Mặc dù có những điều kiện thuận lợi nhất định, nhưng vẫn còn không ít khó khăn, rào cản cho sự phát triển DNXH ở Việt Nam như: thiếu một khung khổ pháp lý thống nhất cho DNXH, các chính
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -
NGUYỄN ANH THƯ
DOANH NGHIỆP XÃ HỘI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM:
TRƯỜNG HỢP CỦA DOANH NGHIỆP XÃ HỘI KOTO
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH: LUẬT KINH DOANH
Hệ đào tạo: Chính quy Khoá học: QH-2013-L
HÀ NỘI, 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -
NGUYỄN ANH THƯ
DOANH NGHIỆP XÃ HỘI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM:
TRƯỜNG HỢP CỦA DOANH NGHIỆP XÃ HỘI KOTO
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH: LUẬT KINH DOANH
Hệ đào tạo: Chính quy Khoá học: QH-2013-L
NGƯỜI HƯỚNG DẪN
TS Phan Thị Thanh Thủy
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Khóa luận chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ
và trích dẫn trong Khóa luận đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Nếu không đúng như trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về Khóa luận của mình
Người cam đoan
Nguyễn Anh Thư
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CSIP Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phục vụ Cộng đồng CSR Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
NGO Tổ chức phi chính phủ OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới kinh tế ở nước ta trong
30 năm qua, nhiều vấn đề xã hội và môi trường mới nổi lên cả về số lượng và quy mô, trở thành một mối lo ngại lớn với toàn Đảng và xã hội Có thể kể đến các vấn đề nổi cộm như: tình trạng thất nghiệp; tội phạm thanh, thiếu niên; bất bình đẳng giới; HIV/AIDS; người cao tuổi; trẻ em đường phố; người khuyết tật; nạn buôn người Cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội của những người có hoàn cảnh khó khăn vẫn còn thấp do đại đa số các doanh nghiệp nhà nước hoạt động chưa đủ để đáp ứng, mang lại ích lợi cho tất cả những người khó khăn và yếu thế trong xã hội Đặc biệt, do sự hạn chế về nguồn lực, Nhà nước cũng không thể tự giải quyết tất cả những vấn đề này Trong bối cảnh ấy, Doanh nghiệp
xã hội (DNXH) xuất hiện như một giải pháp bổ sung và ngày càng hiệu quả cho Nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường một cách hiệu quả và bền vững Có thể nói mô hình DNXH chứa đựng sự linh hoạt, sáng tạo và phù hợp với cộng đồng; góp phần chia sẻ trách nhiệm và gánh nặng xã hội với Nhà nước bằng các con đường riêng đầy sáng tạo, tiết kiệm, thiết thực và hiệu quả, đồng thời giúp bù đắp được một khiếm khuyết khó khắc phục của cơ chế thị trường là vận hành bởi động cơ lợi nhuận
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc tiếp tục cải thiện môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh để nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế, Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 được Quốc Hội thông qua ngày 26/11/2014 và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2015 Đây là đạo luật có nhiều quy định mới mang tính đột phá, khuyến khích doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế phát huy tính sáng tạo, bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, và phát triển bền vững Một trong những điểm mới nổi bật của Luật Doanh nghiệp năm 2014 là lần đầu tiên ghi nhận khái niệm DNXH trong hệ thống pháp lý Theo đó, DNXH được định nghĩa là doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế
Trang 6thị trường với triết lý kinh doanh gắn liền với xây dựng cuộc sống bền vững, giải quyết các vấn đề xã hội thay vì lợi nhuận thuần túy Việc luật hóa DNXH trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã tạo tiền đề quan trọng cho việc hình thành môi trường pháp lý và những chính sách phù hợp khuyến khích cho sự phát triển của DNXH
Ở Việt Nam, mặc dù chưa bao giờ được công nhận chính thức, nhưng các hoạt động sử dụng kinh doanh như một công cụ để phục vụ cho lợi ích cộng đồng, đặc biệt là các cộng đồng yếu thế đã xuất hiện từ khá lâu Hiện nay, DNXH ở nước ta đang trong giai đoạn phát triển sơ khai với các cơ sở pháp lý ban đầu đã có và đang tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện Đặc biệt, có một số DNXH đã tạo dựng được thương hiệu, điển hình như: Trường đào tạo nghề nhân đạo Koto với chuỗi nhà hàng ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Trong hơn một thập kỷ phát triển, Koto đã nhận đào tạo nghề nấu ăn, dịch vụ khách sạn, nhà hàng cho rất nhiều trẻ em lang thang, có hoàn cảnh khó khăn Năm 2016, KOTO trở thành DNXH được công nhận đầu tiên tại Việt Nam, theo tinh thần của Điều
10 Luật Doanh nghiệp và Nghị định 96 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Sự kiện KOTO chính thức được cấp giấy phép công nhận là DNXH đầu tiên theo Luật Doanh nghiệp 2014 không chỉ đối với KOTO mà còn đánh dấu một chặng đường mới trong lịch sử phát triển của phong trào DNXH tại Việt Nam Sự phát triển của những DNXH như KOTO sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội theo hướng văn minh, tiến bộ, phù hợp với định hướng XHCN ở nước ta, vì vậy đây không chỉ là xu thế chung của thế giới mà còn rất cần thiết
ở Việt Nam
Mặc dù có những điều kiện thuận lợi nhất định, nhưng vẫn còn không ít khó khăn, rào cản cho sự phát triển DNXH ở Việt Nam như: thiếu một khung khổ pháp lý thống nhất cho DNXH, các chính sách về hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước còn hạn chế, các vấn đề về nguồn nhân lực, sức ép từ cạnh tranh thị trường với các doanh nghiệp truyền thống, Trước tình hình đó, việc tìm kiếm những giải pháp để hỗ trợ DNXH phát triển là một việc làm cần thiết Kinh nghiệm thế giới chỉ ra rằng vai trò của Nhà nước với hệ thống pháp luật và chính sách là những điều kiện thiết yếu để các DNXH phát triển Vì vậy, yêu cầu
Trang 7đặt ra là cần sớm hoàn thiện pháp luật và chính sách để gia tăng tác động xã hội của các DNXH ở Việt Nam
Với những lý do trên, sinh viên quyết định lựa chọn đề tài “Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam: Trường hợp của Doanh nghiệp xã hội KOTO” làm đề tài khóa
luận cử nhân Luật kinh doanh
2 Tình hình nghiên cứu
DNXH là mô hình doanh nghiệp đã được hình thành từ lâu, và cũng đã phát triển ở Việt Nam trong một thời gian nhất định Những đóng góp cho xã hội của DNXH là không thể phủ nhận, chính vì vậy nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của DNXH đã được rất nhiều người đề cập đến Có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:
Trung tâm hỗ trợ sáng kiến cộng đồng (CSIP) với nghiên cứu về “Khái niệm Doanh
nghiệp xã hội”;
Khảo sát về DNXH đăng trong “Báo cáo kết quả khảo sát doanh nghiệp xã hội Việt
Nam” năm 2011 của Trung tâm hỗ trợ sáng kiến cộng đồng (CSIP) và Hội đồng
Anh Việt Nam;
Công trình “Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam: Khái niệm, Bối cảnh và Chính
sách” năm 2012 của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Hội đồng Anh
tại Việt Nam và Trung tâm hỗ trợ sáng kiến cộng đồng (CSIP);
Công trình “Điển hình Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam” năm 2016 của Viện
Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Hội đồng Anh tại Việt Nam và Trung tâm
hỗ trợ sáng kiến cộng đồng (CSIP)
Nghiên cứu về khía cạnh pháp lý của DNXH, đặc biệt là pháp luật về tổ chức, hoạt động của DNXH ở Việt Nam hiện nay còn rất hạn chế, mới chỉ có một số ít công trình nghiên cứu các vấn đề pháp lý về DNXH Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu đầu tiên như:
Trang 8 TS Phan Thị Thanh Thủy với bài viết “Những vấn đề pháp lý về Doanh nghiệp xã
hội theo Luật Doanh nghiệp 2014” đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật, số
6/2015 và bài viết “Hình thức pháp lý của Doanh nghiệp xã hội: Kinh nghiệm nước
Anh và một số gợi mở cho Việt Nam” đăng trên tạp chí Luật học, Tạp chí Khoa học
ĐHQGHN số 4 năm 2015
ThS Vũ Thị Hòa Như với bài viết “Hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về
Doanh nghiệp xã hội” đăng trên Tạp chí Luật học, số 3/2015
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến một số khía cạnh nhất định của mô hình phát triển DNXH dưới góc độ pháp lý Tuy nhiên, cho đến hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu ở cấp độ luận văn cử nhân Luật kinh doanh nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về vấn đề pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay Chính
vì vậy, việc tác giả chọn đề tài “Doanh nghiệp xã hội theo pháp luật Việt Nam: Trường hợp của Doanh nghiệp xã hội KOTO” với mong muốn làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận
và thực tiễn về pháp luật về DNXH ở Việt Nam thông qua việc phân tích trường hợp thành công của KOTO và đóng góp những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về DNXH
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài có mục đích nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực tiễn của pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay cùng với việc phân tích trường hợp của DNXH KOTO
Từ đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
hoạt động của mô hình doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu như sau:
Nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm của mô hình DNXH, về lịch sử hình thành và
Trang 9phát triển của DNXH trên thế giới và đặc biệt ở Việt Nam từ trước tới nay Nghiên cứu về sự cần thiết của việc ban hành khung pháp luật về DNXH, khái niệm của pháp luật về DNXH
Nghiên cứu về các nội dung chủ yếu của pháp luật về DNXH, thực trạng DNXH ở Việt Nam hiện nay Từ đó rút ra được những ưu điểm và những tồn tại, hạn chế của pháp luật về DNXH, chỉ ra được những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó
Nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển, bộ máy quản lý, cơ cấu tổ chức
và các vấn đề liên quan đến tài chính, nguồn vốn, tác động đối với xã hội của DNXH KOTO để từ đó có thể lí giải thích được sự phát triển mạnh mẽ của KOTO trong suốt thời gian qua
Nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về DNXH và giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của DNXH ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài có đối tượng nghiên cứu là các quy phạm pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động của DNXH được quy định trong Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành Về thực tiễn đề tài nghiên cứu về thực trạng hoạt động của các DNXH ở Việt Nam hiện nay, cụ thể là trường hợp của DNXH KOTO
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề là các quy định của pháp luật về DNXH được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2014, về địa bàn nghiên cứu đề tài nghiên cứu trên địa bàn
cả nước, thời gian nghiên cứu từ năm tháng 2 năm 2017 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp hệ
Trang 10thống, lịch sử, logic, phân tích, so sánh, tổng hợp Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả tham khảo ý kiến chuyên gia liên quan đến đề tài
6 Tính mới và những đóng góp của khóa luận
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên ở cấp độ một khóa luận cử nhân Luật kinh doanh về các vấn đề liên quan đến pháp luật về doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay
Đề tài giải quyết những nội dung cơ bản thuộc về lý luận và thực tiễn của pháp luật về doanh nghiệp xã hội là: các định nghĩa, đặc điểm của DNXH và pháp luật về DNXH và thực trạng pháp luật về DNXH Việt Nam theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014
và các văn bản hướng dẫn thi hành Bên cạnh đó, thông qua việc phân tích trường hợp cụ thể của DNXH KOTO, đề tài cũng đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về DNXH và nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động đối với loại hình doanh nghiệp này
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu và học tập của các nhà nghiên cứu, giảng dạy luật học, việc học tập của sinh viên, học viên chuyên ngành luật kinh tế
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về Doanh nghiệp xã hội
Chương 2: Thực trạng pháp luật về Doanh nghiệp xã hội tại Việt Nam và trường
hợp của Doanh nghiệp xã hội KOTO
Chương 3: Một số kiến nghị, giải pháp để nâng cao hoạt động của Doanh nghiệp xã hội
tại Việt Nam
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI
1.1 Vài nét về lịch sử ra đời và phát triển của Doanh nghiệp xã hội trên
thế giới
DNXH đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển từ rất lâu đời Theo nghiên
cứu của MacDonald M & Howarth C (2008), mô hình DNXH đầu tiên xuất hiện tại
London vào năm 1665, khi Đại dịch (Great Plague) hoành hành đã khiến nhiều gia đình
giàu có, vốn là các chủ xưởng công nghiệp và cơ sở thương mại rút khỏi thành phố, để lại
tình trạng thất nghiệp tăng nhanh trong nhóm dân nghèo lao động Trong bối cảnh đó,
Thomas Firmin đã đứng ra thành lập một xí nghiệp sản xuất và sử dụng nguồn tài chính
cá nhân cung cấp nguyên liệu cho nhà máy để tạo và duy trì việc làm cho 1.700 công
nhân Ngay từ khi thành lập, ông tuyên bố xí nghiệp không theo đuổi mục tiêu tối đa hóa
lợi nhuận và số lợi nhuận sẽ được chuyển cho các quỹ từ thiện [7, tr.1]
Như vậy, DNXH lần đầu tiên xuất hiện tại Anh do những nhu cầu nhất định về thực
hiện chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội đối với người nghèo, người khuyết tật
Đến cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, các DNXH ở Anh đã phát triển một cách tương đối và
có thể phân thành hai nhóm như sau [7, tr.1]:
(i) Nhóm thứ nhất, là một số người giàu có thay đổi quan điểm của họ trong hoạt
động từ thiện Theo quan điểm của họ, việc đóng góp, hỗ trợ một khoản vật chất nhất định
cho tầng lớp dân nghèo có thể gây ra tâm lý ỷ lại, lười biếng và “nhàn cư vi bất thiện” ở
họ Chính vì vậy, họ xây dựng các chương trình cung cấp việc làm để nhóm này học việc
và có thể duy trì công việc cũng như thu nhập của mình, trở thành “những thành viên hữu
ích của quốc gia” Với quan điểm và phương pháp tiếp cận như vậy, một số mô hình doanh
nghiệp hỗ trợ hoạt động của các quỹ, các chương trình dành cho người nghèo, người
Trang 12khuyết tật đã được ra đời, có thể kể đến như: Quỹ tín dụng vi mô (chủ yếu là cho vay công
cụ sản xuất) ở Bath; trường dạy xe sợi, dệt vải và tạo việc làm cho những người mù nghèo khổ ở Liverpool năm 1790; trường giáo dưỡng, tái hòa nhập trẻ phạm tội của tư nhân… Những chương trình hỗ trợ như vậy, được sự ủng hộ của các nhà hảo tâm, của các nhà tư sản lớn Từ đó tạo nên những DNXH đầu tiên trên thế giới
(ii) Nhóm thứ hai, đối với một số đối tượng khác có quan điểm khác về phúc lợi xã
hội và hỗ trợ cộng đồng Theo đó, trong giai đoạn này ở Anh, xuất hiện các mô hình cho phép người lao động có nhiều quyền hơn trong ký kết hợp đồng lao động và lần đầu tiên
họ có khả năng làm chủ kế hoạch kinh doanh cũng như phân phối lợi nhuận Sự phát triển của mô hình này dẫn đến việc ra đời của các Hợp tác xã (Co-op), hội ái hữu (Provident Society), làng nghề (Industrial Society) đã thực hiện phân phối lợi nhuận và cung cấp phúc lợi cho toàn bộ cộng đồng, cũng như trao quyền biểu quyết về quản lý tổ chức và kinh doanh cho tất cả thành viên
Sang thế kỷ 20, hoạt động của các DNXH có phần giảm sút khi chủ thuyết kinh tế Keynes lên ngôi từ sau cuộc Đại suy thoái (1929-1933), cổ vũ cho vai trò can thiệp của Nhà nước đối với nền kinh tế; và cũng nhờ đó, một loạt mô hình Nhà nước phúc lợi đã ra đời ở Tây Âu và Bắc Mỹ sau Thế chiến II [7, tr.2]
Bước vào thời kỳ hiện đại, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới phục hồi và phát triển mạnh mẽ kể từ sau Chiến tranh thế giới, cùng với sự tác động của Chiến tranh lạnh và đối đầu Đông – Tây, ở các quốc gia Phương Tây, chính sách xã hội đặc biệt được quan tâm
và được coi là mũi nhọn trong việc đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa phát triển kinh tế
và phát triển xã hội Trong giai đoạn này, các DNXH chỉ thực sự phát triển mạnh để hình thành nên một phong trào rộng khắp có diện mạo như ngày nay sau những chính sách kinh
tế của nước Anh vào thập kỷ 80 của thế kỷ XX Cụ thể là chủ trương thu hẹp lại vai trò của Nhà nước và cho rằng Nhà nước không nên trực tiếp tham gia cung cấp phúc lợi xã hội Nhà nước tư sản phương Tây trong giai đoạn này đã rút dần ảnh hưởng trong lĩnh vực
Trang 13công, xã hội hóa nhiều hoạt động phúc lợi, từ thiện Từ đó dẫn đến sự phát triển của các DNXH trong giai đoạn này
Về cơ bản có thể thấy, các vấn đề về dịch vụ công và phúc lợi xã hội vốn luôn được thừa nhận rộng rãi như một trong các chức năng cơ bản của Nhà nước, Nhà nước khi được
ra đời cần phải thực hiện hai chức năng cơ bản là bảo vệ và quản lý xã hội, trong đó quản
lý xã hội bao gồm thực hiện cả những yếu tố phúc lợi xã hội và dịch vụ công như hỗ trợ người nghèo, người khuyết tật, người yếu thế trong xã hội khác Tuy nhiên, trong giai đoạn từ sau thập niên 80 của thế kỷ XX Chính phủ của nhiều nước Phương Tây đều thực hiện chức năng này thông qua các tổ chức dân sự và tư nhân bằng hình thức đấu thầu và thuê ngoài Hoạt động xã hội hóa các hình thức dịch vụ công và phúc lợi xã hội khác cho thấy hiệu quả cao hơn hẳn so với việc nhà nước trực tiếp thực hiện hoạt động này
Trong ba thập niên trở lại đây, phong trào DNXH đã phát triển mạnh ra khỏi biên giới các quốc gia và trở thành một vận động xã hội có quy mô và tầm ảnh hưởng toàn cầu Hiện tại không có số liệu chính xác bao nhiêu DNXH đang hoạt động tại bao nhiêu quốc gia bởi mô hình khái quát về DNXH tuy đã được công nhận thức một cách rộng rãi, nhưng
đi vào nội dung, tiêu chí cụ thể để định nghĩa, phân loại DNXH lại có nhiều quan điểm khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển, đặc điểm kinh tế-xã hội của từng nước, và thậm chí là mục tiêu chính sách của từng chính phủ Mặc dù vậy, qua các tài liệu nghiên cứu, có thể nói DNXH đang hoạt động mạnh mẽ ở tất cả các khu vực trên thế giới từ Tây
Âu, Bắc Mỹ, Úc đến Mỹ La-tinh, Trung Đông, châu Phi, Nam Á, Đông Nam Á Không ít quốc gia đã ban hành văn bản pháp lý riêng về DNXH và tạo lập được các mạng lưới có
tổ chức để tập hợp, chia sẻ và kết nối lên tới hàng nghìn DNXH ở phạm vi trong nước cũng như quốc tế [7, tr.2]
Trang 141.2 Khái niệm và đặc điểm của Doanh nghiệp xã hội
Mặc dù DHXH có lịch sử hình thành và phát triển khá lâu đời, tuy nhiên, cho đến nay, khái niệm DNXH vẫn chưa có sự thống nhất, dẫn đến việc hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm DNXH
Trong Chiến lược phát triển DNXH năm 2002, Chính phủ Anh định nghĩa:
“DNXH là một mô hình kinh doanh được thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu
xã hội, và sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư cho mục tiêu đó hoặc cho cộng đồng, thay vì tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông hoặc chủ sở hữu” [7]
Đây có thể được là một định nghĩa toàn diện, nêu bật lên được những đặc điểm cơ bản của DNXH Đó là DNXH cần được hiểu như là một mô hình, phương án, giải pháp thông qua hoạt động kinh doanh hơn là ràng buộc DNXH vào một hình thức công ty nhất định Bên cạnh đó, mục tiêu xã hội được xem là ưu tiên hàng đầu và cốt lõi của DNXH
Và cuối cùng, lợi nhuận được tái phân phối lại cho tổ chức hoặc cộng đồng, không phải cho cá nhân
Ngoài ra, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD cũng đưa ra định nghĩa:
“DNXH là những tổ chức hoạt động dưới nhiều hình thức pháp lý khác nhau vận dụng tinh thần doanh nhân nhằm theo đuổi cùng lúc cả hai mục tiêu xã hội và kinh tế DNXH thường cung cấp các dịch vụ xã hội và việc làm cho các nhóm yếu thế ở cả thành thị và nông thôn Ngòai ra, DNXH còn cung cấp các dịch vụ cộng đồng, trên các lĩnh vực giáo dục, văn hóa, môi trường.” [33]
Ngoài hai định nghĩa nêu trên là những định nghĩa được nhiều nghiên cứu và tổ chức tham khảo, trích dẫn, còn có một số định nghĩa khác về DNXH Ví dụ như Tổ chức
hỗ trợ sáng kiến vì cộng đồng – CSIP của Việt Nam đưa ra quan điểm:
“DNXH là một khái niệm dùng để chỉ hoạt động của các doanh nhân xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào mục đích và điều kiện hoạt động cụ thể DNXH
Trang 15lấy lợi ích xã hội làm mục tiêu chủ đạo, được dẫn dắt bởi tinh thần doanh nhân nhằm đạt được cả mục tiêu xã hội/ môi trường và mục tiêu kinh tế.” [25]
Như được đề cập ở trên, cách định nghĩa về DNXH rất phong phú, tùy thuộc trình
độ phát triển của mỗi nước và khu vực, cũng như đặc thù và ưu tiên của từng tổ chức Nhưng nhìn chung, DNXH đều có những đặc điểm nổi bật sau đây:
Sử dụng hoạt động kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng như một công cụ để thực hiện được mục tiêu xã hội đề ra ngay từ khi thành lập doanh nghiệp
Trước hết, so với những tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, các quỹ từ thiện chỉ đơn thuần nhận tài trợ từ các tổ chức, nhà hảo tâm để thực hiện các dự án hoặc chương trình xã hội thì DNXH có thể thực hiện hoạt động kinh doanh riêng của mình Đây cũng
là một nét đặc thù của DNXH và nó cũng tạo ra thế mạnh cho loại hình doanh nghiệp này Bởi lẽ nếu như mối quan hệ giữa các tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận, tổ chức từ thiện với những nhà tài trợ khác thường là quan hệ một chiều (cho đi) và mang tính thụ động thì DNXH có thể có vị thế độc lập, chủ động hơn thông qua việc tự mình thực hiện các hoạt động kinh doanh, tạo ra những nguồn lực nhất định để vừa đảm bảo việc giải quyết các vấn đề xã hội đang tồn tại, vừa có thể vận hành doanh nghiệp một cách hiệu quả Nói cách khác, DNXH phải là người trực tiếp cung cấp các sản phẩm hàng hóa dịch vụ với chất lượng tốt ở mức giá cạnh tranh so với thị trường [7, tr.6] Song đây cũng là một thách thức đối với các DNXH bởi nguồn lực về tài chính và nhân lực của họ còn có hạn trong khi thị trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp rất phức tạp Chính điều này phần nào lý giải tại sao DNXH luôn gắn liền với các sáng kiến xã hội, bởi giải pháp kinh doanh của DNXH phải có tính mới lạ thì mới có thể đem đến mục tiêu xã hội dưới hình thức kinh doanh [14]
Hơn nữa, DNXH còn phải trực tiếp cạnh tranh với các doanh nghiệp truyền thống trong cùng một lĩnh vực Việc cạnh tranh bình đẳng và công bằng, tuy là một thách thức lớn, nhưng nó có thể đem lại cho DNXH vị thể độc lập và tự chủ trong tổ chức và hoạt động của mình mà không phải phụ thuộc vào bất kỳ một tổ chức hoặc cá nhân khác Doanh
Trang 16thu từ hoạt động kinh doanh có thể không bù đắp tất cả chi phí cho mục tiêu xã hội, nhưng
ít nhất việc bù đắp một phần, thường là từ 50-70% nguồn vốn (phần còn lại các DNXH vẫn có thể dựa vào nguồn tài trợ), sẽ giúp DNXH độc lập hơn trong quan hệ với các nhà tài trợ để theo đuổi sứ mệnh xã hội của riêng mình và quan trọng hơn là tạo điều kiện để DNXH mở rộng được quy mô các hoạt động xã hội của họ [7, tr.6]
Do vậy, xây dựng một chiến lược kinh doanh tốt, có lợi nhuận, bền vững là một yêu cầu thiết yếu để đảm bảo DNXH thực hiện hiệu quả mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội Thực tế đã cho thấy có rất nhiều DNXH hiện đang phát huy được thế mạnh của mình và
có những sản phẩm, dịch vụ có thể cạnh tranh binh đẳng với các doanh nghiệp truyền thống trên thị trường Ví dụ như Nhà hàng KOTO có chất lượng tốt cả về đồ ăn và phục
vụ, được giới thiệu trên Lonely Planet, Time-Out; sản phẩm của Mai Handicrafts và Mekong Quilts đều được thiết kế rất độc đáo và bán chạy với giá cao…[7, tr.6]
Đặt mục tiêu vì xã hội và cộng đồng lên hàng đầu kể từ khi thành lập doanh nghiệp
Một trong những điểm tạo ra sự khác biệt giữa DNXH và doanh nghiệp truyền thống chính là mục tiêu được đề ra khi thành lập doanh nghiệp
Cụ thể, ở doanh nghiệp thông thường, các nhà đầu tư dựa vào thị trường để tìm ra nhu cầu của khách hàng, từ đó lên kế hoạch, chiến lược đầu tư, sản xuất, kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ và thông qua hàng loạt các hoạt động kinh doanh được điều tiết bởi các quy luật của nền kinh tế thị trường để đạt được mục đích cuối cùng là lợi nhuận Nói cách khác, chính lợi nhuận trở thành động lực để nhà đầu tư quyết định tìm giải pháp kinh doanh, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng và tối đa hóa lợi nhuận cho mình, có được lợi nhuận, tức nhà đầu tư đã thành công [11] Mặc dù ngày càng có nhiều doanh nghiệp chú trọng đến việc đảm bảo thực hiện các trách nhiệm với xã hội như bảo vệ môi trường hoặc các vấn đề liên quan đến người lao động…, nhưng xét cho cùng, đây vẫn
Trang 17không phải là ưu tiên hàng đầu của họ khi thành lập doanh nghiệp Nói cách khác, nó chỉ thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với cộng đồng và góp phần nâng cao vị thế của doanh nghiệp trong xã hội
Trong khi đó, đối với DNXH thì yếu tố lợi nhuận không phải là yếu tố quyết định đến sự ra đời của doanh nghiệp, mà chính từ các vấn đề đang tồn tại trong xã hội Các vấn
đề xã hội trở thành động lực để doanh nhân xã hội tìm kiếm và quyết định mô hình kinh doanh phù hợp, suy cho cùng thì doanh nhân xã hội sử dụng phương thức kinh doanh để giải quyết vấn đề xã hội mà họ đã phát hiện ra Khi vấn đề xã hội được giải quyết thì mục đích của DNXH đã đạt được, dù có thể chính DNXH không thu về được lợi nhuận, thậm chí bị thua lỗ [11; 14]
Như vậy, DNXH phải lấy mục tiêu xã hội làm sứ mệnh hoạt động tối thượng ngay từ khi thành lập, và điều này phải được tuyên bố một cách công khai, rõ ràng, minh bạch Mỗi DNXH được thành lập đều vì một mục tiêu xã hội cụ thể, hoạt động vì cộng đồng chứ không phải vì một cá nhân đơn lẻ [7, tr.7]
Tái phân phối lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh lại cho tổ chức, cộng đồng và mục tiêu xã hội
Một trong những yêu cầu của mô hình DNXH chính là DNXH khi thực hiện hoạt động kinh doanh phát sinh lợi nhuận không phân phối như các doanh nghiệp thông thường Lợi nhuận mà doanh nghiệp có được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh được dùng để tái đầu tư vào doanh nghiệp với mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội mà DNXH đang theo đuổi [12] Thực chất, hai đặc điểm ở trên về hoạt động kinh doanh và mục tiêu xã hội là những nét cơ bản nhất về DNXH Còn tiêu chí sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư phục vụ các mục tiêu xã hội là tiêu chí để giúp phân định rõ đặc điểm ‘vì- lợi nhuận’ hay ‘vì- xã hội’ mà thôi
Trang 18Ngoài những đặc điểm nổi bật nêu trên, hầu hết các DNXH còn có những đặc điểm khác như sau:
Cơ cấu sở hữu mang tính xã hội
Một đặc điểm khác tuy không phổ biến nhưng được một số cách định nghĩa DNXH
đề cập là cấu trúc sở hữu và quản lý của DNXH có sự tham gia của cộng đồng hoặc các bên liên quan, các bên hưởng lợi Điều này cho phép DNXH có tính tự chủ cao Đây là trường hợp của các Hợp tác xã hoạt động theo mô hình DNXH rất hiệu quả ở một số nước [7, tr.8]
Trên thực tế, hầu hết các DNXH đều có cấu trúc quản lý cởi mở và dân chủ Yêu cầu gắn kết với cộng đồng, các bên hưởng lợi và một số lượng đối tác đông đảo, trong khi mục đích xã hội được đặt ở vị trí tối cao, khiến các DNXH sẵn sàng chia sẻ ‘quyền lực’ của mình với tất cả các bên liên quan Đáng chú ý, ở nhiều DNXH khái niệm đối nhân – đối vốn không được áp dụng như tại các công ty cổ phần hay TNHH truyền thống Tại không ít DNXH, Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng sáng lập viên đã áp dụng nguyên tắc
‘mỗi thành viên - một phiếu bầu/ quyền biểu quyết như nhau’ trong mọi quyết định của tổ chức, mà không dựa vào tỷ lệ góp vốn của họ [7, tr.8]
Phục vụ nhu cầu của Nhóm đáy tháp xã hội
Một trong những sứ mệnh đặc thù của DNXH là phục vụ nhu cầu của Nhóm đáy tháp xã hội Đây là đối tượng những người nghèo và yếu thế nhất trong xã hội, họ tạo nên một nhóm gồm 2 tỷ người với thu nhập dưới 2 USD/ngày [31] Và vì chiếm số đông nhất nhưng ở dưới đáy cùng của xã hội nên được gọi là ‘Nhóm đáy’ của Kim tự tháp (Bottom
of Pyramid- BoP) Đáng chú ý, nhóm đối tượng bị lề hóa, bao gồm người dân ở vùng sâu vùng xa, người khuyết tật, người bị nhiễm HIV/AIDS, trẻ em đường phố, thất học, phạm nhân mãn hạn tù tuy không hoàn toàn nằm trong Nhóm đáy nhưng có tỷ lệ và nguy cơ cao rơi vào Nhóm đáy, do đó cũng là một địa bàn trọng yếu của các DNXH [7, tr.9]
Trang 19Trong khi khu vực nhà nước thường không có đủ nguồn lực để có thể giải quyết gánh nặng phúc lợi xã hội của Nhóm đáy, khu vực doanh nghiệp tư nhân lại bỏ qua nhóm này, thay vào đó họ thường lấy các nhóm có khả năng chi trả cao hơn làm khách hàng mục tiêu Chính vì vậy, DNXH xuất hiện như một giải pháp bổ sung, hỗ trợ Nhà nước trong việc cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho đối tượng Nhóm đáy ở mức giá rẻ [7, tr.9]
Sáng kiến kinh doanh từ cơ sở
Hầu hết các DNXH đều được khởi sự từ khi DNhXH phát hiện ra vấn đề xã hội và tìm được mô hình kinh doanh phù hợp để giải quyết các vấn đề đó [32, tr.52] Nói cách khác, DNXH được hình thành từ những nhu cầu của cuộc sống Bản thân các DNhXH thường là những người sống gắn bó với cộng đồng nhóm người yếu thế, hoặc thậm chí chính họ cũng thuộc nhóm đối tượng này Do vậy, trong hoàn cảnh đó, họ có thể phát hiện
và thấu hiểu một vấn đề xã hội cụ thể
Ví dụ như chị Dương Phương Hạnh là người khiếm thính nên sáng lập Trung tâm nghiên cứu giáo dục, đào tạo ngôn ngữ ký hiệu cho người khiếm thính; anh Nguyễn Công Hùng là người khuyết tật vận động nhưng tự học thành thạo các kỹ năng tin học nên sáng lập Trung tâm Nghị lực sống đào tạo tin học cho người khuyết tật theo cách tiếp cận hòa nhập toàn diện (từ đào tạo đến tìm việc làm); anh Tạ Minh Tuấn xuất phát từ bệnh tình của bố để thành lập Help Corporation thực hiện mô hình bác sĩ gia đình, điều chỉnh lối sống [7, tr.10]
Đó là những con người thực tế, năng động và linh hoạt Do có mối quan hệ gắn bó
và khăng khít với cộng đồng nhóm người yếu thế nên họ có thể phát hiện ra những vấn đề cần giải quyết, để từ đó có hướng tiếp cận nhằm tìm ra những giải pháp phù hợp [32, tr.54] Và chính cách tiếp cận từ dưới lên xuất phát trên nền tảng cộng đồng và cơ sở, đã đem lại tính bền vững cho giải pháp xã hội của các DNXH Không ai có thể hiểu rõ vấn
Trang 20đề bằng các DNhXH và do đó không có giải pháp nào phù hợp với cộng đồng và được cộng đồng chấp nhận khi được phát triển từ chính cộng đồng đồng đó [7, tr.10]
Tính cởi mở và liên kết
Trong môi trường hoạt động xã hội, các DNXH đều rất cởi mở và luôn sẵn sàng cho các khả năng liên kết Nguồn lực hạn chế và sự thôi thúc đưa ra những sáng kiến xã hội có tính khả thi hình thành nếp tư duy cởi mở trước những thay đổi, ý kiến phản biện
và đặc biệt cơ hội tiếp cận vốn tài trợ, chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm cũng như hợp tác giữa các DNXH với nhau và giữa DNXH với các đối tác liên quan [7, tr.10]
Vai trò của DNhXH đối với DNXH
Có thể nói sự phát triển của hầu như tất cả DNXH đều gắn chặt với vai trò của người sáng lập là DNhXH DNhXH được hiểu là những người tạo nên đột phá, hoặc có những ý tưởng giải quyết các vấn đề của xã hội và tạo nên những thay đổi làm cho xã hội tốt hơn, vốn lâu nay vẫn được cho là thuộc trách nhiệm của nhà nước, hoặc các doanh nghiệp thương mại “có tâm” [7, tr.10]
Cũng như doanh nhân thương mại, để thành công, một DNhXH là người kiên định với ý tưởng của mình, cam kết dành cả cuộc đời để tạo nên sự thay đổi Họ vừa là những người có tầm nhìn xa trông rộng lại vừa là những người rất thực tế, và luôn suy nghĩ về cách thức thực hiện tầm nhìn của mình một cách rất thực tế Họ cần phải đưa ra những ý tưởng dễ áp dụng, dễ hiểu, có đạo đức, và kêu gọi sự ủng hộ của nhiều người để có thể tối
đa hóa số lượng những người dân địa phương cùng đứng lên, nắm bắt ý tưởng, và thực hiện Đây là điểm rất khác biệt giữa DNhXH và doanh nhân thương mại Nếu như doanh nhân thương mại chỉ tập trung phát triển doanh nghiệp, lấy mục tiêu lợi nhuận làm trọng, thì mục tiêu của DNhXH là làm thế nào để giải quyết triệt để một vấn đề xã hội cụ thể; hơn nữa, họ không làm một mình, mà tính hiệu quả của doanh nghiệp được tính bằng số
Trang 21người hưởng lợi từ các hoạt động đó Tốt hơn nữa là giúp chính những người dân địa phương có được nguồn tài chính và kĩ năng để tự họ làm cải thiện môi trường sống của mình tốt hơn
Ví dụ như trường hợp của Jimmy Phạm, sinh ra tại Việt Nam và lớn lên ở Sydney, Australia Năm 1996, trong chuyến trở về Sài Gòn, một cơ duyên đã dẫn anh đến với sứ mệnh giúp đỡ trẻ em DNXH KOTO được thành lập từ năm 1999, bắt đầu từ một tiệm bánh mì kẹp với mục đích tạo công ăn việc làm cho chín trẻ em lang thang cơ nhỡ Từ đó, KOTO lớn mạnh dần, trở thành một DNXH phi lợi nhuận được trao tặng nhiều giải thưởng, cung cấp cho trẻ khuyết tật, trẻ em đường phố từ độ tuổi 16 đến 22 một chương trình đào tạo dạy nghề liên tục kéo dài trong 24 tháng trong lĩnh vực nhà hàng, khách sạn, các kỹ năng sống cơ bản và Tiếng Anh [8, tr.28]
Nếu chúng ta thấy các doanh nhân truyền thống đã gặp nhiều khó khăn từ môi trường bên ngòai để có thể tồn tại và phát triển, thì các DNhXH còn gặp nhiều thử thách hơn nữa, bởi họ thường phải cạnh tranh bình đẳng trong điều kiện thiếu thốn về vốn, cơ
sở vật chất, nhân lực, trình độ, sức khỏe, nhận thức của xã hội, quan hệ với chính quyền [25, tr.9]
Mặt khác, sự phụ thuộc quá nhiều vào DNhXH cũng có thể được coi là một trong những điểm yếu của DNXH Vấn đề kế thừa của DNXH là một trong những vấn đề nan giải mà DNhXH phải tính đến Liệu cơ cấu tổ chức, văn hóa làm việc, tâm huyết của đội ngũ nhân sự có đủ sức mạnh, sự cố kết để giữ vững được sứ mệnh xã hội, tinh thần doanh nhân xã hội mà DNXH có được từ buổi ban đầu? [7, tr.10]
1.3 Doanh nghiệp xã hội trong mối tương quan với các tổ chức và phong
trào xã hội khác
DNXH là một mô hình có sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố xã hội và yếu tố kinh
tế, trong đó yếu tố xã hội được ưu tiên hàng đầu Trên thực tế, DNXH thường hay bị nhầm
Trang 22lần với các tổ chức lợi nhuận, phi lợi nhuận và các trào lưu xã hội khác Do đó, quá trình nâng cao nhận thức cũng như làm chính sách liên quan đến DNXH đều đòi hỏi phải phân biệt rõ ràng mô hình này với các tổ chức và phong trào xã hội khác
1.3.1 DNXH trong mối tương quan với Doanh nghiệp truyền thống và NGO
Như trên đã trình bày, do DNXH là mô hình kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố xã hội
và yếu tố kinh tế Như vậy, có thể xem DNXH mang đặc tính “lai” giữa doanh nghiệp thông thường và tổ chức NGO truyền thống [7, tr.11] Nếu ở một cực là các doanh nghiệp truyền thống, hoạt động vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, thì ở cực còn lại là các NGO được thành lập nhằm theo đuổi lợi ích xã hội thuần túy Tuy nhiên trên thực tế, ngày càng
có nhiều doanh nghiệp và tổ chức NGO thực hiện nhiều hoạt động đa dạng và vượt ra khỏi ranh giới hay quan niệm truyền thống Chẳng hạn như hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp cam kết thực hiện CSR (Chú trọng các nguyên tắc đạo đức kinh doanh, bảo vệ môi trường đóng góp cho cộng đồng là các nhiệm vụ đi kèm với hoạt động kinh doanh) nhưng thực
tế mục tiêu hàng đầu của họ vẫn là tìm kiếm cơ hội kinh doanh và tối đa hóa lợi nhuận Đối với trường hợp của một số NGO, họ cũng triển khai nhiều dự án cụ thể nhằm thực hiện hoạt động kinh doanh nhằm giảm sự thụ động vào mối quan hệ với các nhà tài trợ, nâng cao vị thế của mình và có thể dùng lợi nhuận thu được đó để phục vụ cho các chương trình mà họ muốn hướng đến [7, tr.11]
Bên cạnh đó, để đánh giá mức độ thành công của một doanh nghiệp truyền thống trong một năm thường căn cứ vào các thước đo kinh tế Cụ thể là ở số lượng lợi nhuận luôn được tiền tệ hóa chính xác ở dòng cuối cùng của bản Cân đối tài chính cuối năm đó Ngược lại, thước đo hiệu quả đối với một tổ chức NGO lại thường dựa vào những tác động và giá trị xã hội mà tổ chức đo cam kết thực hiện và mang lại Ví dụ như số lượng học sinh nghèo được đến trường, số làng bản ở vùng sâu vùng xa được tiếp cận nước sạch hay số lượng người được tuyên truyền về biến đổi khí hậu Tuy nhiên việc đánh giá tính hiệu quả của một DNXH lại phải dựa trên cả hai hệ tiêu chí về giá trị xã hội và kinh tế
Trang 23[14] Nếu đánh giá một DNXH đào tạo nghề cho trẻ em có hòan cảnh đặc biệt như KOTO, dạy vi tính cho người khuyết tật như TT Nghị lực sống, tạo sân chơi cho trẻ tự kỷ như Tò
he, hoặc một DNXH nào đó tạo việc làm cho người nhiễm HIV/AIDS và người mãn hạn tù mà chỉ nhìn nhận trên khía cạnh kinh tế (cụ thể là nhìn ở doanh thu và loại nhuận) thì hẳn sẽ là một thiếu sót lớn [7, tr.12] Những DNXH như Bloom Microventures, Ecolife, Marine Gifts, PT Tây Bắc, Mai Handicrafts và Mekong Quilt có thể không đem lại hiệu quả tài chính như các doanh nghiệp khác trên thị trường, nhưng hiệu quả xã hội mà các DNXH này mang lại (chẳng hạn như giúp hàng trăm hộ nông dân thoát nghèo với các sinh
kế bền vững) thì không dễ lượng hóa đơn thuần bằng tiền tệ [7, tr.12] Đây là điều mà hơn
ai hết, các DNhXH sáng lập và nhà đầu tư xã hội luôn thấu hiểu đối với DNXH của mình, tuy nhiên lại là đặc điểm mà công chúng và người làm chính sách cần nâng cao nhận thức
về mô hình mới này
Như vậy, ở vị trí ‘trung tâm’, DNXH là mô hình kết hợp hài hòa cả hình thức và nội dung của hai loại hình tổ chức để lấy kinh doanh làm lĩnh vực hoạt động chính, nhưng không vì mục tiêu lợi nhuận mà nhằm giải quyết các vấn đề xã hội cụ thể
Dưới đây là bảng so sánh giữa mô hình DNXH và hai loại hình tổ chức thiện nguyện (NGO) và các doanh nghiệp truyền thống, xét trên những phương diện quan trọng nhất về
cả hình thức và nội dung của một tổ chức kinh tế- xã hội [7, tr.11]
thiện nguyện
truyền thống
Trang 24Hình thức pháp lý NGO, NPO, Quỹ từ
thiện
Các tổ chức hoặc doanh nghiệp
Công ty TNHH, CP, Hợp danh, DNTN
Động cơ Lợi ích xã hội thuần
túy
Mục tiêu xã hội là chủ đạo
Tối đa hóa lợi nhuận
Giải pháp/công cụ Các chương trình
thiện nguyện
Hoạt động kinh doanh
Chiến lược kinh doanh
Hiệu quả Tạo giá trị xã hội Tạo ra cả giá trị xã
hội và kinh tế
Tạo giá trị kinh tế
Nguồn vốn Tài trợ Cả tài trợ lẫn doanh
thu từ hoạt động kinh doanh
Nhà đầu tư xã hội, khách hàng, đối tượng hưởng lợi, cộng đồng
Cổ đông, chủ sở hữu, khách hàng, cộng đồng
Sử dụng lợi
nhuận/nguồn thu
Phục vụ trực tiếp cho các hoạt động xã hội
Tái đầu tư trở lại tổ chức, mở rộng quy
mô hoạt động, phân phối cho cộng đồng
Lợi nhuận và cổ tức chia cho chủ sở hữu
và cổ đông
Ưu thế của DNXH so với NGO
Ở Việt Nam, DNXH thường được so sánh với tổ chức NGO do loại hình tổ chức này được sử dụng phổ biến trong cả văn bản pháp lý và chính sách của nhà nước, đại diện cho toàn bộ khu vực xã hội dân sự và phi lợi nhuận So sánh DNXH trong mối tương quan
Trang 25với tổ chức NGO, dễ dàng nhận thấy DNXH có nhiều ưu thế hơn loại hình tổ chức này Dưới đây là những phân tích cụ thể:
Đầu tiên, xét ở khía cạnh tính độc lập và tự chủ, hầu hết các tổ chức NGO đều phụ
thuộc rất lớn vào nhà tài trợ (cá nhân và tổ chức) về cả sứ mệnh, phương hướng và địa bàn hoạt động bởi bản thân các NGO là những tổ chức hoạt động vì mục tiêu xã hội là chủ yếu; do vậy, họ cần một nguồn lực nhất định để giúp họ triển khai và thực hiện những hoạt động đó Tuy nhiên, cũng có nhiều tổ chức NGO đã xây dựng được “thương hiệu” của riêng mình (chẳng hạn như những đặc trưng về mục tiêu và cách tiếp cận riêng của tổ chức mình), nhưng sự độc lập đó đòi hỏi NGO phải có quy mô hoạt động rộng lớn và số lượng các nhà tài trợ phong phú (ví dụ như World Vision, WWF, Plan International, Oxfam ) [7, tr.13] Khi đó, việc đóng góp của các nhà tài trợ đồng nghĩa với việc chấp thuận lý tưởng và hướng đi đặc thù của mỗi tổ chức NGO này Ngược lại, đa số các tổ chức NGO ở quy mô nhỏ phụ thuộc mọi mặt vào nhà tài trợ, từ mục tiêu, cách thức hoạt động đến lựa chọn dự án, đối tương hưởng lợi Thiếu tính tự chủ, các NGO trở nên bị động và gò bó trong các hoạt động cũng như sáng kiến của mình Việc mở rộng quy mô
dự án không thể thực hiện được nếu nguồn tài trợ không cho phép
So với NGO, mô hình DNXH lại có thể bù đắp điểm yếu nói trên DNXH giúp cải thiện một cách căn bản sự độc lập, tự chủ và tính bền vững cho tổ chức cũng như giải pháp xã hội mà tổ chức đưa ra Do DNXH không chỉ đơn thuần thực hiện việc giải quyết các vấn đề xã hội, mà họ còn phải tìm kiếm những giải pháp kinh doanh hiệu quả, bền vững để có thể đảm bảo thực hiện mục tiêu xã hội đã đề ra Nguồn thu nhập từ hoạt động kinh doanh không những giúp DNXH có thể tái đầu tư, góp phần hỗ trợ những dự án mình đang thực hiện, mà còn cho phép DNXH có vị thế tốt hơn trong quan hệ với các nhà tài trợ Các DNXH có thể theo đuổi các mục tiêu riêng của mình, thực hiện các sáng kiến theo cách của mình Và quan trọng hơn cả, họ có thể mở rộng quy mô đối tượng hưởng lợi, tạo ra nhiều tác động và giá trị xã hội hơn nữa [7, tr.15]
Trang 26Thứ hai, xét ở khía cạnh tính bền vững, các dự án của NGO thường thiếu tính bền
vững ngay trong cách tiếp cận cũng như khả năng có hạn của nguồn lực tài trợ Do các dự
án đều được xây dựng trên một số lượng nguồn lực nhất định, cho một số mục tiêu nhất định và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định nên hiệu quả xã hội mà các giải pháp xã hội của NGO đem lại thường không vượt quá phạm vi và thời hạn của dự án Chẳng hạn như khi dự án LMPA của Đan Mạch hỗ trợ dân nghèo trong khu bảo tồn biển
ở Vịnh Nha Trang hết thời hạn (2006-2011), các đối tượng hưởng lợi đứng trước nguy cơ
bị bỏ lại mà không có trong tay một sinh kế bền vững [7, tr.13] Quan trọng hơn, cách tiếp cận của các NGO thường mang tính “một chiều”, tức là chỉ hỗ trợ đơn thuần chứ không mang đến những công cụ hay phương tiện lao động để khuyến khích sự độc lập, tạo ra sinh kế lâu dài cho những đối tượng hưởng lợi Chính vì vậy, điều này về lâu dài có thể tạo ra thói quen và tâm lý ỷ lại và phụ thuộc vào sự hỗ trợ của nhóm người này [7, tr.13]
Ngược lại, cách tiếp cận của DNXH là luôn hướng đến một giải pháp xã hội bền vững Đối tượng hưởng lợi được đào tạo thành nghề, có được việc làm và một sinh kế bền vững để có thể tự lập [7, tr.15] Các học viên của KOTO nếu tốt nghiệp sau hai năm đào tạo, sẽ được tổ chức Box Hill của Úc cấp bằng, vốn là một chứng chỉ có giá trị đối với các khách sạn, nhà hàng 5 sao trên toàn thế giới (bởi Box Hill là một trong 40 trường dạy nghề TAFE hàng đầu của Úc) Sau khi được đào tạo trong một môi trường nghiêm túc, họ được trang bị những bị những kỹ năng cần thiết để sau này có thể vận dụng những kỹ năng đó vào thực tiễn, tìm kiếm việc làm ổn định [8, tr 28]
Thứ ba, ở khía cạnh tính hiệu quả, như phân tích ở trên, không những đối tượng
hưởng lợi không có động cơ để tự lập, mà ngay cả các NGO trong nhiều trường hợp cũng không có động lực để hướng tới những giải pháp xã hội bền vững Không ít NGO trở thành công cụ giải ngân một cách bị động cho các nguồn tài trợ [7, tr.13] Trên thực tế, các nhóm đối tượng hưởng lợi cũng hiếm khi có cơ hội phản ánh trực tiếp tâm tư nguyện vọng, lợi ích của mình với nhà tài trợ Chính các NGO biến thành một rào cản vô hình giữa nhà tài trợ và đối tượng hưởng lợi Trong những trường hợp này, việc giữ nhóm hay
Trang 27cộng đồng hưởng lợi ở vị trí nguyên trạng (nghèo, khó khăn, cần được hỗ trợ) lại song hành cùng lợi ích của NGO nhằm duy trì các chương trình tài trợ Trong khi đó, không phải nhà tài trợ nào cũng quan tâm sâu sát tới đối tượng hưởng lợi Áp lực giải ngân khiến hiệu quả xã hội nhiều khi bị đẩy xuống hàng thứ hai trong thứ tự ưu tiên của các nhà tài trợ và NGO [7, tr.13]
Xét về hiệu quả hoạt động, là một mô hình kinh doanh nên DNXH luôn tìm cách tối ưu hóa hiệu quả kinh tế ở mức có thể, như các doanh nghiệp truyền thống Đối tượng hưởng lợi đồng thời là người lao động hoặc khách hàng của DNXH, do đó luôn có mối liên hệ trực tiếp và mật thiết giữa họ với sáng lập viên là DNhXH Ngoài ra, thông thường DNXH tự triển khai ý tưởng cũng như tự chịu trách nhiệm trong việc theo dõi và đánh giá
do đó các chi phí trung gian đều được giảm thiểu [7, tr.15]
Cuối cùng, về xu hướng vốn tài trợ dành cho Việt Nam, khi nền kinh tế tăng trưởng
tốt, đưa Việt Nam trở thành nước có mức thu nhập trung bình (năm 2010), cũng là lúc nguồn vốn tài trợ chính thức ODA và tư nhân đều bắt đầu xu hướng giảm [23] Một số quốc gia và tổ chức đã công bố lộ trình rút dần các chương trình tài trợ ra khỏi Việt Nam
để dành cho các khu vực khác có nhu cầu hơn
Ngược lại, với những ưu thế kể trên, trong bối cảnh nguồn tài trợ ngày càng giảm
đi, DNXH hoàn toàn có thể trở thành mô hình lựa chọn chuyển đổi cho các dự án NGO ở Việt Nam Đáng chú ý, sự phát triển DNXH rất phù hợp với xu hướng dịch chuyển mối quan tâm hiện nay của các nhà tài trợ đối với Việt Nam theo hướng áp dụng nguyên tắc thị trường phục vụ phát triển bền vững: ADB với dự án thị trường cho người nghèo (M4P)
và dự kiến quỹ đầu tư cùng người nghèo (IBIF), SNV với mô hình kinh doanh bền vững cùng người nghèo đối với các doanh nghiệp nông nghiệp (inclusive agrifood business),
WB với Ngày sáng tạo Việt Nam (VID), một số nhà tài trợ khác với mô hình tài trợ một phần các sáng kiến/đề xuất dự án vì cộng đồng và có tiềm năng xuất khẩu v.v [7, tr.15]
Trang 281.3.2 DNXH và Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR)
DNXH cũng hay bị nhầm lẫn với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Coperate Social Responsibilities) [24, tr.26] Trên thực tế, đây là hai khái niệm hoàn toàn khác biệt, một là mô hình hoạt động, một là trào lưu, vận động xã hội
Bản chất của trách nhiệm xã hội là ghi nhận sự cam kết tự nguyện của doanh nghiệp thực hiện những chuẩn mực đạo đức và xã hội vì mục tiêu con người và phát triển bền vững, mang tính chất là hoạt động bổ sung của doanh nghiệp, doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội vẫn là các doanh nghiệp thông thường vẫn với mục tiêu và bản chất tìm kiếm lợi nhuận [33, tr.18] Trong khi đó, tôn chỉ, mục đích và toàn bộ hoạt động của DNXH là để giải quyết vấn đề xã hội hay môi trường đã xác định ngay từ khi thành lậpvà được duy trì trong suốt quá trình hoạt động, được thể hiện cụ thể, rõ ràng thông qua cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường, nếu DNXH có sự thay đổi hoặc chấm dứt mục tiêu xã hội thì DNXH phải thông báo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Như vậy, có thể thấy CSR và DNXH là hai khái niệm hoàn toàn độc lập Các doanh nghiệp cam kết CSR vẫn là các doanh nghiệp truyền thống, nói cách khác CSR chỉ làm cho các doanh nghiệp ‘tốt’ lên mà không thay đổi bản chất và mô hình của doanh nghiệp Trong khi đó, DNXH lại là một mô hình hoạt động khác các doanh nghiệp truyền thống
về bản chất [7, tr.16]
Trang 29TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
DNXH đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài Ra đời sớm nhất tại Anh rồi lan rộng sang các quốc gia khác trên thế giới, DNXH đang chứng tỏ là một trong các phương thức giải quyết các vấn đề xã hội một cách bền vững, nhất là trong bối cảnh nguồn lực của Nhà nước để giải quyết các vấn đề xã hội hạn hẹp [23]
Xuất phát từ mục tiêu vì cộng đồng ngay từ khi thành lập doanh nghiệp, DNXH sử dụng hoạt động kinh doanh như một phương pháp, công cụ để thực hiện được mục tiêu
đó DNXH đồng thời cũng phải sử dụng phần lớn lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh để đầu tư trở lại tổ chức, cộng đồng và cho mục tiêu xã hội
Từ những phân tích trên có thể thấy DNXH mang trên mình hai gánh nặng: Một là phải thực hiện mục tiêu xã hội đã được đề ra; Hai là phải tạo ra lợi nhuận để góp phần
hiện thực hóa mục tiêu đó và cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp truyền thống Đây là một thách thức lớn đối với DNXH khi đồng thời phải cân bằng cả hai mục tiêu trên Chính vì vậy, việc xác định rõ vấn đề xã hội cần giải quyết; xây dựng được một đội ngũ quản trị tốt và có được một chiến lược kinh doanh có lợi nhuận và bền vững là một yêu cầu thiết yếu để đảm bảo DNXH thực hiện hiệu quả mục tiêu giải quyết các vấn đề
xã hội Thực tế đã cho thấy có rất nhiều DNXH hiện không chỉ thực hiện tốt các mục tiêu
Trang 30vì cộng đồng, mà còn có sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp truyền thống; và những DNXH này càng ngày chứng minh được vị thế độc lập của mình trên thị trường
Trang 31CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP XÃ HỘI
VÀ TRƯỜNG HỢP CỦA DOANH NGHIỆP XÃ HỘI KOTO
2.1 Vài nét về quá trình phát triển của Doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam
Ở Việt Nam, mặc dù chưa bao giờ được công nhận chính thức, nhưng các hoạt động
sử dụng kinh doanh như một công cụ để phục vụ cho lợi ích cộng đồng, đặc biệt là các cộng đồng yếu thế đã xuất hiện từ khá lâu Một nghiên cứu gần đây của CSIP, Hội đồng Anh và Spark đã phát hiện trong số 167 tổ chức được nhận diện với đầy đủ các đặc điểm của DNXH, tổ chức có lịch sử lâu đời nhất là HTX Nhân Đạo thuộc Hội Người khuyết tật
2.1.1 Trước Đổi mới (1986)
Trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, Nhà nước là chủ thể duy nhất có trách nhiệm đảm bảo các dịch vụ xã hội được phân phối tới người dân Sự hình thành và hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội như Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên luôn đặt dưới
Trang 32sự lãnh đạo của Đảng, gắn chặt với hệ thống quản lý nhà nước (QLNN) và là nơi duy nhất qua đó cá nhân có thể tham gia vào hoạt động cộng đồng Trong thời kỳ này, các loại hình
tổ chức xã hội độc lập với nhà nước như các tổ chức NGO không được phép hoạt động ở Việt Nam Bên cạnh đó, chỉ có kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể được công nhận là hai thành phần kinh tế chủ đạo của đất nước [7, tr.19]
Trong bối cảnh ấy, hợp tác xã (HTX) là hình thức tổ chức kinh tế-xã hội phù hợp duy nhất được thành lập để đáp ứng một số nhu cầu đặc biệt của xã viên theo tinh thần cộng đồng: hợp tác, chia sẻ và cùng hưởng lợi HTX được coi là một tổ chức thuộc sở hữu cộng đồng, đồng thời là một đơn vị kinh tế độc lập [7, tr.19] Chính vì vậy, HTX có thể được coi là mô hình doanh nghiệp xã hội sớm nhất ở Việt Nam Về mặt chính sách, nhà nước cũng có nhiều chính sách khuyến khích sự phát triển của HTX ngay từ những năm đầu xây dựng CNXH ở Miền Bắc Đến năm 1987, số lượng các HTX trên cả nước lên tới gần 74,000, hoạt động trên nhiều lĩnh vực, góp phần đáp ứng nhu cầu cấp thiết của cộng đồng
Trong số các HTX ra đời trong giai đoạn này, một số không nhỏ được thành lập để tạo việc làm, hỗ trợ cuộc sống cho những đối tượng yếu thế của xã hội, chủ yếu là người khuyết tật Hầu hết các HTX của người khuyết tật hoạt động trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, như mây tre, đan thêu, may mặc bởi đây được coi là những việc làm phù hợp với sức khỏe và điều kiện lao động của họ [7, tr.19]
2.1.2 Giai đoạn từ năm 1986 – 2010
Mặc dù DNXH đã manh nha xuất hiện dưới hình thức HTX từ lâu, nhưng các hoat động kinh doanh vì mục tiêu xã hội với đầy đủ các đặc điểm cơ bản của mô hình DNXH chỉ bắt đầu phát triển kể từ khi chính sách Đổi Mới được thực hiện vào năm 1986 Đây là cột mốc đánh dấu sự thừa nhận các thành phần kinh tế mới là kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể tiểu chủ Nhờ đó, vai trò chủ động của cá nhân và
Trang 33cộng đồng trong việc cung cấp và trao đổi các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người dân đã được công nhận và phát triển [7, tr.20]
Chính sách mở cửa cũng dẫn đến sự tăng trưởng ngoạn mục của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và trợ giúp phát triển quốc tế (ODA) [23] Các hoạt động này không những đem lại nguồn vốn lớn phục vụ cho công cuộc phát triển, mà việc giao lưu và chia
sẻ kinh nghiệm và tri thức phát triển xã hội cũng đã mang lại những mô hình và cách làm mới mà Việt Nam có thể tiếp thu Sau khi lệnh cấm vận của Mỹ được dỡ bỏ vào năm
1994, hàng trăm các tổ chức nhân đạo phát triển quốc tế đã vào Việt Nam, mang theo một nguồn viện trợ nhân đạo không hoàn lại và vốn ODA rất lớn Chỉ tính riêng giai đoạn 2005-2010, tổng số vốn ODA cam kết cho Việt Nam là 31 tỷ đô la Mỹ [10]
Đây là giai đoạn nhà nước có nhiều chính sách cởi mở, tạo lập khung khổ pháp lý cho sự phát triển các tổ chức kinh tế và xã hội ngoài nhà nước Nghị định số 71/1998/NĐ-
CP về quy chế dân chủ ở cơ sở và các văn bản pháp qui ra đời năm 1998 lần đầu tiên chính thức khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội và công dân trong quá trình xây dựng, thực hiện và giám sát thực hiện chính sách tại cộng đồng Để thúc đẩy sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng và phát triển cộng đồng, nhà nước đã có những bước đi tích cực thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa các tổ chức khác nhau, đặc biệt thông qua việc tăng cường sức mạnh các tổ chức chính trị xã hội [7, tr.20] Nghị định 35-HĐBT (1992) đã đưa ra một số giải pháp thúc đẩy việc cá nhân thành lập các tổ chức khoa học
và công nghệ Nghị định 177/1999/NĐ-CP và sau đó là Nghị định 148/2007/NĐ-CP đã đưa ra các cơ sở cho việc thành lập các quĩ xã hội, quỹ từ thiện Vai trò của các tổ chức cộng đồng được đặc biệt chú trọng trong việc cung cấp các dịch vụ cơ bản cho cộng đồng như quản lý tài nguyên nước, xóa đói giảm nghèo, chăm sóc y tế ban đầu, giáo dục phổ cập, bảo vệ môi trường Nhà nước đặc biệt chú trọng và khuyến khích sự hợp tác giữa các
tổ chức NGO trong nước, nước ngoài và chính quyền địa phương [10]
Các chính sách trên đã giúp các tổ chức và doanh nghiệp phát triển cộng đồng thực
sự nở rộ Số liệu thống kê cho thấy có tới hơn 1,000 tổ chức NGO, 320 hiệp hội hoạt động
Trang 34cấp quốc gia và 2,150 hội hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện và tự chủ ở trung ương và địa phương Hầu hết tất cả các tổ chức này nhận hỗ trợ tài chính từ các tổ chức NGO quốc
tế và nhà tài trợ để duy trì hoạt động và cung cấp dịch vụ cho cộng đồng Ngoài ra, ở Việt Nam còn có hàng nghìn tổ chức có tính cộng đồng như nhà văn hóa, câu lạc bộ và mảng phụ trách hoạt động kinh doanh thuộc các tổ chức chính trị - xã hội quần chúng (ví dụ: hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, hội người tàn tật, v.v.) và hàng nghìn đơn vị sự nghiệp đang thực hiện chức năng cung cấp phúc lợi xã hội của nhà nước (mang lại các dịch vụ công cộng như quản lý chất thải, nguồn nước, v.v.) Các tổ chức này đều có một số đặc điểm của DNXH và có khả năng chuyển thành DNXH trong tương lai [7, tr.20]
Cùng với quá trình mở cửa và đổi mới toàn diện, nhà nước cũng thực hiện cải cách trong lĩnh vực dịch vụ công theo hướng xã hội hóa, kêu gọi sự đầu tư và tham gia của các thành phần kinh tế, các cá nhân và tập thể vào việc chia sẻ gánh nặng cung cấp các dịch
vụ công, đặc biệt trong lĩnh vực giảm nghèo, giáo dục và chăm sóc y tế Số lượng lớn các
cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa nghệ thuật ngoài công lập ra đời theo định hướng chính sách này đã phần nào giải quyết các vấn đề xã hội và đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân Nhìn chung, giai đoạn đổi mới là mảnh đất màu mỡ cho sự phát triển của các doanh nghiệp và tổ chức xã hội ngoài nhà nước, trong đó có DNXH Tuy nhiên, sự tách biệt hai lĩnh vực hoạt động kinh tế và xã hội cả trong tư duy lẫn hoạt động thực tế đã hạn chế sự
ra đời của mô hình hỗn hợp như DNXH Khi nói đến doanh nghiệp người ta chỉ nói đến lợi nhuận tài chính thuần túy, còn các hoạt động cộng đồng của doanh nghiệp thường chỉ mang dấu ấn cá nhân và được hiểu với ý nghĩa từ thiện đơn thuần Trong khi đó, các tổ chức xã hội thường được xếp cùng loại với các tổ chức từ thiện nhân đạo, dựa vào nguồn lực huy động từ các nhà hảo tâm bên ngoài điều này không những kìm hãm nãng lực sáng kiến xã hội mà khiến cho các DNhXH có rất ít sự lựa chọn: hoặc hoạt động như tổ chức
xã hội từ thiện, hoặc như một doanh nghiệp thông thường Trong bối cảnh nguồn tài trợ bên ngoài cho các hoạt động phát triển cộng đồng, xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam khá dồi dào, đa phần các tổ chức lựa chọn hình thức hoạt động là các tổ chức NGO Chỉ có
Trang 35một số không lớn các tổ chức, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, đã dũng cảm quyết định
đi lên bằng chính nguồn lực của mình Họ tin tưởng vào sự bền vững và hiệu quả của việc
áp dụng mô hình kinh doanh để giải quyết vấn đề xã hội và giúp đỡ cộng đồng [7, tr.21] Giai đoạn này đã xuất hiện những DNXH khá điển hình, hoạt động dưới nhiều hình thức đa dạng như Trường Hoa Sữa, Nhà hàng KOTO tại Hà Nội, Công ty TNHH Mai Handicrafts tại TP Hồ Chí Minh
Tuy chưa nở rộ về số lượng và chưa phát huy được hết tiềm năng của mình, sự tồn tại và phát triển của các DNXH tiêu biểu này trong hơn 10 năm qua đã minh chứng cho khả năng kết hợp thành công mô hình kinh doanh vì mục tiêu phát triển xã hội, xóa bỏ hố sâu ngăn cách giữa hai khu vực kinh tế và xã hội, mở ra một khu vực thứ ba cho các DNXH
2.1.3 Từ 2010 – nay
Việc Việt Nam bắt đầu bước vào ngưỡng nước có thu nhập trung bình thấp là một
cơ hội phát triển mới cho dân tộc Điều đó có nghĩa nguồn vốn trong nền kinh tế Việt Nam
đã dồi dào và chủ động hơn trước, tình trạng nghèo đói đã được cải thiện đáng kể trong
số đông dân cư Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến việc thay đổi chính sách hỗ trợ nhân đạo và phát triển xã hội của các quốc gia và tổ chức quốc tế tại Việt Nam Chúng ta đã chứng kiến sự ra đi của một số tổ chức phát triển song phương như SIDA, Ford Foundation; hoặc việc giảm dần nguồn tài trợ ODA từ Việt Nam để chuyển sang các nước nghèo hơn [7, tr.20] Nếu chúng ta tiếp tục phụ thuộc vào các nguồn vốn viện trợ bên ngoài, Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ thiếu hụt vốn nghiêm trọng cho các hoạt động phát triển cộng đồng trong thời gian tới Trong khi đó, việc huy động tài trợ và vốn
từ cộng đồng ở Việt Nam còn khá hạn chế Một nghiên cứu gần đây của Quĩ Châu Á (2011) về đóng góp từ thiện ở Việt Nam cho thấy tiềm lực đóng góp của người dân và doanh nghiệp khá lớn, tuy nhiên do thiếu những kênh từ thiện chính thức và thiếu những
Trang 36chính sách phù hợp, đa phần hoạt động từ thiện có tính tự phát, qui mô nhỏ và phạm vi hạn chế trong cộng đồng nhỏ [7, tr.21].Thiếu nguồn vốn cho hoạt động là một áp lực lớn tới hàng ngàn tổ chức NGO Việt Nam và các dự án phát triển cộng đồng trong thời gian không xa
Trong bối cảnh đó, Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phục vụ Cộng đồng (CSIP) cùng các đối tác như Hội đồng Anh (British Council), Trung tâm Spark đã tích cực tuyên truyền, giới thiệu DNXH như một hướng giải quyết mới, một mô hình tổ chức thay thế phù hợp với bối cảnh chuyển đổi hiện nay [8, tr.18] Thế mạnh của DNXH là áp dụng mô hình kinh doanh dựa trên những nguyên tắc và động lực của thị trường để giải quyết chính những thất bại của thị trường và các vấn đề xã hội Nói cách khác, DNXH giải quyết được
cả hai mục đích xã hội và kinh tế, trong đó mục tiêu xã hội là mục tiêu chủ đạo, đạt được mục tiêu kinh tế là phương tiện để đạt được mục tiêu xã hội ở qui mô lớn hơn một cách bền vững [7, tr.21]
Đặc biệt, Luật Doanh nghiệp sửa đổi ban hành tháng 11/2014 đã mở ra một chương mới cho cộng đồng doanh nghiệp Việt khi lần đầu tiên khai sinh khái niệm DNXH trong
hệ thống pháp lý
2.2 Pháp luật Việt Nam về Doanh nghiệp xã hội
DNXH là một thuật ngữ pháp lý mới xuất hiện ở Việt Nam và trong thời gian gần đây thì DNXH đang nhận được sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách, cũng như các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý Hiện nay, địa vị pháp lý của DNXH được quy định tại Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Nghị định số 96/2015/NĐ-CP Nhìn chung hành lang pháp lý về DNXH ở nước ta còn rất sơ khai và cần được tiếp tục hoàn thiện
2.2.1 Định nghĩa Doanh nghiệp xã hội theo Luật Doanh nghiệp 2014
Trang 37Luật Doanh nghiệp năm 2014 không đưa ra định nghĩa về DNXH nhưng có các tiêu chí để xác định DNXH tại Điều 10
“1 Doanh nghiệp xã hội phải đáp ứng các tiêu chí sau đây:
a) Là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật này;
b) Mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng;
c) Sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm của doanh nghiệp để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký.”
Từ quy định này, chúng ta có thể hiểu, DNXH phải đảm bảo các tiêu chí sau:
DNXH là doanh nghiệp được đăng ký thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014
Thông qua quy định này, có thể thấy Luật Doanh nghiệp năm 2014 không coi DNXH là một loại hình doanh nghiệp đặc thù mà cũng giống như doanh nghiệp thông thường DNXH vẫn tổ chức và hoạt động theo một trong các loại hình doanh nghiệp: Công
ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân
Vì cũng là một doanh nghiệp nên để thành lập DNXH, DNhXH phải thực hiện các thủ tục pháp lý thông thường để thành lập một doanh nghiệp trong số các loại hình doanh nghiệp đã được Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định Tiêu chí này thể hiện một trong những đặc điểm cơ bản của DNXH, tương tự doanh nghiệp thông thường, đó là có hoạt động kinh doanh Theo đó, kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch
vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Từ định nghĩa doanh nghiệp, kinh doanh của pháp luật doanh nghiệp và theo quan niệm truyền thống trong khoa học pháp lý ở nước ta, chính yếu tố “nhằm mục đích sinh lợi” là yếu tố căn bản, quyết định đến sự ra đời và hoạt động của doanh nghiệp, “một thuộc tính không thể tách rời của doanh nghiệp” [27, tr.26]
và là “đích cuối cùng của các nhà kinh doanh [26, tr.29] Từ đó có thể hiểu, mục đích chính khi thành lập doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận cho các nhà đầu tư vào doanh nghiệp,
Trang 38còn việc giải quyết các vấn đề xã hội vì lợi ích của cộng đồng không phải là mục tiêu chủ yếu của kinh doanh Vì thế mà có quan điểm cho rằng, định nghĩa kinh doanh ở nước ta quá nhấn mạnh chủ nghĩa duy lợi, người soạn luật đã không khái quát được những doanh nghiệp không vì mục đích tìm kiếm lợi nhuận [4, tr.29]
Hiện nay, thủ tục thành lập DNXH được quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014
và Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp (Nghị định số 96/2015/NĐ-CP) Giống như mọi doanh nghiệp khác, DNXH cũng có tên riêng của mình Dựa trên các chuẩn mực về tên doanh nghiệp được pháp luật quy định, doanh nhân xã hội sẽ chủ động quyết định đặt tên cho DNXH Theo các quy định từ Điều 38 đến Điều 42 Luật Doanh nghiệp năm 2014, thì không có quy định riêng trong việc đặt tên cho DNXH Theo khoản 2 Điều 4 Nghị định
số 96/2015/NĐ-CP thì có thể bổ sung thêm cụm từ “xã hội” vào tên riêng của DNXH [29] Quy định có thể bổ sung thêm cụm từ “xã hội” vào tên riêng của DNXH là một quy phạm tùy nghi, do người thành lập DNXH tự quyết định Tuy nhiên, cả Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định cấm hay hạn chế các nhà đầu tư sử dụng cụm từ “doanh nghiệp xã hội” hay từ viết tắt “DNXH” trong tên của doanh nghiệp thông thường Hệ quả là thực tế có thể sẽ tồn tại những nhà đầu tư lợi dụng các cụm từ này trong việc đặt tên cho doanh nghiệp của mình để Nhà nước, công chúng và đối tác nhầm lẫn về chủ thể nhằm kinh doanh không lành mạnh [16]
DNXH có mục tiêu hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường vì lợi ích cộng đồng
Các vấn đề xã hội, môi trường và cộng đồng có thể kế đến như bảo vệ môi trường, bảo vệ và đáp ứng các quyền cơ bản của con người thông qua các hoạt động tạo công ăn việc làm cho những nhóm người khó hòa nhập, dễ bị tổn thương, cung cấp các dịch vụ y
tế, giáo dục, cung cấp nước sạch, xử lý rác thải, ô nhiễm… Chính các mục tiêu xã hội này trở thành động lực thôi thúc các DNhXH thành lập DNXH và sử dụng phương án kinh
Trang 39doanh để giải quyết các vấn đề xã hội [7, tr.9] Về mặt pháp lý, khoản 1 Điều 5 Nghị định
số 96/2015/NĐ-CP quy định DNXH phải thông báo cam kết thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường cho cơ quan đăng ký kinh doanh, để công khai trên Cổng thông tin quốc gia
về đăng ký doanh nghiệp khi thành lập doanh nghiệp hoặc trong quá trình hoạt động [16] Thông qua hành vi pháp lý này, một doanh nghiệp thông thường sẽ khoác lên mình chiếc
áo DNXH, từ đó Nhà nước và xã hội có thể nhận biết được địa vị pháp lý của DNXH, kèm theo đó là các quyền và nghĩa vụ của DNXH
Tiêu chí này góp phần giúp chúng ta có cơ sở để phân biệt DNXH với các doanh nghiệp thông thường khác Nếu các doanh nghiệp truyền thống sử dụng việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng hay tìm đến các giải pháp xã hội như một công cụ nhằm đạt được lợi nhuận cho chủ sở hữu của doanh nghiệp, thì ngược lại DNXH sử dụng hình thức kinh doanh như một công cụ để đạt được các mục tiêu xã hội của mình [22] Như vậy, doanh nghiệp thông thường và DNXH là các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường, nghĩa là phải có doanh thu và lợi nhuận, tuy nhiên chúng khác nhau về bản chất và đích đến, cho nên có quan điểm cho rằng: “DNXH có thể có lợi nhuận, thậm chí cần lợi nhuận
để phục vụ mục tiêu xã hội nhưng không “vì lợi nhuận” mà “vì xã hội”” [13, tr.50]
DNXH sử dụng phần lớn lợi nhuận để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường
DNXH khi hoạt động kinh doanh phát sinh lợi nhuận không phân phối như các doanh nghiệp thông thường Lợi nhuận mà doanh nghiệp có được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh được dùng để tái đầu tư vào doanh nghiệp với mục tiêu giải quyết các vấn đề
xã hội mà DNXH đang theo đuổi Tiêu chí sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư phục vụ các mục tiêu xã hội là điểm phân biệt DNXH với các doanh nghiệp thông thường, thể hiện rõ nét tiêu chí “vì xã hội” [7, tr.10] Theo điểm c khoản 1 Điều 10 Luật Doanh nghiệp năm
2014, thì DNXH phải sử dụng ít nhất 51% tổng lợi nhuận hằng năm để tái đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu xã hội, môi trường như đã đăng ký Con số 51% là nhằm mục đích tạo
Trang 40điều kiện, cơ hội cho DNXH huy động vốn kinh doanh từ các nhà đầu tư, thành viên, cổ đông khác bằng việc bảo đảm có phần cổ tức nhất định cho các nhà đầu tư này, qua đó góp phần phát triển bền vững cho DNXH [29] Tiêu chí này góp phần định lượng rõ ràng,
cụ thể mục tiêu vì xã hội của DNXH
Mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội, môi trường và đem lại lợi ích cho cộng đồng
là sứ mệnh cao cả của DNXH, đã làm cho DNXH khác hẳn với các doanh nghiệp thông thường và cũng không giống với các tổ chức từ thiện DNXH mang đặc tính “lai” giữa doanh nghiệp thông thường và các tổ chức từ thiện [3, tr.10] Một bên là các doanh nghiệp hoạt động vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận tài chính, còn một bên là các tổ chức phi Chính phủ được thành lập nhằm theo đuổi lợi ích xã hội thuần túy Vì vậy, DNXH là mô hình kết hợp hài hòa cả hình thức và nội dung của hai chủ thể này để lấy kinh doanh làm lĩnh vực hoạt động chính, nhưng không vì mục tiêu lợi nhuận mà nhằm giải quyết các vấn đề
xã hội cụ thể, vì thế mà phần lớn lợi nhuận được dùng để phục vụ cho xã hội, môi trường Ngoài ra, DNXH cũng có một số nét tương đồng với các doanh nghiệp công ích, cả hai đều hướng tới mục tiêu phục vụ nhu cầu của xã hội, có thể đều cung cấp sản phẩm là các dịch vụ mang tính chất phục vụ lợi ích chung của xã hội như cung cấp nước sạch, dọn rác thải, bảo vệ môi trường [24, tr.26] Ở một chừng mực nhất định, các doanh nghiệp này có thể được xếp chung vào nhóm doanh nghiệp có cùng mục đích hoạt động chủ yếu [27, tr.31] Tuy nhiên, về bản chất DNXH được thành lập tự nguyện bởi các doanh nhân
xã hội, DNXH mang tính ổn định, nhất quán, được quyết định bởi mục tiêu xã hội, không phụ thuộc vào tính chất của sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp Trong khi đó, doanh nghiệp công ích được Nhà nước thành lập nên để sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích theo phương thức giao nhiệm vụ và được hưởng các ưu đãi đặc biệt [24, tr.26]
2.2.2 Quyền và nghĩa vụ của Doanh nghiệp xã hội