1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn cho dự án đầu tư kinh doanh bất động sản của công ty tnhh thương mại dịch vụ khách sạn tân hoàng minh

87 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn cho dự án đầu tư kinh doanh bất động sản của công ty Tnhh thương mại dịch vụ khách sạn Tân Hoàng Minh
Tác giả Nguyễn Thu Hiền
Người hướng dẫn TS Nguyễn Minh Hằng
Trường học Trường Đại học Ngoại thương
Chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 2,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CHO DỰ ÁN ĐẦU TƯ KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN CỦA CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CHO DỰ ÁN ĐẦU TƯ KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN CỦA CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ KHÁCH SẠN TÂN HOÀNG MINH

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

NGUYỄN THU HIỀN

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng

Họ và tên: Nguyễn Thu Hiền NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN MINH HẰNG

Hà Nội - 2017

Trang 3

Tôi xin cam đoan đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn cho

dự án đầu tư kinh doanh bất động sản của Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Khách sạn Tân Hoàng Minh” là đề tài nghiên cứu độc lập của riêng tôi, được đưa

ra dựa trên cơ sở tìm hiểu, phân tích và đánh giá các số liệu tại Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Khách sạn Tân Hoàng Minh Các số liệu là trung thực và chưa được công bố tại các công trình nghiên cứu có nội dung tương đồng nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thu Hiền

Trang 4

Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ các cơ quan, tổ chức và cá nhân Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm

ơn sâu sắc lòng biết ơn chân thành đến các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện và giúp

đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Ngoại thương, Phòng Đào tạo và Khoa Sau đại học của trường cùng tập thể các thầy cô giáo, những người đã trang bị kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Minh Hằng, người đã trược tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp tại Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Khách sạn Tân Hoàng Minh đã giúp đỡ tôi thu thập thông tin

và tổng hợp số liệu trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này

Xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ

và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi có thể hoàn thiện luận nghiên cứu này

Do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn chế, luận văn được hoàn thiện không thể tránh khỏi những sơ suất thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến của các thầy cô giáo cùng các bạn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thu Hiền

Trang 5

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ vii

DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ HÌNH VẼ viii

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu luận văn 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP VÀ HUY ĐỘNG VỐN CHO DỰ ÁN ĐẦU TƯ KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN 4

1 1 Vốn và các nguyên tắc huy động vốn 4

1.1.1 Vốn của doanh nghiệp 4

1.1.2 Các nguyên tắc huy động vốn 8

1.2 Các hình thức huy động vốn phổ biến 9

1.2.1 Huy động vốn Nợ phải trả 12

1.2.2 Huy động vốn chủ sở hữu 23

1.3 Quy trình huy động vốn 24

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn 25

1.4.1 Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp 25

1.4.2 Các yếu tố bên trong doanh nghiệp 26

1.5 Những tiêu chí đánh giả hiệu quả huy động vốn 28

1.5.1 Sự tăng trưởng ổn định về số lượng và thời gian 28

1.5.2 Lượng vốn huy động của doanh nghiệp có đáp ứng được hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 29

1.5.3 Lãi suất huy động 29

1.5.4 Rủi ro nguồn vốn doanh nghiệp huy động 29

Trang 6

1.6 Huy động vốn cho dự án đầu tư kinh doanh bất động sản 31

1.6.1 Dự án đầu tư kinh doanh bất động sản - các khái niệm và văn bản pháp lý liên quan 31

1.6.2 Một số hạn chế về huy động vốn cho dự án đầu tư kinh doanh bất động sản ở Việt Nam hiện nay 35

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CHO CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN CỦA CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ KHÁCH SẠN TÂN HOÀNG MINH 37

2.1 Tổng quan về công ty TNHH Thương mại dịch vụ khách sạn Tân Hoàng Minh 37

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 37

2.1.2 Cơ cấu tổ chức Công ty 40

2.1.3 Tình hình tài chính của Công ty 40

2.1.4 Các dự án bất động sản đang phát triển 44

2.2 Các hình thức huy động vốn công ty đang sử dụng 46

2.2.1 Tín dụng ngân hàng 47

2.2.2 Tín dụng thương mại 48

2.2.3 Các nguồn nợ phải trả khác 49

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn 50

2.3.1 Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp 50

2.4 Phân tích đánh giá tình hình huy động vốn của 2 dự án Hoàng Cầu, Nguyễn Văn Huyên 54

2.4.1 Thực trạng hoạt động huy động vốn của hai dự án D’.Le Pont D’ or Hoàng Cầu, D’ Palais De Louis Nguyễn Văn Huyên 54

2.4.2 Đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn cho hai dự án D’.Le Pont D’ or Hoàng Cầu, D’Palais De Louis Nguyễn Văn Huyên của công ty Tân Hoàng Minh 58

2.5 Nhận xét về hoạt động huy động vốn của công ty 63

2.5.1 Điểm mạnh 63

2.5.2 Điểm yếu 64

2.5.3 Nguyên nhân 65

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CHO CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ KHÁCH SẠN 66

TÂN HOÀNG MINH 66

Trang 7

doanh bất động sản của Công ty trong thời gian tới 66

3.1.1 Định hướng phát triển hoạt động huy động vốn 66

3.1.2 Mục tiêu phát triển hoạt động huy động vốn 66

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn cho dự án đầu tư kinh doanh bất động sản của Công ty trong thời gian tới 67

3.2.1 Kế hoạch huy động vốn, trả nợ hiệu quả 68

3.2.2 Đầu tư bằng vốn chủ sở hữu 69

3.2.3 Huy động vốn từ khách hàng 70

3.2.4 Huy động tín dụng ngân hàng 71

3.2.5 Huy động tín dụng thương mại từ nhà cung cấp 72

3.2.6 Phát hành trái phiếu dự án 72

3.2.7 Huy động vốn từ các nhà đầu tư nước ngoài, vốn hợp tác kinh doanh 72

3.2.8 Chứng khoán hóa các dự án bất động sản 73

3.2.9 Hình thành quỹ đầu tư tín thác cho thị trường bất động sản 74

3.2.10 Các phương thức khác 74

KẾT LUẬN 75

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 8

Từ viết tắt Tiếng Việt

BĐS Bất động sản

CĐT Chủ đầu tư

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investmnet FTA Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreement) GDP Tổng sản phẩm quốc nội

IRR Suất hoàn vốn nội bộ (Internal Rate of Return)

NPV Giá trị hiện tại ròng (Net Present Value)

QLDN Quản lý doanh nghiệp

ROA Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (Return on Asset)

ROE Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity) TNHH Trách nhiệm hữu hạn

WTO Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organnization)

Trang 9

Bảng 1.1 Những đặc điểm của Nợ phải trả và Vốn cổ phần 10

Bảng 1.2 Những khác biệt chủ yếu giữa nguồn Nợ ngắn hạn và dài hạn 11

Bảng 2.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Thương mại dịch vụ khách sạn Tân Hoàng Minh giai đoạn 2013-2016 41

Bảng 2.2 Tình hình tài sản của Công ty TNHH Thương mại dịch vụ khách sạn Tân Hoàng Minh giai đoạn 2013-2016 42

Biểu đồ 2.1 Cơ cấu tài sản của Công ty TNHH Thương mại dịch vụ khách sạn Tân Hoàng Minh giai đoạn 2013-2016 42

Bảng 2.3: Bảng cơ cấu nguồn vốn của Công ty TNHH Thương mại dịch vụ khách sạn Tân Hoàng Minh giai đoạn 2013-2016 43

Biểu đồ 2.2 Cơ cấu nguồn vốn của Công ty TNHH Thương mại dịch vụ khách sạn Tân Hoàng Minh giai đoạn 2013-2016 43

Bảng 2.4: Các nguồn tín dụng ngân hàng của Công ty Tân Hoàng Minh 47

từ năm 2013-2016 47

Bảng 2.5 Các nguồn tín dụng thương mại của Công ty Tân Hoàng Minh từ năm 2013-2016 48

Bảng 2.6 Các nguồn nợ phải trả khác của Công ty Tân Hoàng Minh 49

từ năm 2013-2016 49

Biểu đồ 2.3: Tổng thu nhập quốc dân GDP Việt Nam từ năm 2012 - 2016 50

Biểu đồ 2.4: GPP bình quân của Việt Nam từ năm 2012 – 2016 51

Bảng 2.7: Nhu cầu vốn đầu tư của dự án D’ Le Pont D’ or Hoàng Cầu 54

Bảng 2.8 Tiến độ huy động vốn cho Dự án D’ Le Pont D’ or Hoàng Cầu 55

Bảng 2.9 Nhu cầu vốn đầu tư dự án D’ Palais De Louis Nguyễn Văn Huyên, Cầu Giấy, Hà Nội 56

Bảng 2.10 Tiến độ huy động vốn cho dự án chung cư cao cấp D’Palais De Louis – Nguyễn Văn Huyên – Cầu Giấy – Hà Nội 57

Bảng 2.11: Sự tăng trưởng vốn huy động cho hai dự án Hoàng Cầu và Nguyễn Văn Huyên của Công ty Tân Hoàng Minh từ năm 2013 – 2016 58

Bảng 2.12 Chỉ số thanh toán ngắn hạn của Công ty Tân Hoàng Minh từ năm 2013 – 2016 60

Bảng 2.13 Khả năng thanh toán nhanh của Công ty TNHH Thương mại dịch vụ khách sạn Tân Hoàng Minh giai đoạn 2013-2016 61

Bảng 2.14 Khả năng thanh toán nhanh của Công ty TNHH Thương mại dịch vụ khách sạn Tân Hoàng Minh giai đoạn 2013-2016 62

Trang 10

Trang

Sơ đồ 1.1: Các nguồn vốn của doanh nghiệp 10

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức Công ty TNHH Thương mại dịch vụ khách sạn Tân Hoàng Minh 40

Trang 11

Đề tài “Nâng cao hiệu quả huy động vốn cho dự án đầu tư kinh doanh bất động sản của Công ty TNHH Thương mại dịch vụ khách sạn Tân Hoàng Minh” được thực hiện nhằm giúp doanh nghiệp có giải pháp huy động vốn từ những nguồn phù hợp với một chi phí vốn chấp nhận

Đề tài có cấu trúc 3 chương Chương một giới thiệu về lý thuyết tổng quan

về huy động vốn dự án đầu tư kinh doanh bất động sản với những nội dung cơ bản sau: các nguyên tắc huy động vốn, hình thức huy động vốn, nguồn vốn và các nhân

tố tác động đến huy động vốn Trong chương hai, đề tài tìm hiểu thực trạng hiệu quả huy động vốn các dự án đầu tư kinh doanh bất động sản của Công ty TNHH Tân Hoàng Minh, đánh giá cách huy động vốn, xem xét các điểm mạnh và điểm yếu của Công ty

Sau khi phân tích chương 2 và phân tích nhu cầu vốn của các dự án tại Tân Hoàng Minh thì thấy rằng hoạt động huy động vốn cho các dự án đầu tư BĐS của công ty hiện tại khá tốt Tuy nhiên, có một vài điểm mất cân đối trong dòng tiền thanh toán và nguồn vốn huy động chủ yếu phụ thuộc vào ngân hàng

Từ nghiên cứu lý thuyết chương 1, phân tích thực trạng Công ty ở chương 2, tại chương 3 tác giả đưa được một số giải pháp huy động vốn để nâng cao hiệu quả huy động vốn cho các dự án đầu tư kinh doanh BĐS của Công ty Những giải phải huy động vốn được đưa ra là: Tận dụng chính sách huy động vốn từ khách hàng, tái

cơ cấu, chuyên nghiệp hóa hoạt động tài chính để công ty có cơ hội tiếp cận với nhiều nguồn vốn khác như vốn đầu tư nước ngoài, hợp tác kinh doanh, phát hành trái phiếu hay cổ phần hóa để huy động vốn bằng cách niêm yết công ty trên sàn chứng khoán

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình hoạt động kinh doanh, vốn trở thành nguồn lực rất cần thiết cho các doanh nghiệp ở mọi lĩnh vực, việc huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực này là yếu tố quyết định cho sự hưng thịnh hay suy vong của doanh nghiệp

Muốn thành công trong kinh doanh, trước hết doanh nghiệp phải dám đương đầu với một thử thách huy động nguồn vốn cơ bản cho Công ty Huy động vốn sao cho hiệu quả là một bài toán mà các doanh nghiệp phải luôn luôn tìm cách giải quyết Doanh nghiệp muốn phồn thịnh và phát triển thì phải có những phương pháp huy động vốn hiệu quả

Những năm qua, BĐS đang là lĩnh vực kinh doanh hấp dẫn, thu hút được nhiều vốn đầu tư của doanh nghiệp trong và ngoài nước Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, các doanh nghiệp kinh doanh BĐS đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn do hậu quả của một số sai lầm trong chính sách vĩ mô những năm trước đây, dẫn đến lạm phát cao, tăng trưởng chậm lại, tín dụng thắt chặt, thị trường chứng khoán bất ổn, thị trường bất động sản trầm lắng… điều đó tác động trực tiếp đến các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực BĐS, đặc biệt là các doanh nghiệp trong nước yếu vốn

Vậy tìm đâu ra nguồn vốn và làm thế nào để giải bài toán về vốn một cách hiệu quả nhất? Câu hỏi đó luôn luôn làm đau đầu cho các nhà đầu tư trong lĩnh vực BĐS Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Khách sạn Tân Hoàng Minh cũng là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực BĐS, vì thế những nhà quản trị mà đặc biệt là quản trị tài chính của doanh nghiệp cũng rất đau đầu với những dự án lớn mới cần nguồn vốn lớn để hoạt động

Hiện nay Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Khách sạn Tân Hoàng Minh

có các dự án như: Dự án toàn nhà văn phòng cho thuê 290 Nam Kỳ Khởi Nghĩa; Dự

án Song Hồ Apartment; Dự án đầu tư xây dựng chung cư cao cấp D’ Palais De Louis; Dự án D’ Le Pont D’ or; Dự án D’ Le Roi Soleil; Dự án D’ Eldorado Phú Thượng; Dự án D’ Eldorado Phú Thanh; Dự án 94 Lò Đúc;v.v…

Trang 13

Với mục đích nghiên cứu, phân tích tình hình tài chính và đề xuất các giải pháp huy động vốn thực hiện các dự án bất động sản của Công ty, tôi quyết định

chọn đề tài: “ Nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn cho các dự án bất động

sản của Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Khách sạn Tân Hoàng Minh”

2 Tình hình nghiên cứu

Hiện nay, đã có những đề tài nghiên cứu về vấn đề huy động vốn của doanh nghiệp, của ngân hàng Cụ thể như:

1 Luận văn thạc sĩ Khoa Quản Trị Kinh Doanh, Đại học Kinh Tế Quốc

Dân, 2013 đề tài “Huy động vốn cho các dự án bất động sản của Công ty

Cổ Phần Thanh Bình Hà Hội” Tác giả: Trương Tuấn Anh

2 Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Thương mại, Đại học Ngoại thương,

2010, đề tài “Giải pháp tăng cường huy động vốn tại ngân hàng thương

mại cổ phần ngoại thương Việt Nam” Tác giả: Nguyễn Thị Lan Phương

3 Luận văn thạc sĩ Khoa Tài chính ngân hàng, Đại học Kinh Tế Quốc Dân,

2014, đề tài “Nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ

phần Quân đội – chi nhánh Tây Hồ Hà Nội” Tác giả: Trương Thị Hài Yến

Cũng đã có một số đề tài nghiên cứu về vấn đề huy động vốn cho dự án đầu

tư kinh doanh bất động sản, nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu về hiệu quả hoạt động huy động vốn cho dự án đầu tư kinh doanh bất động sản của Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Khách sạn Tân Hoàng Minh

3 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn để tài trợ cho các dự án đầu tư kinh doanh bất động sản của Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Khách sạn Tân Hoàng Minh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các dự án bất động sản của Công ty

TNHH Thương mại Dịch vụ Khách sạn Tân Hoàng Minh và các hình thức huy động vốn đang được sử dụng cho các dự án này

Trang 14

Phạm vi nghiên cứu: các dự án bất động sản Công ty TNHH Thương mại

Dịch vụ Khách sạn Tân Hoàng Minh đang đầu tư trong giai đoạn 2013-2016

5 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài, học viên sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp phân tích, tổng hợp, nghiên cứu điển hình, thống kê, so sánh

5 Kết cấu luận văn

Trong luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn chia làm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về huy động vốn của doanh nghiệp và huy động vốn cho dự án đầu tư kinh doanh bất động sản

Chương 2: Thực trạng huy động vốn cho dự án kinh doanh bất động sản của Công ty TNHH Thương mại dịch vụ khách sạn Tân Hoàng Minh

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn cho các dự

án bất động sản của Công ty TNHH Thương mại dịch vụ khách sạn Tân Hoàng Minh

Trang 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP VÀ HUY ĐỘNG VỐN CHO DỰ ÁN ĐẦU TƯ KINH DOANH

BẤT ĐỘNG SẢN

1 1 Vốn và các nguyên tắc huy động vốn

1.1.1 Vốn của doanh nghiệp

Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần phải có các tài sản nhất định Biểu hiện hình thái giá trị của các tài sản đó chính là vốn của doanh nghiệp Vì vậy, điều đầu tiên doanh nghiệp cần phải có là một lượng vốn nhất định Chỉ khi nào có vốn doanh nghiệp mới có thể đầu tư các yếu tố đầu vào để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh

Trên thực tế, có rất nhiều định nghĩa về vốn của doanh nghiệp Theo David Begg, Standley Fischer, Rudige Darnbusch trong cuốn “Kinh tế học vĩ mô”: “Vốn

là một loại hàng hoá nhưng được sử dụng tiếp tục vào quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo Có hai loại vốn là vốn hiện vật và vốn tài chính Vốn hiện vật là dự trữ các loại hàng hoá đã sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ khác Vốn tài chính là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng Đất đai không được coi là vốn.” (David Begg, Standley

Fischer, Rudige Darnbusch, Kinh tế học vĩ mô, Nhà xuất bản Thống kê, 2008)

Trong cuốn Từ điển Longman rút gọn về tiếng Anh kinh doanh, vốn được định nghĩa:

“Vốn là tài sản tích luỹ được sử dụng vào sản xuất nhằm tạo ra lợi ích lớn hơn; đó là một trong các yếu tố của quá trình sản xuất (các yếu tố khác là đất đai và lao động) Trong kinh doanh, vốn được coi là giá trị của tài sản hữu hình được tính bằng tiền, nghĩa là tài sản dưới dạng không phải bằng tiền như nhà xưởng, máy móc thiết bị, dự trữ nguyên vật liệu”

Các quan niệm đã nêu về vốn đều phản ánh được khía cạnh nào đó liên quan đến nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, tuy nhiên, các khái niệm đó được trình bày dưới các góc nhìn khác nhau và mục tiêu nghiên cứu khác nhau, vì vậy chưa thể hiện một cách nhìn tổng thể về vốn của doanh nghiệp

Trang 16

Vốn của doanh nghiệp còn có thể được hiểu theo nghĩa hẹp là số tiền và tài sản hữu hình khác, doanh nghiệp có được nguồn tài chính của chính mình, tức là không tính đến nguồn tài chính doanh nghiệp có được nhờ đi vay Tuy nhiên, trên thực tế, người ta thường dùng vốn theo nghĩa rộng để chỉ toàn bộ nguồn lực tài

chính của doanh nghiệp, không phân biệt nguồn huy động

Trong rất nhiều các khái niệm về vốn, khái niệm được chấp nhận rộng rãi

nhất là: “Vốn của doanh nghiệp là biểu hiện dưới hình thái giá trị của toàn bộ tài

sản hữu hình và tài sản vô hình được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận” (PGS.TS Vũ Duy Hào, PGS.TS Đàm Văn Huệ, Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản Giao thông vận tại, 2009)

Vốn của doanh nghiệp có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau Với mỗi tiêu thức, vốn sẽ được nhìn nhận và xem xét dưới mỗi góc độ khác nhau,

từ đó thấy được các hình thái vận động của vốn, đặc tính của vốn để sử dụng vốn có hiệu quả

Căn cứ theo đặc điểm luân chuyển của vốn: chia làm 2 loại: vốn cố định và

vốn lưu động

Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh,

là khoản đầu tư ứng trước hình thành nên tài sản cố định của doanh nghiệp Vì vậy quy mô vốn cố định nhiều hay ít sẽ quyết định đến quy mô của tài sản cố định Vốn

cố định ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang bị kỹ thuật vật chất và công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Vốn lưu động: Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiển toàn bộ tài sản lưu động

nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra thường xuyên liên tục Tài sản lưu động có đặc điểm gồm nhiều loại tồn tại ở nhiều khâu của quá trình sản xuất kinh doanh và biến động rất nhanh, do đó việc quản lý và sử dụng tài sản lưu động ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Vốn lưu động gắn chặt với từng bước thực hiện của hoạt động sản xuất kinh doanh, như vậy để sử dụng vốn lưu động có hiệu quả thì phải căn cứ vào thực tế

Trang 17

hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp để xây dựng một cơ cấu vốn hợp lý, tránh tình trạng ứ đọng vốn, hay thiếu vốn

Căn cứ theo quan hệ sở hữu vốn, vốn được chia làm hai bộ phận: vốn chủ

sở hữu và nợ phải trả

Vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc sở hữu của doanh

nghiệp Doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu có nội dung khác nhau, như vốn góp ban đầu, lợi nhuận không chia, vốn góp bổ sung trong quá trình hoạt động (như phát hành cổ phiếu), chênh lệch tỷ giá, đánh giá lại tài sản

Nợ phải trả: Nợ phải trả là phần vốn doanh nghiệp được sử dụng nhưng

thuộc sở hữu của chủ thể khác Doanh nghiệp có quyền sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau đó doanh nghiệp phải hoàn trả cả gốc và lãi cho chủ sở hữu phần vốn đó Nợ phải trả là nguồn vốn rất quan trọng với doanh nghiệp, đây là nguồn vốn đáp ứng cho nguồn vốn thiếu hụt trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Thông thường, doanh nghiệp phải kết hợp cả hai nguồn vốn trên để đảm bảo

đủ vốn cho nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh, và cách phân loại này giúp cho các nhà quản lý có thể xác định được mức độ an toàn trong công tác huy động vốn,

tổ chức sử dụng vốn sao cho vừa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa đảm bảo an toàn về mặt tài chính với chi phí sử dụng vốn bình quân là thấp nhất

Căn cứ theo thời gian huy động và sử dụng vốn, vốn có thể chia nguồn vốn

thành hai loại: Nguồn vốn thường xuyên và Nguồn vốn tạm thời.Việc phân loại nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời giúp nhà quản lý doanh nghiệp xem xét huy động các nguồn một cách phù hợp với thời gian sử dụng, đáp ứng đầy

đủ, kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Căn cứ theo phạm vi huy động vốn, gồm 2 bộ phận: nguồn vốn bên trong -

bên ngoài doanh nghiệp

Trang 18

Nguồn vốn bên trong: là nguồn vốn có thể huy động trong nội bộ doanh

nghiệp Đây là nguồn vốn quan trọng đảm bảo khả năng tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp

Nguồn vốn bên ngoài: là nguồn vốn được huy động bên ngoài phạm vi doanh

nghiệp, nhằm đáp ứng các yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh

Doanh nghiệp cần căn cứ vào ưu nhược điểm của từng nguồn để huy động vốn nhằm mang lại hiệu quả sử dụng vốn cao nhất với chi phí và rủi ro là thấp nhất

Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần có một nguồn lực tài chính nhất định

để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Nguồn lực tài chính được thể hiện

và sử dụng dưới các dạng khác nhau nhằm mục đích thu được lợi ích lớn hơn trong tương lai được coi là vốn của doanh nghiệp

Từ những phân tích đã nêu, thì vốn của doanh nghiệp có thể coi là giá trị bằng tiền của tất cả các nguồn lực có thể chuyển thành tiền được doanh nghiệp nắm giữ và sử dụng nhằm mục đích thu được lợi ích lớn hơn trong tương lai, không phân biệt nguồn gốc hình thành và không phân biệt hình thái biểu hiện

Thông thường, giá trị doanh nghiệp bao gồm cả giá trị hữu hình và giá trị vô hình của doanh nghiệp Tuy vậy, trên thực tế, khi đánh giá vốn của doanh nghiệp người ta chỉ tính đến các giá trị hữu hình, chính vì vậy, vốn cũng có thể hiểu khác với phạm trù “giá trị doanh nghiệp”

Vốn của doanh nghiệp được hình thành từ khi thành lập doanh nghiệp và biến đổi theo thời gian Với những doanh nghiệp kinh doanh thành công, vốn của doanh nghiệp có chiều hướng tăng trưởng, vì sau mỗi chu kỳ kinh doanh, vốn ban đầu lại được bổ sung bằng một phần lợi nhuận thu được (lợi nhuận dùng để tái đầu tư) Phần bổ sung này nhiều hay ít phụ thuộc vào mức độ sinh lợi trong kinh doanh

và chính sách tăng trưởng của doanh nghiệp Những doanh nghiệp có chiến lược phát triển dài hạn thường rất chú ý dùng lợi nhuận để tái đầu tư, vì nếu không tăng cường tái đầu tư thì sớm hay muộn, doanh nghiệp đó sẽ thất bại Ngoài ra, do nhu cầu của đầu tư, của quá trình sản xuất kinh doanh, vốn có thể được huy động bổ sung từ các nguồn khác nhau, do đó làm tăng vốn của doanh nghiệp

Trang 19

Tuy vậy, với những doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ thì nguồn vốn ban đầu

sẽ bị giảm dần Tình trạng này đã xảy ra với nhiều doanh nghiệp nhà nước, có thể

do cả hai loại nguyên nhân: kinh doanh thua lỗ (không thực hiện tái đầu tư mở rộng)

và không thực hiện đủ khấu hao tài sản cố định (không đảm bảo tái đầu tư giản đơn)

Như vậy, vốn ban đầu của doanh nghiệp có thể tăng lên hoặc giảm đi do hai nhóm yếu tố khách quan và chủ quan, phụ thuộc vào mức độ hiệu quả và chính sách đầu tư và phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vốn của doanh nghiệp tại mỗi thời điểm bao gồm vốn đầu tư ban đầu, vốn tích luỹ từ lợi nhuận và vốn huy động bổ sung trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp

1.1.2 Các nguyên tắc huy động vốn

1.1.2.1 Nguyên tắc kịp thời

Việc huy động vốn phải đảm bảo tính kịp thời Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp thường xuyên phát sinh nhu cầu vốn Việc cung ứng vốn kịp thời giúp doanh nghiệp nắm bắt được cơ hội đầu tư, sản xuất kinh doanh, đảm bảo hoạt động và đảm bảo uy tín với các đối tác và khách hàng Việc cung ứng vốn không đúng thời điểm, thời cơ đầu tư thì nguồn vốn đó sẽ mất ý nghĩa, hoặc làm giảm khả năng thu lợi ích từ các hoạt động đầu tư kinh doanh Vì vậy, cải tiến các thủ tục hành chính phức tạp trong các quy trình giao dịch về vốn là mong muốn của các doanh nghiệp Thậm chí, doanh nghiệp phải chấp nhận một tỷ lệ lãi suất cao hơn rất nhiều trên thị trường tại chính phi chính thức để có được nguồn vốn kịp thời

vì nếu không vay kịp vốn thì nguồn vốn rẻ trên trở nên đắt, có thể làm cho các kết quả dự tính trong các phương án kinh doanh giảm đi và doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc trả nợ

1.1.2.2 Nguyên tắc hiệu quả

Việc huy động vốn hiệu quả hay không thể hiện ở việc có đáp ứng được nhu cầu về vốn của doanh nghiệp hay không Cần lựa chọn bảo đảm hiệu quả huy động vốn cao nhất trong những điều kiện nhất định Trong điều kiện thị trường tài chính phát triển năng động, doanh nghiệp có nhiều cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn khác

Trang 20

nhau để phục vụ cho sản xuất kinh doanh, do đó cần lựa chọn nguồn vốn thích hợp nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong việc huy động vốn Ngoài ra, hiệu quả của việc sử dụng các hình thức huy động vốn còn thể hiện ở hiệu quả đầu tư mà nguồn vốn mang lại, lợi ích của chủ doanh nghiệp khi sử dụng nguồn vốn đó, như khả

năng làm tăng lợi nhuận ròng của doanh nghiệp và lợi nhuận tích luỹ

1.1.2.3 Nguyên tắc số lượng và thời gian

Yếu tố quan trọng nhất của việc huy động vốn là số lượng và thời gian cung ứng vốn Một ý đồ đầu tư, kinh doanh sẽ không thể thực hiện được nếu không có đủ một lượng vốn nhất định theo nhu cầu được tính toán, do đó, khi huy động phải bảo đảm đủ về số lượng và tính tương thích về thời gian Thực tế, hiện nay một số doanh nghiệp thường phải nâng mức nhu cầu ghi trong các yêu cầu huy động vốn

để có thể có đủ số vốn cần thiết khi dự án được phê chuẩn, điều đó làm cho các dự

án không còn chặt chẽ Ngoài ra, rất nhiều trường hợp cách tính toán thời gian cho vay của các ngân hàng thường quá cứng nhắc nên các doanh nghiệp không bảo đảm hạn trả tiền, phải chịu lãi suất quá hạn, chi phí cao

1.1.2.4 Nguyên tắc giảm thiểu chi phí giao dịch

Chi phí vốn là yếu tố quan trọng trong việc huy động vốn Một nguồn vốn với lãi suất thấp đôi khi có thể trở nên quá đắt do chi phí liên quan đến giao dịch về vốn quá cao Nguyên nhân chi phí giao dịch cao có thể là: thủ tục phức tạp, quy trình giải ngân qua nhiều công đoạn, chi phí tư vấn cao hoặc đôi khi do quy mô không thích hợp Vì vậy, các doanh nghiệp cần tùy theo lượng vốn cần vay để chọn nguồn vốn phù hợp, vì những nguồn vốn phức tạp sẽ làm cho chi phí giao dịch trên một đồng vốn huy động cao hơn nếu lượng vốn huy động nhỏ Ngược lại, những dự

án lớn có thể có lợi về chi phí cho vốn nếu tìm đến những nguồn vốn có thủ tục phức tạp hơn nhưng lại phải chịu lãi suất thấp hơn

1.2 Các hình thức huy động vốn phổ biến

Doanh nghiệp có thể huy động vốn từ nhiều nguồn để tài trợ cho dự án Có thể phân thành: Nguồn vốn chủ sở hữu và Nguồn vốn nợ phải trả Nguồn vốn tự có được huy động từ các nguồn: quỹ khấu hao cơ bản, quỹ tích lũy đầu tư hoặc điều

Trang 21

chỉnh cơ cấu tài sản nợ Nguồn vốn từ bên ngoài được huy động từ nguồn ngắn hạn

hoặc dài hạn (Nguyễn Trọng Cơ, Nghiêm Thị Hà, Giáo trình Phân tích tài chính

doanh nghiệp, Nhà xuất bản Tài chính, 2015)

Sơ đồ 1.1: Các nguồn vốn của doanh nghiệp

Những khác biệt chủ yếu giữa Nợ phải trả và Nguồn vốn chủ sở hữu (trong

đó chủ yếu là vốn cổ phần) được trình bày ở bảng dưới đây:

Bảng 1.1 Những đặc điểm của Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu

CÁC NGUỒN VỐN

Nguồn nợ

phải trả

Nguồn vốn chủ sở hữu

Ngắn hạn Dài hạn Vốn góp của

chủ sở hữu

Các quỹ khác Lợi nhuận

giữ lại

Trang 22

3- Mức lãi suất phải trả cho các khoản

nợ vay thường theo một mức ổn định

được thỏa thuận khi vay

3- Lợi tức cổ phần chia cho các cổ đông tuỳ thuộc vào quyết định của Đại hội đồng cổ đông và nó thay đổi theo mức lợi nhuận mà công ty thu được

4- Doanh nghiệp phải hoàn trả nợ vay

cho chủ nợ vào một thời điểm nào đó

trong tương lai ngoại trừ trường hợp

nguồn huy động là trái phiếu tuần hoàn

4- Doanh nghiệp không phải trả những khoản tiền vốn đã nhận được cho chủ sở hữu trừ khi doanh nghiệp đóng cửa và các loại tài sản được chia cho chủ sở hữu Trường hợp này không áp dụng đối với cổ phần ưu đãi có thời hạn đáo hạn

cố định 5- Công ty có thể phải thế chấp bằng các

loại tài sản như hàng hóa các loại tài sản

cố định, quyền sở hữu tài sản, cổ phiếu

hay sử dụng biện pháp bảo lãnh để được

Bảng 1.2 Những khác biệt chủ yếu giữa nguồn Nợ ngắn hạn và dài hạn

1- Thời hạn trả chúng trong vòng 1 năm 1- Thời gian đáo hạn dài hơn 1 năm

2- Không phải trả lãi cho những nguồn

tài trợ ngắn được các nhà cung cấp tài

trợ bằng hình thức tín dụng thương mại

2- Phải trả lãi cho tất cả các loại tài trợ dài hạn mà doanh nghiệp nhận được

3- Lãi suất của các nguồn tài trợ ngắn

hạn thường thấp hơn nợ vay dài hạn

3- Lãi suất tài trợ dài hạn thường cao hơn so với lãi suất của nguồn tài trợ ngắn hạn

Trang 23

1.2.1 Huy động vốn Nợ phải trả

1.2.1.1 Nguồn tài trợ ngắn hạn

Nguồn tài trợ ngắn hạn là những nguồn tài trợ có thời hạn trong vòng một năm Nguồn tài trợ này bao gồm các khoản Tín dụng thương mại mà công ty nhận được từ các nhà cung cấp khi mua các loại hàng hóa dưới hình thức mua chịu, mua bằng tiền quỹ Ngoài ra, nó còn bảo gồm tiền đặt cọc của khách hàng để mua hàng hóa hay dịch vụ theo hợp đồng và những khoản tiền vay ngắn hạn do các ngân hàng, công ty tài chính, công ty mua nợ, công ty bảo hiểm tài trợ Đồng thời, nó cũng bao gồm các khoản nợ tích lũy gồm có nợ các loại tiền lương của công nhân

mà công ty chưa trả, nợ tiền thuế những chưa trả cho Chính phủ, và lợi tức của phần theo sổ sách mà chưa phải trả cho cổ đông Các nguồn tài trợ ngắn hạn có thể được chia thành ba nhóm chính: tín dụng thương mại, nguồn tài trợ ngắn hạn không có

đảm bảo và nguồn tài trợ ngắn hạn có đảm bảo

a) Tín dụng thương mại

Doanh nghiệp có thể tận dụng được nguồn tiền của các nhà cung cấp như là một nguồn tài trợ ngắn hạn Hình thức tín dụng này được gọi là hình thức “tín dụng thương mại” và hoàn toàn khác so với các hình thức tín dụng ngắn hạn khác vì nó không phải do các định chế tài chính tài trợ

Khi doanh nghiệp sử dụng nguồn tài trợ này phải kiểm soát được hậu quả lâu dài của tín dụng thương mại Bởi việc trì hoãn thanh toán các hóa đơn mua hàng, thường dẫn đến hậu quả là các nhà cung cấp sẽ không sẵn sàng tiếp tục cung cấp hàng hóa của họ, ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp hoặc nếu tiếp tục thì sẽ bán với giá cao hơn

Yếu tố thanh toán ngay hay thanh toán chậm trong thương mại khác nhau ở việc bên nào sẽ được sử dụng vốn ngay Chính vì vậy, các nhà cung cấp đã tính toán chi phí cho thời gian thanh toán.Trong trường hợp thanh toán ngay, khách hàng sẽ được hưởng chiết khấu, hoặc nếu khách hàng chậm thanh toán sẽ bị tính lãi phạt

Tín dụng thương mại thường dễ dang được sử dụng vì nó không do các định chế tài chính tài trợ, do đó có thể nói nó là nguồn tài trợ không do vay mượn Tổng

Trang 24

giá trị khoản tiền nợ do mua hàng hóa của nhà cung cấp được đưa vào tài khoản “nợ phải trả” của doanh nghiệp

Đồng thời, công ty cũng có thể nhận được một nguồn tài trợ ngắn hạn không

do vay mượn khác do chậm thanh toán một số khoản chi tiêu như tiền lương, tiền thưởng của công nhân, tiền thuê mướn thiết bị, nhà xưởng v.v tiền thuế và tiền điện nước Doanh nghiệp sẽ phải thanh toán những khoản nợ tích lũy này trong một thời hạn ngắn do bị ràng buộc bởi các văn bản pháp lý (hợp đồng, thỏa thuận,v.v )

b) Nguồn tài trợ ngắn hạn không có bảo đảm

Nguồn tài trợ ngắn hạn không có bảo đảm là những khoản vay do các ngân hàng tài trợ cho công ty mà không đòi hỏi bất cứ sự bảo đảm nào Các hình thức cho vay ngắn hạn không có bảo đảm chủ yếu là: Hạn mức tín dụng hay Thấu chi; Hợp đồng tín dụng tuần hoàn; Tín dụng thư; Cho vay theo hợp đồng

- Hạn mức tín dụng hay Thấu chi (Line of credit or Overdraf)

Vay theo hạn mức tín dụng là hình thức cấp tín dụng trong đó doanh nghiệp được quyền rút theo hạn mức nhất định đã được cấp trong một khoảng thời gian nhất định (tối đa không quá 12 tháng) Điểm thuận lợi của hình thức huy động vốn này là doanh nghiệp chỉ phải lập 01 hồ sơ cho nhiều khoản vay trong một chu kì kinh doanh (tối đa không quá 12 tháng) của mình Cứ sau 12 tháng, ngân hàng lại kiểm tra rà soát lại tình hình kinh doanh của doanh nghiệp để quyết định tăng hay giảm hạn mức Hơn nữa, hình thức cấp tín dụng theo hạn mức lại có ưu điểm là chỉ giới hạn dư nợ, không giới hạn doanh số Tổng doanh số cho vay trong thời gian cho vay có thể lớn hơn hạn mức tín dụng nếu doanh nghiệp thường xuyên trả nợ

Hình thức thấu chi ngân hàng là doanh nghiệp được chi vượt mức số tiền có trên tài khoản tiền gửi thanh toán Hình thức này được tạo ra để cung cấp nguồn tài chính nhất định đủ bù đắp phần chênh lệch giữa dòng lưu kim tiền thu nhập và dòng lưu kim chi phí của công ty Tiền lãi của hình thức cho vay này tùy thuộc vào tổng giá trị tín dụng thấu chi của công ty đã sử dụng và công ty được phép tính khoản tiền trả lãi này cho chi phí hàng ngày

Trang 25

Nhìn chung, đây là những hình thức tài trợ có chi phí thấp nhất đối với các doanh nghiệp Song nhược điểm của hình thức tài trợ này là nếu công ty vay tiền theo thỏa thuận này thì phải duy trì đảm bảo khả năng tài chính, báo cáo tình trạng hoạt động kinh doanh định kỳ thường xuyên, đề phòng có thể phải trả lại những khoản vay này khi ngân hàng yêu cầu, tức là ngân hàng có thể từ chối thể hiện hạn mức tín dụng đã thỏa thuận

- Thỏa thuận tín dụng tuần hoàn

Thỏa thuận tín dụng tuần hoàn là một công cụ tín dụng tương tự như hạn mức tín dụng, ngoại trừ những cam kết chính thức và mang tính pháp lý do ngân hàng đưa ra để tài trợ tín dụng cho doanh nghiệp theo tổng mức tín dụng tối đa đã thỏa thuận

Theo hình thức thỏa thuận này, doanh nghiệp có nghĩa vụ trả cho ngân hàng một khoản phí sử dụng nguồn ngân quỹ trên toàn bộ hạn mức tín dụng đã thỏa thuận, đổi lại ngân hàng dành cho doanh nghiệp đặc quyền sử dụng tín dụng phải trả

có thể được thanh toán một lần, hoặc thanh toán theo tỷ lệ phần trăm của giá trị trung bình trên phần chênh lệch tín dụng đã không sử dụng tới tùy theo sự thương lượng giữa doanh nghiệp và ngân hàng

- Thư tín dụng

Thư tín dụng chủ yếu được sử dụng cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của doanh nghiệp Nhà nhập khẩu có thể đề nghị một ngân hàng cung cấp phương tiện tín dụng để có thể mua hàng hóa từ một nhà xuất khẩu nước ngoài Nếu ngân hàng chấp thuận cấp tín dụng, họ sẽ phát hành một tín dụng thư được viết như một bản cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu, bằng cách gửi tới ngân hàng đại diện cho nhà xuất khẩu, cam đoan rằng sẽ thanh toán tiền trả cho những hàng hóa cung cấp cho nhà nhập khẩu theo đúng những điều khoản của tín dụng thư Khi nhân được thông báo của ngân hàng là đã có tín dụng thư, công ty xuất khẩu sẽ ký phát hối phiếu đòi tiền và các văn liên quan đến hàng hóa chuyển tói ngân hàng phát hành (thông qua ngân hàng bên xuất khẩu) Đồng thời, hàng hóa được xuất khẩu gửi tới

Trang 26

người mua và ngân hàng phát hành (tín dụng thư) sẽ thanh toán cho nhà xuất khẩu tổng số tiền đã ghi trong tín dụng thư qua ngân hàng đại diện của nhà xuất khẩu

Sau khi số tiền theo tín dụng thư đã được ngân hàng thanh toán hoàn tất, nó

sẽ trở thành một khoản nợ do ngân hàng tài trợ cho nhà nhập khẩu và nó thường là một thỏa thuận tín dụng tuần hoàn

Để được chấp thuận mở tín dụng thư, thì trước đó nhà nhập khẩu phỉa có một khoản tiền ký quỹ tại ngân hàng Độ lớn của khoản tiền ký quỹ tùy thuộc vào vị thế tín dụng của nhà nhập khẩu theo cách đánh giá của ngân hàng và tùy theo quy định của Chính Phủ

- Tài trợ theo hợp đồng

Theo đúng tên gọi của hình thức này, tài trợ theo hợp đồng là việc ngân hàng đồng ý cung cấp vốn cho doanh nghiệp để thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng với doanh nghiệp đối tác Ngân hàng thường rất sẵn sàng chấp thuận tài trợ theo thể thức này, vì ngân hàng có thể chắc chắn về mục đích sử dụng vốn và tiến độ thu hồi vốn, nhất là khi hợp đồng được ký kết bởi một doanh nghiệp lớn, có uy tín Ngân hàng sẽ có những ưu đãi và điều kiện tốt hơn nếu cả hai doanh nghiệp ký hợp đồng đều là khách hàng của ngân hàng tài trợ vốn

Theo những điều kiện của tài trợ theo hợp đồng, khoản tiền cho vay phải được thu hồi càng sớm càng tốt như những khoản tiền thanh toán nhận được từ hợp đồng Tuy nhiên, nếu trong khi đang thực hiện hợp đồng mà công ty ký tiếp một hợp đồng khác, ngân hàng có thể xem xét và chấp thuận cho vay một khoản tiền khác dựa trên cơ sở giao dịch thứ hai Hình thức tài trợ theo hợp đồng thường rất hay được sử dụng để tài trợ cho các doanh nghiệp nhỏ, nhất là các nhà thầu

Tỷ lệ lãi suất của các khoản cho vay không có bảo đảm thường thay đổi tùy theo từng công ty và tùy từng ngân hàng, tùy thuộc vào vị trí tín dụng của công ty đi vay Một công ty có uy tín tín dụng cao sẽ phải trả lãi suất vay với tỷ lệ thấp hơn công ty không có danh tiếng Các ngân hàng thường tiến hành phân loại khách hàng của họ thành nhiều loại khác nhau tùy theo mức độ rủi ro và vị thế tín dụng của họ

Trang 27

c) Tài trợ ngắn hạn có bảo đảm

Nếu việc tài trợ không bảo đảm chỉ cung cấp lượng vốn lưu động, đủ bù đắp mất cân bằng dòng tiền tạm thời thì việc tài trợ có bảo đảm sẽ cung cấp lượng vốn lớn đủ để thực hiện một dự án đầu tư, nguồn vốn dài hạn

Tài sản bảo đảm nhằm đảm bảo thanh toán cả tiền vốn gốc và lãi của khoản cho vay là hình thức “thế chấp” (collateral) Tài sản thế chấp để bảo đảm cho các hình thức vay ngắn hạn thường bao gồm khỏan phải thu, giấy hẹn nợ, các loại hàng hóa, các loại chứng khoán Chúng có thể là các loại cổ phần, những giấy tờ có giá

có khả năng chuyển đổi nhanh, những khoản ký quỹ đình kỳ, quyền sở hữu máy móc, thiết bị, hoặc chỉ là sự bảo lãnh của cá nhân cá cổ đông chính của doanh nghiệp

Việc bán những khoản phải thu này cho một ngân hàng, một công ty tài chính hay công ty mua nợ để gia tăng nguồn vốn ngắn hạn được gọi là “Mua nợ” (factoring) Còn các khoản nợ vay được do bảo đảm bằng hàng hóa, tài sản được gọi là “vay có thế chấp bằng hàng hóa” (invertory financing)

- Vay có thế chấp bằng khoản phải thu

Khi doanh nghiệp đi vay và thế chấp khoản phải thu, ngân hàng sẽ nhận thế chấp bằng các chứng từ, hóa đơn gốc Các khoản tiền về tài khoản sẽ bị phong tỏa

để trả nợ gốc, lãi khi đến hạn Khi ngân hàng cho vay nhận thế chấp bằng khoản phải thu, ngân hàng sẽ đánh giá chất lượng của các loại hóa đơn thu tiền được dùng làm vật thế chấp và sau đó, xác định giá trị khoản cho vay tương xứng với giá trị của khoản phải thu Giá trị của khoản cho vay tùy thuộc vào mức độ rủi ro và có thể dao động trong khoảng 20% đến 90% giá trị danh nghĩa của khoản phải thu

Doanh nghiệp đi vay sẽ gửi ngân hàng cho vay một bản danh mục liệt kê danh sách các khoản phải thu, cùng thời hạn trả và tổng số tiền Sau đó công ty sẽ yêu cầu ngân hàng cho một cam kết bằng văn bản để chuyển tất cả các khoản phải thu sang phần thanh toán và bù trừ cân đối công nợ Thông thường, một khi doanh nghiệp đã được ngân hàng tài trợ, ngân hàng có thể tiếp tục cho vay trên cơ sở cầm

cố những khoản phải thu mới như những giao dịch đã xảy ra trước đó Và doanh

Trang 28

nghiệp sẽ phải thường xuyên báo cáo tình tình kinh doanh, nhất là sổ chi tiết khoản phải thu với ngân hàng cho vay

- Tài trợ vốn bằng hình thức mua nợ

Các doanh nghiệp có thể gọi vốn bằng các bán các khoản nợ của mình Các

tổ chức mua nợ thường là một ngân hàng, một công ty tài chính hay công ty mua

nợ Sau khi việc mua bán hoàn tất bên mua nợ có trách nhiệm thu hồi các khoản nợ theo các chứng từ đã mua và chịu mọi rủi ro khi gặp những món nợ khó đòi (mua

nợ được áp dụng cho cả bán hàng trong nước và xuất khẩu)

Bên cạnh việc có nguồn tài chính như mong muốn, mua nợ còn cho phép một doanh nghiệp chấp nhận bán chịu cho khách hàng mà không phải chịu nhiều rủi

ro, bởi công ty mua nợ sẽ kiểm tra tài chính của khách hàng trước khi quyết định mua chứng từ bán hàng của doanh nghiệp Tuy nhiên, vì nó là một nguồn tài trợ nên chi phí huy động vốn theo hình thức thỏa thuận mua nợ khá cao, bởi nó bao gồm nhiều loại chi phí kiểm tra tư cách tín dụng của khách hàng hay những rủi ro không thu hồi được vay nợ

- Vay thế chấp bằng hàng hóa

Bên cạnh các chứng từ bán hàng, các loại hàng hóa, tài sản cũng thường được sử dụng để thế chấp cho các khoản vay ngắn hạn Hàng hóa ở đây có thể là hoàng hóa trong tương lai hoặc hàng hóa tại kho của ngân hàng Giá trị của khoản vay thuộc loại thế chấp này tùy thuộc vào mức độ rủi ro, khả năng chuyển đổi nhanh, và tính ổn định về giá cả của các loại hàng hóa thế chấp Phương thức thế chấp tiềm ẩn nhiều rủi ro cho ngân hàng nên điều kiện vay thường khó khăn và chi phí vay lớn hơn

1.2.1.2 Nguồn tài trợ dài hạn

Nguồn tài trợ dài hạn là những khoản tài trợ có thời hạn sử dụng dài hơn một năm Nguồn tài trợ này thường được doanh nghiệp sử dụng để thực hiện dự án đầu

tư kinh doanh hoặc mua sắm tài sản hàng hóa,v.v…

Các nguồn tài trợ dài hạn bao gồm : Thuê mua trả góp, tín dụng thuê mua;

Vay dài hạn định kỳ hay vay có kỳ hạn, phát hành trái phiếu và kỳ phiếu

Trang 29

Thuê mua trả góp (Hire - Purehase Financing)

Một doanh nghiệp cần tiền để mua máy móc, thiết bị có thể sử dụng phương pháp huy động nguồn tín dụng trực tiếp bằng cách mua các loại tài sản đó dưới hình thức thuê mua trả góp Hình thức thuê mua trả góp này cho phép công ty trả ngay một phần giá trị tài sản và phần còn lại được thanh toán trong nhiều kỳ, vào những thời điểm được ấn định trước và mỗi lần trả một phần giá trị của tài sản cùng tiền lãi

Bằng hình thức này doanh nghiệp có thế nhân được tài sản ngay lập tức mà không phải thương lượng với một ngân hàng hay công ty tài chính để vay tiền và cũng không phải cầm cố bất cứ loại tài sản nào Doanh nghiệp chỉ cần trả một khoản tiền của kỳ đầu tiên, có thể bằng khoảng 1/3 giá trị của thiết bị và có thể trả dần kéo dài trong khoảng 1 - 5 năm để thanh toán xong toàn bộ chi phí Trong suốt thời gian thuê mướn, doanh nghiệp có thể được phép áp dụng phương pháp khấu hao nhanh đối với tài sản thuê này mặc dù phương pháp này không được áp dụng với tài sản riêng của công ty

Tuy nhiên, lãi suất trả góp khi mua tài sản theo hình thức tài trợ này khá cao, bởi công ty không được hưởng phần chiết khấu mà các nhà cung cấp thường áp dụng đối với những tài sản được mua bằng tiền mặt Hơn thế nữa, tỷ lệ lãi suất thực trong các giao dịch thuê mua trả góp lên tới hơn 25%/năm, mặc dù lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng chỉ ở mức 10% – 12%/năm và mức lãi suất này gần như là một tỷ lệ cố định Mặt khác, một bất lợi nữa đối với doanh nghiệp đi thuê là nếu không thực hiện đúng tiến độ thanh toán, họ có nguy cơ bị mất quyền sở hữu tài sản vào thời điểm kết thúc hợp đồng, vì nó đã bị phá vỡ

Tín dụng thuê mua (Lease financing)

Thay vì mua tài sản theo hình thức thuê mua trả góp, doanh nghiệp có thể sử dụng hình thức thuê tài chính hay thuê vận hành (finance lease or operating lease)

để thuê tài sản của công ty thuê mua hay công ty tài chính Khi công ty tiến hành thuê một tài sản, thì họ sẽ được quyền sử dụng tài sản đó (như máy photo copy, máy

Trang 30

vi tính, xe ô tô) như thỏa thuận và phải thanh toán tiền thuê theo định kỳ cho người chủ tài sản

Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa Bên cho thuê là các tổ chức tín dụng phi ngân hàng và Bên thuê

là khách hàng Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của Bên thuê và nắm quyền sở hữu đối với các tài sản thuê trong suốt quá trình thuê.Bên thuê được sử dụng tài sản thuê, thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận và không được hủy bỏ hợp đồng thuê trước thời hạn Khi kết thúc thời hạn thuê, Bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê lại tài sản đó theo các điều kiện đã được hai bên thoả thuận

Cho thuê vận hành là hình thức cho thuê tài sản, theo đó Bên thuê sử dụng tài sản cho thuê của Bên cho thuê trong một thời gian nhất định và sẽ trả lại tài sản đó cho Bên cho thuê khi kết thúc thời hạn thuê tài sản Bên cho thuê giữ quyền sở hữu tài sản cho thuê và nhận tiền cho thuê theo hợp đồng cho thuê.Theo đó, doanh nghiệp sẽ thuê tài sản trong một thời gian nhất định và sẽ chuyển trả tài sản đó về cho bên cho thuê khi kết thúc thời hạn thuê Đây là giải pháp hữu hiệu để doanh nghiệp hạn chế các rủi ro về công nghệ, giá cả, hạn chế chi phí bảo trì, sữa chữa, chi phí thanh lý tài sản Loại hình dịch vụ này rất phù hợp với các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng tài sản thuê trong thời gian ngắn và có nhu cầu đổi mới nhanh công nghệ thiết bị

Đây là một hình thức tài trợ rất hay được sử dụng để có tài sản, bởi nếu nguồn này không có sẵn, công ty sẽ phải tìm nguồn tài trợ bằng hình thức khác để mua thiết bị

Ngoài ra, bên cạnh việc công ty sẵn sàng để sở hữu một thiết bị đắt tiền bằng cách thuê mua một tài sản, thì công ty còn có thể nhận được nguồn tài trợ bằng cách bán tài sản của họ cho một định chế tài chính để lấy tiền mặt, để rồi sau đó thuê mua lại chính tài sản đó từ định chế tài chính vừa mua của họ Hình thức tăng vốn này

Trang 31

được gọi là hình thức bán và tái thuê và nó là một hình thức huy động vốn trung hạn rất thông dụng

Các khoản vay có định kỳ hay có kỳ hạn

Một doanh nghiệp có thể huy động vốn thông qua hình thức đi vay với thời hạn hơn một năm, bằng cách thế chấp một số tài để bảo đảm cho khoản tiền vay Các ngân hàng thương mại và công ty tài chính thường chấp nhận những loại tài sản sau là tài sản thế chấp như: quyền sử dụng đất đai, các loại máy móc, các loại bất động sản, những khoản ký quỹ có thời hạn, ngoại tệ các loại, các loại chứng khoán

và cổ phiếu của các công ty cổ phần đại chung, khoản vay này thường được gọi là vay định kỳ hay vay có kỳ hạn

Đặc điểm riêng của vay có kỳ hạn là trong mỗi kỳ hạn - hàng tháng, quý hay năm - người vay phải trả cho chủ nợ một khoảng tiền nhất đinh bao gồm một phần vốn gốc và lãi Nó khác với hình thức thấu chi (hay rút vượt overdraft) là thấu chi thường trả cả vốn gốc và lãi vào cuối kỳ, còn nó trả dần thành nhiều đợt

Để có thể vay vốn có kỳ hạn, doanh nghiệp phải đưa ra phương án vay và kế hoạch trả nợ cụ thể Phương án này sẽ được ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng cho vay kiểm tra và là một tiêu chí quan trọng để quyết định cho vay, lượng vốn cho vay

Do mức độ rủi ro cao dẫn tới ngân hàng thường yêu cầu người đi vay phải tuân theo một số điều kiện đảm bảo nhất định Những điều kiện đó bao gồm những yêu cầu sau:

- Đảm bảo sự chính xác trong ghi chép kế toán và cung cấp thường xuyên, kịp thời các báo cáo kiểm toán cho ngân hàng để họ có thể giám sát tình hình tài chính của công ty

- Duy trì một lượng vốn lưu động ổn định ở mức nào đó trong suốt thời kỳ tồn tại khoản tiền vay, để công ty sẽ không thiếu vốn lưu động và không bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán công nợ

Trang 32

- Hạn chế những chi tiêu, mua sắm máy móc và thiết bị mới ở một mức nào

đó, để đảm bảo cho công ty bị lâm vào những khó khăn về tài chính

- Không vay thêm bất cứ khoản vay dài hạn nào để tránh tình trạng người chto nợ tương lai đó có thể tới công ty giành quyền hưởng trước tài sản của công ty với người cho vay

- Giới hạn mức chia lợi tức cổ phần ở một tỷ lệ phần trăm lợi nhuận nào đó,

để duy trì tính thanh khoản của công ty

- Sử dụng khoản tiền vay theo đúng mục đích đã được chấp thuận, để năng ngừa sự lệch hướng tạo ra lợi nhuận của công ty, hoặc tránh tình trạng sử dụng tiền vay cho đầu tư vào loại tài sản sản xuất quá ít

- Thoả thuận cho vay này cũng ràng buộc người vay bằng việc người cho vay

có thể hạn chế người vay trong việc chiết khấu các loại thương phiếu, giấy tờ có giá của họ hoặc tham gia những thỏa thuận thuê tài chính dài hạn

Phát hành trái phiếu và kỳ phiếu

Một công cụ huy động vốn mà nhiều doanh nghiệp lựa chọn là phát hành trái phiếu và kỳ phiếu Những công cụ này là giấy hẹn nợ được cấp để chứng minh khoản nợ của công ty đối với người nắm giữ chúng

Trái phiếu có thể được phát hành bởi doanh nghiệp (trái phiếu doanh

nghiệp), một tổ chức chính quyền như Kho bạc nhà nước (trái phiếu kho bạc), chính quyền (công trái hoặc trái phiếu chính phủ) Đối tượng mua trái phiếu, hay trái chủ,

có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp hoặc chính phủ Tên của trái chủ có thể được ghi trên trái phiếu (trường hợp này gọi là trái phiếu ghi danh) hoặc không được ghi (trái phiếu vô danh) Trái chủ được hưởng lãi suất định kỳ theo quy định và được trả gốc đến ngày đáo hạn Thời hạn của trái phiếu thường là dài hạn, tuy nhiên có thể dưới 1 năm (trái phiếu ngắn hạn)

Kỳ phiếu là một loại chứng khoán, trong đó người ký phát cam kết sẽ trả một

số tiền nhất định vào một ngày nhất định cho người hưởng lợi được chỉ định trên lệnh phiếu hoặc theo lệnh của người hưởng lợi trả cho một người khác Nếu xét về

Trang 33

bản chất kỳ phiếu là một loại trái phiếu ngắn hạn với thời gian đáo hạn là khoảng trên dưới 1 năm nhưng không quá 7,8 năm Điểm khác biệt chính giữa kỳ phiếu và trái phiếu là kỳ phiếu có thời hạn thanh toán ngắn hơn

Những đặc điểm của trái phiếu (kỳ phiếu) bao gồm:

- Chúng thường có đơn vị phát hành 100 nghìn, mặc dù chúng thuộc loại lớn hơn hay nhỏ hơn đều có thể được chấp thuận Đây là giá trị ngang giá của trái phiếu

- Chúng thường có một tỷ lệ lãi suất cố định, được gọi là lãi suất phiếu Tiền lãi này thường được trả cho trái chủ theo từng hạn nửa năm hay một năm

- Chúng có thời hạn đáo hạn cố định vào một thời điểm nào đó trong tương lai, thời hạn này được ghi trên trái phiếu Đến kỳ hạn, tổng số tiền trên trái phiếu sẽ được hoàn trả cho trái chủ

- Độ dài của thời gian đáo hạn (maturity) Tức là ngày thanh toán, thay đổi tùy theo loại phát hành

Để khuyến khích công chúng mua các loại trái phiếu này, đôi khi doanh nghiệp có thể phát hành loại trái phiếu có thể chuyển đổi tức là trái chủ được quyền lựa chọn để chuyển đổi trái phiếu thành cổ phần thường của công ty vào một thời điểm nào đó trong tương lai, với một tỷ lệ chuyển đổi đã được ấn định trước

Huy động vốn bằng phát hành trái phiếu có nhiều thuận lợi:

- Phát hành trái phiếu không ảnh hưởng đến sự kiểm soát công tác lãnh đạo công ty bởi các trái chủ (bond - holder) không có quyền bỏ phiếu

- Trái phiếu có mức lãi suất cố định

- Công ty có thể đạt được sự quân bình tức là công ty có thể vay vốn với mức chi phí cố định và có thể sử dụng số vốn này để thu được tỉ lệ hoàn vốn cao trên đầu

tư của họ

Trang 34

1.2.2 Huy động vốn chủ sở hữu

1.2.2.1 Tăng vốn điều lệ

Vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản do các thành viên đã góp hoặc cam kết góp

khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã được đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệpđối với công ty cổ phần (Điều 29 khoản 1 Luật doanh nghiệp 2014)

Xu hướng hiện nay, các công ty được thành lập mới hoặc chuyển đổi thành

mô hình Công ty cổ phần, đây là hình thức phổ biến, hiệu quả và rất thuận lợi cho việc huy động vốn, huy động nhân lực điều hành bộ máy

Đối với Công ty cổ phần, khi cần vốn chủ sở hữu để tài trợ cho các dự án đầu

tư, Hội đồng quản trị có thể phát hành thêm cổ phần để tăng vốn, cổ phần có nhiều loại khác nhau, nhưng cơ bản có hai loại chủ yếu có thể giúp Công ty huy động vốn được nhanh đó là Cổ phần ưu đãi và Cổ phần phổ thông

1.2.2.2 Lợi nhuận giữ lại

Đây là phần lợi nhuận sau khi trừ thuế, chi phí lãi vay, phân chia cho các thành viên góp vốn, phân bổ vào các công trình… Phần lợi nhuận giữ lại sẽ được tái đầu tư, sử dụng vào các dự án sản xuất kinh doanh tiếp theo Phần lợi nhuận giữ lại này có vai trò rất quan trọng trong hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp Tuy nhiên, nó phụ thuộc vào hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Nếu doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, phần lợi nhuận giữ lại sẽ là nguồn vốn đầu tư lớn, tương tự như vốn góp nhưng trên hồ sơ tài chính của công ty, nguồn vốn này lại thể hiện rõ được uy tín, năng lực của công ty

Nếu doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, lợi nhuận giữ lại sẽ rất ít hoặc không có Vậy nên, để tăng cường nguồn vốn từ lợi nhuận giữ lại, công ty cần tăng

cường hiệu quả sản xuất kinh doanh

1.2.2.3 Các quỹ khác

Tất cả các doanh nghiệp sau khi hạch toán được lợi nhuận, thường phải trích lập các quỹ như: Quỹ khấu hao, Quỹ dự phòng trợ cấp thất nghiệp, Quỹ dự phòng tài chính, Quỹ đầu tư phát triển, lợi nhuận chưa phân phối… đây là một lượng tiền

Trang 35

mặt tương đối lớn và thường được các doanh nghiệp bổ sung vào các khoản đầu tư ngắn hạn Tuy nhiên, vì đây là các quỹ dự phòng do đó doanh nghiệp phải hết sức cân nhắc khi sử dụng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của cán bộ nhân viên và các cổ đông và uy tín của doanh nghiệp

Quỹ khấu hao gồm hai phần: Quỹ khấu hao cơ bản và Quỹ khấu hao sửa chữa lớn Quỹ khấu hao cơ bản dùng để mua sắm, thay thế những tài sản cố định bị đào thải bằng những tài sản cố định mới (tái sản xuất toàn bộ tài sản cố định) Quỹ khấu hao sửa chữa lớn dùng để sửa chữa, thay thế những bộ phận, chi tiết cơ bản bị hao mòn của tài sản cố định (tái sản xuất từng bộ phận của tài sản cố định)

Khi doanh nghiệp trích khấu hao, lượng tài sản này sẽ được gửi tại ngân hàng hoặc để dưới dạng tiền mặt dùng để mua sắm tài sản cố định mới hoặc sửa chữa lớn Trong quá trình đó lượng tiền trên tạm thời nhàn rỗi, bên cạnh đó với nhiều doanh nghiệp, do quá trình sử dụng giữ gìn máy móc thiết bị tốt, ít phải sửa chữa lớn, máy móc hết khấu hao vẫn còn sử dụng được mà chưa cần thay mới, do

đó đã dôi ra một lượng vốn khá lớn Tất cả lượng tiền tạm thời nhàn rỗi trên được

bổ sung vào vốn kinh doanh có thể dành để cho các doanh nghiệp khác vay hoặc đầu tư

Một lợi thế rất lớn của Quỹ khấu hao đó là đây là khoản chi phí được tính khi hạch toán thuế thu nhập doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp vừa tăng được doanh thu, vừa tiết kiệm được tiền thuế

Bước 2: Lựa chọn phương thức huy động vốn: Tùy theo tình hình sản xuất kinh doanh của công ty, số lượng vốn cần huy động, đặc thù dự án đầu tư để lựa chọn phương thức huy động Nếu nguồn vốn lớn, một ngân hàng không thể tài trợ

Trang 36

hết thì công ty sẽ phải có phương án phát hành trái phiếu hoặc kêu gọi góp vốn đầu

tư từ bên ngoài

Bước 3: Tiếp cận nguồn vốn: Mỗi ngân hàng cho vay có room tín dụng cho bất động sản là khác nhau, đặc thù mỗi ngân hàng lại ưa thích đầu tư loại hình bất động sản khác nhau Vì thế, căn cứ vào tình hình thực tế, công ty sẽ lựa chọn ngân hàng vay vốn hoặc công ty mô giới, công ty chứng khoán để tiếp cận làm việc

Bước 4: Cung cấp hồ sơ huy động vốn Hồ sơ huy động vốn gồm 4 nhóm chính: Hồ sơ tổ chức vay vốn, hồ sơ phương án vay vốn, hồ sơ dự án vay vốn, hồ sơ tài sản bảo đảm

Bước 5: Hoàn thành các thủ tục giải ngân, chuyển tiền, tiếp tục theo dõi quản

lý dự án: Trong quá trình xử lý hồ sơ, công ty sẽ phải bảo vệ phương án kinh doanh

và điều chỉnh bổ sung Nếu phương án huy động vốn thành công, doanh nghiệp hoàn thiện các thủ tục giải ngân hoặc nhận tiền góp vốn Nếu không, doanh nghiệp phải lựa chọn lại phương thức huy động, thực hiện lại phương án vay vốn

(Vũ Duy Hào và Đàm Văn Huệ, Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nhà Xuất Bản Giao Thông Vận Tải, 2012)

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn

1.4.1 Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp

1.4.1.1 Sự phát triển của nền kinh tế - tài chính toàn cầu và Việt Nam

Việc hội nhập kinh tế quốc tế củaViệt Nam cũng là nhân tố quan trọng để các doanh nghiệp trong nước tiếp cận với nguồn vốn từ nước ngoài Nhưng để dễ dàng tiếpcận với nguồn vốn này thì Việt Nam cần có thêm những cơ chế chính sách

mở và ổn định phát triển thị trường để tạo môi trường hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài

Trên thực tế,Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) ,

đã và đang tham gia 16 Hiệp định FTA ((Tư Hoàng (2016), Thời báo Kinh tế Sài

Gòn online, Việt Nam đã và đang tham gia 16FTA, tại địa chỉ:

http://www.thesaigontimes.vn/155198/Viet-Nam-da-va-dang-tham-gia-16-FTA.html,

Trang 37

truy cập ngày 12/04/2017)) Từ việc nỗ lực hội nhập của nước ta thì nguồn vốn đầu

tư vào Việt Nam ngày càng tăng lên, đặc biệt là từ các nước Hàn Quốc, Nhật Bản,v.v…

Sự ổn định hay biến động của kinh tế trong nước sẽ ảnh hưởng mạnh đến công tác huy động vốn của doanh nghiệp Trong đó phải kể đến là sự phát triển hay trì hoãn của nền kinh tế, lạm phát, biến động tỷ giá đô la Mỹ, giá vàng hay lãi suất thị trường Kinh tế phát triển, lạm phát ở mức một con số, giá và giá đô la Mỹ không biến động nhiều, lãi suất ổn định sẽ là cơ hội cho các doanh nghiệp huy động vốn thuận lợi Kinh tế suy thoái, lạm phát tâng cao, lãi suất luôn thay đổi sẽ là yếu

tố bất lợi cho doanh nghiệp trong công tác huy động vốn

Với một thị trường tài chính hoàn thiện sẽ tạo cơ hội huy động vốn cho các doanh nghiệp Ngược lại, thị trường tài chính chưa hoàn thiện sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp đi huy động vốn Doanh nghiệp cũng có thể gặp rủi ro nếu thị trường tài chính chưa có một hệ thống pháp luật đi kèm Với thị trường tài chính đang ở mức cung nguồn vốn thấp hơn cầu thì doanh nghiệp dễ dàng và nhanh chóng tiếp cận với nguồn vốn muốn huy động Ngược lại, cung thấp hơn cầu thì doanh nghiệp khó khăn tiếp cận nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh

1.4.1.2 Hệ thống Chính sách, luật pháp

Mọi hoạt động củadoanh nghiệp đều chịu sự điều tiết của hệ thống pháp luật, chính sách tại Việt Nam.Trong lĩnh vực tài chính thì hệ thống pháp luật còn phức tạp nhưng chưa chặt chẽ, điều này sẽ làm cho công tác huy động vốn của doanh nghiệp chậm trễ và ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn huy động của doanh nghiệp đang thiếu vốn và gây ra lỗ hỏng mất vốn bởi các doanh nghiệp chiếm dụng vốn bất hợp pháp

1.4.2 Các yếu tố bên trong doanh nghiệp

1.4.2.1 Tình hình hoạt đông kinh doanh của doanh nghiệp

Tình hình kinh doanh của doanh nghiệp sẽ là cơ hội cho doanh nghiệp nhanh chóng tiếp cận với nguồn vốn muốn huy động hoặc khó khăn để huy động Với tình hình kinh doanh đang phát triển thì doanh nghiệp sẽ huy động nhanh nguồn vốn

Trang 38

thông qua các hình thức như phát hành cổ phiếu, trái phiếu hoặc vay tín dụng Ngược lại, những nhà đầu tư sẽ không đầu tư vào những doanh nghiệp không ăn nên làm ra Chủ nợ cũng xem xét lại những doanh nghiệp đang kinh doanh thua lỗ rồi mới cho vay Chính vì thế đây cũng là yếu tố tác động trực tiếp đến công tác huy động vốn của doanh nghiệp

1.4.2.2 Uy tín của doanh nghiệp

Uy tín của doanh nghiệp là một yếu tố vô cùng quan trọng khi nhà đầu tư quyết định đầu tư hay ngân hàng quyết định cho vay Uy tín trong tài chính thể hiện

ở việc trong lịch sử tín dụng, có thường xuyên trả nợ đúng hạn, thực hiện đúng nghĩa vụ tài chính với cổ đông, nhà đầu tư, khách hàng hay không Những doanh nghiệp có uy tín với những khoản nợ của ngân hàng hay các nhà đầu tư nắm giữ trái phiếu của doanh nghiệp thì việc huy động vốn vay sẽ được các chủ nợ đáp ứng ngay

Doanh nghiệp có uy tín cũng có thể chiếm dụng vốn từ khoản tín dụng thương mại, hay kêu gọi các nhà đầu tư một cách dễ dàng Nếu doanh nghiệp có uy tín thì sẽ có lợi thế trong việc huy động từ tất cả các nguồn vốn như tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại, kêu gọi cổ đông hay phát hành trái phiếu Ngược lại sẽ

là khó khăn cho doanh nghiệp khi tiếp xúc với các nguồn vốn.Doanh nghiệp có thể cùng lúc đưa ra nhiều phương thức huy động vốn khác nhau cho cùng một dự án đầu tư hoặc mỗi phương thức cho một mục đích khác nhau Việc doanh nghiệp chỉ huy động bằng một phương thức sẽ hạn chế doanh nghiệp tiếp xúc với những nguồn vốn khác nhau Ví du: Doanh nghiệp chỉ duy nhất huy động vốn từ chủ đầu

tư sẽ là lãng phí nguồn vốn nhà rỗi ngoài thị trường, không tận dụng được đòn bẩy tài chính, khiến hoạt động tài chính của doanh nghiệp thiếu hiệu quả hơn so với những doanh nghiệp sử dụng thêm nguồn vốn bên ngoài

1.4.2.3 Phương thức huy động vốn của doanh nghiệp

Doanh nghiệp có thể cùng lúc đưa ra nhiều phương thức huy động vốn khác nhau để tập trung nhanh chóng nguồn vốn muốn huy động Việc doanh nghiệp chỉ huy động bằng một phương thức sẽ hạn chế doanh nghiệp tiếp xúc với những nguồn vấn khác nhau Ví du: Doanh nghiệp chỉ duy nhất huy động vốn từ chur đầu tư

Trang 39

sẽ làm cho doanh nghiệp không tiếp cận được vốn vay từ Ngân hàng, các định chế tài chính khác Hay doanh nghiệp chỉ đơn thuần vay vốn ở Ngân hàng mỗi khi cần vốn kinh doanh, điều này đã không cho phép doanh nghiệp tận dụng đượng nguồn vốn từ các nhà đầu tư

Ví dụ: Doanh nghiệp chỉ duy nhất huy động vốn từ chủ đầu tư sẽ làm cho doanh nghiệp thiếu đi nguồn vốn ngắn hạn, quyền điều hành doanh nghiệp bị chi phối nhiều Hay doanh nghiệp chỉ đơn thuần vay vốn ở Ngân hàng mỗi khi cần vốn kinh doanh, thì sẽ lãng phí nguồn vốn từ các nhà đầu tư muốn tham gia, hơn nữa chi phí trả lãi hàng kỳ lớn và sẽ khó khăn khi muốn huy động một nguồn vốn lớn

1.5 Những tiêu chí đánh giả hiệu quả huy động vốn

Có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá hiệu quản huy động vốn của doanh nghiệp,

nhưng với đề tài chỉ quan tâm đến bốn góc độ chính: Thứ nhất, sự tăng trưởng ổn định về số lượng và thời gian; thứ hai, lượng vốn doanh nghiệp huy động có khả năng đáp ứng được cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; thứ ba, chi phí huy động vốn; thứ tư: độ rủi ro của nguồn vốn mà doanh nghiệp huy động; thứ năm: lợi

ích từ nguồn vốn huy động mang lại cho doanh nghiệp (PGS.TS Trần Ngọc Thơ,

Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nhà xuất bản Thống kê, 2003)

1.5.1 Sự tăng trưởng ổn định về số lượng và thời gian

Đánh giá qua mức độ tăng giảm nguồn vốn huy động và số lượng vốn huy động có kỳ hạn Nguồn vốn tăng đều qua các năm (năm trước - năm sau > 0) đạt mục tiêu về nguồn vốn đặt ra và có độ gia tăng đều đặn là nguồn vốn tăng trưởng ổn định

Nguồn vốn có số lượng vốn kỳ hạn lớn chứng tỏ sự ổn định về thời gian của nguồn vốn cao

Trang 40

1.5.2 Lượng vốn huy động của doanh nghiệp có đáp ứng được hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Đánh giá qua việc so sánh nguồn vốn huy động được với các nhu cầu sử dụng vốn cho hoạt động của doanh nghiệp, nhu cầu thanh toán và các nhu cầu khác

để thấy nguồn vốn huy động đã đáp ứng đủ hay thiếu

1.5.3 Lãi suất huy động

Lãi suất huy động là một yếu tố hết sức quan trọng trong việc huy động vốn của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp chấp nhận trả lãi suất cao thì sẽ dễ dàng tiếp cận nguồn vốn nhanh, nhưng lợi nhuận kinh tế mang về từ nguồn tài trợ này sẽ không cao Ngược lại, nếu doanh nghiệp huy động với mức lãi suất thấp thì doanh nghiệp sẽ có lợi nhuận cao hơn khi sử dụng vốn này

Chi phí vốn huy động so với suất sinh lời nội bộ của dự án đầu tư (IRR) Nếu IRR lớn hơn chi phí vốn huy động thì doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn hiệu quả và ngược lại

Suất sinh lời nội bộ xác định được từ việc giải phương trình sau:

Trong đó: NCFt là dòng tiền ròng năm t NPV là giá trị hiện tại ròng của dự án

1.5.4 Rủi ro nguồn vốn doanh nghiệp huy động

Dự án đầu tư là hoạt động lâu dài, nếu doanh nghiệp bị ngưng cung cấp nguồn vốn hay chậm giải ngân so với tiến độ của dự án thì doanh nghiệp sẽ gặp rủi

ro bất cứ lúc nào Chính vì hoạt động đặc trưng của dự án bất động sản nên phải xem đến sự phù hợp của nguồn vốn và tiến độ giải ngân của vốn huy động

Ta còn phải xem xét rủi ro khi doanh nghiệp không có khả năng thanh toán những khoản vay đến hạn mà doanh nghiệp không đủ khả năng chi trả cho khoản này Chúng ta dùng các tỷ số thành toán để đánh giá mức độ rủi ro dạng này

Ngày đăng: 29/06/2023, 17:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. David Begg, Standley Fischer, Rudige Darnbusch, Kinh tế học vĩ mô, Nhà xuất bản Thống kê, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học vĩ mô
Tác giả: David Begg, Standley Fischer, Rudige Darnbusch
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2008
2. Vũ Duy Hào và Đàm Văn Huệ, Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nhà Xuất Bản Giao Thông Vận Tải, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị tài chính doanh nghiệp
Tác giả: Vũ Duy Hào, Đàm Văn Huệ
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Giao Thông Vận Tải
Năm: 2012
3. Trần Ngọc Thơ, Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nhà xuất bản Thống kê, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính doanh nghiệp hiện đại
Tác giả: Trần Ngọc Thơ
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2003
4. Trương Tuấn Anh, Huy động vốn cho các dự án bất động sản của Công ty Cổ Phần Thanh Bình Hà Hội. Luận văn thạc sĩ, Khoa Quản Trị Kinh Doanh, Đại học Kinh Tế Quốc Dân, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động vốn cho các dự án bất động sản của Công ty Cổ Phần Thanh Bình Hà Hội
Tác giả: Trương Tuấn Anh
Nhà XB: Khoa Quản Trị Kinh Doanh, Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Năm: 2013
5. Nguyễn Trọng Cơ, Nghiêm Thị Hà, Giáo trình Phân tích tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản Tài chính, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phân tích tài chính doanh nghiệp
Tác giả: Nguyễn Trọng Cơ, Nghiêm Thị Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2015
6. CBRE, Triển vọng thị trường bất động sản Việt Nam năm 2017, Việt Nam 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển vọng thị trường bất động sản Việt Nam năm 2017
Tác giả: CBRE
Nhà XB: Việt Nam
Năm: 2017
7. Savills, Bất động sản Việt Nam - Tổng quan phát triển trong hai thập kỷ, Việt Nam 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bất động sản Việt Nam - Tổng quan phát triển trong hai thập kỷ
Tác giả: Savills
Nhà XB: Việt Nam
Năm: 2015
8. Trần Ngọc Thơ (2012), Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nhà xuất bản thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính doanh nghiệp hiện đại
Tác giả: Trần Ngọc Thơ
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2012
9. Báo cáo tài chính các năm từ 2013-2016, Phòng Tài chính kế toán, Công ty TNHH Thương mại dịch vụ khách sạn Tân Hoàng Minh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w