1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và phương pháp hoàn thiện thể thức văn bản áp dụng pháp luật

16 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và phương pháp hoàn thiện thể thức văn bản áp dụng pháp luật
Tác giả Nhóm D2-3 Lớp DS32D
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 19,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thể thức của văn bản áp dụng pháp luật về cơ cấu cũng giống như các loại văn bản khác nhưng về nội dung của thể thức và cách thức trình bảy thể thức lại có những nét đặc trưng riêng, biể

Trang 1

Danh sách thành viên nhóm D2-3 lớp DS32D

1 Đàm Thanh Sáu (Nhóm trưởng) - MSSV: 038

2 Lương Thị Thanh Hoa - MSSV: 003

3 Cầm Thùy Linh - MSSV: 006

4 Nguyễn Thị Thu Hằng - MSSV: 025

5 Lê Thị Thu Thanh - MSSV: 013

6 Lê Thị Lan - MSSV: 034

7 Hà Thị Tới - MSSV: 046

8 Trương Thị Trang - MSSV: 042

9 Lê Thị Định - MSSV: 055

10 Nguyễn Thị Thu Hà - MSSV: 056

11 Tô Thị Thu Trang - MSSV: 057

Trang 2

*Mục lục*



Trang Lời mở đầu……….1

I/ Khái quát chung về VBADPL……….2

II/ Vai trò, ý nghĩa và cách thức trình bày thể thức của VBADPL….3 1 Khái quát chung……….3

2 Cách thức trình bày thể thức và vai trò, ý nghĩa từng phần thể thức của VBADPL……… 4

III/ Thực trạng và phương hướng hoàn thiện thể thức VBADPL….11 1 Thực trạng……… 11

2 Phương hướng hoàn thiện……… 11

Kết luận……… 13

Trang 3

Lời mở đầu

********************

Văn bản pháp luật là phương tiện chủ yếu, có tác động trực tiếp và sâu sắc đến hiệu lực và và hiệu quả quản lí Nhà nước Trong lí luận và thực tiễn ngày nay đang có nhiều quan điểm khác nhau về văn bản pháp luật Theo giáo trình Xây dựng văn bản pháp luật của trường Đại học Luật Hà Nội thì văn bản pháp luật bao gồm: Văn bản quy phạm pháp luật, Văn bản áp dụng pháp luật

và Văn bản hành chính Trong đó văn bản áp dụng pháp luật là loại văn bản

có tính chất cá biệt, tính ứng dụng khá cao nên khi nghiên cứu về văn bản này, ngoài tìm hiểu nội dung, chúng ta cũng cần chú ý đến hình thức của nó,

mà đặc biệt là về phần thể thức Thể thức của văn bản áp dụng pháp luật về cơ cấu cũng giống như các loại văn bản khác nhưng về nội dung của thể thức và cách thức trình bảy thể thức lại có những nét đặc trưng riêng, biểu hiện tính chất pháp lí riêng biệt với những văn bản pháp luật khác Chính vì vậy thể thức của văn bản áp dụng pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xây dựng và ban hành văn bản này

Bài viết với nội dung trình bày về vai trò, ý nghĩa và cách thức trình bày của văn bản áp dụng pháp luật của nhóm chúng em sẽ không tránh khỏi những khuyết điểm nhất định nên mong dược sự hướng dẫn, chỉ bảo của thầy

cô để bài viết được hoàn thiện hơn

Trang 4

I/ Khái quát chung về văn bản áp dụng pháp luật:

Là một nhóm của văn bản pháp luật (VBPL), văn bản áp dụng pháp luật (VBADPL) được coi là hình thức pháp lí của kết quả áp dụng pháp luật, đã được Lí luận chung về Nhà nước và pháp luật cùng nhiều ngành khoa học pháp lí chuyên ngành khác nghiên cứu, tìm hiểu Dựa vào đó, chúng ta có thể rút ra được định nghĩa khái quát mà bao hàm tổng thể nội dung nhất của

VBADPL như sau: “ VBADPL là văn bản pháp lí cá biệt, mang tính quyền

lực do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành trên cơ sở những quy phạm pháp luật nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lí cụ thể của các

cá nhân, tổ chức hoặc xác định những biện pháp trách nhiệm pháp lí đối với chủ thể vi phạm pháp luật”.

Trong lí luận và thực tiễn hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm về khái niệm VBPL, theo đó những khái niệm và đặc điểm của từng loại VBPL

cụ thể cũng không được thống nhất Đối với VBADPL cũng vậy Tuy nhiên, với vai trò là hình thức chủ yếu của hoạt động ADPL, với tính cách là một mắt xích của cơ chế điều chỉnh pháp luật, ngoài những đặc điểm chung của một VBPL như: được xác lập bằng ngôn ngữ viết, được ban hành bởi chủ thể

có thẩm quyền do pháp luật quy định (cơ quan quyền lực, hành chính, kiểm sát, xét xử; người đứng đầu và một số công chức khác của các cơ quan nhà nước; tổ chức xã hội hoặc cá nhân được ủy quyền quản lí nhà nước đối với một số việc cụ thể), có nội dung là ý chí của chủ thể ban hành nhằm đạt được mục tiêu quản lí, có hình thức do pháp luật quy định (VBADPL được thể hiện dưới những hình thức pháp lí xác định như lệnh, quyết định, bản án…), được ban hành theo thủ tục do pháp luật quy định, phải hợp pháp và phù hợp với thực tế (nếu không hợp pháp thì không có hiệu lực pháp luật và bị cấp có quyền hủy bỏ; còn không phù hợp thực tế thì sẽ khó thi hành hoặc được thi hành nhưng kém hiệu quả) và được Nhà nước đảm bảo thực hiện (tuyên truyền, giáo duc, và đặc biệt là cưỡng chế) thì VBADPL còn mang một số đặc

Trang 5

điểm riêng khác, để phân biệt với các loại VBPL còn lại, đó là: VBADPL có tính chất cá biệt, được áp dung một lần trong từng trường hợp cụ thể

II/ Vai trò, ý nghĩa và cách thức trình bày thể thức của VBADPL:

1 Khái quát chung:

Như chúng ta đã biết, VBADPL là một loại VBPL, có ý nghĩa để xác định loại văn bản cần sử dụng cho phù hợp với thẩm quyền giải quyết và nội dung của công việc phát sinh Theo đó, để VBADPL được ban hành đúng thẩm quyền, người soạn thảo cần hết sức thận trọng, nghiên cứu kĩ pháp luật hiện hành về quy định thể thức để xác định chủ thể ban hành và hình thức văn bản cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể Thể thức chính là cách thức và thể lệ tiến hành nói chung; còn thể thức của VBPL là kết cấu về hình thức của văn bản theo quy định của pháp luật( Thông tư liên tịch Bộ Nội vụ- văn phòng Chình phủ số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 6/5/2005 hướng dẫn về thể thức và kĩ thuật trình bày văn bản) Mỗi loại VBPL có cách trình bày thể thức riêng, nhưng tất cả đều bao gồm những phần được trình bày ở những vị trí xác định trong văn bản, đó là: Quốc hiệu, tên cơ quan ban hành, số-kí hiệu văn bản, địa danh và thời gian ban hành văn bản, tên gọi, trích yếu, phần kí trong VBPL, dấu trong VBPL, phần nội dung, nơi nhận, dấu chỉ mức độ khẩn-mật, các thành phần thể thức khác và cuối cung là thể thức bản sao Như vậy, đối với VBADPL thì quy định về thể thức của VBADPL có vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc ADPL

Trước hết, việc hiểu và trình bày đúng thể thức của VBADPL sẽ giúp cho việc ban hành văn bản đó được thống nhất về hình thức và nội dung Thứ hai, thể thức của VBADPL giúp chúng ta phân biệt VBADPL với các VBPL khác VÍ dụ: trong văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) quy định về cách trình bày ngày, tháng, năm ban hành thì VBQPPL do Quốc hội,

Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được thông qua; còn trong VBADPL quy định ngày, tháng, năm ban hành là ngày, tháng, năm văn bản được kí ban hành Hay ở quy định về

Trang 6

phần số: số của VBQPPL bao gồm số thứ tự đăng kí được đánh theo từng loại văn bản do cơ quan ban hành trong 1 năm và năm ban hành văn bản đó, còn ở VBADPL thì không có năm ban hành…

Ngoài ra, dựa vào thể thức của VBADPL, người đọc có thể nhận ra được những thông tin cơ bản được trình bày trong văn bản, có thể biết được văn bản đó là do ai, cơ quan nào ban hành, có sự lệ thuộc với cơ quan cấp trên trực tiếp không? Hay tên loai văn bản đó là gì, địa danh nơi văn bản đó được ban hành…Tất cả những thông tin đó có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định hiệu lực pháp luật của văn bản Hơn nữa còn hiểu được chính xác nội dung của văn bản là gì thông qua trích yếu, thể hiện quyền hạn của người có thẩm quyền thông qua quy định chức vụ, họ tên và chữ kí của người có thẩm quyền; nơi nhận văn bản là cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào? Có mục đích

và trách nhiệm cụ thể ra sao?

2 Cách thức trình bày thể thức và vai trò, ý nghĩa từng phần thể thức

của VBADPL:

2.1 Quốc hiệu:

Theo quy định tại Thông tư 55/2005/TTLT-BNV-VPCP, Quốc hiệu ghi trên văn bản gồm hai dòng chữ: “ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” và “ Độc lập- Tự do- Hạnh phúc” Quốc hiệu cho ta thấy tên nước, chế độ chính trị

và mục tiêu chính trị của đất nước, thể hiện bản chất cuả nước ta

2.2 Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản:

Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản bao gồm tên của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản và tên của cơ quan tổ chức chủ quản cấp trên trực tiếp( nếu có) căn cứ quy định của pháp luật hoặc căn cứ văn bản thành lập quy định tổ chức bộ máy nhà nước của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trừ trường hợp đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, văn phòng Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội

Tên của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản phỉa được ghi đầy đủ theo tên gọi chính thức căn cứ văn bản thành lập, quy định tổ chức bộ máy phê

Trang 7

chuẩn, cấp giấy phép hoạt động hoặc công nhận tư cách pháp nhân của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; tên của cơ quan, tổ chức chủ quản cấp trên trực tiếp có thể viết tắt những cụm từ thông dụng như Ủy ban nhân dân(UBND), Hội đồng nhân dân( HĐND )

Việc quy định tên cơ quan được trình bày theo một cơ quan hoặc hai cơ quan, biểu hiện địa vị pháp lí của các cơ quan đó Nếu như việc trình bày một

cơ quan cho thấy địa vị pháp lí tương đối độc lập trong bộ máy nhà nước thì việc trình bày hai cơ quan cho thấy có sự lệ thuộc vào cấp trên trực tiếp

2.3 Số, kí hiệu của văn bản:

Số của VBADPL là số thứ tự đăng kí văn bản do cơ quan tổ chức ban hành Số của VBADPL được ghi bằng chữ số Ả rập Kí hiệu của VBADPL bao gồm chữ viết tắt tên loại văn bản theo bảng chữ viết tắt tên cơ quan, tổ chức hoặc chức danh nhà nước ban hành văn bản Trong phần số, kí hiệu của VBADP không có năm ban hành hoặc trong bản án không có trích yếu, tên bản án được trình bày ở phần số, kí hiệu Ví dụ: Bản án số 15/HS-ST ngày 05 tháng 5 năm 2007

Việc quy định số, kí hiệu văn bản cho thấy loại việc giải quyết, số lượng văn bản đã ban hành, phần chữ viết tắt không chỉ thể hiện tên loại việc mà văn bản giải quyết, ví dụ: Số…/QĐ-KT( quyết định- khen thưởng), mà còn thể hiện tên loại việc và tên của cấp xử lí công việc, ví dụ: Số 08/HS-ST(hình

sự-sơ thẩm)

2.4 Địa danh và ngày, tháng, năm ban hành VBADPL:

a/ Địa danh ghi trên văn bản là tên gọi chính thức của đơn vị hành chính (tên riêng của tỉnh, thành phố thực thuộc trung ương; huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã phường, thị trấn), nơi cơ quan, tổ chức đóng trụ sở Đối với những đơn vị hành chính được đặt tên theo tên người hoặc bằng chữ

số thì phải ghi tên gọi đầy đủ của đơn vị hành chính đó, cụ thể:

- Địa danh ghi trên văn bản của các cơ quan, tổ chức Trung ương là tên của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc tên của thành phố thuộc tỉnh (nếu

Trang 8

có) nơi cơ quan, tổ chức đóng trụ sở Ví dụ: văn bản của nhà máy Thủy điện Hòa Bình (có trụ sở tại thị xã Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình): Hòa Bình

- Địa danh ghi trên văn bản của các cơ quan, tổ chức cấp tỉnh: Đối với các thành phố trực thuộc trung ương là tên của thành phố trực thuộc Trung ương

Ví dụ: văn bản của UBND thành phố Hà Nội và của các sở, ban, ngành thuộc thành phố: Hà Nội Đối với các tỉnh: tên của thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc huyện nơi cơ quan, tổ chức đóng trụ sở Ví dụ: văn bản của UBND tỉnh Hà Nam và của các sở, ban, ngành thuộc tỉnh (có trụ sở tại thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam): Phủ Lý

- Địa danh ghi trên văn bản của các cơ quan, tổ chức cấp huyện là tên của huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Ví dụ: văn bản của UBND huyện Sóc Sơn( thành phố Hà Nội) và của các phòng, ban thuộc huyện: Sóc Sơn

- Địa danh ghi trên văn bản của HĐND, UBND của các tổ chức cấp xã là tên của xã, phường, thị trấn đó Ví dụ: văn bản của UBND phường Láng Thượng (quận Đống Đa, thành phố Hà Nội): Láng Thượng

- Địa danh ghi trên văn bản của các cơ quan, tổ chức và đơn vị vũ trang nhân dân thuộc phạm vi quản lí của Bộ Quốc phòng được thực hiện theo quy định của pháp luật và quy định cụ thể của Bộ Quốc phòng

b/ Ngày, tháng, năm ban hành VBADPL là ngày, tháng, năm văn bản được kí ban hành Phần này của VBADPL phải được viết đầy đủ ngày… tháng…năm; các chỉ số ngày, tháng, năm viết bằng chữ số Ả rập, đối với chỉ

số ngày nhỏ hơn 10 và tháng 1,2 thì phải ghi thêm số 0 ở trước Ví dụ: Hà Nội, ngày 02 tháng 02 năm 2009 Trên thực tế, ngày, tháng, năm ban hành VBADPL có ý nghĩa quan trọng đặc biệt, cần được xác định chính xác, rõ ràng và đây có thể là căn cứ pháp lí để tính thời gian có hiệu lực của văn bản

Từ đó có thể xem xét việc phát sinh và chấm dứt các quan hệ pháp lí, quyền

và nghĩa vụ cụ thể của các đối tượng mà văn bản đó tác động

2.5 Tên loại và trích yếu nội dung của VBADPL:

Trang 9

Tên loại của văn bản là tên của từng loại văn bản do cơ quan, tổ chức ban hành, còn trích yếu nội dung của văn bản là một câu ngắn gọn hay một cụm từ phản ánh khái quát nội dung chủ yếu của văn bản đó Tên loại và phần trích yếu có thể được xác lập bằng các cách như: ghép tên loại văn bản với từng loại chủ đề, dùng tên loại văn bản làm tên của dự thảo, sử dụng trích yếu

và xác định chủ đề văn bản, hay là sử dụng tên loại văn bản chung cho mọi VBADPL cụ thể Tuy nhiên cũng cần lưu ý tới nét đặc thù của một số loại văn bản đã có tính phổ biến và ổn định trong hoạt động thực tiễn khi lựa chọn cách thức trình bày tên gọi và trích yếu của VBADPL Ví dụ: Bản án chỉ có tên gọi mà không có trích yếu, Lệnh được ghép với tên chủ đề: Lệnh truy nã, Lệnh tạm giam…Tên loại và trích yếu nội dung của VBADPL có ý nghĩa quan trọng trong việc tra cứu văn bản và có giá trị giới hạn chủ đề của văn bản, vì vậy cần được trình bày theo hướng ngắn gọn, đầy đủ và hợp lí

2.6 Phần nội dung của VBADPL:

a/ Nội dung của văn bản: là thành phần chủ yếu của một văn bản, trong

đó các quy định được đặt ra, các vấn đề, dự việc được trình bày Nội dung của văn bản có vai trò quan trọng trong việc văn bản ban hành có được thực thi hay không Vì vậy, một VBADPL để đảm bảo tính khả thi phải đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về nội dung VBADPL phải có nội dung hợp pháp, đúng thẩm quyền, cách thức trình bày khoa học, ngôn ngữ rõ ràng, ngắn gọn, chính xác, dễ hiểu Đặc biệt nội dung văn bản phải phù hợp với hình thức văn bản được sử dụng

b/ Bố cục văn bản: Tùy theo thể loại và nội dung, văn bản có các bố cục khác nhau, VBADPL có thể được bố cục theo chương, mục, điều, khoản, điểm Việc quy định về bố cục văn bản nhằm giúp cho quá trình soạn thảo được chi tiết, tránh thiếu sót, hình thức trình bày lại rõ ràng, mạch lạc hơn

2.7 Chức vụ, họ tên và chữ kí của người có thẩm quyền:

a/ Việc ghi quyền hạn của người kí được thực hiện như sau:

Trang 10

- Kí thay mặt tập thể thì phải ghi chữ viết tắt “TM” vào trước tên tập thể lãnh đạo hay tên cơ quan cơ quan, tổ chức

- Kí thay người đứng đầu cơ quan, tổ chức thì phải ghi chữ viết tắt “KT” vào trước chức vụ của người đứng đầu

- Kí thừa lệnh thì ghi chữ viết tắt “TL”, kí thừa ủy quyền thì ghi chữ viết tắt

“TUQ” vào trước chức vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ chức

b/ Chức vụ của người kí:

Chức vụ ghi trên văn bản là chức danh lãnh đạo chính thức của người kí văn bản trong cơ quan, tổ chức Chỉ ghi chức danh, không ghi lại tên cơ quan,

tổ chức trừ các văn bản liên tịch, văn bản do hai người hay nhiều cơ quan, tổ chức ban hành, văn bản kí thừa lệnh, thừa ủy quyền và những trường hợp cần thiết khác do các cơ quan, tổ chức quy định cụ thể

Việc ghi chức vụ, họ tên và chữ kí của người có thẩm quyền trong VBADPL nhằm đảm bảo cho VBADPL được thông qua và thừa nhận, từ đó xác định được trách nhiệm, quyền hạn của người đó đối với VBADPL mà họ

đã kí

2.8 Dấu của cơ quan, tổ chức:

Một VBADPL khi được ban hành phải có dấu của cơ quan, tổ chức ban hành Sau khi văn bản đã được người có thẩm quyền kí đúng thể thức, văn bản phải được đóng dấu Tuyệt đối không đóng dấu khi chưa có chữ kí Nó là dấu hiệu để đảm bảo tính hợp pháp của VBADPL, đảm bảo cho văn bản có hiệu lực và được thực thi trong thực tế

2.9 Nơi nhận:

Nơi nhận phải được xác định cụ thể trong VBADPL Căn cứ quy định của pháp luật; căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc cá nhân có liên quan; căn cứ yêu cầu giải quyết công việc, đơn vị hoặc cá nhân soạn thảo hoặc chủ trì soạn thảo có trách nhiệm đề xuất những

cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân nhận văn bản trình người kí văn bản quyết định

Ngày đăng: 29/06/2023, 17:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w