1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận tốt nghiệp tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật truyện hoa tiên của nguyễn huy tự

63 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật truyện Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự
Tác giả Trần Thị Loan
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Việt Hằng
Trường học Trường đại học sư phạm Hà Nội 2
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 711,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dựa trên những tiền đề khoa học và thực tiễn, nhận thấy nghiên cứu giá trị nội dung và nghệ thuật là cách để bao quát đầy đủ thành tựu cũng như hạn chế của một tác phẩm văn học, cộng với

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

-   -

TRẦN THỊ LOAN

TÌM HIỂU GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ

NGHỆ THUẬT TRUYỆN HOA TIÊN

CỦA NGUYỄN HUY TỰ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

-   -

TRẦN THỊ LOAN

TÌM HIỂU GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ

NGHỆ THUẬT TRUYỆN HOA TIÊN

CỦA NGUYỄN HUY TỰ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYỄN THỊ VIỆT HẰNG

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU… 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của khóa luận 6

7 Bố cục của khóa luận 6

NỘI DUNG 7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 7

1.1 Tình hình lịch sử – xã hội, văn hóa – tư tưởng thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX 7

1.2 Nguyễn Huy Tự và truyện Hoa tiên 10

1.2.1 Cuộc đời 10

1.2.2 Truyện Hoa tiên 12

Chương 2 TRUYỆN HOA TIÊN THỂ HIỆN CÂU CHUYỆN TÌNH YÊU ĐÔI LỨA 19

2.1 Thể hiện câu chuyện tình yêu tự do theo tiếng gọi trái tim 19

2.2 Thể hiện câu chuyện tình yêu trong khuôn khỗ lễ giáo phong kiến 28

Chương 3 MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT… 38

3.1 Kết cấu 38

3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 42

3.3 Ngôn ngữ 48

KẾT LUẬN 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

cách trọn vẹn, phong phú hơn Bên cạnh đó, truyện Hoa tiên được đánh giá khá

cao trong nhóm truyện Nôm bác học Song tác phẩm này chưa được giảng dạy trong chương trình, có chăng chỉ được nhắc đến như một ví dụ minh chứng cho

thể loại truyện Nôm Vì vậy lựa chọn truyện Hoa tiên để nghiên cứu là một

cách để người viết bổ sung kiến thức về truyện Nôm nói riêng và văn học trung đại nói chung

Với ý nghĩa là một tác phẩm được đánh giá cao của thể loại, Hoa tiên nhận

được không ít sự lưu tâm của giới nghiên cứu khai thác trên nhiều khía cạnh song chưa có công trình nào viết một cách bài bản bao quát cả phương diện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm nên chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài này

Là một sinh viên khoa Ngữ văn và một giáo viên tương lai, việc nắm được

một cách sâu rộng giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện Hoa tiên nói riêng

Trang 5

và thể loại truyện Nôm nói chung có ý nghĩa quan trọng trong công việc và góp phần bổ sung kiến thức cá nhân

Dựa trên những tiền đề khoa học và thực tiễn, nhận thấy nghiên cứu giá trị nội dung và nghệ thuật là cách để bao quát đầy đủ thành tựu cũng như hạn chế của một tác phẩm văn học, cộng với hứng thú cá nhân đã thôi thúc người

viết lựa chọn đề tài “Tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật truyện Hoa tiên

của Nguyễn Huy Tự” cho khóa luận của mình

2 Lịch sử nghiên cứu

Truyện Hoa tiên là tác phẩm được giới nghiên cứu quan tâm trên nhiều

phương diện Chúng tôi bắt gặp một số lượng không nhỏ những cuốn sách,

những tài liệu, những công trình liên quan đến truyện Hoa tiên như vấn đề biên

khảo, khía cạnh nội dung, nghệ thuật, vấn đề tôn giáo, tác giả, tác phẩm Có thể

kể đến một số công trình nghiên cứu như sau:

Năm 1828, Vũ Đài Vấn nhận xét về tác giả và người nhuận sắc truyện

Hoa tiên rằng: “Vì Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện còn có

những chỗ kém nên ông đã không quản tài thiên lậu mà thêm bớt, mà sửa chữa từng chữ, từng câu; đầy năm mới xong” [4,tr15]

Năm 1843, Cao Bá Quát đánh giá khá cao truyện Hoa tiên, ông khen tác giả đã có công “dùng bụi bặm tấm cám mà hun đúc lên gạch ngói lâu đài

khiến cho Kim Vân Kiều sau đó sinh ra được vậy” [4,tr254]

Năm 1943, Đào Duy Anh quan tâm nhiều đến thời điểm ra đời truyện Hoa

tiên đồng thời đưa ra những nội dung đánh giá bao quát về tác phẩm trong cuốn Nguồn gốc Hoa tiên ký Ông chỉ ra truyện Hoa tiên được sáng tác khi Nguyễn

Huy Tự còn trẻ và đưa ra những nhận định khách quan về giá trị của tác phẩm

Năm 1961, Lại Ngọc Cang trong khi khảo thích và giới thiệu truyện Hoa

tiên nhận xét Nguyễn Huy Tự “đã viết Hoa tiên theo sát cốt truyện của ca bản,

Trang 6

theo sát cả kết cấu của nó nữa, trừ phần cuối cùng Ông đã thu gọn hẳn câu chuyện lại , đã tiếp thu hầu hết những ý hay, lời đẹp của ca bản, nhưng ông cũng đã gạt bỏ đi rất nhiều câu rườm rà, không cần thiết” [4,tr12-13]

Năm 1968, Dương Quảng Hàm trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu nhận

định: “văn truyện ấy thật là lối văn uẩn súc, điêu luyện, dùng rất nhiều điển cố; bởi thế cuốn ấy được các học giả thưởng thức, nhưng không được phổ cập như

cuốn Truyện Kiều của Nguyễn Du” [8,tr324]

Trong hai năm 1993 – 1994, hội thảo kỉ niệm 200 năm ngày mất (1990)

và 250 năm ngày sinh (1993) của Nguyễn Huy Tự đã được tổ chức tại Hà Tĩnh

và Hà Nội, bao gồm 25 bản tham luận, về sau được in trong cuốn Nguyễn Huy

Tự và truyện Hoa tiên Những bài tham luận đã đề cập tới một số khía cạnh có

liên quan đến đề tài người viết đang nghiên cứu:

Trần Đình Hượu với Hoa tiên và vấn đề của nó trong lịch sử truyện

Nôm cho rằng Nguyễn Huy Tự đã “dốc tài năng văn chương quốc âm ra

làm một việc hoàn toàn mới: chuyển tác một ca bản chữ Hán thành một

truyện thơ Sau ông có những người làm theo, hoặc chuyển tác như Kim

Vân Kiều, hoặc sáng tác như Sơ kính tân trang Cái hấp dẫn họ hay chủ đề

văn học mà họ theo đuổi là tình yêu và điều đó biểu hiện rõ trong công phu gọt rũa văn chương những đoạn mô tả tình yêu tinh tế, sâu sắc” [29,tr188]

Phong Lê với Nguyễn Huy Tự và Hoa tiên trong cảm hứng nhân văn

và văn mạch dân tộc đã khen ngợi “Hoa tiên trong sự phát triển của cả

một dòng truyện thơ từ bình dân sang bác học quả đã ghi được một dấu ấn quan trọng trên hành trình tinh thần và khát vọng hạnh phúc của con người” [29,tr31]

Đào Thản với công trình Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Huy Tự trong

Hoa tiên nhận xét rằng “Nét nổi bật trong ngôn ngữ thơ của Hoa tiên là

sức diễn cảm Từng câu thơ, đoạn thơ cứ như những cánh hoa vụng dại

Trang 7

run rẩy nở ra trước gió, đem đến cho ta cảm giác rằng chúng được viết ra không phải bằng giấy mực mà bằng hơi thở nhịp đập trái tim và bằng cả tâm hồn” [29,tr285]

Năm 1996, Ngô Thị Thanh Nga với Truyện thơ Nôm Hoa tiên ký qua sự

tiếp nhận của các thế hệ độc giả in trên tạp chí Khoa học và Công nghệ đưa ra

nhận định: “Dù sự tiếp nhận của các độc giả về Hoa tiên ký không nhiều, nhưng

những giá trị về nội dung, nghệ thuật cũng như giá trị mở đường cho sự phát triển của văn học Nôm nói chung và thể loại truyện thơ nôm nói riêng của tác phẩm cũng đã được các độc giả khẳng định một cách vững chắc” [58(10)]

Năm 2004, Lại Văn Hùng trong cuốn Từ điển văn học cho rằng tác giả viết truyện Hoa tiên vào thời trẻ đồng thời khen ngợi Nguyễn Huy Tự đã biết

“biến lối văn “kể và thuật” của ca bản Trung Quốc thành lối văn “tả và gợi” [21,tr1151]

Năm 2004, Nguyễn Lộc quan tâm vấn đề truyện Hoa tiên so với các tác phẩm truyện Nôm khác cùng thời, ông nhận định “Hoa tiên là một câu chuyện

tình xảy ra trong cảnh lầu son gác tía Điều đáng chú ý là trong tác phẩm này

là không có một nhân vật phản diện nào cả Mâu thuẫn giữa tình yêu và lễ giáo phong kiến không thể hiện thành hai tuyến nhân vật đối lập, như trong nhiều truyện Nôm khác cùng thời, mà thành cuộc đấu tranh giữa lý trí và tình cảm ở những nhân vật chính” [21,tr600]

Điểm qua một vài công trình nghiên cứu về vấn đề truyện Hoa tiên, chúng

tôi nhận thấy hầu hết các khía cạnh của tác phẩm đã được các nhà nghiên cứu quan tâm Nhưng nếu nhìn nhận một cách khách quan ta có thể thấy các công trình, các bài viết chỉ đề cập đến một khía cạnh nào đó của vấn đề, chưa có công trình nào khái quát về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Tất cả những công trình, những bài viết, những ý kiến, nhận định, đánh giá của các nhà

Trang 8

nghiên cứu trên đây là những gợi ý quý báu trong việc đi sâu khai thác tác phẩm

về mặt nội dung và nghệ thuật

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của khóa luận là hoàn thành một công trình nghiên cứu về giá

trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Hoa tiên

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu về thời đại Nguyễn Huy Tự trên hai phương diện lịch sử, xã hội và văn hóa tư tưởng, từ đó nhìn nhận những căn cứ quan trọng có tác động

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là truyện Hoa tiên Ở đây chúng tôi

sử dụng văn bản trong cuốn Truyện Hoa tiên, Lai Ngọc Cang khảo thích và

giới thiệu, NXB Văn Hóa Hà Nội,1961

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi tiến hành nghiên cứu giá trị nội

dung và nghệ thuật của tác phẩm truyện Hoa tiên

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu văn học Sử

- Phương pháp liên ngành

- Thao tác thống kê phân loại

- Các thao tác chứng minh, lập luận, phân tích tổng hợp

Trang 9

6 Đóng góp của khóa luận

Đưa ra một công trình nghiên cứu khái quát về giá trị nội dung và nghệ

thuật của truyện Hoa tiên

7 Bố cục của khóa luận

Khóa luận được triển khai theo ba phần: Mở đầu, Nội dung và Kết luận Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, phần Nội dung được chia thành ba chương:

- Chương 1: Những vấn đề chung

- Chương 2: Truyện Hoa tiên thể hiện câu chuyện tình yêu đôi lứa

- Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật

Trang 10

NỘI DUNG

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Tình hình lịch sử – xã hội, văn hóa – tư tưởng thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX

Truyện Hoa tiên ra đời trong giai đoạn văn học thế kỉ XVIII đến nửa đầu

thế kỉ XIX Đây là giai đoạn tổng khủng hoảng một cách trầm trọng, toàn diện

Sự khủng hoảng này được bộc lộ trên nhiều phương diện nhưng nổi bật nhất là

sự suy thoái trong toàn bộ cơ cấu của chế độ phong kiến Những mâu thuẫn chất chứa trong lòng xã hội phong kiến đến giai đoạn này bộc lộ gay gắt và bùng nổ thành những cuộc đấu tranh quyết liệt Các tập đoàn phong kiến liên tiếp thay thế nhau thống trị đất nước, chỉ trong một thời gian ngắn, vua Lê mất, chúa Trịnh diệt vong, Nguyễn Huệ lên ngôi Sự biến động này kéo theo mâu thuẫn trong nội bộ triều chính Tất cả tình hình kinh tế, chính trị như vậy dẫn đến kết quả những cuộc nội chiến kéo dài, nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân đã

nổ ra chống lại triều đình ở cả hai miền Nam, Bắc và giai cấp thống trị cực đoan Đỉnh cao là phong trào Tây Sơn – cuộc khởi nghĩa của người anh hùng

áo vải Nguyễn Huệ giành được những thắng lợi vẻ vang, đánh đổ ba tập đoàn phong kiến thống trị trong nước, đánh tan 20 vạn quân Thanh xâm lược, lập nên một vương triều phong kiến mới với nhiều chính sách tiến bộ, xây dựng nước Việt độc lập, tự chủ, dân giàu, nước mạnh, nhân dân được hưởng thái bình Chính vì vậy, “thế kỷ XVIII được giới sử học mệnh danh là thế kỷ của chiến tranh nông dân” [28,tr5] Thời đại nhiều biến cố đã gây ra tác động không nhỏ đến các trí thức nho học và bản thân chính tác giả Nguyễn Huy Tự lúc bấy giờ Đây là thời điểm các triều đại liên tiếp thay thế nhau, chữ “trung” bị suy đồi, vua tôi đảo lộn dẫn đến bi kịch của giới trí thức nho học mông lung trước chữ “trung” của mình Phạm Thái từng kêu lên:

Trang 11

Dăm bảy năm nay những loạn ly,

Cũng thì duyên phận cũng thì thì

Ba mươi tuổi lẻ là bao nả,

Năm sáu đời vua khéo chóng ghê

Văn hóa tư tưởng giai đoạn này cũng khủng hoảng nghiêm trọng Nho giáo vốn được coi như phương tiện đắc lực để các triều đại nắm quyền sử dụng điều hành đất nước đến đây lung lay không thể cứu vãn Tam cương, ngũ thường của người quân tử bị đảo lộn, mọi kỷ cương bị phá vỡ, chúa hiếp đáp vua, con âm mưu lật đổ cha, bề tôi nhiều người phản trắc, đồng tiền và quyền lực mới là mục đích tối cao, quan lại, nho sĩ biến chất Điều này được diễn tả

khá sinh động trong Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái Vua Lê

trở thành bù nhìn, toàn bộ việc triều chính nằm trong sự sinh sát của chúa Trịnh Chúa hiếp đáp vua đến nỗi biến vua thành tên hề ngay trên cung điện của mình, còn vua tự biến mình thành một kẻ hèn nhát với phương châm “Trời xui nhà chúa phò ta Chúa gánh cái lo, ta hưởng cái vui Mất chúa tức là cái lo lại về ta,

ta còn vui gì?” Trịnh Sâm say đắm, mải mê sắc đẹp của Đặng Thị Huệ mà gây

ra sai lầm nghiêm trọng trong việc lựa chọn Trịnh Cán quanh năm ốm yếu làm thế tử; Trịnh Tông vì tham vọng làm chúa mà trái mệnh cha, mưu đồ phản loạn Ngay cả đạo quần thần cũng bị chà đạp, Tuần huyện Nguyễn Trang đã nộp chúa Trịnh Tông cho Tây Sơn, không chỉ vậy, hắn còn bộc lộ trắng trợn quan điểm của mình trước thầy học Lí Trần Quán “Sợ thầy chưa bằng sợ giặc, yêu chúa chưa bằng yêu thân mình, tôi không để quan lớn để cho lầm lỡ đâu”

Minh chứng này cộng với việc nội bộ các triều đại vì tranh ngôi báu mà phá vỡ mọi rường mối Nho giáo, chữ “trung”, chữ “hiếu” bị kéo đổ thảm hại Trong bối cảnh này tầng lớp trí thức Nho học bị rơi vào khủng hoảng, bế tắc,

hầu hết đều mang trong mình những tâm sự bi kịch Nguyễn Du viết trong Tạp

thi:

Trang 12

Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên (Tráng sĩ đầu bạc ngửng nhìn trời, lòng bi đát Hùng tâm, sinh kế cả hai đều mờ mịt)

Cao Bá Quát với Bệnh trung:

Trắc thân thiên địa bi cô chưởng Hồi thủ yên tiêu khuất tráng đồ (Đất trời đau nỗi bàn tay lẻ Mây khói che đường chí khí to) Tình hình xã hội ngày càng đi vào khủng hoảng, bế tắc, đời sống chính trị ngày càng rối ren thì “con người không có cách nào khác là đi tìm tín ngưỡng tôn giáo để cứu cánh” [6,tr83] Nếu như Phật giáo và Đạo giáo trước đây suy thoái (thế kỷ XVI) thì đến giai đoạn này lại có điều kiện phục hồi, tuy nhiên không bằng giai đoạn trước đó Đạo Phật lúc này được coi trọng trở lại, nó phát triển trong lúc các tín ngưỡng dân gian ngày càng được mở rộng, nhiều chùa quán được xây dựng, một số chùa được trùng tu lại Phật giáo tồn tại, gắn bó,

ăn sâu vào tiềm thức tâm linh của con người và có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng, tâm lí, nếp sống của nhân dân Đạo giáo cũng có những ảnh hưởng nhất

định đến đời sống tâm hồn của người dân, nó được coi là “thứ thuốc chính

thống cho các vết thương tâm hồn” [14,tr51] Đạo giáo “thấm nhuần tư tưởng lãng mạn, chủ trương trở về với tự nhiên, thoát li đời sống xã hội, phản kháng những lễ nghi, bổn phận đạo Khổng tạo ra…” [14,tr50]

Dựa trên nền tảng của luận lý xã hội lúc bấy giờ, cụ thể là trên tinh thần Nho – Phật – Đạo, là quy phạm cương thường của người quân tử, lòng từ bi bác ái của con người, là triết lý sống hòa hợp với tự nhiên để được dân gian hóa, trở nên quen thuộc với người dân Việt Nam

Trang 13

Giai đoạn văn học thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX đánh dấu sự ra đời của khuynh hướng văn học “dân chủ nhân văn” Các tác giả chủ yếu hướng ngòi bút của mình vào thân phận con người, tình yêu và khát vọng hạnh phúc Thời điểm này truyện Nôm khá phát triển, người ta có xu hướng viết về những vấn đề lịch sử, trong đó có một hướng đi nổi trội lúc bấy giờ là dựa trên cốt

truyện có sẵn, tiểu thuyết tài tử giai nhân của Trung Quốc để viết lại Truyện

Kiều là một ví dụ Nguyễn Du đã mượn cốt truyện từ Kim Vân Kiều truyện của

Thanh Tâm Tài Nhân mà sáng tạo ra Truyện Kiều bằng thơ lục bát dài 3254 câu thơ đậm đà bản sắc Việt Nam Truyện Hoa tiên cũng vậy, dựa theo một ca bản của Trung Quốc có tên gọi Đệ bát tài tử Hoa tiên ký, Nguyễn Huy Tự đã

có những sáng tạo riêng để tạo thành một tác phẩm mang tinh thần dân tộc Giai đoạn này, mọi giá trị, mọi ràng buộc con người của lễ giáo phong kiến tất yếu có ảnh hưởng tới sáng tác văn chương Văn học Việt Nam thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX viết nhiều tình yêu và người phụ nữ với kiểu mẫu “công dung ngôn hạnh”, “xuất giá tòng phu” và những khuôn khổ đạo

đức của lễ giáo phong kiến Truyện Hoa tiên là một câu chuyện dài thể hiện

tình yêu đôi lứa trong khuôn khổ trật tự phong kiến

1.2 Nguyễn Huy Tự và truyện Hoa tiên

1.2.1 Cuộc đời

Nguyễn Huy Tự, còn có tên gọi khác là Yên, tự là Hữu Chi, hiệu là Uẩn Trai, sinh ngày 15 tháng 7 niên hiệu Cảnh Hưng thứ 4 đời vua Lê Hiển Tông, tức là ngày 2 tháng 9 năm 1743, người làng Trường Lưu, xã Lai Thạch, huyện

La Sơn (nay thuộc huyện Can Lộc), tỉnh Hà Tĩnh

Nguyễn Huy Tự là con trưởng Nguyễn Huy Oánh và bà chính thất họ Nguyễn, ông nổi tiếng học rộng biết nhiều Tương truyền “Ông bác thiệt cổ kim, lại giỏi thuật số, cho nên những thi họa, quốc âm, thanh luật, kỹ nghệ

Trang 14

không món gì là không tinh tuyệt Khâm hoài tiêu sái, khí cục hiên ngang, mà lúc trò chuyện bàn bạc thì mãn tọa không ai không lắng tai nghe” [16,tr211] Ông tổ xa xưa của họ Nguyễn Huy là Nguyễn Uyên Hậu, đậu ngũ kinh bác sĩ đời Hồng Đức Thế tổ là Nguyễn Hàm Hằng, mười lăm tuổi đậu hương thí, các đời sau đời nào cũng có người đỗ đạt và làm quan Ông nội của Nguyễn Huy Tự là Nguyễn Huy Tựu đậu hương giải, làm Tham chính xứ Thái Nguyên, lúc chết được phong Công bộ Thượng thư Cha Nguyễn Huy Tự là Nguyễn Huy Oánh, đậu thám hoa, giữ chức Hộ bộ Thượng thư, từng đi sứ Trung Quốc Chú của Nguyễn Huy Tự là Nguyễn Huy Quýnh, đậu tiến sĩ, sau đổi sang làm quan võ, giữ chức Đốc thị đạo Quảng Thuận, cũng là một người có tài văn học Năm 1759 (mười sáu tuổi), Nguyễn Huy Tự đậu thứ năm kỳ thi hương, lúc bấy giờ Nguyễn Huy Oánh đang làm Nhập nội thị giảng ở phủ chúa, ông được bổ chức Thị nội văn chức tùy giảng để giúp cha Sau đó liên tiếp ông giữ các chức Hồng lô tự thừa (1767), Tri phủ Quốc Oai (1768), Hiến sát phó sứ Sơn Nam (1770) Năm 1774, đổi sang làm quan võ, Nguyễn Huy Tự giữ chức Quản binh, bốn năm sau thăng lên làm Trấn thủ xứ Hưng Hóa Năm 1779, ông được đặc ban Tiến triều ứng vụ, ngang với tiến sĩ, sau đó làm Đốc đồng trấn Hưng Hóa rồi kiêm Đốc đồng Sơn Tây Được ít lâu thì mẹ vợ mất, lại có loạn kiêu binh, Nguyễn Huy Tự lấy cớ xin về nhà chịu tang rồi không ra làm quan nữa

Nguyễn Huy Tự lấy hai đời vợ, vợ trước là Nguyễn Thị Bành, vợ kế là Nguyễn Thị Đài, cả hai đều là con gái Nguyễn Khản, anh cả nhà thơ Nguyễn

Du và đều giỏi chữ Nôm Ông có mười ba người con, chín trai và bốn gái Năm 1790, ông được vua Quang Trung triệu vào Phú Xuân bổ chức Hữu thị lang, ông làm được mấy tháng thì bệnh nặng và mất ngày 27 tháng 7 năm

1790, thọ 48 tuổi

Trang 15

1.2.2 Truyện Hoa tiên

Như chúng tôi đã trình bày, Nguyễn Huy Tự sống trong thời kỳ khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến và sự suy yếu của tập đoàn thống trị

Lê – Trịnh Ông tích cực tham gia hoạt động, tạm thời gác lại nghiệp văn thơ

để cầm vũ khí nhằm bảo vệ trật tự xã hội đang bị lay chuyển Bởi vậy, hẳn đây không phải là thời gian nhàn rỗi và là nguồn cảm hứng để ông có thể sáng tác

truyện Hoa tiên Dựa vào ghi chép về dòng họ Nguyễn Huy, nhà phê bình Hoài Thanh đã đưa ra nhận định “Nguyễn Huy Tự đã viết Hoa tiên hồi còn nhỏ tuổi”

[26,tr104] Ý kiến này có cơ sở và khá chuẩn xác

Vào thời chúa Trịnh Doanh, sau khi đậu thứ 5 kì thi hương khi mới 17 tuổi, Nguyễn Huy Tự rời quê lên Thăng Long giúp cha giảng sách ở phủ Thế

tử Từ lâu, phong trào sáng tác thơ văn chữ Nôm đã thịnh hành ở Thăng Long Trịnh Doanh, Trịnh Sâm và Nguyễn Huy Oánh đều có tài làm thơ Nôm, Nguyễn

Huy Tự cũng là người có sở trường về thơ phong tình

Nguyễn Huy Tự đã đính ước với con gái của Nguyễn Khản “Tư thất của Nguyễn Khản dựng ở xóm Bích – câu, nhà cửa lộng lẫy, vườn đầy hoa thơm

cỏ lạ, không kém gì vườn chúa nên thường được Trịnh Sâm ra chơi và tỏ lời khen ngợi” [4,tr11] Khi Nguyễn Huy Tự đến làm rể ở phủ Nguyễn Khản đã cảm nhận được vẻ đẹp cảnh vật, chàng trai đang tuổi hai mươi rạo rực yêu

đương mới thấy hết được giá trị của ca bản Hoa tiên ký Nhà phê bình Tĩnh

Tịnh Trai bình luận rằng đó là một truyện “khởi bằng gió trăng, kết bằng gió trăng mà trong khoảng giữa, không có chỗ điểm xuyết nào thoát ra ngoài hai chữ gió trăng” [4,tr10] Cảm xúc tuổi trẻ trong Nguyễn Huy Tự rất thích hợp

viết một truyện dài về yêu đương và công danh như truyện Hoa tiên

Từ việc nghiên cứu nguyên tác kết hợp với tìm hiểu cuộc đời Nguyễn Huy

Tự cho phép chúng tôi khẳng định: “Nguyễn Huy Tự đã viết truyện Hoa tiên

khoảng giữa thế kỷ XVIII, từ năm 1759 (năm ông tới Thăng Long) đến năm

Trang 16

1768 (năm được bổ làm quan ở Sơn Tây), lúc này ông vào khoảng 17 – 26 tuổi” [4,tr12]

Truyện Hoa Tiên theo GS Nguyễn Lộc “bản nguyên tác của Nguyễn Huy

Tự có độ dài là 1.532 câu lục bát Sau khi được một người em họ bên vợ

là Nguyễn Thiện sửa chữa và thêm thắt thì bản truyện có tất cả là 1.826 câu” [21,tr600], và được Đỗ Hạ Xuyên khắc ván in đầu tiên vào năm Ất Hợi (1875)

tân biên Tuy nhiên, theo văn bản có trong sách Văn học thế kỷ 18 do PGS

Nguyễn Thạch Giang chủ biên, thì “bản nhuận sắc chỉ có 1.766 Nhưng, theo nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm thì bản này có đến 1.858 câu” [9,tr70]

Sự ra đời của truyện Hoa tiên là một thành công lớn của văn học cổ điển

dân tộc Việc nhuận sắc tác phẩm được coi là vấn đề đáng lưu tâm Nghiên cứu

cho rằng Nguyễn Huy Tự viết truyện Hoa tiên vào khoảng từ năm 1759 đến

năm 1768, khi ông khoảng 17 đến 26 tuổi Sau đó tác phẩm đã qua tay nhiều người nhuận sắc, có thể điểm qua như sau:

Nguyễn Thiện được coi là người đầu tiên có công nhuận sắc truyện Hoa

tiên Nguyễn Thiện, tự Khả Dục, hiệu Thích Hiên, sinh ra ở làng Tiên Điền,

huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Là con nhà quan lại khá giả, cháu gọi Nguyễn Khản bằng bác, gọi thi hào Nguyễn Du bằng chú

Bàn về việc nhuận sắc tác phẩm có nhiều ý kiến trái chiều xoay quanh vấn

đề Truyện Kiều của Nguyễn Du chịu ảnh hưởng từ truyện Hoa tiên của Nguyễn

Huy Tự hay ngược lại? Ông Đào Duy Anh đã đưa ra giả thuyết “Nguyễn Du

đã viết Truyện Kiều trong khoảng 1805 – 1809 Nguyễn Thiện đã đọc tác phẩm

ấy rất kỹ và có lẽ chính nó đã tạo nên cảm hứng nhuận sắc truyện Hoa tiên của

Nguyễn Huy Tự” [4,tr18] Ý kiến này đã giải quyết ổn thỏa vấn đề nhuận sắc

của Nguyễn Thiện Nhận thấy truyện Hoa tiên và Truyện Kiều có mối ảnh

Trang 17

hưởng qua lại tác động lẫn nhau Nguyễn Du khi viết Truyện Kiều ít nhiều đã chịu ảnh hưởng của truyện Hoa tiên:

Truyện Hoa tiên nguyên tác:

Bụi hồng dứt nẻo đi về chiêm bao

Truyện Kiều viết:

Bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao Tuy nhiên Nguyễn Du đã tiếp thu một cách có chọn lọc và sáng tạo đem lại sức hấp dẫn riêng cho tác phẩm của mình

Trong việc nhuận sắc truyện Hoa tiên, Nguyễn Thiện đã dụng công tô đậm

quan niệm trung hiếu, tiết nghĩa bằng cách viết lại phần mở đầu Nguyễn Huy

Tự mở đầu tác phẩm bằng cách tả cảnh đêm thông qua việc đối chiếu chuyện Ngưu Lang – Chức Nữ trên trời với chuyện tình yêu của con người mà vào truyện:

Nương lan nhẹ hóng mát chiều, Vàng pha gió quế, trắng dìu hương sen

Gác rèm câu nguyệt xiên xiên, Này hôm ả Chức chàng Khiên họp vầy

Ngược lại, Nguyễn Thiện khi nhuận sắc truyện Hoa tiên đã mở đầu bằng hai chữ “trăm năm” như Truyện Kiều:

Trăm năm một sợi chỉ hồng Buộc người tài sắc vào trong khuôn trời Ngoài ra, Nguyễn Thiện cũng nhấn mạnh tính chất triết lý, một số tư tưởng Nho giáo thời bấy giờ Ông thường coi trọng cách diễn tả con người qua hành động và cả nội tâm nhân vật

Trang 18

Kết cấu truyện cũng đã có sự thay đổi đáng chú ý khi Nguyễn Thiện nhuận

sắc Ở bản Hoa tiên nguyên tác sau hồi Phủ Lưu ép duyên, tiếp theo hồi Lương

Sinh bàn kế đánh giặc rồi mới đến hồi Ngọc Khanh gieo mình xuống sông

Trong bản Hoa tiên nhuận sắc Nguyễn Thiện đã đổi hồi Ngọc Khanh gieo mình

xuống sông lên trước hồi Lương sinh bàn kế đánh giặc để đảm bảo sự hợp lí và lôgic

Xét một cách bao quát, nhận thấy Nguyễn Thiện đã dụng công trong việc

nhuận sắc truyện Hoa tiên Tuy nhiên phần đóng góp sửa chữa của Nguyễn

Thiện còn nặng về phần hình thức Ông đã sửa lại hầu hết những từ ngữ mộc mạc, giản dị thay vào đó bằng ngôn từ bóng bẩy, chải chuốt phù hợp với câu chuyện tình yêu nơi lầu son gác tía Điều đó làm cho câu chuyện chủ yếu phổ biến trong giới tri thức hơn tầng lớp bình dân

Vũ Đài Vấn là người tiếp theo nhuận sắc truyện Hoa tiên của Nguyễn Huy

Tự và Nguyễn Thiện năm 1828 Trong bài tựa của mình, ông khen truyện Hoa

tiên “từ hồi hai mươi bốn trở về trên, lời và ý đều chu đáo” nhưng ông chê tác

phẩm “từ hồi hai mươi bốn trở về sau, lời thì nhiều chỗ trái tai mà ý thì không

khỏi có chỗ thiếu sót” [4,tr251] Khi nhuận sắc truyện Hoa tiên, Vũ Đài Vấn

đã kéo dài tác phẩm thêm 86 câu thơ nữa Ông ý thức sâu sắc hơn trong việc đưa những quan niệm đạo đức vào tác phẩm

Trong bản Hoa tiên nhận chính tân biên, tác giả lên tiếng khẳng định kẻ

làm trai đã vì ơn vua mà chết thì:

Nát thân danh vẫn chưa sờn, Thôi thôi ngọc lở còn hơn ngõa tuyền Ngoài ra Vũ Đài Vấn còn có công sửa chữa những từ ngữ thô nhám cho thanh thoát, nhẹ nhàng đồng thời uốn nắn tâm lí nhân vật phù hợp với hoàn cảnh

Trang 19

Truyện Hoa tiên nguyên tác:

Tôi con chút phận thờn bơn, Nếu dồi dắng lại ra hờn cợt ngay

Vũ Đài Vấn chỉnh sửa:

Tôi con chút phận thờn bơn

Xe duyên là mấy đội ơn cao dầy Xét thấy việc nhuận sắc của Vũ Đài Vấn có phần nặng về nội dung tư tưởng Tuy nhiên không thể phủ nhận công lao to lớn của ông khi bỏ ra một

năm để sửa chữa truyện Hoa tiên cho phù hợp với hoàn cảnh và các quan niệm

đạo đức

Cao Bá Quát trong bài tựa của mình cũng đã lên tiếng khẳng định vì yêu

mến truyện Hoa tiên nên đã sửa chữa, gọt rũa “mạo muội thêm thắt vào sự điểm

chính, ý muốn chữa lại cho đúng những chỗ sai lầm hoặc lạ lùng, tạp nham mà

sửa nên cuốn sách của một nhà” [4,tr255] Hiện nay người ta không rõ Cao Bá

Quát đã đính chính cụ thể ở những điểm nào nhưng chắc chắn rằng việc làm

của ông có xu hướng điều chỉnh hơn là nhuận sắc truyện Hoa tiên

Điểm qua lịch sử phức tạp của truyện Hoa tiên, chúng tôi nhận thấy tác

phẩm đã trải qua hai lần nhuận sắc và một lần “đính chính” Nhìn chung giá trị nội dung tử tưởng của bản nguyên tác so với các bản nhuận sắc về cơ bản là như nhau Tuy nhiên xét ở khía cạnh hình thức nghệ thuật, hầu hết các bản nhuận sắc sắp xếp theo trật tự thời gian có giá trị hơn

Truyện Hoa tiên được chia làm ba phần: Gặp gỡ – Tai biến – Đoàn tụ, có

thể tóm tắt như sau:

Phương Châu là con một gia đình quyền quý ở Tô Châu Chàng xin mẹ cho sang trọ học nhà người mợ ở Tràng Châu, cùng học với con bà là Diêu

Trang 20

Sinh Vào một đêm trăng, Phương Châu tình cờ gặp Dao Tiên, con gái quan Đô đốc họ Dương Say mê trước Dao Tiên, chàng tìm cách làm quen với Dương tướng quân và một lần được vào chơi trong phủ họ Dương, Phương Châu đã họa thơ tỏ tình với Dao Tiên Lúc đầu Dao Tiên còn e ngại, quyết liệt nhưng nhờ có sự giúp đỡ của hai tì nữ Vân Hương và Bích Nguyệt, Dao Tiên cũng động lòng yêu mến Phương Châu Dưới ánh trăng vàng dịu hai người đã trao nhau lời thề kết duyên trọn đời

Thế nhưng thề nguyền chưa được bao lâu hai người đã phải chia tay nhau

do ở quê nhà, cha Phương Châu đã đính ước cho chàng cùng với con gái quan Lại bộ thượng thư họ Lưu tên là Ngọc Khanh Mặc dù vô cùng đau khổ nhưng chàng cũng không thể trái lệnh của cha mẹ Dao Tiên nghe được tin ấy, cho rằng người mình thương đã bội ước nên cũng buồn đau không kém và tự nhủ suốt đời không lấy chồng Chợt Dương tướng công có lệnh làm quan ở kinh đô Đến khi ông nhận lệnh cầm quân ra trận diệt giặc Hồ, mẹ con Dao Tiên đành phải đến ở nhà người cậu họ Tiền ở Kinh đô

Phương Châu cùng Diêu Sinh thi đỗ Thám hoa, được bổ làm quan ở kinh

đô Phương Châu tình cờ gặp lại Dao Tiên, hai bên phân trần giãi bày tâm sự Biết cha nàng bị giặc vây, Phương Châu liền xin vua đi giải vây, nào ngờ đánh thua chàng bị quân đối phương vây chặt Nhận được tin đồn rằng Phương Châu

tử trận, Ngọc Khanh – vị hôn thê chính thức đã thay xiêm y để tang chồng Sau

đó vì thương con đương tuổi trẻ, mẹ Ngọc Khanh ép lấy chồng khác, nàng nhảy xuống sông tự tử may gặp thuyền của quan Đề học họ Long vớt được

Diêu sinh được phái ra trận giải vây đánh tan được quân đối phương, giải vây cho Dương tướng công và Phương Châu Tất cả đều được nhà vua ban thưởng Tưởng rằng Lưu Ngọc Khanh đã mất, Phương Châu bèn dâng biểu tâu việc nàng tử tiết, được nhà vua tặng phong cho nàng Sau đó, Vua lại tự đứng

Trang 21

ra làm mối cho Dao Tiên và Phương Châu Đang khi đó Đề học Long cùng Lưu Ngọc Khanh cũng vừa đến kinh đô Nhờ Đề học Long dâng sớ tâu việc lên, vua lại để Ngọc Khanh kết duyên cùng Phương Châu Cuối cùng, Phương Châu không những cưới được Dao Tiên, Ngọc Khanh mà còn cưới cả hai cô tì nữ là Vân Hương và Bích Nguyệt Kết thúc một nhà đoàn viên vui vẻ

Tiểu kết chương 1

Truyện Hoa tiên là một truyện ái tình, tác phẩm phản ánh tình yêu đôi lứa

trong sự biến động về văn hóa, tư tưởng và sự khắt khe của lễ giáo phong kiến của thời đại bấy giờ Đây là một tác phẩm hấp dẫn và có giá trị tinh thần to lớn đối với dân tộc

Trang 22

Chương 2

TRUYỆN HOA TIÊN THỂ HIỆN CÂU CHUYỆN TÌNH YÊU ĐÔI LỨA

2.1 Thể hiện câu chuyện tình yêu tự do theo tiếng gọi trái tim

Giai đoạn văn học từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX đánh dấu sự ra đời của khuynh hướng văn học “dân chủ nhân văn” Nội dung chính của các tác phẩm chủ yếu hướng tới vấn đề thân phận con người, tố cáo những thế lực đen tối chà đạp quyền sống và hạnh phúc của họ, đặc biệt đề cao khát vọng

chính đáng yêu và được yêu của con người Truyện Hoa tiên nằm trong khuynh

hướng văn học thời kì này

Trước cuộc sống bị chi phối bởi những khuôn khổ khắc chế của lễ giáo phong kiến, con người luôn khát khao được giải phóng để có một tình yêu

tự do, được hạnh phúc và sống cuộc sống bình đẳng Để được như vậy, tất yếu con người phải đấu tranh bằng cách vượt ra khỏi những quy phạm của

lễ giáo phong kiến Văn học muốn phát triển thì phải tìm cách phá vỡ khuôn khổ cứng nhắc, khô khan, mang tính quy phạm của lễ giáo phong kiến Điều này ứng với trào lưu văn học của giai đoạn thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX Các nhà tư tưởng lớn, các nghệ sĩ lớn đã tìm cách vượt ra khỏi khuôn khổ

đó tìm kiếm quan niệm tiến bộ Trong truyện Nôm tiếng nói khát khao tự do, phá vỡ rào cản phong kiến không phải hiếm hoi, ta dễ dàng bắt gặp xu hướng

này trong hệ thống tác phẩm như Truyện Kiều của Nguyễn Du, Sơ kính tân

trang của Phạm Thái, Phan Trần Nguyễn Huy Tự cũng thể hiện sự tiến bộ

đó Tác phẩm của ông cho thấy sự phá vỡ rào cản lễ giáo phong kiến bó buộc con người

Truyện Hoa tiên nằm trong hệ thống truyện Nôm tài tử – giai nhân, tác

phẩm hướng tới ca ngợi tình yêu đôi lứa Câu chuyện tình yêu ở đây vừa mang dáng dấp cổ điển theo lễ nghi thông thường của người Việt; vừa mang dáng dấp chuyện tình yêu tự do, phóng khoáng Tìm hiểu kĩ mối tình Phương Châu – Dao Tiên chúng ta thấy rõ điều này

Trang 23

Tác giả Hoa tiên đã thành công khi xây dựng mối tình tự do giữa hai nhân

vật Phương Châu và Dao Tiên Điều này được thể hiện trước hết ở nhân vật Phương Châu Chàng cũng là một kiểu nhân vật của truyện Nôm bác học, mang những nét khái quát của nhân vật tài tử Phương Châu là một chàng thư sinh đang trên đường học hành thi cử vô tình gặp Dao Tiên, nhận thấy đây là mối tình của cuộc đời mình lập tức “bút nghiên chí nản”, “son phấn tình nồng” Đây

là mô típ quen thuộc của truyện Nôm, các chàng trai khi động lòng với cô gái

sẽ ngã vào tình yêu, tạm gác chuyện học hành sang một bên để tìm kiếm thành quả trong tình yêu trước mới quay lại nghiệp thi cử và cuối cùng đỗ đạt Phương Châu say đắm Dao Tiên ngay từ lần đầu gặp gỡ Vì vậy trong mọi suy nghĩ, hành động, lời nói của chàng đều hướng tới mục đích đạt được tình yêu của Dao Tiên Vào một đêm trăng, khi dạo bước một mình trong vườn thoạt nhìn thấy Dao Tiên chàng đã bị quyến rũ bởi vẻ đẹp lộng lẫy của nàng như một cành mẫu đơn dưới ánh trăng mờ tỏ:

Lối thơm mở rộng ba đình

Xạ đâu thoang thoảng lọt bình phôi pha?

Vừa cơn mây bợn, trăng lòa

Mảnh tình gửi nét thu ba đưa vào

Cuộc tiên đôi ả má đào

Riêng làn xiêm trắng đem vào mắt xanh

Gió đông gờn gợn sóng tình

Dưới trăng lộng lẫy một cành mẫu đơn

(87-94) Trong tâm trí Phương Châu kể từ đó “làn xiêm trắng” chưa lúc nào thôi

ám ảnh chàng, bóng dáng người đẹp luôn hiện hữu, thổn thức trong tâm tưởng Bước chân của chàng đột ngột bước đến chỗ Dao Tiên chơi cờ Xuất hiện người

lạ lập tức mọi người dừng cuộc chơi, Dao Tiên vội vàng tránh mặt Dưới con

Trang 24

mắt nửa mê nửa tỉnh, Phương Châu cho rằng nàng còn kịp nhìn mình và nở một

nụ cười:

Rèm Tương động thét tiếng hoàn

Vẻ lan vừa chán, gót sen vội dời

Nhác xem chiều mỉm mỉm cười Sóng dầm khóe hạnh chưa dời nét trông (103-106) Mặc dù Bích Nguyệt – cô hầu của Dao Tiên đã cố ý nói với Phương Châu rằng Dao Tiên nếu có cười thật cũng chỉ là cười nỗi “thày lay dại làn”:

Nguyệt rằng: Mê mẩn xinh thay!

Cười chăng: cười nỗi thày lay dại làn

(147 – 148) Thế nhưng chàng vẫn quyết tâm theo đuổi Dao Tiên không nản chí Phút gặp người đẹp hôm ấy đã làm chàng mê mẩn vướng phải tơ lòng, lúc nào cũng thổn thức mơ tưởng, khao khát yêu đương Phương Châu tìm về nơi gặp xưa thấy cảnh vật vắng lặng càng làm chàng buồn rầu:

Chập chờn bóng nguyệt trêu ai Hoa đâu rụng, lá đâu rơi trước thềm

Kêu sương tiếng nhạn lay thềm, Phong thư đưa đến cung Thiềm được không?

Chàng tìm cách dò hỏi về nàng và đã dùng hết số tiền mẹ cho đi ăn học để mua một dinh cơ đồ sộ cạnh nhà Dao Tiên Phương Châu tìm cách làm quen với Dương tướng quân, một lần được vào chơi trong phủ họ Dương chàng đã họa thơ tỏ tình với nàng Vì quá say mê trước vẻ đẹp của Dao Tiên, Phương Châu tìm mọi cách năn nỉ xin Vân Hương, Bích Nguyệt làm mối lái giúp đỡ mình Có thể nói trong tình yêu, chàng là người chủ động và tích cực

Trang 25

Tình cờ gặp Dao tiên lần thứ hai, Phương Châu đã không ngần ngại bỏ hết những phép tắc của thánh hiền để nặng lời gắn bó với nàng bằng giọng điệu tha thiết, nhẹ nhàng, bày tỏ tình cảm của mình:

Ngập ngừng, sinh mới rén triềng:

Lẽ chung đã vậy tình duyên sao là?

Đeo đai chót một tiếng đà

Đài thiêng hổ có trăng già chứng lâm

Nghĩ nguyền ví chẳng tòng tâm, Cũng liều đầu bạc cho lầm tuổi xanh!

(653-658) Giáo điều phong kiến không cho phép trai gái gặp nhau nhưng Phương Châu đã bất chấp để được gặp mặt người đẹp và bày tỏ tình cảm với nàng Lễ giáo chưa đủ mạnh để nhắc nhở Phương Châu quay về với những khuôn phép đạo đức, chàng vẫn luôn nghe theo tiếng gọi rạo rực, thổn thức xuất phát từ trái tim mình Giống như tất cả các chàng trai khác trong nhóm truyện Nôm bác học, Phương Châu đủ kiên nhẫn để chinh phục với tình yêu mà chàng mong

đợi Nhân vật Kim Trọng trong Truyện Kiều cũng vậy Lần đầu gặp Thúy Kiều,

chàng đã vội tương tư nàng:

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê Cảm giác nhớ nhung của tình yêu làm cho thời gian dường như ngưng đọng Chàng tìm gặp Thúy Kiều bằng cách quay lại nơi đầu tiên gặp gỡ nhưng không thấy nàng Chàng tìm đến nhà nàng nhưng cũng không thể gặp Nếu như Kim Trọng thuê một vườn thúy bên cạnh nhà Thúy Kiều để rồi may mắn gặp được nàng thì Phương Châu cũng dùng hết số tiền ăn học mua một dinh cơ đồ

sộ để tìm cách làm quen và họa thơ tỏ tình với Dao Tiên Như vậy các chàng trai trong nhóm truyện Nôm bác học đều là những người cố gắng để đạt được khát vọng tình yêu của mình

Trang 26

Sau vài lần gặp tiếp theo, dường như Dao Tiên đã chắc chắn được tình cảm của mình, nàng đã bộc lộ rõ những cử chỉ thể hiện tình cảm của mình và khát khao nắm bắt được tình yêu:

Thà cho xong một bề nào, Chẳng thà trắc trở hôm dao nhường này!

( 691 – 692)

Cô gái quý tộc Dao Tiên ngày nào còn mắng tì nữ của mình nay đã vươn lên vượt qua rào cản lễ giáo để đến với tiếng gọi tình yêu, tiếng nói vọng lên từ đáy lòng mình sau quá trình dằn vặt bản thân, nàng ngại ngùng thanh minh: Người hay gỗ đá chi chi

Đã đành tình ấy, còn suy nỗi này

(705 – 706) Đến lần gặp thứ ba, Dao Tiên mới động lòng thực sự với Phương Châu, cuối cùng tình yêu tha thiết và sôi nổi của chàng đã chinh phục được Dao Tiên bước qua bức tường lễ giáo để đến với niềm hạnh phúc dạt dào trong tình yêu Dưới ánh trăng vàng dịu hai người đã trao nhau lời thề kết duyên trọn đời:

Hội này người hợp trăng tròn Niềm son giải một chén son cùng thề (787-788) Dao Tiên cũng nhận ra rằng trót thề nguyền nghĩa là đã vi phạm đạo đức phong kiến, điều đáng hổ thẹn Tuy nhiên niềm tin và khát vọng hạnh phúc đã giúp nàng nghe theo tiếng gọi của trái tim mình Lễ giáo phong kiến đối với Dao Tiên lúc này như một cái bóng mờ nhạt ở đâu đó và sức mạnh tình yêu chiến thắng tất cả:

Trăm năm nhẹ một tấm nguyền Vừng soi đã hổ với trên đỉnh đầu

Thề lòng dãi bến Hà Châu

Trang 27

Đãi nhau trên Bộc, trong Dâu ra mà?

(817-820)

Có thể sống trong thời đại đầy biến động như vậy nên Nguyễn Huy Tự khát khao tự do và luôn đề cao tình yêu ở chỗ dù bị ràng buộc bởi lễ giáo phong

kiến khắt khe thế nhưng tình yêu tự do vẫn cất cánh Truyện Kiều của Nguyễn

Du mang những lề thói quy định rõ ràng nhưng lại khá tự do khi ông cho nhân vật của mình không chỉ yêu một người mà có đến ba mối tình thật sự trong cuộc đời ở những giai đoạn khác nhau nhưng đều thể hiện khát vọng yêu đương của

con người một cách mạnh mẽ Nằm trong khuynh hướng này tác giả Hoa tiên

cũng để cho nhân vật của mình đến với nhau bằng tình yêu tự nguyện “chén son cùng thề” Sự táo bạo của giai nhân và tài tử đã đưa đến một tình yêu tự do theo tiếng gọi trái tim

Thế nhưng thề nguyền chưa được bao lâu hai người đã phải chia tay nhau

do ở quê nhà, cha của Phương Châu đã đính ước cho chàng cùng với con gái quan Lại bộ thượng thư họ Lưu tên là Ngọc Khanh Mặc dù vô cùng đau khổ nhưng chàng cũng không thể trái lệnh của cha mẹ Chuyển biến đột ngột khiến cho chàng vô cùng đau đớn Phương Châu trở lại đi học, đi thi rồi làm quan nhưng những điều đó dường như không còn nghĩa lí với chàng Khi tình cờ gặp lại Dao Tiên, hai bên phân trần về những chuyện xảy ra Biết nàng đau khổ vì cha bị giặc vây, chàng quyết định xin vua đi giải vây để tỏ nghĩa với nàng đồng thời cũng mang trong mình hy vọng:

Họa khi trời có chiều lòng, Một chuông vàng, một chỉ hồng cũng hay

(1309-1310) Theo sát quá trình chinh phục tình yêu của Phương Châu, chúng tôi nhận thấy chàng tượng trưng cho tình cảm thắm thiết sôi nổi, luôn hướng đến tình

Trang 28

yêu tự do và khát vọng hạnh phúc Tuy bị lý trí phong kiến khuất phục nhưng

ở chàng vẫn còn nghe được những tiếng thổn thức yêu đương trong tâm hồn Điều đáng trân trọng ở mối tình Dao Tiên – Phương Châu là bởi nó bắt nguồn từ tình yêu tự do, đôi lứa đến với nhau trên cơ sở tự nguyện chứ không phải do mối lái hoặc thế lực phong kiến nào quyết định

Với Hoa tiên, tác giả đã lồng vào bên trong một nếp sống phóng khoáng,

tự do thể hiện được giá trị cũng như cái nhìn tích cực, khác xa với những quan niệm, giáo điều nghiêm ngặt của tầng lớp quý tộc Điều này được thể hiện một cách rõ ràng chủ yếu qua hai nhân vật tỳ nữ Vân Hương và Bích Nguyệt Cuộc sống trần tục và niềm vui trần tục luôn đem lại sức hấp dẫn bởi nó hấp dẫn ngay trong phần cơ bản nhất của văn học là phần nội dung hình tượng trong nó Có thể nói trong các lĩnh vực này thì các triết lí siêu hình của Phật giáo, Nho giáo hay Đạo giáo có tiếng vang rất ít, mà thực sự có ý nghĩa và sức thuyết phục lại là thứ triết lý do kinh nghiệm sống và đấu tranh của con người mang lại Dao Tiên thấy triết lý hấp dẫn nhất đối với mình là triết lý của những

cô hầu gái Vân Hương và Bích Nguyệt về tuổi trẻ, năm tháng và về cả nỗi buồn:

Một năm được mấy mùa xuân Một ngày được mấy giờ dần, ai ơi Truyện thơ Nôm thông thường bao giờ cũng xuất hiện những nhân vật

“Ông tơ bà Nguyệt”, “bà mối” làm tăng tính hấp dẫn cho tác phẩm Truyện Hoa

tiên cũng được xây dựng theo mô típ như vậy Tưởng chừng như mối tình

Phương Châu – Dao Tiên là mối tình không mối lái, nhưng thực chất để làm nên mối tình đó phải có vai trò rất lớn của hai “bà mối” Vân Hương và Bích Nguyêt Họ xuất hiện khi Phương Châu năn nỉ giúp đỡ và khi tỉ tê tâm sự với Dao Tiên Trong đêm thề nguyền của Dao Tiên – Phương Châu, Vân Hương

và Bích Nguyệt cũng đứng ra chứng giám cho tình yêu tự do của họ Đó còn là hai tỳ nữ thân thuộc vô cùng nhạy bén trong việc nắm bắt tâm lí của cô chủ, chỉ

Trang 29

thoáng nghe qua giọng nói bâng khuâng có chút gợn buồn của Dao Tiên trước cảnh trời thu thì ngay lập tức Bích Nguyệt đã thấy rõ tâm tư nàng:

Ngẫm nên, Hương đã biết chiều Trình: Sao như khổ có điều đắng cay

Dạy rằng: Hiu hắt hơi may

Chiều thu nhường cũng nên say chiều người (695 – 698 ) Vân Hương tỏ ra rất thông minh, khi ngồi xem trăng cùng Dao Tiên nàng nhận thấy ngay rằng cô chủ buồn rầu vì sao và câu nói dối của Dao Tiên “chiều thu nhường cũng nên say chiều người” không thể qua mặt được cô tì nữ nhanh nhạy này

Tình yêu tự do vượt lễ giáo phong kiến được tác giả thể hiện một cách khá chủ ý khi mượn lời hai nhân vật tì nữ Vân Hương và Bích Nguyệt để đưa ra quan niệm sống phóng khoáng về tình yêu Những con người bình dân trên cái nền xã hội phong kiến của tầng lớp quý tộc trải lòng một cách chân thật về tình yêu, về tuổi trẻ:

Liễu kia thu lại còn xuân Người kia đã dễ mấy lần xuân chăng

Vân Hương còn khéo léo đưa ra những gợi ý bỏ lửng:

Làm người nên nghĩ lấy nao Một xuân một tuổi, nỡ nào luống qua?

(603 – 604) Khi nói đến nỗi buồn, chuyện trăng xế, chuyện lứa đôi họ tỏ ra rất chiêm nghiệm:

Cũng sầu song cũng vừa vừa, Riêng người gối lẻ tương tư là sầu

Trang 30

( 599 – 600) Chính những lời nói tha thiết, xuất phát tự tận đáy lòng, niềm tâm sự về tuổi trẻ, về hạnh phúc đã thôi thúc Dao Tiên vươn lên mạnh mẽ hướng đến tình yêu tự do vượt rào cản lễ giáo Nếu không có hai tỳ nữ Vân Hương và Bích Nguyệt chắc hẳn sau nhưng rung động của cảm xúc, Dao Tiên sẽ bị đạo đức phong kiến, những khuôn phép khắt khe chi phối mà từ bỏ tình yêu tự do Như vậy cho thấy sự quan trọng của họ trong việc hình thành nên mối tình chớm nở trong lòng Dao Tiên

Quan niệm sống mới mẻ cũng được thể hiện rất rõ khi họ tán thành chuyện tình yêu của giai nhân tài tử Đây là những suy nghĩ mang tính tích cực, đổi mới mà dưới chế độ phong kiến rất khó bắt gặp:

Rành rành một vách đôi bài Giai nhân tài tử sánh vai khéo là (393 – 394) Những suy nghĩ và chiêm nghiệm đều bắt nguồn từ kinh nghiệm thực tiễn trong đời sống khi nhìn nhận một vấn đề nào đó của tầng lớp bình dân trong xã hội Điều táo bạo và giá trị trong suy nghĩ của Vân Hương và Bích Nguyệt là khi họ quan niệm về chung thủy Nếu như xã hội phong kiến đòi hỏi người phụ

nữ dù bị phụ bạc vẫn phải “tam tòng tứ đức” thì họ lại cho rằng một khi người chồng đã phụ bạc thì người vợ có quyền làm lại cuộc đời, tự xây dựng hạnh phúc cho mình:

Dù ai nỡ phụ chi ai luống chờ

Nhụy đào vẻn vẹn còn tơ,

Ví ai bướm lạc ong lừa hiếm ai

(974 – 976) Nhận thấy đây là hai nhân vật thông minh, hoạt bát đồng thời đem lại cái nhìn sâu sắc, tích cực về nhân sinh quan mang tinh thần nhân đạo và khao khát

Trang 31

hướng tới hạnh phúc tự do Quan niệm sống phóng khoáng như châm ngòi cho việc thúc đẩy con người vượt qua những rào cản phong kiến đang kìm hãm những tâm hồn

Với Hoa tiên, Nguyễn Huy Tự đã dựng lên một câu chuyện tình yêu khá

hấp dẫn Ở tác phẩm người ta thấy được cảm xúc rạo rực của những người mới lần đầu bước vào tình yêu, thấy được sự mạnh mẽ, quyết liệt của chàng trai cùng sự e lệ ban đầu của cô gái Người ta cũng thấy được cái tình yêu táo bạo vượt qua mọi rào cản của lễ giáo phong kiến để đôi lứa đến với nhau một cách

tự do và yêu nhau không cần bất kì sự sắp đặt nào của lễ giáo Qua đó tác giả

đã lồng vào tác phẩm những tư tưởng tiến bộ, tiếng nói tự do và khát vọng hạnh phúc

2.2 Thể hiện câu chuyện tình yêu trong khuôn khổ lễ giáo phong kiến

Giai đoạn thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX chế độ phong kiến rơi vào khủng hoảng trầm trọng, Nho giáo đã lung lay từ cội rễ, mọi giá trị cương thường bị đảo lộn song không vì thế mà biến mất hoàn toàn Nho giáo vẫn tồn tại và luôn là khuôn khổ trói buộc tư tưởng con người một cách mạnh mẽ Xã hội phong kiến tỏa chiết tình cảm con người trong những mối quan hệ nam nữ, yêu đương, không chấp nhận con người có quyền tự do cả trong tình yêu và hôn nhân Những quan niệm “trọng nam khinh nữ”, “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, “áo mặc sao qua nổi đầu”, đã chi phối tư tưởng của con người, đưa họ vào những khuôn phép khắc nghiệt

Truyện Nôm thường xây dựng các câu chuyện dựa trên cơ sở của tình yêu

và khát vọng hạnh phúc lứa đôi Tình yêu thường được thử thách bởi sự khắc nghiệt của lễ giáo phong kiến Đây là vấn đề trọng tâm đặt ra trong hầu hết các tác phẩm Ngoài nội dung phản ánh tình yêu, hạnh phúc gia đình và bảo vệ nhân phẩm, truyện Nôm còn tập trung xoáy sâu vào tố cáo bộ mặt tàn bạo của giai cấp thống trị trong xã hội phong kiến, đề cao những phẩm chất tốt đẹp của

Ngày đăng: 29/06/2023, 17:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Nguyễn Lộc (1992), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX tập 1, NXB. Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX tập 1
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: NXB. Đại học và giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1992
17. Nguyễn Lộc (1992), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX tập 2, NXB. Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX tập 2
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: NXB. Đại học và giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1992
18. Nguyễn Lộc (1992), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX tái bản lần 3, NXB. giáo dục, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX tái bản lần 3
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: NXB. giáo dục
Năm: 1992
19. Tôn Thất Lương, (1960), (khảo thích và chú giải), Truyện Hoa Tiên, NXB. Tân Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Hoa Tiên
Tác giả: Tôn Thất Lương
Nhà XB: NXB. Tân Việt
Năm: 1960
20. Nguyễn Đăng Na (chủ biên), Văn học trung đại Việt Nam tập 2, NXB. ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học trung đại Việt Nam tập 2
Nhà XB: NXB. ĐHSP
21. Nhiều tác giả (2004), Từ điển văn học (bộ mới), NXB. Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học (bộ mới)
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB. Thế giới
Năm: 2004
22. Nguyễn Thị Nhàn (2009), Thi pháp truyện thơ Nôm và Truyện Kiều, NXB. ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp truyện thơ Nôm và Truyện Kiều
Tác giả: Nguyễn Thị Nhàn
Nhà XB: NXB. ĐHSP
Năm: 2009
23. Nguyễn Thị Nhàn (2010), Hành xử của nam nhi khoa cử thành danh và nghệ thuật tự sự truyện Nôm, Tạp chí khoa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành xử của nam nhi khoa cử thành danh và nghệ thuật tự sự truyện Nôm
Tác giả: Nguyễn Thị Nhàn
Năm: 2010
24. Trần Đình Sử, Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Trần Đình Sử, Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 1992
25. Trần Đình Sử (1999), Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam, NXB. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 1999
26. Văn Tân, Hoài Thanh, Nguyễn Đổng Chi (1959), Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, quyển 4, NXB. Văn - Sử - Địa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, quyển 4
Tác giả: Văn Tân, Hoài Thanh, Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: NXB. Văn - Sử - Địa
Năm: 1959
27. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 1999
28. Nguyễn Khắc Thuần (2006), Đại cương lịch sử văn học Việt Nam, tập IV, NXB. Giáo dục, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử văn học Việt Nam, tập IV
Tác giả: Nguyễn Khắc Thuần
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 2006
29. Kỷ yếu hội thảo, Nguyễn Huy Tự và Truyện Hoa Tiên, Viện văn học, NXB. Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Huy Tự và Truyện Hoa Tiên
Nhà XB: NXB. Khoa học xã hội
30. Lê Trí Viễn (2001), Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam, NXB. Văn nghệ TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam
Tác giả: Lê Trí Viễn
Nhà XB: NXB. Văn nghệ TP.HCM
Năm: 2001
31. Trần Ngọc Vương chủ biên (2007), Văn học Việt Năm từ thế kỉ X- thế kỉ XIX, Những vấn đề lý luận và thực tiễn lịch sử, NXB. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Năm từ thế kỉ X- thế kỉ XIX, Những vấn đề lý luận và thực tiễn lịch sử
Tác giả: Trần Ngọc Vương chủ biên
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 2007
32. Lê Thu Yến tuyển chọn (2000), Văn học Việt Nam – Văn học trung đại những công trình nghiên cứu, NXB. Giáo dục, Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam – Văn học trung đại những công trình nghiên cứu
Tác giả: Lê Thu Yến tuyển chọn
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w