1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp luật kinh doanh pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu tại việt nam

69 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu tại Việt Nam
Tác giả Nguyễn Đức Trung
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Bá Diến
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh Doanh
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài (4)
  • 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài (5)
  • 3. Mục tiêu nghiên cứu (6)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (6)
  • 5. Cấu trúc bài khoá luận (7)
  • CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU TẠI VIỆT NAM (8)
    • 1. Một số khái niệm (8)
      • 1.1. Khái niệm môi trường, bảo vệ môi trường (8)
      • 1.2. Nhập khẩu phế liệu (10)
    • 2. Vai trò của hoạt động nhập khẩu phế liệu và pháp luật về BVMT trong nhập khẩu phế liệu (13)
      • 2.1. Vai trò của hoạt động nhập khẩu phế liệu (13)
      • 2.2. Vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu (16)
    • 3. Cơ sở pháp lý của hoạt động nhập khẩu phế liệu tại Việt Nam (17)
      • 3.1. Hệ thống văn bản pháp luật về BVMT trong nhập khẩu phế liệu tại Việt Nam (17)
      • 3.2. Hệ thống các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu mà Việt Nam tham gia (19)
    • 1. Pháp luật về BVMT trong nhập khẩu phế liệu tại Việt Nam (20)
      • 1.1. Các loại phế liệu được nhập khẩu (20)
      • 1.2. Chủ thể nhập khẩu phế liệu (28)
      • 1.3. Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong quản lý hoạt động nhập khẩu phế liệu vào Việt Nam (32)
      • 1.4. Xử lý vi phạm trong hoạt động nhập khẩu phế liệu (38)
    • 2. Việc thực thi Công ước Basel tại Việt Nam (46)
    • 3. Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu ở một số quốc gia trên thế giới (48)
      • 3.1. Trung Quốc (48)
      • 3.2. Nhật Bản (50)
  • CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU TẠI VIỆT NAM VÀ CÁC KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT (20)
    • 1. Thực trạng áp dụng pháp luật về BVMT trong nhập khẩu phế liệu (53)
    • 2. Bất cập trong pháp luật về BVMT đối với hoạt động nhập khẩu phế liệu tại Việt Nam (56)
      • 2.1. Chồng chéo, phi thực tế trong quy định của pháp luật (56)
      • 2.2. Thiếu quy định pháp luật (58)
      • 2.3. Bất cập trong phương án xử lý hàng hoá vi phạm (58)
      • 2.4. Thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý (59)
      • 2.5. Chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe (59)
    • 3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật (60)
      • 3.1. Giải pháp về mặt pháp lý (60)
      • 3.2. Tăng cường công tác quản lý (62)
      • 3.3. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục (63)
  • KẾT LUẬN (65)

Nội dung

Nhằm tạo điều kiện để các doanh nghiệp có thể chủ động trong việc tìm nguồn nguyên liệu sản xuất đồng thời giảm thiểu dần những tác động xấu đến môi trường sống và bảo vệ các nguồn tài n

Trang 1

TẠI VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH: LUẬT KINH DOANH

Hệ đào tạo: Chính quy Khóa học: QH - 2012-L

Người hướng dẫn: PGS TS NGUYỄN BÁ DIẾN

Hà Nội – 2016

Trang 2

5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

LỜI CAM ĐOAN 4

MỤC LỤC 5

DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT 7

PHẦN MỞ ĐẦU 8

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài: 8

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 9

3 Mục tiêu nghiên cứu: 10

4 Phương pháp nghiên cứu: 10

5 Cấu trúc bài khoá luận: 11

PHẦN NỘI DUNG 12

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU TẠI VIỆT NAM 12

1 Một số khái niệm 12

1.1 Khái niệm môi trường, bảo vệ môi trường: 12

1.2 Nhập khẩu phế liệu: 14

2 Vai trò của hoạt động nhập khẩu phế liệu và pháp luật về BVMT trong nhập khẩu phế liệu 17

2.1 Vai trò của hoạt động nhập khẩu phế liệu 17

2.2 Vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu 20

3 Cơ sở pháp lý của hoạt động nhập khẩu phế liệu tại Việt Nam 21

3.1 Hệ thống văn bản pháp luật về BVMT trong nhập khẩu phế liệu tại Việt Nam 21

3.2 Hệ thống các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu mà Việt Nam tham gia 23

Trang 3

6

CHƯƠNG II: PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT

ĐỘNG NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU 24

1 Pháp luật về BVMT trong nhập khẩu phế liệu tại Việt Nam 24

1.1 Các loại phế liệu được nhập khẩu 24

1.2 Chủ thể nhập khẩu phế liệu: 32

1.3 Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong quản lý hoạt động nhập khẩu phế liệu vào Việt Nam 36

1.4 Xử lý vi phạm trong hoạt động nhập khẩu phế liệu 42

2 Việc thực thi Công ước Basel tại Việt Nam 50

3 Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu ở một số quốc gia trên thế giới 52

3.1 Trung Quốc 52

3.2 Nhật Bản 54

CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU TẠI VIỆT NAM VÀ CÁC KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 57

1 Thực trạng áp dụng pháp luật về BVMT trong nhập khẩu phế liệu 57

2 Bất cập trong pháp luật về BVMT đối với hoạt động nhập khẩu phế liệu tại Việt Nam 60

2.1 Chồng chéo, phi thực tế trong quy định của pháp luật 60

2.2 Thiếu quy định pháp luật 62

2.3 Bất cập trong phương án xử lý hàng hoá vi phạm 62

2.4 Thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý 63

2.5 Chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe 63

3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 64

3.1 Giải pháp về mặt pháp lý 64

3.2 Tăng cường công tác quản lý 66

3.3 Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục 67

KẾT LUẬN 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 4

8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:

Trong những năm gần đây, Việt Nam đang từng bước thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế, lấy ngành công nghiệp làm nền tảng Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp đối với nền kinh tế nước nhà, sự phát triển nhanh chóng của các ngành sản xuất trong thời gian qua đã dẫn đến những ảnh hưởng tiêu cực không hề nhỏ trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là tác động tiêu cực tới môi trường Nhằm tạo điều kiện để các doanh nghiệp có thể chủ động trong việc tìm nguồn nguyên liệu sản xuất đồng thời giảm thiểu dần những tác động xấu đến môi trường sống và bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang dần cạn kiệt, Việt Nam đã đưa ra chủ trương cho phép nhập khẩu phế liệu để phục vụ sản xuất trong nước Chính sách này đã xuất hiện trong quy định pháp luật của một

số nước trên thế giới và mang lại những hiệu quả đáng kể như: Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia,…

Tại Việt Nam, chủ trương nhập khẩu phế liệu đã được Nhà nước đưa ra nhằm đáp ứng nhu cầu của các ngành sản xuất và quy định trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 nhằm tạo ra hành lang pháp lý vừa tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong nước phát triển sản xuất, vừa xây dựng nên khuôn khổ pháp luật nhằm mục đích quản lý một cách chặt chẽ hoạt động này Tuy nhiên, sau 10 năm được đưa vào thực hiện, bên cạnh những điểm tích cực

mà chính sách này mang lại từ nguồn nguyên vật liệu tái chế thì đã bộc lộ khá nhiều lỗ hổng trong công tác kiểm soát hoạt động nhập khẩu phế liệu Làm sao

để cân bằng được giữa lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường? Đó là bài toán cần tìm lời giải đáp từ các cơ quan quản lý nhà nước

Trên cơ sở những vấn đề phát sinh trong quy định về hoạt động nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam, việc nghiên cứu thực trạng của hoạt động này, qua đó

Trang 5

9

vạch ra những định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý là vô cùng cần thiết để đảm bảo thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với mục tiêu phát triển bền vững chung của thế giới Đề tài: “Pháp luật

về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam” nhằm giải quyết những vấn đề trên

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

vệ môi trường

- Phạm vi về không gian: Bài khoá luận được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu quy định về hoạt động nhập khẩu phế liệu trong phạm vi cả nước, có tham khảo các quy định pháp luật của một số quốc gia, tổ chức trên thế giới

Trang 6

10

- Phạm vi về thời gian: Bài viết tập trung nghiên cứu về hoạt động nhập khẩu phế liệu kể từ khi pháp luật Việt Nam quy định về lĩnh vực này

3 Mục tiêu nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu nhằm hướng tới các mục tiêu sau:

- Đánh giá những điểm tích cực và tiêu cực từ thực trạng hoạt động nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam đối với sự phát triển kinh tế và tác động tới môi trường;

- Đánh giá thực trạng áp dụng các quy định về hoạt động trên trong việc thực thi và quản lý vấn đề nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam;

- Đề xuất biện pháp khắc phục những điểm hạn chế và hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu ở Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu:

Trong qúa trình nghiên cứu, bài khoá luận đã sử dụng phương pháp nghiên cứu của ngành khoa học xã hội nói chung và của ngành luật học nói riêng như:

- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Các thông tin liên quan đến công tác quản lý môi trường làng nghề được thu thập từ các kênh thông tin khác nhau, kết hợp những số liệu thực tế được tổng hợp Trên cơ sở đó, các thông tin được phân tích, đánh giá để đưa ra những ưu điểm, nhược điểm và kiến nghị những giải pháp hữu hiệu nhất

- Phương pháp so sánh: Bên cạnh việc phân tích, tổng hợp, việc đánh giá thông tin còn dựa vào quá trình so sánh, đối chiếu giữa các đối tượng tương đồng để từ đó có được những nhận xét tổng quan nhất

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề tài khoá luận, tôi đã tiếp thu có chọn lọc kết quả của các công trình đã công bố; các đánh giá, tổng kết của các cơ quan chuyên môn và các chuyên gia về những vấn đề có liên quan đến các vấn

Trang 7

11

đề nghiên cứu trong đề tài này; thông qua đó đưa ra những căn cứ cụ thể, chính xác để giải quyết vấn đề đặt ra

5 Cấu trúc bài khoá luận:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung bài khoá luận gồm 03 chương chính:

Chương I: Những vấn đề lý luận về hoạt động nhập khẩu phế liệu tại Việt Nam Chương II: Pháp luật về BVMT trong hoạt động nhập khẩu phế liệu tại Việt

Nam

Chương III: Thực trạng áp dụng về BVMT trong nhập khẩu phế liệu tại Việt

Nam và các kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Trang 8

12

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU

TẠI VIỆT NAM

Theo nghĩa rộng, môi trường có thể hiểu là tất các các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, bao gồm: tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng…, và các quan hệ xã hội Nhà bác học Albert Einstein đã định nghĩa rằng: “Môi trường là những gì ngoài tôi” Như vậy, môi trường là toàn bộ các vật thể hữu sinh và vô sinh cũng như sự tương tác giữa chúng

Quan điểm về môi trường nhìn từ góc độ sinh học là những quan điểm phổ biến:

“Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế-xã hội bao quanh và tác động tới đời sống và sự phát triển của một cá thể hoặc một cộng đồng người” (UNEP-Chương trình môi trường của Liên hiệp quốc, 1980) Trong Báo cáo toàn cầu năm 2000 đã đưa ra khái niệm môi trường như sau:

“Theo tự nghĩa, môi trường là những vật thể vật lý và sinh học bao quanh loài

Trang 9

13

người Con người cần đến sự hỗ trợ của môi trường xung quanh để sống,…, mối quan hệ giữa loài người và môi trường chặt chẽ đến mức mà sự phân biệt

cá thể con người và môi trường bị xoá nhoà đi”1

Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, khái niệm môi trường được hiểu theo nghĩa hẹp hơn Đó là mối quan hệ giữa con người và các điều kiện tác động tới

sự sống của con người, gồm những yếu tố, hoàn cảnh, điều kiện tự nhiên và điều kiện vật chất nhân tạo bao quanh con người Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ

môi trường năm 2014 định nghĩa:“Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất

tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người

và sinh vật”

“Môi trường được tạo thành bởi các yếu tố tự nhiên và yếu tố nhân tạo Trong đó, các yếu tố tự nhiên chủ yếu như không khí, đất, nước, ánh sáng, núi, rừng, sông, hồ, biển, sinh vật, các hệ sinh thái đóng vai trò đặc biệt quan trọng tới sự xuất hiện, tồn tại của con người và phát triển theo quy luật tự nhiên nhưng cũng có thể chịu sự tác động nhất định của con người Môi trường còn được cấu thành bởi các yếu tố vật chất nhân tạo Những yếu tố này được hình thành trong quá trình con người khai thác, sử dụng các yếu tố tự nhiên để thoả mãn các nhu cầu của mình Đây là quá trình con người biến đổi, cải tạo thiên nhiên để tạo ra cảnh quan, điều kiện sống mới.”2

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu của bài khoá luận này, chúng ta sẽ nhìn nhận khái niệm môi trường theo nghĩa hẹp, trong khuôn khổ của lĩnh vực khoa học pháp lý

1.1.2 Bảo vệ môi trường:

1,2 Ths Trần Quang Huy: Giáo trình Luật Môi trường, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội - 2003

Trang 10

14

Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Bảo vệ môi trường là tập hợp các

biện pháp giữ gìn, sử dụng hoặc phục hồi một các hợp lý sinh giới (vi sinh vật, thực vật, động vật) và môi sinh (đất, nước, không khí, lòng đất, khí hậu, ), nghiên cứu thử nghiệm thiết bị sử dụng tài nguyên thiên nhiên, áp dụng công nghệ ít có hoặc không có phế liệu… nhằm tạo ra một không gian tối ưu cho cuộc sống của con người Ngoài ra, bảo vệ môi trường còn tạo ra điều kiện tinh thần, văn hoá khiến cho đời sống con người được thoải mái”

Theo Khoản 3 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014: “Hoạt động bảo vệ môi

trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành.”

Như vậy, bảo vệ môi trường là tổng hợp của nhiều hoạt động bảo vệ môi trường, nhằm gìn giữ “hệ thống các yếu tố vật tự nhiên và nhân tạo tác động đến sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”

Trang 11

15

đi sau một quá trình sử dụng” Phế liệu theo cách hiểu này là một dạng chất thải.3

Khoản 16 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 định nghĩa phế liệu như

sau: “Phế liệu là vật liệu được thu hồi, phân loại, lựa chọn từ những vật liệu,

sản phẩm đã bị loại bỏ từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng để sử dụng làm nguyên liệu cho một quá trình sản xuất khác.” Như vậy, khái niệm phế liệu trong Luật Bảo vệ môi trường 2014 đã đưa ra những tiêu chí rõ ràng hơn để một vật chất trở thành phế liệu Theo đó, phế liệu sẽ có các tiêu chí sau: Thứ nhất,

đó là vật liệu, sản phẩm, tức là những vật chất từ tự nhiên hoặc đã qua chế biến

để có thể sử dụng trong sản xuất Thứ hai, chúng bị loại bỏ từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng Điều này có nghĩa là vật chất hoặc sản phẩm đó đã không còn giá trị và bị từ chối sử dụng trong quá trình sản xuất, tiêu dùng Thứ ba, những vật liệu, sản phẩm nói trên chỉ trở thành phế liệu khi nó được thu hồi, phân loại, lựa chọn dùng làm nguyên liệu cho một quá trình sản xuất khác

 Chất thải:

Khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định: “Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác.”

Theo đó, có thể thấy một vật chất để trở thành chất thải thì phải đáp ứng các tiêu chí sau: Thứ nhất, chất thải phải là vật chất Khoản 10 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 còn ghi nhận một cách cụ thể như sau: “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác” Như vậy, những yếu tố phi vật chất không thể là chất thải Thứ hai,

3 Ths Luật học Nguyễn Văn Phương, Đại học Luật Hà Nội – Khái niệm phế liệu và bản chất pháp lý của phế liệu, Tạp chí KHPL số 38/2007

Trang 12

16

những vật chất đó phải được thải ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch

vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác, nghĩa là mọi vật chất được thải ra trong các hoạt động của chủ sở hữu đều được coi là chất thải

Để thấy được mối quan hệ giữa phế liệu và chất thải, thông qua những khái niệm nêu trên, ta có thể thấy: Các yếu tố để trở thành chất thải bao gồm vật chất được thải ra trong quá trình sản xuất, sinh hoạt,… trong đó có các vật liệu, sản phẩm bị loại bỏ mà được thu hồi dùng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất khác Bên cạnh đó, khái niệm chất thải không đề cập tới giá trị sử dụng của vật chất sau khi bị loại bỏ: hoặc là xử lý, tiêu huỷ hoặc là tái sử dụng làm nguyên liệu sản xuất,… Như vậy, nội hàm của khái niệm chất thải bao quát hơn khái niệm phế liệu và phế liệu là một trong các dạng của chất thải Việc phân biệt rõ ràng sự khác nhau giữa phế liệu, chất thải và chất thải nguy hại có ý nghĩa quan trọng trong việc hỗ trợ cho công tác kiểm tra, kiểm soát hàng hoá nhập khẩu vào lãnh thổ Việt Nam

 Chất thải nguy hại:

“Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ

cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác” (Khoản

13 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014) Như vậy, thông qua định nghĩa trên, vật chất được xác định là chất thải nguy hại thì bên cạnh vật chất đó có mang các đặc tính của chất thải mà trong thành phần phải chứa các yếu tố có thể gây nguy hiểm cho con người và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng như: các chất độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc các đặc tính nguy hại khác

1.2.2 Khái niệm nhập khẩu phế liệu:

Trang 13

1.2.3 Pháp luật về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu

Từ những quan điểm về nhập khẩu phế liệu và bảo vệ môi trường đã phân tích ở trên, pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu

có thể hiểu như sau:

Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu là hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình bảo vệ môi trường tránh khỏi các tác động tiêu cực do hoạt động nhập khẩu phế liệu gây ra

2 Vai trò của hoạt động nhập khẩu phế liệu và pháp luật về BVMT trong nhập khẩu phế liệu

2.1 Vai trò của hoạt động nhập khẩu phế liệu

Hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời kỳ hội nhập ngày càng được phát triển, mở rộng trong khi đó các nguồn tài nguyên nói chung là các loại nguyên liệu nói riêng có số lượng hạn chế và phân bổ không đồng đều giữa các quốc gia Vì vậy, hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất là một trong những hình thức kinh doanh mang lại rất nhiều lợi ích Bên

Trang 14

18

cạnh những lợi ích đối với nền kinh tế thì lợi ích xã hội từ hoạt động nhập khẩu phế liệu cũng vô cùng quan trọng và đáng quan tâm Chính vì những ý nghĩa thiết thực đó mà nhiều loại phế liệu từ lâu đã được pháp luật nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam cho phép nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất

2.1.1 Ý nghĩa đối với môi trường

Trái đất là hành tinh giàu có về tài nguyên thiên nhiên Tuy nhiên, nguồn tài nguyên dồi dào ấy đang dần bị cạn kiệt trước sự khai thác một cách bừa bãi, vô tội vạ của con người Ông Martin, người đứng đầu Quỹ quốc tế bảo vệ động vật hoang dã (WWF) phát biểu rằng: “Chúng ta đang tiêu tốn nguồn tài nguyên nhanh hơn khả năng phục hồi của nó”.4 Khái niệm “tiêu tốn” trong câu phát biểu của ông Martin nói lên rằng con người không chỉ đang sử dụng mà còn sử dụng một cách lãng phí các tài nguyên thiên nhiên Bởi lẽ đó, rừng bị khai thác thành đồi trọc gây lũ lụt, sói mòn, các quặng kim loại dần dần biến mất, không

có khả năng tái tạo, Trước tình hình đó, việc tiết kiệm các nguồn tài nguyên là biện pháp quan trọng nhất để bảo vệ chúng Bên cạnh những phương pháp khai thác một cách hợp lý hay sử dụng các nguồn năng lượng vô tận như: gió, ánh sáng, nước biển,… thì việc sử dụng một cách triệt để những nguồn tài nguyên

đã khai thác, tránh dư thừa, lãng phí là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất Hoạt động trao đổi phế liệu sản xuất, sinh hoạt giữa các quốc gia thông qua hình thức xuất khẩu và nhập khẩu chính là cách thức tận dụng để tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả

Bên cạnh đó, hoạt động đưa những phế liệu vào làm nguyên liệu cho một quá trình sản xuất mới còn làm giảm một khối lượng lớn chất thải công nghiệp

và chất thải sinh hoạt ra môi trường tự nhiên, góp phần làm nhẹ đi gánh nặng của môi trường Đây cũng là một trong những biện pháp bảo vệ môi trường

4 Tài nguyên thiên nhiên đang cạn kiệt nhanh chóng – Vietbao.vn

Trang 15

19

được các quốc gia khuyến khích thực hiện, tương tự như hoạt động tái chế, tái

sử dụng những đồ dùng đã bỏ đi

2.1.2 Ý nghĩa đối với kinh tế - xã hội

Trong xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay, việc giao lưu, trao đổi hàng hoá giữa quốc gia này với quốc gia khác không còn khó khăn nữa nhờ sự phát triển của hệ thống mạng lưới giao thông quốc tế thuận tiện Ngoài những hàng hoá là những thành phẩm hoặc nguyên liệu thô được xuất nhập khẩu như trước đây, ngày nay các nước đã nhận thức được nguồn lợi kinh tế từ các loại phế liệu, mang bán cho các quốc gia đang thiếu thốn nguồn nguyên liệu Điều này vừa tránh được việc bỏ đi lãng phí một lượng lớn nguyên liệu thừa, vừa giảm ô nhiễm môi trường đồng thời thu lại được một nguồn doanh thu không nhỏ Chính bởi lẽ đó, với sự phát triển của khoa học – kỹ thuật ngày nay, việc tận dụng phế liệu trong sinh hoạt và sản xuất ngày càng trở nên phổ biến hơn trên thế giới cũng như tại Việt Nam

Là một đất nước với nền công nghiệp còn non trẻ, nền kinh tế đang trên đà phát triển để hội nhập quốc tế, quá trình sản xuất kinh doanh của Việt Nam còn gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là khó khăn về nguồn nguyên liệu Phần lớn các doanh nghiệp sản xuất tại nước ta lựa chọn giải pháp nhập khẩu phế liệu – những sản phẩm đã được thải loại từ quá trình sản xuất, sinh hoạt để tái chế thành nguồn nguyên liệu mới với hai lý do cơ bản: Một là nguồn nguyên liệu trong nước không đủ cung cấp; Hai là giá thành phế liệu rẻ hơn rất nhiều so với nguyên liệu nguyên chất Ví dụ: Hạt nhựa nguyên chất được nhập khẩu với giá thị trường dao động từ 20.000 đồng đến 25.000 đồng/kg Trong khi đó, nguyên liệu tái chế từ các sản phẩm nhựa đã qua sử dụng được bán với giá chỉ từ

Trang 16

20

10.000 đồng đến 15.000 đồng/kg.5 Trái ngược với tình trạng thiếu nguồn cung nguyên liệu tại Việt Nam thì một số quốc gia khác lại đang cố gắng tìm giải pháp xử lý, tiêu huỷ nguồn phế liệu dư thừa Thay vì tốn kém thêm chi phí để làm điều đó, xuất khẩu ra nước ngoài chính là biện pháp tối ưu Tình trạng kẻ thiếu người thừa đã ngày càng làm cho thị trường xuất, nhập khẩu phế liệu trở nên nhộn nhịp hơn bao giờ hết

2.2 Vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu

Là một lĩnh vực trong hệ thống pháp luật của Việt Nam, pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và trong hoạt động nhập khẩu phế liệu nói riêng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nên hành lang pháp lý điều chỉnh hành vi của các chủ thể có liên quan

Thứ nhất, pháp luật về BVMT trong nhập khẩu phế liệu là cơ sở pháp lý quy

định cơ cấu tổ chức cũng như quyền hạn và nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực này Toàn bộ các cơ quan quản lý nằm trong hệ thống các cơ quan nhà nước nói chung và được tổ chức thống nhất từ trung ương tới địa phương Việc quy định như vậy tạo nên sự đồng bộ và thống nhất trong công tác và thuận tiện cho hoạt động giám sát, kiểm tra

Thứ hai, hệ thống các quy phạm pháp luật về BVMT trong nhập khẩu phế

liệu là các chuẩn mực ứng xử, quy định những khung giới hạn pháp lý đối với các hành vi của cá nhân, pháp nhân hữu quan Mọi hành vi vi phạm của các chủ thể đều được xác định một cách chi tiết và có chế tài điều chỉnh phù hợp

Thứ ba, những quy định này là cơ sở pháp lý cho xã hội hoá công tác bảo vệ

môi trường Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành,

5 Nhập khẩu rác thải “núp bóng” nhập phế liệu - http://www.nhandan.com.vn/xahoi/tin-tuc/item/7332802-.html

Trang 17

21

các cơ quan chức năng thực hiện theo đó để hoàn thành nhiệm vụ của mình Các công dân từ đó nâng cao ý thức giữ gìn môi trường chung của nhân loại

3 Cơ sở pháp lý của hoạt động nhập khẩu phế liệu tại Việt Nam

Luôn đề cao mục tiêu phát triển bền vững, song con người đang hủy hoại trái đất với sự phát triển lệch lạc, không có ý nghĩa lâu dài Chúng ta sẵn sàng đánh đổi sự biến đổi hệ sinh thái, sự suy thoái môi trường, sức khỏe của người dân để

có được một nền kinh tế lớn mạnh Cho đến nay, khi địa cầu cất lên lời kêu cứu thảm thiết, loài người nhận ra rằng, bảo vệ môi trường là nhiệm vụ sống còn của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trên thế giới Việt Nam cũng không phải là ngoại

lệ Việt Nam từ một nước với nền kinh tế kém phát triển chủ yếu dựa vào nông nghiệp đến nay đã nằm trong danh sách các quốc gia đang phát triển và lớn mạnh hơn trong tương lai theo đánh giá của bạn bè quốc tế Tuy nhiên, ô nhiễm môi trường chính là bước lùi so với sự phát triển kinh tế Trên cơ sở vừa đáp ứng đủ nguồn nguyên liệu đầu vào cho các doanh nghiệp, vừa tiết kiệm tối đa tài nguyên thiên nhiên đang dần cạn kiệt, Nhà nước đã cho phép các doanh nghiệp được nhập khẩu phế liệu từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất Song hành cùng các quyền lợi mà doanh nghiệp được hưởng, các nhà làm luật nước

ta còn xây dựng một hành lang pháp lý chặt chẽ để quản lý hoạt động nhập khẩu phế liệu, giảm thiểu tối đa những ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường

3.1 Hệ thống văn bản pháp luật về BVMT trong nhập khẩu phế liệu tại

Việt Nam

Ngày 19/12/1996, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường và Bộ Thương

mại đã ban hành Thông tư Liên bộ số 2880/KCM-TM về việc Quy định tạm

thời đối với việc nhập khẩu phế liệu Đây là điểm mốc quan trọng, đánh dấu

việc lần đầu tiên Việt Nam cho phép nhập khẩu phế liệu từ nước ngoài nhằm đáp ứng các nhu cầu về nguyên liệu sản xuất trong nước Mặc dù chỉ là quy

Trang 18

22

định mang tính chất tạm thời, song so với tình hình lập pháp lúc bấy giờ, các chế định trong thông tư này đã thể hiện khá bao quát và đầy đủ những nội dung cần thiết Trong suốt 20 năm, với rất nhiều thay đổi về kinh tế - xã hội, khoa học – công nghệ và đặc biệt sự thay đổi về tình trạng môi trường, rất nhiều văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ môi trường được sửa đổi, bổ sung để cập nhật với tình hình thực tế hơn Trong đó, các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu cũng được cụ thể hoá trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể bao gồm:

- Luật Bảo vệ môi trường 2014;

- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu;

- Thông tư 41/2015/TT-BTNMT về BVMT trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất;

- Thông tư 43/2010/TT-BTNMT Quy định Quy chuẩn quốc gia về môi trường đối với phế liệu nhập khẩu;

- Thông tư 01/2013/TT-BTNMT quy định danh mục phế liệu được phép nhập khẩu để làm nguyên liệu sản xuất

- Quyết định số 73/2014/QĐ-TTg quy định danh mục phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất;

- Nghị định số 179/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;

- Nghị định số 21/2013/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường;

- Luật Hải quan năm 2014;

- Luật Thương mại năm 2005;

- Bộ luật Dân sự năm 2005;

- Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009); Bộ luật Hình

sự năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2016)

Trang 19

23

Bên cạnh đó, còn rất nhiều các văn bản dưới luật khác do các cơ quan có thẩm quyền cấp trung ương và địa phương ban hành, nhằm xây dựng các quy định điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện công tác bảo vệ môi trường xung quanh hoạt động nhập khẩu phế liệu

3.2 Hệ thống các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường trong nhập

khẩu phế liệu mà Việt Nam tham gia

Việt Nam được công nhận là thành viên thứ 149 của Liên Hợp Quốc vào năm 1977, gia nhập ASEAN năm 1995, trở thành thành viên của WTO từ năm

2007, đồng thời Việt Nam cũng tham gia nhiều tổ chức quốc tế song phương, đa phương và ký kết nhiều điều ước, cam kết quốc tế, trong đó có các điều ước quốc tế về vấn đề bảo vệ môi trường Riêng các điều ước quốc tế đối với lĩnh vực bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu thì có thể kể đến như:

- Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm và việc tiêu huỷ chúng;

- Hiệp định số 221 của WTO về rào cản kỹ thuật trong thương mại Ngoài ra, các điều ước quốc tế khác trong lĩnh vực kinh tế, môi trường tuy không trực tiếp quy định đến hoạt động xuất, nhập khẩu phế liệu, song cũng vẫn

đề cập tới các tiêu chí của vấn đề bảo vệ môi trường liên quan đến các hoạt động vận chuyển hàng hoá hay xử lý chất thải xuyên quốc gia,… Bên cạnh những văn bản quy phạm pháp luật quốc gia thì các Công ước hay Hiệp định quốc tế là những nguồn luật quan trọng, có ý nghĩa to lớn trong công tác bảo vệ môi trường nói chung và trong hoạt động nhập khẩu phế liệu tại Việt Nam nói riêng

Trang 20

24

CHƯƠNG II PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG

NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU

1 Pháp luật về BVMT trong nhập khẩu phế liệu tại Việt Nam

1.1 Các loại phế liệu được nhập khẩu

1.1.1 Điều kiện của phế liệu nhập khẩu:

Như đã phân tích ở Chương I, phế liệu là một dạng của chất thải Chính vì vậy, nguồn nguyên liệu giá rẻ này cần được quản lý chặt chẽ khi nhập khẩu vào Việt Nam để đề phòng những tác động tiêu cực không đáng có tới môi trường Tuỳ thuộc vào từng đặc trưng riêng về môi trường tự nhiên cũng như những công nghệ tái chế phế liệu khác nhau của từng nước mà mỗi quốc gia có những quy định khác nhau về loại phế liệu được nhập khẩu Không phải bất kỳ loại phế liệu nào cũng được đưa vào Việt Nam, chúng phải tuân thủ theo những điều kiện nhất định Khoản 1 Điều 76 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 quy định:

“Phế liệu nhập khẩu từ nước ngoài vào Việt Nam phải đáp ứng quy chuẩn kỹ

thuật môi trường và thuộc danh mục phế liệu được phép nhập khẩu do Thủ tướng Chính phủ quy định” Như vậy, phế liệu muốn nhập khẩu vào Việt Nam

phải thoả mãn hai điều kiện tiên quyết Cụ thể như sau:

- Thứ nhất, phế liệu phải đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật môi trường

Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất

lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường.6

Đối với phế liệu được nhập khẩu vào Việt Nam, những quy chuẩn kỹ thuật môi

6 Khoản 5 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014

Trang 21

25

trường được quy định cụ thể tại Thông tư số 43/2010/TT-BTNMT do Bộ Tài

nguyên và Môi trường ban hành ngày 29/12/2010 Quy định Quy chuẩn kỹ thuật

quốc gia về môi trường đối với phế liệu nhập khẩu Theo đó, kèm theo thông tư

này là ba bộ quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với ba loại phế liệu phổ biến nhất là: Phế liệu sắt, thép nhập khẩu (QCVN 31:2010/BTNMT), phế liệu nhựa nhập khẩu (QCVN 32:2010/BTNMT), phế liệu giấy nhập khẩu (QCVN 33:2010/BTNMT) Nội dung những bộ quy chuẩn kỹ thuật này tập trung quy định liên quan đến các đặc tính kỹ thuật của phế liệu, những loại phế liệu cụ thể được phép và không được phép nhập khẩu, những phương pháp kiểm tra và các

cá nhân, cơ quan có thẩm quyền thực hiện các biện pháp đó

Trên thực tế, ngoài ba loại có tên nêu trên, còn rất nhiều loại phế liệu khác được các cơ sở kinh doanh mua lại từ nước ngoài để làm nguyên liệu sản xuất, chẳng hạn như: thạch cao, đồng, gang, thuỷ tinh,… Vậy, phải chăng pháp luật yêu cầu phải đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật môi trường mà lại bỏ ngỏ rất nhiều đối tượng ít phổ biến hơn? Đây là một điểm mới của Luật BVMT 2014 nhưng

rõ ràng vẫn bộc lộ điểm thiếu sót so với quy định tại Luật BVMT 2005 Nội dung này tại khoản 1 Điều 43 Luật BVMT 2005 quy định:

“Phế liệu nhập khẩu phải đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường sau đây: a) Đã được phân loại, làm sạch, không lẫn những vật liệu, vật phẩm, hàng hoá cấm nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

b) Không chứa chất thải, các tạp chất nguy hại, trừ tạp chất không nguy hại bị rời ra trong quá trình bốc xếp, vận chuyển;

Trang 22

26

Hoạt động phân loại phế liệu mang một ý nghĩa vô cùng quan trọng Khi các loại phế liệu khác nhau được chia ra theo những đặc tính riêng sẽ tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng trong công tác kiểm tra, đo đạc tại bộ phận hải quan Quan trọng hơn, việc phân loại làm hạn chế tối đa khả năng xúc tác, kết hợp giữa nhiều loại khác nhau tạo nên các hợp chất có hại cho môi trường Thêm vào đó, việc làm sạch là yếu tố bắt buộc khi nhập khẩu phế liệu Bản chất của phế liệu

là chất thải, bởi vậy nhập khẩu phế liệu bẩn không khác nào đưa các nguồn ô nhiễm vào Việt Nam, gây ảnh hưởng cho thiên nhiên và sức khoẻ con người Ngoài ra, những vật liệu, vật phẩm, hàng hoá bị cấm nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam cũng như những điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên là những vật liệu, vật phẩm có thể tác động xấu tới môi trường, an ninh quốc phòng, chính trị hay ảnh hưởng tới thuần phong mỹ tục của nước ta – tất cả đều được ngăn chặn, tránh các trường hợp cá nhân, tổ chức lợi dụng việc nhập khẩu phế liệu để đưa các mặt hàng đó vào lãnh thổ nước ta

Phế liệu nhập khẩu vào Việt Nam theo Luật BVMT 2005 còn phải đáp ứng điều kiện là không chứa các chất thải, các tạp chất nguy hại, trừ tạp chất không nguy hại bị rời ra trong quá trình bốc xếp, vận chuyển Các tạp chất nguy hại là những tạp chất không đồng nhất về chất với phế liệu, bám dính vào phế liệu và

có tính nguy hại như: hoá chất độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc, chất thải y tế, các hợp chất hữu cơ có nguồn gốc động, thực vật có nguy cơ gây bệnh tật, dịch bệnh.7 Mặc dù phế liệu xét về mặt bản chất cũng là một dạng chất thải nhưng không phải tất cả các loại chất thải đều là phế liệu Sở

dĩ phế liệu được phép nhập khẩu vì bản thân nó mang những giá trị nhất định có thể khai thác, còn những chất thải khác đơn thuần chỉ là rác, không có giá trị sử dụng hay tái chế

7 Khái niệm “Chất thải nguy hại” – Khoản 13 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014;

Khái niệm “Tạp chất và tạp chất nguy hại” – Mục 1.3.1 và 1.3.2 Quy chuẩn QCVN 31:2010/BTNMT ban hành kèm theo Thông tư 43/2010/TT-BTNMT

Trang 23

27

Như vậy, qua phân tích ở trên ta thấy được tính khái quát cao của quy định trong Luật BVMT 2005 Mặc dù những nội dung trong quy định này còn khá chung chung, dễ khiến người thực hiện hiểu theo nhiều nghĩa, song điều luật này đã bao quát được các đối tượng khác nhau của phế liệu nhập khẩu

- Thứ hai, phế liệu phải nằm trong danh mục được phép nhập khẩu do Thủ

tướng Chính phủ ban hành:

Theo đó, một doanh nghiệp muốn nhập khẩu phế liệu từ nước ngoài về Việt Nam làm nguyên liệu sản xuất thì phế liệu đó phải có tên trong 36 loại phế liệu được phép nhập khẩu liệt kê trong Phụ lục được ban hành kèm theo Quyết định 73/2014/QĐ-TTg ngày 19/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ và Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 01/2013/TT-BTNMT ngày 28/01/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Thêm vào đó, những phế liệu này phải được nhập khẩu đúng chủng loại, dạng thức và sử dụng đúng mục đích theo quy định

Ví dụ: Đối với loại phế liệu: Mai, vỏ động vật thân mềm, động vật giáp xác hoặc động vật da gai không xương sống được xác định và đảm bảo yêu cầu là: Mai, vỏ các loại động vật thân mềm, động vật giáp xác hoặc động vật da gai không xương sống, như: vỏ sò, vỏ ốc, vỏ trai,… đã được loại bỏ phần thịt và các tạp chất khác, phơi khô (độ ẩm dưới 50%) Loại phế liệu này chỉ được phép nhập khẩu để sử dụng làm nguyên liệu sản xuất các mặt hàng thủ công, mỹ nghệ.8 Đối với các trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu loại phế liệu mai, vỏ động vật thân mềm nhưng không đảm bảo các tiêu chí như trên sẽ không đủ điều kiện nhập khẩu vào Việt Nam

1.1.2 Các loại phế liệu được phép nhập khẩu:

8 Phụ lục I Danh mục phế liệu được phép nhập khẩu từ nước ngoài để làm nguyên liệu sản xuất – Ban hành kèm theo Thông tư số 01/2013/TT-BTNMT

Trang 24

28

Một trong hai điều kiện tiên quyết để phế liệu được đưa vào lãnh thổ Việt Nam theo con đường nhập khẩu là phải thuộc danh mục được cho phép Quyết định số 73/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 19/12/2014

đã quy định chi tiết 36 loại phế liệu được phép nhập khẩu vào Việt Nam làm nguyên liệu sản xuất Theo đó, các loại phế liệu đó bao gồm:

Các nguyên tố hóa học đã được kích tạp dùng trong

điện tử, ở dạng đĩa, tấm mỏng, hoặc các dạng tương

tự

3818 00 00

4 Phế liệu và mẩu vụn của plastic (nhựa) từ polyme

etylen (PE): Dạng xốp, không cứng 3915 10 10

5 Phế liệu và mẩu vụn của plastic (nhựa) từ polyme

6 Phế liệu và mẩu vụn của plastic (nhựa) từ polyme

styren (PS): Dạng xốp, không cứng 3915 20 10

7 Phế liệu và mẩu vụn của plastic (nhựa) từ polyme

8 Phế liệu và mảnh vụn của plastic (nhựa) từ polyme

vinyl clorua (PVC): Dạng xốp, không cứng 3915 30 10

Trang 25

29

9 Phế liệu và mảnh vụn của plastic (nhựa) từ polyme

10 Phế liệu và mẩu vụn từ plastic (nhựa) khác 3915 90 00

11

Giấy loại hoặc bìa loại thu hồi (phế liệu và vụn

thừa): Giấy kraft hoặc bìa kraft hoặc giấy hoặc bìa

sóng, chưa tẩy trắng

4707 10 00

12

Giấy loại hoặc bìa loại thu hồi (phế liệu và vụn

thừa): Giấy hoặc bìa khác được làm chủ yếu bằng

bột giấy thu được từ quá trình hóa học đã tẩy trắng,

chưa nhuộm màu toàn bộ

4707 20 00

13

Giấy loại hoặc bìa loại thu hồi (phế liệu và vụn

thừa): Giấy hoặc bìa được làm chủ yếu bằng bột

giấy thu được từ quá trình cơ học (ví dụ, giấy in báo,

tạp chí và các ấn phẩm tương tự)

4707 30 00

14

Giấy loại hoặc bìa loại thu hồi (phế liệu và vụn

thừa): Loại khác, kể cả phế liệu và vụn thừa chưa

phân loại

4707 90 00

15 Tơ tằm phế liệu (kể cả kén không thích hợp để quay

tơ, xơ sợi phế liệu và xơ sợi tái chế) 5003 00 00

16 Thủy tinh vụn và thủy tinh phế liệu và mảnh vụn

17 Phế liệu và mảnh vụn của gang 7204 10 00

Trang 26

Phế liệu và mảnh vụn khác của sắt hoặc thép: Phoi

tiện, phoi bào, mảnh vỡ, vảy cán, phoi cắt và bavia,

chưa được ép thành khối hay đóng thành kiện, bánh,

Trang 27

Ngày 08/09/2006, Quyết định số 12/2006/QĐ-BTNMT được Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành để kịp thời cập nhật những thay đổi mới trong Luật BVMT 2005 (có hiệu lực từ 01/07/2006) Vào thời điểm Luật BVMT 2005 ra đời và dần được triển khai thực hiện thì Việt Nam đang trên bàn đàm phán về việc gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) Hơn thế nữa, chúng ta đang tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), những thay đổi về mặt pháp lý có ý nghĩa lớn lao đối với Việt Nam hơn bao giờ hết Số lượng những loại phế liệu được phép nhập khẩu đã tăng lên đáng kể Đặc biệt, thay vì sắp xếp theo nhóm, Quyết định 12/2006/QĐ-BTNMT đã liệt kê 20 loại phế liệu theo thứ tự mã số HS – mã số hàng hoá trong giao dịch quốc tế, bên cạnh đó còn mô tả một cách chi tiết những phần nào của phế liệu được phép nhập khẩu

Trang 28

32

So với những quy định trong Luật Bảo vệ môi trường 1993 và Luật Bảo vệ môi trường 2005 thì đạo luật hiện hành thể hiện nhiều điểm mới tiến bộ hơn nhiều:

- Một là, số loại phế liệu được phép nhập khẩu tăng cao Không phải 4

nhóm như quy định trong Luật BVMT 1993 hay 20 loại theo quy định tại Luật BVMT 2005, hiện nay, Việt Nam cho phép nhập khẩu tới 36 loại phế liệu khác nhau Điều này cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang dần được mở rộng, nguồn cung nguyên liệu trong nước không đủ sức đáp ứng nhu cầu của các cơ sở sản xuất, kinh doanh Quan trọng hơn, việc cho phép nhập khẩu nhiều loại phế liệu hơn chứng tỏ sự tiến bộ về khoa học, kỹ thuật trong công tác tái chế, xử lý phế liệu tại nước ta

- Hai là, cụ thể hoá những quy định về dạng thức, đặc tính và mục đích sử

dụng của từng loại phế liệu Sự tăng lên về số lượng cũng đồng nghĩa với việc

đa dạng hơn các loại phế liệu nhập khẩu Sự đa dạng ở đây không chỉ thể hiện ở việc xuất hiện những loại phế liệu mới, trước đây chưa quy định mà còn thể hiện ở sự phong phú trong dạng thức tồn tại của mỗi loại phế liệu được nhập khẩu

Đây là một trong những điểm mới đáng chú ý đối với quy định về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu, cho thấy sự quan tâm sát sao hơn của các

cơ quan quản lý nhà nước, bước đầu ở phương diện pháp lý

1.2 Chủ thể nhập khẩu phế liệu:

1.2.1 Các loại chủ thể được phép nhập khẩu phế liệu

Luật BVMT 2014 không quy định rõ các loại chủ thể được phép nhập khẩu phế liệu từ nước ngoài vào Việt Nam làm nguyên liệu sản xuất Tuy nhiên, Điều

Trang 29

- Tổ chức, cá nhân nhận uỷ thác nhập khẩu cho tổ chức, cá nhân sử

dụng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất.”

Đây là một điểm thay đổi nhỏ nhưng đáng chú ý so với quy định trong Luật BVMT 2005 Khoản 2 Điều 43 luật này đã từng gây nhiều tranh cãi khi quy định rằng: “Tổ chức, cá nhân trực tiếp sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất, tái chế phải có đủ các điều kiện sau đây mới được phép nhập khẩu phế liệu…” Như vậy, xét về mặt ngôn từ có thể hiểu rằng chỉ có những tổ chức, cá nhân trực tiếp sử dụng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất, tái chế thì mới được phép nhập khẩu phế liệu, còn những chủ thể khác thì không được phép Điều đáng nói là khi đạo luật này có hiệu lực thì vẫn không có văn bản nào hướng dẫn cụ thể về vấn đề này Phải chăng các nhà làm luật đã bỏ sót những chủ thể khác? Sau gần 2 năm bàn cãi, với nhiều luồng quan điểm khác nhau, ngày 30/08/2007, Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Bộ Công thương ban hành Thông tư liên tịch số 02/2007/TTLT-BCT-BTNMT hướng dẫn thực hiện điều khoản trên, bổ sung chủ thể được phép nhập khẩu phế liệu vào Việt Nam làm nguyên liệu sản xuất

1.2.2 Điều kiện của chủ thể nhập khẩu phế liệu:

Phế liệu là một loại hàng hoá đặc biệt bởi nó có khả năng làm ảnh hướng xấu tới môi trường và sức khoẻ con người nếu việc nhập khẩu không đảm bảo đáp ứng những tiêu chuẩn quy định Chính vì vậy, các tổ chức, cá nhân để được

Trang 30

34

phép nhập khẩu phế liệu phải thoả mãn những điều kiện nhất định Điều này được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 76 Luật Bảo vệ môi trường 2014

- Thứ nhất, tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu phải có kho, bãi dành

riêng cho việc tập kết phế liệu bảo đảm điều kiện về bảo vệ môi trường:

Phế liệu nhập khẩu từ nước ngoài vào Việt Nam theo đường cửa khẩu hoặc cảng biển thường có số lượng lớn, mỗi lô hàng có thể lên tới hàng trăm tấn Hơn thế nữa, không phải phế liệu được nhập về là sẽ đưa tới cơ sở sản xuất tái chế hay sử dụng ngay mà có thể sẽ phải chờ vài ngày, vài tuần, thậm chí cả năm Bởi lẽ đó, kho, bãi chứa hàng phế liệu là điều kiện đầu tiên mà bất kỳ chủ thể nào cũng phải đáp ứng Tuy nhiên, không giống như những kho chứa hàng thông thường, những kho, bãi tập kết phế liệu nhập khẩu phải đảm bảo các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường Các tiêu chuẩn này được quy định chi tiết tại khoản 1 Điều 56 Nghị định 38/2015/NĐ-CP

- Thứ hai, chủ thể nhập khẩu phế liệu phải có công nghệ, thiết bị tái chế,

tái sử dụng phế liệu, xử lý tạp chất đi kèm phế liệu đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường:

Việc đưa các phế liệu nhập khẩu vào sử dụng trong sản xuất chắc chắn phải thông qua quá trình sơ chế, xử lý ban đầu để thu được nguồn nguyên liệu Bởi tính nhạy cảm của loại hàng hoá này mà những yêu cầu về công nghệ xử lý phế liệu của các tổ chức, cá nhân nhập khẩu cũng được quy định khắt khe hơn Để đáp ứng điều kiện này, các doanh nghiệp phải đảm bảo có đủ khả năng về tài chính, cơ sở vật chất và trình độ khoa học – công nghệ nhất định Chính vì vậy

mà không phải bất kỳ cá nhân, tổ chức nào cũng được cấp phép nhập khẩu phế liệu Mặc dù vậy, để có được những nguồn nguyên liệu giá rẻ này, các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ vẫn có thể thuê hoặc mua lại nguyên liệu đã qua xử lý

Trang 31

để chủ thể được phép nhập khẩu phế liệu

Đây là quy định mới so với Luật BVMT 2005 Mục đích của sự thay đổi này

là nhằm đảm bảo các tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu chịu trách nhiệm xử

lý rủi ro, nguy cơ ô nhiễm môi trường có thể phát sinh từ lô hàng phế liệu nhập khẩu Bắt đầu từ thời điểm ký quỹ, số tiền mà doanh nghiệp nộp kỹ quỹ sẽ được

cơ quan Nhà nước phong toả, quản lý và sử dụng số tiền đó trong trường hợp phế liệu nhập khẩu không được thông quan hoặc không thể tái xuất, nó sẽ được dùng để thanh toán những chi phí phát sinh khi xử lý phế liệu tại Việt Nam Các thủ tục liên quan đến việc kỹ quỹ bảo đảm được quy định tại các điều 58, 59 và

60 Nghị định 38/2015/NĐ-CP

1.2.3 Trách nhiệm của các chủ thể nhập khẩu phế liệu:

Khoản 3 Điều 76 Luật Bảo vệ môi trường 2014 quy định về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân nhập khẩu phế liệu như sau:

- Chỉ được nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất;

- Phải xử lý tạp chất đi kèm phế liệu đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; không được cho, bán tạp chất đi kèm phế liệu;

Trang 32

36

- Phải tái xuất phế liệu không đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật môi trường; trường hợp không tái xuất được thì phải xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý chất thải;

- Thực hiện ký quỹ bảo đảm phế liệu nhập khẩu theo quy định của Chính phủ

Như vậy, quy định này một lẫn nữa đề cập tới những điều kiện quan trọng của phế liệu nhập khẩu và chủ thể nhập khẩu phế liệu, đồng thời đưa ra phương

án xử lý phế liệu không đảm bảo theo quy định để các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện

1.3 Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong quản lý hoạt động

nhập khẩu phế liệu vào Việt Nam

Phế liệu là một loại hàng hoá đặc biệt, lại được đưa vào lãnh thổ Việt Nam theo con đường nhập khẩu nên bản thân nó chịu sự điều chỉnh của nhiều lĩnh vực pháp lý khác nhau: môi trường, hải quan, thương mại,… đồng nghĩa với việc hoạt động nhập khẩu phế liệu cũng nằm dưới sự quản lý của nhiều cơ quan nhà nước như: cơ quan môi trường, cơ quan hải quan,…

1.3.1 Trách nhiệm của cơ quan môi trường:

Phế liệu luôn tiềm ẩn những nguy cơ có thể gây ô nhiễm môi trường Một doanh nghiệp có được cấp phép nhập khẩu hay không, một loại phế liệu có được đưa vào lãnh thổ Việt Nam hay không đều dựa vào những quy chuẩn môi trường nhất định Vì vậy, các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc kiểm soát ô nhiễm từ hoạt động nhập khẩu phế liệu

- Cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất (gọi tắt là Giấy xác nhận):

Trang 33

37

Giấy xác nhận nói trên là loại giấy phép bắt buộc phải có bên cạnh Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp nếu doanh nghiệp muốn nhập khẩu phế liệu tại Việt Nam Nội dung loại giấy phép này sẽ xác nhận cơ sở

đó có đủ các điều kiện về bảo vệ môi trường như đã phân tích ở mục 1.2.2 và được phép nhập khẩu loại phế liệu cụ thể nào và khối lượng được phép nhập khẩu vào Việt Nam làm nguyên liệu sản xuất Giấy xác nhận này có thời hạn 02 năm kể từ ngày cấp

Điều 3 Thông tư 41/2015/TT-BTNMT quy định về thẩm quyền của các cơ quan môi trường trong việc cấp Giấy xác nhận này Cụ thể như sau:

“1 Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp, cấp lại, thu hồi Giấy xác nhận đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất (sau đây gọi tắt là Giấy xác nhận) đối với các trường hợp sau:

a) Tổ chức, cá nhân trực tiếp sử dụng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất có khối lượng phế liệu nhập khẩu quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này;

b) Tổ chức, cá nhân nhận ủy thác nhập khẩu cho tổ chức, cá nhân sử dụng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất

2 Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Sở Tài nguyên và Môi trường) cấp, cấp lại, thu hồi Giấy xác nhận đối với tổ chức, cá nhân trực tiếp nhập khẩu phế liệu để sử dụng làm nguyên liệu sản xuất không thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này.”

Các chủ thể để được cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu phải nộp hồ sơ theo quy trình được quy định tại Điều 4 và Điều 5 Thông tư này

Trang 34

lý kịp thời khi phát hiện hành vi vi phạm xảy ra Trên cơ sở đó, các cơ quan môi trường tại địa phương sẽ tổng hợp và báo cáo tình hình nhập khẩu , tái chế, sử dụng phế liệu và các vấn đề môi trường khác có liên quan trong lĩnh vực này để trình báo với cơ quan quản lý cấp trên.9 Công tác kiểm tra định kỳ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc kiểm soát hoạt động nhập khẩu phế liệu, ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật, giảm thiểu tối đa những rủi ro có thể gây nguy hại đến môi trường

- Phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước khác trong công tác kiểm soát hoạt động nhập khẩu phế liệu

Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước được thể hiện trong cả chiều dọc và chiều ngang Theo chiều dọc, Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Tổng cục Môi trường dưới sự chỉ đạo của Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện các hoạt động kiểm tra, giám sát công tác bảo vệ môi trường của các chủ thể đã được cấp phép nhập khẩu phế liệu Công tác quản lý được thực hiện theo một quy trình thống nhất từ trung ương tới địa phương vừa phân biệt rạch ròi về thẩm quyền và trách nhiệm, vừa tạo nên sự đồng bộ, chặt chẽ trong quản

lý Theo chiều ngang, đó là sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý cùng cấp, giữa cơ quan môi trường với cơ quan hải quan và cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương (uỷ ban nhân dân) Các cơ quan môi trường với trình độ chuyên

9 Khoản 4 Điều 76 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014

Ngày đăng: 29/06/2023, 17:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w