thanh bình với nhịp sống có nhiều xao động tinh tế

Trong quá trình sáng tác nhà thơ có thể lấy cảm hứng từ tình yêu dành cho trẻ thơ, cho quê hương Cùng với đó sẽ là các tác pẩm phản ánh tâm hồn tác giả Từ năm 1975 đến cuối đời, nhà thơ Huy Cận vẫn sáng tác cho ra đời các tác phẩm quen thuộc, tâm hồn nhà thơ trở về với mạch cảm xúc giản dị

Trang 34

như cuộc sống đời thường Và ông vẫn lại say mê thiên nhiên vũ trụ và nghiền ngẫm suy tư về sự sống con người Những tập thơ tiêu biểu có thể kể

đến như Ngôi nhà giữa nắng, Hạt lại gieo, Chim làm ra gió và Lời tâm nguyện cùng hai thế kỷ

Sự nghiệp sáng tác văn chương của nhà thơ Huy Cận chia thành các giai đoạn: Giai đoạn trước tháng Tám năm 1945, năm 1940, in tập thơ " Lửa thiêng" gồm những bài đã đăng trên báo từ năm 1936-1940 Tập thơ này trở thành một trong những tác phẩm có giá trị hàng đầu của phong trào Thơ Mới (1932-1941) Các tác phẩm như Kinh cầu tự (1942, văn xuôi triết lí) và Vũ trụ

ca (thơ đăng báo 1940-1942)” Giai đoạn sau tháng Tám năm 1945: “Các

tập thơ như Trời mỗi ngày lại sáng, Chiến trường gần đến chiến trường xa, Đất nở hoa, Bài thơ cuộc đời, Hai bàn tay em (thơ thiếu nhi), Họp mặt thiếu niên anh hùng, Những người mẹ, những người vợ, Ngày hằng sống ngày hằng thơ, Ngôi nhà giữa nắng, Hạt lại gieo, Những năm sáu mươi”

Huy Cận không chỉ có nhiều sáng tác gây tiếng vang ở những thời điểm nhất định Điều quan trọng hơn là, ông khẳng định tài năng, tầm vóc với sức sáng tạo bền bỉ Cuộc đời ông từ khi mới là chàng thanh niên mới biết làm thơ đến khi rời cõi tạm, về với đất mẹ bao dung là một hành trình sáng tạo không ngừng Sự nghiệp văn chương của nhà thơ Huy Cận được tập hợp bởi các

sáng tác còn mãi với thời gian Trước năm 1945: Lửa thiêng (1940), Vũ trụ

ca, Kinh cầu tự (1942) Giai đoạn 1945 - 1975: Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời (1963), Những năm sáu mươi (1968), Từ chiến trường gần đến chiến trường xa (1973), Ngày hằng sống ngày hằng thơ (1975) Hai bàn tay em (1967), Phù Đổng thiên vương (1968), Thiếu niên anh hùng họp mặt (1973) Sau năm 1975: Ngôi nhà giữa nắng (1978), Hạt lại gieo (1984), Chim làm ra gió (1991), Lời tâm nguyện cùng hai thế kỉ (1997)

Trang 35

Huy Cận là nhà thơ vĩ đại của dân tộc Việt Nam Huy Cận là nhà thơ của tình đời tình người và tình yêu sự sống Điều đó thể hiện qua tư duy thơ,

tư duy nghệ thuật: nhìn cuộc đời qua sự sống cỏ cây Đó là cái nhìn thế giới đậm dấu ấn tinh thần dân tộc Thơ ông thấm đẫm tinh thần dân tộc nhưng vẫn rất hiện đại, mà nổi bật đó chính là sự giao thoa hai nền văn hóa Đông – Tây trong thơ ông Huy Cận đã trở thành một trong những đỉnh cao của phong trào Thơ mới, góp phần khiến cho thi đàn Việt Nam càng trở nên rực rỡ hơn

Trang 36

Chương 2 THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG THƠ HUY CẬN TRƯỚC NĂM 1945 2.1 Khái quát về thế giới nghệ thuật

2.1.1.Khái niệm thế giới nghệ thuật

2.1.1.1.Các quan niệm về thế giới nghệ thuật

Thế giới nghệ thuật là thiên nhiên thứ hai do người nghệ sĩ sáng tạo ra Một mặt nó phản ánh hiện thực, mặt khác nó biểu hiện những khát vọng chân, thiện, mĩ của chủ thể sáng tạo Với ý nghĩa này, vấn đề đặt ra là cần phải có một khái niệm về thế giới nghệ thuật thật bao quát, thật đầy đủ để làm cơ sở cho việc tiếp cận các hiện tượng và tác giả văn học

Ở Việt Nam khái niệm được nhắc đến vào những năm 80 nhưng cách hiểu của các tác giả chưa hoàn toàn cụ thể về nội dung của nó Năm 1997, các tác giả cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học”, đã định nghĩa thế giới nghệ thuật là: khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của một tác giả, một trào lưu) Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được tạo ra theo các nguyên tắc tư tường và nghệ thuật ( ) Khái niệm thế giới nghệ thuật giúp ta hình dung tính độc đáo về tư duy nghệ thuật của người nghệ sĩ Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, quy luật tâm lý riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng… chỉ xuất hiện một cách ước lệ trong sáng tác nghệ thuật”

Năm 1985 trong luận án Tiến sĩ khoa học: "Sự hình thành và những vấn đề của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Việt Nam hiện đại” của Nguyễn Nghĩa Trọng đã xác định hàm nghĩa khái niệm thế giới nghệ

thuật như sau: “Thế giới nghệ thuật là một phạm trù mĩ học bao gồm tất cả các yếu tố của quá trình sáng tạo nghệ thuật và tất cả kết quả của quá trình hoạt động nghệ thuật của nhà văn Nó là một chỉnh thể nghệ thuật và một giá

Trang 37

trị thẩm mĩ Thế giới nghệ thuật bao gồm hiện thực - đối tượng khách quan của nhận thức nghệ thuật, cá tính sáng tạo của nhà văn hay chủ thể nhận thức nghệ thuật, ngôn ngữ hay chất liệu nghệ thuật Trong thế giới nghệ thuật chứa đựng sự phản ánh hiện thực, tư tưởng, tình cảm cửa nhà văn Thế giới nghệ thuật không chỉ tương đương đối với tác phẩm nghệ thuật mà còn rộng hơn bản thân nó Nó có thể bao gồm tất cả các tác phẩm nghệ thuật của một nhà văn, một trào lưu nghệ thuật, một thời kỳ nhất định của văn học, một nền văn học của dân tộc hay nhiều dân tộc nhưng đồng thời cũng có thể liên quan đến nhiều yêu tố khác của sáng tạo nghệ thuật nhỏ hơn khái niệm hình tượng nghệ thuật Thế giới nghệ thuật là thiên nhiên thứ hai được người nghệ sĩ tạo dựng trong đó chứa đựng hiện thực và quan niệm về hiện thực, tự nhiên và con người là thế giới sinh động và đa dạng vô cùng, mỗi nhà văn, mỗi trào lưu văn học mỗi dân tộc, mỗi thời kỳ lịch sử để có thế giới nghệ thuật riêng của mình”

Ngoài những cách hiểu tiêu biểu trên còn một số công trình nghiên cứu

khác cũng đề cập đến khái niệm này như: Nguyễn Đăng Mạnh với Con đường

đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn (1996) Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng:

“Thế giới nghệ thuật của nhà văn hiểu theo đúng nghĩa của nó là một chỉnh thể, đã là một chỉnh thể tất phải có cấu trúc nội tại theo những nguyên tắc thống nhất, cũng có nghĩa là quan hệ nội tại giữa các yếu tố phải có tính quy luật” Luận văn hiểu khái niệm thế giới nghệ thuật ở góc độ: tất cả các yếu tố cấu tạo nên tác phẩm như: nhân vật, cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ, các thủ pháp nghệ thuật… Thế giới nghệ thuật truyện ngắn Lê Minh Khuê muôn màu

và đa sắc, chính điều này tạo nên những giá trị trong tác phẩm của nhà văn

Thế giới nghệ thuật của một nhà văn mang đậm dấu ấn chủ quan của người sáng tạo Xét đến cùng, thế giới nghệ thuật của một nhà văn chính là thế giới hình tượng hiện ra như một chỉnh thể sống động, chứa đựng một quan niệm nhân sinh và thẩm mỹ nào đó, được xây dựng bằng vật liệu ngôn từ Thế

Trang 38

giới nghệ thuật của một nhà văn luôn chứa đựng những quan niệm nhân sinh,

xã hội của người sáng tạo Một trong những yếu tố cơ bản cấu tạo nên thế giới nghệ thuật của một nhà văn chính là quan niệm nghệ thuật về cuộc sống và con người của nhà văn

Các quan niệm đưa ra ở trên có thể nói đều là căn cứ xác đáng cho việc nghiên cứu vấn đề xuất phát từ góc độ lí luận Từ đó có thể vận dụng vào thực tiễn tìm ra giá trị cốt lõi của văn học Việc khẳng định thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể ngoài việc chỉ ra mối quan hệ quan trọng giữa các yếu tố, mà còn giúp người nghiên cứu sử dụng các căn cứ khách quan, có tính hữu ích trong việc khám phá, chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật

Là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều yếu tố nên việc tìm hiểu kĩ trong dung lượng luận văn cao học là rất khó Vì thế, trong chương này chúng tôi chỉ trình bày khái quát các vấn đề của khái niệm thế giới nghệ thuật theo cách lựa chọn của tác giả Huy Cận dưới góc độ của từ điển văn học Cách hiểu của tác giả đã mở cho chúng tôi một hướng đi rất cụ thể trong việc khám phá thế giới nghệ thuật thơ trữ tình Trên cơ sở đó tập trung làm rõ một số vấn

đề như: tính chủ quan, tính thể loại trong thế giới nghệ thuật thơ Từ đó, chúng tôi sẽ vận dụng vào tìm hiểu thế giới nghệ thuật thơ Huy Cận trong sự tích hợp văn hóa Đông Tây

2.1.1.2.Các cấp độ của thế giới nghệ thuật

a Cấp độ mô hình nghệ thuật

Mô hình nghệ thuật là sản phẩm của quan niệm nghệ thuật Nó ra đời

và tồn tại cùng với thế giới nghệ thuật Mỗi thế giới nghệ thuật có một mô hình nghệ thuật tương ứng Mô hình này sẽ chi phối đến việc người nghệ sỹ chọn lựa nguyên tắc nào để phản ánh hiện thực khách quan Từ đó, mọi tư tưởng, ý đồ, cách tổ chức sắp xếp tình tiết, ngôn từ đều phụ thuộc vào mô hình đã chọn Mỗi mô hình nghệ thuật mang một dấu ấn của hình thức đời

Trang 39

sống văn hoá xã hội, là một kiểu quan niệm, một cách cắt nghĩa, lý giải về thế giới và con người Điều này có nghĩa là mỗi mô hình sẽ có những đặc điểm riêng không lặp lại với những mô hình trước, nó luôn mang một hình thức mới Việc xác định mô hình nghệ thuật phải dựa vào các phạm trù thời gian, không gian, con người được mô tả trong đó Từ các phạm trù này tìm ra các đặc điểm chung như mở đầu và kết thúc của hình tượng ở đâu, góc độ tiếp cận nào, mối quan hệ ra sao qua đó hợp thành các mô hình nghệ thuật Việc tìm hiểu mô hình nghệ thuật là tìm hiểu quan niệm và hệ thống chỉnh thể Tức là, trong mô hình nghệ thuật các phạm trù này không kết hợp với nhau một cách tuỳ tiện mà chúng ràng buộc chi phối lẫn nhau Điều đó dẫn đến, khi quan niệm thay đổi thì thời gian, không gian, cách lí giải, cách đánh giá cũng thay

đổi và tất nhiên cách xây dựng hình tượng cũng thay đổi Trong những cấu

trúc xã hội khác nhau thì mô hình nghệ thuật cũng khác nhau Nằm trong từng cấu trúc xã hội, kết cấu của mô hình khá bền vững Nó quyết định những tri giác, cảm xúc của người nghệ sĩ, nó buộc người nghệ sĩ phải chọn cho mình một mô hình nghệ thuật nhất định để thể hiện Chẳng hạn, trong mô hình văn học trung đại các nghệ sĩ hay dùng nguyên tắc ước lệ để miêu tả nhân vật

Nguyễn Du miêu tả Từ Hải "Vai năm thước rộng thân mười thước

cao" Trong văn học dân gian kiểu xây dựng nhân vật theo hai tuyến thiện, ác cũng là một kiểu mô hình Đặc trưng của văn học hiện thực phê phán là kiểu kết thúc nhân vật không có lối thoát như chị Dậu, anh Pha, Chí Phèo Giai đoạn chống Mỹ có mô hình nhân vật hy sinh tình cảm riêng vì nghĩa lớn như

chị Tư Hậu, anh Trỗi Mô hình nghệ thuật rất đa dạng, nó có thể là của thời

đại, giai đoạn, tác giả Chẳng hạn, mô hình nhân vật trong sáng tác của Nam

Cao là người nông dân tri thức nghèo Việc đi sâu tìm hiểu mô hình nghệ

thuật sẽ giúp ta nhận ra những đặc điểm chung, khái quát trong từng hình tượng nghệ thuật cụ thể

Trang 40

b Cấp độ hình tượng nghệ thuật

Hình tượng nghệ thuật là sản phẩm của phương thức chiếm lĩnh và tái tạo

hiện thực riêng biệt vốn có và chỉ có trong nghệ thuật Hình tượng “vừa là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ vừa là con đẻ của hiện thực khách quan"

Hình tượng nghệ thuật là các khách thể của đời sống được người nghệ

sĩ tái hiện hoặc tái tạo và tồn tại độc lập như một thực thể văn hoá xã hội (tức

là nó tách khỏi hoạt động nghệ thuật của nhà văn) mà con người có thể thưởng thức, ngắm nghía Hình tượng nghệ thuật chỉ thấm vào ý thức của con người khi họ cảm thấy cuộc sống trong đó Vì thế, hình tượng phải bắt nguồn

từ những cá thể của đời sống Trong thực tế, cá thể của đời sống rất đa dạng, mỗi cá thể có một cuộc sống riêng, vùng thẩm mĩ riêng nên yêu cầu đặt ra đối với người nghệ sĩ là phải biết chọn lựa những cá thể có sức khái quát cao thì cuộc sống mới phản ánh được nhiều mặt nhất

Tái hiện cuộc sống, nhưng hình tượng nghệ thuật không sao chép nguyên xi những hiện tượng có thật ngoài đời mà tái hiện có chọn lọc, sáng tạo Việc tái hiện có sự lựa chọn càng cao thì hình tượng có giá trị khái quát càng lớn Giá trị này không phụ thuộc vào số lượng chi tiết nhiều hay ít mà chính là ý nghĩa của nó Đôi khi hình tượng nghệ thuật chỉ cần vài chi tiết ít ỏi cũng có thể để lại ấn tượng khó phai mờ trong lòng người đọc Chẳng hạn, hình ảnh đôi mắt trong thơ Nguyễn Đình Thi, nụ cười chiến thắng của Võ Thị Thắng Trong thực tế từ các chi tiết đơn lẻ, nhất thời, ngẫu nhiên người ta còn có thể khám phá cái cốt lõi, bất biến, vĩnh hằng

Như vậy, chỉ thông qua hoạt động tưởng tượng của người nghệ sĩ thì

một "thiên nhiên thứ hai” mới ra đời Thiên nhiên này không chỉ định hướng

về tinh thần con người để hoạt động có chủ định, có lí tưởng, để lí giải thế giới hiện thực mà còn mang đến cái có thể có, muốn có, phải có

Ngày đăng: 29/06/2023, 22:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thị Anh (2007), Thơ mới với thơ Đường, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới với thơ Đường
Tác giả: Lê Thị Anh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2007
2. Phạm Hải Anh (1994), “Bút pháp chấm phá trong câu tứ thơ Đường”, Tạp chí Văn học, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bút pháp chấm phá trong câu tứ thơ Đường
Tác giả: Phạm Hải Anh
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1994
3. Nguyễn Xuân Diện - Trần Cảnh Toàn (1998), Bước đầu tìm hiểu thơ Đường đến Thơ mới, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu thơ Đường đến Thơ mới
Tác giả: Nguyễn Xuân Diện, Trần Cảnh Toàn
Năm: 1998
4. Đặng Anh Đào (1994),“Ảnh hưởng Pháp và kết cấu từ ngữ”, Tạp chí Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng Pháp và kết cấu từ ngữ
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1994
5. Đặng Anh Đào (1997), “Văn học Pháp và sự gặp gỡ với văn học Việt Nam 1930 - 1945”, Tạp chí Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Pháp và sự gặp gỡ với văn học Việt Nam 1930 - 1945
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1997
6. Đặng Anh Đào (2001), “Gió Đông gió Tây, ảnh hưởng và giao thoa trong văn học Việt Nam hiện đại”, Tạp chí Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gió Đông gió Tây, ảnh hưởng và giao thoa trong văn học Việt Nam hiện đại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 2001
7. Phan Cự Đệ (2007), Về một cuộc cách mạng trong thi ca phong trào Thơ mới, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một cuộc cách mạng trong thi ca phong trào Thơ mới
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
8. Hà Minh Đức, (1997), Một thời đại trong thi ca (về phong trào Thơ mới 1932 - 1945) , Nxb Khoa học xã h ội & nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một thời đại trong thi ca (về phong trào Thơ mới 1932 - 1945)
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội & nhân văn
Năm: 1997
10. Phùng Thu Hằng (2014), Luận văn Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Huy Cận, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận văn Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Huy Cận
Tác giả: Phùng Thu Hằng
Nhà XB: Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
11. Trần Thị Kim Hạnh (2016), “Biểu tƣợng Hồn - Một dấu ấn của thơ tƣợng trƣng trong Thơ mới”, Tuyển tập nghiên cứu ngữ văn học - Tập 2, Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tƣợng Hồn - Một dấu ấn của thơ tƣợng trƣng trong Thơ mới
Tác giả: Trần Thị Kim Hạnh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm
Năm: 2016
12. Hạnh Trần Thị Kim Hạnh (2018), “Kiến tạo biểu tƣợng Mộng trong Thơ mới” Tạp chí Nhân Lực, Khoa học xã hội (số 4 tr. 93) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến tạo biểu tƣợng Mộng trong Thơ mới
Tác giả: Hạnh Trần Thị Kim Hạnh
Nhà XB: Tạp chí Nhân Lực, Khoa học xã hội
Năm: 2018
13. Nguyễn Thị Bích Hải (2006), Thi pháp thơ Đường, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp thơ Đường
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hải
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2006
14. Đỗ Đức Hiếu (2000), Thi pháp hiện đại, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiếu
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2000
15. Nguyễn Hữu Hiếu (2004), Những biểu hiện của khuynh hướng tượng trưng trong Thơ Mới Việt Nam 1932 - 1945, Luận án Tiến sĩ Ngữ Văn, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biểu hiện của khuynh hướng tượng trưng trong Thơ Mới Việt Nam 1932 - 1945
Tác giả: Nguyễn Hữu Hiếu
Nhà XB: Luận án Tiến sĩ Ngữ Văn
Năm: 2004
16. Đông Hoài (1992), Thơ Pháp nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Pháp nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Tác giả: Đông Hoài
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1992
17. Đông Hoài (2020), Giao thoa văn hóa Đông Tây và sự chuyển đổi hệ hình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao thoa văn hóa Đông Tây và sự chuyển đổi hệ hình
Tác giả: Đông Hoài
Năm: 2020
18. Đông Hoài, Quỳnh Thƣ Nhiên (nghiên cứu - tuyển - dịch, 1994), Chủ nghĩa siêu thực trong thơ Pháp thế kỷ XX, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa siêu thực trong thơ Pháp thế kỷ XX
Tác giả: Đông Hoài, Quỳnh Thƣ Nhiên
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1994
19. Cao Thị Hồng (2019), Cảm thức cô đơn trong Lửa thiêng của Huy Cận 20. Ngô Viết Linh (1999), Đến với thơ Huy Cận, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến với thơ Huy Cận
Tác giả: Ngô Viết Linh
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1999
21. Phương Lựu (1989) Tinh hoa lý luận văn học cổ điển Trung Quốc, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa lý luận văn học cổ điển Trung Quốc
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1989
22. Lê Đức Mậu (1998), Diện mạo thơ Đường, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diện mạo thơ Đường
Tác giả: Lê Đức Mậu
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1998

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w