Phát triển các cụm liên kết công nghiệp da giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ tại Việt Nam.Phát triển các cụm liên kết công nghiệp da giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ tại Việt Nam.Phát triển các cụm liên kết công nghiệp da giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ tại Việt Nam.Phát triển các cụm liên kết công nghiệp da giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ tại Việt Nam.Phát triển các cụm liên kết công nghiệp da giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ tại Việt Nam.Phát triển các cụm liên kết công nghiệp da giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ tại Việt Nam.Phát triển các cụm liên kết công nghiệp da giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ tại Việt Nam.Phát triển các cụm liên kết công nghiệp da giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ tại Việt Nam.Phát triển các cụm liên kết công nghiệp da giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ tại Việt Nam.Phát triển các cụm liên kết công nghiệp da giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ tại Việt Nam.Phát triển các cụm liên kết công nghiệp da giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ tại Việt Nam.Phát triển các cụm liên kết công nghiệp da giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ tại Việt Nam.Phát triển các cụm liên kết công nghiệp da giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ tại Việt Nam.Phát triển các cụm liên kết công nghiệp da giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ tại Việt Nam.Phát triển các cụm liên kết công nghiệp da giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ tại Việt Nam.Phát triển các cụm liên kết công nghiệp da giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ tại Việt Nam.Phát triển các cụm liên kết công nghiệp da giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ tại Việt Nam.Phát triển các cụm liên kết công nghiệp da giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ tại Việt Nam.
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Câu hỏi nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Những điểm mới của luận án 6
8 Kết cấu của luận án 7
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 8
1.1 Nghiên cứu về cụm liên kết công nghiệp và cụm liên kết công nghiệp ngành da – giày……… 8
1.2 Nghiên cứu về phát triển cụm liên kết công nghiệp và phát triển cụm liên kết công nghiệp da - giày 11
1.3 Nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cụm liên kết công nghiệp và phát triển cụm liên kết ngành da - giày 17
1.4 Giới hạn và khoảng trống nghiên cứu 21
1.4.1 Giới hạn nghiên cứu 21
1.4.2 Khoảng trống nghiên cứu và hướng nghiên cứu của đề tài 21
Kết luận chương 1 22
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN CỤM LIÊN KẾT CÔNG NGHIỆP NGÀNH DA -GIÀY 23
2.1 Khái niệm, vai trò và chuỗi giá trị ngành da - giày 23
2.1.1 Khái niệm ngành da - giày 23
2.1.2 Vai trò của ngành da - giày 24
2.1.3 Chuỗi giá trị ngành da - giày 25
2.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của cụm liên kết công nghiệp da - giày …….26
2.2.1 Khái niệm cụm liên kết công nghiệp và cụm liên kết công nghiệp da - giày 26
Trang 42.2.2 Đặc điểm của cụm liên kết công nghiệp da - giày 28
2.2.3 Vai trò của cụm liên kết công nghiệp da - giày 30
2.3 Cơ sở lý luận về phát triển cụm liên kết công nghiệp da - giày 32
2.3.1 Khái niệm phát triển cụm liên kết công nghiệp da - giày 32
2.3.2 Các lý thuyết liên quan đến phát triển cụm liên kết công nghiệp 34
2.3.3 Nội dung phát triển cụm liên kết công nghiệp 38
2.3.4 Các chỉ số đánh giá sự phát triển cụm liên kết công nghiệp 42
2.3.5 Các yếu tố tác động đến phát triển cụm liên kết công nghiệp da – giày………43
2.4 Cơ sở thực tiễn về phát triển cụm liên kết công nghiệp da - giày 49
2.4.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia về phát triển cụm liên kết công nghiệp và cụm liên kết công nghiệp da - giày 49
2.4.2 Bài học rút ra cho Việt Nam trong phát triển cụm liên kết công nghiệp da - giày 55 Kết luận chương 2 57
Chương 3: GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 58 3.1 Quy trình thực hiện nghiên cứu 58
3.2 Giả thuyết nghiên cứu 60
3.3 Mô hình nghiên cứu yếu tố tác động đến phát triển cụm liên kết công nghiệp da – giày………… 66
3.4 Phương pháp nghiên cứu 67
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 67
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 69
Kết luận chương 3 76
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN CỤM LIÊN KẾT CÔNG NGHIỆP DA GIÀY Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ 77
4.1 Tổng quan về các doanh nghiệp ngành da - giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ……… 77
4.1.1 Tổng quan về Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ 77
4.1.2 Tổng quan về các doanh nghiệp ngành da - giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ……… 80
Trang 54.1.3 Tổng quan các cụm công nghiệp và cụm công nghiệp da - giày ở Vùng kinh tế
trọng điểm Bắc bộ 85
4.2 Thực trạng phát triển cụm liên kết công nghiệp da - giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ giai đoạn 2011 đến 2021 86
4.2.1 Mô tả đối tượng tham gia khảo sát 86
4.2.2 Kết quả phát triển cụm liên kết công nghiệp da - giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ……… 87
4.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cụm liên kết công nghiệp ngành da - giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ 103
4.3.1 Mô tả mẫu phiếu khảo sát 103
4.3.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu 110
4.4 Đánh giá chung về phát triển cụm liên kết công nghiệp da - giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ 117
4.4.1 Kết quả đạt được 117
4.4.2 Hạn chế và nguyên nhân chủ yếu 120
Kết luận chương 4 124
Chương 5: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CỤM LIÊN KẾT CÔNG NGHIỆP DA GIÀY Ở VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ 125
5.1 Định hướng phát triển công nghiệp da giày và cụm liên kết công nghiệp da -giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ 125
5.1.1 Mô hình kim cương trong phát triển công nghiệp da - giày và cụm liên kết công nghiệp da - giày 125
5.1.2 Định hướng phát triển 126
5.2 Giải pháp thúc đẩy phát triển cụm liên kết công nghiệp da - giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ 128
5.2.1 Nâng cao nhận thức của các nhà quản trị, các bên liên quan về phát triển cụm liên kết công nghệp da - giày 128
5.2.2 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp ngành da - giày gắn với định hướng tham gia chuỗi liên kết 130
5.2.3 Tăng cường năng lực tài chính cho các doanh nghiệp ngành da – giày khi tham gia vào cụm liên kết công nghiệp 131
Trang 65.2.4 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong phát hoạt động của các doanh nghiệp
ngành da - giày 132
5.2.5 Tiếp tục thực hiện mô hình và lộ trình liên kết trong phát triển cụm liên kết công nghiệp ngành da giày 133
5.3 Một số kiến nghị đối với phát triển cụm liên kết công nghiệp da - giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ 138
5.3.1 Hoàn thiện hệ thống chính sách phát triển cụm liên kết công nghiệp da - giày.138 5.3.2 Thu hút đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành da - giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ 142
5.3.3 Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ……… 146
Kết luận chương 5 148
KẾT LUẬN 149
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 151
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC 161
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết
tắt
AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực Mậu dịch Tự do ASEANASEAN Association of South East
Asian Nations Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
CPTTP
Progressive Agreement forTrans-Pacific Partnership
Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến
bộ xuyên Thái Bình Dương
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do
FOB Free On Board Mua nguyên liệu, bán thành phẩmGDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
LEFASO Vietnam Leather, Footwear Hiệp hội Da - Giầy và túi xách Việt
Trang 8and Handbag Association Nam
LQ Location Quotient Mức độ tương đồng khu vực
Manufacturing
Tự thiết kế, sản xuất và bán sảnphẩm
OBM Original Brand Manufacturing Sản phẩm gắn thương hiệu của
doanh nghiệpPCI Provincial Competitiveness
PPP Public - Private Partnership Đầu tư theo hình thức đối tác công tưR&D Research & Development Hoạt động nghiên cứu và phát triểnSWOT Strengths, Weaknesses,
Opportunities and Threats
Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội vàthách thức
TFP Total factor Productivity Năng suất các nhân tố tổng hợp
UNIDO United Nations Industrial
Development Organization
Tổ chức phát triển công nghiệp củaLiên Hợp quốc
Commerce and Industry
Phòng Thương mại và Công nghiệpViệt Nam
Trang 9
DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1 Các giả thuyết nghiên cứu nhân tố tác động tới phát triển cụm liên kết
DN da - giày ở VKTTĐ-BB 67
Bảng 3.2 Thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển CLKCN ngành da - giày ở VKTTĐ-BB 70
Bảng 4.1 Các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của VKTTĐ-BB 78
Bảng 4.2 Kim ngạch xuất khẩu ngành da - giày giai đoạn 2011 - 2021 83
Bảng 4.3 Xuất khẩu của DN FDI giai đoạn 2011 - 2021 83
Bảng 4.4 Xuất khẩu da - giày của Việt Nam sang các Châu lục 84
Bảng 4.5 Các thị trường xuất khẩu chủ lực của ngành da - giày Việt Nam 85
Bảng 4.6 Các DN khảo sát 86
Bảng 4.7 Thông tin cơ bản của các đối tượng tham gia khảo sát 87
Bảng 4.8 Thực trạng số lượng DN sản xuất da - giày ở VKTTĐ-BB theo địa phương giai đoạn 2011 - 2021 88
Bảng 4.9 Chỉ số LQLĐ của các tỉnh, thành phố trong vùng giai đoạn 2011 - 2021 89 Bảng 4.10 Thực trạng lao động tham gia vào ngành da - giày ở VKTTĐ-BB theo địa phương giai đoạn 2011 - 2021 90
Bảng 4.11 Thực trạng giá trị sản xuất của ngành da - giày ở VKTTĐ-BB theo địa phương giai đoạn 2011 - 2021 91
Bảng 4.12 Chỉ số LQGTSX của các tỉnh, thành phố trong Vùng năm 2011 - 2021 .91 Bảng 4.13 Thị trường nhập khẩu da thuộc (HS: 4107-4115) 95
Bảng 4.14 Thị trường nhập khẩu máy, thiết bị da - giày 96
Bảng 4.15 Kết quả đánh giá sự phát triển CLKCN da - giày ở VKTTĐ-BB thông qua khảo sát 100
Bảng 4.16 Thống kê mô tả các biến nhân tố tác động tới phát triển CLKCN da - giày ở VKTTĐ-BB 103
Bảng 4.17 Kết quả kiểm định độ tin cậy của nhân tố tác động đến sự phát triển CLKCN da - giày ở VKTTĐ-BB 104
Bảng 4.18 Hệ số KMO và Bartlett's Test nhân tố tác động tới sự phát triển CLKCN da - giày ở VKTTĐ-BB 106
Trang 10Bảng 4.19 Tổng phương sai trích 107
Bảng 4.20 Tương quan giữa nhân tố độc lập và biến phụ thuộc 107
Bảng 4.21 Tóm tắt mô hình hồi quy 109
Bảng 4.22 ANOVA 109
Bảng 4.23 Kết quả hệ số hồi quy tương quan Beta 110
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Lý thuyết kinh tế học về Tích tụ và Phân đoạn 28
Hình 2.2 Mô hình phát triển năng lực động của DN 36
Hình 2.3 Quá trình phát triển CLKCN của Hàn Quốc từ thập niên 1960 đến nay 49 Hình 2.4 Trình tự các biện pháp trong chính sách CLKCN của Nhật Bản 54
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu tổng quát của luận án 58
Hình 3.2 Khái quát quy trình triển khai của luận án 59
Hình 3.3 Mô hình nghiên cứu yếu tố tác động đến phát triển cụm liên kết công nghiệp da - giày 66
Hình 3.4 Quy tắc kiểm định d của Durbin-Watson 75
Hình 4.1 Cơ cấu ngành kinh tế của vùng năm 2021 79
Hình 5.1 Mô hình kim cương 125
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết đề tài
Trong xu hướng hội nhập kinh tế khu vực và thế giới như hiện nay thì việcliên kết ngành với các CGT của các ngành, lĩnh vực là một tất yếu nhằm tạo ranhững lợi thế cạnh tranh của ngành gắn với từng quốc gia, vùng lãnh thổ Theo Tổ
chức Phát triển Công nghiệp của Liên Hợp quốc (UNIDO, 2001), “CLKCN là một khu vực tập trung các DN có quan hệ chặt chẽ với nhau về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tạo ra một hệ sinh thái gắn với từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể Biểu hiện rõ nhất của CLKCN là quá trình tích tụ và tập trung của các chuỗi giá trị, chuỗi liên kết các DN cùng ngành, các DN hỗ trợ nhằm tạo ra những lợi thế về địa lý, lợi thế
về logictics và nhưng lợi thế khác liên quan” Có thể nói, mỗi doanh nghiệp đều có
những lợi thế cũng như thế mạnh nhất định về thương hiệu thể hiện trong thiết kếsản phẩm, quá trình sản xuất, kinh doanh, hoạt động truyền thông hay hoạt độngphân phối sản phẩm Các khâu của hoạt động trên đóng góp vào các thành tựu của
DN thông qua tạo lập, hình thành các lợi thế cạnh tranh và giảm thiểu những chi phíphát sinh không cần thiết trong hoạt động sản xuất - kinh doanh của DN Hơn nữa,trong quá trình phát triển của DN thì CGT là một công cụ, cách thức giúp xác địnhđược điểm mạnh, lợi thế của DN ở từng lĩnh vực, mảng công tác qua đó xác địnhđược những công việc, nhiệm vụ mang tính chiến lược, trọng tâm liên quan đếnnhau nhằm làm rõ hơn cấu phần của chi phí, tiểm lực của các nguồn lực hiện có qua
đó giúp DN tạo ra sự khác biệt hóa trong ngành
Ngành da - giày giữ vị trí trọng yếu và thu hút một lượng lớn lao động trongnền kinh tế của các nước đang phát triển như Việt Nam Tuy ngành CN-DG khôngphải là ngành có mối liên hệ sản xuất phức tạp, nhưng tính chuyên môn hóa sảnxuất của các DN trong ngành này thể hiện khá rõ nét ở các khâu và phân đoạn khácnhau của quá trình sản xuất từ nghiên cứu thiết kế sản phẩm đến việc phân phối vàtiêu dùng các SP-DG Việc phát triển các CLKCN trong ngành da - giày sẽ tạo điềukiện kết nối chuỗi sản xuất hữu hiệu hơn, tạo điều kiện tăng năng suất lao động và khảnăng cạnh tranh của SP-DG Do được bố trí trong một khu vực lãnh thổ nhất địnhdưới hình thức CLKCN, các DN sản xuất sản phẩm và sản xuất nguyên, phụ liệu sẽ
có điều kiện giảm thiểu chi phí giao dịch và chi phí vận chuyển, chia sẻ thông tin thịtrường
Trang 13Theo Bộ Công Thương (2021), Việt Nam đang có khoảng 1.532 DN sản xuất
da - giày (trong đó, sản xuất giày dép có 950 DN) và hiện nay ngành công nghiệpnày đang thu hút gần 1,5 triệu lao động tham gia hoặc tham gia vào các DN phụ trợngành da - giày Hầu hết người lao động hoạt động trong lĩnh vực này có kỹ năngtốt hơn so với công nhân ở những thị trường mới nổi như Campuchia, Lào,Myanmar, Bangladesh… Đặc biệt, trong những năm trở lại đây, cùng với việc thamgia nhiều FTA và các chính sách thu hút đầu tư hấp dẫn, Việt Nam đã và đang trởthành điểm đến của rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài ở nhiều lĩnh vực, ngành nghềkhác nhau trong đó có ngành da - giày Tổng quan chung cho thấy, cùng với sự cómặt ngày càng nhiều DN có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực da - giày tại thịtrường Việt Nam, thì hoạt động của các DN trong lĩnh vực hỗ trợ, phụ trợ cũng có
sự dịch chuyển theo bảo đảm tạo ra sự liên kết bước đầu trong phát triển ngành
CN-DG ở Việt Nam CGT này đã giúp nâng tỷ lệ cung ứng sản phẩm phụ trợ của thịtrường nội địa lên qua đó thúc đẩy CGT phát triển của về quy mô và chất lượng.Chỉ tính riêng trong lĩnh vực da - giày, tỷ lệ cung ứng sản phẩm phụ trợ hiện đã tănghơn 50% (Bộ Công Thương, 2022) Chính vì thế, xu hướng này không những tạo cơhội cho DN xuất khẩu tận dụng tối đa lợi thế giảm thuế từ các FTA mà còn tạo độnglực thu hút DN có vốn đầu tư nước ngoài tham gia vào lĩnh vực này Sự phát triểncủa ngành da - giày đã tạo ra nhiều việc làm cho người lao động khi các DN trongngành cũng tranh thủ mở rộng sang các thị trường mà Việt Nam đã tham gia ký kếthiệp định thương mại tự do Đến nay, SP-DG Việt Nam đã được xuất khẩu ra nhiềunước trên thế giới, tập trung ở thị trường Mỹ, EU và Nhật Bản Mặc dù, ngành da -giày được đánh giá là ngành công nghiệp mũi nhọn của Việt Nam nhưng hiện nayngành da - giày vẫn chủ yếu dựa trên gia công với nguồn nguyên, phụ liệu chủ yếuphải nhập khẩu (gần 60%), nhiều nhất là da thuộc (Bộ Công Thương, 2021) Điềunày vừa làm cho hiệu quả kinh tế của ngành thấp kém, vừa gây nên tình trạng lệthuộc vào thị trường nước ngoài, đặc biệt trong những giai đoạn mà bối cảnh thếgiới bị tác động từ các xung đột chính trị, chiến tranh thương mại và bùng phát đạidịch như vừa qua Mặt khác, một trong những hạn chế lớn nhất của các DN da -giày tại Việt Nam là có sự phát triển độc lập, thiếu sự liên kết và tác động của cạnhtranh trong nước rất mạnh mẽ, trong khi đó thực tiễn các DN lớn trong lĩnh vực da -
Trang 14giày hiện nay chủ yếu là DN có vốn đầu tư nước ngoài Việc chưa thiết lập đượcquan hệ liên kết chặt chẽ, bền vững giữa các DN trong ngành với nhau, cũng nhưchưa hình thành mạng lưới sản xuất da - giày theo đúng nghĩa đầy đủ, là những yếu
tố làm cho hiệu quả phát triển của ngành chưa thực sự hiệu quả Nhận thức rõ vaitrò của CLKCN trong phát triển CN-DG, Chính phủ đã có chủ trương xây dựng các
cụm CN-DG ở một số địa phương, cụ thể: trong “Quy hoạch phát triển tổng thể ngành CN-DG Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2025” theo Quyết
định số 6209/QĐ-BCT ngày 25/10/2010 của Bộ Công Thương, đã xác định nhiệm
vụ “Xây dựng các khu, cụm công nghiệp chuyên ngành da - giày có cơ sở hạ tầng
đủ điều kiện cung cấp điện, nước, xử lý nước thải đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường theo quy định của Nhà nước Thực hiện di dời và xây dựng mới các cơ sở dệt nhuộm tại các khu, cụm công nghiệp tập trung để có điều kiện xử lý nước thải
và giải quyết tốt việc ô nhiễm môi trường” Theo chủ trương này, VKTTĐ-BB là
vùng sẽ được hình thành nhiều CLKCN da - giày Tuy nhiên, cho đến nay do nhữnghạn chế nhất định về nhận thức, về cơ chế chính sách và về tổ chức thực hiện và đặcbiệt là năng lực của các DN da - giày cũng như các DN hỗ trợ tại khu vực này màcác CLKCN da - giày ở VKTTĐ-BB chưa được hình thành rõ rệt
Về mặt học thuật, qua nghiên cứu về phát triển CLKCN ở Việt Nam cũngnhư trên thế giới cho thấy sự phát triển từ cả hai khía cạnh số lượng và chất lượngbảo đảm sự tập trung đủ số lượng các DN cùng ngành, cũng như các DN phụ trợliên quan Đồng thời, các mối liên kết giữa các DN trong CGT gắn với ngành, lĩnhvực cần được chặt chẽ và tạo ra động lực cho sự phát triển của các DN Mô hìnhnghiên cứu của các tác giả như Nguyễn Ngọc Sơn (2015), Nguyễn Đình Tài (2014)hay Đặng Huyền Anh (2017) cũng đã chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến sự pháttriển của CLKCN, trong đó vai trò của DN với những định hướng (lựa chọn) thamgia vào CGT, sự đầu tư tài chính, ứng dụng công nghệ hay đầu tư cho nguồn nhânlực ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của CLKCN ngành mà DN tham gia
Bên cạnh đó, việc hội nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống kinh tế thôngqua việc ký kết và thực hiện các hiệp định thương mại tự do (FTA) như CPTPP,EVFTA sẽ tạo ra những cơ hội to lớn, đồng thời cũng đặt ra những thách thức vớingành da - giày Việt Nam Xu hướng tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và phát
Trang 15triển bền vững cũng tác động rất lớn đến cấu trúc ngành da - giày Có thể nói, cùngvới việc tổ chức lại sản xuất của các DN da - giày và các DN phụ trợ liên quan, pháttriển mạnh mẽ CNHT da - giày, việc phát triển CLKCN da - giày trở thành một yếucầu cấp thiết găn với quy hoạch kinh tế vùng, khu vực Với những lý do nêu trên, có
thể khẳng định rằng việc nghiên cứu chủ đề “Phát triển các cụm liên kết công nghiệp da - giày ở Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ tại Việt Nam” có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn thiết thực
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là trên cơ sở lý luận, đánh giá thực trạngphát triển CLKCN da - giày ở VKTTĐ-BB, qua đó đề xuất các giải pháp phát triểnCLKCN da - giày ở VKTTĐ-BB đến năm 2025, giai đoạn đến năm 2035
3 Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện được các mục tiêu nghiên cứu trên, luận án cần trả lời các câu
hỏi: (i) Mức độ đầy đủ và cập nhật về lý luận liên quan đến phát triển CLKCN? (ii) Thực trạng phát triển CLKCN da - giày ở VKTTĐ-BB hiện nay như thế nào? (iii)
Các yếu tố nào ảnh hưởng đến phát triển CLKCN da - giày ở VKTTĐ-BB? Các yếu
tố này được đánh giá qua các tiêu chí nào? (iv) Những kết quả đạt được và hạn chế trong phát triển CLKCN da - giày ở VKTTĐ-BB? (v) Các doanh nghiệp ngành da -
giày ở VKTTĐ-BB cần triển khai các giải pháp nào đển phát triển CLKCN ngành
da - giày trong giai đoạn đến năm 2025, giai đoạn đến năm 2035?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là phát triển CLKCN da - giày và những yếu
tố ảnh hưởng đến phát triển CLKCN da - giày ở VKTTĐ-BB
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận án nghiên cứu phát triển CLKCN dưới góc độ quản trị kinh
doanh từ góc nhìn của các DN da - giày, DN phụ trợ ngành da - giày trên cơ sở cácchính sách của Nhà nước về phát triển CLKCN ngành da - giày ở VKTTĐ-BB, trongđó:
- Nội dung phát triển CLKCN ngành da - giày được phân tích từ 02 góc độ:
Số lượng (trong điều kiện số liệu, thông tin cho phép, nghiên cứu này sử dụngphương pháp xác định CLKCN thông qua chỉ số về mức tương đồng khu vực
Trang 16(location quotient - LQ) để nhận diện sự phát triển CLKCN trong các vùng lãnh thổkhác nhau); về chất lượng (mức độ liên kết trong nghiên cứu và phát triển sảnphẩm; mức độ liên kết với các nhà cung cấp nguyên, phụ liệu đầu vào của quá trìnhsản xuất; mức độ liên kết với các DN gia công hoặc tham gia vào một khâu của quátrình sản xuất sản phẩm; mức độ liên kết thực hiện thương mại hóa sản phẩm).
- Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển CLKCN ngành da - giày: các yếu tố
khách quan (đặc điểm của CGT sản phẩm; sự tích tụ, tập trung hóa sản xuất của cácDN; sự phát triển của ngành CNHT), các yếu tố chủ quan (định hướng (lựa chọn)của DN tham gia vào CGT của các doanh nghiệp; đội ngũ nhân lực của các DN;năng lực tài chính của các DN; ứng dụng công nghệ trong các DN; thương hiệu của
DN và sản phẩm)
Về không gian: Nghiên cứu CLKCN ngành da - giày ở Vùng kinh tế trọng
điểm Bắc bộ tại Việt Nam
Về thời gian: Các số liệu thứ cấp thu thập chủ yếu trong giai đoạn từ 2017
-2021, giải pháp đề xuất đến năm 2025, giai đoạn đến năm 2035
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu nêu trên, đề tài luận
án thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa và làm rõ hơn một bước những vấn đề lý luận liên
quan đến phát triển CLKCN da - giày;
Thứ hai, nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia về phát triển CLKCN,
rút ra những bài học có thể áp dụng cho các doanh nghiệp trong ngành da - giày tạiViệt Nam;
Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng phát triển CLKCN da - giày ở
VKTTĐ-BB, rút ra những kết quả đạt được, những hạn chế và xác định được cácnguyên nhân của những hạn chế;
Thứ tư, nghiên cứu và phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển
CLKCN da - giày ở VKTTĐ-BB làm căn cứ để đề xuất các giải pháp;
Thứ năm, đề xuất các giải pháp phát triển CLKCN da - giày ở VKTTĐ-BB
đến năm 2025, giai đoạn đến năm 2035
6 Phương pháp nghiên cứu
Trang 17Nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu cũng như hoàn thành các nhiệm vụ vàmục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận án thực hiện các phương pháp nghiên cứu chủ yếusau:
6.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
Trên cơ sở tổng quan các kết quả nghiên cứu của các tác giả trước đây, sosánh và đối chiếu với các lý luận, lý thuyết liên quan, luận án sử dụng các phươngpháp như quan sát, thống kê, so sánh để thu thập các dữ liệu liên quan, nhằm nắmbắt các bài học kinh nghiệm, thực trạng phát triển CLKCN da - giày ở VKTTĐ-BB.Bên cạnh đó, luận án sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu để bổ sung thêm các ýkiến đánh giá của các nhà quản lý, các chủ DN về phát triển CLKCN da - giày ởVKTTĐ-BB cũng như làm căn cứ để hiểu chỉnh, rà soát và bổ sung các biến liênquan đến đánh giá yếu tố ảnh hưởng đến phát triển CLKCN da - giày ở VKTTĐ-BB
6.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Luận án thực hiện việc khảo sát bằng bảng hỏi nhằm thu thập các thông tinliên quan đến mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến phát triển CLKCN da - giày ởVKTTĐ-BB Thông qua phương pháp này, luận án nhận diện, kiểm định và lượnghóa được mức độ ảnh hưởng của các yếu tố được đề xuất đến phát triển CLKCN da
- giày ở VKTTĐ-BB Cụ thể quá trình vận dụng và mô tả về phương pháp nghiêncứu định lượng sẽ được làm rõ ở chương 3 của luận án
7 Những điểm mới của luận án
7.1 Về lý luận
Thứ nhất, kết quả nghiên cứu của luận án đã hệ thống hóa và làm rõ hơn một
bước các lý luận, lý thuyết về phát triển CLKCN da - giày (làm rõ đặc điểm củaCLKCN cũng như đề xuất các chỉ số về số lượng, chất lượng đánh giá sự phát triểnCLKCN da - giày Đặc biệt, luận án cũng đã xác định và đề xuất các yếu tố ảnhhưởng đến phát triển CLKCN da - giày) Đây là nội dung khó vì các nghiên cứu vềCLKCN tại Việt Nam còn mỏng và chưa có nhiều nghiên cứu tiếp cận từ góc nhìncủa các DN tham gia vào CLKCN Chính vì lẽ đó, việc hệ thống lại theo hướnglogic và khoa học hơn cũng như có những phân tích làm rõ hơn một bước về vấn đềnày là cần thiết;
Thứ hai, nội dung của luận án cũng đã tổng quan, xây dựng được thang đo,
kiểm định độ tin cậy để xác lập mô hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến
Trang 18phát triển CLKCN da - giày, trong khi đó các nghiên cứu trước đó thường nghiêncứu chủ yếu từ góc nhìn chính sách vĩ mô liên quan đến phát triển kinh tế vùng, liênvùng Do đó, việc đề xuất, kiểm định được thang đo gắn với góc nhìn từ phía cácdoanh nghiệp ngành da - giày là một điểm mới của luận án.
7.2 Về thực tiễn
Thứ nhất, kết quả nghiên cứu của luận án giúp các nhà quản trị của các DN
trong ngành da - giày, các nhà quản lý, các tác giả là các nhà khoa học có thể hiểu,quan tâm và vận dụng vào thực tiễn hoạt động của mình Đồng thời, thông qua việcnghiên cứu thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng phát triển CLKCN da - giày ởVKTTĐ-BB các nhà quản trị có thể nhìn nhận mức độ quan trọng và sự cần thiếttrong việc lựa chọn tham gia vào CLKCN để có thể hợp tác và nâng cao năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp
Thứ hai, luận án là sản phẩm nghiên cứu khoa học chuyên sâu về phát triển
CLKCN gắn với một ngành, lĩnh vực cụ thể là ngành da - giày, nên đây là tài liệutham khảo sinh động cho quá trình giảng dạy, nghiên cứu liên quan đến quản trịkinh doanh, quản trị doanh nghiệp
Thứ ba, kết quả nghiên cứu của luận án cũng đã làm rõ và chỉ ra những kết
quả, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế liên quan đến phát triển CLKCN da - giày
ở VKTTĐ-BB, đề xuất các giải pháp chủ yếu phát triển CLKCN da - giày ởVKTTĐ-BB giai đoạn đến năm 2025, giai đoạn đến năm 2035
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nộidung của luận án được chia thành 5 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận
án; Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm về phát triển CLKCN
Chương 3: Giả thuyết nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu về phát triển CLKCN da - giày ở VKTTĐ-BB; Chương 5: Định hướng và giải pháp phát triển CLKCN da - giày ở VKTTĐ-BB.
Trang 19Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Lý thuyết CLKCN đã được ứng dụng khá rộng rãi ở các nước công nghiệpphát triển, các nước công nghiệp mới nổi cũng như các nước đang phát triển
1.1 Nghiên cứu về cụm liên kết công nghiệp và cụm liên kết công nghiệp ngành
da - giày
Sự phát triển của CLKCN tại các quốc gia xuất phát từ vài trò, ý nghĩa quantrọng của CLKCN trong sự chia sẻ về công nghệ và phát triển tập trung các lợi thếkinh tế của vùng, qua đó thúc đẩy KT-XH của địa phương phát triển, hiện nay trênthế giới có rất nhiều nhà khoa học quan tâm đến vấn đề này Bản chất của CLKN làliên kết các ngành sản xuất với nhau để tạo giá trị gia tăng cho nền kinh tế Porter(1998) đưa ra quan điểm của mình về CLKCN là một nhóm các công ty, tổ chứchiệp hội liên quan với nhau trong một lĩnh vực cụ thể, cùng tập trung tại một khuvực địa lý, liên kết dựa vào những khía cạnh tương đồng và bổ sung.xem xétCLKCN từ góc độ cạnh tranh Tác giả đã tiếp cận và nhìn nhận sự hình thànhCLKCN là một chiến lược kinh doanh nhằm tăng cường NLCT của một khu vựctrong môi trường cạnh tranh toàn cầu Ý tưởng chủ đạo mà Porter đưa ra là NLCTcủa một quốc gia hay một khu vực phụ thuộc vào NLCT của các ngành công nghiệp
và các DN Theo Porter, các CLKCN nắm giữ các mối liên kết quan trọng, có sự bổtrợ và lan toả về công nghệ, kỹ năng, thông tin, marketing, và nhu cầu của kháchhàng liên quan đến mọi DN và ngành công nghiệp Những lợi thế này cho phép các
DN có năng suất cao hơn và khả năng đổi mới lớn hơn, từ đó tăng khả năng cạnhtranh Tác giả Gordon và cộng sự (2000) cũng đi sâu nghiên cứu bản chất về
CLKCN với “CLKCN: Tổ hợp, tích tụ hay mạng lưới xã hội?” đã phân tích về sự
khác biệt trong 3 mô hình về CLKCN: Mô hình cổ điển về sự tập kinh tế thuần túy(The classic model of pure agglomeration); Mô hình tổ hợp công nghiệp (Theindustrial complex model) và Mô hình mạng lưới xã hội (The social networkmodel) Các tác giả đã đặt ra những giả thuyết rất cụ thể về khái niệm CLKCNtrong từng ngành nghề khác nhau tập trung vào ngành công nghiệp ô tô và ngànhchế biến gỗ đề làm rõ những luận điểm của mình về CLKCN
Trang 20Cùng nghiên cứu về vấn đề này dưới góc độ vai trò của CLKCN trong tập
trung các nguồn lực tác giả Barkley và cộng sự (2001) trong nghiên cứu “Lợi thế và bất lợi của các CLKCN tập trung” cho rằng lợi thế của CLKCN là khả năng tạo ra
việc làm ở địa phương, thúc đẩy phát triển các nhóm ngành công nghiệp mới, thúcđẩy quá trình CNH ở địa phương Tuy nhiên, CLKCN rất khó hình thành, do: i) Cácvùng rất khó để xác định các ngành cho ưu tiên đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng vàliên kết DN; ii) Các DN tham gia sau có thể không có đủ NLCT; iii) Các tổ chức hỗtrợ và liên kết rất khó thành lập Gần đây nhất là nhóm các nhà khoa học tại Châu
Âu là Barkley (2016) trong bài viết “Cách tiếp cận CLKCN, chính sách phát triển CLKCN và vai trò của CLKCN đối với NLCT và đổi mới Kết quả thống kê và bài học kinh nghiệm” đã đưa ra các khái niệm, đặc điểm, vai trò và chính sách phát
triển CLKCN ở Châu Âu Trong nghiên cứu của mình nhóm tác giả đã đặt ra cácgiả thuyết về sự phụ thuộc của các DN tại Châu Âu vào chuỗi liên kết, các CLKCNtập trung Nhóm cũng làm rõ những hạn chế trong việc mở rộng quy mô cácCLKCN tại một số nước châu Âu như Anh, Italy, Pháp và Đức Cũng nghiên cứu vềvấn đề này, tác giả Kuroiwa và cộng sự (2008) đã lựa chọn các quốc gia Đông Nam
Á là Malaysia, Thái Lan và Singapore đề nghiên cứu về quá trình hình thành về
CLKCN trong bài viết “Mạng lưới sản xuất và CLKCN Các nền kinh tế hội nhập ở Đông Nam Á” đã đề cập cách tiếp cận về CLKCN bao gồm khái niệm, các nhân tố
tác động, cũng như nghiên cứu điển hình các CLKCN điện tử ở Malaysia, CLKCNhóa sinh ở Singapore, CLKCN ô tô ở Thái Lan Các nghiên cứu tình huống đi sâunghiên cứu về mô hình CLKCN, cách thức liên kết giữa các DN trong CLKCN,cách thức tổ chức quản lý các CLKCN
Tác giả Hoàng Văn Hải (2013), đã nghiên cứu các tiêu chí xác định rõ cho
chiến lược hình thành CLKCN trong bài viết: “Một số luận cứ khoa học và thực tiễn cho xây dựng chiến lược phát triển CLKN ở Việt Nam đến năm 2020”, được trình bày tại Hội thảo “Xây dựng chiến lược phát triển CLKN ở Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn 2030” Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã làm rõ hơn các luận
cứ khoa học về các tiêu chí đánh giá sự phát triển của CLKN tại Việt Nam Trongmột nghiên cứu của mình tác giả Nguyễn Ngọc Sơn (2015), Nghiên cứu phát triểnCLKN: từ lý luận đến thực tiễn ở các nước trên thế giới và gợi ý chính sách cho
Trang 21Việt Nam, đã phân tích sự phát triển CLKN đóng vai trò quan trọng trong việc nângcao NLCT của các nước phát triển (Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản, Ý), các nền côngnghiệp mới như Hàn Quốc, Đài Loan cũng như của các nền kinh tế mới nổi nhưTrung Quốc, Nga hay Brazil Nhiều nước trên thế giới đang nỗ lực triển khai cácchính sách phát triển dựa trên CLKN Bài viết nghiên cứu cách tiếp cận về CLKN,kinh nghiệm phát triển CLKN ở các nước trên thế giới và gợi ý chính sách cho pháttriển CLKN ở Việt Nam.
Đối với ngành da - giày, việc nghiên cứu trực diện về CLKCN da - giày chưađược các tác giả quan tâm Tuy nghiên cứu cứu điển hình gắn với CLKCN thì cóthể kể đến: Nguyễn Việt Khôi (2019), nghiên cứu về vị thế của Việt Nam trongChuỗi giá trị toàn cầu đã phân tích và đánh giá các CGT lớn mà Việt Nam đangtham gia Đối với ngành da - giày, việc liên kết giữa các doanh nghiệp để tạo lợi thếcạnh tranh khi tham gia vào CGT toàn cầu được tác giả đánh giá với những liên kếtgiữa các doanh nghiệp da - giày và doanh nghiệp hỗ trợ, các vùng nguyên liệu Tuynhiên, theo tác giả việc ngành da - giày phụ thuộc rất nhiều vào nguyên liệu nhậpkhẩu ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển CLKCN ngành da - giày
Nghiên cứu về cụm liên kết công nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tếquốc tế tại Việt Nam, tác giả Trần Ngọc Vương (2021), đã đánh giá các mô hìnhliên kết của các ngành công nghiệp tại Việt Nam Theo tác giả ngành da - giày ViệtNam hiện nay chủ yếu vẫn là liên kết ngang với sự tập trung theo hạ tầng logisticstại các Vùng kinh tế Việc quy hoạch và định hướng các mô hình liên kết ngành da -giày trong thời gian qua tại Việt Nam chưa được quan tâm thực hiện, chưa cụ thểhóa và có hướng dẫn giúp các doanh nghiệp ngành da - giày dễ dàng tiếp cận vàhiểu được rõ các lợi thế khi tham gia vào của CLKCN ngành da - giày
Cùng nghiên cứng về CGT ngành da - giày, Trần Hải Nam (2019), trong bài
viết “Định vị chiến lược cho ngành da - giày Việt Nam”, đã phân tích thực trạng
hoạt động sản xuất của ngành da - giày, thực trạng chuỗi liên kết ngành Theo tácgiả muốn giữ được vị thế là một trong những ngành công nghiệp xuất khẩu mũinhọn của nền kinh tế theo chiến lược phát triển đến năm 2030, tầm nhìn 2035,ngành da - giày, túi xách cần có sự thay đổi về chất Thay vì chỉ gia công theo đơnhàng, DN (DN) cần phải biết được sản phẩm làm ra được tiêu thụ ở đâu, như thế
Trang 22nào? Đã đến lúc cần có được những thương hiệu riêng để da - giày Việt Nam có thểxâm nhập được mạng lưới xuất khẩu và tiếp thị trong CGT toàn cầu Nâng cấp CGTđược hiểu như là việc thay đổi, dịch chuyển các hoạt động nhằm tạo ra giá trị giatăng cao hơn Giá trị cao hơn có thể đạt được bằng cách hoặc dịch chuyển sang cácsản phẩm có giá trị cao hoặc tăng cường thêm các chức năng mới trong CGT nhưtham gia vào khâu thiết kế và marketing Kết quả nghiên cứu của các tác giả trêncho thấy việc liên kết chuỗi cũng như đặc tính chuỗi là một trong những nhân tốquan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của chuỗi liên kết ngành tại một khu vực địa
lý cụ thể Tuy nhiên, việc nghiên cứu về ảnh hưởng của đặc tính CGT da - giày đến
sự phát triển của của CLKN này chưa nhận được sự quan tâm của các tác giả, đây làmột khoảng trống cần được nghiên cứu làm rõ mối quan hệ hai vấn đề này
Có thể nhận thấy các nghiên cứu trong và ngoài nước đã làm rõ khái niệmCLKCN, xác đỉnh rõ được vai trò, vị trí của CLKCN trong phát triển kinh tế củatừng ngành, từng vùng qua đó giúp nền kinh tế tập trung vào các ngành, nghề có lợithể, giúp các DN có thể xác định lợi thế cạnh tranh của mình qua đó tận dụng tối đanhững lợi thế mà chuỗi liên kết mang lại
1.2 Nghiên cứu về phát triển cụm liên kết công nghiệp và phát triển cụm liên kết công nghiệp da - giày
Tác giả Britton (2003), đã cho rằng về lý thuyết hình thành CLKCN điện tử
ở Toronto, trung tâm sản xuất lớn nhất của Canada là các cơ sở sản xuất được phântầng từ cụm này được sử dụng để xác minh tầm quan trọng của các nguồn nguyênliệu bên ngoài, các nguồn lực nội sinh của các DN và sức mạnh của các kết nối thịtrường Phát triển mô hình nghiên cứu của Britton (2003), tác giả Kuchiki (2005),
đã áp dụng và nghiên cứu tại một số CLKCN tại Châu Á đã làm rõ những yếu tốquan trọng trong việc hình thành một CLKCN Chính phủ và các công ty đa quốcgia là những mắt xích quan trọng trong kinh tế để làm rõ về chính sách CLKCN.Chính phủ có chính sách cụm công nghiệp trong khi các công ty đa quốc gia đảmnhận quản lý CGT Vì vậy, chính sách CLKCN phải phù hợp với quản lý CGT
Nghiên cứu của tác giả Viesti (2010), cho thấy vai trò của CLKCN đối vớicác DN thông qua việc nâng cao hiệu quả của thị trường việc làm, hiệu của DN vàcủa công nghệ Nghiên cứu này đã phân tích kinh nghiệm phát triển một số CLKCN
Trang 23tiêu biểu ở Italia như CLKCN gốm sứ ở Sassuolo, CLKCN kim hoàn ở Arrezzo.Đồng quan điểm với Viesti (2010), nhóm tác giả Poh và cộng sự (2010), trong bài
viết “Industrial Cluster Development and Innovation in Singapore” (tạm dịch là
Phát triển và đổi mới cụm công nghiệp tại Singapore) đã làm rõ sự thành công củachính sách CLKCN của Singapore, rút ra những bài học nhằm giúp các quốc giakhác dễ dàng hơn trong định hướng rõ chính sách CLKCN của mình
Nghiên cứu về những ảnh hưởng của chính sách cụm liên kết CLKCN đế sự đổi mới trong phát triển kinh tế của các địa phương tác giả Yung và cộng sự (2014),
“The effects of industry cluster knowledge management on innovation performance”
(tạm dịch là những ảnh hưởng của quản lý cụm công nghiệp đến hiệu suất đổi mới)
đã tập trung vào các tác động của lợi thế cạnh tranh mag CLKCN tạo ra chi một quốc gia Nghiên cứu này thực hiện một cách tiếp cận khác, thực hiện nghiên cứu thực nghiệm tại 03 loại hình CLKCN tại Đài Loan (khu chế xuất, KCN và khu khoa học), trong đó phát triển kinh tế đặc biệt nổi bật và có đặc điểm CLKCN Nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp khảo sát, phân tích hồi quy và phân tích tương quan thăm dò tác động của các nguồn lực và mối quan hệ đặc biệt giữa các cụm công nghiệp đối với hiệu suất quản lý kiến thức và đổi mới của công ty Quản lý tri thức nổi lên như là trung gian của các cụm công nghiệp về hiệu suất đổi mới của công ty,
do đó cung cấp hỗ trợ cho các giả thuyết nghiên cứu Những phát hiện của nghiên cứu này có giá trị cho nghiên cứu sâu hơn và tư duy chiến lược về tính bền vững của hoạt động DN Cùng làm rõ về vấn đề này nhóm tác giả Barbieri và cộng sự
(2015), “Industrial development policies and performances in Southern China: Beyond the specialised industrial cluster program” (tạm dịch là các chính sách và
hoạt động phát triển công nghiệp ở miền Nam Trung Quốc: Vượt ra ngoài chương trình CLKN) Bài viết đã phân tích và làm rõ các chính sách được thực hiện bởi chính quyền tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) trong thúc đẩy sự phát triển công nghiệp và nâng cấp chất lượng đổi mới công nghệ của tỉnh Bài viết cung cấp một đóng góp theo nghĩa này bằng cách cung cấp một mô tả chi tiết về các công cụ chính sách, bằng cách đề xuất các chỉ số tổng hợp để định lượng các nỗ lực chính sách và hiệu suất công nghiệp ở các vùng Quảng Đông và bằng cách cung cấp một phân tích thống kê đầu tiên về các chỉ số này
Trang 24Tác giả Daddi và cộng sự (2017), “Using Life Cycle Assessment (LCA) to measure the environmental benefits of industrial symbiosis in an industrial cluster
of SMEs” (tạm dịch là Sử dụng Đánh giá Vòng đời (LCA) để đo lường lợi ích môi
trường đến chính sách CLKCN của các DN vừa và nhỏ) Phương pháp hợp tác vàchia sẻ cơ sở hạ tầng là những sáng kiến cộng sinh công nghiệp quan trọng được ápdụng trong các cụm của các DN vừa và nhỏ Một số nghiên cứu đã giải quyết cáclợi ích môi trường của cộng sinh công nghiệp, tuy nhiên chỉ có một số ít áp dụngĐánh giá Vòng đời (LCA) để đánh giá lợi ích của các sáng kiến này trên sản phẩmtiêu biểu của cụm Bài viết trình bày trường hợp của một cụm thuộc da của Ý nằm ởTuscany Thông qua tính toán LCA với dữ liệu trung bình, nghiên cứu so sánh kếtquả loại tác động giữa hai kịch bản: kịch bản hiện tại nơi các sáng kiến IS đượctriển khai và kịch bản khác nơi các sáng kiến này kém phát triển Kết quả cho thấy
sự đóng góp tích cực của các sáng kiến này trong một số loại tác động LCA nhưbiến đổi khí hậu và sự đa dạng sinh học trên mặt đất
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế sau đổi mới, các KCN,cụm công nghiệp và khu chế xuất đã xuất hiện ngày càng nhiều tại Việt Nam, nhiềulàng nghề truyền thống đã hình thành lên cụm công nghiệp làng nghề với sự tích tụ
và hiện đại hóa trong quá trình phát triển các sản phẩm của mình, trong quá trìnhnghiên cứu về CLKCN thì tác giả nhận thấy sự quan tâm rất lớn của các nhà khoahọc, nhà nghiên cứu tại Việt Nam về sự hình thành CLKCN như tác giả Hoàng Kim
Huyền và cộng sự (2007), đã triển khai nghiên cứu loạt đề tài về CLKCN: “Nghiên cứu đề xuất xây dựng mô hình CLKCN để phát triển CNHT Việt Nam”; “Đánh giá khả năng phát triển hệ thống CLKCN như một công cụ của chính sách công nghiệp quốc gia” (2008) Các đề tài này đã trình bày khung khổ lý thuyết cơ bản về phát
triển CLKCN, đề xuất định hướng phát triển CLKCN và các giải pháp chính sách
Trang 25một số nước, trên cơ sở đó phân tích vai trò của CLKCN trong việc phát triểnCNHT của Việt Nam và đề xuất một số giải pháp nhằm tận dụng chính sáchCLKCN trong phát triển ngành công nghiệp này Đã đề cập quan niệm, một số lýthuyết về CLKCN và kinh nghiệm của Hàn Quốc, Thái Lan trong phát triển
CLKCN Nguyễn Đình Tài (2017), trong bài viết “Nhận dạng các CLKN và một số
đề xuất chính sách tại Việt Nam”, đã khẳng định hầu hết các KCN và cụm công
nghiệp kể trên đều thuộc loại cụm công nghiệp thông thường với mô hình tổ chứckiểu cụm liên kết mạng Các CLKCN này hình thành tự phát, phát triển không bềnvững, kém năng động, liên hệ lỏng lẻo, đặc biệt có rất ít liên kết giữa các DN trongcụm với các DN và chủ thể kinh tế khác bên ngoài cụm Trên cơ sở các nền tác về
lý thuyết phát triển CLKCN của Porter (1998), tác giả Lê Thế Giới (2009), tác giả
Võ Trí Thành (2014) trong nghiên cứu của mình về “Phát triển mạng lưới CLKN ở Việt Nam” đã xác định bản chất của CLKN là liên kết các ngành sản xuất với nhau
để tạo giá trị gia tăng cho nền kinh tế Trên thực tế, tác động của CLKCN chủ yếu làtác động lan tỏa về kỹ năng công nghệ Hiện nay, ở nước ta, hệ thống các cụm côngnghiệp, KCN đã có những đóng góp tích cực ban đầu cho tăng trưởng kinh tế, thúcđẩy CNH, nhưng các khu này chưa tạo ra được mối liên kết cả chiều ngang và chiềudọc giữa các DN - điều cốt yếu để nâng cao NLCT và đổi mới công nghệ Do vậy,phát triển CLKN để tạo mạng lưới liên kết sản xuất và hình thành CGT là yêu cầucần thiết đối với phát triển kinh tế một cách bền vững
Cùng nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Vũ Thị Cẩm Thanh (2014), trong bài
viết “Đổi mới mô hình KCN nhìn từ tiếp cận lý thuyết cụm” đã đưa ra quan điểm
bất cứ một nước nào có tham vọng phát triển kinh tế cũng đều phải trải qua thời kỳCNH, và phương thức cốt yếu cho các nền kinh tế khác nhau là hình thành các vùngcông nghiệp tập trung mà ta gọi là các KCN Việt Nam đang trong giai đoạn “nở rộ”của các KCN Tuy nhiên, việc xây dựng và phát triển các KCN còn tồn tại nhiềuvấn đề khiến chúng ta phải đau đầu, đặc biệt là vấn đề về mô hình KCN - mô hìnhhiện tại tỏ ra thiếu tính liên kết, thiếu tính khoa học, thiếu hiệu quả kinh tế và gâykhó khăn cho công tác bảo vệ môi trường Liệu vận dụng lý thuyết Cụm nhằm tăngquy hoạch các ngành có liên quan có là một giải pháp phù hợp cho vấn đề đổi mớicác KCN hiện nay của Việt Nam?
Trang 26Nghiên cứu về sự ảnh hưởng của chính sách và sự hỗ trợ trong phát triểnchính sách CLKCN tại Việt Nam tác giả Nguyễn Kế Nghĩa (2014), với bài viết
“Nghiên cứu chính sách hỗ trợ ảnh hưởng đến sự phát triển CLKCN: Bài học thực tiễn đối với Việt Nam”, cho rằng việc xây dựng và phát triển một mạng lưới
CLKCN (industrial cluster) hữu hiệu là rất cần thiết và phù hợp xu thế phát triểnchung trên thế giới Việc tạo dựng CLKCN là một công cụ chính sách giúp tăngNLCT của các DN, nâng cao trình độ công nghệ trong nước, phát triển và chuyểnđổi cơ cấu kinh tế là một vấn đề câp thiết đang được đặt ra hiện nay Bài viết này sẽtrình bày các đặc trưng cơ bản của các chính sách công đổi với phát triển CLKCN.Bài viết phân tích đánh giá thực tiễn áp dụng chính sách phát triển CLKN ở cácnước Liên minh châu Âu và các nước Đông Á, đưa ra những vấn đề bài học thựctiền đối với Việt Nam trong phát triển CLKCN Coi sự phát triển hạ tầng các cụmcông nghiệp là một tiền đề để phát triển CLKCN, nhóm tác giả Lê Công Hoa,
Nguyễn Văn Phúc và Nguyễn Đình Trung (2012), trong bài viết “Xây dựng cơ sở
hạ tầng các cụm công nghiệp tại Hà Nội” đã cho rằng mối liên kết trong cụm cũng
như giữa các cụm, KCN tạo ra hệ thống các CGT của các ngành sản xuất Việc tậndụng hạ tầng của các khu, cụm công nghiệp giúp các DN dễ dàng hơn trong tạo raCGT, liên kết với nhau theo chiều dọc hoặc chiều ngang
Trong tác phẩm “Thực trạng liên kết vùng trong phát triển du lịch nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long” của nhóm tác giả Ngô Thị Phương Lan,
Nguyễn Thị Vân Hạnh (2020), cho rằng với đặc tính là một ngành kinh tế tổng hợpgắn với sự di chuyển của du khách, ngành công nghiệp du lịch có tính chất liênvùng cao Việc liên kết giữa các địa phương trong phát triển du lịch sẽ đem lạinhiều lợi ích không thể phủ nhận Một số giải pháp đã được đưa ra nhằm thúc đẩynhững liên kết hữu cơ giữa các địa phương Đồng bằng sông Cửu Long về lĩnh vực
du lịch nông nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả triển khai loại hình du lịch này, khaithác tối đa thế mạnh vùng, đem lại lợi ích lớn hơn cho các bên liên quan: Kêu gọi,thu hút vốn đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch nông nghiệp đồng bộgiữa các địa phương để hoạt động kết nối được thực hiện thuận tiện, thông suốt
Nghiên cứu về hạ tầng tại VKTTĐ-BB, hai tác giả Lê Du Long, Vũ Thành
Hưởng (2010), trong bài viết “Phát triển các KCN VKTTĐ-BB theo hướng bền
Trang 27vững” đã xác định những nhân tố hạ tầng như giao thông, điện, công nghệ thông tin,
quy hoạch vùng là những nhân tố ảnh hưởng rất nhiều đến định hướng phát triểncác KCN, cụm công nghiệp trên địa bàn các tỉnh thuộc VKTTĐ-BB Tuy nhiên,việc nghiên cứu ảnh hưởng của nhân tố hạ tầng cơ sở đến việc phát triển CLKCNngành da - giày chưa được nhóm tác giả nghiên cứu làm rõ
Ban Kinh tế Trung ương phối hợp với Ngân hàng thế giới (WB) (2022),
trong báo cáo “Không gian Kinh tế Việt Nam: Cụm liên kết ngành cấp quốc gia và cấp tỉnh”, đã khẳng định rõ xu hướng phát triển phổ biến của cụm liên kết ngành ở
các quốc gia trên thế giới qua đó thúc đẩy năng lực cạnh trạnh và giúp các doanhnghiệp tham gia sâu hơn, thực chất hơn trong mạng lưới sản xuất khu vực và toàncầu Với góc nhìn từ các chính sách thúc đẩy sự phát triển cụm liên kết ngành trongphạm vi một quốc gia hoặc một tỉnh, các tác giả đã có những phân tích rõ những lợithế, những điều kiện cần thiết cần được huy động nhằm giúp phát triển đối vớiCLKCN trong giai đoạn tiếp theo
Nghiên cứu về phát triển CLKCN ngành da - giày được Nguyễn TrọngThành (2020), đánh giá trong đánh giá về phát triển các cụm công nghiệp, cụmngành liên quan Trong đó, ngành công nghiệp da - giày là một trong những ngànhbước đầu có sự liên kế khi có sự tập trung, liên kết trong trong từng khu vực, từngvùng Tại Vùng Đồng bằng sông Hồng, các doanh nghiệp da - giày tập trung chủyếu tại Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định việc liên kết giữa các doanh nghiệp trongngành chưa thực sự nhiều mà chủ yếu vẫn là phát triển động lập Tuy nhiên, giaiđoạn 2018-2020, khi ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 đã tác động phần nào đến CGTngành công nghiệp da - giày, qua đó thúc đẩy liên kết trong ngành và tập trung khaithác lợi thể ngành trong Vùng
Cũng nghiên cứu phát triển CLKCN ngành da - giày trong bối cảnh chuyểnđổi số, tác giả Nguyễn Văn Sang (2021), đã đánh giá thực trạng liên kết của cácdoanh nghiệp da - giày tại Việt Nam, mức độ tham gia vào CGT toàn cầu của ngành
da - giày Việt Nam, tác động của chuyển đổi số đến quản lý, chia sẻ thông tin vàhình thành mạng lưới liên kết trên cơ sở hỗ trợ của Hiệp hội ngành nghề Kết quảchỉ ra những quan tâm của doanh nghiệp ngành da - giày đối với thực trạng liên kếtvùng, liên kết ngành là rất lớn nhưng những hạn chế về quy mô, hạn chế về quy
Trang 28hoạch vùng nguyên liệu cũng như hạn chế về thông tin đã tạo ra những khó khănnhất định ảnh hưởng đế sự phát triển CLKCN ngành da - giày.
Tổng quan tình hình nghiên cứu trên cho thấy vai trò quan trọng của các cơchế, chính sách trong phát triển CLKCN, đây là một vấn đề nhận được nhiều sựquan tâm của các tác giả Việc nghiên cứu cơ chế, chính sách là một nhân tố ảnhhưởng đến sự phát triển của CLKCN đã được nhắc đến trong các nghiên cứu vềCLKN dệt may, ngành gỗ hay ngành ô tô nhưng đối với ngành da - giày thì việclàm rõ mối quan hệ giữa nhân tố chính sách và sự phát triển của cụm chưa nhậnđược sự quan tâm, cần được nghiên cứu lảm rõ hơn trong các nghiên cứu khoa học
1.3 Nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cụm liên kết công nghiệp
và phát triển cụm liên kết ngành da - giày
Theo Porter (1985), khái điểm CGT được sử dụng nhằm giúp các DN có thểtìm ra các lợi thế cạnh tranh (thực tế và tiềm năng) của mình Ông cho rằng, mộtcông ty có thể cung cấp cho khách hàng một sản phẩm hay một dịch vụ có giá trịtương đương với đối thủ cạnh tranh của mình với chi phí thấp hơn hoặc chi phí caohơn nhưng có những đặc tính mà khách hàng mong muốn Porter đã lập luận rằng,đều nhìn vào một DN như là một tổng thể những hoạt động, những quá trình thì khó,thậm chí là không thể, tìm ra được một cách chính xác lợi thế cạnh tranh của họ là
gì Nhưng điều này có thể thực hiện được dễ dàng khi phân tách thành những hoạtđộng bên trong
Các nghiên cứu về chính sách CLKCN tại Việt Nam đã thu hút nhiều nhànghiên cứu trong và ngoài nước như tác giả James Riedel và cộng sự (2004), trong
nghiên cứu “CLKCN ở Châu Á: Phân tích cạnh tranh và hợp tác: Nghiên cứu điển hình ở Việt Nam” đưa ra khái niệm, các nhân tố tác động đến CLKCN và luận bàn
về vai trò của CLKCN Đề tài sử dụng cách tiếp cận bản đồ về tập trung côngnghiệp để xác định các CLKCN ở Việt Nam Nghiên cứu đưa ra 12 ngành có mức
độ tập trung cao ở các vùng gồm dệt, may, chế biến thủy sản, xi măng, gạo, thép,đường, phần mềm, giấy, xe máy, ô tô và điện tử Nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ởviệc xác định các CLKCN theo lĩnh vực và địa điểm, chưa chưa đề xuất được môhình và giải pháp phát triển các CLKCN Bài viết của tác giả Francesco Russo
(2010) về “Phát triển cụm DN nhỏ và vừa một cách tiếp cận mới nhằm nâng cao
Trang 29tính cạnh tranh cho DN nhỏ và vừa Việt Nam” đưa ra một số tiêu chí lựa chọn chiến
lược CLKCN và xác định các CLKCN sẽ được lựa chọn để ưu tiên triển khai doUNIDO tài trợ là da - giày, da - giày và chế biến gỗ
Hubert Schmitz (2006), Việt Nam được nhắc tới như một trường hợp điểnhình ở châu Á về khả năng sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng da - giày dựa trênkhai thác lợi thế về nhân công Các nhà sản xuất giầy dép Đài Loan đã đóng vai tròtrung gian kết nối giữa nhà máy sản xuất ở Việt Nam với các khách hàng quốc tế
Tác giả cũng nhấn mạnh đến việc cần thiết thực hiện “learning-by-exporting” do
thực tế không chỉ các nhà máy sản xuất giầy dép ở Việt Nam mà ở Trung Quốc,Brazil cũng khó tiếp cận được các năng lực cốt lõi trong GVC
Tác giả Ernst (2013) với các nghiên cứu cụ thể về chuỗi cung ứng da - giàycủa Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia, Thái Lan,Brazil, Uruguay, Hy Lạp… Nghiên cứu chuyên sâu về những tác động đến môitrường và xã hội của hoạt động sản xuất mặt hàng da - giày, quá trình tiến hànhthuộc da Các chỉ số liên quan đến các mức độ ô nhiễm môi trường, vấn đề môitrường lao động cho công nhân đã được đưa ra trong nghiên cứu của Ernst &Young Theo đó, Việt Nam có nhiều tiến bộ so với Bangladesh, Pakistan, Ấn Độnhưng còn yếu kém so với Thái Lan, Trung Quốc, Brazil, Hy Lạp
Nghiên cứu về đặc tính CGT của ngành, Nguyễn Ngọc Sơn (2015), trong bài
viết “Nghiên cứu phát triển CLKN: từ lý luận đến thực tiễn ở các nước trên thế giới
và gợi ý chính sách cho Việt Nam”, cho rằng quy mô về địa lý phụ thuộc vào mô
hình, đặc tính của CLKCN, nó có thể bao gồm một hoặc một số tỉnh/vùng của mộtquốc gia CLKCN có thể bao gồm các DN sản xuất tư liệu tiêu dùng và dịch vụ đểxuất khẩu, các DN cung cấp linh kiện, nguyên vật liệu, các DN hỗ trợ và cả các việnnghiên cứu, các cơ sở đào tạo và hỗ trợ kinh doanh Như vậy, trong CLKCN sẽ tậphợp các đơn vị trong CGT của ngành từ khâu sản xuất nguyên liệu thô đến các dịch
vụ sau bán hàng
Cùng nghiên cứu về chuỗi, tác giả Đặng Thị Huyền Anh (2018), trong bài
viết “Giải pháp cải thiện vị thế nền sản xuất Việt Nam - Góc nhìn từ bản đồ CGT toàn cầu”, cho rằng CGT toàn cầu (GVC) là một cách tiếp cận toàn diện về phân
công lao động quốc tế cũng như vị trí và NLCT của mỗi quốc gia trong mạng lưới
Trang 30sản xuất toàn cầu Tham gia CGT toàn cầu đem lại cơ hội tiếp cận và làm chủ mộthoặc nhiều công đoạn trong dây chuyền sản xuất thế giới Điều này đặc biệt có ýnghĩa đối với những nền sản xuất nhưng không đủ năng lực làm chủ toàn bộ quytrình sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh - điển hình là khu vực Châu Á Tham gia GVCs
có thể mở rộng cơ hội xuất khẩu một sản phẩm trung gian, gia tăng thị phần xuấtkhẩu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trong bài viết “Phát triển CLKN ở Việt Nam trong điều kiện toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế”, của tác giả Nguyễn Ngọc Sơn (2014) đã làm rõ hơn về
quan niệm về phát triển CLKN và những đặc trưng cơ bản của CLKN; đề xuất cácđiều kiện để phát triển CLKN ở Việt Nam; đánh giá về khả năng phát triển CLKNtheo lĩnh vực (ngành) và theo địa điểm (vùng và địa phương từ lợi thế của các vùng,mức độ tập trung lao động; mức độ tích tụ và tập trung công nghiệp, khả năng liênkết và vai trò chính quyền); đánh giá bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế đối vớiphát triển CLKN ở Việt Nam (Cơ hội, thách thức cho phát triển CLKN) trong điềukiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế; đưa ra các quan điểm, định hướng phát triểncụm nghành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 đặt trong mốiquan hệ với việc thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn
2011 - 2020 và chiến lược CNH của Việt Nam đến năm 2020; đề xuất các kiến nghịđối với Đảng và Chính phủ và các địa phương về các điều kiện và giải pháp để pháttriển CLKN trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Cũng nghiên cứu về vấn đề này tác giả Võ Trí Thành (2014), đưa ra các nhân
tố ảnh hướng đến quá trình phát triển của CLKCN như: (1) Nhận thức về chuối giátrị toàn cầu; (2) Sự phát triển của công nghệ; (3) Sự phát triển của mạng lưới cáckhu, cụm công nghiệp Nghiên cứu trực tiếp về đặc điểm của CGT ngành da - giày,
Nguyễn Hồng Yến (2020), trong bài viết “Xác lập chuỗi liên kết nội địa của ngành
da - giày trong bối cảnh Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới” đã cho rằng chuỗi liên kết nội địa sẽ giúp DN đáp ứng được các quy tắc xuất
xứ, chủ động được nguồn nguyên liệu, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa tại thịtrường nội địa cũng như hướng tới xuất khẩu
Trong những năm đầu của thế kỷ 21, có rất nhiều tác giả quan tâm đến sự
phát triển của CLKCN, tác giả Hafner (2005), trong nghiên cứu “Tập trung kinh tế
Trang 31và hình thành CLKCN: bằng chứng từ các DN Đức” đã cho thấy sự tập trung kinh
tế là điều kiện để phát triển các CLKCN Các DN tập trung sản xuất tạo nên mộtsức mạnh, là đòn bẩy để phát triển chuyên môn hóa, tạo sự liên kết giữa các DN đểcùng nhau nghiên cứu đổi mới sáng tạo
Tác giả Nguyễn Đình Phan và cộng sự (2007) đã phân tích chuyên sâu về việc tập trung hóa, tổ chức sản xuất và quy hoạch phát triển công nghiệp trên vùng lãnh thổ và các loại hình khu vực công nghiệp trong đó có CLKCN Cùng làm rõ vấn đề này, nhưng nghiên cưu dưới góc độ lý thuyết về CLKCN Lê Thế Giới (2009)
trong bài “Tiếp cận lý thuyết cụm công nghiệp và hệ sinh thái kinh doanh trong nghiên cứu chính sách phát triển CNHT ở Việt Nam” đã bàn về các luận điểm cơ
bản của lý thuyết CLKCN và lý thuyết hệ sinh thái ở cấp độ quốc gia, vùng và địa phương Nghiên cứu về khả năng hình thành CLKCN tại Việt Nam qua đó có nhữngkhái quát về chính sách mới trong phát triển kinh tế của Việt Nam, nhóm tác giả Bùi
Đình Sinh và cộng sự (2008) trong đề tài “Đánh giá khả năng phát triển hệ thống CLKCN như một công cụ của chính sách công nghiệp quốc gia” đã đưa ra khái
niệm về CLKCN, vị trí CLKCN trong chính sách quốc gia Đề tài cũng đánh giá sơ
bộ tiềm năng phát triển CLKCN ở Việt Nam thông qua việc đánh giá mức độ tập trung và tích tụ công nghiệp Đề tài đã đưa ra tầm nhìn cho chiến lược phát triển CLKCN quốc gia là phát triển CLKCN là một công cụ của chính sách công nghiệp quốc gia và địa phương, nhằm xây dựng thành công các CGT cho các sản phẩm công nghiệp, thiết lập và mở rộng mạng lưới sản xuất, phát triển một số ngành cung ứng cho hệ thống công nghiệp quốc gia; trên cơ sở gia tăng quy mô sản xuất, nâng cao NLCT, tạo dựng các liên kết chặt chẽ, trong hệ thống DN vừa và nhỏ, DN công nghiệp ở khu vực nông thôn, các hộ gia đình sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp; ở các khu vực đã có tích tụ và tập trung công nghiệp trên toàn quốc
Gần đây nhất Nguyễn Đình Tài (2017), “Phát triển CLKN ở Việt Nam: Một lựa chọn chính sách”, đã đưa ra qua điểm là mặc dù CLKN là khái niệm đã trở nên
quen thuộc không chỉ trên thế giới mà cả ở Việt Nam Hình thành và xây dựng cácCLKN là công việc phức tạp đòi hỏi phải có sự tham gia, cộng tác giữa nhiều bộ,ngành, chính quyền các cấp Một công việc đầu tiên cần phải làm là tận dụng nguồnvốn hỗ trợ của các tổ chức quốc tế để xây dựng thí điểm một số CLKN để qua đó
Trang 32đánh giá về mức độ kết nối giữa các cơ quan, bộ phận trong cụm cũng như vai tròtham gia của nhà nước trong những mối quan hệ mang tính thị trường này.
Tác giả Tạ Việt Dũng, Trần Anh Tú (2019), trong bài viết “Nâng cao trình
độ công nghệ của các ngành, lĩnh vực ưu tiên thông qua hoạt động nhập khẩu công nghệ” cho rằng trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, nhập khẩu công nghệ là
một trong những kênh quan trọng giúp nâng cao năng lực khoa học và công nghệ,trình độ sản xuất của DN, góp phần cơ cấu lại các ngành kinh tế, giúp một số ngành,lĩnh vực có sức cạnh tranh quốc tế và tham gia sâu vào CGT sản xuất các sản phẩm
có lợi thế cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH, phục vụ sự nghiệp CNH,hiện đại hóa đất nước Trên cơ sở phân phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia,bài báo đưa ra những gợi mở nhằm góp phần thúc đẩy hoạt động nhập khẩu côngnghệ ở Việt Nam thời gian tới
Tổng quan các công trình nghiên cứu về trình độ tập trung hóa trong quátrình sản xuất cho thấy đây là một nhân tố không thể thiếu trong việc phát triển cáccụm liên kết trong các ngành nghề nói chung và ngành da - giày nói riêng
1.4 Giới hạn và khoảng trống nghiên cứu
1.4.1 Giới hạn nghiên cứu
Từ việc tổng quan các nghiên cứu trên có thể thấy, trên thế giới, các nghiêncứu về CLKCN đã được tiến hành từ khá lâu Các nghiên cứu này xuất phát từ yêucầu thiết lập mối quan hệ liên kết giữa các chủ thể kinh tế trong phạm vi mỗi vùng,mỗi quốc gia và đã hình thành những lý thuyết nhất định, như lý thuyết về CLKCN
và chiến lược cạnh tranh của M Porter, lý thuyết thương mại mới và địa lý của P.Krugman, lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, lý thuyết về năng lực động, lý thuyết vốn
xã hội Còn ở trong nước, các nghiên cứu về CLKCN mới được tiến hành chưalâu Các nghiên cứu này chủ yếu là hệ thống hóa các tư tưởng về CLKCN của cáchọc giả nước ngoài, giới thiệu kinh nghiệm nước ngoài và gợi mở định hướng ứngdụng hình thành, phát triển CLKCN trong các ngành kinh tế của nước ta
1.4.2 Khoảng trống nghiên cứu và hướng nghiên cứu của đề tài
Đã có một số nghiên cứu của các tác giả trong nước và chuyên gia nướcngoài đề cập đến định hướng và biện pháp phát triển CLKCN trong một số ngànhkinh tế của Việt Nam Những ngành được lựa chọn nghiên cứu là điện tử, dệt may,
Trang 33da - giày, chế biến gỗ, cơ khí, chế biến thủy sản Nhưng những nghiên cứu nàymới chỉ dừng lại ở mức những gợi ý chung mang tính chất tổng quát Đã có một sốnghiên cứu trực tiếp về phát triển CLKCN da - giày ở Việt Nam Nhưng, các nghiêncứu này mới chỉ nêu ra những ý tưởng chung về sự cần thiết, khả năng hình thành,phát triển CLKCN da - giày, vai trò của CLKCN da - giày trong việc tác động nângcao hiệu quả, NLCT của mỗi DN và của ngành CN-DG nước ta Các nghiên cứu ấychưa đi sâu làm rõ đặc điểm ngành CN-DG ảnh hưởng đến phát triển CLKCN, chưađánh giá rõ ràng những điều kiện tiền đề, những khó khăn cản trở với việc phát triểnCLKCN da - giày, cũng chưa nêu rõ phương hướng và những vấn đề cụ thể cần giảiquyết để phát triển CLKCN da - giày trong những vùng cụ thể.
Chưa có công trình nghiên cứu về phát triển CLKCN da - giày trongVKTTĐ-BB Trong vùng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển một số CLKCN
Đó là: tích tụ, tập trung hóa sản xuất của các DN da - giày đạt trình độ khá cao; các
DN da - giày có khả năng thiết lập các quan hệ liên kết theo chiều dọc và theo chiềungang trong CGT SP-DG; cơ sở hạ tầng đang được phát triển theo hướng đồng bộ
và hiện đại Tuy nhiên, việc phát triển CLKCN da - giày trong vùng cũng gặpkhông ít khó khăn Đó là: chưa có nhận thức đầy đủ và thống nhất về CLKCN da -giày; quan hệ liên kết giữa các chủ thể trong CGT da - giày chưa được thiết lập chặtchẽ; Nhà nước chưa có cơ chế chính sách rõ ràng và đầy đủ hỗ trợ phát triển
CLKCN Từ những kết luận trên đây có thể thấy, việc nghiên cứu đề tài “Phát triển các CLKCN da - giày ở VKTTĐ-BB tại Việt Nam” là cần thiết, có ý nghĩa lý luận,
thực tiễn thiết thực và hoàn toàn không trùng với các nghiên cứu đã công bố ở ViệtNam
Kết luận chương 1
Nội dung chương 1 của luận án tập trung tổng quan các công trình nghiêncứu liên quan đến đề tài với các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước vềCLKCN, phát triển CLKCN và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển CLKCN Trên
cơ sở đánh giá những kết quả nghiên cứu của các công trình, nội dung chương đãxác định rõ được khoảng trống nghiên cứu Kết quả nghiên cứu tại chương 1 là cơ
sở để xây dựng các nhiệm vụ nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyếtnghiên cứu liên quan đến phát triển CLKCN ngành da - giày
Trang 34Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN CỤM LIÊN KẾT CÔNG NGHIỆP NGÀNH DA -GIÀY
2.1 Khái niệm, vai trò và chuỗi giá trị ngành da - giày
2.1.1 Khái niệm ngành da - giày
Quan niệm về “ngành” được nhắc đến như một tập hợp những DN làm cùnglĩnh vực, có sự phụ thuộc nhất định vào nhau trong quá trình phát triển Ngành nhìnnhận dưới góc độ kinh tế là khái niệm trong lĩnh vực KT-XH và trong trường hợp
xã hội càng phát triển thì sự phân công, liên kết giữa các ngành càng chặt chẽ vàhoàn thiện hơn Từ góc độ vĩ mô và phục vụ cho công tác quản lý, sự phân ngànhkinh tế, ngành hàng hay lĩnh vực có ý nghĩa quan trọng và cần thiết Một mặt, khiphân “ngành” sẽ phản ánh sự phân tách thành các loại, các nhóm hàng khác nhaucủa đối tượng quản lý nhưng ở một cách hiểu khác, sự phân ngành theo các nhómmặt hàng còn biểu hiện cho quá trình phân công lao động, phân phối nguồn lựctrong hoạt động quản lý của các cơ quan có thẩm quyền nhằm bảo đảm phù hợp,hiệu quả trong thực tiễn
Dưới góc độ vi mô ở cấp độ DN thì khái niệm ngành được hiểu đơn giản hơntheo hướng ngành là tập hợp mạng lưới các DN, tổ chức và cá nhân tham gia vàomột lĩnh vực sản xuất - kinh doanh cụ thể Họ có những điểm chung về sản phẩm,
về điều kiện liên quan đến hoạt động kinh doanh sản phẩm Việc phân ngành cũngtạo ra những thuận lợi cho các doanh nghiệp khi tham gia vào các hiệp hội của cácngành, lĩnh vực; giúp các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong định hình kinh doanhcũng như định hình các sản phẩm của mình bảo đảm sự phù hợp với từng điều kiệnliên quan đến đặc thù của ngành
Ở cấp độ vĩ mô ngành có thể phân theo ngành công nghiệp, ngành nôngnghiệp hay ngành dịch vụ Thấp hơn, thì chúng ta có những phân loại về ngành phùhợp với những lĩnh vực sản xuất chính của nền kinh tế như ngành điện tử, ngành dệtmay, ngành chế tạo ô tô Đối với lĩnh vực da - giày thì ngành là tập hợp các tổchức, DN và cá nhân tham gia vào quá trình nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, kinhdoanh và hỗ trợ liên quan đến các SP-DG Bởi vì, quá trình tạo ra sản phẩm và
Trang 35chuyển sản phẩm đến tay người tiêu dùng là quá trình dài hơi của các doanh nghiệp,
họ cần liên kết phối hợp với nhau để tạo ra năng lực cạnh tranh của ngành cũng nhưtiết kiệm các chi phí trong đó có chi phi logictics
Chính vì vậy, trong phạm vi luận án, ngành da - giày được hiểu là tổng thể các đơn vị, tổ chức sản xuất - kinh doanh có cùng cơ cấu kinh tế - kĩ thuật hay các
tổ đơn vị hoạt động với mục đích giống nhau là sản xuất - kinh doanh và hỗ trợ sản xuất - kinh doanh các SP-DG.
2.1.2 Vai trò của ngành da - giày
Ngành da - giày có vai trò và tầm quan trọng rất lớn trong phát triển nền kinh
tế quốc dân nhằm đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, có điều kiện
mở rộng thương mại quốc tế và mang lại nhiều nguồn thu cho đất nước cũng nhưgiải quyết được rất nhiều việc làm cho người dân Với sự phát triển vượt trội của xãhội hiện nay, đặc biệt là sự xuất hiện của cách mạng công nghiệp 4.0, thế giới đãchứng kiến vô số những đổi mới, thành tựu nổi bật tác động đến mọi lĩnh vực,ngành nghề Trong đó, ngành da - giày vẫn giữ được vai trò chủ đạo và được đầu tư
để tiếp tục phát triển Với những đóng góp mang tính bền vững, vai trò của ngành
da - giày luôn được đề cao, đặc biệt là hiệu quả đối với kinh tế, chính vì vậy ngành
da - giày có những vai trò quan trọng sau:
Thứ nhất, giảm mạnh tình trạng thất nghiệp Đây là một trong những vai trò
không thể phủ nhận của ngành da - giày Với đặc thù cần nhiều lao động và khôngđòi hỏi quá nhiều về trình độ, ngành da - giày là một trong những ngành nghề gópphần giảm đáng kể tỉ lệ lao động thất nghiệp, một vấn đề đau đầu không chỉ vớiViệt Nam mà còn với cả thế giới Giảm thất nghiệp cũng chính là giảm gánh nặngkinh tế cho nhà nước với những vấn đề an sinh xã hội, giảm tỉ lệ các hoạt động tệnan từ đó ổn định đời sống, cải thiện an ninh trật tự và nâng cao mức sống củangười dân Với một nước đang phát triển như chúng ta, đây là một vai trò hết sức ýnghĩa, thể hiện ưu thế rõ rệt so với những ngành công nghiệp khác và đó cũng là lý
do dệt may luôn là ngành hàng chủ đạo trong những năm qua
Thứ hai, chuyển đổi cơ cấu kinh tế Bất kỳ ngành hàng nào trong nền kinh tế
xã hội luôn gắn kết với nhau, tạo nên tiền đề để phát triển những ngành còn lại vàngành da - giày cũng vậy Vai trò của ngành da - giày là thúc đẩy phát triển những
Trang 36ngành kinh tế khác trong hệ thống công nghiệp - xây dựng - nông nghiệp - dịch vụ.Khi ngành da - giày phát triển, tất nhiên nền nông nghiệp phát triển với các ngànhtrồng cao su, trồng bông, đay hay nuôi tằm… Sau đó, nó ảnh hưởng trực tiếp đếnnhững ngành sản xuất nguyên phụ liệu Chưa dừng lại ở đó, nếu ngành da - giàyphát triển bền vững, những nền công nghiệp như sản xuất máy móc, thiết kế phầnmềm công nghệ cũng sẽ đi lên.
Thứ ba, tạo nguồn doanh thu ngoại tệ - đẩy mạng thương mại quốc tế Tự do
thương mại thế giới đang diễn ra trong những năm gần đây với tốc độ mạnh mẽ,nhanh chóng và điều đặc biệt là mỗi quốc gia có cái nhìn, lợi thế khác nhau VớiViệt Nam, các sản phẩm ngành da - giày luôn là thành phần chủ lực để xuất khẩu,đây cũng là ngành hàng có thể cạnh tranh sòng phẳng với các nước khác Vì vậy,vai trò của ngành da - giày là không thể thiếu trong quá trình hội nhập, tăng trưởngkinh tế đối ngoại, mở rộng thương mại dịch vụ với các nước trong khu vực cũngnhư thế giới Bên cạnh đó, với thị trường chủ yếu là xuất khẩu ngành da - giày tạicác quốc gia như Việt Nam sẽ mang lại nguồn ngoại tệ đáng kể để phục vụ pháttriển đất nước
Có thể nói đến nay, ngành đã khẳng định vai trò quan trọng, góp phần khôngnhỏ vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất tới các vùng sâu vùng xacủa nhiều vùng kinh tế trọng điểm, tạo sự ổn định về an ninh, chính trị, giải quyếtviệc làm, tạo thu nhập cho người lao động, góp phần tích cực vào công cuộc xóa đóigiảm nghèo của chính phủ Ngành cũng tham gia giảm nhập siêu, tạo thặng dưthương mại thông qua định hướng phát triền thị trường nội địa, khuyến khích DN sửdụng các nguyên phụ liệu trong nước để sản xuất hàng xuất khẩu
2.1.3 Chuỗi giá trị ngành da - giày
Chuỗi giá trị được hiểu là một tập hợp các hoạt động gắn liền với quy trìnhtaọ ra sản phẩm/dịch vụ của tổ chức bắt đầu từ việc thu thập, tiếp nhận nguyên liệuđầu vào cho tới trở thành thành phẩm, phân phối vào trong thị trường cùng các hoạtđộng có liên quan khác Xây dựng được CGT liên kết là việc DN nào cũng mongmuốn hướng tới Các nhóm hoạt động trong CGT giống như các bộ phận của cơ thể
tổ chức hoàn chính, khi các “bộ phận” này gắn kết, chúng ta sẽ có một thực tế hàihòa, mạnh mẽ, thông suốt từ đầu tới cuối Sản phẩm của DN sẽ đi qua tất cả các
Trang 37hoạt động của chuỗi theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản phẩm lại được cộng thêmmột số giá trị nào đó.
Theo Porter (2008), có 5 loại hình hoạt động tổng quát liên quan đến NLCTtrong ngành, mỗi hoạt động lại được chia thành nhiều hoạt động riêng lẻ, tùy thuộc
vào từng ngành và từng chiến lược riêng biệt của DN: (1) Logistics đầu vào: liên
quan đến các hoạt động tiếp nhận, tồn kho, phân phối các đầu vào của sản phẩm,chẳng hạn như quản lý nguyên vật liệu, lưu kho và quản lý tồn kho, lập lịch trình
hoạt động cho các phương tiện và hoàn trả nhà cung cấp; (2) Vận hành: liên quan
đến các hoạt động chuyển hóa các đầu vào thành hình thái sản phẩm sau cùng, ví dụ
như gia công cơ khí, đóng gói, lắp ráp, bảo trì thiết bị, kiểm tra, in ấn; (3) Logistics đầu ra: liên quan đến các hoạt động như thu gom, lưu trữ và phân phối thực tế các
sản phẩm đến người mua, chẳng hạn như tồn kho thành phẩm, quản lý các vật liệu,vận hành với các phương tiện phân phối, quy trình đặt hàng và xây dựng lịch làm
việc; (4) Marketing và bán hàng: liên quan đến các hoạt động cung cấp phương tiện
để khách hàng mua sản phẩm hoặc thúc đẩy họ mua sản phẩm, ví dụ như quảng cáo,
khuyến mãi, bán hàng, báo giá, lựa chọn kênh phân phối, định giá; (5) Dịch vụ: liên
quan đến các hoạt động cung cấp các dịch vụ nhằm tăng cường hoặc duy trì tốt giátrị của sản phẩm, ví dụ như lắp đặt, sửa chữa, huấn luyện, cung cấp phụ tùng vàđiều chỉnh sản phẩm Tùy theo từng ngành các hoạt động trên sẽ mang đến hàmlượng giá trị gia tăng và quyết định đến lợi thế cạnh tranh
Như vậy, gắn với ngành da - giày thì có thể hiểu về CGT ngành da - giày làtập hợp các giá trị được tạo ra từ các giai đoạn của quá trình sản xuất da - giày, từkhâu nghiên cứu phát triển, thiết kế, cung cấp đầu vào, sản xuất, marketing và phânphối tới người tiêu dùng cuối cùng
2.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của cụm liên kết công nghiệp da - giày
2.2.1 Khái niệm cụm liên kết công nghiệp và cụm liên kết công nghiệp da - giày
Nghiên cứu về CLKCN đã nhận được sự quan tâm của nhiều tác giả trong vàngoài nước Marshall (1920) được coi là người khởi nguồn nghiên cứu về CLKCN
thông qua tác phẩm “Các nguyên lý kinh tế học” Sau Marshall, nhiều học giả cũng
đã nghiên cứu về CLKCN với các cách tiếp cận khác nhau và có nhiều cách giải
thích khác nhau cho hiện tượng này Porter (2012) trong nghiên cứu về “CLKCN và
Trang 38cạnh tranh” đã đưa ra khái niệm về CLKCN, theo đó CLKCN bao gồm các DN
trong toàn bộ CGT ngành từ thượng nguồn đến hạ nguồn, các DN trong các ngànhliên quan, các thể chế tài chính Sự liên kết với các cơ sở đào tạo, các viện nghiêncứu đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển CLKCN” Theo quan điểmcủa Ngân hàng Thế giới (2009) thì CLKCN là khái niệm dùng để chỉ sự tập trungcủa các công ty và tổ chức có liên quan trong một khu vực địa lý nhất định
Tại Việt Nam, Trương Thị Chí Bình (2007) cho rằng “CLKCN là sự tập trung về mặt địa lý của các DN cùng sản xuất một loại hàng hoá hoặc loại hàng hoá có liên quan trong một khu vực Nhìn chung, một CLKCN không chỉ bao gồm các DN sản xuất, mà còn bao gồm cả các nhà cung cấp nguyên liệu thô, các nhà thầu phụ, người mua, người xuất khẩu, các nhà cung cấp máy móc Ngoài ra, rất nhiều tổ chức hỗ trợ, các hiệp hội, các cơ quan luật pháp, các nhà tư vấn, các nhà vận chuyển và các nhà cung cấp các dịch vụ khác, trực tiếp, hoặc gián tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất của cụm” Tác giả Lê Thế Giới (2009) xác định
“CLKCN là sự tập trung về vị trí địa lý của các ngành công nghiệp nhằm tận dụng các cơ hội qua liên kết địa lý Các công ty trong cụm công nghiệp sẽ chia sẻ các yêu cầu và các mối quan hệ bên trong với nhà cung cấp và khách hàng Các mối quan
hệ bên trong công ty yêu cầu các dịch vụ bổ sung từ các nhà tư vấn, đào tạo và huấn luyện, các tổ chức tài chính, các công ty chủ chốt CLKCN sẽ tạo ra lực lượng lao động, hàng hoá xuất khẩu và dịch vụ chất lượng cao, kết nối quan hệ giữa các
cơ quan quản lý nhà nước, các trường đại học, viện nghiên cứu, các quỹ hỗ trợ và các bên hữu quan” Tác giả Nguyễn Ngọc Sơn (2009) cho rằng: “CLKN là một hình thái tổ chức sản xuất trong một ngành/lĩnh vực cụ thể, trong đó các thành phần tham gia gồm các DN, các nhà cung cấp giải pháp kỹ thuật đặc thù, các nhà cung cấp dịch vụ, các thể chế liên quan liên kết và quần tụ trong một không gian địa lý nhất định, với vai trò nòng cốt là các DN liên kết kinh doanh”.
Về cơ bản, các quan điểm trên đều có sự thống nhất về đặc điểm củaCLKCN, cụ thể gồm: (i) Sự tập trung của các tổ chức và các DN trong một phạm vilãnh thổ nhất định; (ii) Các quan hệ liên kết giữa các tổ chức và các DN dưới nhữnghình thức khác nhau trong CGT sản phẩm; (iii) Mục đích cuối cùng của việc phát
Trang 39triển CLKCN là bảo đảm hiệu quả kinh tế của từng chủ thể và góp phần vào lợi íchchung của cả hệ thống.
Trên cơ sở khái niệm CLKCN, ngành da - giày, CLKCN da - giày là sự tập trung các DN da - giày, các nhà cung cấp giải pháp kỹ thuật đặc thù, các nhà cung cấp dịch vụ, các thể chế liên quan liên kết và quần tụ trong một không gian địa lý nhất định, với vai trò nòng cốt là các DN da - giày nhằm tận dụng các cơ hội qua liên kết địa lý qua đó bảo đảm hiệu quả kinh tế của từng chủ thể và góp phần vào lợi ích chung của cả cụm liên kết.
2.2.2 Đặc điểm của cụm liên kết công nghiệp da - giày
CLKCN da - giày có một số đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, sự tích tụ các DN ngành da - giày và các tổ chức liên quan trong một
khu vực lãnh thổ nhất định Điều này xuất phát từ yêu cầu tổ chức mối liên hệ sảnxuất và quan hệ liên kết kinh tế giữa các chủ thể trong cụm: khoảng cách địa lý giữacác chủ thể tạo điều kiện thiết lập quan hệ trực tiếp, giảm chi phí giao dịch và chi phívận chuyển nguyên phụ liệu, linh kiện, bán thành phẩm Điều này cũng thể hiện sựkhác biệt cơ bản giữa CLKCN với các hình thức KCN (Nguyễn Ngọc Sơn, 2015)
Hình 2.1 Lý thuyết kinh tế học về Tích tụ và Phân đoạn
Nguồn: Brulhart, 1998 Trong đó:
Agglomeration (Initial concentration has an accelerating effect): Sự tích tụ (Sự chuẩn bị đầy đủ để tạo sức bật)
Fragmentation (International division of labor in parts production &
assembly): Sự phân đoạn (Phân công lao động trong sản xuất và gia công) ;
Trang 40Production block: Khối sản xuất
Service link: Liên kết dịch vụ
Thứ hai, các DN ngành da - giày và các tổ chức thành viên của CLKCN có
quan hệ với nhau với những nội dung và mức độ khác nhau Theo Hoàng Văn Hải(2013) quan hệ giữa các tổ chức và các DN thành viên CLKCN có thể là quan hệtheo chiều dọc của quá trình công nghệ sản xuất một loại sản phẩm nhất định theoCGT của sản phẩm ấy; có thể là quan hệ theo chiều ngang phối hợp với nhau đểcùng thực hiện những nhiệm vụ nhất định hướng tới yêu cầu bảo đảm hiệu quả kinh
tế Do vậy, không phải bất kỳ DN công nghiệp và tổ chức nào hiện diện trong mộtđịa phương, một vùng kinh tế cũng được coi là thành viên của CLKCN
Thứ ba, tính đa dạng của các chủ thể trong CLKCN ngành da - giày Do sự
đa dạng của các quan hệ liên kết theo chiều dọc và theo chiều ngang, các chủ thể(thành viên) trong mỗi CLKCN ngành da - giày cũng khá đa dạng Theo NguyễnNgọc Sơn (2015) có thể phân chia các chủ thể này thành các nhóm lớn sau đây: cóquan hệ trực tiếp với nhau trong CGT sản phẩm; có chức năng phục vụ sản xuất sảnphẩm; các tổ chức phục vụ quá trình sản xuất- kinh doanh của các DN nói trên
Thứ tư, sự tác động của Nhà nước trong quá trình hình thành cơ chế vận hành
CLKCN thông qua việc tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển các quan hệ liênkết ấy bằng chính sách định hướng và bằng các cơ chế, chính sách thích hợp, trong
đó có định hướng và cơ chế chính sách thúc đẩy phát triển mạng lưới CLKCN trongphạm vi cả nước (Lê Thế Giới, 2009)
Thứ năm, sự liên kết và hỗ trợ giữa các DN, tổ chức tham gia vào CLKCN
ngành da - giày được thể hiện trong các mối quan hệ hợp tác trong kinh doanh, sựphối hợp trong thúc đẩy quá trình phát triển của chuỗi, ngành Các DN ngành da -giày trong CLKCN có mối quan hệ hợp tác thường xuyên với các nhà cung cấp,giữa các nhà cung cấp với nhau, hay giữa các DN trong CLKCN với các cơ quanquản lý, với các trung tâm nghiên cứu, cơ sở đào tạo liên quan đến lĩnh vực
Trên đây là những đặc trưng cơ bản của CLKCN ngành da - giày Những đặctrưng này thể hiện những nét đặc thù riêng có của một hình thức tổ chức sản xuấttheo lãnh thổ, đồng thời cũng thể hiện sự khác biệt cơ bản với một hình thức tổ chứcsản xuất theo lãnh thổ khác là các loại hình KCN